1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các lớp từ vựng tiếng việt trong tiểu thuyết “đội gạo lên chùa” của nguyễn xuân khánh

99 85 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đội gạo lên chùa không chỉ là một kho kiến thức sâu rộng về lịch sử, về tôn giáo, về văn hóa và về cách suy nghĩ, tình cảm của con người Việt Nam trong chiều dài lịch sử nước nhà qua nh

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ MINH TÚ

CÁC LỚP TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT TRONG TIỂU THUYẾT

“ĐỘI GẠO LÊN CHÙA” CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

CÁC LỚP TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT TRONG TIỂU THUYẾT

“ĐỘI GẠO LÊN CHÙA” CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Người hướng dẫn:

TS Bùi Trọng Ngoãn Người thực hiện:

Nguyễn Thị Minh Tú (Khóa 2012 - 2016)

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành luận văn, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến TS Bùi Trọng Ngoãn

- người thầy đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu bằng một tinh thần khoa học nhiệt thành và nghiêm túc

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, Đại học - Trường Đại học sư phạm - Đại học Đà Nẵng đã giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học này

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã quan tâm động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Với trình độ và kiến thức còn hạn chế của người viết, luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự lượng thứ và góp ý chân thành của các thầy, cô giáo cùng bạn bè đồng nghiệp đã quan tâm đến vấn đề được tìm hiểu trong luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 4 năm 2016

Tác giả luận văn

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 7

1 Lí do chọn đề tài 7

2 Lịch sử vấn đề 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

4 Phương pháp nghiên cứu 12

NỘI DUNG 13

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 13

1.1 Các lớp từ vựng theo từ vựng học 13

1.1.1 Xét theo theo nguồn gốc 13

1.1.1.1 Từ thuần Việt 13

1.1.1.2 Từ gốc Hán 14

1.1.1.3 Từ gốc Ấn – Âu 15

1.1.2 Xét theo phạm vi sử dụng 16

1.1.2.1 Từ vựng toàn dân 16

1.1.2.3 Từ địa phương 17

1.1.2.4 Biệt ngữ 18

1.1.2.5 Thuật ngữ: 18

1.1.3 Xét theo mức độ sử dụng 19

1.1.3.1 Từ vựng tích cực và từ vựng tiêu cực 19

1.1.3.2 Từ cổ và từ lịch sử 19

1.1.3.3 Từ mới và nghĩa mới 20

1.2 Các lớp từ vựng theo phong cách học 21

Trang 5

1.2.1 Từ thi ca 21

1.2.2 Từ cũ 22

1.2.3 Từ Hán Việt 23

1.2.4 Từ vay mượn 26

1.2.5 Từ hội thoại 28

1.2.6 Từ thông tục 29

1.2.7 Từ địa phương 31

1.2.8 Từ láy 32

1.1.9 Thành ngữ 33

1.3 Giới thiệu chung về Nguyễn Xuân Khánh và cuốn tiểu thuyết Đội gạo lên chùa .34

1.3.1 Nguyễn Xuân Khánh – Nhà văn bậc thầy về ngôn ngữ 34

1.3.2 Đội gạo lên chùa – Đặc sắc văn hóa người Việt .38

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT VỀ CÁC LỚP TỪ VỰNG TRONG 40

ĐỘI GẠO LÊN CHÙA 40

2.1 Từ thi ca 41

2.2 Từ cũ 43

2.3 Từ Hán Việt 45

2.4 Từ vay mượn Ấn – Âu .49

2.5 Từ hội thoại 55

2.6 Từ thông tục 57

2.7 Từ địa phương 59

2.8 Từ láy 60

2.9 Thành ngữ 70

2.10 Biệt ngữ tín ngưỡng 72

CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA CÁC LỚP TỪ VỰNG ĐỐI VỚI THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT CỦA TÁC PHẨM ĐỘI GẠO LÊN CHÙA 74

3.1 Vai trò của các lớp từ vựng đối với việc thể hiện bức tranh hiện thực xã hội 74

Trang 6

3.1.1 Bạch hóa một góc khuất của quá khứ 75 3.1.2 Một chân dung văn hóa của làng quê Bắc bộ 77 3.2 Vai trò của các lớp từ vựng đối với các hình tượng nhân vật 81 3.2.1 Những chân dung nhân vật phụ nữ được khắc họa bằng các mảng màu từ vựng .81 3.2.2 Những điểm tựa tinh thần trong cách ứng xử của các nhân vật thể hiện qua hệ thống biệt ngữ .85

3.2.3 Tính chân thật của nhân vật thể hiện qua lớp từ vựng khẩu ngữ, thông tục 88

3.3 Vai trò của các lớp từ vựng đối với phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Xuân Khánh và đối với phong cách nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh .92 3.3.1 Vai trò của các lớp từ vựng đối với phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Xuân Khánh .92 3.3.2 Vai trò của các lớp từ vựng đối với phong cách nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh .94 KẾT LUẬN 96 TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hồn cốt của một tác phẩm văn chương là ở những tầng nghĩa, là ở những tư tưởng, ý tưởng; nhưng chất liệu để làm nên trạng thái hiện tồn của nó là ở những tầng vỉa ngôn từ Trông bể quặng ngôn từ ấy, mỗi nhà văn sẽ tinh luyện làm sao để

có được phần tinh hoa cần thiết để biểu đạt hết những điều muốn nói

Có thể thấy, trong xu hướng phát triển hết sức mạnh mẽ và đa dạng của dòng tiểu thuyết văn hóa - lịch sử, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh nổi lên như một hiện

tượng nổi trội Chùm ba trường thiên tiểu thuyết Hồ Quý Ly (2000), Mẫu thượng ngàn (2006) và Đội gạo lên chùa (2011) đã minh chứng chân dung của một tiểu thuyết gia hàng đầu Nếu như Hồ Quý Ly hướng tới khái thác nhân chứng lịch sử, Mẫu thượng ngàn hướng tới khai thác vấn đề phong tục thì Đội gạo lên chùa khai thác vấn đề tôn giáo So với hai cuốn tiểu thuyết trước thì Đội gạo lên chùa được

coi là thành công ở tầm mức cao hơn

Đội gạo lên chùa không chỉ là một kho kiến thức sâu rộng về lịch sử, về tôn

giáo, về văn hóa và về cách suy nghĩ, tình cảm của con người Việt Nam trong chiều dài lịch sử nước nhà qua nhiều giai đoạn khác nhau; mà còn là một cuốn từ điển về ngôn ngữ, cụ thể hơn là về các lớp từ vựng rất giàu giá trị tu từ Bằng việc lựa chọn, tinh lọc, và sử dụng các lớp từ vựng một cách linh hoạt, nhuần nhuyễn

mà xuyên suốt một thời đoạn dài của lịch sử từ kháng chiến chống Pháp đến cải cách ruộng đất rồi đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, đã được hiện lên với một cái

nhìn đa diện, nhiều chiều và vô cùng sinh động, chân thực

Vì vậy, khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ làm rõ được sự phong phú, đa dạng, cũng như những giá trị tu từ to lớn của các lớp từ vựng của

Trang 8

tiếng Việt Đồng thời, góp phần khẳng định những đóng góp của tác giả trong việc phát triển các lớp từ vựng tiếng Việt nói riêng và cho tiến trình vận động của văn học Việt Nam nói chung

Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Các lớp từ vựng tiếng Việt trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh” làm khóa luận tốt

nghiệp

2 Lịch sử vấn đề

“Đội gạo lên chùa” là cuốn tiểu thuyết mới nhất của nhà văn Nguyễn Xuân

Khánh được Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành và đã nhận được Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam - 2011

Về mặt nội dung, đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu, đánh giá về tác phẩm

Đội gạo lên chùa, cụ thể như Đỗ Ngọc Yên trong bài Một cách kiến giải khác về lịch sử dân tộc qua “Đội gạo lên chùa”: Chưa cần bàn đến nội dung của nó, xem

qua “hòn gạch nung” còn nóng hôi hổi, vừa mới ra lò của cụ già U80 này, những người nhát gan chắc sẽ phải ngất xỉu Vừa là người rất quí trọng tài năng và đức độ của cụ Khánh, lại là người cùng làm nghề viết mà tôi đã phải cật lực ra mất hàng

tháng trời mới đọc hết được “Đội gạo lên chùa” Thực ra cũng chỉ mới đọc qua

thôi, chứ đọc kỹ và ngẫm về những điều cụ muốn gửi gắm ở đây, chắc là phải mất

hàng năm Tuy nhiên, theo tôi điểm nổi bật nhất của “Đội gạo lên chùa” chính là ở

cách kiến giải khác về lịch sử dân tộc Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã lấy một

phần câu ca dao Ba cô đội gạo lên chùa/ Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư để đặt

tên cho trường thiên tiểu thuyết của mình Nhưng ông lại lấy bốn câu trong bài thơ

“Cư trần lạc đạo phú” của Vua Trần Nhân Tông, một vị vua duy nhất trong lịch sử nước ta đã tự xuống tóc để lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và được người đời tôn vinh là ông tổ của Phật giáo Việt Nam để làm đề từ cho cuốn sách Trong

Trang 9

đó, đáng chú ý nhất là câu: Cư trần lạc đạo thả tùy duyên (tạm dịch: Ở giữa cõi trần vui với Đạo hãy tùy duyên) Nếu tinh ý, người đọc có thể hiểu được dụng ý của tác

giả trong việc kiến giải lịch sử dân tộc, theo phương cách “tùy duyên” (Một cách kiến giải khác về lịch sử dân tộc qua “Đội gạo lên chùa”; trang

web:vanhocquenha.vn; ngày truy cập 12/4/2016)

Với nhà văn Hoàng Quốc Hải - người cũng đau đáu với những cuốn tiểu thuyết lịch sử - nêu những điều tâm đắc của mình về cuốn tiểu thuyết của người đồng nghiệp tài hoa: "Anh luôn đụng đến những vấn đề bản chất của văn hóa Việt,

đó là Mẫu thượng ngàn - hiện tượng văn hóa thuần Việt; và giờ đây là đạo Phật - hiện tượng văn hóa du nhập nhưng đã được Việt hóa Ðội gạo lên chùa cũng là lời

cảnh báo về những giá trị cốt yếu, sâu thẳm, đẹp đẽ của văn hóa Việt đang bị phá

hủy, đang dần biến mất" (Nguyễn Xuân Khánh “Đội gạo lên chùa”; trang web:

chuyentrang.tuoitre.vn; ngày truy cập: 12/4/2016)

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên nói về tác giả và tác phẩm Đội gạo lên chùa: "Nhà văn phải cảm ơn nhà xuất bản vì đã in, cảm ơn bạn đọc vì đã mua và đã

đọc Lý do: sách quá dày, quá nặng và không phải loại dễ đọc Nhưng đọc rồi

người đọc sẽ cảm ơn nhà văn vì những gì ông đã viết" (Nguyễn Xuân Khánh “Đội gạo lên chùa”; trang web: chuyentrang.tuoitre.vn; ngày truy cập: 12/4/2016)

Theo nhà văn Nguyễn Khắc Phê, in trong báo Phụ Nữ TPHCM số ra ngày

17-6-2011, Đội gạo lên chùa là một cuốn sách có sức nặng, rất nặng - cả về nghĩa đen và nghĩa bóng Vì tiểu thuyết dày tới 866 trang - hơn cả Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng ngàn - và qua số phận hàng chục nhân vật ở một làng quê quanh chùa Sọ,

tác giả miêu tả những biến động của xã hội Việt Nam suốt từ thời chống Pháp cho đến sau ngày đất nước thống nhất, đụng chạm đến rất nhiều vấn đề văn hóa-xã hội, triết lý nhân sinh Ở tác phẩm này, Nguyễn Xuân Khánh vẫn viết theo lối cổ điển,

Trang 10

mạch chuyện chủ yếu theo trình tự thời gian: sau cải cách là sửa sai, rồi hợp tác hóa, tòng quân vào Nam, rồi thống nhất đất nước… Làng xóm, họ tộc, gia đình tan rồi hợp với không ít tình tiết có thể gọi là ly kỳ… Những năm vừa qua, không ít tiểu thuyết đã viết về đề tài tương tự, nhưng khác với các nhà văn khác, Nguyễn Xuân Khánh đặt ngôi chùa và những nhà sư trong bối cảnh đó, lấy Phật giáo làm điểm nhìn để soi rọi, suy ngẫm về các sự kiện đó, các nhân vật không chỉ đối đầu theo kiểu “địch-ta” mà mỗi người còn có cuộc đấu tranh gay go với lẽ sống, đạo lý

của mình, nhờ đó, Đội gạo lên chùa có ý nghĩa sâu rộng hơn, chạm đến những vấn

đề muôn thuở của kiếp người (NGUYỄN XUÂN KHÁNH "ĐỘI GẠO LÊN CHÙA"; trang web: trannhuong.net; ngày truy cập 12/4/2016)

Nguyễn Thị Phượng trong luận văn thạc sĩ Văn học, Đại học Quốc gia Hà

Nội “Tiểu thuyết Đội gạo lên chùa từ góc nhìn văn hóa” đã khẳng định những giá

trị của cuốn tiểu thuyết về phương diện văn hóa Tác giả dã trình bày khá đầy đủ về những nét văn hóa đặc sắc trong cuốn tiểu thuyết này: văn hóa Phật giáo, văn hóa làng quê, các không gian sinh hoạt, và hình ảnh của người phụ nữ lưu giữ những nét đẹp Việt

Nguyễn Danh Thực trong luận văn thạc sĩ Văn học, Đại học Quốc gia Hà

Nội “Tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh nhìn từ tâm thức Phật

giáo” đã tìm hiểu và đi sâu nghiên cứu sự nhập thế của Đạo Phật trong lòng dân tộc

qua lịch sử thăng trầm của đất nước cụ thể trong tác phẩm Đội gạo lên chùa của

một người xuất gia Ngoài ra, luận văn còn nghiên cứu nghệ thuật xây dựng nhân vật qua: ngoại hình, hành động; ngôn ngữ và nghệ thuật xây dựng tính cách, tâm lý nhân vật; nghệ thuật xây dựng người kể chuyện qua: ngôi kể, điểm nhìn trần thuật, giọng điệu trần thuật…

Trang 11

Khác với bình diện nội dung, các khía cạnh nghệ thuật của Đội gạo lên chùa

chưa có nhiều nghiên cứu Ngô Thị Hường trong luận văn chuyên ngành Văn học

Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội “Đội gạo lên chùa nhìn từ góc độ thi pháp thể

loại” đã nghiên cứu khá thành công thi pháp kết cấu và tổ chức không gian, thời gian trong tiểu thuyết, đồng thời thể hiện rõ nét hiện tượng giao thoa về mặt thể loại và sự thâm nhập của yếu tố lịch sử và văn học

Trần Thị Hường, luận văn thạc sĩ Văn học, Đại học Thải Nguyên “Tiểu

thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh trong thành tựu văn chương thời

đổi mới” đã nghiên cứu khá đầy đủ và sâu sắc những nét giá trị cả về nội dung lần nghệ thuật trong tác phẩm này Trong luận văn của mình, tác giả đã làm rõ những đóng góp của tác phẩm về vấn đề khái quát văn hóa và lịch sử dân tộc, cũng như những nét đặc sắc trong cách sử dụng ngôn ngữ, xây dựng kết cấu, thế giới nhân vật… Tuy nhiên, vì đề tài quá rộng, nên tác giả chỉ tập trung vào ngôn ngữ kể chuyện, ngôn ngữ độc thoại, đối thoại của nhân vật, mà không phân tích về năng lực biểu đạt của ngôn ngữ

Như vậy có thể nói, đã có rất nhiều bài báo, nhiều công trình nghiên cứu

khoa học về nội dung lẫn nghệ thuật trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa Về mặt

nghệ thuật, các công trình nghiên cứu trước đó chỉ dừng lại ở việc làm rõ về kết cấu, cách tổ chức không gian, thời gian; cách xây dựng ngôn ngữ kể chuyện, đối thoại, độc thoại Với việc nghiên cứu và làm rõ các lớp từ vựng giàu giá trị tu từ

trong tác phẩm Đội gạo lên chùa, chúng tôi khẳng định đây là một đề tài mới mẻ,

và chưa có ai chạm đến

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các lớp từ vựng giàu giá trị tu từ trong cuốn tiểu

thuyết Đội gạo lên chùa xét từ góc độ phong cách học

Trang 12

Phạm vi nghiên cứu: Tiểu thuyết Đội gạo lên chùa

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát, thống kê, định lượng, định tính

Phương pháp này được sử dụng để khảo sát, thống kê tần số xuất hiện và phân loại các lớp từ vựng, lấy đó làm cơ sở phân tích, nhận xét, đánh giá về giá trị biểu đạt của đối tượng nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp, khái quát hóa

Sau khi đã khảo sát và thống kê chính xác, sử dụng phương pháp này để mở rộng, đào sâu và bao quát hơn vấn đề nghiên cứu

Trang 13

từ rất lâu Nếu so sánh bộ phận từ vựng thuần Việt với các từ tương ứng trong tiếng Mường, các tiếng Tày – Thái và Môn – khơ me, người ta nhận thấy rằng nhiều từ thuần Việt có sự giống nhau nhất định về mặt ngữ âm và ngữ nghĩa với các từ tương ứng trong các ngôn ngữ kể trên Dựa vào đó, các nhà ngôn ngữ học

đã đưa ra nhiều giải thuyết khác nhau về nguồn gốc của tiếng Việt Đại loại có ba khuynh hướng chính như sau: Thứ nhất, cho rằng tiếng Việt bắt ngồn từ các ngôn ngữ Môn – Khơ me (Nam Á) Thứ hai, cho tiếng Việt bắt nguồn từ các nguôn ngữ Tày – Thái Thứ ba, cho tiếng Việt sinh ra do sự hỗn hợp của ngôn ngữ Nam Á và Tày – Thái Cho đến nay, vấn đề nguồn gốc của tiếng Việt chưa thể coi là đã ngã ngũ Tất cả các từ trong tiếng Việt có quan hệ nguồn gốc hay quan hệ tiếp xúc với các ngôn ngữ Nam Phương và các từ chưa xác định được nguồn gốc đều được coi

là từ thuần Việt [5;269]

Trang 14

Những từ sau đây có sự tương ứng với tiếng Mường: chớp, vực, thác, mồm,

vợ, chồng, ông, đàn ông, đàn bà, ăn, uống, cười, gói, lót, xách, bơi, lau, gỡ, đánh, tắm, chạy, mua, bán, khát, dữ, hay, thường, vá, váy, trống, cơm, cây, gỗ, cau, cỏ,

gà, trứng, lợn, sừng, đuổi…

Những từ sau đây có sự tương ứng với nhóm Tày – Thái: đường, rẫy, chắt, bắt, cóc, buộc, ngắt, ngẫm, ngợi, bánh, mo, ngọn, méo…

Những từ sau đây có sự tương ứng với nhóm Việt – Mường và Tày – Thái:

bão, bề, bát, tên, giặt, sống, may, phân, than, dao, trùm, ngà voi, đen, gạo…

Những từ sau đây có sự tương ứng với nhóm Việt – Mường và Môn – Khơ

me: trời, mây, mưa, sấm, sét, mù, rừng, đèo, dốc, khói, lỗ, đồng bằng, người, bàn chân, đầu gối, da, tim óc, mẹ, mày, nó, bọn, nhá, ôm, cõng, đắp, cởi, mặc, phá, bôi, bưng…

1.1.1.2 Từ gốc Hán

Theo Nguyễn Thiện Giáp, tiếng Việt và tiếng Hán đều là ngôn ngữ có nguồn gốc lịch sử lâu đời Sự tiếp xúc của hai ngôn ngữ này bắt đầu từ khi bọn phong kiến nhà Hán của Trung Quốc xâm chiếm nước ta Trong quá trình tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ, tiếng Việt đã tiếp nhận một khối lượng ngôn ngữ rất lớn của tiếng Hán để làm giàu thêm kho từ ngữ của mình [5; 274]

Các từ ngữ tiếp nhận của tiếng Hán đọc theo âm Hán Việt (các từ Hán Việt)

là một bộ phận chủ yếu trong các từ ngoại lai của tiếng Việt Nó bao gồm những từ ngữ Hán Việt được tiếp nhận từ đời Đường và các triều đại tiếp theo cho đến ngày nay và những từ ngữ Hán Việt được cấu tạo ở Việt Nam

Ngoài các từ Hán Việt ở trên, trong tiếng Việt còn có một số từ gốc Hán nhưng không đọc theo âm Hán Việt Những từ này chiếm một số lượng ít, lẻ tẻ,

Trang 15

không làm thành hệ thống như các từ Hán – Việt Những từ gốc Hán không đọc theo âm Hán Việt có thể gồm những từ vào Việt Nam trước đời Đường – những từ Hán cổ và những từ Hán Việt được Việt hóa

Cũng như các từ vay mượn ở gốc Hán, các từ gốc Pháp khi đi vào tiếng Việt

có sự biến dổi về cách phát âm và chữ viết theo quy luật phát âm của tiếng Việt

Nguyễn Thiện Giáp nhận định, mức dộ Việt hóa các từ ngoại lai gốc Ấn –

Âu không giống nhau Những từ tiếp nhận bằng con đường khẩu ngữ thường được Việt hóa nhiều hơn các từ tiếp nhận bằng con đường sách vở [5; 289]

Đặc điểm của tiếng Việt là mỗi từ là một âm tiết, một thanh điệu, trong từ không có phụ âm kép, không có âm câm Nhiều từ Ấn – Âu vốn là đa âm tiết, không có thanh điệu, không có phụ âm kép, có âm câm khi vào tiếng Việt đã biến đổi đi, hoàn toàn giống diện mạo của một từ Việt Ví dụ:

Trang 16

Ngoài tiếng Pháp, chúng ta còn mượn một số từ tiếng Anh như: meeting, boxe, tennis…; một số từ tiếng Nga như: công-xô-môn, bôn-sê-vích, xô-viết, xa-mô-va…

Xã hội Việt Nam càng phát triển, sự giao lưu kinh tế rộng rãi với nhiều hình thức trên thế giới đã đòi hỏi phải có sự tiếp cúc ngôn ngữ giữa các nước Việc dùng các từ vay mượn, các thuật ngữ có tính quốc tế là một việc tự nhiên Xu thế vay mượn Ấn – Âu ngày càng tăng Việc sử dụng những thuật ngữ khoa học mang tính quốc tế là cần thiết Song trong giao tiếp thông thường nói chung, việc lạm dụng từ vay mượn gây khó chịu cho người đối thoại, gây cười

1.1.2 Xét theo phạm vi sử dụng

1.1.2.1 Từ vựng toàn dân

Nguyễn Thiện Giáp trong “Từ vựng học tiếng Việt” đã đưa ra khái niệm: Từ vựng toàn dân là những từ toàn dân hiểu và sử dụng Nó vốn là từ chung cho tất cả những người nói tiếng Việt thuộc các tầng lớp xã hội khác nhua Đây chính là lớp

từ vựng cơ bản, lớp từ vựng quan trọng nhất trong mỗi ngôn ngữ [5;291]

Hay có thể nói: từ vựng toàn dân biểu thị những sự vật, hiện tượng hay khái niệm quan trọng và cần thiết nhất trong đời sống

Ví dụ: Những từ chỉ hiện tượng thiên nhiên: mưa, nắng, núi, sông…; những

từ chỉ bộ phận cơ thể người: đầu, mình, mắt, mũi, chân, tay; những từ chỉ hoạt động thường: đi, đứng, nói, cười, sống, chết…

Về mặt nguồn gốc: vốn từ toàn dân của tiếng Việt có thể bao gồm các từ có

quan hệ với tiếng Môn – Khơ me như: sông, lớp, mũi…; với tiếng Thái như ngực, vai, gà, bè…; có thể gồm các từ mượn Hán như: đầu, gan, góc…

Trang 17

Từ vựng toàn dân là bộ phận nòng cốt của từ vựng văn học Nó là vốn từ cần thiết nhất để diễn đạt tư tưởng trong tiếng Việt Từ toàn dân là cơ sở để cấu tạo các

từ mới, làm giàu cho từ vựng tiếng Việt nói chung Phần lớn các từ thuộc vốn từ toàn dân là những từ trung hòa về mặt phong cách (tức là có thể được dùng trong các phong cách chức năng khác nhau)

1.1.2.3 Từ địa phương

Từ địa phương là những từ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địa phương Nói chung, từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hàng ngày của một vùng nào đó chứ không phải từ vựng của ngôn ngữ văn học [5;293]

Các kiểu từ địa phương là: Từ địa phương dân tộc học, từ ngữ địa phương có

sự đối lập về ngữ âm nhưng có nghĩa tương ứng với từ toàn dân hoặc địa phương khác

Lưu ý rằng, có hiện tượng từ toàn dân trở thành từ địa phương (chốc, gấy…)

và ngược lại (chôm chôm, sầu riêng, đặng…) Các từ địa phương được vận dụng

trong các tác phẩm văn học để làm tăng sắc thái địa phương và có giá trị biểu cảm

Ví dụ:

- Rứa là hết chiều ni em đi mãi

-…Răng không cô gái trên sông

- Đằng nớ vợ chưa đằng nớ

Tuy nhiên, cần tránh việc lạm dụng từ ngữ địa phương Gorki từng viết:

“Dùng từ mà chỉ nhân dân một vùng hiểu là sai lầm nghiêm trojng, là phản nghệ thuật”

Trang 18

- Biệt ngữ của người theo đạo Phật: bố trí, trì giới, Niết bàn, ta bà…

- Biệt ngữ trong triều đình phong kiến: bệ hạ, trẫm, ái khanh, ngự thiện, ngự ngơi, quả nhân…

1.1.2.5 Thuật ngữ:

Theo Nguyễn Thiện Giáp trong “Từ vựng học tiếng Việt”, thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt Đó là hệ thống các từ và cụm từ cố định dùng để gọi tên các khái niệm trong khoa học cụ thể [5;308] Ví dụ:

- Hệ thống thuật ngữ toán học: hàm số, tích phân,…

- Hệ thống thuật ngữ hóa học, triết học

Theo Đinh Trọng Lạc, trong cuốn “99 phương tiện và biện pháo tu từ tiếng

Việt”, thuật ngữ là những Từ và cụm từ chỉ những khái niệm khoa học, trong đó phản ánh những thuộc tính trọng yếu và đặc trưng của đối tượng [13;42]

Thuật ngữ có ba đặc điểm: tính chính xác, tính hệ thống và tính quốc tế Mỗi văn bản khoa học cần sử dụng một hệ thống thuật ngữ riêng, không được lạm dụng, tùy tiện, phải hiểu rõ nội dung khái niệm trước khi đem ra dùng

Muốn định nghĩa thuật ngữ, cần hiểu tường tận về khoa học có thuật ngữ này Công việc này vượt quá khả năng nhà ngôn ngữ học, đòi hỏi phải có sự đóng góp của các nhà chuyên môn thuộc lĩnh vực tương ứng

Trang 19

Thuật ngữ dẫu sao vẫn là một bộ phận của hệ thống từ vựng nói chung, có quan hệ với các từ khác trong hệ thống ngôn ngữ Khi mà trình độ khoa học của quần chúng được nâng lên thì màu sắc chuyên môn và phạm vi sử dụng hạn chế của thuật ngữ sẽ không còn đối lập hoàn toàn với ngôn ngữ toàn dân

1.1.3.2 Từ cổ và từ lịch sử

Từ cổ là những đơn vị từ vựng đã tồn tại lâu đời trong quá khứ tiếng Việt nhưng nay vì đã có những từ đồng nghĩa tương ứng tahy thế nên nó ít được sử dụng hoặc không được sử dụng (Như vậy chính sự xuất hiện của các từ đồng nghĩa tương ứng làm cho chúng trở nên lỗi thời) [5; 328]

Có thể thấy các loại sau:

Những từ cổ đã hoàn toàn biến khỏi ngôn ngữ văn học hiện đại Chúng chỉ

còn trong các tác phẩm văn học cổ Ví dụ: Bui (duy, riêng), áy (héo), khởi (khỉ), ru

(trợ từ)

Trang 20

Những từ còn để lại dấu vết trong tiếng Việt hiện đại nhưng ý nghĩa đã bị lu

mờ vì chúng không được sử dụng độc lập Ví dụ: bỏng (bé bỏng), vì (vì nể), han (hỏi han), khôn (khó), chác (mua), nệ (cậu nệ), tác (tuổi), lệ (e, sợ)

Từ lịch sử là những từ ngữ biểu thị những đối tượng trong quá khứ mà những đối tượng đó hiện nay không còn nữa, làm cho chúng trở nên lỗi thời

Khác với từ cổ, từ ngữ lịch sử không có từ đồng nghĩa tương ứng trong vốn

từ tiếng Việt hiện đại Bình thường chúng ít được sử dụng nhưng khi cần diễn đạt những vấn đề có tính chất lịch sử (viết các hồi kí, tiểu thuyết lịch sử) thì chúng được phụ nguyên

1.1.3.3 Từ mới và nghĩa mới

Từ mới là những từ được hình thành và chưa bao giờ thuộc về lớp từ vựng hoạt động Dần dần với thời gian, những từ mới nhập vào vốn từ tiếng Việt hiện đại Chừng nào các từ đó được thu vào vốn từ tích cực, được sử dụng giao tiếp rộng rãi thì chúng không còn là từ mới nữa [5;334]

Trong thời đại hiện nay, do giao lưu kinh tế và hợp tác về nhiều mặt giữa các dân tộc, nhiều sự vật mới, quan hệ xã hội mới được hình thành Vì vậy trong hệ thống tiếng Việt cũng hình thành nhiều từ mới

Trang 21

Xu thế dùng từ cũ mà có nghĩa mới dựa vào sự mở rộng nghĩa của từ hiện nay đang là xu thế phát triển trong tiếng Việt Điều này thể hiện tính tiết kiệm trong ngôn ngữ

1.2 Các lớp từ vựng theo phong cách học

Phong cách học không miêu tả các lớp từ vựng theo các tiêu chí nguồn gốc, phạm

vi sử dụng, mức độ sử dụng như từ vựng học; mà chỉ hướng vào giá trị tu từ học của các lớp từ vựng Vì vậy, Đinh Trọng Lạc đã tập hợp chúng như sau:

Thâm nghiêm kín cổng cao tường

Cạn dòng lá thắm dứt đường chim xanh

(Nguyễn Du) Phong cách thơ cổ có những từ của thơ cổ, phong cách thơ mới có những từ của thơ mới Có những câu thơ, câu văn miêu tả những nhân vậy, những tình cảm hiện đại, nhưng tác giả lại lạm dụng cái ngôn ngữ thi ca cổ, cầu kì mà lại lỗi thời, buồn cười

Trang 22

Lẽ dĩ nhiên, trong loại thơ trào phúng thì có những trường hợp khéo vận dụng thơ cũ, đặt đúng chỗ, dùng đúng lúc một số từ của thơ văn xưa, có thể tăng thêm chất trào lộng:

- Gớm cho cái sóng khuynh thành

Làm cho nổ lốp gẫy vành như chơi

- Phòng văn lạnh ngắt như đồng Quạt trần mê mải vẫn lồng lộn quay

(Thợ Rèn)

1.2.2 Từ cũ

Theo Đinh Trọng Lạc trong “99 phương diện và biện pháp tư từ tiếng Việt”:

Từ cũ là từ đã được sử dụng từ lâu đã chỉ đối tượng và khái niệm vẫn đang tồn tại

Ví dụ: cao thâm (cao và sâu sắc), chính chuyên (một lòng chung thủy với chồng), lao tâm (lao động trí óc một cách vất vả, căng thẳng), hữu sự (có biến cố), nhất sinh (suốt đời), nhất đẳng (hạng tốt nhất – nói về ruộng đất), đại gia (dòng họ lớn

có tiếng tăm đời trước), đề khởi (nêu ra, nhắc đến).[13;14]

Ông cho rằng, từ cổ khác với từ cũ ở chỗ nó hoàn toàn không được sử dụng trong tiếng Việt hiện đại, mà chỉ xuất hiện trong những văn bản cũ, người đọc phải

xem chú thích mới hiểu Ví dụ: âu (lo), khống (chịu), lăm (cố giữ), bui (chỉ huy)

Trong sáng tác văn học, những từ cũ được sử dụng như một phương tiện tu

từ để miêu tả, tái tạo cuộc sống Nhiều khi chỉ cần điểm một vài từ cũ là tính cách

nhân vật cũng đã hiện ra rất rõ nét Ví dụ: lời lẽ của nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân:

Trang 23

Chữ ta thì quý thực Ta nhất sinh không chỉ vì vàng ngọc hay quyền thế mà

ép mình viết câu đối bao giờ Đời ta cũng mới viết có hai bộ bình và một bức trung

đường cho người bạn thân của ta thôi Ta rất cảm kích tấm lòng biệt nhỡn liên tài

của các người

1.2.3 Từ Hán Việt

Trong cuốn “99 phương diện và biện pháp tư từ tiếng Việt”, Đinh Trọng Lạc

đã nói: Từ Hán Việt là từ Việt mượn ở tiếng Hán, phát âm theo cách Việt Nam (quy ước thời Đường – Tống)[13;15]

Ngày nay trong kho từ ngữ tiếng Việt vẫn đang tồn tại hàng loạt cặp từ thuần Việt và Hán Việt có nghĩa tương đương (đẳng nghĩa), khác nhau về mặt sắc thái ý nghãi, về màu sắc biểu cảm, cảm xúc, bình giá, phong cách

Ông đã trình bày rất rõ sự khác nhau về sắc thái ý nghĩa giữa từ Hán Việt và thuần Việt Từ Hán Việt do sắc thái ý nghĩa trừu tượng, khái quát nên mang tính chất tĩnh tại, không gợi hình, không mang tính chất miêu tả sinh động Từ thuần Việt do có tính chất miêu tả cụ thể nên mang tính chất sinh động, gợi hình So

sánh: thảo mộc (Hán Việt) và cây cỏ (thuần Việt), thi hài và xác chết, viêm và loét, thổ huyết và hộc máu, thượng thổ hạ tả và miệng nôn trôn tháo

Ngoài ra còn có sự khác nhau về màu sắc biểu cảm – cảm xúc Nhiều từ Hán Việt mang sắc thái trang trọng, thanh nhã, trong khi đó nhiều từ thuần Việt mang

sắc thái thân mật, trung hòa, khiếm nhã So sánh: phu nhân (Hán Việt) và vợ (thuần Việt) khác nhau về sắc thái trang trọng và trung hòa, hi sinh và chết – sắc thái cao quý, trang trọng và trung hòa, tạ thế và mất – sắc thái trang trọng và thân mật, hậu môn và lỗ đít – sắc thái thanh nhã và khiếm nhã

Trang 24

Bên cạnh đó, còn có sự khác nhau về màu sắc phong cách Từ Hán Việt nhìn chung có màu sắc phong cách gọt giũa và thường được dùng trong các phong cách: khoa học, chính luận, hành chính Từ thuần Việt nhìn chung có màu sắc đa phong

cách, một số chỉ thích hợp với phong cách sinh hoạt So sánh phát biểu (Hán Việt)

và nói (thuần Việt) khác nhau về màu sắc gọt giũa và màu sắc đa phong cách, sơn

hà và núi sông – gọt giũa và đa phong cách, từ trần và bỏ xác – gọt giũa và khẩu ngữ, khẩu phật tâm xà và miệng nam mô bụng một bồ dao găm – gọt giũa và khẩu

Thăng Long thành hoài cổ

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường Đến nay thấm thoát mấy tinh sương Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu dài bóng tịch dương

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt Nước còn cau mặt với tang thương Nghìn năm gương cũ soi kim cổ

Trang 25

Cảnh đầy người đây luống đoạn trường

Những từ Hán Việt ở đây đã đưa đến cho ta cảm giác về sự thay đổi nói chung của tạo háo, đưa đến một nổi buồn đứt ruột trước một sự tất yếu Bức tranh

có nhắc đến bóng chiều, đến mặt trời, đến cỏ thu, đến ngày tháng, nhưng ở đây đã

thành tịch dương, thu thảo, tuế nguyệt, nên trở nên im lìm, phẳng lặng, tịch mịch

ngay khi miêu tả sự biến đổi

Trái lại, trong thơ Hồ Xuân Hương ta thấy tính chất sinh động, tự nhiên với lối hành động hóa, hình tượng hóa bằng những từ tượng hình:

Trai đu gối hạc khom khom cật Gái uống lưng cong ngã ngửa lòng Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới Hai hàng chân ngọc duỗi song song

(Đánh đu)

Ở đây, những từ láy đã diển tả tất cả những cái nhịp nhàng của hành động

Tả một cảnh tượng không có yên tĩnh hơn – nước giếng, Hồ Xuân Hương vân thấy được cái hoạt động của nó:

Cầu trắng phau phau đôi ván ép Nước trong leo lẻo một dòng sông Con gà lún phún leo quanh mép

Cá diếc le le tách giữa dòng

(Giếng nước)

Trang 26

Qua ví dụ trên, có thể thấy được thể thơ Thất ngôn đường luật vốn khó làm

và lại dễ cứng nhắc, công thức và thường mang phong cách nho sĩ cao thế mà Hồ Xuân Hương cứ nôm na, bình dân, lời nói cứ trong veo Đó là vì bà thích dùng những vật liệu thông thường, những từ thuần Việt, đặc biệt là những từ láy Trong thơ bà, bao giờ từ Việt cũng chiếm yếu tố chủ đạo

1.2.4 Từ vay mượn

Theo Đinh Trọng Lạc, từ mượn là từ lấy từ tiếng nước ngoài nhưng đã phần nào thích nghi với những chuẩn mực của tiếng Việt, cho nên được dùng một cách thông thường, mặc dù người nói còn cảm thấy rất rõ về nguồn gốc ngoại lại của nó.[13;18]

Ví dụ: sôcôla (bột ca cao đã được cải biến, vị ngọt và béo), xêmina (buổi sinh hoạt để thảo luận về vấn đề chuyên môn, học thuật), rôbốt (người máy), viôlông (vĩ cầm) maketting (việc nghiên cứu một cách có hệ thống những điều

kiện tốt nhất để tiêu thụ hàng hóa)

Những từ mượn này thường là của tiếng Pháp, tiếng Anh…thông qua con đường sách báo mà đi vào tiếng Việt, đặc biệt là từ những bài giới thiệu, thông tin, quảng cáo, những bài dịch từ từ tài liệu nước ngoài Lớp từ này dùng lâu dần quen

đi, không ai nghĩ đến việc tìm những từ thuần Việt thay thế, vì dịch lạ thì vừa rườm

rà vừa không chính xác, lại vừa không hợp với cách nhìn mở rộng ra bên ngoài,

tiếp nhận những cái mới mẻ, hiện đại Chẳng hạn, từ karaoke, mượn tiếng Nhật, thoạt đầu trò này được giới thiệu như sau: Chỉ cần có đầu vidéo, dàn ampli và micrô là có thể hát karaoke Người chơi cầm micrô và hát theo các bài hát có nhạc đệm Băng karaoke có lồng ghép hình các ca sĩ hoặc phong cảnh để thu hút người chơi…Nếu như ở karaoke chỉ là trò chơi trong gia đình, thì ở Việt Nam karaoke đã

Trang 27

và đang được sử dụng làm trò chơi đại chúng Rồi sau, từ karaoke được sử dụng

một cách bình thường, coi như mọi người đã biết nó Ví dụ:

- Quà trung thu: Băng karaoke “Ơi ông trăng sáng”

- Dù karaoke có gây ra nhiều phiền toái, phức tạp về an ninh, trật tự, chúng ta vẫn

thừa nhận đây là một thông tin khoa học và văn hóa

Có những từ mượn mà chúng ta chưa thể khẳng định ngay tương lai của nó

Chẳng hạn: surfing (tiếng Anh), karoshi (tiếng Nhật) Ví dụ:

- Việt Nam sẽ tổ chức cuộc thi quốc tế về lướt ván

Surfing là bộ môn lướt ván trên sóng biển hiện đang thịnh hành ở các quốc gia có

bờ biển, hiền hòa

(Việt Nam Lao động chủ nhật 13-9-1992)

- Hằng năm ở Nhật Bản có khoảng 10.000 người chết vì karoshi (tiếng Nhật có

nghĩa là: làm việc quá sức

(Hoàng Long Theo Europe Today 6-1992) Cần phân biệt những từ mượn mà tiếng Việt cần với những từ ngoại quốc

mà tiếng Việt không cần Ví dụ: những từ tiếng Pháp như: vision, resonance, projet

là không cần thiết vì đã có những từ Việt như: nhãn quang, âm vang, dự án Tuy

nhiên, trong ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ báo (trong các thể loại phỏng vấn, phóng sự…) các tác giả vẫn để cho nhân vật của mình dùng đã tiếng ngoại quốc

Có thể là vì muốn phản ánh chân thực, muốn cá tính hóa Cũng có một thực thế nữa là không ít người đặc biệt thuộc tầng lớp trí thức nghệ sĩ đã quen dùng từ ngoại quốc và cho rằng có dùng từ đó mới diễn đạt được đúng ý của mình

Trang 28

Vídụ:

- Ông nói: “Mỗi người viết có một cái vision (nhỡn quang) riêng Nó đẻ ra phong

cách Do thế mà anh thì thích tả gió, tả nắng, tả mây, tả mưa… anh thì sở trường này, sở đoản nọ…

Hồi tôi viết bài Nguyễn Văn Trỗi (Điện cao thế Nguyễn Văn Trỗi cháy sáng một

vòng trái đất) tôi muốn tạo ra cái résonnance (âm vang) toàn thế giới Tôi phải

ngồi hàng giờ trước quả địa cầu và bản đồ thế giới mà tưởng tượng”

(Nguyễn Đăng Mạnh Tản mạn về Nguyễn Tuân)

- Rất dí dỏm và tràn trề cảm xúc, Võ Hồng Anh thủ thỉ nói với khách: “ở nước ta

những projets (dự án) như chúng tôi làm, có thể nói về một số khía cạnh, chưa

được xem là đầy đủ tính thực tiễn Nhưng theo dõi nói là hữu ích và cần thiết” ( Nguyễn Ngọc Hải Con đường dẫn tới tài năng của một nữ tiến sĩ khoa học)

1.2.5 Từ hội thoại

Trong “99 phương diện và biện pháp tư từ tiếng Việt”, Đinh Trọng Lạc quan niệm: Từ hội thoại là những từ được dùng đặc biệt trong lời nói miệng sinh hoạt hằng ngày, nhất là trong đối thoại.[13; 22]

Ví dụ: Chắc dạ (no bụng, no được lâu), nói toạc (nói thẳng ra không úp mở), thần xác (phần thể xác của con người), trở mặt (đang tử tế quay ra có thái độ trở mặt), hê (vứt, ném đi một cách không thương tiếc), ăn đứt (hơn hẳn, trội hơn hẳn

về mặt nào đó được đem ra so sánh), hôi rình (có mùi hôi lên đến mức không chịu

được)

Ông đưa ra các kiểu cấu tạo từ hội thoại như: thêm yếu tố, bớt yếu tố, biến yếu tố, dùng yếu tố không có lí do

Trang 29

Trong sáng tác văn học, những từ hội thoại được nhà văn sử dụng như một công cụ lợi hại nhất để miêu tả, tái tạo cuộc sống thực Nhiều khi chỉ cần điểm một vài từ hội thoại là tính cách của nhân vật cũng được hiện ra rất rõ nét

Ví dụ lời nói của một tên lí cựu đắc ý, ra dáng có quyền thế ở chốn hương thôn:

Lí cựu bưng bát rượu kề gần lên môi và gật gù:

- Đây qua cầu rồi, cứ việc đánh chén cho đẫy Thằng Mới đâu? Ông bảo mày lấy thêm rượu làm sao từ nãy đến giờ chưa thấy? Đừng láo, ông thì chẻ xác mày ra

(Ngô Tất Tố) Trong văn chính luận, những từ hội thoại giàu màu sắc tu từ thường được dùng khá nhiều, nhằm diễn đạt những khái niệm phức tạp một cách rõ ràng, dễ hiểu; đồng thời bày tỏ thái độ tình cảm một cách mạnh mẽ Ví dụ:

- Xem nhiều sách để mà lòe, để là ra ta đây, thế không phải là biết lí luận (XYZ)

- Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta (Hồ Chí

Minh)

- Họ không nên mở miệng đòi lại quyền lợi đế quốc của họ ở Đông Dương sau khi

giặt Nhật thất bại mới phải

(Trường Chinh)

1.2.6 Từ thông tục

Cũng theo Đinh Trọng Lạc trong cuốn “99 phương diện và biện pháp tư từ tiếng Việt”, từ thông tục là những từ chỉ được dùng trong lời nói miệng thoải mái, thậm chí thô lỗ, tục tằn.[13;24]

Trang 30

Ví dụ: Chặn họng (ngăn chặn không cho nói), ngứa tiết (tức điên lên), ngứa nghề (cảm thấy bị kích thích muốn trổ tài nghệ riêng của mình – có hàm ý chê bai, châm biếm), nẫng (lấy cắp một cách nhanh, gọn, nhẹ), hố (vào tình thế do sơ suất

mà bị thiệt), dại gái (người đàn ông quá mê gái, và để cho gái lợi dụng), chó đểu (đểu giả hết sức – thường dùng làm tiếng chửi), lo sốt vó (trạng thái cuốn lên)…

Ông đã chỉ ra sự khác biệt giữa từ thông tục và từ hội thoại là ở chỗ, nó không nằm trong từ vựng của ngôn ngữ văn hóa Trong phong cách chức năng sinh hoạt hằng ngày với tính chất văn hóa thông dụng người ta thường tránh sử dụng các từ thông tục Có nghĩa là những từ thông tục chỉ được dùng trong phong cách sinh hoạt hằng ngày tự nhiên thông tục, giữa những cá nhân có quan hệ tự do, thoải mái, suồng sã Những từ thông tục cũng có thể được dùng trong các văn bản báo (tiểu phẩm, phóng sự, chính luận, đặc biệt là trong văn xuôi nghệ thuật để làm phương tiện tu từ nên đặc trưng lời nói của nhân vật Ví dụ như một đoạn đối thoại trong Mưa mùa hạ (Ma Văn Kháng) dùng những từ thông tục để đặc tả tính cách nhân vật:

- Sao bảo ông chủ tịch huyện xuống tận đây lôi ông ra kiểm điểm

- Kiểm điểm cái củ thìu tao ấy! Đêm tao đội nón ra xem, vẫn yên lành, tao mới về ngủ chứ Đứa nào nói một giấc ngủ trị giá nghìn mẫu ruộng, tao gang mồm nó ra

Mưa xuống nước lên, nó xồng xộc vào đồng, là do tao cả à? Cái cống vã là do thằng thiết kế láo.!

- Dân chúng bây giờ họ ghê lắm, họ không để bác yên đâu

- Thì làm đếch gì được tao

Trang 31

1.2.7 Từ địa phương

Theo Đinh Trọng Lạc, từ địa phương là những từ chỉ được dùng trong các phương ngữ, các thổ ngữ.[13;30]

Theo ông, từ địa phương có sự đối lập về mặt ý nghĩa Ví dụ từ ngữ địa

phương Nam Bộ: nón (mũ), chén (bát), dù (ô); từ ngữ địa phương Trung Bộ: cái hòm (cái quan tài)

Bên cạnh đó, từ địa phương có sự đối lập về mặt ngữ âm Ví dụ từ ngữ địa

phương Nam Bộ: cái vịm (cái liễu), cái cà ràng (cái bếp kiềng), con cò (cái tem), mắc cỡ (xấu hổ), ăn hiếp (bắt nạt); từ ngữ địa phương Trung Bộ: mô (đâu), rào (sông), chộ (thấy), ngái (xa), nác (nước)

Rõ ràng là có những từ ngữ địa phương có ý nghĩa khác hẳn với ý nghĩa của ngôn ngữ chung, khiến cho người quê không phải ở địa phương đó cảm thấy khó hiểu, không hiểu, mà muốn hiểu được những từ ngữ đó thì phải học

Trong ngôn ngữ nghệ thuật, từ ngữ địa phương được sử dụng để tạo ra màu sắc địa phương cho cảnh vật, nhân vật

Đọc thơ Tố Hữu, chúng ta không chỉ thấy hình ảnh bà mẹ Việt Nam nói chung và hình ảnh các bà mẹ trên khắp mọi miền Tổ quốc nhờ những từ xưng hô địa phương về bà mẹ:

- Bà mẹ miền nam (trong Bà má Hậu Giang)

- Bà mẹ trung du Bắc Bộ (trong Bầm ơi!, trong Bà bủ)

- Bà mẹ người dân tộc (mé trong Bà mẹ Việt Bắc)

Trang 32

1.2.8 Từ láy

Theo Đinh Trọng Lạc trong “99 phương diện và biện pháp tư từ tiếng Việt”,

từ láy là những từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa đối, hài hòa với nhau về âm và về nghĩa, có giá trị tượng trưng hóa.[13;33]

Ông chia từ láy thành 4 loại: láy đôi, láy ba, láy tư

Trong láy đôi có láy hoàn toàn: lăm lăm, khư khư, đo đỏ, chầm chậm…; và láy bộ phận: lòng thòng, khéo léo, ngâm nga, mò mẫm, đỏ đắn, la liếm…

Trong láy ba có dị hóa phụ âm đầu: tờ lờ mờ; chuyển đổi phụ âm cuối: sát sàn sạt…; chuyển đổi thanh điệu: khít khìn khịt, dửng dừng dưng, tẹo tèo teo, đứ đừ đừ…

Trong láy tư có láy bộ phận đôi vần: khấp kha khấp kiểng…; từ láy bộ phận điệp vần: luộm thà luộm thuộm…; từ láy hoàn toàn đổi vần: hổn hà hổn hển…

Những nhà thơ lớn của dân tộc đều là những người sử dụng từ láy rất khéo

léo: Nguyễn Du tả cảnh du xuân đã dùng các từ: dập dìu, ngổn ngang, tà tà, thơ thẩn, thanh thanh, nao nao, nho nhỏ, se se, rầu rầu,… đã làm cho bức tranh thiên

nhiên trở nên sinh động biết bao nhiêu

Nguyễn Khuyến rất có tài khai thác khả năng diễn tả của các từ láy: thấp le

te, đóm lập lòe, bé tẻo teo, tiếng sáo ve ve, bà quan tênh nghếch, thằng bé lom khom…Và bóng trăng trên mặt ao rung động được nhà thơ ghi lại bằng một từ láy:

Làn ao lóng lánh bóng trăng loe Và chỉ một từ làng nhàng đủ hình dung được dáng đấp con người chẳng gầy chẳng béo

Trang 33

1.1.9 Thành ngữ

Theo Đinh Trọng Lạc trong “99 phương diện và biện pháp tư từ tiếng Việt”, ông đã đưa ra quan niệm: Thành ngữ là những đơn vị định danh biểu thị khái niệm nào đó dựa trên những hình ảnh, những biểu tượng cụ thể [13;37]

Ông cho rằng, tính hình tượng – đặc trưng cơ bản của thành ngữ - được xây dựng trên cơ sở của phương thức so sánh, ẩn dụ, hoán dụ

Giá trị tu từ nổi bật của thành ngữ khiến cho nó thích hợp với nhiều phong cách “Thành ngữ được sử dụng rộng rãi trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân Đó là cách nói ví von rất hay, rất hình ảnh, rất thấm thía” (Hồ Chí Minh)

“Cách nói hình ảnh và hàm sức của thành ngữ lắm khi phải dùng nhiều trang sách mới minh họa được” (Gorki)

Các nhà văn, nhà thơ sử dụng nhiều thành ngữ một cách sáng tạo Miêu tả bọn sai nha phong kiến, Nguyễn Du chỉ nói vắn tắt:

Người nách thước kẻ tay dao Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi

Người đọc có thể hình dung được cái bề ngoài dữ tợn, gớm ghiếc của lũ sai nha phong kiến, đồng thời nhận ra thái độ phủ định hạng người này của Nguyễn

Du

Nam cao miêu tả: Năm Thọ vốn là thằng đầu bò đầu bướu Chỉ một thành ngữ đầu bò đầu bướu đủ nói lên tính cách ương ngạch, bướng bỉnh, bất cần, không

chịu lùi bước trước đối phương của nhân vật này

Trong phong cách chính luận, thành ngữ đem lại cho câu văn tính chất giản

dị, dễ hiểu, sức hấp dẫn và thuyết phục mạnh mẽ Khi nghe Bác Hồ nói: Sản xuất

mà không tiết kiệm khác nào gió vào nhà trống thì ta cừa cảm nhận được hình ảnh

Trang 34

sinh động gió vào nhà trống, vừa thấy được tính chất chắc chắn của sự lập luận

nhờ ở tính quy luật nằm trong nội dung thành ngữ: sạch trơn, không đem lại một chút hiệu quả nào Việc sử dụng thành ngữ thường rất linh hoạt Có thể dùng nguyên vẹn hoặc một vài yếu tố để gọi Chẳng hạn:

- Phòng khi nước đã đến chân Dao này thì liệu với thân sau này

(Truyện Kiều)

Nước đã đến chân: Lâm vào bước nguy cấp, như nước lụt đã lên đến chân, do câu

nước đến chân mới nhảy

- Đảng viên đi trước làng nước theo sau

(Hồ Chí Minh) Người nghe dễ dàng liên hệ với cái tư tưởng, tác phong lạc hậu thể hiện trong thành ngữ ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau rất quen thuộc để tự mình phê phán cái cũ, tiếp thu cái mới

Những cách dùng sáng tạo như trên làm cho thành ngữ càng thêm bóng bẩy

và người nghe thì có cái thích thú được nhắc gợi vốn ngôn ngữ của mình

1.3 Giới thiệu chung về Nguyễn Xuân Khánh và cuốn tiểu thuyết Đội gạo lên chùa

1.3.1 Nguyễn Xuân Khánh – Nhà văn bậc thầy về ngôn ngữ

Nguyễn Xuân Khánh sinh năm 1933 tại quê ngoại – phố Huế - Hà Nội, quê nội nhà văn ở làng Cổ Nhuế, nơi có nghề may (hàng chợ) nổi tiếng thuộc ngoại ô thành phố Sinh ra trong một gia đình không mấy khá giả, cụ thân sinh của ông có

Trang 35

theo học Nho học nên từ nhỏ, Nguyễn Xuân Khánh đã được làm quen với sách thánh hiền

Mồ côi cha từ năm 6 tuổi, tử bé Nguyễn Xuân Khánh đã là cậu học trò rất

mê thích văn chương, mê âm nhạc, là cây văn nghệ đàn hát Do chăm chỉ và ham học hỏi nên ông khá am hiểu chữ Nho và thông thạo tiếng Pháp Ông từng là sinh viên Đại học Y khoa – một trương đại học sang trọng ở Hà Nội, năm 1952, ông bỏ bút nghiên xin đi bộ đội rồi làm giáo viên dạy văn hóa tại trường Sĩ quan lục quân Những ngả đường hành quân, những buổi diễn tập và tình đồng đội đã thôi thúc

ông cầm bút Truyện ngắn đầu tay Một đêmông viết năm 1959 gửi báo Văn nghệ quân đội được giải nhì (không có giải nhất); đến năm 1962, ông cho ra mắt tập truyện ngắn Rừng sâu, nhà xuất bản văn học, in năm 1962, là những chừng chỉ cho

ông bước vào con đường sáng tác văn học đầy cam go và nhiều giá phải trả Những ngày tháng đi dự “Lớp bồi dưỡng người viết văn trẻ”, khóa một, ông được tiếp xúc nhiều nhà văn, nhà thơ danh tiếng như: Vũ Cao, Nguyễn Khải, Hữu Mai, Thanh Tịnh, Xuân Sách,… Đồng thời được sống cùng những người cầm bút cùng trang lứa, rồi sau này họ đều là những nhà văn chủ lực tạo nên diện mạo văn học nước nhà Học xong ông trở vè làm việc ở Tạp chí Văn nghệ quân đội Ông là cây bút năng nổ, nhưng vì vướng mắc quan điểm nghề nghiệp, ông phải chuyển sang báo Thiếu niên tiền phong Những năm đầu của cuộc chiến tranh phá hoại, ông làm phóng viên thường trú ở khu bốn Năm 1983, ông về nghỉ hưu Đời ông lại sang một bước ngoặt mới Ông phải làm rất nhiều việc nặng nhọc để có tiền nuôi con ăn học Thợ mộc, thợ bốc vác, thợ cán mì sợi, bảo vệ kho lương thực, có thời kì làm thợ may Ông có đôi bàn tay may khéo léo, từng may cắt quần áo cho nhiều nhạc

sĩ, họa sĩ Một thời túng quẫn, ông phải đi bán máu Ông từng làm Bí thư chi bộ tiểu khu Thanh Nhàn

Trang 36

Con người ông sinh ra như thể gắn bó với con chữ, sau những giờ phút lao động mưu sinh cật lực đề nhận đồng tiền nuôi vợ con, những con chữ, những trang sách lại quẫy đạp trong tâm trí ông Nhưng có lẽ vì lâm nạn nghề nghiệp một thời, nên mỗi khi toan cầm bút viết, tâm trí ông lại giằng xé Không biết sức mạnh vô hình nào cho ông đương đầu với những công việc mưu sinh quá nặng nhọc so với sức vóc của ông? Sau những phút đổ mồ hôi, sau những ngày tháng vất vả đó, đêm đêm ông lại chong đèn thức cùng con chữ Những trang sách kinh điển luôn dọi sáng huyền diệu cho ông tin yêu và vượt qua những phút giây khốn cùng nhất của cuộc đời Những con chữ vẫn bám riết lấy ông, vốn ngoại ngữ tiếng Pháo được phát huy Ông đọc và dịch hàng chục cuốn sách, ông sớm có ý thức củng cố tri thưc để làm hành trang trên con đường dài của mình

Bây giờ ngồi nhắc lại, ông và vợ của mình vẫn xuýt xoa, rồi cười trong niềm sung sướng vì đã vượt qua được những chặng đường ấy một cách ngoạn mục, để giờ đây, sau nhiều thăng trầm, nhiều trải nghiệm, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh trở thành một tên tuổi trong văn chương Việt Nam, ông để lại những đỉnh cao văn học

không dễ gì vượt qua được như: Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa…

Ông, bằng tất cả vốn tự học, tự đọc, tự nghiên cứu của mình, đã khẳng định: Văn hóa người Việt đứng vững bởi những nền tảng của văn hóa làng; đạo Nho, đạo Khổng và đạo Phật Tín ngưỡng đạo Mẫu là riêng của Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Tín ngưỡng dân gian có những nét đẹp trường tồn qua không gian, thời gian Đó là sức sống phồn thực, tính sinh sôi nảy nở của làng Việt Nam Và chính

điều đó là niềm cảm hứng để ông cho ra đời Đội gạo lên chùa cũng như với tất cả

những tiểu thuyết lịch sử trước đó

Trang 37

Ông từng nói: “Chúng ta đang ở một thế giới hiện đại, chúng ta đang mất đi những nét đẹp, thông thường chúng ta muốn chiếm đoạt Tôi muốn nói con người nên quay lại, tôi không kêu gọi người ta đi theo Phật giáo, đi tu ở chùa mà cần có lối sống Phật giáo, phải làm hằng ngày, xây dựng văn hóa cho con người, “từ bi hỉ xả” Tôi muốn người đọc tự nhận ra, không thuyết giảng Bất cứ người Việt Nam nào, dù không tôn giáo cũng đều mang chút tính cách, tâm hồn của đạo Phật Với người Việt, Phật giáo là một lối sống Với văn chương, quan trọng nhất là những ý tưởng thể hiện, và những ý tưởng của tôi luôn có khuynh hướng đi về văn hóa Văn hóa trong tiểu thuyết có thể là tập tục, nếp sống làng quê Nếu không có nền tảng văn hóa thì tiểu thuyết không đứng vững được”

Đã có biết bao nhiêu lời nhận xét, bao nhiêu hội thảo, luận văn, luận án về tác phẩm của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh Nhiều người cho rằng, ông là số ít các nhà nhà văn Việt Nam đáng đọc nhất hiện nay bởi sức nghĩ và vốn sống dày dặn của ông đã viết nên những cuốn tiểu thuyết sống cùng lịch sử văn hóa dân tộc Điều đáng nói là văn của ông mang tính lịch sử, nhưng lại có dáng dấp hiện đại, nó

là một sự giao thoa văn hóa, lịch sử - văn hóa - phong tục cổ kim đan quyện vào nhau, bởi vậy mà tác phẩm của ông đã làm xiêu lòng nhiều độc giả trẻ

Hiện ông đang sống cùng gia đình tại ngõ Trần Khát Chân, vùng đất mơ nổi tiếng xưa kia của ngoại ô Hà Nội, trong ngôi nhà cũ mới được sửa nhờ tiền giải thưởng và tiền xuất bản sách 70 tuổi, Nguyễn Xuân Khánh mới trở thành hội viên

Hội nhà văn Việt Nam sau những giải thưởng về Hồ Quý Ly…Song, với những gì

ông đã đóng góp cho nền văn học nước nhà, một người cầm bút đã tuổi tám mươi,

cứ bài năm lại cho ra một tác phẩm bề thế, đóng đinh vào tâm thức người đọc như ông thì thật là hạnh phúc

Trang 38

1.3.2 Đội gạo lên chùa – Đặc sắc văn hóa người Việt

Đội gạo lên chùa do Nxb Phụ Nữ ấn hành đầu năm 2011, đầu năm 2012 đã

được trao ngay Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, cuối năm 2012 đã tái bản lần

thứ tư Cuốn tiểu thuyết được chia làm 3 phần: 1/ Trôi sông (18 chương); 2/ Bão nổi can qua (5 chương) và 3/ Về cõi nhân gian (8 chương)

Đội gạo lên chùa là tiểu thuyết văn hóa – lịch sử của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh sau Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn, kể về một ngôi làng từ kháng chiến

chống Pháp đến chống Mỹ, nhân vật đều liên quan đến chùa làng, dù là vãi, tiểu,

du kích, bộ đội, hay ngoại xâm… Qua số phận các nhân vật ở một làng quê quanh chùa Sọ, tác giả miêu tả những biến động của xã hội Việt Nam suốt từ thời chống Pháp cho đến sau ngày đất nước thống nhất, đề cập đến rất nhiều vấn đề văn hóa -

xã hội, triết lý nhân sinh Số phận của ngôi chùa làng và những con người khơi gợi cho người đọc nghĩ ngợi thêm về thân phận con người trong những biến đổi thăng trầm chịu tác động của hoàn cảnh xã hội

Kết cấu cốt truyện theo lối cổ điển, mạch chuyện chủ yếu theo trình tự tuyến tính: chống Pháp, cải cách ruộng đất, sửa sai, rồi hợp tác hóa, tòng quân vào Nam chống Mĩ, thống nhất đất nước Nguyễn Xuân Khánh đặt ngôi chùa thờ Phật với những cuộc đời tưởng như vô thường vào vòng xoáy biến động ấy làm điểm nhìn

để bàn luận đến những vấn đề muôn thuở của kiếp người

Cách lựa chọn ngôi kể trong Đôi gạo lên chùa cũng rất đặc sắc Nguyễn

Xuân Khánh đan xen hai loại ngôi kể, ngôi kể thứ nhất, xưng “tôi” – nhân vật An;

và ngôi kể thứ ba toàn tri An xuất hiện ngay từ đầu tác phẩm để kể vê những chứng thực của mình khi sống trong môi trường Phật giáo Từ tiểu An vỡ lòng bài học gõ mõ đến sư thầy An đã thấu hiểu nếp sống qui y; từ cậu bé mồ côi lưu lạc nương nhờ chùa Sọ đến “nhà sư bộ đội” rồi khi hòa bình, với một trang trại tự cung

tự cấp, An thành người chủ gia đình lập am thờ Phật là cuộc hành hương “đi tìm

Trang 39

đạo ở trần gian” mà sự “giằng xé giữa đời và đạo” có thể coi là bằng cớ tự tri nhận

và kết quả giác ngộ: Phật giáo hoàn toàn có thể sinh thành từ ngoài cửa chùa Ở ngôi kể thứ ba, tác giả giúp cho người đọc có một cái nhìn bao quát, cụ thể về mọi không gian được xây dựng lên trong truyện Không đơn thuần chỉ là cái nhìn của

An, mà tác giả đã trao cho người đọc quyền được nhìn nhận, quan sát và đánh giá toàn bộ những diễn biến, tình tiết của câu chuyện

Xét trên phương diện lịch sử, Đội gạo lên chùa đã vẽ lên một bức tranh của

xã hội Việt Nam trong thời kì đầy biến động: Chiến tranh chống đế quốc Pháp và cuộc cải cách ruộng đất lịch sử Cuốn tiểu thuyết đã cho người đọc một cái nhìn sắc nét, chân thật về chiến tranh, về chính quyền, về người nông dân lúc bấy giờ

Xét trên phương diện văn hóa, cuốn tiểu thuyết đã cho người đọc trở về với một thời đoạn có vô vàn những nét văn hóa tuyệt vời Ta thấy được nét văn hóa đầu tiên là nét văn hóa về tâm linh, Phật giáo Đạo giáo nào cũng vậy, tuy nhiên ở Việt Nam lúc đó, Phật giáo vẫn chiếm phần nhiều hơn cả, con người sống dựa vào những nét mờ về tâm linh đó để trở nên tốt đẹp với nhau hơn, để trở nên thanh thản hơn, để trở nên an nhiên hơn Ngoài ra, truyện mở ra cho người đọc một không gian văn hóa làng xã vô cùng sinh động và tuyệt vời Tại đây, ta thấy được thói quen, các tập quán sinh hoạt của họ Hơn thế nữa, điều rất đáng được trân trọng

trong cuốn tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh là ông đã vẽ lên

là lưu giữ những nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam Trong họ không chỉ là sự dịu dàng, nét nữ tính đơn thuần, mà còn là lòng quyết tâm, quả cảm và vô cùng trong sáng…

Xét trên phương diện tiểu thuyết, Đội gạo lên chùa là một đóng góp tiêu

biểu của nhà văn trong thể loại tiểu thuyết văn hóa - lịch sử Đến với cuốn tiểu thuyết, người đọc không chỉ được bắt gặp những nét văn hóa vô cùng đẹp đẽ của

Trang 40

người Việt, mà hơn thế nữa, đọc giả sẽ có thêm những hiểu biết rõ nét, chân thật của một thời đoạn lịch sử cụ thể

Như vậy, có thể khẳng định, Đội gạo lên chùa là cuốn tiểu thuyết có giá trị

cả về phương diện nội dung lần hình thức nghệ thuật, là một trong những cuốn tiểu thuyết rất đáng để mọi độc giả đón đọc

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT VỀ CÁC LỚP TỪ VỰNG TRONG

ĐỘI GẠO LÊN CHÙA

Có thể nói, việc sử dụng các lớp từ vựng trong tác phẩm Đội gạo lên chùa là

một điểm sáng là nên giá trị của tác phẩm Nó dẫn dắt người đọc như được quay ngược thời gian sống trong quá khứ, sống trong số phận của mỗi nhân vật Gần một nghìn trang, với những sự kiện, những câu chuyện khác khác nhau, Nguyễn Xuân Khánh đã đưa độc giả vào một thời đoạn lịch sử đầy những biến cố theo tác phẩm

mà không một phút giây nhàm chán

Trong Đội gạo lên chùa, với tài sử dụng ngôn ngữ và kiến thức văn hóa

uyên thâm, Nguyễn Xuân Khánh đã vận dụng rất thành công các lớp từ vựng của

tiếng Việt Đọc Đội gạo lên chùa, bạn đọc có thể thấy được sự đa dạng, phong phú

của các lớp vựng; thấy được sử uyển chuyển, điêu luyện của tác giả khi vận dụng tất cả các lớp từ đó Không chỉ có vậy, các lớp từ vựng còn là một công cụ đắc lực

hỗ trợ cho tác giả trong việc chuyển tải nội dung, chuyển tải những kiến thức về lịch sử, về văn hóa cho bạn đọc

Trong quá trình khảo sát, chúng tôi không chỉ khảo sát và thông kê từ, mà còn cả ngữ cố định, vì ngữ cố định được sử dụng như một đơn vị từ vựng, một

Ngày đăng: 14/05/2021, 22:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thanh Ái (2009), Từ điển từ vay mượn trong tiếng Việt hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ vay mượn trong tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Trần Thanh Ái
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2009
2. Đỗ Hữu Châu (1996), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
3. Thiều Chửu (2005), Từ điển Hán – Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán – Việt
Tác giả: Thiều Chửu
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2005
4. Trương Thị Diễm (2013), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, (Tài liệu lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Trương Thị Diễm
Năm: 2013
5. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Giáo trình ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
6. Nguyễn Khánh Hà (2010), Sổ tay các biện pháp tu từ ngữ nghĩa, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay các biện pháp tu từ ngữ nghĩa
Tác giả: Nguyễn Khánh Hà
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
7. Phạm Văn Hảo (chủ biên), (2009), Từ điển phương ngữ tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển phương ngữ tiếng Việt
Tác giả: Phạm Văn Hảo (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2009
8. Đặng Thái Hòa (2005), Từ điển phương ngữ tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển phương ngữ tiếng Việt
Tác giả: Đặng Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2005
9. Nguyễn Thái Hòa (2005), Từ điển tu từ - phong cách thi pháp học, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tu từ - phong cách thi pháp học
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2005
10. Nguyễn Văn Khang (2007), Từ ngoại lai trong tiếng Việt, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngoại lai trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2007
11. Nguyễn Xuân Khánh (2012), Đội gạo lên chùa, Nxb Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đội gạo lên chùa
Tác giả: Nguyễn Xuân Khánh
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2012
12. Đinh Trọng Lạc (chủ biên), (2002), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
13. Đinh Trọng Lạc (2005), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
14. Bùi Trọng Ngoãn (2009), Giáo trình phong cách học tiếng Việt, (Tài liệu lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Bùi Trọng Ngoãn
Năm: 2009
15. Hoàng Kim Ngọc (2011), Ngôn ngữ văn chương, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ văn chương
Tác giả: Hoàng Kim Ngọc
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
16. Hoàng Phê (chủ biên), (1997), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1997
17. Bùi Minh Toàn (2012), Ngôn ngữ với văn chương, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ với văn chương
Tác giả: Bùi Minh Toàn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2012
18. Cù đình Tú (1983), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt
Tác giả: Cù đình Tú
Nhà XB: Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1983
19. Cù Đình Tú (1982), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Cù Đình Tú
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1982
20. Nguyễn Như Ý (chủ biên), (1998), Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Như Ý (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w