Những khó khăn thuận lợi, những tồn tại hạn chế trong công tác Quản lý bảo vệ rừng - Phát triển rừng tại huyện Điện Biên Đông .... Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sá
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Cơ sở khoa học và pháp lý trong quản lý bảo vệ rừng
1.1.1 Cơ sở khoa học của quản lý bảo vệ rừng
Quản lý bảo vệ rừng là tổng hợp các biện pháp tác động tích cực vào rừng nhằm quản lý, bảo vệ và phát triển rừng theo hướng bền vững
Nguyên tắc bảo vệ và phát triển rừng:
1) Hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm phát triển bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả nước và địa phương; tuân theo quy chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quy định
2) Bảo vệ rừng là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm nguyên tắc quản lý rừng bền vững; kết hợp bảo vệ và phát triển rừng với khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả tài nguyên rừng; kết hợp chặt chẽ giữa trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng, làm giàu rừng với bảo vệ diện tích rừng hiện có; kết hợp lâm nghiệp với nông nghiệp và ngư nghiệp; đẩy mạnh trồng rừng kinh tế gắn với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản nhằm nâng cao giá trị sản phẩm rừng
3) Việc bảo vệ và phát triển rừng phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Việc giao, cho thuê, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng rừng và đất phải tuân theo các quy định của Luật này, Luật đất đai và các quy định khác của pháp luật có liên quan, bảo đảm ổn định lâu dài theo hướng xã hội hoá nghề rừng
4) Bảo đảm hài hoà lợi ích giữa Nhà nước với chủ rừng; giữa lợi ích kinh tế của rừng với lợi ích phòng hộ, bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên; giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; bảo đảm cho người làm nghề rừng sống chủ yếu bằng nghề rừng
5) Chủ rừng thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng rừng theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật, không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của chủ rừng khác
Vai trò của rừng đối với kinh tế - xã hội:
Kinh tế: Rừng cung cấp một sản lượng lớn lâm sản phục vụ nhu cầu của con người từ các loại gỗ, tre, nứa các nhà kinh doanh thiết kế tạo ra hàng trăm mặt hàng đa dạng và phong phú như: Trang sức, mỹ nghệ, dụng cụ lao động… cho tới nhà ở hay đồ dung gia đình hiện đại Về lâm sản ngoài gỗ: Rừng là nguồn dược liệu vô giá, không chỉ khai thác để làm thuốc chữa bệnh, bồi bổ sức khỏe mà còn có giá trị thương mại vô cùng to lớn Ngày nay, nhiều quốc gia đã phát triển ngành khoa học “Dược liệu rừng” nhằm khai thác có hiệu quả hơn nữa nguồn dược liệu vô cùng phong phú của rừng và tìm kiếm các phương thuốc chữa bệnh nan y, góp phần phát triển nền kinh tế Không chỉ vậy, rừng còn là nơi cư trú của rất nhiều loài động vật Động vật rừng là nguồn cung cấp thực phẩm, dược liệu, nguồn gen quý… Du lịch sinh thái: Du lịch sinh thái là một dịch vụ của rừng cần sử dụng một cách bền vững Nhiều dự án phát triển du lịch sinh thái được hình thành gắn liền với các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng có cảnh quan đặc biệt Du lịch sinh thái không chỉ phục vụ nhu cầu về mặt tinh thần mà còn tăng thêm thu nhập cho dân địa phương
- Xã hội: Cùng với rừng, người dân được nhà nước hỗ trợ đất sản xuất rừng, vốn, các biện pháp kỹ thuật, cơ sở hạ tầng để tạo nguồn thu nhập cho người dân Giúp người dân thấy được lợi ích của rừng, gắn bó và có tinh thần trách nhiệm trong công tác quản lý bảo vệ rừng Từ đó, người dân sẽ ổn định nơi ở sinh sống Vai trò phòng hộ và bảo vệ môi trường sống:
- Khí hậu: Rừng có tác dụng điều hòa khí hậu toàn cầu thông qua làm giảm đáng kể lượng nhiệt chiếu từ mặt trời xuống bề mặt trái đất do che phủ của tán rừng là rất lớn so với các loại hình sử dụng đất khác, chống ô nhiễm môi trường trong các khu dân cư, khu đô thị, khu du lịch Đặc biệt là vai trò hết sức quan trọng của rừng trong việc duy trì chu trình carbon trên trái đất mà nhờ đó nó có tác dụng trực tiếp đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu Hệ sinh thái rừng có khả năng giữ lại và tích trữ lượng lớn carbon trong khí quyển Vì thế sự tồn tại của thực vật và các hệ sinh thái rừng có vai trò đáng kể trong việc chống lại hiện tượng nóng lên toàn cầu và ổn định khí hậu
- Đất đai: Rừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dưỡng tiềm năng của đất ở vùng có đủ rừng thì dòng chảy bị chế ngự, ngăn chặn nạn bào mòn, rửa trôi nhất là trên đồi núi dốc thì tác dụng ấy có hiệu quả lớn nên lớp đất mặt không bị mỏng, mọi đặc tính lý hóa và vi sinh vật học của đất không bị phá hủy, độ phì nhiêu được duy trì Rừng lại liên tục tạo chất hữu cơ, mối quan hệ qua lại: Rừng tốt thì đất tốt và ngược lại
- Nước: Rừng làm sạch và điều tiết nước, điều hòa dòng chảy bề mặt chuyển nó vào tầng nước ngầm Phòng chống lũ lụt, hạn chế lắng đọng dòng sông, lòng hồ, điều hòa dòng chảy của các con sông, con suối Rừng có vai trò rất lớn trong việc chống cát di động ven biển, ngăn chặn sự xâm mặn của biển che chở cho vùng đất bên trong nội địa, rừng bảo vệ đê biển, cải hóa vùng chua phèn,…
1.1.2 Cơ sở pháp lý trong quản lý bảo vệ và phát triển rừng
Quản lý bảo vệ rừng là lĩnh vực tương đối rộng với những biện pháp kĩ thuật khác nhau tác động từ nhiều phía lên hệ sinh thái rừng nhằm tạo điều kiện cho rừng phát triển một cách tốt nhất, năng suất và chất lường cao nhất
Với đặc điểm của nước ta diện tích đồi núi chiếm hơn 60% diện tích tự nhiên và cũng là nơi sinh sống của hầu hết các dân tộc ít người Vùng miền núi đất sản xuất Nông nghiệp ít, lương thực làm ra hàng năm chưa đủ phục vụ cho dân do thâm canh lạc hậu, sản xuất chủ yếu mang tính tự cung tự cấp và còn phụ thuộc vào thiên nhiên, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, trình độ dân trí thấp cộng thêm phong tục tập quán du canh du cư dẫn đến việc đốt phá rừng bừa bãi để làm nương rẫy người dân lợi dụng triệt để vào rừng để khai thác lâm sản trái phép, săn bắn động vật rừng làm diện tích rừng bị suy giảm, chất lượng rừng kém Với những vị trí quan trọng của miền núi Đảng và Nhà nước đã quan tâm xây dựng, phát triển kinh tế xã hội và phát triển ngành lâm nghiệp, đề ra chủ trương chính sách quản lý bảo vệ rừng, ngăn chặn mức thấp nhất nạn phá rừng, khai thác trái phép Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách bao gồm nhiều văn kiện Luật Lâm nghiệp, Nghị định, Thông tư về công tác quản lý bảo vệ rừng, xây dựng và phát triển rừng của ngành lâm nghiệp nói riêng và các ngành liên quan nói chung Những văn bản quy phạm pháp luật thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với ngành lâm nghiệp và là những cơ sở, căn cứ pháp lý quan trọng Trong công tác bảo vệ và phát triển rừngcũng như trong mọi hoạt động của ngành lâm nghiệp.
Tình hình quản lý bảo vệ rừng ở một số nước trên thế giới
Hệ sinh thái rừng rất phức tạp và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bên ngoài Do đó, các tiêu chí để quản lý rừng bền vững phải liên tục thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh mới Các tiêu chí này phải phản ánh bối cảnh của quốc gia và các điều kiện sinh thái, môi trường cụ thể cũng như các khía cạnh xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa và tinh thần
Thách thức đối với hệ thống chứng nhận rừng toàn cầu là việc xây dựng một cách tiếp cận đủ linh hoạt để phản ánh các hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia, nhưng cũng cần phải phù hợp với các yêu cầu của quốc tế Cách tiếp cận này cần đảm bảo các yêu cầu thực tiễn và các tiêu chí thực tế để quản lý rừng bền vững trên phạm vi toàn cầu và cần được cập nhật liên tục để kết hợp các kiến thức mới cũng như thay đổi theo mong đợi
Trên thực tế, nhiều khu rừng, miền rừng, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, vẫn còn thiếu sự quản lý bền vững Bên cạnh đó, một số quốc gia vẫn còn thiếu các chính sách về lâm nghiệp, khung thể chế, luật pháp và các biện pháp khuyến khích để thúc đẩy quản lý rừng bền vững Trong khi một số quốc gia khác lại thiếu kinh phí và năng lực kỹ thuật về quản lý rừng
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được Richards P.W (1952), Baur G (1976), ODum (1971) tiến hành Các nghiên cứu này thường nêu lên quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng nhiều hệ thống phân loại thảm thực vật rừng đã dựa vào các đặc trưng như cấu trúc và dạng sống, độ ưu thế, kết cấu hệ thực vật hoặc năng xuất thảm thực vật Ngay từ nửa đầu thế kỷ 19, Humboldt và Grisebach đã sử dụng dạng sinh trưởng (toàn bộ hình thái hoặc cấu trúc và trạng thái của thực vật) của các loài cây ưu thế và kiểu môi trường sống của chúng để biểu thị cho các nhóm thực vật Phương pháp hình thái của Humboldt và Grisebach được các nhà sinh thái học Đan Mạch (Warming, 1904; Raunkiaer, 1934) tiếp tục phát triển nhiều hệ thống phân loại thảm thực vật rừng đã dựa vào các đặc trưng như cấu trúc và dạng sống, độ ưu thế, kết cấu hệ thực vật hoặc năng xuất thảm thực vật Ngay từ nửa đầu thế kỷ 19, Humboldt và Grisebach đã sử dụng dạng sinh trưởng (toàn bộ hình thái hoặc cấu trúc và trạng thái của thực vật) của các loài cây ưu thế và kiểu môi trường sống của chúng để biểu thị cho các nhóm thực vật Phương pháp hình thái của Humboldt và Grisebach được các nhà sinh thái học Đan Mạch (Warming, 1904; Raunkiaer, 1934) tiếp tục phát triểnRaunkiaer đã phân chia các loài cây hình thành thảm thực vật thành các dạng sống và các phổ sinh học (phổ sinh học là tỉ lệ phần trăm các loài cây trong một quần xã có các dạng sống khác nhau)
Kraft (1884) (Dẫn theo Ngô Quang Đê và cs, 1992) lần đầu tiên đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng, ông chia cây rừng trong một lâm phần thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh trưởng, kích thước và chất lượng của cây rừng Phân cấp của Kraft phản ánh được tình hình phân hoá cây rừng, tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng nhưng chỉ phù hợp với rừng trồng
Tại châu Âu, Phần Lan là quốc gia có tỷ lệ diện tích rừng che phủ lớn nhất, 86% diện tích đất là rừng, theo Hiệp hội Rừng Phần Lan Rừng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với quốc gia này bởi nó cung cấp gỗ, thực phẩm (nấm, các loại quả) và không khí trong lành Đồng thời rừng là nhà của nhiều loại thực vật, động vật, côn trùng, vi sinh vật
Một quốc gia châu Âu khác có độ phủ xanh xếp thứ 15 thế giới đó là Thụy Điển (69,2% diện tích đất là rừng) Ở Thụy Điển, tính bền vững được xác định trên các lĩnh vực: kinh tế, xã hội, sinh học và tính bền vững được tuyên bố là nền tảng phát triển lâm nghiệp của quốc gia này
Thông qua sự kết hợp giữa quản lý rừng và sử dụng dư lượng gỗ đã khai thác để sản xuất năng lượng và các sản phẩm từ gỗ, Thụy Điển có thể giảm đáng kể lượng khí thải CO2
Kinh nghiệm quản lý rừng bền vững của Thụy Điển kích thích tăng trưởng ròng, đồng thời bảo vệ đa dạng sinh học Đây có thể được xem như một mô hình quan trọng để giảm tác động của khí hậu trên toàn thế giới
Tại châu Á, Nhật Bản là quốc gia có đến 68,6% diện tích đất là rừng che phủ, đứng thứ 17 trên thế giới Cách đây hơn 300 năm, quốc gia này đã phải trải qua giai đoạn rừng bị tàn phá nghiêm trọng, biến cảnh quan thành những vùng đất hoang hóa Việc quản lý rừng cộng đồng của các địa phương đã khởi đầu cho một kỷ nguyên mới trong phục hồi rừng và phát triển lâm nghiệp của Nhật Bản
Nhật Bản cũng xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên rừng dựa trên các thông số về điều kiện rừng hiện tại, chi phí vận chuyển gỗ và phát triển các kỹ thuật để dự báo tăng trưởng rừng và xác định hiệu quả quản lý
Canada là quốc gia nắm giữ 9% diện tích rừng trên thế giới Một hệ thống rừng sinh trưởng và phát triển khỏe mạnh sẽ đóng góp không nhỏ vào sức khỏe của hệ sinh thái toàn cầu Quản lý rừng bền vững rất quan trọng đối với Canada, không chỉ giúp cân bằng sự cạnh tranh trong ngắn hạn mà còn bảo đảm các thế hệ sau có thể hưởng lợi từ rừng
Hợp tác lâm nghiệp trong khối ASEAN chủ yếu xoay quanh chủ đề QLRBV với 2 lý do, một là xu hướng mất rừng của các nước đang phát triển do áp lực dân số, lương thực, khai thác lậu, cháy rừng…, hai là bị thị trường thế giới từ chối nếu gỗ không có chứng chỉ QLRBV của một tổ chức độc lập quốc tế Chứng chỉ rừng (hay chứng chỉ gỗ) thực chất là chứng chỉ ISO nhưng đặc thù cho ngành lâm nghiệp sản xuất gỗ và lâm sản ngoài gỗ Bỏ qua quan niệm rào cản thương mại, các nước thành viên ASEAN đều cần bảo vệ rừng nước mình và đều cần bán sản phẩm đồ gỗ vào các thị trường quốc tế với giá bán cao Vì đây là nhu cầu cấp bách, khách quan, nên trong các năm 1995-
2000 ASEAN đã hoàn thành dự thảo bộ tiêu chuẩn QLRBV cho mình vào năm 2000 tại thành phố Hồ Chí Minh và được phê duyệt tại hội nghị Bộ trưởng Nông - Lâm nghiệp Phnom-penk 2001 Song, do bộ tiêu chuẩn QLRBV của ASEAN soạn thảo theo 7 tiêu chí của ITTO, nên gặp khó khăn khi xin cấp chứng chỉ của tổ chức FSC
Với mục đích quản lý bền vững, các khu bảo vệ (protected areas) được thành lập ngày càng nhiều, nhiều quốc gia trên thế giới đã quan tâm đến việc quản lý bền vững các khu bảo vệ Nhiều chính sách và giải pháp được đưa ra để áp dụng quản lý rừng bền vững Như vậy có thể nhận thấy phần nào những lợi ích và tầm quan trọng mà rừng đem lại cho cuộc sống của con người trên hành tinh, nhiều giả thiết nhiều công trình nghiên cứu đã được đưa ra với mục đích duy nhất là quản lý rừng theo hướng bền vững.
Tình hình quản lý bảo vệ rừng ở Việt Nam
Tài nguyên rừng (TNR) của Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ
XX đã xuống cấp nghiêm trọng do việc quản lý và khai thác không bền vững Tình trạng xuống cấp thể hiện cả về số lượng và chất lượng của rừng Tại nhiều khu vực ở Tây Bắc, miền Trung và Tây Nguyên, rừng đã và đang mất chức năng kinh tế và sinh thái Nếu như tỷ lệ che phủ rừng nước ta năm 1943 là 43% thì đến năm 1976 chỉ còn 33,8% Tỷ lệ che phủ thấp nhất vào năm
1995 với 28,2% Trong những năm gần đây, sự nỗ lực của nhà nước với những chính sách đổi mới, những chương trình trọng điểm quốc gia như Dự án 327, 661 đã làm cho diện tích rừng tăng lên một cách rõ rệt
Loestchau (1966) đã phân loại rừng theo trạng thái hiện tại trong công trình: Phân chia kiểu trạng thái và phương hướng kinh doanh rừng hỗn giao lá rộng thường xanh nhiệt đới Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã dựa trên hệ thống phân loại của Loeschau cải tiến cho phù hợp với đặc điểm rừng tự nhiên của Việt Nam và cho đến nay vẫn áp dụng hệ thống phân loại này (QPN 6 – 84)
Thái Văn Trừng (1978) đứng trên quan điểm sinh thái đã chia rừng Việt Nam thành 14 kiểu thảm thực vật Đây là công trình tổng quát, đáp ứng được yêu cầu về quy luật sinh thái Xuất phát từ tính đa dạng, phong phú của rừng nhiệt đới, Thái Văn Trừng đưa ra kết luận: Không thể dùng quần hợp thực vật làm đơn vị phân loại cơ bản như các tác giả kinh điển đã sử dụng ở vùng ôn đới Ông đề xuất dùng kiểu thảm thực vật làm đơn vị phân loại cơ bản và lấy hình thái, cấu trúc quần thể làm tiêu chuẩn phân loại
Bảo Huy (1993) đã xác định trạng thái hiện tại của các lâm phần Bằng Lăng ở Tây Nguyên theo hệ thống phân loại của Loeschau, đồng thời tác giả cũng xác định các loại hình xã hợp thực vật với các ưu hợp khác nhau thông qua trị số IV%
Lê Sáu (1996), Trần Cẩm Tú (1999), Nguyễn Thành Mến (2005) khi phân loại trạng thái rừng tự nhiên tại Kon Hà Nừng – Tây Nguyên, Hương Sơn – Hà Tĩnh, Phú Yên đã dựa trên hệ thống phân loại rừng của Loeschau (1960) đã được Viện Điều tra Quy hoạch rừng Việt Nam bổ sung (QPN6 – 84)
Gần đây một số tác giả đã sử dụng mô hình toán học để phân loại trạng thái rừng, điển hình như: Ngô Út (2003), bước đầu định lượng hoá việc phân loại các trạng thái rừng thuộc kiểu rừng kín thường xanh và nửa rụng lá vùng Đông Nam Bộ; Nguyễn Văn Thêm (2003), ứng dụng hàm lập nhóm trong phân loại trạng thái rừng và đưa ra kết luận: Các trạng thái rừng theo hệ thống phân loại của Loeschau có thể được nhận biết chính xác thông qua các hàm phân loại tuyến tính như Fisher được xây dựng dựa trên nhiều biến số định lượng Ngô Út, Nguyễn Phú Hùng (2003) đưa ra một số ý kiến về cải thiện hệ thống phân chia trạng thái rừng lá rộng thường xanh Việt Nam…
Phân loại rừng theo Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT về những quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng Đây là văn bản quy định về hệ thống phân loại rừng nhằm phục vụ cho công tác điều tra, kiểm kê, thống kê rừng; quy hoạch bảo vệ phát triển rừng, quản lý tài nguyên rừng và xây dựng các chương trình, dự án lâm nghiệp Đỗ Thị Hường (2010), đã đánh giá được tình hình hiện trạng công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng, phân tích kinh tế HGĐ, nghiên cứu các hình thức và mức độ tác động của người dân đến tài nguyên rừng và tổng thu nhập của các HGĐ ở Thượng Tiến
Ngô Đức Hậu (2012) cho thấy các nhân tố kinh tế HGĐ, mức độ thuận tiện giao thông, số nhân khẩu, số lao động chính, số lần vào rừng khai thác, hình thức chăn thả, số lượng gia súc, có ảnh hưởng rõ nét và quyết định đến mức độ tác động vào tài nguyên rừng
Lê Trần Chấn (2012), đã xác định được một số mối đe dọa chính gồm
06 mối đe dọa trực tiếp và 03 mối đe dọa gián tiếp từ người dấn tới TNR đó là: Tình trạng khai thác gỗ trái phép, khai thác củi, chăn thả gia súc, khai thác lâm sản ngoài gỗ, săn bắt động vật hoang dã, cháy rừng, sự gia tăng dân số, tỷ lệ hộ nghèo cao và tình trạng thiếu việc làm trong khu vực Đến năm 2018 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng đã thay thế Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT Đến cuối năm 2018, tỷ lệ che phủ rừng của cả nước đã nâng lên là 41,65% Việt Nam là một nước nông nghiệp với 3/4 diện tích là đồi núi và hơn 80% dân số sống ở nông thôn miền núi và nghề nghiệp chính là sản xuất nông - lâm nghiệp Cuộc sống của họ từ bao đời nay đã gắn bó chặt chẽ với rừng và đất rừng Cùng với tốc độ tăng dân số ngày càng nhanh, với sự mở rộng và phát triển của nền kinh tế thị trường dẫn tới sự phụ thuộc của người dân địa phương và những tác động của họ vào TNR cũng ngày càng lớn Do vậy, mà công tác quản lý bảo vệ, phát triển rừng càng cần phải được quan tâm và chú trọng hơn nữa Tại Việt Nam, các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng đã được quan tâm Tuy vậy, tình trạng chặt phá, khai thác rừng trái phép vẫn diễn biến phức tạp Vai trò to lớn của rừng trong chống biến đổi khí hậu, ngăn lũ lụt, thiên tai bất thường Do sự mất mát của rừng lớn dẫn đến nghèo kiệt đất đai và sự biến mất dần những sinh vật quý hiếm, làm tăng hàm lượng CO2 trong khí quyển, tăng nhiệt độ trung bình của trái đất Do những thập kỷ ở nước ta toàn bộ rừng và đất rừng thuộc quyền sở hữu của Nhà nước Trên danh nghĩa rừng của toàn dân nên vì thế mà mọi người đều có quyền khai thác, lợi dụng bất kỳ tài nguyên có từ rừng và đất rừng, nên rừng bị khai thác triệt để dẫn đến ngày càng cạn kiệt là điều không thể tránh khỏi, thêm vào đó tình trạng du canh, du cư, hoạt động đốt nương làm dẫy, dân số tăng nhanh làm cho tài nguyên rừng nước ta bị tàn phá nặng nề hơn, hình thức trên kéo dài suốt bốn thập kỷ do đó tài nguyên rừng nước ta bị suy giảm nhanh chóng, diện tích bị thu hẹp từ 14,3 triệu ha (1943) xuống 9,3 triệu ha (1995), tỷ lệ che phủ từ 43% (1943) xuống còn 28% năm (1995) Công tác quản lý bảo vệ rừng ở Việt Nam trong những năm gần đây đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, ban hành nhiều đường lối chính sách bao gồm những văn kiện, những quyết định, chỉ thị và quan trọng nhất là ban hành Luật Lâm nghiệp, với nội dung hoạt động của lực lượng Kiểm lâm phong phú đa dạng Đây thực sự là bước ngoặt lớn trong lịch sử phát triển lâm nghiệp ở nước ta, làm cho pháp Luật về rừng đi vào cuộc sống Mục tiêu của Đảng và Nhà nước đặt ra đối với công tác quản lý và bảo vệ rừng và giao đất Lâm nghiệp là: Ngăn chặn tận gốc các hành vi, vi phạm bảo vệ và phát triển rừng Thiết lập hệ thống chủ rừng trên phạm vi toàn quốc với từng loại rừng Rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất, từng bước thực hiện từng mảnh đất khu rừng có chủ cụ thể Tạo điều kiện cho Nông dân tổ chức sản xuất cây trồng, vật nuôi và đi đến xoá bỏ tình trạng độc canh cây lúa, phá rừng làm nương dẫy, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiên đại hoá nông thôn Góp phần bảo vệ, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sống
Những năm qua công tác quản lý bảo vệ rừng từng bước phát triển và đạt được những thành công đáng kể Để quản lý bảo vệ rừng hợp lý, Đảng và Chính phủ đã ban hành Luật, Nghị định và các văn bản liên quan đến công tác về giao đất Lâm nghiệp cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, các chính sách kể trên cho đến nay đã góp phần tích cực làm hạn chế việc phá rừng, kết quả giao đất Lâm nghiệp đến nay đã có hiệu quả ngày càng tăng, việc bảo vệ rừng có chủ thực sự cùng với hàng loạt các chính sách làm cho độ che phủ của rừng ngày càng được nâng lên cụ thể:
Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 20 tháng 6 năm 2012;
Luật Đất đai số: 45/2013/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2013;
Luật lâm nghiệp số 16/2017/QH14 ngày 17/11/2017
Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Thủ tướng chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của luật lâm nghiệp
Nghị định số 35/NĐ-CP ngày 29/4/2019 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp…
Nghị định số 01/2019/NĐ-CP ngày 01 tháng 01 năm 2019 của Thủ tướng chính phủ về Kiểm lâm và lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng
Thông tư số 27/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về quản lý, Truy xuất nguồn gốc lâm sản
Thông tư số 28/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quy định về Quản lý rừng bền vững
Thông tư số 29/2018/TT-BNNPNTT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quy định về các biện pháp lâm sinh
Thông tư số 30/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quy định Danh mục loài cây trồng lâm nghiệp chính; công nhận giống và nguồn giống; quản lý vật liệu giống cây trồng lâm nghiệp chính
Thông tư số 31/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quy định về phân định ranh giới rừng
Thông tư số 32/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quy định phương pháp khung giá rừng; định giá rừng
Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng.
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Nhằm tìm ra các giải pháp thực hiện có hiệu quả công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng, phát triển lâm nghiệp bền vững trên địa bàn huyện Điện Biện Đông
Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ được thực trạng quản lý bảo vệ, phát triển rừng ở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
- Xác định được các yếu tố thuận lợi và khó khăn đối với công tác quản lý bảo vệ, phát triển rừng ở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý bảo vệ, phát triển rừng ở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
2.2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Tại các khu rừng phòng hộ, sản xuất thuộc địa phận huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại các cộng đồng người dân địa phương sinh sống gần rừng và ven rừng thực hiện công tác bảo vệ rừng và phát triển rừng thuộc các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý tài nguyên rừng
Về nội dung: Chỉ tập trung nghiệp cứu những vấn để có liên quan đến quản lý bảo vệ, phát triển rừng, những giải pháp góp phần quản lý bảo vệ, phát triển rừng tại huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo vệ, phát triển rừng tại huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.huyện Điện Biên Đông
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ, phát triển rừng ở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
+ Hiện trạng rừng và đất rừng
+ Thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng & phát triển rừng
2.3.2 Nguyên nhân nhân dẫn đến công tác bảo vệ rừng & phát triển rừng
2.3.3 Đề xuất một số nhiệm vụ, giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý bảo vệ phát triển rừng huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
2.4.1 Quan điểm và phương hướng giải quyết vấn đề
Quan điểm hệ thống: Rừng vừa là một bộ phận của hệ thống tự nhiên, vừa là một bộ phận của hệ thống kinh tế - xã hội và bản thân nó cũng là một hệ thống hoàn chỉnh
+ Rừng là một bộ phận của hệ thống tự nhiên: Sự tồn tại và phát triển của rừng phụ thuộc vào những quy luật của tự nhiên, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác trong hệ thống tự nhiên như địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, sinh vật, vv Do rừng có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố tự nhiên mà có thể quản lý rừng bằng tác động vào các yếu tố tự nhiên Trên quan điểm hệ thống có thể xem những giải pháp quản lý rừng như là những giải pháp điều khiển hệ thống tự nhiên để ổn định thành phần và các mối quan hệ trong hệ sinh thái rừng Vì vậy, việc nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên đến công tác quản lý rừng là cần thiết
+ Rừng cũng là một bộ phận của hệ thống kinh tế vì sự tồn tại và phát triển của nó gắn liền với các hoạt động kinh tế của con người như trồng rừng, khai thác lâm sản, làm nương rẫy, đốt than, săn bắt chim thú, phát triển du lịch, vv Các hoạt động này lại phụ thuộc vào mức sống kinh tế, cơ cấu ngành nghề, nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, lợi nhuận, vv Ngoài ra, rừng cũng tác động mạnh mẽ tới các yếu tố kinh tế thông qua việc cung cấp nguyên liệu, năng lượng và thông tin cho nhiều hoạt động kinh tế của con người Vì có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố trong hệ thống kinh tế nên có thể quản lý rừng bằng việc tác động vào những yếu tố kinh tế
+ Rừng cũng là một thực thể xã hội: Sự tồn tại và phát triển của rừng phụ thuộc nhiều vào hoạt động của con người Những hoạt động đó theo hướng bảo vệ và phát triển rừng hay tàn phá rừng luôn bị chi phối bởi nhiều yếu tố xã hội như nhận thức về giá trị của rừng, ý thức với pháp luật nhà nước, trách nhiệm với cộng đồng, kiến thức về quản lý rừng, văn hoá, phong tục tập quán liên quan đến quản lý rừng, vv Do rừng có liên quan chặt chẽ với các yếu tố xã hội nên có thể quản lý rừng bằng cách tác động vào những yếu tố xã hội Vì vậy, việc phân tích những ảnh hưởng của yếu tố xã hội đến rừng và hiệu quả quản lý rừng là rất cần thiết và quan trọng
- Quản lý bảo vệ, phát triển rừng phải là những hoạt động tổng hợp và đa ngành: Quản lý rừng là hoạt động mang tính kỹ thuật, nhưng cũng là hoạt động mang tính kinh tế - xã hội Vì vậy, những giải pháp quản lý rừng sẽ bao gồm cả những giải pháp khoa học công nghệ và những giải pháp kinh tế - xã hội Những giải pháp này sẽ liên quan đến các ngành như Lâm nghiệp, Nông nghiệp, Thuỷ lợi, Địa chính, Giao thông, Môi trường,
- Quản lý bảo vệ, phát triển rừng phải là hoạt động phát triển: Quản lý rừng vừa phải bảo tồn được tài nguyên thiên nhiên vừa phải hướng vào cải thiện chất lượng cuộc sống con người Vì vậy, nghiên cứu quản lý rừng phải được thực hiện theo cách tiếp cận của nghiên cứu phát triển
- Quản lý bảo vệ, phát triển rừng cần phải có sự tham gia: Nằm trên một địa bàn rộng lớn, rừng có mối liên quan chặt chẽ với đời sống xã hội, đặc biệt là đối với những người dân sống gần rừng Vì vậy, công tác quản lý bảo vệ rừng không chỉ là trách nhiệm của Cơ quan Kiểm lâm, Uỷ ban nhân dân các cấp… mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội, trong đó đặc biệt chú ý đến sự tham gia của những người dân sống gần rừng
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.4.2.1 Thu thập và kế thừa các thông tin, số liệu và kết quả nghiên cứu đã có
Những kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm về quản lý rừng của các nước trên thế giới
Những tài liệu về thể chế, chính sách trong nông, lâm nghiệp ở Việt Nam như Luật đất đai, Luật Lâm nghiệp, Chính sách giao đất lâm nghiệp, Chính sách khoán bảo vệ rừng; quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp; trách nhiệm quản lý Nhà nước các cấp về rừng và đất lâm nghiệp
- Những tài liệu liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu rừng huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
- Những tài liệu, kết quả nghiên cứu, đánh giá về tài nguyên động thực vật tại khu rừng huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
+ Đề tài thực hiện những cuộc trao đổi, thảo luận với 4 nhóm người đại diện cho 4 dân tộc chủ yếu trên địa bàn có liên quan đến quản lý rừng là Hơ Mông, Khơ Mú, Lào và Kinh Trong quá trình trao đổi, thảo luận, người thực hiện đề tài giữ vai trò là người thúc đẩy và định hướng cuộc trao đổi mà không đưa ra những ý kiến mang tính quyết định và không áp đặt tư tưởng của mình cho những thành viên tham gia thảo luận
+ Lựa chọn đối tượng: Nhóm đối tượng phỏng vấn, thảo luận thu thập thông tin đa dạng, phong phú về địa vị xã hội, mức sống, địa bàn cư trú, nhận thức, thành phần dân tộc, khả năng tiếp cận, lĩnh vực quản lý khác nhau nhưng đều có sự hiểu biết về các vấn đề có liên quan đến quản lý bảo vệ rừng
+ Nội dung trao đổi, thảo luận tập trung vào:
Lịch sử thôn bản: Lịch sử thôn bản được sử dụng để tìm hiểu quá trình hình thành, định cư của các thôn bản, quá trình chuyển đổi các phương thức tổ chức sản xuất, diễn biến của hoạt động sử dụng rừng và đất rừng, sự thay đổi về nhận thức, kiến thức của người dân và những nguyên nhân thay đổi trong quản lý rừng của cư dân địa phương
Biểu đồ thời gian: Biểu đồ thời gian được sử dụng để thu thập thông tin liên quan đến quản lý sử dụng tài nguyên rừng
Lịch thời vụ: Lịch thời vụ được sử dụng để thu thập thông tin về bố trí cơ cấu cây trồng, biện pháp kỹ thuật gây trồng các loài cây hiện có ở địa phương để xem xét đánh giá các kiến thức bản địa tương ứng
+ Ngoài đối tượng là các hộ dân và cán bộ địa phương, đề tài còn tiến hành phỏng vấn các đồng chí Công an huyện phụ trách các xã - những người đã trực tiếp tham gia phối hợp cùng Kiểm lâm địa bàn quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn Chi tiết mẫu phiếu phỏng vấn xem phần phụ biểu
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI
Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Điện Biên Đông
Huyện Điện Biên Đông nằm ở phía đông nam của tỉnh Điện Biên, có ranh giới hành chính tiếp giáp như sau:
- Phía bắc giáp huyện Điện Biên, huyện Mường Ảng;
- Phía đông giáp huyện Sông Mã và huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La;
- Phía nam giáp huyện Điện Biên và huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La;
- Phía tây giáp huyện Điện Biên và Thành phố Điện Biên Phủ;
3.1.1.2 Địa chất, thổ nhưỡng Địa chất, thổ nhưỡnghầu hết đất đai có độ dốc lớn, tuy nhiên lại có tầng canh tác tương đối dày Theo các chỉ tiêu đánh giá tài nguyên đất của tỉnh Điện Biên, huyện Điện Biên Đônglớp phủ thổ nhưỡng có 3 nhóm đất chính với 14 loại đất
* Nhóm đất phù sa với 1 loại đất đó là phù sa sông suối (Py), diện tích 87,64 ha, chiếm 0,07% diện tích tự nhiên, tập trung chủ yếu ở các xã Luân Giói, Chiềng Sơ và Mường Luân
* Nhóm đất đỏ vàng: tổng diện tích 52.796,94 ha, chiếm 43,67% diện tích tự nhiên Nhóm đất này có 7 đơn vị phân loại như sau:
- Đất đỏ trên đá Macma bazo (Fk): diện tích 1.546,63 ha, chiếm 1,28% diện tích tự nhiên, phân bổ chủ yếu ở xã Chiềng Sơ
- Đất đỏ nâu trên đá vôi (Fv): diện tích 43,59 ha, chiếm 0,04% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở xã Na Son
- Đất đỏ vàng trên đá biến chất (Fj): diện tích 13.153,73 ha, chiếm
10,88% diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở các xã: Xa Dung, Keo Lôm, Háng Lìa và Phình Giàng
- Đất đỏ trên đá phiến sét (Fs): diện tích 8.313,80 ha, chiếm 6,88% diện tích tự nhiên Phân bố ở các xã: Na Son, Noong U, Tìa Dình và Pú Hồng
- Đất đỏ vàng trên đá Macma axit (Fa): diện tích 13.601,95 ha, chiếm
11,25% diện tích tự nhiên Phân bố ở các xã Luân Giói, Mường Luân, Chiềng
- Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq): diện tích 16.027,32 ha, chiếm 13,26% diện tích tự nhiên Phân bố ở các xã Phình Giàng, Pú Hồng, Tìa Dình, Keo Lôm, Noong U và Na Son
- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (Fl): diện tích 109,92 ha, chiếm 0,09% diện tích tự nhiên Phân bố dải dác trên các khu vực trồng lúa nước trong địa bàn huyện
* Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi: tổng diện tích 64.758,70 ha, chiếm
53,57% diện tích tự nhiên Nhóm đất này bao gồm 6 đơn vị phân loại: Hk, Hv,
Hj, Hs, Ha và Hq phân bố trên địa hình đồi núi cao trong địa bàn huyện
* Đánh giá khả năng thích nghi của đất cho các loại cây trồng:
- Quỹ đất thích hợp cho gieo trồng lúa nước chiếm khoảng 2,5% tổng diện tích tự nhiên (khoảng 3000 ha), bao gồm các loại đất ở độ dốc dưới 8 0 ; tầng dày lớn hơn 30cm, chủ yếu là nhóm đất phù sa
- Quỹ đất thích hợp cho phát triển cây ngắn ngày khác (lúa nương, ngô, cây công nghiệp ngắn ngày) chiếm khoảng 20% diện tích tự nhiên (khoảng
24.000 ha) Bao gồm các loại đất phân bố ở độ dốc từ 15-20 0 , tầng dày đất trên 50cm Chủ yếu là nhóm đất mùn vàng và vàng đỏ trên núi
- Quỹ đất thích hợp cho phát triển lâm nghiệp, đồng cỏ chăn thả chiếm khoảng 72% tổng diện tích tự nhiên (khoảng 90.000 ha) Bao gồm các loại đất nằm ở độ dốc trên 25 0 và một phần đất ở độ dốc dưới 25 0 nhưng có tầng dày