Tuy nhiên, trong thực tế, công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóatruyền thống tốt đẹp của từng dân tộc – tộc người không phải là chuyện đơn giản.Đặc biệt là đối với những dân tộ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNGTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠMKHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA CHĂM PA Ở TỈNH BÌNH ĐỊNH HIỆN NAY
Giáo viên hướng dẫn : TS Trần Hồng Lưu
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Tín
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành tốt khóa luận này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bảnthân, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô Đầu tiên, emxin chân thành gửi lời cảm ơn đến thầy Trần Hồng Lưu người đã hướng dẫn vàgiúp đỡ em rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận này
Qua đây, em cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trong Khoa Giáo dụcchính trị trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng, thầy giáo chủ nhiệm, các bạntrong lớp và gia đình đã đ ộng viên, góp ý, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận Vàđặc biệt là sự hỗ trợ nhiệt tình từ cơ quan Sở Văn hóa thể thao và du lịch Bình Định
đã cung cấp những số liệu, tài liệu có liên quan đến đề tài
Mặc dù đã nỗ lực cố gắng nhưng chắc chắn đề tài không tránh khỏi nhữngthiếu sót Rất mong được sự góp ý từ các thầy cô và các bạn sinh viên cùng những
ai quan tâm đến đề tài này để khóa luận ngày càng được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà nẵng, ngày 24 tháng 4 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Tín
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 2
4 Bố cục của đề tài 2
5 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
NỘI DUNG 4
H 4
1.1 Văn hóa và giá trị văn hóa 4
1.1.1 Định nghĩa văn hóa 4
1.1.2 Tính chất, chức năng của văn hóa 6
1.1.2.1 Tính chất của văn hóa 6
1.1.2.2 Chức năng của văn hóa 8
1.1.3 Giá trị và giá trị văn hóa 11
1.2 Văn hóa Chămpa ở tỉnh Bình Định 14
1.2.1 Khái quát lịch sử Chămpa giai đoạn Vijaya – Bình Định 14
1.2.2 Những giá trị đặc trưng của văn hóa Chămpa 15
1.2.2.1 Di tích lịch sử - văn hóa 15
1.2.2.2 Tín ngưỡng, tôn giáo 17
1.2.2.3 Lễ hội 18
1.2.2.4 Kiến trúc, điêu khắc 19
1.2.2.5 Văn hóa ẩm thực và trang phục 20
1.2.2.6 Chữ viết và văn học nghệ thuật 21
1.2.2.7 Luật tục của người Chăm 26
1.3 Tính tất yếu của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Chămpa ở tỉnh Bình Định trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay 27
1.3.1 Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong mở cửa và hội nhập quốc tế 27
1.3.2 Tầm quan trong của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Chămpa giai đoạn hiện nay 29
Trang 4Chương 2: THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC
GIÁ TRỊ VĂN HÓA CHĂMPA Ở TỈNH BÌNH ĐỊNH HIỆN NAY 31
2.1 Khái quát chung về Bình Định 31
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 31
2.1.2 Điều kiện kinh tế – xã hội 32
2.1.3 Điều kiện văn hóa 33
2.2 Thực trạng việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Chămpa ở tỉnh Bình Định hiện nay 35
2.2.1 Thành tựu đạt được 35
2.2.1.1 Di tích lịch sử - văn hóa 36
2.2.1.2 Tín ngưỡng, tôn giáo 43
2.2.1.3 Lễ hội 43
2.2.1.4 Điêu khắc và các ngành nghề truyền thống 45
2.2.1.5 Văn hóa trang phục 51
2.2.1.6 Chữ viết và văn học nghệ thuật 52
2.2.1.7 Luật tục của người Chăm H’roi 53
2.2.2 Những tồn tại, hạn chế 54
2.2.3 Nguyên nhân của tồn tại và hạn chế 55
2.3 Một số giải pháp nhằm tiếp tục bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Chămpa ở tỉnh Bình Định hiện nay 56
KẾT LUẬN 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê tháp Chămpa ở Bình Định (2011) 37
Bảng 2.2: Các phế tích tháp ở Bình Định (2015) 39
Bảng 2.3: Thống kê một số tượng tròn ở Bình Định (2011) 46
Bảng 2.4: Bảng thống kê các hiện vật điêu khắc tại Bình Định (2011) 48
Bảng 2.5: Thống kê các bệ đá ở Bình Định (2011) 49
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa là tài sản vô cùng quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Namđược kết tinh từ hàng nghìn năm và trải qua bao thăng trầm của lịch sử dân tộc.Trong cộng đồng ấy, mỗi dân tộc lại có một nền văn hóa mang sắc thái riêng, điều
đó làm cho nền văn hóa Việt Nam tuy thống nhất nhưng rất đa dạng, phong phú
Do vậy, việc bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của từng dân tộc trongcộng đồng các dân tộc Việt Nam cũng chính là làm cho n ền văn hóa của dân tộcViệt Nam luôn trường tồn cùng dân tộc và nhân loại Việc Đảng ta chủ trương xâydựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc một phần cũng khôngngoài mục đích ấy
Tuy nhiên, trong thực tế, công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóatruyền thống tốt đẹp của từng dân tộc – tộc người không phải là chuyện đơn giản.Đặc biệt là đối với những dân tộc có nền văn hóa lâu đời, đặc sắc như dân tộcChăm, nhưng do những biến động của lịch sử, sự khắc nghiệt của thời gian và mộtphần do sự vô ý thức của con người đã và đang bào mòn các giá trị văn hóa ấy thìcông tác bảo tồn lại càng cần được quan tâm, chú trọng hơn bao giờ
Văn hóa Chămpa là một nền văn hóa có nhiều đóng góp làm phong phú bảnsắc văn hóa của cộng đồng dân tộc Việt Nam trong lịch sử Về không gian, văn hóaChămpa có mặt từ đèo Ngang (Quảng Bình) chạy dọc theo miền Trung đến bờ sôngĐồng Nai (Bình Thuận), lan tỏa lên cao nguyên và vươn ra các hải đảo Về thờigian, văn hóa Chămpa để lại dấu tích từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ thứ XVIII, sau đóhòa nhập vào nền văn hóa chung của cộng đồng Việt Nam Một trong những vùngđất chiếm vị trí trí quan trọng trong tiến trình lịch sử phát triển văn hóa Chămpa làVijaya (Bình Định) – Đây là vùng đất định đô của vương quốc cổ Chămpa từ thế
kỷ XI đến thế kỷ XV Và là một giai đoạn phát triển rực rỡ trên nhiều lĩnh vực, làmột trong những cái nôi nuôi dưỡng và phát triển văn hóa Chămpa (văn hóaVijaya) Trên vùng đất này, văn hóa Chămpa đã để lại dấu ấn khá đậm gồm nhiềuloại hình, với số lượng phong phú trong một thời gian dài Vì vậy, việc làm sáng tỏnhững giá trị đặc trưng của văn hóa Chămpa, đánh giá thực trạng cũng như đề xuất
Trang 7các giải pháp nhằm tiếp tục bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Chămpa ở tỉnhBình Định hiện nay trở thành vấn đề nghiên cứu thú vị, có ý nghĩa cấp thiết Đóchính là lý do tôi chọn đề tài: Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Chămpa ởtỉnh Bình Định hiện nay làm đối tượng nghiên cứu khoa học cuối khóa của mình.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Trình bày những giá trị đặc trưng của văn hóa Chămpa ở Bình Định; nêu lênthực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục bảo tồn và phát huy các giá trịvăn hóa Chămpa ở tỉnh Bình Định hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên, khóa luận tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:Xác định cơ sở khoa học của vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóanói chung và những vấn đề đặt ra trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóaChămpa ở Bình Định nói riêng
Nêu được thực trạng việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Chămpa ởtỉnh Bình Định, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục bảo tồn và phát huycác giá trị văn hóa Chămpa ở tỉnh Bình Định hiện nay
3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóaChămpa
Phạm vi nghiên cứu: Tỉnh Bình Định
Phương pháp nghiên cứu: Để hoàn thành được mục đích, nhiệm vụ của đềtài đặt ra, đề tài được thực hiện trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoahọc của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm cơ bản củaĐảng ta về văn hóa và xây dựng văn hóa xã hội chủ nghĩa Các phương pháp được
sử dụng chủ yếu là: so sánh, phân tích và tổng hợp tài liệu, trừu tượng hóa và kháiquát hóa, sự thống nhất giữa logic và lịch sử, v.v
Trang 8Chương 2: Thực trạng, giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóaChămpa ở tỉnh Bình Định hiện nay.
5 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Từ trước đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về các giá trịvăn hóa Chămpa dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau Đáng lưu ý là các côngtrình nghiên cứu như: “Phát huy giá trị văn hóa Chăm đề phát triển du lịch tỉnhNinh Thuận” của Phan An, Phát triển Kinh tế – Xã hội Đà Nẵng, số 62, 2005; “Disản văn hóa Champa trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa “tiên tiến đậm đà bảnsắc dân tộc” ở miền trung” của Đoàn Tuấn Anh, Sinh hoạt lý luận, số 3, 1997; Tháp
cổ Chăm Pa – huyền thoại và sự thật của Ngô Văn Doanh, Nxb Văn hóa thông tin,
Hà Nội, 1994; Văn hóa Chămpa của Ngô Văn Doanh, Nxb Văn hóa thông tin, HàNội, 1994; Văn hóa cổ Chăm Pa của Ngô Văn Doanh, Nxb Văn hóa dân tộc, HàNội, 2002; Lễ hội chuyển mùa của người Chăm của Ngô Văn Doanh, Nxb Trẻ, Tp
Hồ Chí Minh, 2006; Thành cổ Chămpa – những dấu ấn của thời gian của Ngô VănDoanh, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2014; Văn hóa – Xã hội Chăm _ Nghiên cứu và đốithoại của Inrasara, Nxb Văn học, Hà Nội, 2008; “Cần đánh giá xác đáng phongcách Bình Định trong nghệ thuật Chămpa” của Lê Viết Thọ, Văn học nghệ thuật, số
4, 2003; Giữ gìn những kiệt tác kiến trúc trong nghệ thuật Chăm của các tác giảLưu Trần Tiêu, Ngô Văn Doanh, Nguyễn Quốc Hùng, Nxb Văn hóa dân tộc, HàNội, 2000; Văn hóa Chăm – Nghiên cứu và phê bình của Sakaya, Nxb Phụ nữ, HàNội, 2010; v.v
Các công trình nghiên cứu và các bài viết nêu trên đã ít nhiều khắc họa đượcnhững nét độc đáo diện mạo văn hóa Chămpa, nhưng việc nghiên cứu những giá trịđặc trưng của văn hóa Chămpa ở Bình Định, đánh giá thực trạng và đề xuất các giảipháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Chămpa ở tỉnh Bình Định thì chưađược đề cập thỏa đáng Dựa trên cơ sở kế thừa những thành quả của các tác giả đitrước, đồng thời với sự nỗ lực tìm tòi học tập và nghiên cứu của bản thân, khóaluận đã đi vào tìm hiểu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục bảotồn và phát huy các giá trị văn hóa Chămpa ở tỉnh Bình Định hiện nay
Trang 9NỘI DUNG Chương 1: VĂN HÓA VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA CHĂMPA
Ở TỈNH BÌNH ĐỊNH
1.1 Văn hóa và giá trị văn hóa
1.1.1 Định nghĩa văn hóa
Có rất nhiều cách hiểu về văn hóa và cũng có hàng trăm định nghĩa khácnhau về văn hóa Tùy theo góc độ tiếp cận, quan điểm và trình độ tư duy mà cáchhiểu về văn hóa cũng khác nhau, luôn biến đổi Đến nay, vấn đề định nghĩa văn hóavẫn chưa có sự thống nhất
Ở phương Đông, từ “văn hóa” đã xuất hiện trong đời sống từ rất sớm:
“Trong ngôn ngữ cổ của Trung Quốc, văn là một từ dùng để chỉ cái vẻ ngoài(cái được biểu hiện ra bên ngoài) Ví dụ mặt trăng, mặt trời, mây mưa sấm chớp
là văn của Trời; vằn lông, màu lông là văn của muôn thú Văn của con người là lờinói hay, đẹp ; văn của xã hội là điển chương, chế độ, phong tục, đạo đức, thểhiện quan hệ giữa con người với con người trong một cộng đồng xã hội nhất định.Hóa là dạy dỗ, sửa đổi phong tục (giáo hóa)” [7, tr 5]
Khổng Tử cũng đã nói đến “văn” mà sau này Tuân Tử, học trò của ông đãgiải thích: văn là cái ngụy tức là cái do con người tạo nên chứ không tự nhiên mà
có Như vậy, “văn là cái bên ngoài, không phải hoàn toàn tự nhiên mà có, nên cóthể sửa sang, trau dồi Con người có thể làm cho cái chất tự nhiên thành có văn,thành đẹp đẽ hơn, do tác dụng của giáo hóa” [7, tr 6]
Từ văn hóa được dùng ở một số nước phương Đông hiện nay (Nhật Bản,Trung Quốc, Việt Nam, ) lại là một từ của người Nhật dịch từ culture trong ngônngữ phương Tây và truyền sang Trung Quốc, rồi sang Việt Nam khi các nhà nhoduy tân đọc và dịch tân văn, tân thư Trung Quốc hồi đầu thế kỷ XX
Ở phương Tây, để chỉ văn hóa, người Pháp và người Anh dùng từ culture,người Đức dùng từ kultur, người Nga dùng từ kultura Người La Mã dùng từcultura và cultus là để chỉ việc gieo trồng Gieo trồng ruộng đất là “agri cultura”,gieo trồng tinh thần là “animi cultura” Vậy từ cultus hoặc cultura là văn hóa vớihai khía cạnh, thứ nhất là: trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên; thứ
Trang 10hai là giáo dục, đào tạo cá thể hay cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên
và có những phẩm chất tốt đẹp
Ở Việt Nam, từ văn hóa xuất hiện muộn hơn, khoảng đầu thế kỷ XX Trước
đó, có xuất hiện từ “văn hiến” tương ứng với văn hóa được dùng trong bài “BìnhNgô đại cáo” của Nguyễn Trãi: “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền vănhiến đã lâu” Văn hiến ở đây dùng để chỉ những giá trị tinh thần do những người cótài đức chuyển tải (văn là văn hóa, hiến là hiền tài)
Người đầu tiên ở Việt Nam đưa ra ý niệm về văn hóa, có lẽ là Đào Duy Anh,trong “Việt Nam văn hóa sử cương”, viết xuất bản năm 1938 Ông viết: “Người tathường cho rằng văn hóa chỉ là những học thuật tư tưởng của loài người, nhân thế
mà xem văn hóa vốn có tính chất cao thượng đặc biệt Thực ra không phải như vậy.Học thuật tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm vi của văn hóa nhưng phàm sự sinhhoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội cùng hết thảy các phong tục tập quán tầmthường lại không ở trong phạm vi văn hóa hay sao Hai tiếng văn hóa chẳng qua làchỉ chung tất cả phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng:Văn hóa tức là sinh hoạt” Theo ông, những phương diện của tri thức (khoa canhnông, pháp lý, nghệ thuật sân khấu, cách đúc nồi, cách dựng nhà, cách nấu cơm,kiểu áo, dân khí) biểu hiện những trạng thái gọi là sinh hoạt vật chất (việc càyruộng, việc đi kiện, việc ca múa, sự đúc nồi, sự dựng nhà, sự nấu cơm, cái áo, đoànbiểu tình) Và đồng thời những phương diện khác của tri thức như triết học, tôngiáo, cũng chẳng đã biểu hiện những trạng thái sinh hoạt gọi là tinh thần như suynghĩ, tín ngưỡng
Hồ Chí Minh cũng đã từng nghiên cứu về văn hóa và vai trò của nó đối vớiđời sống con người Theo Bác: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống,loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày vềmặc, ăn, ở và các phương thức dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức
là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểuhiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đờisống và đòi hỏi của sự sinh tồn” Như vậy theo Bác, văn hóa là những sản phẩm màcon người sáng tạo ra nhằm mục đích phục vụ cho chính con người [20, tr 409]
Trang 11Trong bản Tuyên bố về những chính sách văn hóa tại Hội nghị quốc tế doUNESCO chủ trì năm 1982 (Mêhicô), tổ chức này cũng đã bổ sung vào hệ thốngcác khái niệm về văn hóa bằng một định nghĩa khá chi tiết: “Văn hóa là tổng thểnhững nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cáchcủa một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật vàvăn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thốngcác giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khảnăng suy xét về bản thân Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinhvật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý.Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình
là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân,tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trìnhmới mẻ, những công trình vượt trội bản thân”
Tóm lại, văn hóa là sản phẩm của loài người, bao gồm tất cả các giá trị vậtchất và tinh thần mang giá trị lịch sử – văn hóa, khoa học, thẩm mỹ được tạo ra vàphát triển trong quan hệ tác động qua lại giữa con người và xã hội, văn hóa đượctruyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa
1.1.2 Tính chất, chức năng của văn hóa
1.1.2.1 Tính chất của văn hóa
a) Tính hệ thống
Mọi hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa đều có liên quan mật thiếtvới nhau Văn hóa là một hệ thống hữu cơ Chính nhờ có tính hệ thống mà văn hóa,với tư cách là một đối tượng bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện đượcchức năng tổ chức xã hội Chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ ổn định của xãhội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tựnhiên và xã hội của mình Nó là nền tảng của xã hội – có lẽ chính vì vậy mà ngườiViệt Nam ta dùng từ chỉ loại “nền” để xác định khái niệm văn hoá (nền văn hóa).b) Tính giá trị
Trong từ “văn hóa” thì văn có nghĩa là “vẻ đẹp” (giá trị), hóa là “trở thành”,văn hóa có nghĩa là “trở thành đẹp, thành có giá trị” Văn hóa là một hệ thống củacác giá trị vật chất và tinh thần Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con
Trang 12người Đặc trưng tính giá trị cho phép phân biệt văn hóa với hậu quả của văn hóahoặc những hiện tượng phi văn hóa.
Các giá trị văn hóa theo chất liệu có thể chia thành: giá trị vật chất và giá trịtinh thần; theo ý nghĩa có thể chia thành: giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trịthẩm mĩ (chân, thiện, mĩ); theo thời gian có thể chia thành: giá trị vĩnh cửu và giátrị nhất thời Trong các giá trị nhất thời lại có thể phân biệt giá trị đã lỗi thời, giá trịhiện hành và giá trị đang hình thành Sự phân biệt các loại giá trị theo thời gian chophép ta có được cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh giá tính giá trịcủa sự vật, hiện tượng; tránh được những xu hướng cực đoan – phủ nhận sạch trơnhoặc tán dương hết lời
Nhờ vậy mà về mặt đồng đại, cùng một hiện tượng có thể có giá trị nhiềuhay ít tùy theo góc nhìn, theo bình diện được xem xét Về mặt lịch đại, cùng mộthiện tượng vào những thời điểm lịch sử khác nhau sẽ có thể có hay không có giá trịtùy thuộc vào chuẩn mực văn hóa của từng giai đoạn Muốn kết luận một hiệntượng, sự vật có thuộc phạm trù văn hóa hay không phải xem xét mối tương quangiữa mức độ “giá trị” và “phi giá trị” của chúng Việc nhận định, đánh giá một nhânvật, một sự kiện hay một hiện tượng, đều đòi hỏi phải có một tư duy biện chứng
“F Engels trong “Chống Đuyrinh” cũng đã từng nói rằng “nếu không có chế độ nô
lệ cổ đại thì không thể có chủ nghĩa xã hội hiện đại”, bởi lẽ nhờ nó tạo ra sự phâncông lao động trên một quy mô rộng lớn mà nền văn minh Hy Lạp được hìnhthành Mà – như F Engels giải thích – “nếu không có cơ sở văn minh Hy Lạp và đếquốc La Mã thì không thể có châu Âu hiện đại được” Áp dụng vào Việt Nam, việcđánh giá chế độ phong kiến, vai trò của Nho giáo, triều đại nhà Hồ, nhà Nguyễn, đều đòi hỏi một tư duy biện chứng như thế” [33, tr 24]
Trang 13nghiệm qua không gian và thời gian trong cộng đồng Truyền thống văn hóa lànhững giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới nhữngkhuôn mẫu xã hội được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian
và thời gian và được cố định hoá dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập qu án, nghi lễ,luật pháp, dư luận,
d) Tính nhân sinh
Văn hóa do con người sáng tạo Nó là một hiện tượng xã hội, là sản phẩmhoạt động thực tiễn của con người Nói cách khác, văn hóa là cái tự nhiên đã đượcbiến đổi dưới tác động của con người, là “phần giao” giữa tự nhiên và con người.Tính chất này cho phép phân biệt văn hóa với những giá trị tự nhiên chưa mang dấu
ấn sáng tạo của con người (như các tài nguyên khoáng sản trong lòng đất như: than
đá, dầu mỏ, kim loại, ) Sự tác động của con người đối với tự nhiên có thể mangtính vật chất (như việc luyện quặng để chế tạo đồ dùng, đẽo gỗ, tạc tượng, làm gốmsứ, ) hoặc mang tính tinh thần (như việc đặt tên, tạo truyền thuyết cho các cảnhquan thiên nhiên: động Phong Nha Kẻ Bàng, núi Ngũ Hành Sơn, hòn Vọng Phu , ).1.1.2.2 Chức năng của văn hóa
a) Chức năng giáo dục
Văn hoá là những chuẩn mực xã hội, là những khuôn mẫu xã hội được tíchluỹ trong quá trình lâu dài của mỗi cộng đồng dân tộc; nó được cố định hoá dướidạng ngôn ngữ, biểu tượng, phong tục tập quán, nghi lễ, luật pháp, đạo đức , Tất
cả những yếu tố trên cấu thành một nền văn hoá nhất định; nó có vai trò quyết địnhtrong việc hình thành nhân cách, lối sống, nếp nghĩ, cách đối nhân xử thế, của cácthành viên trong cộng đồng
Xét về bản chất, văn hoá là nội dung của giáo dục và cũng là mục tiêu c ủagiáo dục Các quốc gia trên thế giới đều coi giáo dục là con đường cơ bản nhất đểgìn giữ và phát triển văn hoá bởi phát triển văn hoá chính là động lực để phát triển
xã hội Với ý nghĩa ấy, UNESCO đã nêu ra 4 trụ cột (mục tiêu, nguyên lý) của nềngiáo dục tương lai cho nhân loại là:
(1) Học để biết
(2) Học để làm
(3) Học để cùng chung sống
Trang 14(4) Học để làm người, học để tự khẳng định mình
Bốn mục tiêu trên đã bao hàm trong nó dường như đầy đủ các thuộc tính củavăn hoá: tri thức, quan hệ, phát triển và hoàn thiện, ý thức về cái bản ngã
Văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị ổn định
là truyền thống văn hóa mà còn bằng cả những giá trị đang hình thành Các giá trịnày tạo thành một hệ thống các chuẩn mực mà con người hướng tớ i Với chức nănggiáo dục, văn hóa tạo nên sự phát triển liên tục của lịch sử mỗi dân tộc cũng nhưlịch sử nhân loại
Đây là chức năng bao trùm nhất, cơ bản nhất và mang tính quyết định Bởinhờ chức năng giáo dục của văn hoá mà con người có thể tồn tại, phát triển, hoànthiện trong trạng thái cân bằng động với thiên nhiên và xã hội
b) Chức năng liên kết xã hội
Cùng với tư cách là một giá trị, văn hoá còn đồng thời là những hình tháihoạt động đặc thù có chức năng liên kết xã hội rất hiệu quả, chẳng hạn:
Lễ hội là nơi gặp gỡ, giao lưu rộng rãi của vùng, miền, quốc gia, Thông qua lễhội, con người ngày càng xích lại gần nhau, đồng cảm với nhau trong cuộc sống hơn
Giỗ, Tết cũng là nơi tụ họp gia đình, gia tộc và hàng xóm láng giềng; nó giúpcho con người có thể bỏ qua những bất hoà để tìm ra tiếng nói chung về huyếtthống hoặc tình làng nghĩa xóm truyền thống
Phong tục tập quán giống như một chất keo gắn bó các thành viên trongcộng đồng với nhau, ở một mức độ nào đó nó còn có khả năng điều tiết hài hoà cácmối quan hệ, góp phần tạo ra sự ổn định cho xã hội
Tín ngưỡng cũng là một hình thái hoạt động góp phần giáo hoá con người rất
có hiệu quả Con người đến với tôn giáo để hướng thiện, phục thiện, hành thiện và
đó chính là động lực hướng con người đến với những hành động tốt đẹp
Có thể nói, tất cả các hình thái hoạt động văn hoá lành mạnh đều có chứcnăng liên kết xã hội và cải tạo con người
c) Chức năng thẩm mỹ
Cùng với nhu cầu hiểu biết, con người còn có nhu cầu hưởng thụ, hướng tớicái đẹp Con người nhào nặn hiện thực theo quy luật của cái đẹp cho nên văn hóaphải có chức năng này Nói cách khác, văn hoá là sự sáng tạo của con người theo
Trang 15quy luật của cái đẹp, trong đó, văn học nghệ thuật là biểu hiện tập trung nhất sựsáng tạo ấy Với tư cách là khách thể của văn hóa, con người tiếp nhận chức năng nàycủa văn hóa và tự thanh lọc mình theo hướng vươn tới cái đẹp và khắc phục cái xấutrong mỗi người.
Như vậy, nói đến văn hoá tức là nói đến cái đẹp Vô cảm trước cái đẹp thìchỉ còn lại thứ đầu óc tỉnh táo tầm thường, nhỏ nhen, ích kỉ
d) Chức năng giải trí
Sống là một quá trình hoạt động liên tục của con người, trong đó dù là hoạtđộng cơ bắp hay hoạt động tinh thần thì sức chịu đựng của con người là có giớihạn Khi đã tới cái giới hạn nào đó thì con người có nhu cầu nghỉ ngơi, vui chơigiải trí để phục hồi sức lao động của mình Nghỉ ngơi thư giãn ở đây không chỉthuần tuý là thả lỏng cơ bắp, mà nó còn là sự thay đổi hình thái hoạt động, đó chính
là hoạt động văn hoá Các hoạt động văn hoá này có nhiều hình thức phong phú , đadạng như: câu lạc bộ, nhà văn hoá, lễ h ội, du lịch, thi đấu thể thao, v.v
Hoạt động giải trí của văn hoá luôn mang ý nghĩa thư giãn về tinh thần, do
đó ngay trong chức năng giải trí nó đã bao hàm cả chức năng giáo dục, chức năngliên kết xã hội,
e) Chức năng dự báo
Bản chất của hoạt động văn hoá là hoạt động trí tuệ, hoạt động sáng tạo; vìvậy trong quá trình hoạt động văn hoá, con người dần dần phát hiện ra những quyluật của tự nhiên, quy luật của xã hội, quy luật của con người Những khám phá đó
mở rộng tầm hiểu biết, khả năng phán đoán, suy luận và trí tưởng tượng của conngười Nhờ các khả năng trên, con người có thể dự báo về thiên nhiên, xã hội, conngười một cách khoa học và xây dựng được các phương án thích ứng cho sự tồn tạicủa chính mình
Những dự báo của văn hoá vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nhân văncao, nó giúp cho con người ngày càng cộng sinh tốt hơn với môi trường tự nhiên vàmôi trường xã hội
Như vậy, văn hoá là hoạt động sáng tạo theo qui luật của cái đẹp, nó tạo nênmột thiên nhiên thứ hai, một môi trường thứ hai nuôi dưỡng con người Với ý nghĩa
đó, văn hoá đồng thời thực hiện nhiều chức năng như là những tác nhân góp phần
Trang 16quan trọng vào việc hình thành, phát triển và hoàn thiện con người văn hoá Conngười văn hoá thường xuyên được các chức năng văn hoá chi phối, điều chỉnh mộtcách vừa tự giác vừa không tự giác Nói cách khác, khi nào con người thoát li khỏicác hoạt động văn hoá tức là khi ấy con người đã tha hoá Tìm hiểu các chức năngcủa văn hoá sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn bản chất của văn hoá và vị trí, vai tròcủa văn hoá trong đời sống xã hội; đặc biệt là tầm văn hoá trong các sáng tác nghệthuật như: văn chương, âm nhạc, hội hoạ, điêu khắc, v.v.
Cách phân chia các chức năng trên của văn hóa chỉ mang tính tương đối Cácchức năng của văn hoá luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau, vì vậy không nêntuyệt đối hoá vai trò của một chức năng nào Có thể, trong những trường hợp cụthể, cần nhấn mạnh chức năng giáo dục bởi nhờ chức năng này, văn hoá tạo nên sựphát triển liên tục của lịch sử nhân loại và lịch sử dân tộc Các chức năng khác làcác phương diện, các lĩnh vực có vai trò cụ thể hoá chức năng giáo dục Hiểu biếtđầy đủ về các chức năng của văn hoá chính là khẳng định mục tiêu cao cả của vănhoá: văn hoá vì con người, vì sự phát triển và hoàn thiện của con người
1.1.3 Giá trị và giá trị văn hóa
Giá trị (Value) là một khái niệm của nhiều bộ môn khoa học khác nhau nhưtoán học, xã hội học, triết học, nghệ thuật, văn hoá học , do vậy trong mỗi bộ mônkhoa học, khái niệm này mang những hàm nghĩa khác nhau
Theo Từ điển Hán – Việt, giá: giá trị quy thành tiền; trị: vật giá Giá trị là có lợiích về một mặt nào đó; là tác dụng, hiệu lực trong một khoảng thời gian nhất định
Giá trị (trong Toán học) là đại lượng có thể thay đổi được
Trong Kinh tế học, giá trị là một khái niệm trừu tượng, là ý nghĩa của sự vậttrên phương diện phù hợp với nhu cầu của con người Giá trị kinh tế của sự vật liênquan mật thiết đến ba mặt chính yếu của nhu cầu là sản xuất, tiêu thụ, sở hữu củachủ thể kinh tế ở bất kỳ cấp bậc nào (cá nhân, công ty, nhà nước, toàn thế giới).Các sự vật có khả năng thỏa mãn nhu cầu con người ở dạng đơn lẻ, riêng biệt,nhưng giá trị của chúng được liên kết lại thành hệ thống thông qua sự tương tác củacác nhu cầu chính yếu nói trên
Thực ra, giá trị là một khái niệm có ngoại diên khá rộng Giá trị là kết quảthẩm định đối tượng trên các thang độ : lợi – hại (giá trị sử dụng), tốt – xấu (giá trị
Trang 17đạo đức), đẹp – xấu (giá trị thẩm mĩ) Giá trị sử dụng có thể cụ thể hoá bằng cácthang độ như: giàu – nghèo (phú), sang – hèn (quí), sống lâu – chết sớm (thọ), khôn– dại (trí),… Giá trị đạo đức có thể cụ thể hóa bằng các phạm trù như trung, hiếu,thảo, hiền, nhân, lễ, nghĩa,… Giá trị thẩm mĩ có thể cụ thể hoá bằng các thang độnhư đẹp – xấu, hay – dở, thích – chê,… Như thế, không chỉ các đồ vật, sách vở, tácphẩm nghệ thuật mới là giá trị, mà cả truyền thống, nếp sống, chuẩn mực, tưtưởng, thiết chế xã hội , biểu trưng, thông tin,… đều là giá trị Không chỉ các sảnphẩm vật chất hay tinh thần mới là giá trị, mà cả các hoạt động, công nghệ, quitrình, phương thức, quan hệ,… đều có thể xác định như các giá trị.
“Giá trị” là khái niệm có độ bao quát rất lớn bởi nó mang tính tương đối.Chủ nghĩa Mác coi giá trị là hiện tượng xã hội đặc thù, là một số biểu hiện của cácquan hệ xã hội và của mặt tiêu chuẩn đánh giá trong ý thức xã hội Mặt tiêu chuẩnđánh giá của ý thức xã hội phản ánh tính chất thế giới quan của ý thức đó, nhưngkhông vạch ra một cách đầy đủ thế giới quan ấy Nói cách khác, không nên quy thếgiới quan vào một quan điểm giá trị nào
Ở góc độ Văn hóa học, giá trị được hiểu theo những ý nghĩa như sau:
Với tư cách là sản phẩm của văn hóa, thuật ngữ giá trị có thể quy vào nhữngmối quan tâm, thích thú, những ưa thích, những sở thích, những bổn phận, nhữngtrách nhiệm, những ước muốn, những nhu cầu, những ác cảm, những lôi cuốn vànhiều hình thái khác nữa của đị nh hướng lựa chọn Khó có một xác định nào mô tảđầy đủ phạm vi và tính đa dạng của những hiện tượng giá trị được thừa nhận Khoahọc xã hội coi giá trị như những quan niệm về cái đáng mong muốn ảnh hưởng tớihành vi lựa chọn Trong cách nhìn rộng rãi hơn thì bất cứ cái gì tốt, xấu đều là giátrị hay giá trị là điều quan tâm của chủ thể Giá trị là cái mà ta cho là đáng có, mà tathích, ta cho là quan trọng để hướng dẫn cho hành động của ta
Giá trị cũng như tập quán, chuẩn mực, tri thức đều là sản phẩm của quátrình tư duy, sản xuất tinh thần của con người, nó là yếu tố cốt lõi nhất của văn hoá.Giá trị, giá trị văn hoá là một hình thái của đời sống tinh thần, nó phản ánh và kếttinh đời sống văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của con người Cho nên, quanđiểm cho rằng văn hoá hay giá trị văn hoá chỉ là lĩnh vực đời sống tinh thần thôi thìchưa thật thoả đáng
Trang 18Giá trị, trước nhất là hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của conngười về tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng những cái gì là cần, là tốt, làhay, là đẹp, nói cách khác đó chính là những cái được con người cho là chân, thiện,
mỹ, giúp khẳng định và nâng cao bản chất người Do vậy, giá trị văn hoá nói ở đây
là giá trị xã hội, nó gắn bó mật thiết với hoạt động sống của con người, sự tồn t ại vàphát triển của mỗi xã hội
Giá trị văn hoá (Cultural Value) do con người trong mỗi xã hội sáng tạo ratrong quá trình lịch sử, nhưng một khi hệ giá trị văn hoá đã hình thành thì nó lại
có vai trò định hướng cho các mục tiêu, phương thức và hành động của con ngườitrong các xã hội ấy Như thế, khi nói bản chất của giá trị hay nói tới vai trò địnhhướng, chi phối, điều tiết của hệ giá trị thì về thực chất chúng ta đang nói tới mốiquan hệ đa chiều của con người Cũng như văn hoá, giá trị được sản sinh t ừ các mốiquan hệ con người với tự nhiên, với xã hội
Giá trị văn hoá của mỗi cộng đồng (tộc người, quốc gia, ) bao giờ cũng tạonên một hệ thống, với ý nghĩa là các giá trị ấy nảy sinh, tồn tại trong sự liên hệ, tácđộng hữu cơ với nhau Chúng ta nói hệ giá trị hay bảng giá trị văn hoá của mỗicộng đồng thì thường hàm hai ý nghĩa: Thứ nhất, c ác giá trị riêng lẻ liên kết nhautạo nên một hệ thống các giá trị; thứ hai, c ó sự sắp đặt trước sau, độ nhấn về tầmquan trọng của từng nhân tố giá trị trong một bảng giá trị Ví dụ, với người ViệtNam thì chủ nghĩa yêu nước là nhân tố hàng đầu trong bảng (hệ) giá trị dân tộc,nhưng với người Nhật Bản hay một số dân tộc khác thì có thể chủ nghĩa yêu nướclại được xếp ở các vị trí khác, Thường thì nhiều dân tộc đều có chung những giá trị,như yêu nước, cần cù, tính cộng đồng , tuy nhiên, trong từng hệ giá trị của mỗi dântộc thì việc xếp đặt thứ tự ưu tiên, độ nhấn của từng yếu tố giá trị ấy trong bảng giá trịthì có thể khác nhau
Tóm lại, giá trị là những gì mà qua đó thành viên của một nền văn hóa xácđịnh điều gì là đáng mong muốn và không đáng mong muốn, tốt hay không tốt, đẹphay xấu Trong một xã hội, các thành viên đều xây dựng quan điểm riêng về bảnthân mình và về thế giới dựa trên những giá trị văn hóa Trong quá trình trưởngthành, con người học hỏi từ gia đình, nhà trường, tôn giáo, giao tiếp xã hội vàthông qua đó xác định nên suy nghĩ và hành động như thế nào theo những giá trị
Trang 19của nền văn hóa Giá trị là sự đánh giá trên quan điểm văn hóa nên khác nhau ởtừng cá nhân nhưng trong một nền văn hóa, thậm chí có những giá trị mà đại đa sốcác thành viên trong nhiều nền văn hóa đều thừa nhận và có xu hướng trường tồnnhư tự do, bình đẳng, bác ái, hạnh phúc Giá trị cũng luôn luôn thay đổi và ngoàixung đột về giá trị giữa các cá nhân hoặc các nhóm trong xã hội, trong chính bản thântừng cá nhân cũng có xung đột về giá trị chẳng hạn như giữa thành công của cá nhânmình với tinh thần cộng đồng.
1.2 Văn hóa Chămpa ở tỉnh Bình Định
1.2.1 Khái quát lịch sử Chămpa giai đoạn Vijaya – Bình Định
Vào cuối thế kỷ X đầu thế kỷ XI, dân tộc Chămpa đã dời đô từ Sinhappura(Quảng Nam) về Vijaya (Bình Định) Ngoài sự phát triển tự thân của dân tộcChămpa ra, lúc đó ở phía Bắc dân tộc Việt (kinh) sau gần X thế kỷ chống phongkiến phương Bắc đã giành độc lập và bắt đầu tạo sức mạnh để giữ nền độc lập dântộc Phía Nam, đế quốc Khmer ra đời từ những thế kỷ trước đến giai đoạn này trởnên cường thịnh dưới vương triều Suryavarmanr I luôn tìm cách mở rộng lãnh thổ
về vùng đất phía nam của dân tộc Chămpa Có lẽ vì những lý do đó, dân tộcChămpa đã dời đô về vùng đất trung tâm của vương quốc là Vijaya để thuận lợihơn trong việc quản lý và bảo vệ cả hai miền đất phía Bắc và phía Nam của mình.Việc dời đô từ cuối thế kỷ X đến thế kỷ XI đã mở đầu thời kỳ mới của dân tộcChămpa mà các nhà nghiên cứu gọi là thời kỳ Vijaya
Thời kỳ Vijaya bắt đầu từ thế kỷ XI và kết thúc vào cuối thế kỷ XV vớinhiều triều đại và nhiều bước thăng trầm Có thể khái quát thời kỳ Vijaya củavương quốc Chămpa như sau:
Với vị trí nằm giữa vùng đất người Chămpa quản lý, châu Vijaya sớm cómặt và ổn định Khi kinh đô của vương quốc được dời về đây, vùng đất này đã trởthành trung tâm của đất nước và thăng trầm theo đất nước Chămpa
Từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XIII, mặc dù vùng đô mới của người Chămpamới được xác lập, nhưng nhà Lý đã hai lần tiến quân vào Vijaya (năm 1044 và năm1069), một phần đất phía Bắc của dân tộc Chămpa sáp nhập vào lãnh thổ chung củadân tộc Việt Từ đầu thế kỷ XII đến đầu thế kỷ XIII là cuộc đấu tranh gần 100 nămbảo vệ độc lập của dân tộc Chămpa chống đế quốc Khmer Trong cuộc đấu tranh
Trang 20này đã có lúc vùng đất Vijaya bị sáp nhập vào đế quốc Khmer thành bộ phận thuộcmột tỉnh của vương quốc này Mãi đến đầu thế kỷ XIII, nhà nước Chămpa mới dần
ổn định và phát triển Nhưng những năm cuối của thế kỷ XIII, người Chămpa phảisát cánh cùng người Việt tiến hành kháng chiến chống sự bành trướng của đế quốcNguyên – Mông xuống phương Nam
Thế kỷ XIV là giai đoạn phát triển cực thịnh của nhà nước Chămpa Tronggiai đoạn này, dân tộc Chămpa có quan hệ khăng khít với dân tộc Việt mà đỉnh cao
là cuộc hôn nhân giữa công chúa Huyền Trân đời nhà Trần với vua Jayavaman.Cuối thế kỷ XIV, nhà nước Chămpa phát triển đến cực thịnh, đã ba lần tiến quânvào đại phá kinh thành Thăng Long của nước Đại Việt Đến thế kỷ XV là thời gianchiến tranh liên miên nhằm giành quyền quản lý lãnh thổ, dẫn đến việc đánh chiếmVijaya chấm dứt vào năm 1471
Với bề dày gần 5 thế kỷ, là trung tâm kinh tế, chính trị của dân tộc Chămpa,trải qua sự quản lý của nhiều triều đại và chịu đựng những bước thăng trầm của xãhội, nhưng bằng sự khéo léo của mình, người Chămpa tận dụng điều kiện tự nhiênthuận lợi đã kiến tạo, xây dựng lại đất nước Sáng tạo đó đã khẳng định bản sắc vănhóa của dân tộc mình bằng những công trình được xây dựng; tạo nên văn hóaChămpa rực rỡ trong lịch sử Qua những bước thăng trầm của lịch sử, vùng đấtVijaya với vai trò trung tâm của nó, mỗi khi có điều kiện bùng lên sức sống mới,với những cung điện, thành quách được xây dựng, nhiều đền tháp xuất hiện, cácngành sản xuất thủ công, các lễ hội, lại được trỗi dậy tạo nên gương mặt mới, đadạng, phong phú, đã để lại dấu ấn trên mảnh đất Bình Định ngày nay
1.2.2 Những giá trị đặc trưng của văn hóa Chămpa
1.2.2.1 Di tích lịch sử - văn hóa
Theo các sử liệu thì trong quá trình trị vì đất nước, các triều đại Chămpa cổ
đã cho xây dựng khá nhiều đền đài, nhưng trải qua nhiều thời gian đấu tranh tồn tại,cộng thêm sự tàn phá của thiên nhiên, chiến tranh, con người ,… cho đến nay trênvùng cư trú xưa của họ chỉ còn lại một số dạng kiến trúc đền đài là các tháp BìnhĐịnh là trung tâm văn hóa chính trị lớn thứ hai của Chămpa Với 8 cụm di tích thápvới 14 tháp trải trên ba huyện và một thành phố: Tây Sơn, An Nhơn, Tuy Phước vàQuy Nhơn Các cụm tháp ở tỉnh duyên hải miền Trung này có các đặc điểm được
Trang 21xây dựng cách nhau không xa và xoay quanh thành Đồ Bàn (nay là thành Hoàng
Đế ở Nhơn Hậu, An Nhơn)
Niên đại của các tháp Chăm được xác định là từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIII Với vị thế là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tộc người Chăm kéo dài 5 thế
kỷ (XI – XV), cho đến nay, các di tích văn hóa Chăm còn lại ở Bình Định vô cùngphong phú về loại hình, chất liệu, kích cỡ, tạo ra một giá trị đặc sắc trong dòngchảy của lịch sử văn hóa Để tạo nên bản sắc riêng của văn hóa Chăm ở Bình Định,
có thể nói nhờ hai yếu tố: Một là, yếu tố truyền thống của văn hóa Chăm được xâydựng, phát triển trên một ngàn năm từ t ín ngưỡng bản địa của người Chăm kết hợpvới sự hội nhập của văn hóa Ấn Độ Hai là, yếu tố văn hóa bên ngoài ảnh hưởngđến văn hóa Chăm trong giai đoạn lịch sử này Cùng với lát cắt lịch sử của thời kỳVijaya (Bình Định), trong khu vực này nhiều tộc người đã xây dựng nên bản sắcvăn hóa riêng độc đáo Đặc biệt, hai nền văn hóa gần gũi như văn hóa Thăng Longcủa Đại Việt (Lý – Trần) và văn hóa Khơme (Ăngko Vát – Ăngko Thom) đã ảnhhưởng mạnh mẽ đến sự hình thành một phong cách nghệ thuật trong các di tích vă nhóa Chăm ở Bình Định Sự ảnh hưởng của văn hóa Đại Việt thể hiện qua các mốigiao lưu văn hóa diễn ra trong suốt thời kỳ Lý – Trần mà đỉnh cao của nó là sự liênminh chống quân Nguyên xâm lược vào cuối thế kỷ XIII và cuộc hôn nhân giữacông chúa nhà Trần Huyền Trân với vua Chămpa Chế Mân (Jaya Vacrman II) Sựảnh hưởng của văn hóa Khơme là hằng số, bởi hai nền văn hóa này có nguồn gốccùng chịu ảnh hưởng từ văn hóa Ấn Độ Đặc biệt hơn, trong thời kỳ Vijaya, ngườiChăm đã nhiều lần tiến quân vào đất Khơme và thủ đô ĂngKo (người Khơme đãbiến vùng đất này thành thuộc địa của đế quốc Ăng Ko khoảng cuối thế kỷ XII đầuthế kỷ XIII) Họ đã tiếp thu văn hóa, ảnh hưởng lẫn nhau khá sâu đậm
Có nhiều tháp đẹp được tìm thấy ở thủ đô cổ này như: Tháp Bạc (còn gọi làtháp Bánh Ít) tọa lạc tại xã Nhơn Hòa, huyện An Nhơn, cụm tháp này được xâydựng vào thế kỉ thứ XI trên một ngọn đồi cao, nên từ xa trông rất hùng vĩ; thápBình Lâm tọa lạc tại thôn Bình Lâm, xã Phước Hoà, huyện Trung Phước, được xâydựng vào thế kỉ thứ XI; tháp Cánh Tiên còn gọi là tháp Đồng hay tháp con Gáiđược xây dựng vào thế kỉ thứ XII tọa lạc tại thôn Nhơn Hậu, huyện An Nhơn;tháp Phú Lốc - còn gọi là Tháp Vàng được xây dựng thế kỉ thứ XII thuộc xã Nhơn
Trang 22Thận, huyện An Nhơn; tháp Thủ Thiện tọa lạc tại xã Thủ Thiện, huyện Tây Sơn,được xây dựng vào thế kỉ XII; Tháp Dương Long (còn gọi là Tháp Ngà) gồm 3ngọn tháp đẹp nhất của khu vực Bình Định, chạm trổ rất độc đáo được xây dựngvào thế kỉ XII; v.v.
Ngoài ra, mang đậm dấu ấn văn hóa Chămpa còn có di tích Thành cổ ĐồBàn nằm ở phía bắc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, tọa lạc trên đất các thôn NamTân, Bắc Thuận và Bá Canh của xã Nhơn Hậu Đồ Bàn là kinh đô của vương quốcChămpa, vốn tên là Vijaya, được xây dựng từ năm 1000 Trong các sử liệu thườngphiên âm là Đồ Bàn, Xà Bàn, Trà Bàn hay Chà Bàn
1.2.2.2 Tín ngưỡng, tôn giáo
Có thể nói tín ngưỡng của người Chăm phong phú và đa dạng, là bộ phậncấu thành nền văn hóa Chămpa, nó thấm đượm và tiềm ẩn trong các loại hình nghệthuật, nó chi phối sâu sắc trong cộng đồng và tồn tại dưới nhiều hình thức khácnhau: tín ngưỡng sơ khai, tín ngưỡng liên quan đến thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡngliên quan đến sản xuất nông nghiệp, lễ nghi vòng đời người Dù cuộc sống hiện đạithay đổi khá nhiều song hiện nay trong đời sống người Chăm vẫn tồn tại hình thức
tô tem giáo Tín ngưỡng ấy được thể hiện trong các lễ nghi liên quan đ ến vòng đờingười như lễ cúng đứ a trẻ mới sinh, đám cưới, đám tang, ; lễ nghi liên quan đếncúng tế nông nghiệp như cúng thần lúa (Yang Sri), lễ xuống cày, Cùng với cácnghi lễ đó, người Chăm tôn thờ các vị thần sông, thần núi, thần mặt trời, thần đất,
Tôn giáo chính của người Chăm là Ấn Độ giáo, và nền văn hóa Chăm cũngchịu ảnh hưởng sâu sắc của văn minh Ấn Độ Ấn Độ giáo ở Chămpa chủ yếu là Si-
va giáo, tức là đạo thờ thần Shiva và có ảnh hưởng của các yếu tố tôn giáo bản địanhư thờ nữ thần Đất Yan Po Nagar Biểu tượng chính của tôn giáo Si-va của ngườiChăm là linga, mukhalinga, jatalinga, linga chia tầng và kosa
Linga (hay còn gọi là lingam) là một cột trụ có hình dương vật đại diện choShiva Các vua Chăm thường xuyên dựng và cúng các linga bằng đá để thờ ở trungtâm các đền tháp của hoàng gia Tên mà vua Chăm đặt cho một linga sẽ bao gồmtên của nhà vua và đuôi "-esvara," tức là Shiva
Mukhalinga là một linga mà trên đó có vẽ hoặc chạm hình ảnh Shiva dướidạng hình người hay hình khuôn mặt
Trang 23Jatalinga là một linga mà trên đó chạm phong cách điển hình của Shiva làkiểu tóc búi.
Linga phân tầng là một cột linga chia làm ba phần đại diện cho ba thể củathượng đế trong Ấn giáo: phần dưới cùng, là một khối hình lập phương, tượngtrưng cho Brahma; phần ở giữa, là một hình lăng trụ tám mặt, đại diện cho Vishnu;
và phần trên cùng, có hình tròn, đại diện cho Shiva
Kosa là một khối kim loại hình trụ được sử dụng để che phủ cho linga Việchiến tế một kosa để trang trí cho linga là một nét đặc trưng độc đáo của đạo Si-vacủa người Chăm Các vua Chăm thường đặt tên cho các kosa đặc biệt cũng theocách họ tự đặt tên cho các linga
Việc Ấn giáo là một tôn giáo chiếm ưu thế của người Chăm bị gián đoạn từthế kỷ 9 đến thế kỷ 10 khi triều đại Indrapura (Đồng Dương ở tỉnh QuảngNam ngày nay) theo Phật giáo Đại thừa Phong cách nghệ thuật Phật giáo Chămpathời Đồng Dương được công nhận là một trong những phong cách độc đáo
Từ thế kỷ X, Ấn Độ giáo lại trở thành tôn giáo chính của Chăm Pa Một sốnơi vẫn còn lưu giữ những công trình tôn giáo và cũng là các công trình kiến trúc
và nghệ thuật của thời kỳ này như Mỹ Sơn, Khương Mỹ, Trà Kiệu, Chánh Lộ vàTháp Mẫm
Hồi giáo bắt đầu xâm nhập vào Chămpa từ sau thế kỷ thứ 10, nhưng chỉ saunăm 1471 thì ảnh hưởng của Hồi giáo mới rõ nét Vào thế kỷ thứ 17 thì hoàng giaChăm đã theo đạo Hồi và cũng từ đó phần lớn người Chăm bắt đầu theo đạo này,
và khi vùng đất này bị sáp nhập vào Việt Nam thì phần lớn người Chăm ở đây đãtheo đạo Hồi Phần lớn người Chăm đều là người Hồi giáo và cũng giống nhưngười Java ở Indonesia, họ còn chịu nhiều ảnh hưởng của Ấn giáo
1.2.2.3 Lễ hội
Lễ hội Chămpa có cơ cấu đa dạng và phong phú, thể hiện ở tất cả các loạihình: Lễ hội tôn giáo tín ngưỡng, lễ hội dân gian, lễ hội nông nghiệp, lễ hội lịchsử… lễ hội là một hình thức sinh hoạt cộng đồng hội tụ tương đối đầy đủ những giátrị văn hóa tinh thần Chămpa
Lễ hội Ka tê là lễ hội dân gian đặc sắc nhất của đồng bào Chăm cũng như cưdân các địa phương có di tích Chăm, không phân biệt tộc người Đây là dịp để toàn
Trang 24cộng đồng tưởng nhớ các vị anh hùng, danh nhân dân tộc có công khai phá xứ sởlập nghiệp tổ tông Đó là nữ thần Pô Nưgar, các vị có công lớn trong phát triểnnông nghiệp như Pô Klong Girai, Pô Rôme, Pô Dâm, Pô Sah Inư Cơ hội nguyệncầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, gia đình hạnh phúc Đây còn là dịp
để đồng bào Chăm, đồng bào Kinh, đồng bào Raglai giao lưu thân thiện, thắt chặtthêm mối tình đoàn kết vốn có giữa các dân tộc Có lễ chỉ thực sự đẫm mình trongkhông khí ngày hội mới cảm nhận được những giá trị nhân văn cao cả từ trong disản và con người Chămpa
Lễ hội Chămpa còn là hình thức bảo lưu rất hữu hiệu những di sản nghệthuật truyền thống Trong lễ hội cộng đồng không bao giờ thiếu vắng sự tham giadiễn tấu của các loại nhạc cụ, các giai điệu múa tập thể, múa đơn, múa kép (nhưmúa quạt, múa khăn, múa đội nước, thậm chí cả múa voi, múa hát lý vãi chài…) vàcác trò diễn xướng dân gian (thể hiện bằng những hình thức kể, có động tác múa,kết hợp với âm nhạc) Ở một số làng Chăm còn tổ chức thi đấu các trò chơi truyềnthống, thể thao, văn nghệ, triễn lãm các sản phẩm làng nghề, hội thi thợ giỏi…dường như toàn bộ di sản văn hóa nghệ thuật cũng như nhân tài, vật lực đã đượchình thức hóa, được huy động, được đào luyện và bảo lưu thông qua các hoạt động
lễ hội
1.2.2.4 Kiến trúc, điêu khắc
Qua những di tích đền đài mà người Chăm để lại dọc dãy đất miền trungViệt Nam, các nhà nghiên cứu đánh giá là người Chăm đã đạt tới trình độ cao vềnghệ thuật kiến trúc Vào thế kỉ thứ VII, người Chăm đã biết xây tháp mà hôm naynhững nhà khoa học trên thế giới vẫn thán phục và đặt nhiều câu hỏi xung quanhnghệ thuật kiến trúc này Trước hết là về vật lý: tại sao, vào thời điểm chưa có côngthức của Newton mà người Chăm lại xây được tháp khá đồ sộ mà không bị lún haylệch? Họ đã sử dụng công thức vật lý nào khác? Về hóa học các tháp được xâybằng gạch nung chín nhưng không vữa để làm chất kết dính, như thế thì ngườiChăm đã dùng chất gì thay thế? Về kỹ thuật, những viên gạch được đúc với kỹthuật cao: rất trơn láng, rắn chắc, và đặc biệt là chống được sự bào mòn c ủa gióbiển Đó là một kỹ thuật đặc sắc mà hôm nay chúng ta vẫn chưa tìm ra cách đúcviên gạch chịu đựng được hàng thế kỉ đối với thời tiết khắc nghiệt của duyên hải
Trang 25miền Trung Về nghệ thuật xây tháp, các tháp Chăm được đánh giá ngang hàng vớicác di tích Angkor của Campuchia hay các đền tháp khác của Đông Nam Á.
Khác hẳn phong cách điêu khắc Ấn Độ và điêu khắc Khmer, điêu khắcChăm Pa vươn tới sự hoành tráng, sự lột tả thần thái của hình tượng và chủ đề bằngcách tạo ra ấn tượng chính cho từng tác phẩm, chứ không đi vào trần thuật, tả thực.Kiến trúc Chăm, do vậy không phải là cái nền cho những hình chạm khắc dày đặcthể hiện những câu chuyện thần thoại trong tôn giáo Ấn Độ, mà được tôn vinh bởinhững hình chạm được cách điệu chắt lọc từ những hoa văn họa tiết (dây lá và xoắnốc), hình học và hình tượng cô đọng Vẻ đẹp tháp Chăm là vẻ đẹp ấn tượng, thànhkính, trang nghiêm và mang chiều sâu trí tuệ Đặc biệt là sự trung thành từ đầu đếncuối với chất liệu gạch, đá trong kỹ thuật xây dựng và nghệ thuật chạm khắc đếnnay vẫn còn là một điều bí ẩn Hơn một thiên niên kỷ đã đi qua, màu g ạch của thápkhông hề phai nhạt, vẫn hài hòa với các hình chạm khắc sắc sảo, sáng rõ Đền thápChăm là mẫu hình tháp gạch chuẩn mực hiếm có, là di sản văn hóa một đi khôngtrở lại của thế giới
Cùng với nền điêu khắc của người Khmer v à người Java, nền điêu khắcChămpa là một trong ba nền điêu khắc chịu ảnh hưởng của Ấn Độ đạt tới tầm cỡthế giới Tuy ảnh hưởng nhiều từ nền điêu khắc Ấn Độ, Java và Khmer nhưng điêukhắc Chămpa vẫn có những tính độc đáo riêng Xu thế hướng tới tượng tròn củahầu như tất cả các hình chạm khắc dưới dạng phù điêu, trong điêu khắc C hămpa rất
ít có khung cảnh chung mà nhấ n mạnh vào từng hình tượng, ví dụ như bức phùđiêu tiên nữ Apsara đang múa được tìm thấy ở Trà Kiệu thể hiện bàn tay to, cánhtay cong Chính vì thế nghệ thuật điêu khắc của Chămpa mang tính ấn tượng nhiềuhơn là tả thực, tính ấn tượng có thể nói là đặc đi ểm quan trọng tạo nên vẻ đẹp độcđáo của nghệ thuật điêu khắc cổ Chămp a
1.2.2.5 Văn hóa ẩm thực và trang phục
a) Ẩm thực
Văn hóa ẩm thực người Chăm có thể khái quát theo công thức: cơm muối,thịt gà; cơm canh (thường nấu với thịt dê, thịt gà, thịt trâu với cây bạc hà); cơm rau(thường là các loại rau hái ở rừng, ven sông, đồng ruộng như: bắp chuối, thân câychuối non, măng, lá lốt, lá dang, v.v.); cơm nắm (mắm cái và nước mắm) và bánh:
Trang 26bánh tét (thường theo mô hình hình trụ – Linga, hình chữ nhật – Yoni); bánh ít(thường làm bằng bột gạo bên trong có nhân dừa hoặc các loại đậu); bánh chàkun(làm bằng bột gạo hấp ăn với nước đường hoặc canh thịt dê) và đặc biệt là bánhSakaya (thường làm bằng tr ứng sống rồi hấp chín) đây là món ăn cao quý trong các
lễ hội Chăm, không thể thiếu trong các bữa tiệc quan trọng của người Chăm – mộtloại bánh đặc trung cho văn hóa ẩm thực Chămpa Kỹ thuật chế biến thức ăn Chămchủ yếu là luộc, nướng, rang và hấp
Phụ nữ Chăm có trang phục giống như phụ nữ Mã Lai: Áo dại không xẻ tà
và được chui qua đầu lúc mặc, mang váy (khơn) trắng, đội khơn hluh hoặc khănnhjrơm truyền thống Áo dài truyền thống không nắn eo như áo dài hiện nay Sở dĩ
có việc nắn eo này là do ảnh hưởng áo dài người Kinh
Các chức sắc thuộc tôn giáo Bàni thì mang áo dài trắng, khăn trắng và đầuchít khăn trắng có viền đỏ Các chức sắc Bàlamôn cũng mang y phục trắng tươngtựa như chức sắc Bàni, nhưng có khác hơn ở một vài đặc điểm, nhất là cách gài nútlại ở phía hông bên phải (chứ không ở khoảng giữa như các chức sắc Bàni)
Nam giới thì mặc áo tương tựa như áo bà ba, nhưng có cổ cao, nút thắt, xẻ tà
và không có túi, mặc chăn (khơn) trắng, đầu chít khăn trắng có đăng ten (brwei)hoặc khăn màu (đối với bô lão)
Đối với người Chăm Nam bộ, trang phục phụ nữ cũng như Nam giới đã phảichịu ảnh hưởng sâu đậm của phong cách và văn hóa Ả Rập, trong lúc Chăm H’roilại bị lai căng phần nào với trang phục Bana
1.2.2.6 Chữ viết và văn học nghệ thuật
a) Ngôn ngữ – chữ viết
Tiếng Chăm thuộc ngữ hệ Nam đảo, là thứ tiếng hiện nay một số dân tộcthiểu số ở Việt Nam đang dùng: Giarai, Êđê, Churu, Raglai
Trang 27Tiếng Chăm là thứ ngôn ngữ có văn tự xuấ t hiện sớm nhất ở Đông Nam Á.
Ở cuối thế kỉ thứ II, người ta tìm thấy bia Võ Cạnh ghi bằng chữ Phạn Thế kỉ thứ
IV, bia Đông Yên Châu thuộc hệ thống bia Mĩ Sơn, chữ Chăm cổ đã xuất hiện Sau
đó, hai loại chữ này song hành, có mặt trên các bia; mãi đến thế kỉ thứ VIII chữPhạn mới hết tồn tại Từ trước thế kỉ thứ VII, Chăm cũng đã biết sử dụng văn tự đểghi chép kinh sách và trao đổi thư từ, bằng chứng là vào năm 609, tướng Lưu Phươngcủa nhà Đường đánh Lâm Ấp, cướp đi 1350 bộ kinh Phật viết bằng chữ Chăm
Về chữ viết, đây là thứ chữ ghi âm được vay mượn từ miền Nam Ấn, quanhiều biến thể để trở thành chữ Chăm ngày nay
Có 3 loại chính:
Akhar hayap: gồm các loại chữ khắc trên bia đá
Akhar rik: chữ hoa
Akhar thrah: chữ thông dụng
Akhar thrah có các lối viết khác là: akhar tor (chữ viết tắt), akhar yok (chữkhông có dấu) và akhar galimưng (chữ con nhện, chữ viết thái)
Bộ chữ akhar thrah gồm 2 loại kí hiệu khác nhau về chức năng: chữ cái ( inưkhar) là hạt nhân và chân chữ (takai akharhay pauh) là kí hiệu phụ để ghép vào hầuhoàn thành âm tiết
Bộ chữ akhar thrah gồm 41 chữ cái (35 phụ âm, 6 nguyên âm) và 24 chânchữ Tiếng Chăm là ngôn ngữ đa âm tiết, ít nhất là một âm tiết và nhiều nhất là 4
âm tiết Ví dụ: ba (mang), tangin (tay), jalikauw (ong mật), mưhexara (hoàng đạo).Nhưng phần nhiều các từ từ 3 âm tiết trở lên là từ vay mượn
Hiện nay, chữ Chăm akhar thrah (truyền thống) trong thực tế chỉ có ngườiChăm Ninh thuận và Bình Thuận (khoảng trên 100.000 người) đang sử dụng ChămHroi cũng như Chăm Miền Nam (Chăm Islam) và Chăm Khmer – IslamCampuchia không dùng akhar thrah nữa Chăm H’roi thì dùng kí hiệu Latinh, cònChăm Islam thì dùng kí hiệu A Rập
b) Văn học – nghệ thuật
Văn học Chăm:
Chúng ta phân biệt và tuần tự xem xét các loại văn học sau đây: văn học dângian, văn bia kí, văn học viết
Trang 28Văn học dân gian:
Thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích Theo Inrasara thì có khoảng 100truyện được sưu tầm
Thần thoại: Thần thoại suy nguyên: có Sự tích con gà gáy sáng; Thần thoạilịch sử: như Nữ thần Po Inư Nagar
Truyền thuyết: Truyền thuyết về các nhân vật lịch sử: Ppo Klaung Girai, PpoRome, Ppo Bin Thwơr, Ppo Tang Ahauk….; Truyền thuyết về các di tích lịch sử:
về Ba Tháp (Yang Mưkran), Núi Đá Trắng, Hòn Vọng Phu…
Truyện cổ tích: Truyện cổ tích thần kì: Chàng Lác làm vua, Nàng bàn tay, Kajaung
và Halơk…; Truyện cổ tích sinh hoạt: Trạng Xử Kiện, Anh Khờ, Đi học bán vợ, ;Truyện cổ tích loài vật: Chú thỏ tinh ranh, Hổ và Thỏ, Truyện con gà, Chó và Vịt,
Các môtíp truyện cổ Chăm phong phú và đa dạng, từ kiểu truyện ngườinghèo hoặc xấu xí nhưng lại có tài (Chàng Rít, chàng Khổ), kiểu truyện người cóbiệt tài (Bảy chàng trai khoẻ), kiểu truyện người ngốc nghếch (Thằng Khờ) đếnkiểu truyện vợ chồng chung thuỷ (Đi học bán vợ), kiểu truyện chú thỏ tinh khôn(Hổ, Thỏ, Rái, Gà) kiểu truyện thụ thai sinh con kì lạ ( Cei Dalim),
Các ghi nhận về truyện cổ Chăm: Truyện cổ Chăm có quan hệ với các truyện
Ấn Độ (thần thoại về các thần), quan hệ giao lưu với truyện cổ Việt (nhiều môtíp
và kiểu truyện giống nhau) và phản ánh bản sắc, tính cách và tâm hồn Chăm
Tục ngữ, ca dao (Panwơc yaw, Panwơc Pađit):
Tục ngữ: hơn 1000 câu được sưu tầm, có nội dung về luân lý - đạo đức, hônnhân – gia đình, về kinh nghiệm sản xuất
Ca dao – Đồng dao: Chủ yếu nói về quê hương, tình yêu lứa đôi, lời thanthân trách phận Ca dao thường kết hợp với dân nhạc tạo thành bài dân ca đặc sắc
Trang 29Pwơc jal (hát vãi chài) có 2 dạng: dạng ứng khẩu và dạng có lời sẵn (Pwơcjal ka ikan klơp là dạng có lời sẵn rất nổi tiếng).
Văn bia kí:
Văn bia kí được sáng tác từ thế kỉ IV đến thế kỉ XV bằng cả hai thứ ngônngữ là văn tự Chăm cổ và Sanskrit, có mặt khắp miền duyên hải trung bộ Đến naycác học giả Pháp phát hiện, công bố và dịch gần 200 minh văn trong đó có 25 minhvăn được Lương Ninh chuyển dịch sang tiếng Việt Đây là các sáng tác có giá trị sửhọc, vừa có giá trị văn học cao
Văn học viết: Được phân làm 4 chủng loại:
Akayet (tráng ca hay sử thi):
Deva Mưno: gồm 480 câu thơ theo thể ariya chăm, xuất hiện ở Champa vàothế kỉ XVI Câu chuyện này được vay mượn từ Hikayat Deva Mandu của Mã Lai
Inra Patra: cốt truyện mượn từ Hikayat Indra Putera của Mã Lai được chuyểnthành akayet Chăm vào đầu thế kỉ XVII, gồm 580 câu
Um Mưrup: Sử thi dài 240 câu và là một sáng tác trực tiếp của người Chăm,
mô tả sự xung đột giữa hoàng tử Um Mưrup và triều đình vua cha, cuộc chiến tranhtương tàn giữa người Chăm Bàlamôn giáo và Hồi giáo
Ngoài ra người Chăm còn có hai akayet bằng văn xuôi là Inra SriBakan và Pram Dit Pram Lak có nguồn gốc từ sử thi Ấn Độ
Nhìn chung, tráng ca (akayet) là một trong những dòng văn học viết quantrọng của dân tộc Chăm Dù đa số các tác phẩm được vay mượn từ ngoài, nhưng ngườiChăm biết hoán cải chúng phù hợp với thực tế lịch sử-xã hội của mình Quacác akayet này thể thơ ariya Chăm đã phát triển hoàn chỉnh và tồn tại đến ngày hôm nay
Ariya (trường ca trữ tình):
Ba tác phẩm được được sáng tác vào khoảng thế kỉ XVII – XVIII đã xác lậpthế đứng trong văn học Chăm là Ariya Bini – Cam (350 câu), Ariya Cam –Bini (180 câu) và Ariya Xah Pakei (148 câu) Đây là ba chuyện tình bi đát xảy ravào giai đoạn lịch sử Chămpa buổi suy tàn trong đó xung đột tôn giáo (Bàlamôn –Hồi giáo) được xem là nguyên nhân chính dẫn đến đổ vỡ (các trường ca này đãđược chuyển sang tiếng Việt)
Trang 30Từ thế kỉ XIX trở đi, nhiều câu chuyện tình được sáng tác thành thơ: AriyaMưyut, Ariya Kei Oy… nhưng thời điểm này, các thi phẩm ngắn lại và ngòi bútcủa thi sỉ Chăm cũng kém sắc đi.
Thơ thế sự:
Đó là những sáng tác mô tả các cuộc nổi dậy của nông dân Chăm chống lạiTriều đình nhà Nguyễn, xuất hiện vào khoảng thế kỉ XVIII – XIX gồm: AriyaTwơn Phauw (71 câu), Ariya Kalin Thak Wa (80 câu)
Các tác phẩm về thế thái nhân tình mang tính triết lý và luân lý như: AriyaGlơng Anak (116 câu), Pauh Catwai (132 câu); các tác phẩm du kí: Ariya PpoParơng (208 câu) và cả các sáng tác mang tính sấm kí: Dauh Tơy Lơy, Ar Bingu …
Ngoài ba dòng sáng tác nổi tiếng trên, người Chăm còn có ba gia huấnca: Ariya Patauw Adat kamei (124 câu), Ariya Muk Thruh Palei (115 câu), AriyaPataw Adat likei (79 câu) cùng một số sáng tác triết lý mô tả nhân sinh quan củamình: Ariya Nau Kak (26 câu), Jadar (120 câu)…
Nghệ thuật Chăm:
Âm nhạc:
Người Chăm rất thích âm nhạc Xưa kia, trong các lễ hội lớn nhỏ, trong cuộccúng tế cũng như trong cuộc nhảy múa ở hậu cung, họ đều dùng nhạc hòa theo.Dàn nhạc Chăm hôm nay chỉ gồm trống ginơng, trống baranưng, kèn xaranai,chiêng, lục lạc và đàn kanhi; nhưng trước đây gồm nhiều nhạc cụ có dây, sáo, tù và,chủm chọe bằng đồng và có loại nhạc cụ giống như thụ cầm (harpe) Riêng về cáchđánh trống ginơng, người Chăm đã lưu giữ được trên 70 điệu nhạc rất độc đáo vàhấp dẫn
Nhạc sĩ Amư Nhân đã khai thác vốn âm nhạc cổ Chămpa, viết lên nhiều cakhúc đặc sắc mang âm điệu Chăm, từ đó ông được biết đến Ông Trần Văn Khê,một nhà nghiên cứu âm nhạc cổ bậc thầy tại viện âm nhạc Paris (Pháp) đã nói vớiAmư Nhân: “Anh vào làng âm nhạc mới được 4 năm, nhưng anh chớ tự ti mặccảm, vì anh biết dựa vào vốn âm nhạc cổ dân tộc nên anh đã đứng ngang hàng vớichúng tôi dù chúng tôi đã từng nghiên cứu hơn 30 năm về nhạc cổ Đông Nam Á”.Như vậy, nhiều nhà nghiên cứu đánh giá âm nhạc Chăm rất cao
Trang 31Hội hoạ:
Căn cứ vào những mô típ điêu khắc Chăm trên các bệ thờ và các trang trí chântháp, tường và cửa tháp, chúng ta có thể hình dung được nền hội hoạ của Champatrước đây cũng thuộc mảng nghệ thuật phát triển khá cao Nhìn vào sự sắc nét vàđiêu luyện của các phù điêu cũng như các hoa văn trang trí, người ta đánh giá được
sự thăng hoa của nền hội hoạ Chămpa xưa kia Rất tiếc, tất cả đã thất truyền
Hôm nay, người Chăm chỉ còn giữ lại được qua những đám đình và lễ nghitôn giáo, hai mô típ hội hoạ sau: Một là paning, loại màn vẽ tranh trang trí sinh hoạt
xã hội hay đồng áng rất sinh động mang nặng nhân sinh quan Chăm Bức tranh cónhiều sắc và đường nét rất đặc trưng Chăm để sử dụng làm “phông” trong các lễRija Bức Ciim hơng một loại tranh đặc biệt dùng trong đám tang của người Chămtheo Bàlamôn Ngoài ra chúng ta lấy làm thích thú được chiêm ngưỡng các bứctranh sơn dầu của hoạ sĩ kiêm điêu khắc gia dân tộc Chăm Đàng Năng Thọ đã códịp trưng bày tại Hà Nội Qua các mảng màu rực rỡ và mạnh mẽ trên các tác phẩmcủa anh, người ta nhận ra những dấu ấn rõ nét của hội hoạ Chămpa xa xưa Gầnđây, nữ họa sĩ Chế Kim Trung cũng có những tác phẩm rất độc đáo mang đậm nétbản sắc dân tộc đoạt vài giải thưởng khu vực
1.2.2.7 Luật tục của người Chăm
Luật tục là chuẩn mực của đạo đức, lối sống và nếp sống của người Chăm.Ngoài phong tục, luật tục còn bao gồm cả đạo đức, phép ứng xử Tuy gắn liền vớiđạo đức, phép ứng xử nhưng luật tục khác với lời khuyên, các bài dạy về luân lý,bài bài gia huấn ở chỗ nó có hình thức thưởng phạt, nó được xem như là nhữngchuẩn mực xã hội Như vậy, luật tục là những chuẩn mực được xã hội hóa và đượccác thành viên trong cộng đồng chấp nhận, nhẹ thì phê phán chê cười, từ chối tiếpxúc; cao hơn là khai trừ khỏi cộng đồng, tùy từng trường hợp còn trừng phạt về kinh
tế, chính trị như tước quyền ứng cử, bầu cử, phải nộp phạt, cúng tạ thần linh, đền bùcho người thiệt hại
Luật tục Chăm bên cạnh cơ chế xã hội còn có cơ chế tâm linh, các vị thầnlinh trong tín ngưỡng dân gian hoặc tôn giáo có vai trò quan trọng về nhiều phươngdiện trong luật tục, họ là người nắm giữ mối dây liên kết chặt chẽ giữa người, súcvật, cây cối và thần linh, người nào làm đứt mối quan hệ hài hòa này thì cuộc sống
Trang 32sẽ bị đe dọa Nội dung luật tục Chăm phong phú từ những quy định chung, cáchthức phân xử và phạt vạ; quy định về các loại tài sản; khai hoang đất, quyền sửdụng và kế thừa ruộng đất; tội ăn cắp và gây rối; nguyên tắc chung về hôn nhân;những trường hợp kết hôn trái với luật tục; đa thê, ly hôn; tội loạn luân; v.v.
Luật tục Chăm là phép ứng xử trong các mối quan hệ xã hội trong đó quan
hệ gia đình, hôn nhân rất được quan tâm, nó kịch liệt phản đối và nghiêm khắc vớitội lừa đảo, ăn cắp, Cách phân xử của người Chăm rất chặt chẽ mang tính cộngđồng cao với 3 cấp độ từ gia đình, họ tộc đến làng mang tính dân chủ, thuyết phụctheo lộ trình từ thấp đến cao gắn với sự giáo dục và tự giáo dục, không chú trọngnhiều đến hình phạt vật chất mà chủ yếu nghiêng hẳn về tinh thần, ít quan tâm đến
cơ chế xã hội mà quan tâm nhiều đến cơ chế tâm linh để ngăn ngừa, răn đe và giáodục tội phạm, hướng họ đến cái thiện, làm cho các thành viên trong cộng đồng có ýthức thực hiện và bảo vệ luật tục một cách công minh, bằng cả lương tâm và danh
dự Có thể nói đó là đặc trưng cơ bản của luật tục Chăm
1.3 Tính tất yếu của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Chămpa ởtỉnh Bình Định trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay
1.3.1 Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong mở cửa và hội nhậpquốc tế
Văn hóa khắc họa bản sắc và phương thức tồn tại của một cộng đồng, khiếncộng đồng ấy có một đặc thù riêng Văn hóa mang bản sắc dân tộc và yếu tố dântộc là yếu tố quyết định nhất của một nền văn hóa Bản sắc văn hóa dân tộc làcái "hồn", là sức sống nội sinh, là thẻ “căn cước” của mỗi dân tộc, để phân biệt dântộc này với dân tộc khác Toàn cầu hóa đã và đang tạo nên xu thế hội nhập quốc tếngày càng sâu rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Hội nhập quố c tế tạo nênnhiều cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều thách thức, trong đó có tháchthức về bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc
Qua hàng nghìn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam đã rèn đúc, tôi luyện chomình nhiều phẩm chất tốt đẹp Đó là khả năng chế ngự thiên nhiên, tư duy độc lập,
tự chủ, sáng tạo trong chống giặc ngoại xâm; sự hình thành giá trị văn hóa dân tộcvới tinh thần yêu nước, ý chí độc lập tự cường, tinh thần đoàn kết, ý thức cố kếtcộng đồng, trách nhiệm của cá nhân đối với cộng đồng; lòng nhân ái, sự khoan
Trang 33dung, trọng tình nghĩa, trọng đạo lý, lấy nhân nghĩa làm gố c; coi trọng nhân dân, đềcao vai trò của nhân dân, lấy nhân dân làm gốc; cần cù, khi êm tốn, giản dị trong lốisống, v.v Tất cả tạo nên nhân cách, cốt cách của con người, của dân tộc Việt Nam.
Thế giới ngày càng vận động đến xu hướng hội nhập Ảnh hưởng và giao lưuvăn hóa ngày càng mạnh mẽ Ngày nay chúng ta không thể không tiếp nhận vănhóa thế giới bởi lẽ nếu không tiếp nhận văn hóa thế giới thì tình trạng l ạc hậu, chậmphát triển càng thêm trầm trọng và nặng nề Điện thoại di động, máy vi tính, ti vicũng như rất nhiều những sản phẩm điện tử, công nghệ sinh học, hóa học, lý họcđang tràn ngập thế giới và trở thành những điều không thể thiếu trong đời sống vậ tchất và tinh thần của con người Việt Nam Bên cạnh mặt tốt bởi ích lợi của nó cũngbiểu hiện rất nhiều lo ngại về ảnh hưởng mặt trái của nó Một số biểu hiện cần phảiđược quan tâm suy ngẫm để làm sao những giá trị văn hóa truyền thống mang bảnsắc văn hóa Việt Nam được lưu giữ, bảo tồn và phát huy trong đời sống của conngười Việt Nam
Nghệ thuật văn hóa Việt Nam truyền thống với nhiều thể loại, loại hình hiệnđang bị mai một Sở dĩ những thể loại, loại hình đó tồn tại lâu đời và có sức hấpdẫn mạnh mẽ vì nó là văn hóa được xây dựng trên nền tảng của nền nông nghiệplúa nước Ngày nay khi công nghiệp tác động mạnh mẽ vào đời sống thì các thểloại đó không còn khả năng hấp dẫn, cuốn hút mạnh mẽ Thanh niên ngày nay và
cả tầng lớp trung lưu không thích xem tuồng, chèo, hát ca trù vì tạm gọi là diễn tiếnnghệ thuật lúc nghệ sĩ biểu diễn thường diễn ra chậm trong khi diễn tiến của cuộcsống đã có nhiều ảnh hưởng của nền kinh tế công nghiệp hiện đại Đảng, Nhà nước,
Bộ Văn hóa và những nghệ sĩ, những nhà nghiê n cứu tâm huyết với các loại hìnhvăn hóa truyền thống đang hết sức quan tâm, bảo lưu, giữ gìn và cố gắng phát triểnnhưng cần phải được sự quan tâm của đông đảo các ngành, các cấp và nhân dân thìmong muốn ấy mới có thể thực hiện được
Một số các nhạc cụ rất độc đáo của người Việt Nam đang ít được chú ý bảotồn và phát huy Đàn đá Tây Nguyên, đã một thời tạo được ấn tượng sâu đậm chothính khán giả trong và ngoài nước, hiện nay chỉ có ít người biết sử dụng Các nhạc
cụ độc đáo của đồng bào các dân tộc miền núi cũng có nguy cơ mai một trong bốicảnh nhạc hiện đại tràn lan trong đời sống âm nhạc ngày nay Đô thị hóa nông thôn