Xác định được mức độ biến dị về các chỉ tiêu sinh trưởng và chất lượng thân cây của các giống Bạch đàn lai trong khảo nghiệm mở rộng tại Hữu Lũng, Lạng Sơn và Yên Bình, Yên Bái.. Nghiên
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Phân bố tự nhiên và đặc điểm của một số loài Bạch đàn
Bạch đàn urô (Eucalyptus urophylla) có nguồn gốc từ Indonesia, phân bố chủ yếu 7 0 30 - 10 0 vĩ độ Nam và 122 - 127 0 kinh Đông trên các dốc núi và trong các thung lũng trên các loại đất bazan, diệp thạch (schits) và phiến thạch, đôi khi mọc ở núi đá vôi Bạch đàn urô phân bố ở độ cao 300 - 2960m trên mặt biển (chủ yếu ở độ cao 1000 - 2000m), lượng mưa trung bình hàng năm 600 - 2200mm/năm với 2 - 8 tháng khô Các đảo chính có Bạch đàn urô phân bố tự nhiên là Flores (Egon và Lewotobi), Adona, Pantar, Alor, Wetar và Timor (Eldridge và cộng sự, 1994)
Hình 1.1 Phân bố tự nhiên bạch đàn urô (Eldridge và cộng sự, 1994)
Bạch đàn urô là loài cây gỗ lớn, nơi nguyên sản có thể cao 25 - 45m, đôi khi có thể đạt trên 55m, đường kính có thể đạt 1 - 2m Bạch đàn urô có khả năng thích nghi với các lập địa khác nhau và đang được sử dụng để gây trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới (Turnbull & Brooker, 1978)[38]
Mặc dù Bạch đàn urô không được gây trồng thuần loài với diện tích lớn nhưng giống lai giữa Bạch đàn urô và các loài bạch đàn khác được sử dụng rất rộng rãi trong trồng rừng ở các nước, cho vùng khí hậu mát, ẩm ở Brazil, Trung Quốc và Nam Phi, các giống lai chủ yếu là giống UG
(Eucalyptus urophylla x Eucalyptus grandis), GU (Eucalyptus grandis x Eucalyptus urophylla) (Nguyễn Hữu Sỹ, 2020)
Bạch đàn pellita (Eucalyptus pellita) có hai vùng phân bố tự nhiên chính là phía nam đảo New Guinea (bao gồm tỉnh Irian Jaya của Indonesia và Papua New Guinea) và phía bắc bang Queensland, Australia Ở phía nam đảo New Guinea, Bạch đàn pellita phân bố từ vùng Morehead và Keru thuộc Papua New Guinea ở vĩ độ 8 0 30’ đến phía bắc Muting, Irian Jaya, Indonesia ở vĩ độ 7 0 40’ Nam và chủ yếu ở độ cao dưới
100 m so với mực nước biển Vùng này có đặc trưng khí hậu nhiệt đới ẩm với nhiệt độ trung bình năm 27 0 C, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất 29 0 C và tháng lạnh nhất là 25 0 C và không chịu ảnh hưởng của mùa khô với lượng mưa hàng năm từ 1900 mm ở Morehead đến 2700 mm ở Muting, lượng mưa bình quân tháng từ 80 đến trên 120 mm (Van Rogel, 1963) Đặc điểm đất đai chủ yếu là dạng đất mùn có cát nâu, thoát nước tốt hoặc đất mùn sét phát triển trên phù sa bồi tích, độ pH từ 5 đến 6 Ở vùng này, Bạch đàn pellita phân bố rải rác giữa vùng rừng thường xanh và rừng mưa bán rụng lá (Harwood, 1998) Ở phía bắc Queensland, Australia, Bạch đàn pellita phân bố từ Iron Range, Cape York Peninsula (vĩ độ 12 0 44’ Nam) tới Ingham (vĩ độ 18 0 36’ Nam), tập trung chủ yếu trong phạm vi 50 km dọc bờ biển ở độ cao dưới 600 m (Bootle, 1983; Gonzaga và cộng sự, 1983; Harwood, 1998) Vùng này có đặc trưng khí hậu nhiệt đới với nhiệt độ trung bình năm khoảng 24 0 C, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là 27 0 C và tháng lạnh nhất là 19 0 C, lượng mưa bình quân hàng năm khoảng 2100 – 2200 mm và có mùa khô kéo dài khoảng
4 tháng lượng mưa trung bình tháng thấp hơn 40 mm (Harwood, 1998)
Hình 1.2 Phân bố tự nhiên Bạch đàn pellita (Nguồn: Harwood, 1998)
Bạch đàn pellita được coi là tương lai của rừng trồng vùng nhiệt đới ẩm do sinh trưởng nhanh, khả năng chống chịu sâu bệnh hại tốt và tính chất gỗ rất phù hợp cho làm gỗ xẻ, làm giấy cũng như nhiều hình thức sử dụng khác Mặc dù được đưa vào trồng rừng ở quy mô công nghiệp muộn hơn các loài Bạch đàn khác nhưng do có đặc tính sinh trưởng nhanh, khả năng nhân giống cao, thích nghi với phạm vi môi trường rộng, chống chịu sâu bệnh tốt, và phù hợp với nhiều mục đích sử dụng gỗ khác nhau nên Bạch đàn pellita và các giống lai đã được gây trồng rộng rãi ở các nước nhiệt đới như Indonesia, Malaysia, Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ (Harwood, 1998) Đặc điểm nổi bật của Bạch đàn pellita là khả năng chống chịu sâu bệnh hại tốt Ở Ấn Độ, Bạch đàn pellita bị Ong u bướu (Leptocybe invasa) gây hại ít nhất trong số 4 loài gồm Bạch đàn pellita, uro, grandis và giống lai uro x grandis (Goud và công sự, 2010) Sâu ăn lá Thyrinteina arnobia Stoll ảnh hưởng nghiêm trọng trên rừng trồng bạch đàn các loài tại bang Minas Gerais, Brazil; trong nghiên cứu với 11 loài bạch đàn cho thấy Bạch đàn saligna, Bạch đàn grandis là hai loài mẫn cảm nhất, tiếp theo là Bạch đàn urô, Bạch đàn cloeziana…, còn Bạch đàn pellita nằm trong nhóm kháng sâu cùng với Bạch đàn camal, Bạch đàn têrê
Gỗ Bạch đàn pellita có màu đỏ đậm hoặc đỏ nhạt, màu sắc tương đối đồng nhất từ trong ra ngoài, thớ gỗ mịn, vân khá đẹp; ngoài ra gỗ loài này còn có khối lượng riêng lớn, nhiệt lượng cao, hiệu suất bột giấy và chiều dài sợi gỗ lớn, tính chất cơ lý đáp ứng được yêu cầu về gỗ xẻ (Research Institute of Wood Industry, 2006)
Bạch đàn pellita là loài có hiệu suất bột giấy khá cao (50%) tương đương với Bạch đàn uro, Bạch đàn grandis và chất lượng bột giấy tốt (Clark và Hicks, 1996) Đồng thời Bạch đàn pellita cũng rất ưa chuộng làm gỗ nhiên liệu đốt trong lò hơi sản xuất điện cũng như sản xuất viên nén năng lượng phục vụ đời sống hàng ngày do gỗ có giá trị nhiệt lượng cao (William S Dvorak và cộng sự, 2011).
Tổng quan ngoài nước
1.2.1 Nghiên cứu về lai giống và sử dụng giống lai trong trồng rừng
Trong trồng rừng kinh tế, giống lai được sử dụng khá rộng rãi đặc biệt là ở rừng trồng các loài cây mọc nhanh như keo, bạch đàn Giống lai là giống chủ đạo trong trồng rừng bạch đàn ở nhiều nước trên thế giới, như giống lai giữa giữa Bạch đàn urô và Bạch đàn grandis (Eucalyptus urophylla x
Eucalyptus grandis) ở Brazil, Nam Phi và Trung Quốc hay giống lai giữa
Bạch đàn caman với Bạch đàn deglupta (Eucalyptus camaldulensis x
Eucalyptus deglupta) ở Thái Lan (Brooker và Kleinig, 2012) Lai giống giữa các loài bạch đàn là chọn lọc các cá thể lai tốt nhất để nhân giống vô tính vào sản xuất là hướng đi chính trong các chương trình nghiên cứu cải thiện giống bạch đàn ở hầu hết các nước trên thế giới (Turnbull, 1999; Goncalves, 2011) Thông qua nghiên cứu lai giống, chọn lọc cá thể lai và nhân giống vô tính đã nâng năng suất rừng trồng bạch đàn ở các nước này lên rõ rệt, ở Brazil năng suất rừng trồng bạch đàn, chủ yếu là giống lai giữa Bạch đàn urô với Bạch đàn grandis đã đạt đến trung bình 40-50m 3 /ha/năm ở quy mô rừng trồng công nghiệp và khoảng 25-30m 3 /ha/năm ở Trung Quốc
Các nghiên cứu cho thấy, Bạch đàn pellita có khả năng lai giống với các loài Bạch đàn khác như Bạch đàn brassiana, Bạch đàn urô và Bạch đàn caman tạo ra các giống lai có ưu thế lai rất tốt về sinh trưởng, đồng thời có tính chất gỗ tốt và có khả năng chống chịu sâu bệnh và các điều kiện hạn hán tốt (Harwood, 1998) Công ty PICOP của Philippines đã khảo nghiệm một số tổ hợp lai E deglupta × E pellita, E urophylla × E pellita Kết quả khảo nghiệm sau 4 năm thu được chiều cao trung bình tổ hợp lai E pellita × E urophylla đạt 20m, gia đình tốt nhất của E urophylla đạt 17m, trong khi đó xuất xứ tốt nhất từ Queensland của Bạch đàn pellita là 15m (Siarot, 1986 - dẫn theo Harwood, 1998)
Chương trình cải thiện giống cho Bạch đàn pellita dựa trên phép lai thuận nghịch cũng được thực hiện và cho thấy sinh trưởng của các cá thể tốt nhất của các tổ hợp lai xa khác loài đã vượt trội các xuất xứ tốt của các loài bố mẹ (Harwood, 1998) Kết quả nghiên cứu của Mulawarman và cộng sự tại Indonesia cho thấy giống lai giữa Bạch đàn urô và Bạch đàn grandis với Bạch đàn pellita có sinh trưởng nhanh hơn so với các loài bố mẹ, vượt từ 20-25% Giống lai này còn được kỳ vọng có thể tăng khối lượng riêng của gỗ từ 10- 15% so với rừng trồng Bạch đàn urô, qua đó nâng cao sản lượng bột giấy (Mulawarman và cộng sự, 2008)
1.2.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho trồng rừng Bạch đàn
1.2.2.1 Chế độ bón phân Áp dụng chế độ bón phân thích hợp có thể nâng cao sản lượng gỗ từ 5-90%, phụ thuộc vào loại và nồng độ chất dinh dưỡng, tuổi đứng của cây và điều kiện tưới tiêu Để nâng cao năng suất rừng trồng, rừng cần được trồng với giống tốt, trong điều kiện lập địa phù hợp và được bón phân, tưới nước với liều lượng thích hợp (dẫn theo Eduardo Aparecido Sereguin Cabral de Melo, 2016)
Khảo nghiệm các gia đình bạch đàn lai E pellita x E urophylla tại
Yogyakarta, Indonesia vào tháng 12/1999 đã thiết lập 2 chế độ dinh dưỡng không bón phân và bón phân với 100 kg N, 50 kg P2O5 và 50 kg K2O cho mỗi hecta trên hai lập địa (S1-không bón phân và S2-bón phân) Thí nghiệm được bố trí theo hàng – cột với 6 lần lặp/1 địa điểm, 48 gia đình được bố trí ngẫu nhiên trong 6 lần lặp, hai cây trong cùng một gia đình được trồng theo hàng dọc với khoảng cách là 3m x 3m Kết quả điều tra sau 66 tháng cho thấy, ở lập địa bón phân (S2) cho sinh trưởng trung bình về đường kính đạt 13,4cm và chiều cao đạt tới 18,4m trong khi ở lập địa không bón phân (S1) đường kính chỉ đạt 11,8 cm và chiều cao là 16,9m (Mulawarman và cộng sự, 2008)
Andersson Patrik khuyến cáo đối với rừng trồng Bạch đàn urô (E urophylla) tại miền Nam Trung Quốc cần bón ít nhất 150kg Nito, 115kg phốt pho và 115kg Kali trên 1ha/1 năm, để đạt sản lượng cao nhất Kết quả có sự khác biệt khi bón phân 1 lần/năm và 2 lần/năm đối với hỗn hợp này, trong đó tăng trưởng đạt cao nhất khi áp dụng bón phân 2 lần/năm với năng suất đạt
34,4 m 3 /ha/năm (Andersson, 2007) Báo cáo các chương trình trồng rừng của công ty StoraEnso ở Quảng Tây, Trung Quốc cho thấy năng suất rừng trồng bạch đàn urô có thể được cải thiện thông qua việc bón lót 150 g CMP (gồm 18% P) + 100 g NPK (với tỷ lệ phần trăm là 16% N, 12% P, 12% K) và một số nguyên tố cần thiết trước khi trồng cây Sau khi trồng 1 – 2 tháng, tiếp tục bổ sung 300 g NPK/cây Sau 8 – 10 tháng, bổ sung 500 g NPK/cây (dẫn theo
Nghiên cứu của Mirian Cristina Gomes Costa và cộng sự cho biết thí nghiệm bón phân trên các lập địa khác nhau, cho thấy bón 300g NPK (12:12:17)/cây cho sinh trưởng tốt nhất Nghiên cứu về tỷ lệ hàm lượng phân NPK, sinh trưởng rừng trồng Bạch đàn trắng ở Brazil cao nhất ở công thức có tỷ lệ 200 kg N + 30 kg P + 50 kg K/ha Có thể thấy, phân NPK có tỷ lệ đạm cao rất quan trọng cho sinh trưởng của Bạch đàn (Mirian Cristina Gomes Costa và cộng sự, 2012)
Năm 2009, nghiên cứu thử nghiệm trồng bạch đàn lai giống CO41H (lai giữa E urophylla và E grandis) trên đất đã khai thác trắng rừng trồng bạch đàn E grandis (trong chu kỳ trước có thâm canh bằng bón phân 100 kg N/ha, 27 kg P/ha, 80 kg K/ha) Khoảnh cách trồng 3,2m x 2,35m (1.330 cây/ha), mỗi ô gồm 64 cây (8 hàng x 8 cây/hàng) Thí nghiệm phân bón gồm
6 công thức: T1 (không bón phân), T2 (40 kg/ha N + 16 kg/ha P + 53 kg/ha K), T3 (gấp đôi liều T2, thường được khuyến cáo trong các công ty trồng rừng thương mại), T4 (tăng gấp 3 lần liều T2), T5 (tăng gấp 4 lần liều T2), T6 (bằng liều lượng T3, nhưng chỉ bón duy nhất 1 lần sau trồng 3 tháng) Kết quả cho thấy năng suất rừng bạch đàn ở các công thức bón phân đều cao hơn hẳn so với công thức không bón phân Ở tuổi 2, tăng trưởng trung bình hàng năm là 26 m 3 /ha/năm (công thức không bón phân) trong khi ở các công thức bón phân có thể đạt tối đa 42 m 3 /ha/năm (Paulo Henrique Muller da Silva, 2013)
Trước khi trồng bạch đàn, tiến hành đào hố sâu 50 – 60 cm, sau đó bổ sung 600g phosphate hoạt tính ở độ sâu 30 cm vào mỗi hố Bón phân 120g
NPK (6-30-6) trên hố trước khi trồng 10 ngày và 180 g NPK (10-0-30 + 1% B + 0,5%Zn + 0,5% Cu) trên cây sau khi trồng 8 tháng và 20 tháng Kết hợp với chế độ tỉa thưa cây giai đoạn 1 tuổi (để lại khoảng cách trồng cuối cùng là 9m x 3m) đã giúp tăng đường kính bình quân và chiều cao của rừng tới 40 – 60% ở bạch đàn lai E grandis x E urophylla (Antonio Carlos Ferraz Fiho và cộng sự, 2015)
Theo ghi nhận, nguyên tố P thường được sử dụng với liều lượng 10-50 kg/ha trong trồng rừng ở Brazil, nhưng trong điều kiện nghèo dinh dưỡng, nếu bón 60 kg/ha có thể tăng thêm 97% sản lượng gỗ Ngoài ra, việc sử dụng phân bón K có hiệu quả ở những năm cuối của chu kỳ Một số nghiên cứu gần đây cho thấy N có tác dụng nâng năng suất lên 5-35% ở giai đoạn 2-11 tuổi (dẫn theo Eduardo Aparecido Sereguin Cabral de Melo, 2016) Ở Tây Ban Nha, tại những khu vực đất có hàm lượng mùn hữu cơ thấp và có sẵn P, thường là khu vực phía Tây Nam, áp dụng công thức bón phân 40-
60 kg/ha N, 30-40 kg/ha P2O5 và 40- 60 kg/ha K2O (bón lót khi trồng và bón thúc); khu vực phía Tây Bắc ở những nơi giàu lượng mùn hữu cơ và nguồn nước hạn chế hơn thì áp dụng bón 15-30 kg/ha N, 30-40 kg/ha P2O5 và 60-80 kg/ha K2O (bón lót khi trồng và bón thúc) (dẫn theo Márcio Viera, 2016)
1.2.2.2 Quản lý vật liệu hữu cơ sau khai thác
Vật liệu hữu cơ sau khai thác (VLHCSKT) là toàn bộ cành nhánh, ngọn, lá, vỏ cây, hoa, quả, cây bụi, thảm tươi dưới tán rừng, vật rơi rụng,… được để lại sau khi phần gỗ thương phẩm được lấy đi Tuy nhiên, rừng trồng cây mọc nhanh ở nhiều nơi chủ yếu được áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh đơn giản như trồng thuần loài, khai thác trắng và đốt các VLHCSKT để chuẩn bị hiện trường trồng lại rừng Do đó, một lượng lớn các chất dinh dưỡng bị mất do đốt, xói mòn và rửa trôi chất dinh dưỡng; các kết cấu và các chức năng khác của đất suy giảm do không có thảm mục che phủ đất (M.O Macedo và cộng sự, 2008) VLHCSKT bị đốt làm cho các chất dinh dưỡng bị phân giải bay hơi ở nhiệt độ cao hoặc dễ dàng bị xói mòn và rửa trôi sau khi được giải phóng từ dạng hữu cơ sang vô cơ (Vu Dinh Huong và cộng sự, 2004; E B Hardiyanto và A Wicaksono, 2008) Các tính chất lý, hóa và sinh học khác của đất cũng bị ảnh hưởng do sự mất đi của lượng mùn trong đất
Tổng quan trong nước
1.3.1 Nghiên cứu lai giống và chọn lọc dòng Bạch đàn lai
Nghiên cứu lai giống Bạch đàn được bắt đầu ở nước ta từ những năm
1990 với công trình nghiên cứu lai giống một số loài Bạch đàn của Lê Đình Khả và Nguyễn Việt Cường (2000) Các tác giả đã nghiên cứu lai giống giữa các loài Bạch đàn urô, Bạch đàn caman và Bạch đàn liễu (E exserta) Trong công trình này các tác giả đã nghiên cứu một cách có hệ thống về mùa vụ ra hoa, phương pháp xử lý, bảo quản và cất trữ hạt phấn, môi trường nảy mầm hạt phấn và lai giống Kết quả nghiên cứu cho thấy hạt phấn các loài Bạch đàn có thể duy trì tỷ lệ nảy mầm cao trên 40% sau 4 năm cất trữ khi được làm khô bằng silicagel và cất trữ ở nhiệt độ -30 0 C Thời điểm bung phấn ở Bạch đàn xảy ra khi nắp hoa chuyển từ màu xanh sang màu vàng kem Thời điểm thụ phấn đạt tỷ lệ đậu quả cao nhất là 4 ngày sau khi khử đực tiến hành khi nắp hoa chuyển từ màu xanh sang màu vàng kem Kết quả đánh giá cho thấy giống lai khác loài giữa các loài bạch đàn có sinh trưởng nhanh hơn các loài bố mẹ, đặc biệt là nhanh hơn hẳn so với hậu thế thụ phấn tự do của các cây bố mẹ tham gia lai giống, thể hiện ưu thế lai về sinh trưởng rất rõ rệt Sinh trưởng của các cây lai của các nhóm loài bố mẹ khác nhau có sự sai khác về sinh trưởng trên các dạng lập địa khác nhau, ví dụ giống lai giữa Bạch đàn urô và Bạch đàn caman (UC) có sinh trưởng nhanh hơn rõ rệt so với giống lai giữa Bạch đàn urô và Bạch đàn liễu (UE hoặc EU) trên lập địa có tầng đất sâu, ẩm và giàu dinh dưỡng ở vùng đồng bằng sông Hồng trong khi giống lai
UE hoặc EU lại có sinh trưởng tốt hơn giống lai UC trên lập địa vùng đồi có tầng đất nông, nghèo dinh dưỡng Biểu hiện của ưu thế lai về sinh trưởng chịu ảnh hưởng của tế bào chất và điều kiện hoàn cảnh, nơi đất tốt bạch đàn sinh trưởng nhanh và biểu hiện ưu thế lai rõ rệt, ngược lại nơi đất xấu bạch đàn sinh trưởng chậm và ưu thế lai biểu hiện yếu hơn
Trước năm 1995, công tác cải thiện giống tập trung vào việc chọn lọc các cây trội cho các loài Bạch đàn sinh trưởng tốt ở các vùng sinh thái, tiếp theo là khảo nghiệm dòng vô tính để chọn ra các dòng có năng suất cao và khả năng thích nghi tốt Một số dòng Bạch đàn urô năng suất cao cũng đã được nhập từ Trung Quốc để phục vụ cho trồng rừng Vào năm 1993, một khảo nghiệm dòng vô tính gồm 38 dòng Bạch đàn caman được chọn từ khu rừng trồng 4 năm tuổi được xây dựng tại Ba Vì, Hà Tây Đường kính và chiều cao của tất cả các cây được chọn đều có độ vượt trên 1,5 lần độ lệch chuẩn so với giá trị trung bình của khu rừng trồng Kết quả đã có được 8 dòng sinh trưởng tốt hơn so với giống sản xuất của Bạch đàn caman (C), Bạch đàn liễu (E), Bạch đàn urô (U) và giống lai tự nhiên EC Các kết quả ở tuổi 7 đã xác định 26 dòng sinh trưởng nhanh hơn Bạch đàn caman đối chứng và 12 dòng có sinh trưởng kém hơn Đặc biệt, có 2 dòng C22 và C7 sinh trưởng nhanh nhất, có thể tích thân cây lớn gấp 2 lần Bạch đàn urô đối chứng và gấp 3 lần các dòng Bạch đàn caman Khảo nghiệm này là một minh chứng tốt cho các tổ chức nghiên cứu lâm nghiệp địa phương về tính cấp thiết của việc chọn lọc và khảo nghiệm dòng vô tính (Lê Đình Khả và cộng sự, 2003) Cây trội dự tuyển của Bạch đàn urô cũng đã được khảo nghiệm dòng vô tính Trung tâm Nghiên cứu cây nguyên liệu Giấy đã chọn được rất nhiều cây trội của Bạch đàn urô từ các khu rừng trồng và các khảo nghiệm xuất xứ và đã xây dựng các khảo nghiệm dòng vô tính Một số dòng này đã được công nhận là các giống tiến bộ kỹ thuật như dòng PN2, PN3d, PN10, PN14, PN46, PN47 và PN108 (Huỳnh Đức Nhân và cộng sự, 2006)
Trong khuôn khổ đề tài “Nghiên cứu lai tạo giống một số loài Bạch đàn, Tràm, Thông và Keo” giai đoạn 2001-2005, Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã tạo ra được hơn 40 tổ hợp lai giữa các loài Bạch đàn urô (U), Bạch đàn caman (C), Bạch đàn têrê (T),… với Bạch đàn pellita (P), trong đó Bạch đàn pellita chủ yếu dùng làm cây bố (Nguyễn Việt Cường và cộng sự
2006) Kết quả khảo nghiệm giống lai cho thấy một số giống lai CP có sinh trưởng nhanh trên một số lập địa ở miền Đông Nam Bộ và 1 tổ hợp PU có sinh trưởng nhanh nhất trong các tổ hợp khảo nghiệm tại Ba Vì, Hà Tây (Nguyễn Việt Cường và cộng sự, 2006)
Từ năm 2005, trong khuôn khổ dự án Sida-SAREC về nghiên cứu cải thiện giống cây rừng và đề tài “Nghiên cứu cải thiện giống nhằm tăng năng suất và chất lượng cho một số loài cây trồng rừng chủ lực” giai đoạn 2006-2010, Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng cũng đã có thêm những nghiên cứu lai giống giữa Bạch đàn urô (U) và Bạch đàn pellita (P) Kết quả nghiên cứu đã tạo ra 60 tổ hợp lai UP, PU và tiến hành xây dựng khảo nghiệm hậu thế giống lai tại Hà Nội, Nghệ An, Quảng Trị và Bình Dương Kết quả đánh giá ở giai đoạn 30 tháng tuổi cho thấy giống lai giữa hai loài bạch đàn này là rất có triển vọng cho trồng rừng ở miền Bắc và Bắc Trung bộ Kết quả này cũng cho thấy có sự khác biệt rất lớn về sinh trưởng của các tổ hợp Bạch đàn lai trên các lập địa, chứng tỏ ảnh hưởng rất lớn của tương tác di truyền hoàn cảnh Một số tổ hợp lai có sinh trưởng tốt hơn rõ rệt so với bố mẹ, U6 và PN14 tại Ba Vì và Đông Hà đã được xác định với độ vượt trung bình về thể tích từ 20-50% (Nguyễn Đức Kiên và cộng sự, 2009) Đặc biệt, nhiều tổ hợp lai UP vẫn duy trì được sức sống mạnh mẽ với tán lá khỏe mạnh trong điều kiện mùa đông lạnh và khô ở Ba Vì Từ các kết quả đánh giá các tổ hợp lai tại
Ba Vì, chọn lọc các cá thể lai có sinh trưởng nhanh, hình dạng thân đẹp để nhân giống đã được tiến hành và xây dựng các khảo nghiệm dòng vô tính cùng với một số dòng Bạch đàn urô và Bạch đàn lai UP mới chọn lọc (Hà Huy Thịnh và cộng sự, 2010) Năm 2013, Bộ NN&PTNT đã công nhận nhiều dòng là giống tiến bộ kỹ thuật và giống quốc gia, cụ thể là: o Bạch đàn urô: các dòng U262, U416, U821, U892, U1088 o Bạch đàn lai: các dòng UP35, UP54, UP72, UP95, UP97, UP99 Trong khuôn khổ đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống có năng suất và chất lượng cao cho một số loài cây trồng rừng chủ lực” giai đoạn 2011-2015, từ kết quả khảo nghiệm các tổ hợp lai, các tác giả đã tiến hành chọn lọc các cá thể lai tốt nhất trong các khảo nghiệm giống lai và khảo nghiệm dòng vô tính nhằm chọn lọc ra những dòng vô tính có sinh trưởng tốt nhất cho trồng rừng Kết quả nghiên cứu chọn lọc dòng vô tính bạch đàn lai UP tại Yên Thế, Bắc Giang cho thấy có sự sai khác rõ rệt giữa các dòng vô tính về tất cả các chỉ tiêu sinh trưởng và chất lượng, các dòng vô tính này có sinh trưởng vượt trội so với các giống đối chứng đã được công nhận (U6, PN14), và đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống mới cho các dòng vô tính UP164, UP223, UP171, UP138, UP180, UP153, UP190 và UP236 (Hà Huy Thịnh và cộng sự, 2015)
Một kết quả nghiên cứu khác trong khuôn khổ đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống Bạch đàn lai mới giữa Bạch đàn pellita và các loài bạch đàn khác” giai đoạn 2011-2015, cũng đã chọn được một số dòng bạch đàn lai có sinh trưởng nhanh đồng thời có khả năng thích nghi cao trên dạng lập địa đất cát pha ở Hàm Thuận Nam, Bình Thuận và đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống mới cho các dòng vô tính PB7, PB48, PB55,
UP68BB, UP69BB, UP75BB (Nguyễn Đức Kiên và cộng sự, 2015)
Trong khuôn khổ đề tài “Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật tổng hợp để phát triển trồng rừng cung cấp gỗ lớn các loài Keo tai tượng, Keo lá tràm và Bạch đàn trên lập địa sau khai thác ít nhất hai chu kỳ tại một số vùng trồng rừng tập trung” đã tiến hành xây dựng các khảo nghiệm mở rộng các giống Bạch đàn lai UP và Bạch đàn urô trên lập địa sau khai thác ít nhất hai chu kỳ tại Yên Bình, Yên Bái và Cam Lộ, Quảng Trị Từ kết quả đánh giá khảo nghiệm mở rộng các giống Bạch đàn lai và Bạch đàn urô tại thời điểm
40 tháng tuổi tại Cam Lộ, Quảng Trị và 36 tháng tuổi tại Yên Bình, Yên Bái cho thấy, các dòng Bạch đàn lai UP72, UP95, UP54 và UP99 có sinh trưởng nhanh, năng suất và chỉ tiêu chất lượng tổng hợp cao nhất trong khảo nghiệm cũng như vượt so với các giống đối chứng (U6, PN14), trong khi đó các dòng Bạch đàn urô có sinh trưởng và chỉ tiêu chất lượng ở mức trung bình, dòng PN14 có sinh trưởng kém nhất trong khảo nghiệm Trên cơ sở kết quả đánh giá của khảo nghiệm mở rộng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã công nhận mở rộng vùng trồng cho các giống Bạch đàn lai UP54, UP72, UP95 và UP99 (Võ Đại Hải và cộng sự, 2018)
1.3.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho trồng rừng Bạch đàn
1.3.2.1 Chế độ bón phân Đối với các dòng vô tính Bạch đàn urô, khi trồng rừng thâm canh, ở những nơi có độ dốc nhỏ hơn 20%, hố được cuốc với kích thước 30cm x 30cm x 30cm, những nơi có độ dốc cao hơn thì làm đất thủ công, cuốc hố 40cm x 40cm x 40cm Bón phân lót trước khi trồng cùng với khi lấp hố bằng phân vi sinh (300 g/hố) kết hợp với 200 g NPK (25:58:17)/hố Lần chăm sóc thứ nhất của năm thứ hai và thứ ba, tiến hành bón thúc thêm 200 g NPK/hố Bón phân cho Bạch đàn urô tại Bình Định và Phú Thọ được tiến hành ngay thời điểm trồng và sau 6 tháng sau trồng (Chaw Chaw Sein, 2011)
Nghiên cứu của Phạm Thế Dũng về ảnh hưởng của bón đạm và lân với hàm lượng khác nhau đến sinh trưởng của Bạch đàn urô trồng trên đất thoái hóa tại Tam Thanh, Phú Thọ Kết quả cho thấy cây trồng có sinh trưởng sai khác rõ rệt ngay sau 12 tháng Sau 3 năm, bón phân làm tăng năng suất từ 2-8 m 3 /ha/năm, cao nhất ở công thức bón 240 kg N + 60 kg P/ha, có năng suất cao gấp 1,5 lần so đối chứng; công thức bón 120 kg N/ha cũng có năng suất cao hơn 14,2% so với đối chứng Dinh dưỡng đất (các bon, đạm, lân và kali) ở các công thức bón phân cũng đều cao hơn so với đối chứng Bạch đàn không có khả năng cố định đạm như Keo Hơn nữa, việc đốt vật liệu hữu cơ sau khai thác (VLHCSKT) đã làm mất lượng đạm rất lớn có thể có trong đất sau khi phân hủy Như vậy, bón phân có hàm lượng đạm cao cho Bạch đàn là rất cần thiết (Phạm Thế Dũng, 2012)
Nghiên cứu của Trần Văn Đô và cộng sự về bạch đàn urô, được trồng tại vùng Trung tâm phía bắc và miền Nam Việt Nam, khoảng cách trồng 2,5m x 3m (1.330 cây/ha) Cây con được trồng trong mùa mưa, kích thước hố là
30cm x 30cm x 30cm Việc bón phân được tiến hành lúc trồng cây bằng cách trộn lẫn với đất mịn tới độ sâu 30 – 35cm Bốn công thức bón phân được thử nghiệm là a (100g NPK + 200 g compost trên cây), b (150g NPK + 150g compost trên cây), c (200g NPK + 100g compost trên cây) và d (không bón phân) Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với 3 lần lặp, 36 cây/ô, gồm 2 khối/2 lập địa Mỗi khối gồm 12 ô (4 công thức x 3 lần lặp) Kết quả cho thấy, sau 3 năm, sinh trưởng về đường kính và chiều cao rừng trồng bạch đàn urô được ở các công thức bón phân đều cao hơn hẳn so với công thức không bón phân ở cả trung tâm phía Bắc và miền Nam Trong đó, tại miền Bắc, công thức bón phân (100g NPK + 200g compost)/cây cho sinh trưởng về đường kính và chiều cao cao nhất (lần lượt là 7,9cm và 8,4m) Tại miền Nam, công thức bón phân (200g NPK + 100g compost)/cây cho đường kính trung bình đạt 9,7 cm, cao 8,1m (Trần Văn Đô, 2017)
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Sỹ và cộng sự về Bạch đàn lai UP, đã xác định được công thức bón phân có thể làm năng suất rừng trồng đối với Bạch đàn lai UP35, UP54, UP72, UP95, UP99 lên gấp 1,35 lần so với phương pháp bón phân trồng rừng thông thường nếu sau khi trồng rừng 1 tháng, tiến hành bón (400g 16% P2O5 + 40g 60% K2O + 45g 46% N) trên hố; sau trồng rừng 3 tháng, bón (400g 16% P2O5 + 40g 60% K2O + 90g 46% N) trên hố; sau trồng rừng 12 tháng, bón (400g 16% P2O5 + 40g 60% K2O + 130g 46% N) trên hố (Nguyễn Hữu Sỹ và cộng sự, 2018)
1.3.2.2 Quản lý vật liệu hữu cơ sau khai thác
Một số nhận định
Giống lai là giống chủ đạo trong trồng rừng bạch đàn ở nhiều nước trên thế giới Lai giống giữa các loài bạch đàn kết hợp với chọn lọc cây trội trong tổ hợp lai và nhân giống sinh dưỡng đã góp phần nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng
Tại Việt Nam, nghiên cứu lai giống giữa các loài bạch đàn, trong đó có Bạch đàn urô và Bạch đàn pellita đã được thực hiện một cách khá bài bản và kết quả đã tạo ra được nhiều giống mới (UP) có năng suất, chất lượng cao, một số giống đã được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật và giống quốc gia Với khả năng sinh trưởng nhanh, thân thẳng, tỉa cành tự nhiên tốt, có khả năng chống chịu sâu bệnh hại, tính chất gỗ tốt Đây là các giống lai đóng vai trò quan trọng trong trồng rừng ở nước ta
Tuy nhiên, một số giống Bạch đàn lai mới chọn tạo và đã được công nhận chỉ được trồng ở quy mô thí nghiệm, được công nhận cho một số vùng sinh thái hay lập địa cụ thể, việc khảo nghiệm mở rộng ở quy mô lớn hơn, điều kiện lập địa và sinh thái khác là rất cần thiết, nhằm đánh giá năng suất, chất lượng, tính chất gỗ của các giống và công nhận mở rộng vùng trồng cho các giống này
Bên cạnh đó, nhằm bổ sung thông tin cho việc hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng rừng thâm canh cho các giống Bạch đàn lai mới, việc tiến hành thí nghiệm áp dụng các biện pháp quản lý lập địa nhằm duy trì, nâng cao độ phì đất và năng suất rừng trồng; thí nghiệm áp dụng các công thức bón phân để tìm ra công thức bón phân tối ưu nhất cho trồng rừng thâm canh Bạch đàn lai cũng cần được thực hiện.
MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM, VẬT LIỆU, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Xác định được các đặc điểm biến dị của một số tính trạng làm cơ sở cho việc chọn lọc một số giống Bạch đàn lai để phục vụ trồng rừng
2.1.1 Xác định được mức độ biến dị về các chỉ tiêu sinh trưởng và chất lượng thân cây của các giống Bạch đàn lai trong khảo nghiệm mở rộng tại Hữu Lũng, Lạng Sơn và Yên Bình, Yên Bái
2.1.2 Chọn lọc được một số giống Bạch đàn lai UP cho trồng rừng tại vùng Trung tâm Bắc Bộ
2.1.3 Đánh giá được tác động của một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong trồng rừng thâm canh Bạch đàn lai
Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu nêu trên, đề tài sẽ tiến hành triển khai các nội dung nghiên cứu dưới đây:
2.2.1 Đánh giá sinh trưởng và chất lượng thân cây của các giống Bạch đàn lai trong 2 khảo nghiệm mở rộng tại Hữu Lũng, Lạng Sơn và Yên
2.2.2 Đánh giá tính chất gỗ của các giống Bạch đàn lai trong khảo nghiệm mở rộng tại Hữu Lũng, Lạng Sơn
2.2.3 Chọn lọc một số giống Bạch đàn lai có sinh trưởng nhanh, chất lượng thân cây và tính chất gỗ tốt phù hợp cho trồng rừng tại mỗi vùng sinh thái
2.2.4 Đánh giá tác động của một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong trồng rừng thâm canh Bạch đàn lai
Địa điểm nghiên cứu
- Khảo nghiệm mở rộng các giống Bạch đàn lai được xây dựng tại Yên Bình, Yên Bái và Hữu Lũng, Lạng Sơn
- Thí nghiệm áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh được xây dựng tại Yên Bình, Yên Bái và Hữu Lũng, Lạng Sơn
- Về địa bàn nghiên cứu: Giới hạn trong 2 địa điểm tại Yên Bình, Yên Bái và Hữu Lũng, Lạng Sơn
- Về nội dung nghiên cứu:
+ Đánh giá tác động của một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong trồng rừng thâm canh Bạch đàn lai: chỉ đánh giá tác động của hai biện pháp là để lại vật liệu hữu cơ sau khai thác và công thức bón phân
+ Nội dung đánh giá tính chất gỗ: chỉ thực hiện đánh giá chỉ tiêu khối lượng riêng thông qua phương pháp gián tiếp bằng pilodyn và tại một điểm là Hữu Lũng, Lạng Sơn.
Vật liệu nghiên cứu
Khảo nghiệm giống mở rộng bao gồm các giống Bạch đàn lai UP, PB, các dòng bạch đàn nhập từ Trung Quốc (CT3, DH32-29) và đối chứng là các giống bạch đàn (U6, PN14) (bảng 2.4)
Bảng 2.1: Danh sách các dòng Bạch đàn lai tham gia khảo nghiệm
TT Dòng Yên Bình, Yên Bái Hữu Lũng, Lạng Sơn
TT Dòng Yên Bình, Yên Bái Hữu Lũng, Lạng Sơn
Thí nghiệm áp dụng một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh: Các giống đưa vào khảo nghiệm là hỗn hợp của 3 giống Bạch đàn lai UP mới gồm UP164,
Cây giống của các dòng bạch đàn tham gia khảo nghiệm: cây con được nhân giống vô tính bằng phương pháp nuôi cấy mô tại Viện Nghiên cứu giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp thiết kế thí nghiệm
2.5.1.1 Khảo nghiệm giống a Thiết kế thí nghiệm:
Các khảo nghiệm mở rộng được xây dựng theo TCVN 8761-1:2017, thiết kế theo khối ngẫu nhiên đầy đủ hàng cột, sử dụng chương trình phần mềm Cycdesign 2.0 cụ thể như sau:
Khảo nghiệm mở rộng các giống Bạch đàn lai tại Yên Bình, Yên Bái:
- Bố trí thí nghiệm: 12 công thức, 4 lần lặp, 49 cây/ô (7 cây x 7 cây)
Khảo nghiệm mở rộng các giống Bạch đàn lai tại Hữu Lũng, Lạng Sơn:
- Bố trí thí nghiệm: 15 công thức, 4 lần lặp, 49 cây/ô (7 cây x 7 cây)
- Thời gian trồng năm 2017 b Các biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng:
- Mật độ trồng: 1.660 cây/ha (3m x 2m)
- Làm đất: Phát dọn thực bì toàn diện, cuốc hố (40 x 40 x 40cm)
- Phân bón: Bón lót 500g Phân hữu cơ vi sinh + 200g NPK/hố, chăm sóc và bón thúc năm thứ hai và năm thứ ba: 200gNPK/cây
2.5.1.2 Thí nghiệm lâm sinh a Thiết kế thí nghiệm:
Thí nghiệm áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh thiết kế khối ngẫu nhiên đầy đủ với 4 lần lặp, 4 công thức thí nghiệm, sử dụng chương trình phần mềm Cycdesign 2.0:
TN1 (S1): Dọn sạch vật liệu sau khai thác: Lấy đi hết vật liệu hữu cơ trên mặt đất bao gồm vật liệu sau khai thác, phát dọn thực bì toàn diện và đốt trên toàn bộ diện tích
TN2 (S2): Để lại vật liệu sau khai thác: Chỉ lấy đi phần gỗ thương phẩm, giữ lại toàn bộ vật liệu sau khai thác gồm vỏ, cành nhỏ, lá, cỏ dại Phát dọn thực bì toàn diện và xử lý phun thuốc diệt cỏ
TN3 (F1): Bón phân: Phân hữu cơ vi sinh 500g/cây + 200g lân, chăm sóc năm 1 sau trồng bón thúc 100g đạm 46% N/cây Bón thúc khi chăm sóc năm 2 và năm 3: 100g đạm/cây
TN4 (F2): Bón phân: Phân hữu cơ vi sinh 500g/cây + 200g đạm/cây, chăm sóc năm 1 sau trồng bón thúc 200g NPK/cây Bón thúc khi chăm sóc năm 2 và năm 3: 200g NPK/cây b Kỹ thuật trồng cho thí nghiệm 1 và 2:
+ Dọn thực bì theo nội dung thí nghiệm, phun thuốc diệt cỏ theo nội dung thí nghiệm, để lại vật liệu hữu cơ theo nội dung thí nghiệm, cuốc hố (40 x 40 x 40 cm), mật độ trồng 1.660 cây/ha
+ Bón phân cho thí nghiệm 1 và 2: phân hữu cơ vi sinh 500g/cây, phân NPK 200g/cây, chăm sóc 3 năm mỗi năm 02 lần, bón thúc vào lần chăm sóc thứ nhất của năm thứ hai và năm thứ 3, với lượng phân bón là 200g NPK/cây c Kỹ thuật trồng cho thí nghiệm 3 và 4:
+ Phát dọn thực bì toàn diện, xử lý bằng thuốc diệt cỏ, cuốc hố (40 x 40 x 40 cm), mật độ trồng 1.660 cây/ha
+ Bón phân cho thí nghiệm 3 và 4: phân bón theo nội dung của từng thí nghiệm
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
* Các chỉ tiêu sinh trưởng:
- Các chỉ tiêu sinh trưởng như đường kính ngang ngực (D1.3), chiều cao vút ngọn (Hvn) và chiều cao dưới cành được đo theo các phương pháp thông dụng trong điều tra rừng, thu thập số liệu của các chỉ tiêu của tất cả các cây trên toàn thí nghiệm
- Thể tích thân cây được tính bằng công thức: f x H x D
Trong đó: - V là thể tích thân cây (dm 3 )
- D1.3 là đường kính ngang ngực (cm)
- Hvn là chiều cao vút ngọn (m)
- f là hình số (giả định 0,5)
- Năng suất (NS) được tính theo công thức:
* Các chỉ tiêu chất lượng thân cây được xác định như sau:
- Đánh giá độ thẳng thân (Dtt) được cho điểm theo TCVN 8755:2017: + Điểm 1: Cây rất cong
+ Điểm 3: Cây hơi cong và thân không tròn đều
+ Điểm4: Cây hơi cong, thân tròn đều không xoắn vặn
+ Điểm 5: Cây thẳng, thân tròn đều không xoắn vặn
- Chỉ tiêu sức khoẻ (Sk) được cho điểm theo TCVN 8755:2017:
+ Cây rất phát triển (Cây một ngọn, ngọn phát triển tốt, cành nhánh rất nhỏ, tán lá rất cân đối): 5 điểm
+ Cây phát triển khá (cây một ngọn, ngọn phát triển khá, cành nhỏ, tán lá cân đối: 4 điểm
+ Cây phát triển trung bình (ngọn chính phát triển bình thường, tán lá vừa phải): 3 điểm
+ Cây kém phát triển (ngọn chính cong, 2 ngọn, cành to, tán lá thưa):
+ Cây rất kém phát triển (ngọn khô, hoặc mất ngọn chính, tán rất thưa): 1 điểm
* Phương pháp xác định gián tiếp khối lượng riêng gỗ bằng pilodyn:
Nhằm nghiên cứu xác định khối lượng riêng gỗ thông qua phương pháp đánh giá nhanh bằng chỉ số pilodyn Toàn bộ số liệu thu thập pilodyn về cá thể của các cây đưa vào lấy mẫu tính khối lượng riêng được ghép nối và tính toán
Chỉ số pilodyn được xác định ngay tại hiện trường điều tra thông qua thiết bị Pilodyn (hình 2.1) Chỉ số pilodyn là độ sâu mà mũi kim của thiết bị
Pilodyn đi vào trong gỗ dưới tác động của một lực cố định, gỗ càng nhẹ thì chỉ số pilodyn càng cao và ngược lại Đối với các loài cây có gỗ cứng như Bạch đàn, đường kính kim pilodyn sử dụng là Φ 2 mm Trước khi bấm pilodyn, tiến hành mở hai cửa sổ nhỏ theo hai hướng Đông Tây - Nam Bắc ở vị trí 1,3 m với kích thước 2,5 x 5 cm bằng cách đục bỏ vỏ cây Bấm pilodyn tại hai cửa sổ này và xác định độ sâu của kim tiến vào thân cây, rồi tính trị số trung bình của hai lần đo (Greaves và công sự, 1996; Wang và cộng sự, 1999)
Hình 2.1 Pilodyn và phương pháp thu thập số liệu pilodyn
* Phương pháp chọn lọc các dòng vô tính ưu trội:
Việc chọn lọc các dòng vô tính trong nghiên cứu này được tiến hành đánh giá thông qua các chỉ tiêu thể tích thân cây, năng suất, độ thẳng thân, sức khoẻ và khối lượng riêng gỗ
- Trước hết tiến hành chọn lọc các dòng vô tính có thể tích thân cây và năng suất cao nhất
- Tiếp theo tiến hành rà soát các dòng vô tính đã được chọn theo các chỉ tiêu bổ sung liên quan (độ thẳng thân, sức khoẻ và khối lượng riêng gỗ) Những dòng vô tính được chọn là những dòng đạt trên mức trung bình toàn khảo nghiệm theo tất cả các chỉ tiêu liên quan này
2.5.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Mô hình xử lý thống kê:
- là trung bình chung toàn thí nghiệm m - là ảnh hưởng của khối và ô thí nghiệm a - là ảnh hưởng của CT thí nghiệm (dòng hoặc gia đình)
So sánh sai dị giữa các trung bình mẫu được tiến hành theo tiêu chuẩn Fisher (tiêu chuẩn F):
Nếu Fpr (xác suất tính được) < 0,001 và < 0,005 thì sự sai khác giữa các trung bình mẫu là hết sức rõ rệt với mức tin cậy tương ứng 99,9% hoặc 95%
Nếu Fpr (xác suất tính được) > 0,005 thì sự sai khác giữa các trung bình mẫu là không rõ rệt
- Hệ số biến động (V%) được tính theo công thức:
(2.4) Sau khi xác định được mức độ sai khác giữa các công thức thí nghiệm, đề tài sử dụng tiêu chuẩn khoảng cách để xác định sai khác có ý nghĩa nhỏ nhất giữa các công thức thí nghiệm bằng công thức:
+ Lsd : Sai khác có ý nghĩa nhỏ nhất
+ Sed (Standard error difference): Sai tiêu chuẩn của các trung bình mẫu + t.05(k) giá trị t tra bảng ở mức xác suất có ý nghĩa 0,05 với bậc tự do k
- Xử lý số liệu theo các phương pháp của Williams và cộng sự (2002) sử dụng các phần mềm thống kê thông dụng trong cải thiện giống bao gồm DATAPLUS 3.0 và Genstat 12 (CSIRO).
Đặc điểm khu vực nghiên cứu
2.6.1 Vị trí địa lý, đặc điểm khí hậu
Biểu tổng hợp đặc điểm vị trí địa lý và đặc điểm khí hậu tại khu vực nghiên cứu được thể hiện bảng 3.2
Bảng 2.2 Vị trí địa lý, đặc điểm khí hậu khu vực nghiên cứu Địa điểm nghiên cứu Vĩ độ Kinh độ
+ Hữu Lũng là huyện nằm ở phía Tây - Nam của tỉnh Lạng Sơn, có toạ độ địa lý từ 21 0 23’ đến 21 0 45’ vĩ độ Bắc, từ 106 0 10’ đến 106 0 32’ kinh độ Đông với diện tích tự nhiên là 806,74 km2 Phía Bắc giáp huyện Văn Quan và huyện Bắc Sơn; phía Tây giáp tỉnh Thái Nguyên; phía Tây Nam và Nam giáp tỉnh Bắc Giang; phía Đông giáp huyện Chi Lăng và huyện Lục Ngạn, Lạng Giang tỉnh Bắc Giang
+ Hữu Lũng chịu sự ảnh hưởng của khí hậu vùng núi phía Bắc, khô lạnh và ít mưa về mùa Đông, nóng ẩm, mưa nhiều về mùa hè Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm là 22,7 0 C Tháng 7 có nhiệt độ không khí trung bình cao nhất là 28,5 0 C Tháng 01 có nhiệt độ không khí trung bình thấp nhất là 2,5 0 C
+ Lượng mưa trung bình năm là 1.488,2mm với 135 ngày mưa trong năm và phân bố từ 13 - 17 ngày/tháng, tăng dần từ tháng 5 đến tháng 8 Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 và chiếm trên 90% lượng mưa cả năm
Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau và chiếm trên 9% lượng mưa cả năm
+ Yên Bình là huyện vùng thấp của tỉnh Yên Bái, nằm trên tọa độ địa lý từ 21º44’30’’ đến 21º54’25’’ vĩ độ Bắc, từ 104º00’ kinh độ Đông, có tổng diện tích tự nhiên 77.261,79 ha bao kín ba mặt hồ Thác Bà, phía Bắc giáp huyện Lục Yên; phía Tây giáp Văn Yên, Trấn Yên, thành phố Yên Bái, phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ và phía Đông là tỉnh Tuyên Quang
+ Yên Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, do ảnh hưởng của địa hình mùa đông nhiều đợt rét buốt hình thành sương muối, mùa hè đôi khi xuất hiện gió lốc Nhiệt độ không khí trung bình là 23 0 C Tháng 7 có nhiệt độ không khí trung bình cao nhất là 28,5 0 C Tháng 01 có nhiệt độ không khí trung bình thấp nhất là 2,5 0 C
+ Lượng mưa trung bình năm 2.121mm/năm, số ngày mưa trung bình là 136 ngày (tập trung từ tháng 5 - 9 hàng năm), độ ẩm trung bình là 37%
Huyện Hữu Lũng thuộc vùng núi thấp của tỉnh Lạng Sơn, địa hình được phân chia rõ giữa vùng núi đá vôi ở phía Tây Bắc và vùng núi đất ở phía Đông Nam Phần lớn diện tích ở vùng núi đá vôi có độ cao 450 - 500m và ở vùng núi đất có độ cao trên dưới 100 m so với mặt nước biển Nhìn chung, địa hình phức tạp, bị chia cắt bởi các dãy núi đá vôi và các dãy núi đất Địa hình núi đá chiếm trên 25% tổng diện tích tự nhiên Xen kẽ giữa vùng núi đá là những thung lũng nhỏ địa hình tương đối bằng phẳng, là vùng đất sản xuất nông nghiệp của cư dân
Huyện Yên Bình nằm trong một quần thể bao gồm nhiều đồi và núi thấp thuộc thung lũng sông Chảy, ở đây đỉnh cao trên 1.000m rất ít, đa số chỉ cao khoảng 500 - 600m Sự giảm độ cao đột ngột này được giải thích bằng việc do địa khối nâng lên và là nhân cấu trúc của toàn miền Đông Bắc được cấu tạo chủ yếu bằng đá phiến, đá cát kết, đá phiến kết tinh và các đá biến chất khác Trải qua một thời kỳ bào mòn lâu dài đỉnh núi bị san bằng, sườn núi không còn độ dốc lớn
Hệ thống sông, suối, kênh, mương của huyện Hữu Lũng có khoảng 1.427,96 ha gồm có 2 con sông lớn chảy qua là sông Thương và sông Trung Sông Thương dài 157 km bắt nguồn từ dãy núi Nà Pá Phước cao 600m gần ga Bản Thí của huyện Chi Lăng chảy qua huyện theo hướng Đông Bắc-Tây Nam xuôi về tỉnh Bắc Giang Sông Thương gặp sông Trung chảy từ Thái Nguyên về ở Na Hoa xã Hồ Sơn Trong địa bàn của huyện, thung lũng Sông Thương được mở rộng trên 30 km Sông Thương có độ rộng bình quân chỉ 6 m, độ cao trung bình 176 m, độ dốc lưu vực 12,5%, lưu vực dòng chảy trung bình năm là 6,46 m 3 /s, lưu lượng vào mùa lũ chiếm khoảng 67,6 - 74,9%, còn mùa cạn là 25,1 - 32,4%
Chế độ thủy văn của huyện Yên Bình đặc biệt phong phú nhờ có sông Chảy, hồ Thác Bà cùng hệ thống sông suối dày đặc Sông Chảy là một phụ lưu lớn của sông Lô - còn gọi là Trôi Thủy hoặc Lôi Giang, hàng năm sông Chảy vận chuyển gần 4 tỷ mét khối nước từ Minh Chuẩn (Lục Yên) qua hồ Thác Bà tới Hán Đà, Đại Minh với nhiều ghềnh thác tạo nguồn thủy năng lớn Huyện Yên Bình bao trọn hồ Thác Bà có diện tích 23.400ha; trong đó mặt nước chiếm tới 19.050ha; 1.334 đồi và đảo lớn, nhỏ chiếm đến 4.350ha; chiều dài của hồ là 80km, chiều rộng từ 5 - 15km, sâu từ 15 - 34m, chứa được 3 - 3,9 tỷ mét khối nước Ngoài sông Chảy, còn có hệ thống suối ngòi lớn nhỏ đổ vào hồ như ngòi Hành, ngòi Tráng, ngòi Bích Đà, ngòi Lòi, ngòi Dầu, ngòi Cát, ngòi Úc, ngòi Biệc chứa lượng phù sa và thức ăn cho thủy sinh vật phát triển
Theo thống kê đất đai năm 2010, tổng diện tích tự nhiên của huyện Hữu Lũng là 80.674,64 ha chiếm 9,7% diện tích toàn tỉnh bao gồm: Đất nông nghiệp của huyện là 56.316,67 ha chiếm 69,81% diện tích tư nhiên, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 25,57%, đất lâm nghiệp chiếm 43,78%; Đất phi nông nghiệp 6.263,25 ha chiếm 7,76% diện tích tự nhiên; Đất chưa sử dụng còn nhiều, khoảng 22,43% tổng diện tích tự nhiên của huyện Đất đai gồm 9 loại đất, trong đó tập trung chủ yếu vào 4 loại đất chính đó là: Đất đỏ vàng trên đá sét (Fs) có khoảng 18.691 ha; đất vàng nhạt trên đá cát (Fq) có khoảng 9.021 ha; đất vàng đỏ trên đá mácma axít (Fa) có khoảng 7.080 ha và đất đỏ nâu trên đá vôi (Fv) có khoảng 4.350 ha
Theo số liệu thống kê đất đai năm 2011, huyện Yên Bình có tổng diện tích đất tự nhiên 77.261,79 ha, bao gồm:Đất nông nghiệp 54.360,51 ha, chiếm 70,36% diện tích tự nhiên, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 11.556,49 ha chiếm 21,25%, đất lâm nghiệp 42.310,37 ha chiếm 77,83%, đất nuôi trồng thuỷ sản 487,98 ha, chiếm 0,89%, đất nông nghiệp khác 5,67 ha; Đất phi nông nghiệp 22.243,62 ha, chiếm 28,79% diện tích tự nhiên; Đất chưa sử dụng 657,66 ha, chiếm 0,85% diện tích tự nhiên Đất đai chia làm 4 nhóm chính: Nhóm đất đỏ vàng (Feralit) chiếm 61% với diện tích tự nhiên của huyện; Nhóm đất dốc tụ phân bố rải rác ở các thung lũng, sông suối chiếm 7% diện tích đất tự nhiên của huyện; Đất phù sa sông Chảy chiếm 12% diện tích đất tự nhiên của huyện; Đất phù sa sông suối chiếm 5% diện tích đất tự nhiên của huyện.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Kết quả đánh giá sinh trưởng và chất lượng thân cây của các dòng vô tính Bạch đàn lai trong các khảo nghiệm mở rộng
3.1.1 Khảo nghiệm giống mở rộng tại Yên Bình, Yên Bái
Kết quả đánh giá khảo nghiệm mở rộng tại Yên Bình, Yên Bái được thể hiện ở Bảng 3.1
Bảng 3.1 Sinh trưởng của các dòng Bạch đàn lai ở giai đoạn 24 tháng tuổi tại Yên Bình, Yên Bái (trồng 06/2018 - đánh giá 06/2020)
Kết quả ở bảng trên cho thấy, khảo nghiệm có tỷ lệ sống rất cao (trung bình đạt 92,86 %), các chỉ tiêu sinh trưởng trung bình về đường kính ngang ngực đạt 5,97 cm, chiều cao vút ngọn đạt 6,83 m và thể tích thân cây đạt 10,99 dm 3 /cây; giữa các dòng vô tính trong thí nghiệm có sự sai khác rõ rệt về các chỉ tiêu sinh trưởng đường kính, chiều cao và thể tích thân cây (Fpr < 0,001)
Kết quả phân tích sai khác có ý nghĩa thống kê nhỏ nhất (Lsd) cho thấy, nhóm các dòng Bạch đàn lai UP164, UP95, UP99, UP171, UP223 và DH32-
29 là những dòng thể hiện rõ ưu thế lai và có sinh trưởng tốt nhất trong khảo nghiệm (D1,3 = 6,2 - 6,7 cm, Hvn = 6,8 - 7,2 m, thể tích V = 12,2 - 14,5 dm 3 /cây) Dòng Bạch đàn U6 làm đối chứng có sinh trưởng thấp hơn so với các dòng Bạch đàn lai khác trong khảo nghiệm với các chỉ tiêu sinh trưởng về đường kính, chiều cao và thể tích thân cây lần lượt là: D1,3 = 4,27 cm, Hvn 5,03 m, thể tích V = 4,39 dm 3
Cũng như các chỉ tiêu sinh trưởng, chỉ tiêu chất lượng thân cây như độ thẳng thân, phát triển ngọn, độ nhỏ cành và sức khỏe là các chỉ tiêu có nhiều ý nghĩa trong chọn giống cây rừng Chất lượng hình thái thân cây có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong chế biến gỗ và ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ lợi dụng của gỗ, tức là cây càng thẳng và tròn thì tỷ lệ lợi dụng gỗ trong công nghiệp chế biến gỗ càng cao Trong khuôn khổ đề tài, đã tiến hành thu thập đánh giá bằng phương pháp cho điểm đối với chỉ tiêu độ thẳng thân và sức khỏe của tất cả các cây trong toàn bộ khảo nghiệm Kết quả phân tích về chất lượng thân cây đối với dòng Bạch đàn lai tại Yên Bình, Yên Bái được thể hiện trong bảng 3.2 dưới đây
Bảng 3.2 Các chỉ tiêu chất lượng của các dòng vô tính Bạch đàn lai ở giai đoạn 24 tháng tuổi tại Yên Bình, Yên Bái
TT Dòng Dtt (điểm) Sk (điểm) Icl (điểm)
Kết quả đánh giá các chỉ tiêu chất lượng của các dòng Bạch đàn trong khảo nghiệm mở rộng dòng vô tính Bạch đàn lai tại Yên Bình, Yên Bái cho thấy, có sự sai khác rõ rệt giữa các dòng Bạch đàn lai về các chỉ tiêu chất lượng thân cây (Fpr < 0,001) Chỉ tiêu chất lượng tổng hợp (Icl) được dùng làm tiêu chí đánh giá chất lượng cho các dòng tham gia khảo nghiệm Với sai khác có ý nghĩa thống kê nhỏ nhất (Lsd = 0,244), nhóm các dòng có có chỉ tiêu Icl cao nhất trong khảo nghiệm gồm UP164, UP171, CT3, UP95, UP99, UP97 và UP223 Có thể thấy, đa số các dòng có chất lượng thân cây tốt thuộc nhóm có sinh trưởng nhanh, gồm các dòng UP164, UP171, UP95, UP99 và UP223 Bên cạnh đó, một số dòng có sinh trưởng ở mức trung bình như CT3,
UP97 cũng có chỉ số chất lượng thân cây cao, giống Bạch đàn DH32-29 mặc dù có sinh trưởng trong nhóm tốt nhất của khảo nghiệm nhưng chỉ tiêu chất lượng tổng hợp chỉ ở mức trung bình, dòng Bạch đàn U6 vừa có sinh trưởng kém lại vừa có chất lượng thân cây thấp nhất trong khảo nghiệm
Các kết quả đánh giá sinh trưởng và chất lượng thân cây trong nghiên cứu này tương đồng với kết quả nghiên cứu của Võ Đại Hải và cộng sự, 2018, nghiên cứu đánh giá khảo nghiệm mở rộng các giống Bạch đàn lai và Bạch đàn urô tại Yên Bình, Yên Bái đã chỉ ra rằng, các dòng Bạch đàn lai UP có sinh trưởng và chỉ tiêu chất lượng tổng hợp cao hơn so với các giống đối chứng (U6, PN14)
Hình 3.1 Khảo nghiệm mở rộng các giống Bạch đàn lai giai đoạn 24 tháng tuổi tại Yên Bình, Yên Bái
Như vậy, từ kết quả đánh giá về sinh trưởng và chất lượng thân cây tại khảo nghiệm mở rộng các giống Bạch đàn lai tại Yên Bình, Yên Bái ở giai đoạn 24 tháng tuổi cho thấy, nhóm các dòng Bạch đàn lai UP gồm UP164, UP95, UP99, UP171, UP223 có sinh trưởng nhanh và có chỉ tiêu chất lượng thân cây cao nhất trong khảo nghiệm, cao hơn so với trung bình khảo nghiệm và vượt trội so với giống Bạch đàn U6 làm đối chứng
3.1.2 Khảo nghiệm giống mở rộng tại Hữu Lũng, Lạng Sơn
Kết quả đánh giá khảo nghiệm tại Hữu Lũng, Lạng Sơn được trình bày tại Bảng 3.3
Bảng 3.3: Sinh trưởng của các dòng vô tính Bạch đàn lai ở giai đoạn 36 tháng tuổi tại Hữu Lũng, Lạng Sơn (trồng 09/2017 - đo 09/2020)
TT Dòng D1.3 (cm) Hvn (m) V (dm3) TLS
Tại thời điểm thu số liệu tháng 9 năm 2020, khảo nghiệm được 36 tháng tuổi, các dòng vô tính Bạch đàn lai trong khảo nghiệm có tỷ lệ sống trung bình là 72 % Các chỉ tiêu sinh trưởng về đường kính ngang ngực trung bình toàn khảo nghiệm đạt 9,6 cm; chiều cao trung bình đạt 11,4 m và thể tích thân cây trung bình đạt 45,4 dm 3 ; tương ứng với lượng tăng trưởng đường kính, chiều cao và thể tích hàng năm lần lượt là 3,2 cm/năm; 3,8 m/năm và 15,13 dm 3 /năm
Giữa các dòng có sự sai khác rõ rệt về tất cả các tính trạng sinh trưởng và thể tích thân cây (Fpr < 0,001) Kết quả phân tích sai khác có ý nghĩa thống kê nhỏ nhất (Lsd) cho thấy, nhóm các dòng Bạch đàn lai UP223, UP35,
UP54, UP164 và UP171 có sinh trưởng tốt nhất với đường kính thân cây dao động từ 10,2 - 11 cm, chiều cao từ 12,1 - 12,6 m và thể tích từ 53 - 65 dm 3 /cây Tương đương, độ vượt về đường kính ngang ngực dao động từ 6,3 - 14,6 % so với trung bình khảo nghiệm và từ 13,3 - 20,9 % so với giống đối chứng là U6 và dao động từ 36 - 46,7 % so với giống đối chứng là PN14 Với chỉ tiêu chiều cao, nhóm sinh trưởng tốt nhất trong khảo nghiệm có chiều cao trung bình đạt 12,4m; độ vượt dao động từ 6,1 - 10,5 % so với trung bình khảo nghiệm, từ 11 - 15,6 % so với giống đối chứng U6 và độ vượt dao động từ 33 – 38,5 % so với giống đối chứng PN14 Thể tích thân cây trung bình là
58,5 dm 3 , vượt 28,5 % so với trung bình chung của khảo nghiệm Vượt hơn nhóm đối chứng có sinh trưởng kém dao động từ 37 – 68 % so với giống U6 và từ 108,7 – 155,9 % so với giống PN14
Nhóm Bạch đàn lai PB có các chỉ tiêu sinh trưởng ở mức thấp hơn so với trung bình khảo nghiệm, cụ thể là đường kính đạt từ 8,88 - 9,13 cm; chiều cao đạt từ 10,39 - 10,91 m; thể tích thân cây đạt từ 35 - 39,1 dm 3 /cây Bên cạnh đó giống Bạch đàn lai DH32-29 có sinh trưởng tốt với các chỉ tiêu đường kính, chiều cao và thể tích thân cây lần lượt đạt 9,83 cm; 11,73 m; 47,10 dm 3 /cây
Kết quả nghiên cứu của Hà Huy Thịnh và cộng sự, 2015 đã chỉ ra rằng, các giống Bạch đàn lai UP35, UP54, UP164, UP223, UP171 đã được khảo nghiệm và công nhận tại Ba Vì, Hà Nội; Đông Hà, Quảng Trị và Yên Thế, Bắc Giang Trong khảo nghiệm này, các giống trên vẫn thể hiện được sự ưu trội về sinh trưởng tại điều kiện lập địa ở Hữu Lũng, Lạng Sơn
Kết quả đánh giá các chỉ tiêu chất lượng của các dòng trong khảo nghiệm mở rộng tại Hữu Lũng, Lạng Sơn được thể hiện ở bảng 3.4
Bảng 3.4: Chất lượng thân cây của các dòng vô tính Bạch đàn lai ở giai đoạn 36 tháng tuổi tại Hữu Lũng, Lạng Sơn
TT Dòng Dtt (điểm) Sk (điểm) Icl (điểm)
Có thể thấy, có sự sai khác rõ rệt về các chỉ tiêu chất lượng thân cây giữa các dòng Bạch đàn lai trong khảo nghiệm (Fpr < 0,001) Nhóm các dòng
Bạch đàn lai có chỉ tiêu chất lượng tổng hợp ở mức cao nhất trong toàn khảo nghiệm bao gồm UP54, UP35, UP164, UP99, UP97, DH32-29, UP72, UP95, UP223, PB48 và UP171 Như vậy có thể thấy, các dòng Bạch đàn lai có chỉ tiêu chất lượng thân cây cao thuộc cả nhóm có sinh trưởng nhanh và trung bình trong khảo nghiệm Nhóm có sinh trưởng kém trong khảo nghiệm như U6, PN14 có chỉ số chất lượng thân cây đạt mức thấp nhất
Hình 3.2 Khảo nghiệm mở rộng các giống Bạch đàn lai giai đoạn 36 tháng tuổi tại Hữu Lũng, Lạng Sơn
Đánh giá tính chất gỗ của các dòng Bạch đàn lai trong khảo nghiệm mở rộng tại Hữu Lũng, Lạng Sơn
mở rộng tại Hữu Lũng, Lạng Sơn
Bạch đàn lai được coi là một trong những loài cây trồng rừng chính ở Việt Nam để sản xuất bột giấy, ván dăm và gỗ trụ mỏ, với luân kỳ kinh doanh từ 6 đến 8 năm Các nghiên cứu về cải thiện giống cho loài cây này đã được tiến hành và đạt được những kết quả rất triển vọng, giai đoạn 2011 - 2015 trong khuân khổ các đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống có năng suất và chất lượng cao cho một số loài cây trồng rừng chủ lực” và“Nghiên cứu chọn tạo giống Bạch đàn lai mới giữa Bạch đàn pellita và các loài bạch đàn khác” từ kết quả khảo nghiệm các tổ hợp lai, Viện nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp đã tiến hành chọn lọc các cá thể lai tốt nhất trong các khảo nghiệm giống lai và khảo nghiệm dòng vô tính nhằm chọn lọc ra những dòng vô tính có sinh trưởng tốt nhất cho trồng rừng Kết quả đã đề nghị công nhận giống mới cho các dòng vô tính UP35, UP54, UP72, UP95, UP97, UP99, UP164, UP223, UP171, UP138, UP180, UP153, UP190, UP153, UP236, PB7, PB48, PB55, UP68BB, UP69BB, UP75BB (Hà Huy Thịnh và cộng sự, 2015; Nguyễn Đức Kiên và cộng sự, 2015).Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới đánh giá về khả năng sinh trưởng mà chưa có nhiều đánh giá về các tính chất gỗ như khối lượng riêng của gỗ
Khối lượng riêng gỗ là một chỉ tiêu quan trọng trong nghiên cứu đánh giá tính chất gỗ Có thể thấy rằng, để đáp ứng nhu cầu cung cấp gỗ cho các ngành công nghiệp chếbiến bột giấy, ván ép, ván ghép thanh và gỗ xẻ thì việc chọn lọc các dòng, các gia đình có khối lượng riêng gỗ cao là đặc biệt có ý nghĩa Khối lượng riêng gỗ cao hay thấp góp phần đáng kể quyết định giá thành của sản phẩm, điều này đồng nghĩa với việc thu nhập của người tham gia trồng rừng sẽ được cải thiện Khối lượng riêng của gỗ có liên quan chặt chẽ với độ cứng và tính chịu lực của cây (Zobel và Jacksson ,1995)
Xác định khối lượng riêng của gỗ cho những khảo nghiệm giống với nhiều gia đình, dòng và cá thể sẽ rất tốn kém về thời gian và kinh phí Do đó, sử dụng Pilodyn để đánh giá nhanh khối lượng riêng của gỗ là một trong những phương pháp rất hiệu quả và có ý nghĩa thực tiễn trong nghiên cứu chọn tạo giống cây rừng Tuy nhiên, một điều cần được lưu ý khi ta tiến hành đánh giá theo chỉ tiêu này là, chỉ số pilodyn thấp thì khối lượng riêng gỗ cao và ngược lại
Nghiên cứu của Mai Trung Kiên, 2014 đã chỉ ra rằng, khối lượng riêng gỗ có tương quan âm và chặt so với chỉ số pilodyn (r = -0,80 đến -0,92), có tương quan yếu với các chỉ tiêu sinh trưởng; vì vậy, có thể dùng pilodyn để xác định nhanh tỷ trọng gỗ ở mức độ gia đình và dòng vô tính Một số dòng vừa sinh trưởng tốt đồng thời có tỷ trọng gỗ cao; ngoài ra, một số dòng sinh trưởng kém đồng thời có tỷ trọng gỗ thấp; một số dòng sinh trưởng tốt nhưng tỷ trọng cao và ngược lại Đối với một số dòng Bạch đàn urô có sự khác nhau về trị số pilodyn và tỷ trọng gỗ, trị số pilodyn biến động trong khoảng 9,7 - 17,6 mm tùy địa điểm
Trong khuôn khổ của đề tài chỉ tiến hành đo đếm số liệu và đánh giá chỉ số pilodyn cho khảo nghiệm mở rộng các giống Bạch đàn lai tại Hữu Lũng, Lạng Sơn ở giai đoạn 36 tháng tuổi Trong khảo nghiệm này, đề tài đã tiến hành đo chỉ số pilodyn của toàn bộ các cây thuộc 15 công thức thí nghiệm
Hình 3.3 Thu thập số liệu pilodyl tại Hữu Lũng, Lạng Sơn
Kết quả đánh giá chỉ tiêu pilodyn của các dòng vô tính Bạch đàn lai trong khảo nghiệm tại Hữu Lũng, Lạng Sơn ở giai đoạn 36 tháng tuổi được thể hiện ở bảng 3.5 cho thấy có sự sai khác rõ rệt giữa các dòng Bạch đàn lai về chỉ tiêu này (Fpr < 0,001)
Bảng 3.5 Chỉ số pilodyn của các dòng vô tính Bạch đàn lai ở giai đoạn 36 tháng tuổi tại Hữu Lũng, Lạng Sơn
TT Dòng Pilodyn (mm) V (dm3)
TT Dòng Pilodyn (mm) V (dm3)
Chỉ số pilodyn của các dòng Bạch đàn lai trong khảo nghiệm dao động từ 11,83 – 16,68 mm Từ kết quả phân tích thống kê cho thấy sai khác có ý nghĩa thống kê nhỏ nhất (Lsd = 1,865), nhóm các dòng Bạch đàn lai có chỉ số pilodyn thấp trong khảo nghiệm bao gồm các dòng UP164, UP171, UP54 , UP223 và UP35 (trung bình từ 11,83 - 13,35 mm), các giống đối chứng U6 và PN14 có chỉ số pilodyn cao nhất trong khảo nghiệm với chỉ số pilodyn từ 16,52 - 16,58
Giống Bạch đàn DH32-29 có sinh trưởng ở mức khá tốt, tuy nhiên chỉ số pilodyn lại tương đối cao đạt giá trị là 14,55 Như vậy, tương ứng với đó là khối lượng riêng gỗ ở mức thấp, bước đầu cho thấy giống này có thể phù hợp với lựa chọn làm gỗ nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp chế biến như ván dăm, ván bóc
Bảng 3.6 Chỉ số pilodyn và năng suất các dòng vô tính Bạch đàn lai ở giai đoạn 36 tháng tuổi tại Hữu Lũng, Lạng Sơn
Như kết quả đánh giá ở trên, trong khảo nghiệm tại Hữu Lũng, Lạng Sơn (giai đoạn 36 tháng tuổi) có năng suất từ 8 – 25,3 m 3 /ha/năm, năng suất trung bình toàn khảo nghiệm là 18,3 m 3 /ha/năm Đánh giá tổng hợp chỉ tiêu pilodyn và năng suất cho thấy rằng các dòng nằm trong nhóm có năng suất cao như UP164, UP171, UP54, UP223, UP35 (năng suất đạt từ 22,3 – 25,3 m 3 /ha/năm) thì đồng thời cũng có chỉ số pilodyl thấp nhất toàn khảo nghiệm (đạt từ 11,8 – 13,4) Kết quả bước đầu cho thấy tại khảo nghiệm dòng vô tính ở Hữu Lũng, Lạng Sơn giai đoạn 36 tháng tuổi cho thấy các dòng có năng suất cao thì cũng có tỷ trọng gỗ tốt Đây là cơ sở để chọn lọc các giống có sinh trưởng tốt đồng thời có tỷ trọng gỗ cao
Như vậy từ các kết quả đánh giá nêu trên có thể thấy rằng, nhóm các dòng Bạch đàn lai UP164, UP171, UP54 , UP223 và UP35 trong khảo nghiệm mở rộng tại Hữu Lũng, Lạng Sơn không những có sinh trưởng nhanh, chất lượng thân cây tốt, năng suất cao mà còn có khối lượng riêng gỗ cao.
Kết quả chọn lọc một số dòng Bạch đàn lai
Các giống Bạch đàn lai tham gia khảo nghiệm đã được công nhận tại một số vùng sinh thái, thông qua khảo nghiệm mở rộng đề tài tiếp tục đánh giá các giống này ở những điều kiện lập địa và sinh thái khác với nơi công nhận giống nhằm chọn lọc và đề nghị công nhận mở rộng cho các dòng vô tính
3.3.1 Kết quả chọn lọc tại Yên Bình, Yên Bái
Kết quả đánh giá về sinh trưởng và chất lượng thân cây tại khảo nghiệm mở rộng các giống Bạch đàn lai tại Yên Bình, Yên Bái ở giai đoạn 24 tháng tuổi đã cho thấy, nhóm các dòng Bạch đàn lai UP gồm UP164, UP95, UP99, UP171, UP223 có sinh trưởng nhanh và có chỉ tiêu chất lượng thân cây cao nhất trong khảo nghiệm, cao hơn so với trung bình khảo nghiệm và vượt trội so với giống Bạch đàn U6 làm đối chứng
Bên cạnh đó, việc đánh giá chỉ tiêu năng suất của các dòng vô tính làm cơ sở cho việc chọn lọc cũng rất cần thiết, kết quả đánh giá năng suất của các dòng vô tính tại Yên Bình, Yên Bái được trình bày ở bảng 4.7
Bảng 3.7 Năng suất của các dòng Bạch đàn lai ở giai đoạn 24 tháng tuổi tại Yên Bình, Yên Bái
(m3/ha/năm) Độ vượt so với trung bình khảo nghiệm (%) Độ vượt so với giống đối chứng U6 (%)
Qua bảng số liệu trên cho thấy, năng suất trung bình của khảo nghiệm đạt 8,48 m 3 /ha/năm và giữa các dòng Bạch đàn lai có sự biến động lớn về năng suất Trong đó, nhóm các dòng Bạch đàn lai đạt năng suất cao nhất là UP164, UP95, DH32-29, UP99, UP171 và UP223, với năng suất trung bình đạt 10 m 3 /ha/năm, vượt từ 10,9 - 30,6 % so với trung bình khảo nghiệm và vượt từ 179,4 - 228,9% so với giống đối chứng Trong đó, giống Bạch đàn DH32-29 có sinh trưởng và năng suất cao nhưng chỉ tiêu chất lượng tổng hợp chỉ ở mức trung bình Giống đối chứng Bạch đàn lai U6 có năng suất rất thấp, chỉ đạt 3,4 m 3 /ha/năm
Hình 3.4 Năng suất của các giống Bạch đàn lai ở giai đoạn 24 tháng tuổi tại Yên Bình, Yên Bái
Như vậy, trong khảo nghiệm giống mở rộng tại Yên Bình, Yên Bái, đề tài đã chọn lọc được các dòng Bạch đàn lai UP164, UP95, UP99, UP171 và UP223 phù hợp cho trồng rừng
3.3.2 Kết quả chọn lọc tại Hữu Lũng, Lạng Sơn
Trong khảo nghiệm mở rộng các giống Bạch đàn lai tại Hữu Lũng, Lạng Sơn ở giai đoạn 36 tháng tuổi Các dòng Bạch đàn lai UP223, UP35, UP54, UP164 và UP171 vừa có sinh trưởng nhanh, chất lượng thân cây tốt đồng thời có khối lượng riêng gỗ cao, vượt hơn so với trung bình khảo nghiệm và các giống đối chứng U6 và PN14 Để chọn lọc các dòng vô tính trong khảo nghiệm này cần phải kết hợp với việc đánh giá năng suất
Kết quả đánh giá năng suất của các dòng vô tính trong khảo nghiệm giống mở rộng tại Hữu Lũng, Lạng Sơn ở bảng 3.8
Bảng 3.8 Năng suất của các giống Bạch đàn lai ở giai đoạn 36 tháng tuổi tại Hữu Lũng, Lạng Sơn
(m 3 /ha/năm) Độ vượt so với trung bình khảo nghiệm Độ vượt so với giống đối chứng U6 (%) Độ vượt so với giống đối chứng PN14 (%)
Kết quả tại bảng 3.8 cho thấy giữa các dòng Bạch đàn lai có sự biến động lớn về năng suất Năng suất trung bình của khảo nghiệm đạt 18,29 m 3 /ha/năm, trong đó nhóm các dòng Bạch đàn lai gồm UP223, UP35, UP164, UP54, UP171 và DH32-29 có sinh trưởng nhanh và cũng có năng suất cao nhất, trung bình đạt 24,01 m 3 /ha/năm, vượt từ 21,88 - 38,47% so với trung bình khảo nghiệm, vượt từ 58,18 - 79,7% so với giống đối chứng U6 và từ 172,68 - 379,3% so với giống đối chứng PN14 Giống đối chứng Bạch đàn lai
U6 và PN14 có năng suất rất thấp, trung bình chỉ đạt lần lượt là 14,09 m 3 /ha/năm và 8,03 m 3 /ha/năm
Giống Bạch đàn lai DH32-29 có sinh trưởng và năng suất trong nhóm tốt của khảo nghiệm, đạt năng suất trung bình 20,48 m 3 /ha/năm, tuy nhiên dòng này có khối lượng riêng gỗ ở mức trung bình Nhóm các dòng Bạch đàn lai PB trong khảo khảo nghiệm có năng suất thuộc nhóm trung bình và thấp, năng suất trung bình đạt từ 11,95-16,66 m 3 /ha/năm thấp hơn so với trung bình toàn khảo nghiệm
Hình 3.5 Năng suất của các giống Bạch đàn lai ở giai đoạn 36 tháng tuổi tại Hữu Lũng, Lạng Sơn
Như vậy, trong khảo nghiệm giống mở rộng tại Hữu Lũng, Lạng Sơn đề tài đã chọn lọc được các dòng Bạch đàn lai UP164, UP35, UP54, UP171 và UP223 phù hợp cho trồng rừng.
Kết quả đánh giá tác động của một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong trồng rừng thâm canh Bạch đàn lai
3.4.1 Thí nghiệm tại Yên Bình, Yên Bái
Kết quả đánh giá ảnh hưởng của biện pháp để lại vật liệu hữu cơ sau khai thác và công thức bón phân đến sinh trưởng các giống Bạch đàn lai UP trong thí nghiệm tại Yên Bình, Yên Bái được thể hiện tại Bảng 3.9
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của QLVLHCSKT và các công thức bón phân đến sinh trưởng của các giống Bạch đàn lai UP tại Yên Bình, Yên Bái
Ghi chú: S1 = dọn sạch vật liệu sau khai thác (đốt); S2 = để lại vật liệu sau khai thác (không đốt); F1 = bón lót 500g phân hữu cơ vi sinh + 200 g lân/hố, bón thúc năm thứ nhất 100g đạm 46% N/cây, bón thúc năm thứ 2 và 3 100g đạm 46% N/cây; F2 = bón lót 500g phân hữu cơ vi sinh + 200g phân NPK/hố, bón thúc năm thứ nhất 200g đạm 46% N/cây, bón thúc năm thứ 2 và 3 là 200g NPK/cây
Kết quả sinh trưởng của các dòng Bạch đàn lai UP trong thí nghiệm tại Yên Bình, Yên Bái ở giai đoạn 2 năm tuổi chưa cho thấy có sự sai khác rõ rệt ở tất cả các chỉ tiêu đo đếm (Fpr > 0,001) giữa các công thức thí nghiệm Các chỉ tiêu sinh trưởng về đường kính, chiều cao và tỷ lệ sống trung bình cho toàn thí nghiệm lần lượt là 6,09 cm; 7,17 m và 93,26 %
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của QLVLHCSKT và các công thức bón phân đến chỉ tiêu chất lượng của các giống Bạch đàn lai UP tại Yên Bình, Yên Bái
Dtt (điểm) Sk (điểm) Icl TLS
Tương tự như với các chỉ tiêu sinh trưởng, kết quả tại bảng 4.9 cho thấy các chỉ tiêu chất lượng cũng không có sự sai khác rõ rệt Chỉ tiêu chất lượng tổng hợp có giá trị rất cao trong toàn thí nghiệm (Icl trung bình = 4,82) với hệ số biến động nhỏ từ 0,4 - 2,2 %
Như vậy, đối với thí nghiệm tại Yên Bình, Yên Bái ở giai đoạn 24 tháng tuổi, việc áp dụng một số biện pháp lâm sinh chưa thể hiện sự sai khác về sinh trưởng và chỉ tiêu chất lượng thân cây giữa các công thức đưa vào thí nghiệm
3.4.2 Thí nghiệm tại Hữu Lũng, Lạng Sơn:
Kết quả đánh giá ảnh hưởng để lại vật liệu hữu cơ sau khai thác và công thức bón phân đến sinh trưởng các giống Bạch đàn lai UP ở giai đoạn
36 tháng tuổi trong thí nghiệm tại Hữu Lũng, Lạng Sơn được thể hiện tại Bảng 3.11
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của QLVLHCSKT và các công thức bón phân đến sinh trưởng của các giống Bạch đàn lai UP tại Hữu Lũng, Lạng Sơn
TT Công thức thí nghiệm
Ghi chú: S1 = dọn sạch vật liệu sau khai thác (đốt); S2 = để lại vật liệu sau khai thác (không đốt); F1 = bón lót 500g phân hữu cơ vi sinh + 200 g lân/hố, bón thúc năm thứ nhất 100g đạm 46% N/cây, bón thúc năm thứ 2 và 3 100g đạm 46% N/cây; F2 = bón lót 500g phân hữu cơ vi sinh + 200g phân NPK/hố, bón thúc năm thứ nhất 200g đạm 46% N/cây, bón thúc năm thứ 2 và 3 là 200g NPK/cây
Qua bảng số liệu có thể thấy có sự sai khác rõ rệt đối với chỉ tiêu sinh trưởng giữa các công thức thí nghiệm khác nhau (Fpr > 0,001) Thí nghiệm có tỷ lệ sống trung bình tương đối cao (86,12 %) Các chỉ tiêu sinh trưởng về đường kính ngang ngực, chiều cao vút ngọn và thể tích thân cây trung bình toàn thí nghiệm đạt lần lượt là 9,18 cm; 9,84 m; 34,6 dm 3
Phân tích thống kế ảnh hưởng của 2 nhân tố cho thấy, công thức thí nghiệm áp dụng biện pháp kỹ thuật lâm sinh để lại vật liệu hữu cơ sau khai thác và bón lót 500g phân hữu cơ vi sinh + 200g phân NPK/hố, bón thúc năm thứ nhất 200g đạm 46% N/cây, bón thúc năm thứ 2 và 3 là 200g NPK/cây (S2F2), cho sinh trưởng về đường kính, chiều cao và thể tích thân cây của các giống Bạch đàn lai tốt hơn so với các công thức thí nghiệm còn lại Độ vượt các chỉ tiêu so với trung bình trung toàn thí nghiệm là 11,66% về chỉ tiêu đường kính, 10,87% về chỉ tiêu chiều cao và 34,39% về thể tích thân cây
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của QLVLHCSKT và các công thức bón phân đến chỉ tiêu chất lượng của các giống Bạch đàn lai UP tại Hữu Lũng,
TT Công thức thí nghiệm
Dtt (điểm) Sk (điểm) Icl (điểm)
Kết quả đánh giá về chỉ tiêu chất lượng giữa các công thức thí nghiệm được thể hiện trong bảng 3.12 cho thấy, độ thẳng thân và chỉ tiêu sức khỏe không thể hiện sự sai khác rõ rệt giữa các công thức thí nghiệm (Fpr > 0,001) Chỉ tiêu chất lượng tổng hợp có giá trị khá cao trong toàn thí nghiệm (Icl trung bình = 4,69)
Như vậy, có thể thấy trong thí nghiệm tại Hữu Lũng, Lạng Sơn các công thức thí nghiệm có sự sai khác rõ rệt về các chỉ tiêu sinh trưởng, tuy nhiên không có sự sai khác về chỉ tiêu chất lượng Công thức thí nghiệm áp dụng biện pháp kỹ thuật lâm sinh S2F2 cho sinh trưởng về đường kính, chiều cao và thể tích thân cây của các giống Bạch đàn lai là tốt nhất
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1.1 Khảo nghiệm mở rộng các giống Bạch đàn lai ở giai đoạn 24 tháng tuổi tại Yên Bình, Yên Bái có tỷ lệ sống đạt 92,86 %, giữa các giống có sự sai khác rõ rệt về sinh trưởng, năng suất và chất lượng thân cây Nhóm các giống Bạch đàn lai có sinh trưởng nhanh và năng suất cao nhất là UP164, UP95, DH32-29, UP99, UP171, UP223 với năng suất trung bình đạt 10,00 m3/ha/năm, vượt từ 10,91 - 30,56% so với trung bình khảo nghiệm và vượt từ 179,42 - 228,93% so với giống đối chứng U6
1.2 Khảo nghiệm mở rộng các giống Bạch đàn lai ở giai đoạn 36 tháng tuổi tại Hữu Lũng, Lạng Sơn có tỷ lệ sống đạt 72,00 %, giữa các giống cũng có sự sai khác rõ rệt về sinh trưởng, năng suất cũng như chất lượng thân cây Nhóm các giống có sinh trưởng nhanh và năng suất cao nhất là UP223, UP35, UP54, UP164, UP171 và DH32-29 với năng suất trung bình đạt 22,74 m3/ha/năm, vượt từ 20,48 - 38,47 % so với trung bình khảo nghiệm và vượt từ 68,86 - 128,98 % so với các giống đối chứng Các giống Bạch đàn lai PB có sinh trưởng và năng suất ở mức trung bình tại Hữu Lũng, Lạng Sơn
1.3 Có sự sai khác rõ rệt giữa các dòng vô tính về chỉ số pilodyn (Fpr < 0,001) giữa các dòng Bạch đàn lai trong khảo nghiệm mở rộng tại Hữu Lũng, Lạng Sơn, nhóm các dòng có khối lượng riêng gỗ lớn là UP223, UP35, UP54, UP164 và UP171
1.4 Chọn lọc được các dòng vô tính Bạch đàn lai UP164, UP95, UP99, UP171 và UP223 cho vùng Yên Bình, Yên Bái và các dòng UP223, UP35, UP54, UP164 và UP171 cho vùng Hữu Lũng, Lạng Sơn