1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sử dụng chế phẩm nấm đối kháng trichoderma phòng chống bệnh hại chính do nấm gây ra trên nguyên liệu lạc trong kho bảo quản tại tỉnh bắc giang

24 3K 29
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu sử dụng chế phẩm nấm đối kháng trichoderma phòng chống bệnh hại chính do nấm gây ra trên nguyên liệu lạc trong kho bảo quản tại tỉnh Bắc Giang
Tác giả Cáp Thị Thúy
Người hướng dẫn GS.TS. Hà Quang Hùng, TS. Hà Viết Cường
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Công Nghệ Sau Thu Hoạch
Thể loại Đề cương luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 179,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCTrangMỤC LỤCiPHẦN I: MỞ ĐẦU11. Đặt vấn đề12. Mục đích và yêu cầu22.1. Mục đích22.2. Yêu cầu2PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU31. Giới thiệu về cây lạc31.1. Nguồn gốc xuất xứ của cây lạc31.2.Vai trò của lạc đối với đời sống con người32. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lạc trên thế giới và Việt Nam42.1.Tình hình sản xuất và nghiên cứu lạc trên thế giới42.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở Việt Nam43.Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở Bắc Giang54. Tình hình nhiễm bệnh hại và độc tố aflatoxin trên lạc sau thu hoạch ở thế giới và Việt Nam55. Biện pháp phòng chống bệnh hại lạc trong bảo quản65.1. Đặc điểm nấm đối kháng Trichoderma75.2. Biện pháp phòng chống bệnh hại trên nông sản trong bảo quản trên thế giới75.3. Biện pháp phòng chống bệnh hại lạc trong bảo quản ở Việt Nam8PHẦN III. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU91. Đối tượng, thời gian, vật liệu nghiên cứu91.1. Đối tượng nghiên cứu91.2. Thời gian nghiên cứu91.3. Địa điểm nghiên cứu91.4. Vật liệu nghiên cứu92. Nội dung nghiên cứu93. Phương pháp nghiên cứu103.1. Phương pháp điều tra, thu mẫu bệnh hại do nấm103.2. Phương pháp xác định thành phần nấm hại hạt113.3. Phương pháp phân lập nấm123.4. Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng nấm đối kháng Trichoderma trong phòng chống bệnh hại chính trên lạc bảo quản13PHẦN I: MỞ ĐẦU1. Đặt vấn đềCây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày thuộc họ đậu, có nguồn gốc ở Trung và Nam Mỹ [18], hiện nay được trồng trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Lạc là cây trồng có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao, là cây công nghiệp ngắn ngày có diện tích và sản lượng đứng thứ 2 chỉ sau cây đậu tương. Sản phẩm chế biến từ lạc rất đa dạng trong đó chủ yếu từ hạt. Hạt lạc chứa khoảng 40-60% lipit và 24-26% prụtờin [2], là nguồn nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến và khô dầu.Ngày nay, lạc được trồng khắp mọi nơi trong cả nước và đã hình thành một số vùng trồng lạc chính như Trung du Bắc Bộ, Khu 4 cũ, Tõy Nguyờn và Đông Nam Bộ. Trong đó, Bắc Giang là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc có diện tích đất tự nhiên là 382.200 ha, trong đó có 123.000 ha đất sản xuất nông nghiệp [20], trên diện tích đất canh tác này trồng khá phổ biến các loại cây họ đậu, đặc biệt là cây lạc phân bố khắp 10 huyện thị trong tỉnh. Cây lạc được trồng chủ yếu ở vụ xuân, vụ hè thu và vụ thu đông, đây là một trong những cây trồng chủ lực của nhóm cây công nghiệp ngắn ngày và được đặc biệt coi trọng trong chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa của tỉnh. Ngoài ra, Bắc Giang còn là địa bàn cung cấp giống lạc vụ xuân cho các tỉnh miền Bắc, miền Trung và xuất thương phẩm sang các nước khác.Để xuất khẩu được nông sản sang các nước cũng như đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng thì việc nâng cao chất lượng nông sản là một vấn đề được các tổ chức quốc tế cũng như các cơ quan khoa học về lương thực thực phẩm của thế giới đặc biệt quan tâm. Mặt khác, do nước ta là nước nhiệt đới có khí hậu nóng ẩm, rất thuận lợi cho bệnh hại phát triển. Đặc biệt các nông sản dạng hạt là nguồn cơ chất lý tưởng cho sự phát triển của nấm mốc. Nấm mốc phát triển trên hạt không những làm giảm giá trị dinh dưỡng của hạt mà còn sinh ra độc tố. Trong những độc tố nấm mốc nguy hiểm phải kể tới aflatoxin. Aflatoxin là độc tố của nấm Aspergillus flavus, Aspergillus parasiticus và Aspergillus nominus. Nấm mốc này có mặt nhiều ở lạc, ngô và một số loại hạt có dầu khác. Để ngăn chặn sự phát triển của nấm mốc đã có rất nhiều biện pháp đưa ra như chất diệt nấm, chất khử trựng… Nhưng đây đều là những hoá chất độc hại nếu liều lượng vượt quá có thể ảnh hưởng tới sức khoẻ người tiêu dùng. Đặc biệt các sản phẩm xử lý bằng hoá chất gặp phải rào cản rất nghiêm ngặt khi xuất khẩu sang các nước như EU, Mỹ, Nhật. Vì vậy việc nghiên cứu theo hướng sản xuất nông sản sạch nên thực hiện bằng phương pháp phòng trừ sinh học trước và sau thu hoạch. Các hóa chất độc hại cần hạn chế sử dụng, thay vào đó là các chất không độc hại. Và gần đây một xu hướng đang phát triển trên thế giới là sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên hay sinh học. Chính vì vậy xuất phát từ những yêu cầu nêu trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiờn cứu sử dụng chế phẩm nấm đối kháng Trichoderma phòng chống bệnh hại chính do nấm gây ra trên nguyên liệu lạc trong kho bảo quản tại tỉnh Bắc Giang”.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI



-ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ

“Nghiên cứu sử dụng chế phẩm nấm đối kháng Trichoderma

phòng chống bệnh hại chính do nấm gây ra trên nguyên liệu

lạc trong kho bảo quản tại tỉnh Bắc Giang”

Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỤC LỤC i

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục đích và yêu cầu 2

2.1 Mục đích 2

2.2 Yêu cầu 2

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1 Giới thiệu về cây lạc 3

1.1 Nguồn gốc xuất xứ của cây lạc 3

1.2.Vai trò của lạc đối với đời sống con người 3

2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lạc trên thế giới và Việt Nam 4

2.1.Tỡnh hình sản xuất và nghiên cứu lạc trên thế giới 4

2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở Việt Nam 4

3.Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở Bắc Giang 5

4 Tình hình nhiễm bệnh hại và độc tố aflatoxin trên lạc sau thu hoạch ở thế giới và Việt Nam 5

5 Biện pháp phòng chống bệnh hại lạc trong bảo quản 6

5.1 Đặc điểm nấm đối kháng Trichoderma 7

5.2 Biện pháp phòng chống bệnh hại trên nông sản trong bảo quản trên thế giới 7

5.3 Biện pháp phòng chống bệnh hại lạc trong bảo quản ở Việt Nam 8

PHẦN III VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9

1 Đối tượng, thời gian, vật liệu nghiên cứu 9

1.1 Đối tượng nghiên cứu 9

1.2 Thời gian nghiên cứu 9

Trang 3

1.3 Địa điểm nghiên cứu 9

1.4 Vật liệu nghiên cứu 9

2 Nội dung nghiên cứu 9

3 Phương pháp nghiên cứu 10

3.1 Phương pháp điều tra, thu mẫu bệnh hại do nấm 10

3.2 Phương pháp xác định thành phần nấm hại hạt 11

3.3 Phương pháp phân lập nấm 12

3.4 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng nấm đối kháng Trichoderma trong phòng chống bệnh hại chớnh trờn lạc bảo quản .13

Trang 4

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày thuộc họ

đậu, có nguồn gốc ở Trung và Nam Mỹ [18], hiện nay được trồng trên 100quốc gia và vùng lãnh thổ Lạc là cây trồng có giá trị dinh dưỡng và giá trịkinh tế cao, là cây công nghiệp ngắn ngày có diện tích và sản lượng đứng thứ

2 chỉ sau cây đậu tương Sản phẩm chế biến từ lạc rất đa dạng trong đó chủyếu từ hạt Hạt lạc chứa khoảng 40-60% lipit và 24-26% prụtờin [2], là nguồnnguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến và khô dầu

Ngày nay, lạc được trồng khắp mọi nơi trong cả nước và đã hìnhthành một số vùng trồng lạc chính như Trung du Bắc Bộ, Khu 4 cũ, TõyNguyờn và Đông Nam Bộ Trong đó, Bắc Giang là một tỉnh trung du miềnnúi phía Bắc có diện tích đất tự nhiên là 382.200 ha, trong đó có 123.000 hađất sản xuất nông nghiệp [20], trên diện tích đất canh tác này trồng khá phổbiến các loại cây họ đậu, đặc biệt là cây lạc phân bố khắp 10 huyện thị trongtỉnh Cây lạc được trồng chủ yếu ở vụ xuân, vụ hè thu và vụ thu đông, đây làmột trong những cây trồng chủ lực của nhóm cây công nghiệp ngắn ngày vàđược đặc biệt coi trọng trong chương trình phát triển sản xuất nông nghiệphàng hóa của tỉnh Ngoài ra, Bắc Giang còn là địa bàn cung cấp giống lạc vụxuân cho các tỉnh miền Bắc, miền Trung và xuất thương phẩm sang các nướckhác

Để xuất khẩu được nông sản sang các nước cũng như đảm bảo sứckhỏe người tiêu dùng thì việc nâng cao chất lượng nông sản là một vấn đềđược các tổ chức quốc tế cũng như các cơ quan khoa học về lương thực thựcphẩm của thế giới đặc biệt quan tâm

Mặt khác, do nước ta là nước nhiệt đới có khí hậu nóng ẩm, rất thuậnlợi cho bệnh hại phát triển Đặc biệt các nông sản dạng hạt là nguồn cơ chất lýtưởng cho sự phát triển của nấm mốc Nấm mốc phát triển trên hạt không

Trang 5

những làm giảm giá trị dinh dưỡng của hạt mà còn sinh ra độc tố Trongnhững độc tố nấm mốc nguy hiểm phải kể tới aflatoxin Aflatoxin là độc tố

của nấm Aspergillus flavus, Aspergillus parasiticus và Aspergillus nominus.

Nấm mốc này có mặt nhiều ở lạc, ngô và một số loại hạt có dầu khác

Để ngăn chặn sự phát triển của nấm mốc đã có rất nhiều biện phápđưa ra như chất diệt nấm, chất khử trựng… Nhưng đây đều là những hoá chấtđộc hại nếu liều lượng vượt quá có thể ảnh hưởng tới sức khoẻ người tiêudùng Đặc biệt các sản phẩm xử lý bằng hoá chất gặp phải rào cản rất nghiêmngặt khi xuất khẩu sang các nước như EU, Mỹ, Nhật Vì vậy việc nghiên cứutheo hướng sản xuất nông sản sạch nên thực hiện bằng phương pháp phòngtrừ sinh học trước và sau thu hoạch Các hóa chất độc hại cần hạn chế sửdụng, thay vào đó là các chất không độc hại Và gần đây một xu hướng đangphát triển trên thế giới là sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên haysinh học Chính vì vậy xuất phát từ những yêu cầu nêu trên, tôi tiến hành thực

hiện đề tài “Nghiờn cứu sử dụng chế phẩm nấm đối kháng Trichoderma

phòng chống bệnh hại chính do nấm gây ra trên nguyên liệu lạc trong kho bảo quản tại tỉnh Bắc Giang”.

2 Mục đích và yêu cầu

2.1 Mục đích

Trên cơ sở xác định thành phần bệnh hại do nấm trên nguyên liệulạc bảo quản trong kho và diễn biến tỷ lệ hại của bệnh hại chính, từ đó đề xuấtbiện pháp phòng chống chúng bằng chế phẩm nấm đối kháng Trichoderma

Trang 6

- Đánh giá hiệu quả sử dụng chế phẩm nấm đối kháng Trichodermaphòng chống bệnh hại chính.

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1 Giới thiệu về cây lạc

1.1 Nguồn gốc xuất xứ của cây lạc

Lạc còn được gọi là đậu phộng hay đậu phụng (Arachis hypogaea),

thuộc họ đậu có nguồn gốc ở Trung và Nam Mỹ Lạc là loài cõy thõn thảohàng năm tăng có thể cao từ 3 - 50 cm Lá mọc đối, kộp hỡnh lông chim vớibốn lá chét, kích thước lá chét dài 1-7 cm và rộng 1- 3 cm Hoa dạng hoa đậuđiển hình màu vàng có điểm gân đỏ, cuống hoa dài 2- 4 cm Sau khi thụ phấn,quả phát triển thành một dạng quả đậu dài 3- 7 cm, chứa 1-4 hạt (ánh) và quả(củ) thường dấu xuống đất để phát triển Trong danh pháp khoa học của loàicây này phần tên chỉ tính chất loài hypogaea nghĩa là “dưới đất” để chỉ đặcđiểm của quả được dấu dưới đất Hạt lạc (ánh lạc) là loại thực phẩm rất giàunăng lượng vỡ cú chứa nhiều lipid [18]

1.2.Vai trò của lạc đối với đời sống con người

Lạc có giá trị dinh dưỡng cao đặc biệt là có nhiều dầu và protein.Trong hạt lạc chứa từ 40 – 60% lipid; 24- 26% protein; 9- 12% glucid; 2-4,5% cellulo; 1,8- 4,6% tro; 6- 22% hydratcacbon và nhiều loại vitamin (A,B1, B2, B6, PP, E )[2] Ngoài giá trị dinh dưỡng cho con người, lạc còn lànguồn thức ăn tốt cho gia súc Hơn thế nữa, lạc còn là nguyên liệu cho ngànhcông nghiệp ép dầu; dầu lạc thuộc loại dầu ăn dễ tiêu và có thể làm nguyênliệu chế biến thuốc dùng trong y dược [3] Một giá trị vô cùng quan trọng củacây lạc về mặt sinh học là có khả năng cố định đạm khi cộng sinh với vi

khuẩn Rhizobium Chính vì vậy, cây lạc không đòi hỏi bón nhiều phân đạm,

trồng ở đất nghèo dinh dưỡng vẫn có thể cho năng suất đồng thời cải tạo đấttốt [1], [4] Bên cạnh những quan điểm nêu trên, lạc còn có giá trị lớn trongxuất khẩu Trên thế giới, hàng năm sản lượng lạc và dầu lạc xuất khẩu đạt

Trang 7

hàng triệu tấn Châu Á là khu vực có nhiều nước trồng lạc, trong đó Việt Nam

là nước đứng thứ tư về sản lượng sau Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia ViệtNam đứng thứ tư về xuất khẩu lạc trên thế giới, sau Trung Quốc, Mỹ vàAchentina Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam những năm gần đây đạtkhoảng 50 triệu đụla Mỹ/năm [18]

2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lạc trên thế giới và Việt Nam

2.1.Tỡnh hình sản xuất và nghiên cứu lạc trên thế giới

Trong các loại cây trồng làm thực phẩm cho con người, lạc có vịtrí quan trọng Mặc dù cõy lạc đã có từ lõu đời, nhưng vai trò kinh tế của lạcchỉ mới được xác định gần 100 năm trở lại đõy Hiện nay trên thế giới, nhucầu sử dụng và tiêu thụ lạc ngày càng tăng điều này đã và đang khuyến khíchnhiều nước đầu tư phát triển sản xuất lạc với qui mô ngày càng mở rộng

Theo Florkowski (1994) [9], Cesar (2002) [8], USDA (2000-2006)[10] diện tích trồng lạc trên toàn thế giới trong 35 năm qua tăng 14,1 %

Sản lượng lạc trên thế giới luôn tăng, trung bình ở thập kỷ 90 là 26,664triệu tấn/năm tăng 58,0 % so với thập kỷ 70 Còn sản lượng lạc trung bình củathế giới trong 6 năm gần đây (2000-2006) là 32,261 triệu tấn/năm, tăng so vớinhững năm 70 là 93,1 %, tăng so với những năm 90 là 23,5 % [10]

2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở Việt Nam

Việt Nam những năm trước đõy, do thiếu lương thực, sản xuấtnông nghiệp chủ yếu tập trung trồng cây lương thực, cây lạc chưa thực sựđược chú trọng, năng suất lạc thấp Mười năm trở lại đõy, nhờ có sựchuyển hướng trong nông nghiệp là sản xuất cây trồng hàng hoá, cây lạcđược quan tâm hơn và có xu hướng tăng nhanh về diện tích, năng suất vàsản lượng Năm 2005, Việt Nam là nước đứng thứ 12 về diện tích, đứng thứ

9 về sản lượng lạc trên thế giới, đứng thứ 4 về năng suất trong 15 nước códiện tích trồng lạc lớn [11]

Về tình hình tiêu thụ lạc, trong thập kỷ 90 Việt Nam là nước đứng thứ

Trang 8

tư về xuất khẩu lạc Những năm gần đây (2001-2005), trung bình kim ngạchxuất khẩu lạc của Việt Nam đạt khá cao, trên 50 triệu đụla Mỹ/năm [18]

3.Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở Bắc Giang

4 Tình hình nhiễm bệnh hại và độc tố aflatoxin trên lạc sau thu hoạch ở thế

giới và Việt Nam

4.1 Tình hình nhiễm bệnh hại và độc tố aflatoxin trên lạc sau thu hoạch ở thế

giới

Bệnh hại là một trong những nguyên nhân quan trọng làm giảm năngsuất của cây lạc cũng như gây tổn thất về mặt số lượng và chất lượng lạctrong bảo quản (Kokalis-Burelle, 1997) [12] Bệnh hại lạc là các loài nấm, vikhuẩn, phytoplasma, hơn 20 loài virus và ít nhất 100 loài tuyến trùng, trong

đó nhóm nấm bệnh hại lạc chiếm đa số và gây thiệt hại lớn nhất

Theo Richardson (1990) [13] có khoảng 29 loài bệnh hại truyền qua hạtlạc trong đó nấm bệnh hại chiếm khoảng 17 loài Các loài nấm hại hạt đầu tiên

phải kể đến: Aspergillus niger, Aspergillus flavus, Sclerotium rolfsii, Botrytis sp.,

Diplodia sp., Fusarium spp., Macrophoma phaseolina, Rhizoctonia sp.,….

Trong số nấm bệnh hại hạt lạc có 2 loài nguy hiểm nhất là Aspergillus

flavus Link và Aspergillus paraciticus Speare gây hiện tượng mốc vàng lạc.

Lạc và các sản phẩm từ lạc là nguồn dinh dưỡng ưa thích nhất của

Aspergillus flavus Jackson khi nghiên cứu nhân lạc lấy từ những củ mà bên

ngoài còn nguyên vẹn đã nhận thấy trên vỏ lụa của chúng có một hệ nấm

phong phú, loài Aspergillus flavus hầu như bao giờ cũng có mặt Trong những

năm 1973, nghiên cứu về lạc bóc vỏ ở Mỹ cho thấy 15% của 361 mẫu cóaflatoxin giới hạn từ vết đến 50 àg/kg Stoloff, Krof và Hard [14] đã tìm thấyaflatoxin ở 86,5% của 52 mẫu trong các sản phẩm lạc nhập vào Đan Mạch làthức ăn gia súc, một mẫu có 3,465 àg/kg

Trang 9

4.2 Tình hình nhiễm bệnh hại và độc tố aflatoxin trên lạc sau thu hoạch ở Việt

Nam

Nước ta là nước nhiệt đới gió mùa có khí hậu nóng ẩm, là điều kiệnthuận lợi cho bênh hại đặc biệt là nấm mốc phát triển Do các hoạt động hết sứcmạnh mẽ của các vi sinh vật có hại đã gây ra tổn thất lớn cho nông sản ở giaiđoạn sau thu hoạch, trong đó tổn thất gây nên do nấm mốc chiếm một phần đáng

kể Ngoài việc gây tổn thất về khối lượng cho nông sản, nấm mốc còn sinh racác độc tố đặc biệt nguy hiểm với sức khỏe con người và động vật Vi sinh vậttrong khối đậu, lạc chủ yếu là nấm mốc (68- 98%) trong đó chủ yếu là

Aspergillus và Penicillium, ngoài ra cũn cú Cephalosporium và Cladosporium.

Nấm mốc phát triển trên lương thực không những sử dụng các chất dinh dưỡngcủa hạt: protein, glucid, lipid và các vitamin, chỳng cũn tiết ra các độc tố Độc tố

aflatoxin do Aspergillus flavus, Aspergillus parasiticus và Aspergillus nominus

tạo ra là độc tố nguy hiểm nhất và thường nhiễm trên nông sản

Ở Việt Nam, năm 1988 Viện dinh dưỡng đã thông báo kết quả thăm

dò aflatoxin trong lạc và kết quả có 7/55 số mẫu lạc nhõn cú aflatoxinB1(13%) [19] Gần đây, Trung tâm y tế dự phòng TP Hồ Chí Minh đã kiểmnghiệm 40 mẫu hạt có dầu và các sản phẩm có liên quan như lạc, vừng, cà phêhạt kết quả cho thấy hàm lượng aflatoxin trong lạc cao hơn tiêu chuẩn 263lần, còn trong kẹo lạc thì vượt tiêu chuẩn 138 lần

5 Biện pháp phòng chống bệnh hại lạc trong bảo quản

Việc nâng cao chất lượng nông sản sau thu hoạch là một vấn đề luônđược các tổ chức quốc tế đặc biệt quan tâm Trong thực tế, thuốc hóa họcđược coi là một biện pháp tốt nhất để phòng trừ dịch hại trên nông sản điềunày đã dẫn đến một loạt các hậu quả mà con người và thiên nhiên phải gánhchịu như: ô nhiễm môi trường; làm mất cân bằng sinh thái trong tự nhiên; tồn

dư lượng thuốc hóa học quá mức cho phép trên sản phẩm nông nghiệp, gâyhại tới sức khỏe con người; hơn nữa sử dụng thuốc hóa học chi phí đầu tư cao

Trang 10

nhưng ngày càng không có hiệu quả Do đó, cần phải nhanh chóng giảm bớtlượng thuốc sử dụng hoặc chuyển sang chế phẩm vi sinh nhằm khắc phục cáchậu quả trên Việc phòng trừ dịch hại nông sản sau thu hoạch bằng các chếphẩm sinh học đang được đẩy mạnh nghiên cứu ở nhiều nước và được coinhư là một lĩnh vực quan trọng và cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.

5.1 Đặc điểm nấm đối kháng Trichoderma

Nấm đối kháng là những thành viên phổ biến của hệ vi sinh vật đất.Chúng thường tiết ra các men, kháng sinh gây độc cho nấm gây bệnh hoặcnấm kháng cạnh tranh điều kiện sống với nấm gây bệnh

Khi phân tích tính đối kháng của Trichoderma người ta nhận thấy rằng

sự đối kháng của nấm Trichoderma thông qua nhiều cơ chế như: ký sinh trên

nấm bệnh, cạnh tranh thức ăn, sản sinh ra các chất kháng sinh và enzyme tiêudiệt, ngăn cản sự xâm nhập của nấm bệnh

5.2 Biện pháp phòng chống bệnh hại trên nông sản trong bảo quản trên thế

giới

Trong thực tế sản xuất ở nhiều nước đã áp dụng phương pháp sử dụngchế phẩm vi sinh vật đối kháng đặc biệt là chế phẩm nấm đối khángTrichoderma để tiêu diệt những vi sinh vật gây bệnh cho nông sản sau thuhoạch Những vi sinh vật đối kháng này hoàn toàn không gây hại cho nôngsản cũng như sức khỏe của con người

Các nghiên cứu về chế phẩm Trichoderma nhằm sử dụng chúng đểphòng trừ bệnh hại nông sản sau thu hoạch đã được tiến hành ở nhiều nướctrên thế giới D Sivakumar et al.(2000) đã cho thấy Metabisulphite kali kếthợp với TRH 40 (Trichoderma harzianum) làm giảm đáng kể sự phát triểnbệnh trong trái cây chôm chôm và duy trì chất lượng tổng thể của các loại tráicây [15] Còn Trichoderma viride có tác dụng chống lại các tác nhân gây bệnhsau thu hoạch và cho thấy vi sinh vật đối kháng mạnh mẽ với mầm bệnh Do

đó, chất lượng sắn sau thu hoạch được lưu trữ trong một khoảng thời gian dài

Trang 11

hơn [17] Ngoài ra, trong bảo quản khoai lang người ta còn sử dụng chể phẩmTrichoderma viride để ức chế sự nảy mầm của các bào tử mầm bệnh sau thuhoạch và làm giảm tỷ lệ thối hỏng [16].

5.3 Biện pháp phòng chống bệnh hại lạc trong bảo quản ở Việt Nam

Vấn đề phòng ngừa sự nhiễm nấm sinh độc tố là việc đưa ra nhữngbiện pháp kiềm chế có lợi và hiệu quả nhất Để có thể khử được bệnh hại trênlạc đặc biệt là độc tố aflatoxin người ta thường dùng các phương pháp như:phương pháp vật lý, phương pháp hóa học và phương pháp sinh học Trong baphương pháp trờn thỡ phương pháp hóa học thường được áp dụng nhất

Ở nước ta, Nguyễn Thựy Chõu đó nghiên cứu công nghệ khử độc tốaflatoxin B1 trờn ngụ và khô lạc Kết quả cho thấy NH3 nồng độ 6% hoặcCa(OH)2 có tác dụng khử 90% độc tố aflatoxin [7]

Mặc dù các biện pháp phòng chống nấm mốc sinh độc tố đã đượckhuyến cáo áp dụng nhưng sự nhiễm aflatoxin trờn ngụ, lạc ở mức độ cao quágiới hạn là không thể tránh được trong những điều kiện bảo quản bất lợi Vấn đềkhử nhiễm aflatoxin bằng con đường sinh học nhằm thay thế cho biện pháp khửnhiễm aflatoxin bằng các hóa chất có giá thành cao và làm biến đổi phẩm chất,chất lượng lương thực nên khó áp dụng vào thực tiễn bảo quản do đó khử nhiễmaflatoxin bằng con đường sinh học được coi là con đường hứa hẹn nhất

Gần đây, việc sử dụng chế phẩm nấm đối kháng Trichoderma đểphòng chống bệnh hại cây trồng đã và đang được nghiên cứu ngày càng sâuhơn Còn việc sử dụng chế phẩm nấm đối kháng Trichoderma để phòngchống bệnh hại nông sản trong kho bảo quản vẫn chưa được đề cập Do đó,việc nghiên cứu ứng dụng các chế phẩm sinh học an toàn để phòng chốngbệnh hại do nấm góp phần khử nhiễm độc tố nấm trên lạc là rất cần thiết

Trang 12

PHẦN III VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng, thời gian, vật liệu nghiên cứu

1.1 Đối tượng nghiên cứu

Lạc giống L14 được bảo quản trong kho tại tỉnh Bắc Giang

1.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 7 năm 2011 đến tháng 12 năm 2011

1.3 Địa điểm nghiên cứu

Tại phòng thí nghiệm của Trung tâm bệnh cây nhiệt đới- Trường đại

học Nông nghiệp Hà Nội

1.4 Vật liệu nghiên cứu

- Lạc giống L14 trong kho bảo quản

- Dụng cụ: Petri, hộp nhựa, kéo, kẹp sắt, giấy thấm, giấy lọc, kínhlúp, kính hiểm vi soi nổi,

2 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra xác định thành phần bệnh nấm hại trên lạc nguyên liệutrong kho bảo quản tại tỉnh Bắc Giang đồng thời xác định bệnh hại chính

- Điều tra diễn biến tỷ lệ hại của bệnh nấm chính hại lạc nguyên liệutrong kho bảo quản tại tỉnh Bắc Giang

- Đánh giá hiệu quả sử dụng chế phẩm nấm đối kháng Trichodermaphòng chống bệnh nấm hại chính

Ngày đăng: 05/12/2013, 01:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w