1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng trong tập thơ gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi của lưu quang vũ

78 172 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TẦM TÁC ĐỘNG CỦA CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ THEO QUAN HỆ LIÊN TƯỞNG ĐỐI VỚI THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT LƯU QUANG VŨ .... Chính vì những lý do trên đây, với dung lượng của một bài luận văn, chúng tôi c

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

ĐỖ THỊ THẢO

CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ THEO QUAN HỆ LIÊN TƯỞNG TRONG TẬP THƠ “GIÓ

VÀ TÌNH YÊU THỔI TRÊN ĐẤT NƯỚC

TÔI” CỦA LƯU QUANG VŨ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Đà Nẵng, tháng 5/2016

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ THEO QUAN HỆ LIÊN TƯỞNG TRONG TẬP THƠ “GIÓ

VÀ TÌNH YÊU THỔI TRÊN ĐẤT NƯỚC

TÔI” CỦA LƯU QUANG VŨ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi Đỗ Thị Thảo xin cam đoan những nội dung nghiên cứu trong công trình này là của riêng tôi, hoàn toàn chưa có ai công bố Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về những nội dung khoa học và thực tiễn trong khóa luận tốt nghiệp này

Đà Nẵng, tháng 4 năm 2016 Tác giả khóa luận (Ký và ghi rõ họ tên)

Đỗ Thị Thảo

Trang 4

Xin chân thành cảm ơn mọi sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô trong Khoa Ngữ văn, quý thầy cô bộ phận thư viện trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình, chu dáo và khoa học của thầy giáo, TS BÙI TRỌNG NGOÃN đã giúp chúng tôi hoàn thành khóa luận này

Xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn hữu gần xa – những người đã luôn viên, khích lệ và tạo mọi điều kiện giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do năng lực và thời gian có hạn cho nên khóa luận của chúng tôi khó tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để công trình được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Người thực hiện

Đỗ Thị Thảo

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU Tr.1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Bố cục của khóa luận 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 5

1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ THEO QUAN HỆ LIÊN TƯỞNG 5

1.1.1 Các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng trong các giáo trình phong cách học 5

1.1.1.1 Về so sánh tu từ 5

1.1.1.2 Về ẩn dụ tu từ 8

1.1.1.3 Về nhân hóa 8

1.1.1.4 Về phúng dụ 9

1.1.1.5 Về hoán dụ tu từ 10

1.1.2 Tổng hợp của người viết về các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng 11

1.1.2.1 Nhóm so sánh tu từ 12

1.1.2.2 Nhóm ẩn dụ tu từ 13

1.1.2.3 Nhóm hoán dụ tu từ 16

1.1.2.4 Nhóm tượng trưng 17

1.2 GIỚI THIỆU VỀ LƯU QUANG VŨ VÀ TẬP THƠ “GIÓ VÀ TÌNH YÊU THỔI TRÊN ĐẤT NƯỚC TÔI” 18

1.2.1 Giới thiệu về tác giả Lưu Quang Vũ 18

1.2.2 Giới thiệu về tập thơ “Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi” 20

CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ THEO QUAN HỆ LIÊN TƯỞNG TRONG TẬP THƠ “GIÓ VÀ TÌNH YÊU THỔI TRÊN ĐẤT NƯỚC TÔI” 22

Trang 6

2.1 NHÓM SO SÁNH TU TỪ 22

2.1.1 So sánh A như B 22

2.1.2 So sánh A là B 34

2.1.3 So sánh song hành (A Փ B) 36

2.2 NHÓM ẨN DỤ TU TỪ 38

2.2.1 Ẩn dụ chân thực 38

2.2.2 Ẩn dụ bổ sung 40

2.2.3 Ẩn dụ tượng trưng 45

2.2.4 Nhân hóa 46

2.2.5 Vật hóa 53

2.3 NHÓM HOÁN DỤ TU TỪ 52

2.3.1 Hoán dụ cải số 52

2.3.2 Hoán dụ cải dung 54

2.3.3 Hoán dụ cải danh 55

2.3.4 Hoán dụ xây dựng giữa quan hệ giữa bộ phận và toàn thể 57

2.3.5 Hoán dụ xây dựng giữa nguyên nhân và kết quả 57

2.3.6 Hoán dụ xât dựng từ quan hệ giữa vật sở thuộc và chủ thể 57

2.3.7 Hoán dụ xây dựng giữa cụ thể và trừu tượng 58

2.4 NHÓM TƯỢNG TRƯNG 57

CHƯƠNG 3 TẦM TÁC ĐỘNG CỦA CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ THEO QUAN HỆ LIÊN TƯỞNG ĐỐI VỚI THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT LƯU QUANG VŨ 59

3.1 CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ THEO QUAN HỆ LIÊN TƯỞNG ĐÃ LÀM NÊN NGÔN NGỮ THƠ GIÀU TÍNH TẠO HÌNH 59

3.2 CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ THEO QUAN HỆ LIÊN TƯỞNG ĐÃ LÀM NÊN NGÔN NGỮ THƠ GIÀU TÍNH BIỂU CẢM 63

3.3 CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ THEO QUAN HỆ LIÊN TƯỞNG ĐÃ LÀM NÊN MỘT PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT LƯU QUANG VŨ 66

KẾT LUẬN 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghiên cứu tác phẩm trên bình diện ngôn ngữ học là hướng nghiên cứu giúp người đọc nắm được cái hồn cốt sâu sắc nhất của tác phẩm Trong đó phải kể dến việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ Thơ là tiếng nói sâu xa được bộc phát từ trái tim, từ tâm hồn con người Ngôn ngữ trong thơ ca là thứ ngôn ngữ rất tinh tế, rất hàm súc

mà gợi hình gợi cảm Nó đem đến cho người đọc nhiều hơn nhiều lần những gì nhà thơ biểu hiện trên trang giấy Bởi lẽ cho dù cấu tứ thơ hay thể thơ có phóng khoáng đến thế nào đi chăng nữa thì cái lớp vỏ thanh âm bên ngoài vẫn không đủ sức để thể hiện trực tiếp tất cả những cảm xúc, suy nghĩ bên trong của nhà thơ mà nó chỉ có thể ẩn chứa và truyền tải những cảm xúc, suy nghĩ đó đến với bạn đọc thông qua các cách thức, các biện pháp tu từ Vậy nên, hiểu được các biện pháp tu từ thì sẽ giúp người đọc tiếp cận bề sâu và cảm thụ được văn bản nghệ thuật, thấy được cái hay, cái đẹp thật sự của tác phẩm

Trong văn học Việt Nam, nhắc đến Lưu Quang Vũ là nhắc đến một tác giả

đa tài và từng thành công trên nhiều thể loại: kịch, thơ, truyện ngắn, phê bình sân khấu Lưu Quang Vũ mất đi ở tuổi bốn mươi, khi đang ở trên đỉnh cao của sự nghiệp sáng tác với tư cách là nhà biên kịch Nhưng ở độ lùi thời gian chúng ta lại nhớ và nhắc nhiều đến Lưu Quang Vũ với tư cách là một nhà thơ Anh là người làm thơ như một thôi thúc mãnh liệt, làm thơ ngay cả khi không thể đăng báo hay chia

sẻ cùng ai Ngay từ tập thơ đầu tiên in năm 1968 cho đến những vần thơ “viển vông cay đắng u buồn” viết trong những năm chiến tranh, cho đến khi cả gia tài hàng

trăm bài thơ của anh được công bố vào năm 1988, thành tuyển tập thơ Lưu Quang

Vũ – Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi năm 2010, các nhà phê bình văn học đã

tìm thấy ở tác giả này sự quyến rũ của một hồn thơ nồng nàn đắm đuối mà chân thành giản dị Thơ Lưu Quang Vũ đến với bạn đọc và được ưu ái nhiều như vậy bởi

lẽ ngôn ngữ thơ anh dung dị nhưng giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, không vồ vập

Trang 8

nhưng đọng lại sâu sắc, âm vang Nghiên cứu tác phẩm thơ của Lưu Quang Vũ dưới ánh sáng ngôn ngữ học sẽ giúp hiểu rõ hơn về sự thành công của tác giả này

Nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu phê bình đã nghiên cứu và khẳng định tài năng của Lưu Quang Vũ trên cả bình diện kịch sân khấu và thơ ca Nhưng hầu hết các bài nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở góc độ nội dung mà ít lí giải sâu về nghệ thuật biểu hiện

Chính vì những lý do trên đây, với dung lượng của một bài luận văn, chúng

tôi chọn đề tài nghiên cứu Các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng trong tập thơ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi của Lưu Quang Vũ với mong muốn góp

phần đem đến một cách đọc, cách cảm nhận về thơ Lưu Quang Vũ và phần nào giúp khẳng định hơn nữa về tài năng của tác giả này ở địa hạt thơ ca

2 Lịch sử vấn đề

Lưu Quang Vũ được giới văn nghệ cũng như cả nước biết tới với tập thơ in

chung với Bằng Việt “Hương cây – Bếp lửa” (1968), sau đó là “Mây trắng của đời tôi” (1989), “Bầy ong trong đêm sâu” (1993) và một số tập thơ đã tương đối hoàn chỉnh “Cuốn sách xếp lầm trang”, “Cỏ tóc tiên”, … Những tác phẩm thơ của Lưu

Quang Vũ đã sớm gây được sự chú ý trong lòng bạn đọc và giới phê bình nói chung Theo đó, rất nhiều nhà phê bình đã đánh giá, nhận định về thơ Lưu Quang

Vũ dưới nhiều góc nhìn, cả nội dung lẫn về hình thức nghệ thuật Trong cuốn Lưu Quang Vũ Di Cảo Nhật kí – thơ do Lưu Khánh Thơ tuyển soạn (2008), tác giả Anh

Chi với tư cách là một người bạn thơ, đã khẳng định về tài năng của Lưu Quang Vũ:

“Nói đến tài năng thì Lưu Quang Vũ có nhiều Anh rất tinh nhậy trong cảm thụ sự sống quanh mình, có thể nó là anh quá nhạy cảm trước sự đời Anh là nhà thơ tư duy bằng cảm xúc, những ý thơ hình thành ngay trong xúc cảm, hình ảnh và ngôn ngữ thơ tràn chảy lên trang viết cho đến khi ngưng lại là xong bài thơ (…) hầu hết các bài thơ của anh, ta thấy rất ít sự sắp xếp bố cục, mỗi bài thơ là một chỉnh thể tự

nhiên, như trái cây mọc lên tự nhiên.” [13, tr.329] Tuyển tập Lưu Quang Vũ tài năng và lao động nghệ thuật do Lưu Khánh Thơ sưu tầm và biên soạn (2001) đã

giới thiệu được những bài viết, dánh giá của nhiều tác giả từ nhiều góc độ Vũ Quần

Trang 9

Phương nhấn mạnh rằng: “Những năm cuối đời, Lưu Quang Vũ được đông đảo công chúng mến mộ với tư cách là nhà viết kịch Sự cống hiến của anh cho sân khấu đáng được ghi nhận Nhưng đọc hết các bản thảo anh để lại, tôi thấy thơ mới

là nới anh ký thác nhiều nhất và tôi tin nhiều bài thơ của anh sẽ thắng được thời gian.” [14, tr.3], Vũ Quần Phương còn nhận xét: “Lưu Quang Vũ đắm đuối không chỉ ở cách nói, ở thủ pháp diễn đạt mà còn ở cách cảm thụ đời sống của anh Anh cảm thụ bằng cảm giác Vốn nhạy cảm, anh nắm bắt thực tại bằng giác quan tinh tế

và phong phú Tôi có ấn tượng chính cảm giác là hạt nhân đầu tiên của cảm hứng thơ Lưu Quang Vũ Cảm giác gọi những ý thơ tuôn chảy Tứ thơ như tự hình thành trong quá trình cảm thụ Đọc thơ Lưu Quang Vũ ít thấy dấu vết của bố cục, cảm hứng liền dòng ào ạt, đầy ắp hình ảnh, ảnh thực và ảnh ảo, hiện thực và tưởng tượng, sách vở và đời sống hòa quyện thúc đẩy nhau trong các câu thơ dồn dập (…) Anh viết như trong một cơn say, như sự nhập đồng bất chấp sự cực đoan và phi

lý trong chi Thế giới trong thơ anh là thế giới của tưởng tượng Giàu tưởng tượng nên mới mê đắm, mới thành đắm đuối.” [14, tr.37] Tương tự như vậy, nhhà phê bình Hoài Thanh đánh giá Lưu Quang Vũ là một cây bút nhiều triển vọng: “Cảm xúc suy nghĩ của anh thường nhuần nhị, lời thơ thường nhuần nhị Ý có khi mượn chỗ này chỗ nọ nhưng giọng thì đúng là giọng của anh Nghe phảng phất như ca dao mà không phải ca dao Rất dễ sáo mà vì chân tình nên không sáo Ngôn ngữ nắm rất chắc Chữ dùng chính xác mà uyển chuyển, rất Việt Nam Không dễ mà nói được gọn, nói được nhiều và nói đúng những điều khó nói.” [14, tr.19] Tuy sinh

thời nổi tiếng với các tác phẩm kịch, được biết đến nhiều bởi kịch nhưng thơ của Lưu Quang Vũ được bạn đọc đánh giá cao Nguyễn Thị Minh Thái cũng khẳng

định: “Trong tính cách sáng tạo của con người tài hoa trẻ tuổi Lưu Quang Vũ thì Thơ là hồn cốt thâm hậu nhất chứ không phải là kịch nghê, báo chí, văn xuôi hay hội họa – những mảnh đất mà chàng đã từng thử nghiệm, gieo trồng và gặt hái Thơ chính là nơi ẩn náu cuối chốt của chàng thi sĩ buồn này Thơ với Lưu Quang Vũ là tất cả sự hàm ơn và trang trải riêng tư của tâm hồn chàng với đời sống.”[14, tr.92]

Trang 10

Bên cạnh đó chắc hẳn vẫn còn rất nhiều bài viết với những ý kiến, những phát hiện khác nhau tùy thuộc vào góc độ soi chiếu của từng tác giả về thơ Lưu

Quang Vũ Tuyển thơ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi được đánh giá là tuyển

tập thơ đầy đủ, công phu và kỹ lưỡng nhất về Lưu Quang Vũ cho đến nay Chính vì vậy, khảo sát về các biện pháp tu từ trong tập thơ này sẽ là đề tài góp phần đem đến một cách lí giải thêm, đầy đủ hơn về thơ Lưu Quang Vũ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng ngôn ngữ thơ ca

- Phạm vi nghiên cứu: văn bản nghệ thuật Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi của Lưu Quang Vũ xuất bản năm 2010 của Nhà xuất bản Hội nhà văn

4 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp chủ yếu

- Phương pháp thống kê, khảo sát, định lượng và định tính

- Phương pháp phân tích, khái quát hóa

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

5 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của khóa luận được chúng tôi triển khai qua 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Khảo sát các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng trong tập thơ

“Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi”

Chương 3: Tầm tác động của các biện pháp liên tưởng đối với thế giới nghệ thuật của Lưu Quang Vũ

Trang 11

Cù Đình Tú là người phân chia các biện pháp tu từ thành hai loại theo quan

hệ liên tưởng và theo quan hệ tổ hợp Ông sắp xếp các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng thành các nhóm: so ánh tu từ, ẩn dụ tu từ, nhân hóa, phúng dụ, tượng trưng tu từ

Các giáo trình Phong cách học như: Phong cách học tiếng Việt - Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguễn Thái Hòa (1982), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt - Cù Đình Tú (1983), Phong cách học tiếng Việt - Đinh Trọng Lạc (1999), Phong cách học tiếng Việt hiện đại - Hữu Đạt (1999), Phong cách học tiếng Việt - Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2013) và cuốn 99 Phương tiện và Biện pháp tu từ tiếng Việt - Đinh Trọng Lạc (2005) cùng với Sổ tay các biện pháp tu từ ngữ nghĩa tiếng Việt - Nguyễn Khánh Hà (2011) đều đã có những bàn bạc và đóng

góp nhất định về các nhóm tu từ thuộc biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng như

đã nêu ở trên Cụ thể như sau:

1.1.1.1 Về so sánh tu từ

Hầu hết các giáo trình và các sách đã kể trên đều có những định nghĩa về so sánh tu từ giống nhau và đều lưu ý về việc phân biệt giữa so sánh tu từ và so sánh luận lí (so sánh lôgic) Theo đó, so sánh tu từ khác so sánh luận lí về loại và mục đích so sánh Ở so sánh luận lí, cái được so sánh (A) và cái dùng để so sánh (B) là các đối tượng cùng loại và mục đích so sánh là xác lập sự tương đương giữa hai đối tượng Ở so sánh tu từ, A và B là hai đối tượng khác loại và mục đích của phép so sánh là nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng

Về xác định cấu trúc chung và phân loại so sánh tu từ lại có những điểm

Trang 12

khác nhau ở các tác giả:

(1) Giáo trình Phong cách học tiếng Việt của nhóm Võ Bình, Lê Anh Hiền,

Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa (1982) và cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt của Cù Đình Tú xuất bản sau đó (1983) đã trình bày cấu trúc so sánh theo

các công thức sau:

- A như (tựa như, chừng như,…) B

Đôi ta làm bạn thong dong Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng (CD)

- A bao nhiêu B bấy nhiêu

Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu (CD)

- A là B

Nhân dân là bể

Văn nghệ là thuyền (Tố Hữu)

(Trong đó: A = vế được so sánh, B = vế so sánh)

(2) Giáo trình Phong cách học tiếng Việt hiện đại của Hữu Đạt (1999) xác

định mô hình khái quát của phép so sánh là: A – X – B (A: là cái chưa biết được đem ra so sánh, B: là cái đã biết đem ra để so sánh, X: là phương tiện so sánh được biểu hiện bằng các từ: như, giống như, là, như là, tựa như, tựa hồ, hệt như, bằng, hơn, kém… ) Hữu Đạt không phân chia các kiểu so sánh tu từ theo cách của nhóm

- So sánh bậc cao nhất (bật tuyệt đối)

Tuy nhiên, Hữu Đạt không phân tích về các kiểu dạng mà chỉ trình bày vài ví cho các kiểu dạng đã nêu Trong đó có những ví dụ nghiêng về so sánh logic, chẳng hạn như ở dạng so sánh hơn – kém ông nêu ví dụ như sau:

Trang 13

- Thủy Hử cũng hay nhưng kém Tam Quốc và Đông Chu Liệt Quốc

(Nam Cao – Đôi mắt) Cách trình bày như vậy có phần chưa hợp lí

Trong sách Sổ tay các biện pháp tu từ ngữ nghĩa tiếng Việt (2011), Nguyễn

Khánh Hà cũng có cách phân loại tương đối giống Hữu Đạt nhưng chỉ chia thành

hai loại: “so sánh ngang bằng (cười như nắc nẻ, rách như tổ đỉa,…); so sánh không ngang bằng (bà con xa không bằng láng giềng gần, áo rách khéo vá hơn lành vụng may,…)” [4, tr.13]

(4) Đinh Trọng Lạc ở Giáo trình Phong cách học tiếng Việt của (1999) xác

định mô hình cấu tạo hoàn chỉnh của so sánh tu từ gồm bốn yếu tố: 1 – Yếu tố được hoặc bị so sánh, 2 – Yếu tố chỉ tính chất của sự vật hay trạng thái của hoạt động, 3 – Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh, 3 – Yếu tố được đưa ra làm chuẩn để so sánh

Đinh Trọng Lạc – Nguyễn Thái Hòa (Giáo trình Phong cách học tiếng Việt,

2013) xác định hình thức đầy đủ nhất của phép so sánh tu từ gồm bốn yếu tố như sau:

Gái

Các chóp mái

Lòng ta

có chồng đều lượn rập rờn

vẫn vững

như như

như

gông đeo cổ

các nếp sóng bạc đầu (Nguyễn Tuân)kiềng ba chân (Tố Hữu)

Tùy từng trường hợp mà có thể đảo trật tự so sánh, hoặc bớt một số yếu tố trong mô hình trên và cứ một kiểu biến thể sẽ làm thành một kiểu so sánh tu từ: Đảo ngược trật tự so sánh, bớt cơ sở so sánh, bớt từ so sánh, thêm “bao nhiêu … bấy nhiêu”, dùng “là” làm từ so sánh

Như vậy, cách phân chia các dạng thức, kiểu loại so sánh tu từ vẫn chưa nhất quán ở các giáo trình

1.1.1.2 Về ẩn dụ tu từ

Ngoại trừ Hữu Đạt trong Phong cách học tiếng Việt hiện đại (1999) chưa nêu

rõ về cơ chế chuyển nghĩa ẩn dụ và nét giống nhau giữa ẩn dụ tu từ và so sánh tu từ

Trang 14

(chỉ nêu: “ẩn dụ là kiểu so sánh không nói thẳng ra” [3, tr.344]) thì phần trình bày

về biện pháp tu từ ẩn dụ ở các giáo trình khác đã chỉ ra điểm giống và khác nhau giữa ẩn dụ và so sánh, cho rằng ẩn dụ là so sánh ngầm

Cách phân loại các kiểu ẩn dụ tu từ có phần khác nhau giữa các giáo trình

(1) Nếu như giáo trình Phong cách học tiếng Việt của nhóm Võ Bình và cộng

sự (1982) phân chia ẩn dụ thành bốn loại là: Lấy cái cụ thể biểu thị cái cụ thể; Lấy cái cụ thể biểu thị cái trừu tượng; Lấy cái trừu tượng biểu thị cái cụ thể; Lấy cái trừu tượng biểu thị cái trừu tượng thì Cù Đình Tú (1983) cho rằng cách phân chia đó không phù hợp, và ông phân chia lại các loại: Tương đồng về màu sắc; Tương đồng

về tính chất; Tương đồng về trạng thái; Tương đồng về hành động; Tương đồng về

cơ cấu

(2) Đinh Trọng Lạc (1999) phân chia các loại ẩn dụ tu từ gồm ẩn dụ chân thực, ẩn dụ bổ sung, nhân hóa, vật hóa, phúng dụ và cải danh Sau đó, năm 2013, sách xuất bản lại cùng với Nguyễn Thái Hòa đã xếp cải danh vào nhóm hoán dụ tu

từ

(3) Nguyễn Khánh Hà (2011) chia ẩn dụ thành bốn kiểu: Ẩn dụ hình thức, ẩn

dụ cách thức, ẩn dụ phẩm chất, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác

1.1.1.3 Về nhân hóa

định nhân hóa là một kiểu ẩn dụ và gọi là “ẩn dụ nhân hóa”: “Ẩn dụ nhân hóa là kiểu ẩn dụ được xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa người và vật Cụ thể, đó là phép ẩn dụ được hình thành trên cơ sở chuyển nghĩa giữa trường về con người và trường về sự vật.” [3, tr.347]

“Ẩn dụ nhân hóa bao gồm hai khía cạnh có quan hệ biện chứng:

- Gán cho vật, đồ vật những hành động, cảm nghĩ như con người

- Gán cho con người những hành động, cảm nghĩ như vật, đồ vật.” [3, tr.348]

Các giáo trình đều chia nhân hóa gồm hai loại:

- Dùng những từ chỉ tính chất, hoạt động của con người để biểu thị những tính chất, hoạt động của đối tượng không phải người

Trang 15

- Coi các đối tượng không phải người là con người và tâm tình, trò chuyện với chúng

Khía cạnh thứ hai của ẩn dụ nhân hóa như Hữu Đạt chỉ ra được Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa, Bùi Trọng Ngoãn gọi

là vật hóa: “Người ta còn dùng một hình thức di chuyển thuộc tính và hành động ngược chiều lại với nhân hóa, đó là vật hóa Trong cách vật hóa, người ta chuyển đổi các từ ngữ chỉ thuộc tính, hoạt động của loài vật, đồ vật sang biểu thị các thuộc tính và hoạt động của con người.” [1, tr.292]

1.1.1.4 Về phúng dụ

Theo Cù Đình Tú, phúng dụ là cách tổ chức các hình ảnh sinh động cụ thể để biểu thị một ý niệm về triết lý nhân sinh dựa trên cơ sở liên tưởng nét giống nhau giữa hình ảnh sinh động cụ thể và ý niệm về triết lý nhân sinh

Về mặt hình thức, phúng dụ được cấu tạo như một ẩn dụ tu từ nghĩa là chỉ có một vế, vế biểu hiện trực tiếp Song phúng dụ khác với ẩn dụ tu từ về mặt cấu tạo nội dung

Về mặt cấu tạo nội dung, ẩn dụ tu từ chỉ có một nghĩa còn phúng dụ luôn luôn bao hàm 2 ý nghĩa: ý nghĩa bề mặt (tức ý nghĩa trực tiếp) và ý nghĩa bề sâu (tức ý nghĩa gián tiếp)

Ý nghĩa bề mặt là trực tiếp, xuất hiện qua những hình ảnh miêu tả sinh động

và cụ thể Ý nghĩa bề sâu là gián tiếp, được rút nha nhờ sự liên tưởng nét giống nhau giữa hình ảnh sinh động cụ thể và ý niệm về triết lý nhân sinh Như vậy trong phúng dụ, ý nghĩa bề mặt chỉ là phương tiện biểu đạt còn ý nghĩa bề sâu mới là mục đích biểu đạt

Do cơ chế của phúng dụ không đơn giản, do chức năng chủ yếu của phúng

dụ là nhận thức thông qua hình tượng nên phúng dụ chỉ được dùng hạn chế trong phong cách ngôn ngữ văn chương

Các giáo trình và sách văn phạm khác đều có những giải thích tương tự như trên về phúng dụ Đối với đề tài này chúng tôi không khảo sát trên đối tượng là phúng dụ

Trang 16

1.1.1.5 Về hoán dụ tu từ

Cách giải thích và phân chia các kiểu loại hoán dụ tu từ cơ bản là giống nhau

ở các giáo trình và các sách văn phạm Duy chỉ có trường hợp Đinh Trọng Lạc (1999) xếp “Cải danh” thuộc nhóm ẩn dụ tu từ sau đó đã xếp lại thuộc nhóm hoán

dụ tu từ (2013) Chúng tôi cho rằng cải danh thuộc nhóm hoán dụ xây dựng trên quan hệ giữa vật chứa và vật bị chứa Nhóm tu từ này sẽ trình ở mục 1.1.2 bày trên

cơ sở tổng hợp và thống nhất các quan niệm về hoán dụ tu từ để tiện cho người đọc theo dõi

1.1.1.6 Về tượng trưng

Hầu hết các giáo trình phong cách học đều thống nhất tượng trưng là những

ẩn dụ và hoán dụ tu từ đã trở thành quen thuộc, mang tính ước lệ, có tính xã hội hóa

Giáo trình của Võ Bình và cộng sự (1982), giáo trình của Cù Đình Tú (1983)

đã đưa tra điểm phân biệt giữa tượng trưng với ẩn dụ và hoán dụ tu từ: “Về mặt cấu tạo nội dung, tượng trưng được xây dựng trên cơ sở của mối quan hệ liên tưởng tương đồng hoặc lô-gich khách quan Về mặt nguồn gốc, tượng trưng được hình thành từ các ẩn dụ tu từ và các hoán dụ tu từ Song ẩn dụ tu từ và hoán dụ tu từ thuộc loại phương tiện biểu đạt còn giữ nguyên dấu ấn của cá nhân, khi tách ra khỏi văn cảnh, nó không còn giá trị biểu hiện nữa Cách tu từ tượng trưng trái lại mang tính ước lệ xã hội, do vậy tách ra khỏi văn cảnh nó vẫn còn giá trị biểu hiện Tuy nhiên tượng trưng không giống những từ ngữ có ghi trong từ điển vì sự hiểu biết về tượng trưng là một sự hiểu biết có tính chất văn hóa – văn học.” [1, tr.304]

Giáo trình Phong cách học tiếng Việt của Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa xuất bản năm 2013 không xếp tượng trưng tu từ thành một nhóm riêng: “Tượng trưng là phép chuyển nghĩa dựa vào những ẩn dụ và hoán dụ được dùng đến mức là

hễ nói đến vật đó là tự ta có thể suy ra chính xác điều được nói đến Vì vậy, tượng trưng không xếp thành một nhóm riêng biệt.” [8, tr.208]

Về trường hợp này, chúng tôi thống nhất theo quan điểm xếp tượng trưng vào một nhóm riêng

Trang 17

1.1.2 Tổng hợp của người viết về các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng

Quan niệm về các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng của Cù Đình Tú đã khá chi tiết, rõ ràng, tuy nhiên chúng tôi chưa thống nhất một số điểm như sau:

(1) là, ở phần phân loại các kiểu so sánh tu từ, Cù Đình Tú nêu kiểu so sánh

“A bao nhiêu B bấy nhiêu” theo Bùi Trọng Ngoãn là chưa thật chính xác mà phải là

“B bao nhiêu A bấy nhiêu” Về trường hợp này, chúng tôi thống nhất quan điểm gọi

tên kiểu so sánh là “B bao nhiêu A bấy nhiêu”, bởi lẽ khi dùng bao nhiêu và bấy nhiêu làm từ so sánh thì đối tượng được so sánh ở đây, cái cần tập trung chú ý tới ở

đây chính là vế đứng sau Chẳng hạn:

Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu

Điều cần chú ý tới không phải là “đình” hay “ngói” mà chính là tình cảm của

cô gái đối với chàng trai Cũng tương tự như câu:

Qua cầu ngả nón trông cầu Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu

(2) là, đối với các kiểu loại nhân hóa, vật hóa, phúng dụ, chúng tôi cho rằng nên xếp vào chung nhóm ẩn dụ tu từ vì có cùng chung cơ chế chuyển nghĩa là ẩn

dụ

Ở bài viết này, chúng tôi quyết định chọn lọc, thống nhất các quan điểm trên

và hiệu chỉnh một số điểm như vừa phân tích để hình thành những nét cơ bản sau về các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng Theo đó, các biện pháp tu từ theo quan

hệ liên tưởng được sắp xếp lại như sau:

1.1.2.1 Nhóm so sánh tu từ

a Khái niệm: So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu các đối tượng khác

loại có cùng nét giống nhau nào đó nhằm diễn tả một cách có hình ảnh và biểu cảm đặc điểm của một đối tượng

Ví dụ:

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa

Trang 18

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa

(Chế Lan Viên)

Ở dạng đầy đủ nhất, so sánh tu từ có cấu trúc như sau: cái được so sánh – cơ

sở so sánh – từ chức năng – cái dùng để so sánh

Tuy nhiên để giản tiện hơn có thể qui các hình thức so sánh vào mô hình

A (cái được so sánh) như B (cái dùng để so sánh)

b Các kiểu so sánh tu từ

(1) Kiểu phổ quát nhất: A như (tựa như, như là) B (2) Kiểu “A là B”

(3) Kiểu so sánh song hành: A Փ B (4) Kiểu “B bao nhiêu A bấy nhiêu”

c Giá trị phong cách: So sánh tu từ được dùng rộng rãi trong các kiểu

phong cách Đây là một biện pháp rất hiệu quả để miêu tả các đối tượng, sự vật Nhờ các hình ảnh dùng để so sánh mà các ý tưởng, các yếu tố trừu tượng được cụ thể hóa và trở nên gợi cảm

1.1.2.2 Nhóm ẩn dụ tu từ

a Khái niệm: Ẩn dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi của đối tượng

này để biểu thị đối tượng kia trên cơ sở liên tưởng về những nét tương đồng giữa hai đối tượng.Ví dụ:

Hoa chanh nở giữa vườn chanh Thầy u mình với chúng mình chân quê Hôm qua em đi tỉnh về

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều

(Chân quê – Nguyễn Bính) Trong ẩn dụ tu từ cũng có hai yếu tố là cái được ẩn dụ và cái dùng để ẩn dụ Nhưng trên bề mặt ngôn bản, cái được ẩn dụ không xuất hiện trực tiếp Do đó ẩn dụ còn được gọi là so sánh ngầm

b Các kiểu ẩn dụ tu từ

Trang 19

Cơ sở để tạo nên ẩn dụ là những nét tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng, hoạt động, trạng thái, cảm giác Vì thế, có bao nhiêu khả năng tương đồng sẽ có bấy nhiêu khả năng cấu tạo ẩn dụ Sau đây là các loại ẩn dụ tu từ chủ yếu:

(1) Ẩn dụ chân thực: là những ẩn dụ được cấu tạo bằng sự so sánh ngầm

những nét tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng

Ví dụ:

Con sông kia bên lở bên bồi Một con cá lội biết mấy người buông câu

(Ca dao) Trong hoàn cảnh giao tiếp khác nhau, các hình ảnh một con cá lội, mấy người buông câu sẽ có những ý nghĩa ẩn dụ khác nhau Trong ý nghĩa chung nhất hai hình ảnh này ẩn dụ cho mối lợi và những người câu lợi

Quá trình liên tưởng bị quy định bởi cách cảm cách nghĩ của một dân tộc tức

là bị quy định bởi những đặc trưng văn hóa Vì thế có những ẩn dụ không thể giải thích được cơ cấu tổ chức của nó mà chỉ có thể xác định được ý nghĩa lâm thời của

nó trong từng ngôn bản cụ thể, như trường hợp câu ca dao:

Gió đưa cây cải về trời Rau răm ở lại chịu lời đắng cay

(2) Ẩn dụ bổ sung (ẩn dụ chuyển đổi cảm giác): là sự thay thế một cảm giác

này bằng một cảm giác khác khi nhận thức và diễn đạt bằng ngôn ngữ

Chẳng hạn trong giao tiếp hằng ngày ta vẫn thường nghe “thấy nóng”, “thấy lạnh”, “thấy thơm”, “thấy đói cồn cào”, “lời nói ngọt ngào”, “giọng nói ấm áp”,

“tiếng cười giòn tan” … Hoặc “màu cánh trả”, “màu cánh sen”, “màu lông chuột”, “màu cháo lòng”…

Trong văn chương, ẩn dụ bổ sung được sử dụng khá phổ biến và tạo ra một hiệu quả nghệ thuật rõ rệt

Tiếng ghita nâu bầu trời cô gái ấy tiếng ghita lá xanh biết mấy

Trang 20

tiếng ghita tròn bọt nước vỡ tan tiếng ghita ròng ròng máu chảy

(Thanh Thảo)

(3) Ẩn dụ tượng trưng: là những ẩn dụ có tính chất tượng trưng, mang ý

nghĩa biểu tượng

Ví dụ: Đất nước Việt Nam chìm trong bóng đêm kéo dài hàng thế kỉ bỗng dưng bừng lên buổi bình minh của thời đại (Lê Duẫn)

(4) Nhân hóa và vật hóa: Nhân hóa và vật hóa thực chất là những ẩn dụ được

xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa con người với thế giới sự vật xung quanh

Theo quan niệm truyền thống, nhân hóa là cách lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người để biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng không phải con người khiến cho đối tượng đó trở nên sinh động hơn, gần gũi hơn

Chẳng hạn trong ngôn ngữ hàng ngày ta vẫn thường nghe: “cửa cổng kêu rống lên”, “lúa chín quá giấc”, “na mở mắt”, “đá đổ mồ hôi”, “lúa đang thì con gái”…

Dựa vào cách cấu tạo có thể phân chia nhân hóa thành hai loại:

- Miêu tả đối tượng trong những đặc điểm, tính chất, hoạt động của con người

- Coi đối tượng không phải con người như con người và đối thoại tâm tình với chúng

(5) Phúng dụ: Phúng dụ là một biến thể của ẩn dụ; trong đó người ta dùng

hình ảnh cụ thể, sinh động để biểu thị một triết lí nhân sinh hay một bài học luân lí đạo đức nhằm làm cho nội dung vấn đề thâm thúy hơn

Ví dụ:

Con cò chết rũ trên cây

Cò con mở sách xem ngày làm ma

Cà cuống uống rượu la đà Chim ri ríu rít bò ra lấy phần (Ca dao)

Có thể phân biệt phúng dụ với ẩn dụ qua các đặc điểm sau:

Trang 21

(i) Nếu ẩn dụ chỉ diễn ra ở những hình ảnh có tính đơn lẻ, riêng biệt thông qua một từ hay một cụm từ trong câu thì phúng dụ diễn ra với hàng loạt hình ảnh được tổ chức thành hệ thống trong văn bản (vì thế phúng dụ được coi là ẩn dụ toàn phần)

(ii) Nếu ẩn dụ có thể xuất hiện trong nhiều phong cách ngôn ngữ thì phúng

dụ chỉ có mặt trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Phúng dụ là phương tiện tu từ không thể thiếu của thể loại ngụ ngôn (Trê cóc, con cáo và chùm nho…) Phúng dụ cũng là phương tiện của những bài ca dao ứng xử đạo lí (“Trong đầm gì đẹp bằng sen”, “Con cò mà đi ăn đêm”) Chức năng chủ yếu của phúng dụ là nhận thức

* Lưu ý: Ở bài viết này chúng tôi không khảo sát trên đối tượng là phúng dụ

1.1.2.3 Nhóm hoán dụ tu từ

a Khái niệm: Hoán dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi của đối

tượng này gọi tên đối tượng kia dựa vào mối quan hệ logic khách quan giữa hai đối tượng, nhằm nhấn mạnh đặc điểm của đối tượng đang được thể hiện

Ví dụ:

Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu Trái tim lần lỡ để trên đầu

(Tố Hữu)

Ở đây “trái tim” là để chỉ tình cảm, “đầu” được dùng theo nghĩa lí trí

Về mặt cấu tạo, hoán dụ tu từ cũng có hai yếu tố là cái được hoán dụ và cái dùng để hoán dụ Nhưng trên bề mặt ngôn ngữ, cái được hoán dụ không xuất hiện trực tiếp

b Các loại hoán dụ tu từ chủ yếu

Cơ sở để tạo nên hoán dụ tu từ là quan hệ logic khách quan, quan hệ tiếp cận giữa các sự vật, hiện tượng, trạng thái, cảm giác Vì thế có bao nhiêu mối quan hệ

sẽ có bấy nhiêu khả năng cấu tạo hoán dụ tu từ Sau đây là các loại hoán dụ tu từ

quen thuộc:

(1) Cải số, tức là hoán dụ theo quan hệ giữa số lượng với số lượng (2) Cải dung, tức là hoán dụ theo quan hệ giữa sự vật và vật bị chứa

Trang 22

(3) Cải danh, tức là hoán dụ theo quan hệ giữa danh từ riêng và danh

từ chung

(4) Hoán dụ xây dựng từ quan hệ giữa bộ phận với toàn thể

(5) Hoán dụ xây dựng từ quan hệ giữa vật sở thuộc với chủ thể

(6) Hoán dụ xây dựng giữa nguyên nhân và kết quả

c Giá trị phong cách: Hoán dụ được dùng nhiều trong khẩu ngữ và trong

ngôn ngữ văn chương

1.1.2.4 Nhóm tượng trưng

a Khái niệm: Tượng trưng là những ẩn dụ, hoán dụ có tính chất ước lệ, xã

hội, ý nghĩa của nó phần nào đã được cố định hóa

Chẳng hạn trong phạm vi phổ quát, hiện nay màu đỏ tượng trưng cho sự đấu tranh, màu xanh tượng trưng cho hòa bình, màu trắng tượng trưng cho sự tinh khiết… Hay trong ca dao, “con cò” tượng trưng cho những người tầng lớp thấp bé, vất vả, lam lũ (và thường là phụ nữ)

- Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non

- Con cò mà đi ăn đêm…

Tính ước lệ là đặc điểm phân biệt giữa tượng trưng với ẩn dụ và hoán dụ Rời khỏi ngữ cảnh các tượng trưng vẫn được xác định, vẫn quen thuộc với mọi người Chẳng hạn cái cân tượng trưng cho công lí, thanh gươm tượng trưng cho sự trừng phạt, bánh mì và hoa hồng tượng trưng cho vật chất và tinh thần

b Phân loại

(1) Tượng trưng có nguồn gốc là ẩn dụ

Con cò ăn bãi rau răm Đắng cay chịu vậy than rằng cùng ai

(2) Tượng trưng có nguồn gốc là hoán dụ

Đứng lên thân cò thân rơm Búa liềm không sợ súng gươm bạo tàn

Trang 23

c Giá trị phong cách: Chức năng chủ yếu của tượng trưng là nhận thức và

biểu cảm Hình thức tu từ này được dùng nhiều trong ngôn ngữ nghệ thuật

Có thể thấy các phương tiện tu từ ngữ nghĩa được cấu tạo theo quan hệ liên tưởng Nếu so sánh, ẩn sụ, nhân hóa và vật hóa, phúng dụ là liên tưởng tương đồng thì hoán dụ là liên tưởng tiếp cận

Mặt khác có thể qui chúng vào hai dạng là lo sánh tu từ và các dạng còn lại Nếu so là sự công khai đối chiếu trên bề mặt ngôn bản đồng thời xuất hiện hai yếu

tố cái được so sánh và cái dùng để so sánh thì ở các dạng còn lại là sự liên hệ ngầm

và trên bề mặt ngôn bản chỉ xuất hiện yếu tố cái dùng để biểu đạt Cơ chế chung của

ẩn dụ và hoán dụ là sự chuyển nghĩa và thay đổi trường nghĩa

1.2 GIỚI THIỆU VỀ LƯU QUANG VŨ VÀ TẬP THƠ GIÓ VÀ TÌNH YÊU THỔI TRÊN ĐẤT NƯỚC TÔI

1.2.1 Giới thiệu về tác giả Lưu Quang Vũ

Lưu Quang Vũ sinh ngày 17/04/1948 tại Phú Thọ nhưng quê gốc ở Đà Nẵng Suốt cuộc đời Lưu Quang Vũ sống và gắn bó với Hà Nội Anh đã bộc lộ năng khiếu văn học nghệ thuật từ thuở còn bé, thuộc loại nhà thơ bẩm sinh Ngay từ hồi còn là một cậu bé tiểu học, Lưu Quang Vũ đã làm thơ và bạn bè, thầy cô và những con vật xung quanh mình

Lưu Quang Vũ là nhà thơ trưởng thành trong hiện thực đời sống những năm chống Mỹ cùng với các gương mặt trẻ khác như: Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Lê Anh Xuân, Phạm Tiến Duật, Vũ Quần Phương, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy, Thanh Thảo… Ngọn lửa chiến tranh cách mạng đã rèn luyện cho họ một bản lĩnh vững vàng trong cuộc sống và nghệ thuật Trong sự thống nhất chung cao độ của một thế hệ nhà thơ chống Mỹ trẻ trung, khỏe khoắn, trong sáng đầy tự tin, thơ Lưu Quang Vũ có một giọng điệu riêng không thể lẫn Lưu Quang Vũ luôn thường trực

ý thức về sự sáng tạo, về việc tìm kiếm con đường nghệ thuật và cảm xúc trong thơ

Dù là về dân tộc, về đất nước hay về chuyện cuộc đời truân chuyên của chính mình cũng luôn là những cảm xúc tha thiết, đầy lắng đọng với những dòng thơ “không che giấu sự thật lòng mình.”

Trang 24

Năm 17 tuổi, Lưu Quang Vũ nhập ngũ, được biên chế về binh chủng phòng không không quân Đây là giai đoạn có những thay đổi lớn trong cuộc đời Vũ Anh

làm rất nhiều thơ Chùm thơ đầu được in trên tạp chí Văn nghệ với ba bài thơ: Gửi tới các anh, Lá bưởi lá chanh, Đêm hành quân Lưu Quang Vũ nhanh chóng được

biết đến với tư cách là một nhà thơ trẻ tài năng, xuất hiện trên văn đàn với tập thơ

“Hương cây” in chung với Bằng Việt trong tập “Hương cây – Bếp lửa”

Năm 1970, Lưu Quang Vũ xuất ngũ, tuy gặp phải nhiều trắc trở trong cuộc sống nhưng anh vẫn tiếp tục viết truyện và làm thơ

Năm 1973 (sau khi ly hôn với Tố Uyên), Lưu Quang Vũ kết hôn với nhà thơ Xuân Quỳnh Gắn bó cuộc đời với Xuân Quỳnh - một người bạn đời và cũng là người bạn thơ cùng nhau vượt qua mọi khó khăn, gian khổ và xác định hướng đi đúng cho cuộc đời mình

Năm 1978, Lưu Quang Vũ làm biên tập ở Tạp chí sân khấu Đến năm 1979,

cuốn Diễn viên và sân khấu của Lưu Quang Vũ (in chung với Xuân Quỳnh và Vương Trí Nhàn) được xuất bản Cũng trong năm này, kịch bản đầu tay Sống mãi tuổi 17 của anh ra đời và được nhà hát tuổi trẻ dàn dựng, tham gia hội diễn sân khấu

toàn quốc được trao giải Huy chương vàng Những năm tiếp theo, Vũ đã có những bước đi phi thường trong lĩnh vực sân khấu

Ngày 29/8/1988, Lưu Quang Vũ đột ngột qua đời trong một tai nạn xe hơi đáng tiếc cùng vợ và con trai Lưu Quỳnh Thơ

Lưu Quang Vũ ra đi đã để lại một sự nghiệp đồ sộ, bao gồm:

- Thơ

1 Hương cây – Bếp lửa – tập thơ (in chung), Nxb Văn học 1968

2 Mây trắng của đời tôi – tập thơ, Nxb Tác phẩm mới 1989

3 Bầy ong trong đêm sâu – tập thơ, Nxb Tác phẩm mới 1993

Anh có 12 tập thơ đã được đặt tên, có cả những tập thơ đã hoàn chỉnh: Cuốn sách xếp lầm trang, Cỏ tóc tiên… và những tập thơ còn dang dở Anh có hơn 20

sáng tác thơ và anh cũng dành rất nhiều trù liệu cho thơ Ngay từ đầu xuất hiện trên văn đàn, anh đã được đánh giá là một nhà thơ trẻ có nhiều triển vọng Thơ là nơi

Trang 25

anh kí thác nhiều nhất, với thơ anh đã có một giọng điệu riêng, đã ổn định một bản sắc thơ nhất quán Lưu Quang Vũ đã sống trong lòng bạn đọc yêu thơ với những câu thơ, bài thơ “không thể thay thế” Có thể nói chàng thi sĩ ấy đã kịp làm hết tất

cả những gì có thể để dâng tặng cho đời

- Văn xuôi:

1 Mùa hè đang đến – Tập truyện ngắn, Nxb TPHCM 1983

2 Người kép đóng hổ - Tập truyện ngắn – Hà Nội

3 Một vùng mặt trận – Truyện vừa (in chung), Nxb Phụ nữ, 1980

4 Diễn viên và sân khấu – Tập chân dung diễn viên, sân khấu, 1979

Trong cương vị một nhà văn, Lưu Quang Vũ viết những truyện ngắn giàu chất thơ và hàm chứa nhiều chất kịch Còn những bài phê bình, giới thiệu sân khấu anh viết rất hóm hỉnh có duyên, giàu hình ảnh, thể hiện sự tinh tế

- Kịch: 53 vở

Kịch Lưu Quang Vũ là những trăn trở về lẽ sống và làm người và thấm đẫm chất thơ trong đề tài tư tưởng, tạo nên thành công và phong cách của riêng anh Lưu Quang Vũ được đánh giá là “nhà viết kịch lớn nhất thế kỉ này của Việt Nam”

Ra đi ở tuổi bốn mươi, cuộc đời thật ngắn ngủi nhưng anh đã sống hết mình cho nghệ thuật và đã có những đóng góp cho đời sống văn học nước nhà Lưu Quang Vũ xứng đáng với phần thưởng cao quý nhà nước trao tặng năm 2000: Giải thưởng Hồ Chí Minh

1.2.2 Giới thiệu về tập thơ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi

Sau khi Lưu Quang Vũ qua đời, các tập thơ của anh đã lần lượt được giới

thiệu và xuất bản Đến năm 2010, tuyển tập thơ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi của Lưu Quang Vũ được nhà xuất bản Hội Nhà văn ra mắt bạn đọc

Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi là tuyển tập những tác phẩm xuất sắc

của đời thơ Lưu Quang Vũ – đã được trao giải Thành tựu về thơ năm 2010 Đây là cuốn sách tập hợp hơn 100 thi phẩm của Lưu Quang Vũ, trong đó có cả những tác

phẩm chưa từng được công bố của anh Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi được

đánh giá là tuyển tập thơ đầy đủ, công phu và kỹ lưỡng nhất về Lưu Quang Vũ cho

Trang 26

đến nay Các bài thơ được sắp xếp theo trình tự thời gian, từ bài thơ đầu tay cho tới bài thơ cuối cùng Vì thế, nhìn vào đó người đọc có thể thấy rõ hành trình thơ của tác giả Bắt đầu bằng những vần thơ tươi vui của tuổi học trò, kế tiếp bằng những vần thơ bi quan, chán nản, cay đắng u buồn, dừng lại bằng những vần thơ lạc quan, tin tưởng hơn và giàu suy tư cùng sự chiêm nghiệm về cuộc sống hơn Theo nhà văn Hồ Anh Thái - Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội: “Sự hồn nhiên và nồng nhiệt của cảm xúc đã biện hộ cho một giọng thơ miên man như không có điểm dừng, cho một câu thơ hay nhưng không bị phân vân giữa ngồn ngộn chữ nghĩa, cho cấu tứ dường như buông lỏng của những bài thơ dài hơi Đây là một tuyển tập thơ biên soạn khá công phu, khẳng định thành tựu của Lưu Quang Vũ trong lĩnh vực thơ”

Trang 27

CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ THEO QUAN HỆ LIÊN TƯỞNG TRONG TẬP THƠ GIÓ VÀ TÌNH YÊU THỔI TRÊN ĐẤT NƯỚC TÔI

2.1 NHÓM SO SÁNH TU TỪ

So sánh chính là cách tốt nhất để xây dựng hình ảnh trong thơ, giúp người đọc, người nghe hình dung được một cách rõ nét nhất về điều mà nhà thơ dụng ý

miêu tả Trong tập thơ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, so sánh tu từ chiếm tỉ

lệ lớn so với các biện pháp khác Duy chỉ có kiểu so sánh “B bao nhiêu A bấy nhiêu” không xuất hiện, còn các kiểu so sánh khác đều được sử dụng khá nhiều Thậm chí trong một câu thơ có thể dùng hơn hai kiểu so sánh

2.1.1 So sánh A như B

Kiểu so sánh A như B được Lưu Quang Vũ sử dụng rất nhiều trong tập thơ tạo nên những liên tưởng hình ảnh đáng chú ý

Thời đau khổ chung quanh đều đổ nát

Nỗi cô độc đen ngòm như miệng vực

(Lá thu) Nỗi cô độc là một khái niệm trừu tượng được so sánh với một hình ảnh cụ thể “miệng vực”, ở đây có cơ sở so sánh là “đen ngòm” tạo cảm giác u tối, thẳm sâu Nỗi buồn của chủ thể tưởng chừng như một khoảng không mờ mịt, không đáy, không điểm kết thúc

Hay câu thơ:

Dãy Trường Sơn như thanh gươm sừng sững Như đôi vai Lào Việt dựa kề nhau

(Bài ca trên bán đảo) Dãy Trường Sơn chạy dọc dài theo biên giới Việt-Lào được nhà thơ liên tưởng đến một thanh gươm, và như đôi vai của hai đất nước đang dựa kề với nhau Đây là một phép so sánh giàu hình ảnh khá thú vị, nhà thơ không nêu cơ sở so sánh

Trang 28

và sau đó B cũng không được thuyết minh, người đọc phải tự mình giải nghĩa câu thơ

Ở bài thơ Hồ sơ mùa hạ 1972, Lưu Quang Vũ đã lựa chọn được cái dùng để

so sánh rất đắt, đó là tiếng rống của một con bò khổng lồ đang bị chọc tiết để so sánh với tiếng còi báo động đang ngày đêm gầm thét Người đọc có thể cảm nhận được sự nhức nhói, đau đớn trong tiếng vang lên liên tục, dai dẳng đầy phẫn nộ của tiếng còi Qua đó hình dung khung cảnh kinh hoàng của thời khắc hỗn loạn vào mùa

hè năm 1972

còi báo động đêm ngày gầm thét

như tiếng rú con bò khổng lồ

trên nóc nhà bị kẻ nào chọc tiết

Có thể kể thêm:

- Hải cảng trần trụi như bắp thịt/ Ròng ròng mồ hôi [15, tr.57]

- Bây giờ anh trong suốt như không khí/ Như gió hoang không hình không

giới hạn [15, tr.87]

Trang 29

- Cánh hoa nhòe trong mưa tơi tả/ Như những gương mặt ngày xưa không

còn ai nhớ nữa [15, tr.97]

- Vô duyên sao ta cứ nhoẻn miệng cười/ như phường bát âm thánh thót [15,

tr.102]

- Ước chi mọi việc giản đơn/ như bó tầm xuân vừa mới hái [15, tr.111]

- Bầy vịt giời trắng xóa/ Như những cây nến lớn bay về đâu [15, tr.114]

- Nến vụt cao như rừng [15, tr.115]

- Nến xếp bên nhau như những phím đàn [15, tr.115]

- Giọt nến trắng chảy ròng ròng như nước mắt [15, tr.115]

- Lòng anh buồn như một đóa ca dao [15, tr.12]

- Thơ Khánh buồn như lòng đất nước [15, tr.133]

- Mặt buồn như sỏi dưới hang sâu [15, tr.134]

- Tuổi thơ buồn như một mảnh vườn hoang [15, tr.147]

- Ngực em sáng như mặt trời sắp lặn [15, tr.147]

- Thành phố lớn lao bí mật tựa cuộc đời [15, tr.154]

- Tôi làm sao sống được nếu xa Người/ Như giọt nước đậu vào bụi cỏ/ Như

châu chấu ôm ghì bông lúa [15, tr.156]

- Cố cung xưa bao đảo lộn kinh hoàng/ Như sóng biển không ngừng một

phút [15, tr.159]

- Ngọn gió chiều, hoa sở trắng như mưa [15, tr.161]

- (Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa)/ óng tre ngà và mềm mại như tơ [15,

Trang 30

- Đôi khi người nổi giận/ Đôi khi thôi, nhưng thật là khủng khiếp/ Như gió điên, như nước phá tung bờ [15, tr.167]

- Sắc hoa vàng như da mặt chúng ta [15, tr.169]

- Chỉ hoa vàng như chiếc mũ ngày xưa [15, tr.170]

- Bài hát cũ tôi hát cùng đồng đội/ Lại đập dồn như gió khắp rừng khuya [15,

- Trời chật chội như chiếc lồng trống rỗng [15, tr.183]

- Mặt tôi âm u như khu rừng rậm [15, tr.184]

- Những cô gái gầy thơm/ Như nến trắng đi trong đêm tối [15, tr.193]

- Bố mẹ thì sẽ già/ Như lời ru đã cũ [15, tr.202]

- Những mái nhà trập trùng như biển cả [15, tr.204]

- Ngủ đi em ơi gian phòng nhỏ như thuyền/ Giấc ngủ trôi về như dải sông

đen [15, tr.205]

- Tiếng tay vỗ nhịp nhàng như sóng [15, tr.208]

- Nhà chật như khoang thuyền hẹp nhỏ giữa sông [15, tr.209]

- Mặc ai bảo tình yêu giờ đã cũ/ như vầng trăng như ngọn thủy triều… [15,

tr 211]

- Nụ cười cha ấm như ngọn lửa [15, tr.215]

- Cha vẫn còn kia như sông nước hiền hòa/ Vẫn ở quanh con như ánh sáng

trong nhà [15, tr.216]

- Nụ cười vui như ngọn lửa hồng [15, tr.216]

- Và sau đê sông Hồng nước lớn/ Đỏ phập phồng như một trái tim đau [15,

tr.218]

- Đất lạnh lẽo sưng vù như mặt chết [15, tr.222]

Trang 31

- Những cây gạo cành cao đỏ rực/ Như mưa rụng thắm mặt đường [15,

tr.229]

- Anh trở lại như chim về với tổ [15, tr.243]

- hạt cốm xanh như ngọc/ se dần trong lá sen [15, tr.245]

- Màu mắt đen như triệu đêm rừng [15, tr.249]

- Mái tóc rậm xòa bay như ngọn khói [15, tr.250]

- Tuổi thơ bỏ ta bay mất như chim [15, tr.261]

- Một thế hệ cứng đi như thỏi sắt [15, tr.262]

- mái tôn bỏng như nung [15, tr.263]

- Như ánh sáng cuối cùng, bàn tay thầm lặng ấy/ Đã chở che cuộc sống tươi

lành [15, tr.271]

- Em thu nhặt những đồ dùng lấm bụi/ Như góp lại những tháng ngày rơi vãi

[15, tr.271]

- những cô gái ướt đầm đìa như cá [15, tr.280]

- tìm em cô gái mười sáu tuổi/ hiền như một trái mơ xanh [15, tr.281]

- một con sông dịu dàng như lục bát [15, tr.286]

- nhớ không em năm 1954/ mùa hè nóng như lửa [15, tr.289]

- mây trắng toát tung bờm như ngựa trắng [15, tr.294]

- có gương mặt đã hóa thành tro bụi/ đã cứng khô như mảnh tôn gầy/ nỗi đau thương như vực tối giữa đời [15, tr.295]

- cánh tay em dài và ấm/ như đất của những miền phiêu lãng [15, tr.302]

- Em lạ lùng như những con cá trắng/ Bay lên trong buổi chiều hè [15,

tr.305]

- Em im lặng như ánh sáng [15, tr.306]

- Con đường dài như chiếc ngà voi trắng [15, tr.308]

- Trái đất tròn như quả bóng các em chơi [15, tr.308]

- Biển sôi như vạc dầu nóng bỏng [15, tr.313]

- đêm tan tành như khối thủy tinh đen [15, tr.333]

- chưa có mùa hè nào như mùa hè này/ cả nước sôi lên như bão [15, tr.342]

Trang 32

- Ôi cái rét trái mùa/ đất trời kỳ lạ thật/ khó hiểu như lòng người [15, tr.350]

- như một người quen xa vắng mãi/ anh ngỡ quên, thu bỗng trở về [15,

tr.354]

- hoa mướp vàng/ rung rinh như những quả chuông con [15, tr.355]

b Trường hợp không có cơ sở so sánh, B không được thuyết minh

Để người đọc dễ dàng hình dung, chúng tôi nêu một số ví dụ theo mô hình

hóa như sau:

Có thể kể thêm:

- Đời cũng giống như biển kia anh lại giống con tàu [15, tr.37]

- Chúng ta xa cách nhau như buổi sáng cách buổi chiều [15, tr.45]

- Chiều xuống cánh chim bay/ Như nụ cười thoáng gặp/ Như vầng trăng mới mọc/ Như mối tình mới yêu [15, tr.31]

- Gió đung đưa những trái thon vàng rực/ Như muôn ngàn lục lạc của trời

Trang 33

- Em lại trở về với anh như mùa xuân/ Như ngày trong thành phố đẹp yêu

- Mưa ở đây như roi nắng ở đây như lửa [15, tr.59]

- Em như sông êm ả một dòng [15, tr.59]

- Chỉ mù mịt khói bay/ Như ngôi sao trên cột buồm trơ trọi [15, tr.60]

- Em đến rồi em đi, như tiếng hát xa vời [15, tr61]

- Lá cuối mùa đông/ Như những bàn tay rụng xuống [15, tr.63]

- Những bông hoa đã mất vụt bay về/ Như giọt sương run rẫy cạnh đường đi

[15, tr.68]

- còi báo động đêm ngày gầm thét/ như tiếng rú con bò khổng lồ/ trên nóc

nhà bị kẻ nào chọc tiết

- Dãy Trường Sơn như thanh gươm sừng sững/ Như đôi vai Lào Việt dựa kề

- Lòng tôi như buổi sớm vẫn nguyên lành [15, tr.74]

- chúng ta trở thành những đồ vật chẳng ai dùng/ như chiếc khuy đánh rơi, như cái tẩy vẹt mòn/ như cái găng cổ xưa như vết nứt trên tường/ chìm lấp dưới um tùm cây lá/ như lúa gặt chỉ còn cuống rạ/ nằm im lìm dưới những đám mây bay/ tan vào trong quên lãng ngàn đời/ như con vờ, như que diêm vụt tắt/ như viên sỏi dưới

hè, như giọt nắng/ trong bài ca bất tận của cuộc đời [15, tr.76]

- Những cái đinh như mắt lạnh mở trừng [15, tr.82]

- Tóc như cỏ chát khô còn dựng ngược [15, tr.84]

- Những đảo đá những bầy sứa trắng/ Như cái chao đèn quay tít trên cao [15,

tr.85]

- Đàn ngựa chạy, mình như than đỏ rực [15, tr.86]

Trang 34

- Những cánh tay như dấu hỏi chìa ra/ Những cánh tay như buồm thẳng

vươn xa [15, tr.86]

- Ta gửi lại tình yêu như ánh sáng hiền hòa [15, tr.90]

- Nhớ em như nhớ một miền xa [15, tr.93]

- Đêm dài buồn bã nhớ em/ Như một dòng sông nước xiết [15, tr.93]

- Nhớ em như một giấc mơ/ Như trời xanh ngoài song cửa nhà tù/ Như trẻ con trong thế giới già nua [15, tr.94]

- Để cuộc sống như bức tường tin cậy chở che [15, tr.96]

- Những nụ cười từ lâu đã tắt/ Như tuổi trẻ sớm tàn trong cay cực của ta [15,

tr.97]

- Anh nói những lời thầm kín/ Như men trắng lên màu trong lò nung [15,

tr.117]

- ga ngổn ngang gạch đổ, những toa tàu/ như năm tháng nặng buồn em có

nhớ/ ta đi giữa cỏ hoang và gỗ đá/ giữ trong lòng ngọn thác trắng trào sôi [15, tr.121]

- Lòng như vầng trăng nhọn [15, tr.135]

- Những trái giâu gia trên thềm không ai nhặt/ Như những trẻ con bị bỏ rơi

lăn lóc [15, tr.136]

- Những chữ như đinh nhìn tôi sắc nhọn [15, tr.139]

- Tiếng đàn bầu réo rắt/ Lý ngựa ô, Lý ngựa ô/ Như gió cuộn trên bình

nguyên cháy khô [15, tr.146]

- Em đến cùng tôi như chùm vải đầu mùa [15, tr.147]

- Người đi như nước đông trong cỏ [15, tr.158]

- Nét bút vờn như cánh hạc vút qua [15, tr.158]

- Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa

- Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh/ Như gió nước không thể nào nắm bắt

[15, tr.164]

- Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim người/ Như tiếng sáo như dây đàn

máu nhỏ [15, tr.164]

Trang 35

- Đất nước tôi như một con thuyền [15, tr.173]

- Thôi nhé, em đi/ Như một cánh chim bay mất [15, tr.176]

- Lòng như sóng vỗ [15, tr.181]

- Cuộc đời như một mụ già dâm đãng [15, tr.183]

- Những giấc mơ êm đềm/ Những giấc mơ nổi loạn/ Như cánh chim vẫy gọi

những bàn tay [15, 186]

- Lòng tôi như sỏi hoang [15, tr.188]

- Cô gái hoang tóc bay như bờm ngựa [15, tr.192]

- Hoa hồng rụng trên bàn như máu ứa [15, tr.193]

- Nắng tan ra như hơi thở vô hình [15, tr.204]

- Niềm vui sống như dòng sông mãnh liệt [15, tr.205]

- Tim anh đập như quả chuông bé nhỏ [15, tr.205]

- Em nằm nghiêng, tóc cụp xuống như lông thỏ/ như con sóc hiền, như

chùm dẻ mùa đông [15, tr.207]

- Người yêu như lửa và như lụa [15, tr.210]

- Những dòng thơ như móng tay day dứt [15, tr.213]

- Nhà cửa như áo quần rách [15, tr.219]

- Những cụ già như bao tải tả tơi [15, tr.221]

- Các cô gái như mèo cười rú [15, tr.221]

- Trời như tấm chăn tôi đắp cùng em [15, tr.222]

- Những dòng chữ như móng tay day dứt [15, tr.222]

- Hoa tigôn như trái tim vỡ nát [15, tr.224]

- Thời gian như bà điên ngoài chợ Sắt [15, tr.226]

- Mặt trời như cốc rượu nhớ mong [15, tr.226]

- Chiều như biển nằm xoài khi bão lặng [15, tr.229]

- Mưa dữ dội trên đường phố trên mái nhà/ Như thác trắng vỡ tan như bạc của trời như bước chân của ký ức [15, tr.231]

- Mưa như bước chân những khát vọng vô hình [15, tr.232]

- Giờ anh như con thuyền [15, tr.233]

Trang 36

- Ôm em trong vạt áo/ Như hoa hồng ngày xưa [15, tr.234]

- Em sẽ đến như ngày rồi sẽ nắng [15, tr.236]

- Ngoài kia mưa trong nắng sáng bừng lên/ Như những nắm hoa ai ném vào

cửa kính [15, tr.248]

- Những bạn bè đã chết/ Cũng trở về như những bông hoa [15, tr.262]

- những ngày hè nắng chói chang/ lòng em như nước suối [15, tr.264]

- Bàn tay em như gốc cải mềm/ Lau sương mù cửa kính [15, tr.266]

- Em như đất của con người [15, tr.268]

- Người đàn bà ngồi sau thùng xe/ Như vầng mặt trời rụt rè trong bão [15,

- tóc đen thẳm bay về như gió ốm [15, tr.279]

- một dòng sông như dòng đời mãnh liệt [15, tr.287]

- những bộ trưởng kiêm thầu khoán/ như bóng đen dĩ vãng kéo nhau đi [15,

tr.290]

- ngã ba ngã tư sôi lên như chợ [15, tr.290]

- Nỗi buồn của tôi tình yêu của tôi/ như những chiếc lá không lời/ rụng

xuống [15, tr.298]

- bầu trời trắng dần ngoài cửa sổ/ tóc em bay như một ngọn lửa đen [15,

tr.302]

- tóc em bay như một ngọn lửa đen… [15, tr.302]

- Áo khăn bay như đám mây bốc cháy [15, tr.309]

- Trái đất giữa không trung/ Như một giọt nước mắt/ Như cái đầu bị chặt/

Bay trong uất hận ngàn năm [15, tr.309]

- Những chiếc xe lao đi như thú vật [15, tr.312]

Trang 37

- Triệu triệu người, triệu bàn tay mạnh mẽ/ Vây quanh tôi như sóng biển

muôn trùng [15, tr.315]

- Những tháp cao như ngực người thiếu nữ [15, tr.316]

- Ngực tôi như khu rừng nhiệt đới tối đen [15, tr.314]

- lửa như niềm tin có sẵn [15, tr.321]

- chỉ nỗi buồn trĩu nặng/ dâng lên như đá trên mô [15, tr.322]

- Những bông hoa nở ra như ánh sáng [15, tr.315]

- quả đồi cháy như một phần quả đất [15, tr.323]

- quan tài trẻ thơ như những chiếc hòm con [15, tr.325]

- chúng con đã về đây/ như kiếp cỏ may/ lạc loài gió lạnh [15, tr.331]

- Đốt lòng con tiếng chim như lụa xé/ hót lo âu trên ngọn tre làng [15,

tr.332]

- mẹ hãy nhận, lòng con như ống sáo [15, tr.335]

- Tâm hồn ta như sóng tới chân trời [15, tr.338]

- môi khô nẻ lòng như máu ứa [15, tr.341]

- anh như đứng trên gai, đi trên lửa [15, tr.348]

- Em như thời khắc của anh/ như dáng hình như trí nhớ [15, tr.348]

- nhưng chiều nay bên em/ lòng như con chim nhỏ/ như rung rinh lá cỏ/ trên

tay mình xanh non [15, tr.355]

c Trường hợp không có cơ sở so sánh, B được thuyết minh

- Như hai dòng sông gặp gỡ đổi phù sa/ Nhập luồng nước, hòa nhau màu

sắc/ Trao cảm thương hai bàn tay nắm chặt/ Nghe máu mẹ cha chuyển giữa mỗi tay mình [15, tr.28]

- Đêm như biển không bờ bóng tối rất thẳm sâu [15, tr.37]

- Có hiểu lòng anh như đứa trẻ/ Trong sạch và khát khao? [15, tr.59]

- Những mặt người như những quả chuông/ sáng lòe chớp giật [15, tr.86]

- Em vẫn như một miền xa/ Chẳng bao giờ anh đi tới [15, tr.93]

- Tiếng reo cười của lũ trẻ/ Như bầy chim sẻ/ Ầm ỉ khắp nhà [15, tr.95]

- Tôi như khu nhà/ Bỗng già nua hoang vắng [15, tr.96]

Trang 38

- Ai cũng tựa hòn núi cao im lặng/ giấu trong mình bao thác cuộn suối trong

- Lòng anh như men rạn/ vỡ trên bình gốm nâu [15, tr.246]

- Em như con chim say nắng gió/ luôn làm bị thương chính đôi cánh của

mình [15, tr.299]

- lòng ta như đất bãi/ rì rầm con sóng nâu [15, tr.355]

- anh vẫn như con tàu/ luôn bồn chồn ra đi [15, tr.355]

Theo thống kê của chúng tôi, trong tập thơ này có 97/ 261 lượt so sánh A như B có cơ sở so sánh (chiếm 37.1% tổng số lượt so sánh A như B) và 165/ 261 lượt còn lại không có cơ sở so sánh (chiếm 62.8% tổng số lượt so sánh A như B) Trong kiểu so sánh không có cơ sở so sánh lại khảo sát được chỉ có 15 trường hợp B được thuyết minh và 150 trường hợp còn lại B không được thuyết minh Như vậy, tỉ

lệ lượt dùng kiểu so sánh A như B không có cơ sở so sánh cao hơn rất nhiều so với

có cơ sở so sánh; trường hợp B không được thuyết minh chiếm tỉ lệ lớn hơn B được thuyết minh

2.1.2 So sánh A là B

a Trường hợp không có cơ sở so sánh, B được thuyết minh

Kiểu so sánh A là B được sử dụng khá nhiều trong tập thơ tạo nên những dòng thơ tình đầy hình ảnh: “Em” là tất cả những gì tốt đẹp nhất đối với anh, em đem đến cho anh những gì tốt lành nhất, sua tan cái nóng, chở che ngày lạnh Em có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của anh

Em là bóng cây em là bếp lửa

Che mát và sưởi ấm lòng anh

(Không đề)

Trang 39

Hoặc:

- Đời sống là bờ/ Những giấc mơ là biển/ Bờ không còn nếu chẳng có khơi

xa [15, tr.187]

- Em là tia nắng soi anh đến trọn cuộc đời [15, tr.259]

b Trường hợp không có cơ sở so sánh, B không được thuyết minh

Trường hợp A là B không có cơ sở so sánh, B không được thuyết minh xuất hiện nhiều trong tập thơ

Đôi khi cuộc đời khó hiểu như một bài toán, những cuộc gặp gỡ quen biết đều như là một dấu hỏi đối với mỗi con người Cuộc đời luôn hứa hẹn một điều gì

đó trong tương lai nhưng không bao giờ cho ta tiên đoán trước Bởi vậy Lưu Quang

Vũ xem cuộc đời như một dấu hỏi, một dấu hỏi dài Trường hợp A là B sau đây với

B là một vế trừu tượng, không có cơ sở so sánh và B cũng không được thuyết minh:

cuộc đời ta là một dấu hỏi dài

(Vẫn thơ tình viết về một người đàn bà không tên)

Có thể kể thêm:

- Dầu cuộc đời là con đường dài thế/ Con sẽ đi qua mọi nẻo chông gai [15,

tr.24]

- Tuổi thơ ta là nơi hiền hậu nhất [15, tr.34]

- Anh là con ong bay giữa đời lận đận [15, tr.36]

- Còn hạnh phúc cuối cùng là khúc hát chú ong nâu [15, tr.37]

- Tôi chỉ là cây trong nỗi buồn bão gió [15, tr.45]

- tưởng hoa hồng là hương của đêm [15, tr.46]

- Anh đã gặp em, em là tia nắng [15, tr.51]

- Em ơi, em là Hà Nội/ Anh chưa bao giờ yêu Hà Nội như hôm nay [15,

tr.54]

- Thành phố là một con tàu đang đóng dở [15, tr.57]

- Anh là cậu bé nhặt than/ Là ông già buông câu im lặng/ Là quả dưa tròn trên khoang nắng/ Là lá sú vàng trôi ở cửa sông [15, tr.58]

- Em là bờ cau xanh/ Là quả vườn nhà là chim tu hú [15, tr.59]

Ngày đăng: 14/05/2021, 22:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa (1982), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1982
2. Đỗ Hữu Châu (2007), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
3. Hữu Đạt (1999), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1999
4. Nguyễn Khánh Hà (2011), Sổ tay các biện pháp tu từ ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay các biện pháp tu từ ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Khánh Hà
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
5. Đỗ Việt Hùng (2011), Tóm tắt kiến thức ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm tắt kiến thức ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Việt Hùng
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
6. Đinh Trọng Lạc (1999), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
7. Đinh Trọng Lạc (2005), 99 Phương tiện và Biện pháp tu từ tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 Phương tiện và Biện pháp tu từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
9. Phương Lựu (chủ biên) (2002), Lý luận văn học, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Phương Lựu (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2002
10. Bùi Trọng Ngoãn (2008), Bài giảng Phong cách học tiếng Việt, Trường đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng (Lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Bùi Trọng Ngoãn
Năm: 2008
11. Hoàng Phê (2009), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2009
12. Cù Đình Tú (1983), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, NXB Dại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt
Tác giả: Cù Đình Tú
Nhà XB: NXB Dại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1983
13. Lưu Khánh Thơ (Sưu tầm và biên soạn) (2008), Lưu Quang Vũ Di cảo Nhật kí, thơ, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu Quang Vũ Di cảo Nhật kí, thơ
Tác giả: Lưu Khánh Thơ (Sưu tầm và biên soạn)
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2008
14. Lưu Khánh Thơ (Sưu tầm và biên soạn) (2001), Lưu Quang Vũ – Tài Năng và lao động nghệ thuật, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu Quang Vũ – Tài Năng và lao động nghệ thuật
Tác giả: Lưu Khánh Thơ (Sưu tầm và biên soạn)
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2001
15. Lưu Khánh Thơ (Tuyển chọn) (2010), Lưu Quang Vũ – Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, NXB hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu Quang Vũ – Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi
Tác giả: Lưu Khánh Thơ (Tuyển chọn)
Nhà XB: NXB hội Nhà văn
Năm: 2010
8. Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Nguyễn Thái Hòa (2013), NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w