1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điển cố biểu thị về sự biến thiên của đời sống xã hội trong văn học trung đại việt nam

87 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điển cố biểu thị về sự biến thiên của đời sống xã hội trong văn học trung đại Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Nhung
Người hướng dẫn TS. Bùi Trọng Ngoãn
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2016
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA NGỮ VĂN NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG ĐIỂN CỐ BIỂU THỊ VỀ SỰ BIẾN THIÊN CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN Đà Nẵng

Trang 1

KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

ĐIỂN CỐ BIỂU THỊ VỀ SỰ BIẾN THIÊN CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI TRONG VĂN HỌC

TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Đà Nẵng, tháng 4/ 2016

Trang 2

KHOA NGỮ VĂN

ĐIỂN CỐ BIỂU THỊ VỀ SỰ BIẾN THIÊN CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI TRONG VĂN HỌC

TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình này là do tôi thực hiện Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung khoa học công bố trong công trình này

Đà Nẵng, tháng 04 năm 2016

Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Hồng Nhung

Trang 4

Người viết xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng đã nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt cho người viết nhiều bài học quý báu trong quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn Đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Bùi Trọng Ngoãn, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và giúp đỡ người viết trong quá trình thực hiện luận văn

Đồng thời, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và những người thân đã luôn bên cạnh ủng hộ, giúp đỡ người viết trong suốt thời gian vừa qua

Xin chân thành cám ơn!

Đà Nẵng, tháng 04 năm 2016

Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Hồng Nhung

Trang 5

Cung oán ngâm khúc CONK Chinh phụ ngâm khúc CPNK

Trang 6

Bảng 2.1: Bảng thống kê các điển cố biểu thị về sự biến thiên của đời sống xã hội

trong Truyện Kiều theo tiêu chí nội dung biểu thị 35 Bảng 2.2: Bảng thống kê các điển cố biểu thị về sự biến thiên của đời sống xã hội

trong Truyện Kiều theo tiêu chí cách dụng điển 39 Bảng 2.3: Bảng thống kê các điển cố biểu thị về sự biến thiên của đời sống xã hội

trong Cung oán ngâm khúc theo tiêu chí nội dung biểu thị 47 Bảng 2.4: Bảng thống kê các điển cố biểu thị về sự biến thiên của đời sống xã hội

trong Cung oán ngâm khúc theo tiêu chí cách dụng điển 49 Bảng 2.5: Bảng thống kê các điển cố biểu thị về sự biến thiên của đời sống xã hội

trong Chinh phụ ngâm khúc theo tiêu chí nội dung biểu thị 54 Bảng 2.6: Bảng thống kê các điển cố biểu thị về sự biến thiên của đời sống xã hội

trong Chinh phụ ngâm khúc theo tiêu chí cách dụng điển 55

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục luận văn 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG MỘT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 5

1.1 KHÁI NIỆM ĐIỂN CỐ 5

1.1.1 Khái niệm điển cố trong các từ điển tường giải 5

1.1.2 Tiêu chí phân loại 6

1.2 ĐIỂN CỐ BIỂU THỊ SỰ BIẾN THIÊN CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI 8

1.2.1 Khái niệm điển cố biểu thị về sự biến thiên của đời sống xã hội 8

1.2.2 Tiêu chí lựa chọn để khảo sát 9

1.3 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI ĐƯỢC KHẢO SÁT 10

1.3.1 Truyện Kiều 10

1.3.1.1 Tác giả Nguyễn Du 10

1.3.1.2 Tác phẩm “Truyện Kiều” 12

1.3.2 Cung oán ngâm khúc 13

1.3.2.1 Tác giả Nguyễn Gia Thiều 13

1.3.2.2 Tác phẩm “Cung oán ngâm khúc” 14

Trang 8

CHƯƠNG HAI: KHẢO SÁT CÁC LOẠI ĐIỂN CỐ BIỂU THỊ VỀ SỰ BIẾN

THIÊN CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI TRONG CÁC TÁC PHẨM 18

2.1 KHẢO SÁT CÁC ĐIỂN CỐ BIỂU THỊ SỰ BIẾN THIÊN CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI TRONG TRUYỆN KIỀU 18

2.1.1 Miêu tả và phân loại theo tiêu chí nội dung biểu thị 18

2.1.1.1 Miêu tả 18

2.1.1.2 Thống kê 34

2.1.2 Các điển cố biểu thị sự biến thiên xã hội trong truyện Kiều xét theo tiêu chí cách dụng điển 37

2.1.2.1 Miêu tả 37

2.1.2.2 Thống kê 38

2.2 KHẢO SÁT CÁC ĐIỂN CỐ BIỂU THỊ SỰ BIẾN THIÊN CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI TRONG CUNG OÁN NGÂM KHÚC 41

2.2.1 Miêu tả và phân loại theo tiêu chí nội dung biểu thị 41

2.2.1.1 Miêu tả 41

2.2.1.2 Thống kê 46

2.2.2 Các điển cố biểu thị sự biến thiên xã hội trong Cung oán ngâm khúc xét theo tiêu chí cách dụng điển 48

2.2.2.1 Miêu tả 48

2.2.2.2 Thống kê 49

2.3 KHẢO SÁT CÁC ĐIỂN CỐ BIỂU THỊ SỰ BIẾN THIÊN CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI TRONG CHINH PHỤ NGÂM KHÚC 50

2.3.1 Miêu tả và phân loại theo tiêu chí nội dung biểu thị 50

2.3.1.1 Miêu tả 50

2.3.1.2 Thống kê 53

Trang 9

2.3.2.1 Miêu tả 54

2.3.2.2 Thống kê 55

CHƯƠNG BA: TẦM TÁC ĐỘNG CỦA ĐIỂN CỐ BIỂU THỊ VỀ SỰ BIẾN THIÊN CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI ĐỐI VỚI THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG CÁC TÁC PHẨM 57

3.1 TẦM TÁC ĐỘNG CỦA ĐIỂN CỐ ĐỐI VỚI THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT “TRUYỆN KIỀU” 57

3.1.1 Tác động của điển cố đối với nội dung thể hiện 57

3.1.2 Tác động của điển cố đối với văn bản nghệ thuật “Truyện Kiều” 59

3.1.3 Tác động của điển cố đối với phong cách ngôn ngữ Nguyễn Du 62

3.2 TẦM TÁC ĐỘNG CỦA ĐIỂN CỐ ĐỐI VỚI THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT “CUNG OÁN NGÂM KHÚC” 65

3.2.1 Tác động của điển cố đối với nội dung thể hiện 65

3.2.2 Tác động của điển cố đối với văn bản nghệ thuật “Cung oán ngâm khúc” 67

3.2.3 Tác động của điển cố đối với phong cách ngôn ngữ Nguyễn Gia Thiều 69

3.3 TẦM TÁC ĐỘNG CỦA ĐIỂN CỐ ĐỐI VỚI THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT “CHINH PHỤ NGÂM KHÚC” 71

3.3.1 Tác động của điển cố đối với nội dung thể hiện 71

3.3.2 Tác động của điển cố đối với ngôn ngữ tác phẩm 72

3.3.3 Tác động của điển cố đối với phong cách ngôn ngữ tác giả 73

KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX mang ý nghĩa to lớn trong lịch sử văn học nước nhà Xét trong toàn bộ tiến trình văn học dân tộc, văn học Trung đại Việt Nam có một vị trí đặc biệt quan trọng, bởi suốt hàng nghìn năm phát triển, văn học trung đại đã phản ánh được đất nước Việt, con người Việt, đồng thời

là ý thức của người Việt về tổ quốc, dân tộc Chính từ văn học Trung đại, những truyền thống lớn trong văn học dân tộc đã hình thành, phát triển và ảnh hưởng rất rõ đến sự vận động của văn học hiện đại Nó là nguồn động viên tinh thần lớn lao đối với thời đại lúc bấy giờ

Đối với văn chương Trung đại, dụng điển là một yêu cầu bắt buộc Người sáng tác xưa không chỉ coi dụng điển là một tiêu chuẩn thẩm mĩ của văn bản mà còn là một phương tiện đánh giá tầm kiến văn của người viết về lịch sử, văn hóa, văn học,

xã hội, và kinh nghiệm sống của người xưa Nhìn lại nền văn học trong quá khứ, điển cố thực sự chiếm lĩnh một vai trò quan trọng và thể hiện một chức nãng mạnh

mẽ trong sáng tác

Những điển cố ấy đã thể hiện vô vàn nội dung, ý nghĩa theo ý đồ sử dụng của tác giả, mỗi một điển cố là một câu chuyện phía sau từ ngữ, trong đó những điển tích, điển cố biểu thị về sự biến thiên của đời sống xã hội xuất hiện nhiều trong các tác phẩm văn học Trung đại Tuy nhiên việc tiếp cận và phân tích tác phẩm văn học Trung đại đối với học sinh Trung học phổ thông hiện nay gặp không ít khó khăn Bởi vốn kiến thức về lịch sử, văn hóa, xã hội thời Trung đại còn hạn chế; đồng thời

còn do tính hàm súc, ước lệ của các điển cố nữa Vì thế, đề tài Điển cố biểu thị sự

biến thiên của đời sống xã hội trong văn học trung đại Việt Nam hi vọng sẽ kéo

gần khoảng cách những tác phẩm Trung đại về phía người học

2 Lịch sử vấn đề

Vấn đề sử dụng điển cố trong thơ văn trung đại từ xưa đến nay đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập với nhiều góc độ khác nhau:

Trang 11

Trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu [10] của giáo sư Dương Quảng Hàm, chương XVII có đề cập tới “Tính cách chính của tác phẩm về văn chương: các

điển cố” Với chương này tác giả đã làm sáng tỏ khái niệm thế nào là điển cố,

hai phép dùng điển và lấy chữ cũng như bốn hiệu quả của việc dùng điển cố là: Làm cho lời văn đậm đà và kỳ thú hơn, tránh được những điều khó nói, là chứng

cớ trong văn chương Cuốn Thi pháp thơ Đường [25] của Quách Tấn ở bức thư

17,18 cũng đề cập đến vấn đề sử dụng điển cố của cổ nhân là: Minh dụng, thái dụng, ám dụng, tá dụng Qua đó có những lời khuyên chân thành đối với những người muốn sử dụng điển cố vào làm thơ

Nhìn chung hai cuốn sách trên mới nói những nét khái quát nhất về vấn đề sử dụng điển cố trong thơ văn Phải đến các bài nghiên cứu sau này các tác giả mới đi sâu vào nghiên cứu một tác phẩm cụ thể có dùng điển cố:

Trên Tạp chí văn học số 1/1997, tác giả Nguyễn Thúy Hồng đã đề cập đến

Việc sử dụng điển cố Hán học trong Chinh Phụ Ngâm nguyên tác và bản dịch hiện hành [13] Với bài viết này tác giả đã giải quyết được một số vấn đề: Tên

gọi điển cố, tác dụng của điển cố là làm tăng tính hàm súc và tính biểu trưng

Sau đó tác giả làm tiếp công việc đối chiếu số lượng điển cố trong Chinh Phụ

Ngâm nguyên tác với bản dịch hiện hành để rút ra nhận xét, đánh giá

Trong cuốn Thi pháp Truyện Kiều [23] của Trần Đình Sử, chúng tôi nhận thấy ông cũng dành một phần viết về “Điển cố trong Truyện Kiều” Theo ông: “Điển cố

là một trong những biện pháp tu từ cơ bản của văn chương cổ điển” [23, tr.289]

“Trong Truyện Kiều điển cố sử dụng khá nhiều, song không phải chỗ nào dẫn việc cũng là điển cố văn học” [23, tr.291], tác dụng của điển cố trong Truyện Kiều là

giúp nói những điều khó nói, làm cho lời văn thêm uyên bác, trau chuốt Đặc biệt ông đi sâu vào phân tích các điển cố Nguyễn Du đã từng sử dụng để miêu tả tiếng đàn lần đầu tiên Thúy Kiều gảy cho Kim Trọng nghe và tiếng đàn lúc tái hợp Từ đó

đi đến kết luận “phạm vi sử dụng điển cố khá rộng, trong lời thoại nhân vật, trong

lời tự sự, miêu tả chân dung, thể hiện tình cảm, miêu tả tiếng đàn…” [23, tr.304]

trong mỗi phạm vi lại có những hiệu quả khác nhau

Trang 12

Năm 2003 với sự ra đời của cuốn sách Điển cố và nghệ thuật sử dụng điển

cố [17] của Đoàn Ánh Loan, thì điển cố được nghiên cứu khá toàn diện, và đã

khái quát được gần như toàn bộ các khía cạnh của điển cố và việc sử dụng nó trong văn chương trung đại Cụ thể là ở phần chương 1 và 2 tác giả đã trình bày những nét chung mang tính lí luận về điển cố Đến chương 3 và 4, cuốn sách đi vào vận dụng những phần mà lý thuyết đã trình bày Tác giả đã đi vào khảo sát

“Nghệ thuật sử dụng điển cố trong truyện thơ nửa cuối thế kỷ XVIII- đầu thế kỷ XIX” Nhìn chung đây là một công trình nghiên cứu khá công phu, tỉ mỉ, chứng

tỏ được tinh thần lao động tích cực của tác giả Thông qua công trình nghiên cứu này người đọc bước đầu đã có một cái nhìn bao quát về điển cố từ lịch sử hình thành, đặc điểm, đến lịch sử vận dụng… Đồng thời nó cũng làm cơ sở cho việc tìm hiểu và nghiên cứu điển cố trong từng tác phẩm cụ thể sau này Tuy nhiên, Đoàn Ánh Loan chỉ giả định, không phân tích về khái niệm “điển cố”, không phân tích về tiêu chí nhận diện “điển cố”

Có thể thấy rằng mặc dù đã được quan tâm nhưng các công trình nghiên cứu

về điển cố có số lượng không nhiều và chưa thật sự được đào sâu Thiển nghĩ Điển

cố biểu thị về sự biến thiên của đời sống xã hội trong văn học trung đại Việt Nam

là một đề tài đáng được nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các điển tích, điển cố biểu thị về sự biến

thiên của đời sống xã hội trong ngôn ngữ các tác phẩm: Truyện Kiều, Chinh phụ

ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các văn bản nghệ thuật: Truyện Kiều, Chinh

phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp:

- Phương pháp thống kê, khảo sát, định lượng và định tính

- Các thao tác so sánh, đối chiếu

- Thao tác phân tích, miêu tả, suy luận, khái quát hóa

Trang 13

5 Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của luận

văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài

Chương 2: Khảo sát các loại điển cố biểu thị về sự biến thiên của đời sống xã hội trong các tác phẩm

Chương 3: Tầm tác động của điển cố biểu thị về sự biến thiên của đời sống xã hội đối với Thế giới nghệ thuật trong các tác phẩm

Trang 14

NỘI DUNG CHƯƠNG MỘT NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 KHÁI NIỆM ĐIỂN CỐ

1.1.1 Khái niệm điển cố trong các từ điển tường giải

Như chúng ta đã biết, tiếng Việt với tư cách là một ngôn ngữ hoàn chỉnh nó có thể diễn tả được những sắc thái tình cảm một cách đa dạng và phong phú nhất của cuộc sống và con người Tiếng Việt là tiếng nói của dân tộc, vì thế nó đi sâu vào tiềm thức con người, là ngôn ngữ vô cùng rộng lớn về số lượng Trong tiến trình

phát triển của văn học Việt Nam, các tác phẩm văn học Trung Đại đã góp phần

quan trọng cho sự thay đổi, làm cho tiếng Việt ngày càng bộc lộ đầy đủ những khả năng ưu việt của nó hơn Ngoài các yếu tố văn học dân gian được sử dụng một cách linh hoạt, nhuần nhuyễn thì các tác giả còn sử dụng hết sức tài tình, độc đáo, dân tộc hóa được các yếu tố Hán- Việt, những câu thơ chữ Hán và đặc biệt là việc dùng các điển cố trong văn học cổ điển Trung Hoa

Điển cố là một khái niệm mà có lẽ cho tới ngày nay vẫn còn gây nhiều khó khăn cho các nhà nghiên cứu văn học Vì chưa có một tên gọi thống nhất, cùng một khái niệm nhưng các nhà nghiên cứu lại dùng các thuật ngữ khác nhau gây khó khăn cho việc tiếp nhận và nghiên cứu

Thiều Chửu, Hán Việt tự điển [3] định nghĩa như sau:

- TÍCH: là xưa, lâu ngày [3, tr.258]

- ĐIỂN: là kinh điển, phép thường; viết văn dẫn điển tích ngày xưa gọi là

điển [3, tr.59]

- CỐ: là việc cũ [3, tr.246]

Như vậy, theo Thiều Chửu yếu tố cơ bản trong nghĩa của “ điển cố” là chuyện cũ đã trở thành kinh điển Trong khi đó, “ điển tích” cũng là chuyện cũ nhưng chỉ tập trung vào nét nghĩa xưa lâu ngày Vậy, nghĩa của “ điển cố” có

phần rộng hơn nghĩa của “ điển tích” Cho nên chúng tôi chọn: “ Các điển cố

Trang 15

biểu thị sự biến thiên của đời sống xã hội trong văn học Trung đại Việt Nam” là

tên đề tài Trong các sách cũ người ta thường dùng không phân biệt hai khái niệm điển tích và điển cố Hiện nay các sách về điển tích, điển cố thường được gọi chung là điển cố

Trong Hán Việt từ điển giản yếu [1] Đào Duy Anh lại định nghĩa một cách

ngắn gọn: “điển cố là những chuyện chép trong sách vở xưa” [1, tr.254] Không có

định nghĩa về “ điển tích”, điều này chứng tỏ “ điển cố” được sử dụng thông dụng hơn “điển tích”

Thanh Nghị, Việt Nam tân từ điển minh họa [18] có định nghĩa như sau:

“Điển: Kinh sách ngày xưa” [18, tr.502]; “Cố: Phép tắc cổ điển” [18, tr.502] Vậy,

theo Thanh Nghị, “điển cố” dùng để chỉ những phép tắc cổ điển được chép trong kinh sách ngày trước

Hoàng Phê có định nghĩa về “ điển cố”, “ điển tích” trong Từ điển tiếng Việt

[19]: “Điển cố: Sự việc hay câu chữ trong sách đời trước được dẫn trong thơ văn.” [19, tr.308]; “Điển tích: Câu chuyện trong sách đời trước, được dẫn lại một cách

cô đúc trong tác phẩm.” [19, tr.308] Theo như cách định nghĩa của Hoàng Phê thì “

điển tích” có phạm vi chỉ ở những câu chuyện, còn “ điển cố” lại có phạm vi rộng hơn bao gồm những sự việc, những câu chữ Điều này một lần nữa khẳng định: có thể sử dụng từ “điển cố” để chỉ chung cho cả “điển cố” và “ điển tích”

Để việc triển khai đề tài luận văn được thống nhất và dễ dàng hơn chúng tôi

xin chọn một cách hiểu thống nhất về điển cố: Điển cố là những câu chuyện xưa,

tích cũ được rút gọn thành một từ, ngữ ngắn gọn, hàm súc chứa đựng nhiều ý nghĩa biểu trưng, được sử dụng nhiều trong sáng tác thơ, văn

1.1.2 Tiêu chí phân loại

*Tiêu chí 1: Tiêu chí nguồn gốc không gian văn hóa lịch sử mà chúng hình thành sẽ bao gồm ba loại:

- Các điển cố hình thành từ văn hóa văn học Trung Hoa

- Các điển cố hình thành từ văn học cổ điển phương Tây

- Các điển cố hình thành từ văn chương truyền thống Việt Nam

Trang 16

*Tiêu chí 2: Nội dung điển cố tức là dựa vào phạm vi biểu vật của điển cố thì

có thể chia ra như cách làm của Đinh Gia Khánh:

- Những sự tích

- Nhân vật

- Các thành ngữ xuất phát từ những câu chuyện cũ

Ở sự việc và con người tùy thuộc vào phạm vi biểu vật có thể có những cách chia khác nhau

Ví dụ: Điển tích, điển cố thể hiện về cha mẹ: Sân Lai, gốc tử, …

Điển tích, điển cố về tình phụ tử cha con, mẫu tử mẹ con

Điển tích, điển cố thể hiện về tình vợ chồng, tình yêu

Trong đó, có những điển tích, điển cố về những biến thiên về nhân tình thế thái

* Tiêu chí 3: Phân loại theo cách dụng điển Theo tiêu chí này có thể phân lập thành hai dạng:

(1) Phân loại theo các yếu tố ngôn ngữ mà người dụng điến sử dụng để tái hiện điển cố trong văn bản của mình Có thể gọi đây là tiêu chí khuôn khổ ngôn ngữ

mà điển cố có mặt trong văn bản mới Theo tiêu chí này, có thể nhận diện được hình thức gợi dẫn của điển cố trong văn bản mà nó được sử dụng thuộc các phạm trù từ vựng hay ngữ pháp

(2) Phân loại thuộc phương cách gợi dẫn điển cố Theo cách gợi dẫn điển cố

có các hình thức như sau:

-Dùng từ ngữ là tiêu điểm thông tin của điển cố để gợi điển, theo cơ chế ẩn dụ; -Dùng tên nhân vật và tên riêng đại diện cho điển cố để gợi điển;

-Dùng thành ngữ được hình thành từ điển cố để gợi điển;

-Dùng tục ngữ được hình thành từ điển cố để gợi điển;

-Dùng một lời thơ ý thơ gắn với điển cố để gợi điển;

Cách sắp xếp các kiểu dạng điển trên cũng đã tích hợp tiêu chí ngôn ngữ: Ba nhóm đầu thuộc bình diện từ vựng, hai nhóm sau thuộc bình diện ngữ pháp

* Tiêu chí 4: Tiêu chí ngôn ngữ Thực chất phải gọi đây là tiêu chí cấu trúc ngôn ngữ của điển cố trong văn bản mà điển cố đó được sử dụng Thông thường

Trang 17

người ta chỉ dùng một yếu tố nào đó đại diện cho điển cố Nếu lấy các bình diện ngôn ngữ làm tiêu chí thì có thể phân chia thành hai nhóm lớn:

- Các điển cố được gợi dẫn thuộc phạm vi từ vựng

- Các điển cố được gợi dẫn thuộc phạm vi ngữ pháp

Mặc dù điển cố có tính cố định nhưng khi sử dụng, người dùng điển không nhất thiết phải dùng lại cả tổ hợp cố định đó mà có thể dùng một hoặc một vài yếu

tố ngôn từ liên quan đến điển cố Nói cách khác, trong thực tế sử dụng, các điển cố thường được người dụng điển tái tạo một cách linh hoạt, uyển chuyển Do đó chúng tôi bắt buộc phải kết hợp tiêu chí ngôn ngữ với tiêu chí phương cách gợi dẫn điển

cố Chúng tôi vẫn băn khoăn về trường hợp như là: “Chiêu Quân cống Hồ”, người dụng điển chỉ dùng cái tên “Chiêu Quân” hoặc “Thanh trũng” thì cũng gợi dẫn về

điển cố đó, và chúng thuộc về phạm vi từ vựng Trong khi đó, người ta có thể dùng

các đơn vị : “Chiêu Quân cống Hồ” hoặc “Trầm ngư lạc nhạn” cũng biểu thị về Chiêu Quân và sự bất hạnh của đời cô nhưng hai cụm từ “Chiêu Quân cống Hồ” và

“Trầm ngư lạc nhạn” lại thuộc bình diện ngữ pháp Do đó nếu chỉ sử dụng tiêu chí

ngôn ngữ thì cùng một điển cố lại phải đưa vào hai nhóm khác nhau, tức là thiếu nhất quán Vì thế phải kết hợp hai tiêu chí là cách dụng điển và cấp độ ngôn ngữ để tập hợp chúng

1.2 ĐIỂN CỐ BIỂU THỊ SỰ BIẾN THIÊN CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

1.2.1 Khái niệm điển cố biểu thị về sự biến thiên của đời sống xã hội

Hán Việt từ điển giản yếu [1] định nghĩa “biến: thay đổi không thường, điều

tai vạ xảy ra” [1, tr.69] Còn “thiên: dời đi nơi khác; thay đổi” [1, tr.847] Và “biến thiên” nghĩa là “sự vật thay đổi” [1, tr.70]

“Xã hội” được Đào Duy Anh định nghĩa như sau: “những đoàn thể loài người

có mối quan hệ sinh hoạt chung nhau” [1, tr.986] C.Mac xác định “ con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Như vậy có thể hiểu “xã hội” là những vấn đề,

những khía cạnh trong đời sống con người, trong mối quan hệ với quần thể

Từ đó chúng tôi quan niệm “những biến thiên trong đời sống xã hội” là toàn

bộ diện mạo của những đổi thay, dịch chuyển ở đời sống xã hội Tuy nhiên, trong

Trang 18

cái nhìn biện chứng, phải đặt cái đổi thay, dịch chuyển đó trong mối quan hệ với cái

hiện tồn, cái bình ổn của nó Như vậy, “những biến cố biểu thị về những biến thiên

của đời sống xã hội” nếu hiểu theo nghĩa hẹp là những điển cố có liên quan đến

những thay đổi, những dịch chuyển Nhưng hiểu theo nghĩa rộng, một góc độ nào

đó nó vẫn bao gồm cái hiện tồn và cái bình ổn Vì thế trong một số trường hợp,

chúng tôi hiểu “những biến cố biểu thị về những biến thiên của đời sống xã hội”

theo nghĩa rộng

1.2.2 Tiêu chí lựa chọn để khảo sát

Như vậy, tiêu chí lựa chọn để khảo sát của chúng tôi là:

1 Điểm xuất phát của chúng phải là những điển cố tức là những đơn vị từ vựng gắn với câu chuyện hay là lời lẽ của các bậc tiền nhân hoặc các triết lí tôn giáo được tách ra và sử dụng theo nghĩa ẩn dụ cho các triết lí đó

2 Những điển cố này, về mặt nội dung phải biểu thị về sự biến thiên của đời sống xã hội Trong đó, biến thiên không hẳn là thay đổi mà là tất cả những gì liên quan đến những trạng thái chuyển hóa các quan hệ con người, hiện tượng tự nhiên đều được chúng tôi tập hợp:

- Những may mắn ngẫu nhiên trong đời

- Những bất trắc, bất lợi tình cờ, đột ngột xảy ra trong đời

- Đường đời trắc trở

Được chia thành các nhóm chủ đề nhỏ:

+ Cuộc đời đổi thay

+ Cuộc đời nổi trôi, ngang trái, loạn lạc

+ Cuộc đời hư ảo, huyền hồ

+ Hành động về những ứng xử trong đời

+ Tình yêu nam nữ và tình yêu xa cách

Bị chú: Có những trường hợp cổ ngữ hoặc quan niệm truyền thống của người Trung Hoa được hình thành từ lịch sử Trung Hoa nên chúng tôi đưa vào Và những trường hợp này đều đã được Đinh Gia Khánh đưa vào từ điển, điển cố

Trang 19

1.3 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI ĐƯỢC KHẢO SÁT

1.3.1 Truyện Kiều

1.3.1.1 Tác giả Nguyễn Du

Nguyễn Du (chữ Hán: 阮攸; (1765–1820) tên tự Tố Như (素如), hiệu Thanh Hiên (清軒), biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ (鴻山獵戶), là một nhà thơ nổi tiếng thời

Lê mạt, Nguyễn Sơ ở Việt Nam Nguyễn Du được xem như là một nhà thơ lớn của

Việt Nam, được người Việt kính trọng gọi ông là "Đại thi hào dân tộc" Năm 1965,

ông được UNESCO tôn vinh là danh nhân văn hóa thế giới

Nguyễn Du thuộc về một gia đình khoa hoạn nổi danh ở làng Tiên Điền về thời

Lê mạt Thân phụ ông là Nguyễn Nghiễm (1708-1775), đậu Nhị giáp Tiến sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ (Tể tướng), tước Xuân Quận Công dưới triều Lê Ngoài là một đại thần, Nguyễn Nghiễm còn là một nhà thơ, một nhà nghiên cứu lịch sử Mẹ Nguyễn Du là bà Trần Thị Tần (1740-1778), con gái một người thuộc hạ làm chức câu kế, người xã Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh Bà Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, trẻ hơn chồng 32 tuổi Bà sinh được năm con, bốn trai và một gái

Thuở nhỏ Nguyễn Du sống trong nhung lụa, nhưng cuộc sống này kéo dài không quá mười năm Vì 10 tuổi đã mồ côi cha, năm 13 tuổi, mồ côi mẹ, ông và các anh em ruột phải đến sống với người anh cả khác mẹ là Nguyễn Khản Năm

1780, khi Nguyễn Du mới 15 tuổi th́ì xảy ra“Vụ mật án Canh Tý” khiến ông Khản phải cải trang trốn lên Sơn Tây sống với em là Nguyễn Điều rồi về quê ở

Hà Tĩnh Thế là anh em Nguyễn Du từ bấy lâu đã đến nương nhờ ông Khản, mỗi người phải mỗi ngã

Năm 1783, Nguyễn Du thi Hương đỗ tam trường (tú tài) Trước đây, một võ quan họ Hà ở Thái Nguyên, nhận ông làm con nuôi Vì thế, khi người cha này mất, Nguyễn Du được tập ấm một chức quan võ nhỏ ở Thái Nguyên Năm 1786, Tây Sơn bắt đầu đưa quân ra Bắc Hà Năm 1789, Nguyễn Huệ, một trong ba thủ lĩnh của nhà Tây Sơn đã kéo quân ra Bắc đánh tan hai mươi mấy vạn quân Thanh sang tiến

Trang 20

chiếm Đại Việt Nguyễn Du cũng chạy theo vua Lê Chiêu Thống (1766-1793) nhưng không kịp, đành trở về quê vợ, ở Quỳnh Côi ở Thái Bình, sống nhờ nhà người anh vợ

Được vài năm, Nguyễn Du về Nghệ An Năm 1796, nghe tin ở Gia Định, chúa Nguyễn Ánh (1762-1819) đang hoạt động mạnh, ông định vào theo, nhưng chưa đi khỏi địa phận Nghệ An thì đã bị quân Tây Sơn do tướng Nguyễn Thuận chỉ huy, bắt giữ ba tháng Trở về Tiên Điền (Hà Tĩnh), ông sống chật vật một thời gian dài cho đến mùa thu năm 1802, khi chúa Nguyễn Ánh lên ngôi, thì ông được gọi ra làm quan cho nhà Nguyễn Năm 1802, ông nhậm chức Tri huyện tại huyện Phù Dung (Khoái Châu, Hưng Yên) Tháng 11 cùng năm, đổi làm Tri phủ Thường Tín (Hà Tây, Hà Nội) Kể từ đó, Nguyễn Du lần lượt đảm đương các chức việc sau: Năm 1803: đến cửa Nam Quan tiếp sứ thần nhà Thanh, Trung Quốc Năm 1805: thăng hàm Đông Các điện học sĩ Năm 1807: làm Giám khảo trường thi Hương ở Hải Dương Năm 1809: làm Cai bạ dinh Quảng Bình Năm 1813: thăng Cần Chánh điện học sĩ và giữ chức Chánh sứ đi Trung Quốc Sau khi đi sứ về vào năm 1814, ông được thăng Hữu tham tri Bộ Lễ

Năm 1820, Gia Long mất, Minh Mạng lên ngôi, Nguyễn Du lại được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc, nhưng chưa kịp lên đường thì mất đột ngột (trong một trận dịch khủng khiếp làm chết hàng vạn người lúc bấy giờ) ở kinh đô Huế vào ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn tức 18 tháng 9 năm 1820 Lúc đầu, Nguyễn Du được an táng ở xã An Ninh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Bốn năm sau mới cải táng về Tiên Điền (Hà Tĩnh)

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Nguyễn Du đã để lại một kho tàng đồ sộ, phong phú, có giá trị vô cùng to lớn

Tác phẩm bằng chữ Hán gồm các tập thơ:

Thanh Hiên thi tập (Tập thơ của Thanh Hiên) gồm 78 bài, viết chủ yếu trong

những năm tháng trước khi làm quan nhà Nguyễn

Nam trung tạp ngâm (Ngâm nga lặt vặt lúc ở miền Nam) gồm 40 bài, viết khi

làm quan ở Huế, Quảng Bình và những địa phương ở phía nam Hà Tĩnh

Trang 21

Bắc hành tạp lục (Ghi chép linh tinh trong chuyến đi sang phương Bắc) gồm

131 bài thơ, viết trong chuyến đi sứ sang Trung Quốc

Tác phẩm bằng chữ Nôm trong sáng tác của Nguyễn Du gồm có:

Đoạn trường tân thanh (Tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột Tên phổ biến là Truyện Kiều), được viết bằng chữ Nôm, gồm 3.254 câu thơ theo thể lục bát Nội

dung của truyện dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân,

Trung Quốc

Văn chiêu hồn (tức Văn tế thập loại chúng sinh, dịch nghĩa: Văn tế mười loại

chúng sinh) Tác phẩm được làm theo thể song thất lục bát, gồm 184 câu thơ chữ Nôm

Thác lời trai phường nón, 48 câu, được viết bằng thể lục bát Nội dung là thay

lời anh con trai phường nón làm thơ tỏ tình với cô gái phường vải

Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ, 98 câu, viết theo lối văn tế, để bày tỏ nỗi uất

hận vì mối tình với hai cô gái phường vải khác Hai bài này được sáng tác khoảng thời gian Nguyễn Du về sống ở Nghệ An, sau bị quân Tây Sơn bắt giữ rồi thả

1.3.1.2 Tác phẩm “Truyện Kiều”

Truyện Kiều là tiểu thuyết viết bằng thơ lục bát Truyện phản ánh xã hội

đương thời thông qua cuộc đời Vương Thuý Kiều Xuyên suốt tác phẩm là chữ

"tâm" theo như Nguyễn Du đã tâm niệm "Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu" (nghĩa là

"Linh Sơn chỉ ở lòng người thôi")

Truyện Kiều của Nguyễn Du Tác phẩm kể lại số phận chìm nổi, đau thương

của Thúy Kiều trải qua mười lăm năm lưu lạc, chịu nhiều kiếp nạn đoạn trường Kiều chính là nạn nhân của chế độ phong kiến bạo tàn, nhẫn tâm cướp đi quyền hạnh phúc và cái tôi cá nhân của con người Nhưng Kiều lại là một người đáng quý, đáng trân trọng, từ trong đau thương, bất hạnh nàng vẫn không ngừng vươn tới, vẫn

cố thể hiện những phẩm chất cao quý, tốt đẹp của một con người, nàng đại diện cho

mẫu người “chân, thiện, mỹ” trong xã hội lúc bấy giờ Là tấm gương sáng soi chiếu

và phản ảnh những bộ mặt xấu xa, tàn ác của kẻ “buôn thịt bán người”, bọn quan

lại độc ác trong xã hội lộ rõ bộ mặt của chúng

Thông qua Truyện Kiều, Nguyễn Du đã bộc lộ thái độ thương yêu, trân trọng,

đấu tranh, bênh vực cho quyền sống con người, cũng như lên tiếng chống lại những

Trang 22

xấu xa, bất công trong xã hội Nó mang tinh thần nhân đạo cao cả và sâu sắc

Nguyễn Du đã thật sự thành công khi viết Truyện Kiều Nội dung tuy không có gì khác với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, nhưng qua việc sử dụng

ngôn ngữ điêu luyện, tài tình, ngòi bút sắc sảo, vững chắc như Xuân Diệu đã khen

ngợi “đúng Nguyễn Du là tay thầy” nên mới thành công đến như vậy

Truyện Kiều của Nguyễn Du hiện lên thật sống động, chiếm lấy nhiều tình

cảm độc giả và mãi tồn tại cho tới ngày nay Truyện Kiều được đánh giá là “tập đại

thành” của văn học Việt Nam, một kiệt tác nghệ thuật vô cùng đặc sắc Thể thơ lục

bát được ông sử dụng hết sức nhuần nhị, điêu luyện, câu thơ có khả năng vô tận

trong diễn tả tâm trạng và số phận con người Có thể gọi Truyện Kiều là cuốn tiểu

thuyết tâm lý đặc sắc trong văn học trung đại, kết cấu theo dòng tâm trạng và sự biến đổi liên tục của cuộc đời nhân vật Nhưng trong quá trình phân tích tâm lý

nhân vật Nguyễn Du đã “lược bỏ chi tiết một cách tàn nhẫn” (lời Phan Ngọc nhận

xét), để câu thơ ngắn gọn, súc tích, bỏ những chi tiết rườm rà, không cần thiết, làm nhạt đi màu sắc Trung Quốc, tôn lên những tính chất chung về con người, quê

hương, làng cảnh, kinh kỳ Việt Nam thân yêu Do đó Truyện Kiều ngày càng vang

xa, được nhiều nhà nghiên cứu văn học trong nước và quốc tế khen ngợi

1.3.2 Cung oán ngâm khúc

1.3.2.1 Tác giả Nguyễn Gia Thiều

Nguyễn Gia Thiều sinh năm Tân Dậu (1741) ở làng Liễu Ngạn, tổng Liễu Lâm, huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành, xứ Kinh Bắc, nay là thôn Liễu Ngạn, xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, trong một gia đình quý tộc, có nhiều người làm tướng, làm quan cho triều đình

Cha của Nguyễn Gia Thiều là Nguyễn Gia Cư, một võ quan cao cấp ðýợc phong týớc Quận công Mẹ của ông là quận chúa Quỳnh Liên, con gái chúa Trịnh Cýõng Nguyễn Gia Thiều gọi chúa Trịnh Doanh ðang cầm quyền lúc bấy giờ là cậu ruột, và là anh em họ với chúa Trịnh Sâm Vợ của Nguyễn Gia Thiều là con gái trýởng của quan Chýởng phủ sý Ðại tý ðồ Bùi Thế Đạt

Trang 23

Từ nhỏ, Nguyễn Gia Thiều đã bộc lộ tư chất thông minh, đĩnh ngộ Ngoài văn chương ông còn theo võ và tinh thông kiếm Năm 1759 khi mới 18 tuổi ông giữ chức Hiệu úy quản trung mã tả đội, sau thăng làm Chỉ huy thiêm sự, Chỉ huy đồng trị Đến năm 30 tuổi thăng lên chức Tổng binh đồng trị, ông được chúa Trịnh rất tin dùng và phong tước Hầu (Ôn Như Hầu) Năm Nhâm Dần (1782) xung chức Lưu thư xứ Hưng Hóa Năm 1786 khi quân Tây Sơn kéo ra Đàng Ngoài chấm dứt triều đình Lê – Trịnh, Nguyễn Gia Thiều trốn lên vùng miền núi xứ Hưng Hóa Năm

1789 vua Quang Trung đánh thắng quân Thanh lập ra nhà Tây Sơn, Nguyễn Gia Thiều được mời ra làm quan nhưng ông cáo bệnh từ chối và về quê nhà sinh sống ở đấy cho tới khi qua đời ngày mồng 9, tháng 5 năm Mậu Ngọ (tức ngày 22-6-1798), thọ 58 tuổi

Nguyễn Gia Thiều được nuôi nấng trong cung từ nhỏ đến lớn Khi làm quan cũng giữ chức vụ trong phủ Chúa Ngoài Đặng Thị Huệ, người cung phi sủng ái của Trịnh Sâm, Nguyễn Gia Thiều còn được biết về chế độ cung tần trong cung vua Lê Chúa Trịnh Chính điều này có ảnh hưởng lớn trong sáng tác của Nguyễn Gia Thiều

Về sáng tác, Nguyễn Gia Thiều có hai tập thơ chữ Hán là Ôn Như thi tập,

khoảng một nghìn bài, nhưng đã thất truyền

Nguyễn Gia Thiều còn có các tác phẩm thơ chữ Nôm như “Tây Hồ thi tập” và

“Tứ trai thi tập” sáng tác cùng với 3 người anh em của ông (Tâm Trai - tức Nguyễn

Gia Thiều, Kỷ Trai - tức Nguyễn Gia Cơ, Hòa Trai - tức Nguyễn Gia Diễm và Thanh Trai-tức Nguyễn Gia Chu), tập thơ này hiện cũng chỉ còn vài bài chép trong tập “Xuyết thập tạp ký” của Lý Văn Phức (1785-1849) một nhà thơ lớn nửa đầu thế

kỷ XIX Trong đó nổi tiếng và kiệt xuất nhất là tác phẩm “Cung oán ngâm khúc” gồm 356 câu thơ Nôm làm theo thể song thất lục bát

1.3.2.2 Tác phẩm “Cung oán ngâm khúc”

“Cung oán ngâm khúc” là một trong những tác phẩm có giá trị trong kho tàng

văn học Việt Nam và là tác phẩm giữ vị trí chủ yếu trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Gia Thiều

Trang 24

Hai chữ “cung oán” tức là sự oán hờn nơi cung cấm của các cung phi, cung tần đã được Vua yêu rồi ghét bỏ “Cung oán ngâm khúc” là khúc ngâm về nỗi

oán hờn của người cung nữ mà Ôn Như Hầu đã mượn tình cảnh này để phản ánh những bất công của chế độ Phong kiến, đồng thời nói lên tâm sự, thân phận của chính mình

“Cung oán ngâm khúc” là tác phẩm trữ tình trường thiên gồm 356 câu thơ

song thất lục bát, miêu tả những trạng thái tâm hồn, cảm xúc, những diễn biến tâm trạng của người cung nữ sau những tháng ngày hạnh phúc ngắn ngủi bên Vua phải chịu một cuộc sống cô đơn, đợi chờ, buồn tủi vì bị nhà vua ruồng bỏ Chủ đề chính

của “Cung oán ngâm khúc” là số phận của người cung nữ Người cung nữ trong tác

phẩm là một con người rất thiết tha với cuộc sống, khát khao hạnh phúc yêu đương, tình yêu đôi lứa Khi bị ruồng rẫy, nàng luyến tiếc hạnh phúc với tất cả tấm lòng thèm khát tội nghiệp

Thông qua những dòng tâm trạng đó, Nguyễn Gia Thiều đã phơi bày sự thật

về cuộc sống xa hoa, trụy lạc của vua chúa thời bấy giờ, tác phẩm đã lên tiếng tố

cáo chế độ cung tần “đỉnh cao nhất và dã man nhất của chế độ đa thê” (Đặng

Thanh Lê), đồng thời góp thêm một tiếng nói mạnh mẽ đòi quyền hạnh phúc cho con người trong cuộc đời Bằng tài năng và tinh thần nhân đạo của mình Nguyễn Gia Thiều dồn hết tâm huyết và văn tài viết lên một tác phẩm bất hủ để lại cho hậu thế Với kiệt tác này Nguyễn Gia Thiều trở thành nhà thơ nổi tiếng trên đàn văn học Việt Nam vào cuối thế kỷ XVIII

1.3.3 Chinh phụ ngâm khúc

1.3.3.1 Tác giả Đặng Trần Côn

Về tác giả của Chinh phụ ngâm, từ trước tới nay, giới nghiên cứu thống nhất là Đặng Trần Côn Tiểu sử của Đặng Trần Côn cho đến nay biết được còn rất ít Kể cả năm sinh năm mất cũng không biết chính xác Các nhà nghiên cứu ước đoán ông sinh vào khoảng năm 1710 đến 1720, mất khoảng 1745, sống vào thời Lê trung hưng Đặng Trần Côn quê ở làng Nhân Mục (còn gọi làng Mọc), huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội Ông đỗ Hương cống,

Trang 25

nhưng thi Hội thì hỏng Sau đó làm huấn đạo trường phủ, rồi tri huyện Thanh Oai, sau thăng chức Ngự sử đài đại phu

Con người Đặng Trần Côn vẫn được đánh giá là “đểnh đoảng, phóng túng” Ông là một Nho sinh hiếu học (có giai thoại nói rằng khi Trịnh Giang cấm đốt lửa vào ban đêm, ông đã đào hố để thắp đèn đọc sách), tính cách tự do phóng khoáng,

có biệt tài văn chương từ sớm song con đường quan hoạn của ông không mấy thuận lợi và ông chỉ đảm nhận những chức quan nhỏ

Ngoài tác phẩm nổi tiếng là Chinh phụ ngâm , ông còn để lại một số tác phẩm bằng Hán Văn mà Tang thương ngẫu lục nói đến như: Các bài phú Trương Hàn tư

thuần lư (Trương Hàn nhớ rau thuần cá vược), Trương Lương bố y (Trương Lương

áo vải), Khấu môn thanh (Tiếng gõ cửa); về thơ có Tiêu Tương bát cảnh (Vịnh tám cảnh đẹp ở Tiêu Tương) và một bài tứ tuyệt chưa công bố bao giờ – bài Biệt ly tình

;về truyện có Tùng bách thuyết thoại (Kể chuyện cây tùng cây bách), Long hổ đấu

kỳ (Rồng và hổ đấu phép lạ), Khuyển miêu đối thoại (Chó mèo nói chuyện)

1.3.3.2 Tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc”

- Nguyên tác Đặng Trần Côn

Chinh phụ ngâm – nguyên tác Đặng Trần Côn, ra đời đã gây một tiếng vang

lớn trong văn đàn Việt Nam lúc bấy giờ Trong nước, ngoài nước hết thảy đều vô cùng thán phục

Về thời điểm sáng tác Chinh phụ ngâm ta thấy Phan Huy Chú có nói rõ trong sách Lịch triều hiến chương loại chí rằng: “Chinh phụ ngâm , một quyển, Hương

Cống Đặng Trần Côn soạn Vì đầu đời Cảnh Hưng có việc binh đao, cảnh biệt ly

của người đi chinh thú khiến ông cảm xúc mà làm” (Lịch triều hiến chương loại chí,

văn tịch chí, bản dịch tập IV, Nxb sử học, Hà Nội, 1961, tr 115)

Về dung lượng Chinh phụ ngâm là một tác phẩm trữ tình có quy mô tương

đối lớn Tuy nhiên, trong quá trình lưu truyền và khảo cứu, vẫn tồn tại nhiều ý

kiến khác nhau Về nguyên tác chữ Hán, Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng có

483 câu thơ, Trương Đình Nguyên lại cho rằng có 476 câu thơ

Trang 26

Mặc dù còn tồn tại những nghi vấn xung quanh tác phẩm song giá trị của

Chinh phụ ngâm thì được bao đời ghi nhận Với thành công của Chinh phụ ngâm,

Đặng Trần Côn đã được tác giả sách Tang thương ngẫu lục đánh giá thơ ông” có

phong cách cao trội” và đã khiến cho dòng thơ đương thời chấn khởi hẳn lên

- Bản dịch Chinh phụ ngâm

Chinh phụ ngâm ra đời từ những năm 40 của thế kỷ XVIII và ngay lập tức gây

nên một cơn sốt diễn âm kéo dài ít nhất là đến đầu thế kỷ XIX

Việc có nhiều người vì trọng thị mà diễn âm Chinh phụ ngâm cũng đã được nhóm tác giả Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX nói đến:

“Đến nay, giới nghiên cứu tính được tới 6 dịch giả khác nhau: Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích, Nguyễn Khản( anh ruột Nguyễn Du), Bạch Liên Am Nguyễn( có lẽ

là Nguyễn Huy Lượng) và 2 dịch giả khuyết danh”

Mặc dù vậy, vấn đề ai là dịch giả của bản Chinh phụ ngâm mà chúng ta vẫn

quen thuộc lại vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến không đồng nhất: “Bản dịch thành công hơn cả và lâu nay được lưu hành rộng rãi (thể song thất lục bát, 412 câu với câu mở đầu là” thưở trời đất nổi cơn gió bụi”) ở bản khắc xưa nhất vẫn còn giữ được (bản của hiệu Long Hoà, 1902) ghi rõ là của dịch giả Đoàn Thị Điểm

Trước tới nay, số đông bạn đọc và người nghiên cứu vẫn cho rằng bản dịch hiện

hành là của Đoàn Thị Điểm Vũ Hoạt là người đầu tiên đã viết trong bài tựa bản Chinh

phụ ngâm khúc (Danh gia Quốc âm, Long Hoá xuất bản, Hà Nội, 1902) rằng “Tư tích:

Đặng tiên sinh sở tác, Đoàn phu nhân diễn âm” (nhớ xưa- Hán văn: Đặng tiên sinh làm sách ấy, Đoàn phu nhân diễn ra Quốc âm) Tuy nhiên, càng về sau này giới nghiên cứu lại càng nghiêng về giả thiết rằng Phan Huy Ích là dịch giả của bản dịch hiện hành.Mặc

dù vậy, kết luận cuối cùng vẫn là ở sự quyết định của dư luận chung và những chứng

cớ, luận cứ về sau, luận văn của chúng tôi chỉ chú trọng tìm hiểu về những điển cố biểu thị sự biến thiên của đời dống xã hội được sử dụng trong tác phẩm

Trang 27

CHƯƠNG HAI KHẢO SÁT CÁC LOẠI ĐIỂN CỐ BIỂU THỊ VỀ SỰ BIẾN THIÊN CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI TRONG CÁC TÁC PHẨM

2.1 KHẢO SÁT CÁC ĐIỂN CỐ BIỂU THỊ SỰ BIẾN THIÊN CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI TRONG “TRUYỆN KIỀU”

2.1.1 Miêu tả và phân loại theo tiêu chí nội dung biểu thị

2.1.1.1 Miêu tả

Dưới đây là những điển cố biểu thị về sự biến thiên của đời sống xã hội trong

Truyện Kiều được phân chia theo năm nhóm nội dung biểu thị Cách giải thích các

điển cố này được tổng hợp và rút ra từ 11 cuốn từ điển điển cố mà chúng tôi đã nêu trong phần tài liệu tham khảo

a Cuộc đời đổi thay

- Bể dâu

Bể dâu bắt nguồn từ tục ngữ “ Thương hải biến vi tang điền”, cứ 3000 năm thì

bể xanh biến thành ruộng dâu Chỉ việc đời biến đổi Theo Thần tiên truyện, tiên

nhân Vương Phương Bình, vốn người đời Hậu Hán, Đỗ Hiếu Liêm làm quan đến chức trung tán đại phu, bỏ quan đi tu tiên, đắc đạo, giáng xuống nhà Thái Kinh, cho mời tiên nữ Ma Cô đến Ma Cô bảo Phương Bình rằng: Từ khi được tiếp hầu ông đến nay, đã thấy bể Đông ba lần biến thành ruộng dâu

Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng…

(Kiều)

Cơ trời dâu bể đa đoan, Một nhà để chị riêng oan một mình

(Kiều)

Trang 28

- Cưỡi rồng

Dịch từ “Thừa long” Theo Sơ học kí: Hoàng Thượng làm chức tư đồ, cùng Lí

Nguyên Lễ đều lấy con gái quan thái úy Hoàn Yên Người đời khen hai con gái nhà

họ Hoàn đều được “cưỡi rồng” Ý nói con rể hiền tài; lấy chồng xứng đáng tấm

chồng

Trai anh hùng gái thuyền quyên, Phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng

(Kiều)

- Duyên Đằng gió đưa

Duyên may (có gió đưa) đến gác Đằng Vương Chỉ dịp may hiếm có, cơ hội

thuận lợi, cuộc tình duyên kỳ ngộ Đường thư: Diêm Bá Dữ làm quan một đất

Hồng Châu, nhân tiết Trùng Cửu (9-9) đặt tiệc lớn đãi khách ở gác Đằng Vương Vương Bột người đất Long Môn, đi thuyền sang thăm cha đang làm quan lệnh đất Giao Chỉ Thuyền đi đến ghềnh núi Mã Đương, nghe tin họ Diêm mở tiệc lớn liền thả thuyền sang Nam Sương dự tiệc May gặp gió thuận ở ghềnh Mã Đương, nên đường đi chỉ một đêm là đến nơi vừa kịp dự Giữa tiệc, chủ nhân đưa giấy bút mời khách đề cho bài tự Mọi người từ chối không dám nhận Nhưng đến khi

đưa giấy bút cho Vương Bột, họ Vương nhận lời và viết ngay bài Đằng Vương

thượng, giả bất cảm phục độc thiên hạ chi thư, bất cảm phục dự thiên hạ chi sự =

Giả này không ngờ ngài có thể tự mình lập được công danh, ở địa vị cao sang Từ nay Giả tôi xin không dám đọc sách của thiên hạ, cũng lại không dám dự vào việc của thiên hạ

Trang 29

Cửa trời rộng mở đường mây, Hoa chào ngõ hạnh hương bay dặm phần

Nói việc nối lại được tình xưa nghĩa cũ, tình nghĩa vợ chồng đã tan nay lại

hợp Bản sự thi:Từ Đức Ngôn có yêu em gái Hậu chủ là công chúa Nhạc

Xương Gặp buổi nhà Trần suy loạn, Từ Đức Ngôn lấy gương đập vỡ làm hai mảnh, mỗi người giữ một nửa, và hẹn rằng năm sau vào ngày rằng tháng giêng đem ra bán ở chợ kinh đô Nước Trần bị diệt, quả công chúa phải vào hầu hạ nhà Dương Tố Từ Đức Ngôn, năm sau y hẹn lên kinh, tìm đến chợ, thấy một người gái hầu đem bán một mảnh gương vở Từ bèn lấy nửa mảnh gương của

mình đem hợp lại thì đúng vừa vặn như nguyên, mới đề bài thơ gọi là Phá kính

thi (thơ gương vỡ) Công chúa được thơ, khóc lóc thảm thiết, suốt ngày chẳng

ăn uống gì Dương Tố biết chuyện, cho mời Từ Đức Ngôn đến, đưa công chúa trả lại cho vợ chồng đoàn tụ

Bây giờ gương vỡ lại lành, Khuôn thiêng lừa lọc đã dành có nơi

(Kiều)

- Nước cành dương

Nước phép của Phật dùng cành dương mà rảy Theo Pháp uyển châu lâm,

Phật dùng bảy thứ phép để chữa bệnh là: nhiên hỏa, tịnh thủy, tảo đậu, tô cao, thuần khôi, dương chi, nội y Dương chi là phép tảo tục (tẩy tục) Thạch Lặc biết tiếng

Trang 30

mới mời đến chửa bệnh cho con ốm nặng, sắp chết Trừng lấy cành dương nhúng vào nước trong rồi rảy lên mình người bệnh Một chốc người bệnh tỉnh, sống lại Phép phật còn dùng nước cành dương để tẩy rửa điều phiền muộn của chúng sinh.

Cho hay giọt nước cành dương, Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần gian

(Kiều)

- Ván đã đóng thuyền

Nói việc đã xong rồi, không hy vọng thay đổi được Cổ thi: Mộc dĩ thành chu

nhân dĩ khứ = Ván đã đống thuyền thì người đã đi rồi

Bây giờ ván đã đóng thuyền,

Đã đành phận bạc không đền tính chung

(Kiều)

- Vật đổi sao dời

Chỉ vạn vật, việc đời đổi thay Thơ Vương Bột (Đường): Nhàn vân đàm ảnh

nhật du du, vật hoán tinh di kỷ độ thu = Mây lơ lửng đầm lồng bóng, ngày (tháng)

dằng dặc trôi, vật đổi sao dời thu qua mấy độ

Dẫu rằng vật đổi sao dời,

Tử sinh cũng giữ lấy lời tử sinh

(Kiều)

b Cuộc đời nổi trôi, ngang trái, loạn lạc

- Âm cực dương hồi

Khi âm đã đến chỗ cùng cực, thì khí dương trở về, ý nói hết suy rồi thịnh, hết khổ rồi sướng Âm và dương được coi như hai nguyên lí hay hai thế lực vũ trụ, nhằm cắt mghĩa nguồn gốc vạn vật, và chính do sự hỗ tương ảnh hưởng giữa hai nguyên lí căn bản ấy mà sinh ra mọi hiện tượng trong trời đất, phát triển theo từng chu kì, khi đến chỗ tột cùng thì quay trở lại Thực chất đây là thành ngữ (cụm từ cố định trong Hán văn) nhằm biểu thị về sự biến thiên của đời sống Nếu theo Đinh Gia Khánh thì có tập hợp cả đơn vị này

Trang 31

Đời người đến thế thì thôi, Trong cơn âm cực dương hồi khôn hay

(Kiều)

- Ba sinh

Ba kiếp sống luân hồi duyên nợ gắn bó của một con người Theo Con trạch

dao: Lý Nguyên đời Đường kết bạn thân với vị sư chùa Huệ Lâm là Vi Trạch Một

hôm hai người cùng đi chơi núi Tam Giác, gặp một người đàn bà gánh đôi vò đi lấy nước giếng Viên Trạch nói: “Bà đó là nơi thác thân của tôi Mười hai năm sau, tôi sẽ gặp lại bác tại mé ngoài chùa Thiên Trúc ở Hàn Châu” Đêm hôm đó Viên Trạch mất Mười hai năm sau Lý Nguyên tìm đến nơi đã hẹn, gặp một đứa trẻ chăn trâu nghêu ngao hát rằng: “Tinh hồn cũ gửi đá ba sinh, Thưởng trăng ngâm gió không bàn địch Thẹn với bạn tình xa đến thăm, Thân tuy khó tính vẫn xưa in” Hát xong liền từ biệt Lý Nguyên Lý Nguyên biết rằng đứa trẻ chăn trâu

gả cho Thuyền Vu Lúc Vương Chiêu Quân ra chào từ biệt, Hán Vũ Đế tiếc ngơ tiếc ngẩn vì thấy nàng quá duyên dáng xinh đẹp! Khi qua cửa ải sang đất Hồ, Vương Chiêu Quân có gảy một khúc đàn tỳ bà, bày tỏ lòng nhớ nước thương nhà và xót xa cho thân phận mình Chỉ số phận éo le, hẩm hiu của người phụ nữ dưới chế

độ phong kiến

Trang 32

Quá quan này khúc Chiêu Quân, Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia

(Kiều)

- Dặm hồng

Đường đầy bụi cuốn (hồng trần) “Cao nguyên hoàng thổ bụi cuốn đầy trời”, ý

nói đường đời lắm nỗi bất thường

Dặm hồng bụi cuốn chinh an, Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh

(Kiều)

- Đất bằng nổi sóng

“Bình địa ba đào” Chỉ những tai biến xảy ra đột ngột, quá bất ngờ không tài

nào lường biết được

Đất bằng nổi sóng đùng đùng, Phủ đường sai lá phiếu hồng thôi tra

(Kiều)

- Hạt mưa phận hèn

Ví thân phận người con gái không gì chắc chắn, nhờ vào may rủi, lấy ý từ câu

ca dao: Đàn bà như hạt mưa sa, Hạt vào đài các hạt ra ruộng lầy, hay: Đàn bà như

hạt mưa rào, Hạt sa xuống giếng hạt vào vườn hoa

Hạt mưa sá nghĩ phận hèn, Liệu đem tấc cỏ quyết đền ba xuân

Cũng liều một giọt mưa ào,

Mà cho thiên hạ trông vào cũng hay

(Kiều)

- Nước đục bụi trong

Nói cảnh ngộ ngang trái của người đời Cổ ngữ có chữ: Trọc thủy thanh trần =

Nước đang trong mà hóa đục, bụi đang đục mà hóa trong, là chỉ cảnh huống trái ngược

Trang 33

Lỡ làng nước đục bụi trong, Trăm năm để một tấm lòng từ đây

(Kiều)

- Quả kiếp nhân duyên

Quả kiếp là kiếp sống bởi quả báo mà thành, bởi những nguyên nhân ở kiếp trước tạo nên; nhân duyên là cái nguyên nhân bởi cái này mà sinh ra cái kia, tức là nói duyên kiếp tốt hay xấu đều có nhân quả Đây là thuyết nhân quả của Phật giáo, cho rằng cái kiếp sướng hay khổ của người ta đều là cái kết quả của nhân và duyên

có định sẵn mà thành

Âu đành quả kiếp nhân duyên, Cũng người một hội một thuyền đâu xa

(Kiều)

c Cuộc đời hư ảo, huyền hồ

- Giấc hoàng lương = Giấc vàng

Giấc kê vàng (hoàng lương) là giấc chiêm bao chưa chín nồi kê, nói đời người

ngắn ngủi, công danh phú quý là hư ảo như giấc mộng, chỉ giấc ngủ Theo Chẩm

trung ký: Lư Sinh trọ ở Hàm Đan, gặp đạo sĩ Lã Ông Lư Sinh than vãn về cảnh

khốn cùng của mình Lã Ông liền lấy trong bọc ra một cái gối trao cho Lư Sinh rồi bảo: “Gối đầu lên đây, anh sẽ được vinh hiển như ý muốn” Bấy giờ chủ quán đang nấu một nồi kê Lư Sinh kê gối nằm ngủ, mộng lấy được con gái họ Thôi đẹp lại giàu, thi đỗ tiến sĩ, làm quan, con cháu đều vinh hiển… Chợt khi tỉnh dậy, nồi kê vẫn chưa chín Lư Sinh bàng hoảng tự hỏi: “ Há việc đó là chuyện mộng ư?” Lã Ông cười nói: “ Việc đời thì cũng như mộng vậy thôi”

Hoàng lương chợt tỉnh hồn ma, Cửa nhà đâu mất lâu đài nào đây

(Kiều)

Giác Duyên nhận thật mặt nàng, Hãy càng thiêm thiếp giấc vàng chưa phai

(Kiều)

Trang 34

- Giấc Hòe

Giấc chiêm bao đến nước Hòe An, nói công danh phú quý là hư ảo, đời người

ngắn ngủi như giấc mộng Chỉ giấc mộng Dị văn lục: Mé nam nhà Thuần Vu Phần

(Đường) có cây hòe to Có một lần uống say, Thuần Vu Phần nằm mộng thấy hai sứ giả mặc áo tía đến mời lên xe đi đến nước Hòe An Đến nơi, vào một cửa thành lớn sơn màu đỏ, trên có chữ vàng đề: “Đại hòe an quốc” Vua gả công chúa cho Vu Phần, và bảo rằng: “Quân Nam Kha nýớc Hòe An của ta, chính sự chưa được tốt, trẫm muốn nhờ tài của khanh ra lo việc chính sự ở đấy” Rồi phong cho Vu Phần làm thái thú quận Nam Kha Bấy giờ họ phong cho Vu Phần thật cực kỳ giàu sang, vinh hiển Khi tỉnh dậy, tìm đến gốc cây hòe, Vu Phần chỉ thấy một hang tổ kiến xây đất, trong hang có nhiều hang nhỏ, hang nào cũng đầy kiến; có một con kiến to hơn cả, đầu đỏ cánh trắng Vu Phần mới ngẫm ra, đó là nước Hòe An và vua của nước ấy

Tiếng sen sẽ động giấc Hòe, Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần

(Kiều)

d Hành động ứng xử trong đời sống

- Ấp cây

Ôm cây cột cầu Chỉ việc liều thân mà giữ trọn chữ tín Cổ thi: An đắc bảo trụ

tín, kiểu nhật dĩ vi kỳ = Sao được lòng tin ôm cột, giữa ngày sáng sủa thề làm kỳ

Do tiếng Hán kinh thoa bố quần, nghĩa là thoa bằng cành cây kinh (loài cây có

cành cứng, phụ nữ nghèo thời xưa thường lấy dùng làm trâm cài tóc) và váy bằng

vải sợi to Theo Hán sử, Mạnh Quang là vợ của Lương Hồng đời Hán, sống rất cần

kiềm, thường chỉ mặc váy bằng vải sợi to và cài trâm bằng cành cây kinh Văn học

cổ dùng để chỉ người vợ cần kiệm, hiền đức

Trang 35

Đã cho vào bậc bố kinh, Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu

(Kiều)

- Chơi cho lăn lóc đá

Chơi cho bằng thích, cho thỏa thê, mê mệt Chuyện đời xưa: Một anh con nhà giàu, sau khi cha mẹ chết, chỉ lo ham mê tửu sắc, hoang phí hết sạch sành sanh gia sản rồi lâm vào cảnh bần cùng Anh ta hối hận, tìm người thân thích nhờ vả, tu chí

lo việc làm ăn Một hôm, anh ghé vào một cái quán bên đường nghi chân, gặp một

cụ già đang ngồi uống rựơu Nhân đây anh ta mới kể hoàn cảnh và ý định của mình Ông già nói: "Anh không lo, tôi sẽ có cách giúp anh lập lại cuộc đời Tối nay ta sẽ đến quán bình khang chơi một đêm cho thật thỏa thích, mai sẽ hay" Anh chàng hết lời từ chối, cụ già cố mời, nói: " … Tối nay anh tha hồ chơi, ăn một phen cho thật thoả thuê mê mệt để anh chán ngấy cái thú yên hoa, chừng đó anh mới có thể lập nghiệp làm ăn được" Tối hôm đó, hai người tìm đến quán bình khang, cùng ăn uống no say thoả thích, anh chàng tha hồ đùa nghịch ái ân với hàng chục kỹ nữ trẻ đẹp như tiên Đến gần sáng, anh ta mệt lả ngủ thiếp đi lúc nào không hay biết Đến khi tỉnh dậy, anh chỉ thấy mình nằm trên đỉnh núi toàn đá Thì ra hôm qua anh đùa nghịch với những hòn to hòn nhỏ lăn lóc quanh mình anh đó

Chơi cho liễu chán hoa chê, Cho lăn lóc đá cho mê mẫn đời

(Kiều)

- Chung Kỳ

Chỉ việc gặp được bạn tri kỷ tri âm Theo Lã thi xuân thu, Bá Nha thời Xuân

Thu là người giỏi đàn, gặp và chơi thân với Chung Tử Kỳ là người sành nghe tiếng đàn Chung Tử Kỳ mất, Bá Nha đập đàn không gảy nữa, vì cho đời không còn ai hiểu tiếng đàn của mình

Rằng: Nghe nổi tiếng cầm đài, Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ

(Kiều)

Trang 36

- Kẻ cắp bà già gặp nhau

Tay bợm gặp phải người sành đời, lão luyện Tục ngữ: kẻ cắp gặp bà già

Vợ chồng quỷ quái tinh ma, Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau

(Kiều)

- Lời non nước = Lời non sông

Chỉ lời thề bền chặt của trai gái, là lấy ý nghĩa từ chữ Bể thệ non nguyền: Nói

việc trai gái thề ước với nhau, ngụ ý lời thề ước bền chặt như có bể có núi ghi tạc

chứng giám cho Nguyên khúc: Không thuyết hạ sâm khải khải, hải thệ sơn minh =

Chỉ nói suông rả rich như tiếng nước chảy những lời bể thệ non nguyền

Tóc thề đã chấm ngang vai, Nào lời non nước nào lời sắc son…

Ngày xuân em hãy còn dài, Xót tình máu mủ thay lời nước non

(Kiều)

Dặm khuya ngất tạnh mù khơi, Thấy trăng mà thẹn những lời non sông

(Kiều)

- Mạt cưa mướp đắng

Chỉ phường bịp bợm, lừa dối Truyện cổ tích: Xưa có người lấy mạt cưa (tức cám cưa) giả làm cám đem bán, lại gặp kẻ bán quả mướp đắng giả làm dưa chuột, hai bên bán lẫn cho nhau, thế là bợm lại mắc bợm

Tình cờ chẳng hẹn mà nên, Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường

(Kiều)

Trang 37

- Mây mưa

Chỉ việc trai gái gặp gỡ vui chơi ăn ở với nhau Theo lời tự bài phú Cao Đường của Tống Ngọc thuật việc vua nước Sở chơi ở đền Cao Đường, nhìn đền Cao Đường, trên có khí mây Vua hỏi Tống ngọc: “Đó là khí gì vậy?” Ngọc đáp:

“Đó gọi là triêu vân” Vua hỏi lại “Sao gọi là triêu vân?” Ngọc đáp: “Xưa kia tiên vương thường đến chơi đền Cao Đường, một hôm giữa lúc ban ngày, nhân mệt mỏi

mà ngủ thiếp đi, rồi mộng thấy một người đàn bà đến nói rằng: “Thiếp là thần nữ núi Vu Sơn làm khách đến Cao Đường, nghe nhà vua ngự chơi đây, xin nguyện đến hầu dâng chăn gối” Nhà vua nhân thế mà đem lòng yêu Khi từ biệt người con gái nói rằng: “Thiếp ở tại mé nam núi Vu Sơn, nơi gò cao hiểm trở ấy, sớm làm mây, chiều tối làm mưa, sớm sớm chiều chiều ở dưới chân núi Dương Đài”

Mây mưa đánh đổ đá vàng, Quá chiều nên đã chán chường yến ân

(Kiều)

- Ngậm vành

Ngậm vòng ngọc Chỉ sự báo ơn Tục Tề hài ký: Dương Bảo đời Hán, thuở lên

chín, một hôm đến mé bắc núi Hoa Âm thấy một con chim sẻ vàng bị giống chim cắt đánh bắt, rơi nằm dưới gốc cây, lại bị kiến lửa đốt Bảo bắt về bỏ trong lồng nuôi cho

ăn hoa vàng hơn trăm ngày, lông lá mọc lại đủ cả mới thả cho bay đi Đêm hôm ấy có một đứa bé bận áo vàng đến trước mặt Bảo cúi chào rồi nói: “ Tôi là sứ giả của Tây Vương Mẫu, ông là người nhân ái đã cứu sống tôi, thực cảm cái ơn đó nên xin đem bốn vòng ngọc đến tạ, mong con cháu ông sau này cũng hiển đạt, trong trắng như vòng ngọc này” Con cháu Dương Bảo, về sau quả nhiên đều được vinh hiển

Dám nhờ cốt nhục tử sinh, Còn nhiều kết cỏ ngậm vành về sau

(Kiều)

- Nghiệp duyên

Nhân quả gieo gì được nấy: ác được ác, lành được lành

Sư rẳng: Song chẳng hề chi, Nghiệp duyên cân lại nhắc đi còn nhiều

(Kiều)

Trang 38

- Phiếu mẫu

Bà lão đạp vải Nói người có lòng tốt giúp người mà không cầu báo Sử ký:

Hàn Tín khi còn hàn vi, nhà nghèo thường theo ăn nhờ nhà người khác Một hôm, Tín câu cá ở dưới thành, trong số những bà lão đập vải có một bà thấy Tín đói, cho Tín ăn cơm suốt mấy mươi ngày, cho đến khi đập vải xong Tín mừng nói với bà: “ Thế nào tôi cũng đền ơn bà xứng đáng” Bà ta giận nói: “ Kẻ đại trượng phu không

có thể nuôi nổi thân mình, tôi thương cậu nên mời ăn, chứ có phải mong cậu báo đáp đâu” Về sau Hàn Tín theo giúp Hán Cao Tổ cầm quân diệt Tần, bình định thiên hạn nên được làm Sở Vương, đóng đô ở Hạ Bì Tín về đến nước, cho gọi bà đập vải

đã cho mình ăn để tạ ơn nghìn vàng

Nghìn vàng gọi chút lễ thường,

Mã lòng Phiếu mẫu mấy vàng cho cân

(Kiều)

- Quạt nồng ấp lạnh

Nói việc con cái phụng dưỡng cha mẹ, quạt khi nóng bức, ấp chiếu chăn cho

ấm khi trời rét lạnh Lễ ký: Phàm vi nhân tử chi lễ, đông ông nhi hạ sảnh, hôn định

nhi thần tỉnh = Phàm theo lễ của kẻ làm con, thì mùa đông lo cho cha mẹ ấm, mùa

hè lo cho cha mẹ mát, buổi tối lo việc giường chiếu, buổi sớm thăm hỏi cha mẹ có được bình yên không

Xót lòng tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh những ai đó ngờ

(Kiều)

- Tao khang

Tao là bã rượu, khang là cám gạo, nói những thức ăn hèn mọn Chỉ người

vợ lấy từ buổi đầu nghèo túng, tình nghĩa chồng đối với vợ Hậu Hán thư: Tống

Hoằng người đất Tràng An làm quan Đại tư không thời Quang Vũ Đế Quang Vũ

Đế có chị là công chúa Hồ Dương mới góa chồng Quang Vũ Đế có ý lo việc tái giá cho chị nên thường cùng công chúa đàm luận về các quan trong triều để dò lòng chị Công chúa nói: “Uy đức của Tống Hoằng, quần thần không bằng

Trang 39

được” Quang Vũ hiểu ý, một hôm cho triệu Tống Hoằng vào bệ kiến, rồi nhân

đó hỏi dò Hoằng (vì Hoằng đã có vợ) Hoằng đáp: Thần văn bần tiện chi tri bất

khả vong, tao khang chi thê bất hạ đường = Thần nghe nói bạn bè quen biết nhau

từ thuở nghèo hèn không thể quên nhau, vợ chồng lấy nhau từ buổi đói nghèo không thể bỏ ra khỏi nhà Quang Vũ biết ý, liền thôi

Tin nhà ngày một vắng tin, Mặn tình cắt lũy lại tình tao khang

(Kiều)

- Tấc cỏ ba xuân

Nói lòng người con (tấc cỏ) lo báo đền công ơn cha mẹ (ba xuân) Thơ Mạnh

Giao (Đường): Thùy ngôn thốn thảo tâm, báo đắc tâm xuân huy = Ai bảo có thể

đem tấm lòng như tấc cỏ, mà báo đền ơn cha mẹ như ánh sáng ba tháng xuân

Hạt mưa sá nghĩ phận hèn, Liệu đem tấc cỏ báo đền ba xuân

(Kiều)

e Tình yêu nam nữ và tình yêu xa cách

* Tình yêu nam nữ

- Cầu Lam

Tên đất thuộc huyện Lam Điền, tỉnh Thiểm Tây, là nơi có động tiên Chỉ việc

nhân duyên, nơi trai gái hội ngộ mà sau nên vợ nên chồng Theo Truyện kỳ dẫn trong Thái bình quảng ký: Đời Đường có người Bùi Hàng, nhân hỏng thi tìm đến

miền Ngạc Chử thăm người bạn cũ họ Thôi Khi trở về, Bùi Hàn đáp thuyền đi Tương Hán, đi chung thuyền với nàng Vân Kiều và được nàng tặng bài thơ Về sau, Bùi Hàng đi đến Lam Kiều, nhân khát nước, ghé vào một ngôi nhà lá cạnh đường

để xin nước uống Bà lão gọi to Vân Anh, Bùi Hàng lấy cớ mệt, xin trọ lại Tối đến Bùi Hàng đem chuyện Vân Anh ra hỏi, ngỏ ý muốn hỏi Vân Anh làm vợ Bà lão bảo: “ trước đây thần tiên có cho ta một thìa linh dược, cần có chày cối ngọc để giã thì mới dùng được Bao giờ người đem đủ các thứ đó lại đây, ta sẽ gả Vân Anh cho” Bùi Hàng ra về, quyết tâm tìm mua bằng được chày cối ngọc Khi mua được

Trang 40

rồi, Bùi Hàng liền mang đến Lam Kiều Thuốc tiên giã trong một trăm ngà thì xong Bùi Hàng được cưới Vân Anh làm vợ

Chày sương chưa nện cầu lam,

Sợ lần khan quá ra sàm sỡ chăng

(Kiều)

- Chỉ hồng

Chỉ việc xe duyên vợ chồng Tích Nguyệt lão, theo Tục u quái lục, Vi Cố,

người đời Đường, nhân qua chơi Tống Thành, gặp một ông già ngồi dưới bóng trăng đang kiểm sổ sách và thấy trong chiếc túi ông mang theo có một cuộn dây đỏ

Vi Cố bèn hỏi thì ông già đáp: “ Đấy là cuốn sổ hôn nhân và cuộn dây đỏ dùng để buộc chân nam nữ Dầu cho gia đình hai bên có thù hằn với nhau hoặc dầu ở cách

xa nhau, đã lấy dây đó buộc chân đôi nam nữ lại với nhau thì tất sẽ thành vợ, thành chồng”

Duyên em dù nối chỉ hồng, May ra khi đã tay bồng tay mang

(Kiều)

- Kết tóc xe tơ

Nói việc kết duyên vợ chồng từ thuở bé Thơ Tô Vũ: Kết phát vi phu thê, ân ái

lưỡng bất nghi = (Từ buổi) kết tóc đã thành vợ chồng, ân ái hai bên không nghi ngờ

gì cả

Nói chi kết tóc xe tơ,

Đã buồn cả ruột mà dơ cả đời

(Kiều)

- Khuôn duyên

Duyên vợ chồng do trời gây đúc nên

Sắn bìm chút phận cỏn con, Khuôn duyên biết có vuông tròn cho chăng

(Kiều)

Ngày đăng: 14/05/2021, 22:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2005), Hán Việt tự điển giản yếu, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt tự điển giản yếu
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2005
2. Đào Duy Anh (2013), Từ điển truyện Kiều, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển truyện Kiều
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2013
3. Thiều Chửu (2005), Hán Việt tự điển, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt tự điển
Tác giả: Thiều Chửu
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2005
4. Hồng Đức (2009), Điển hay tích lạ, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển hay tích lạ
Tác giả: Hồng Đức
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2009
5. Long Điền, Nguyễn Văn Minh (1999), Từ điển văn liệu, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn liệu
Tác giả: Long Điền, Nguyễn Văn Minh
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1999
6. Phan Huy Đông (2003), Truyện điển tích, Nxb văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện điển tích
Tác giả: Phan Huy Đông
Nhà XB: Nxb văn hóa thông tin
Năm: 2003
7. Nguyễn Thạch Giang (2000), Từ điển văn học quốc âm, Nxb văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học quốc âm
Tác giả: Nguyễn Thạch Giang
Nhà XB: Nxb văn hóa thông tin
Năm: 2000
8. Nguyễn Thạch Giang (2002), Điển nghĩa văn học tập giải, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển nghĩa văn học tập giải
Tác giả: Nguyễn Thạch Giang
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
9. Dương Quảng Hàm (2001), Việt Nam thi văn hợp tuyển, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thi văn hợp tuyển
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2001
10. Dương Quảng Hàm (2002), Việt Nam văn học sử yếu, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yế
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2002
11. Diên Hương (2003), Từ điển thành ngữ điển tích, Nxb văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ điển tích
Tác giả: Diên Hương
Nhà XB: Nxb văn hóa thông tin
Năm: 2003
12. Đinh Thái Hương, Chu Huy, Nguyễn Hữu Sơn (2008), Điển tích văn học trong nhà trường, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển tích văn học trong nhà trường
Tác giả: Đinh Thái Hương, Chu Huy, Nguyễn Hữu Sơn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
13. Nguyễn Thúy Hồng (1997), “Việc sử dụng điển cố Hán học trong Chinh Phụ Ngâm nguyên tác và bản dịch hiện hành”, Tạp chí văn học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc sử dụng điển cố Hán học trong Chinh Phụ Ngâm nguyên tác và bản dịch hiện hành
Tác giả: Nguyễn Thúy Hồng
Năm: 1997
14. Nguyễn Văn Huân (2008), Điển tích văn hóa Trung Hoa, Nxb văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển tích văn hóa Trung Hoa
Tác giả: Nguyễn Văn Huân
Nhà XB: Nxb văn hóa thông tin
Năm: 2008
15. Bửu Kế (2005), Tầm nguyên từ điển, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầm nguyên từ điển
Tác giả: Bửu Kế
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2005
16. Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Thị Huế (1998), Từ điển từ nguyên giải nghĩa, Nxb văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ nguyên giải nghĩa
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Thị Huế
Nhà XB: Nxb văn hóa dân tộc
Năm: 1998
17. Đoàn Ánh Loan (2003), Điển cố và nghệ thuật sử dụng điển cố, Nxb Đại học quốc gia TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển cố và nghệ thuật sử dụng điển cố
Tác giả: Đoàn Ánh Loan
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia TPHCM
Năm: 2003
18. Thanh Nghị (1967), Việt Nam tân từ điển minh họa, Nhà sách khai trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam tân từ điển minh họa
Tác giả: Thanh Nghị
Năm: 1967
19. Hoàng Phê (chủ biên, 1997), Từ điển tiếng việt, Nxb Đà Nẵng trung tâm từ điển học Hà Nội – Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng việt
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng trung tâm từ điển học Hà Nội – Đà Nẵng
20. Đặng Đức Siêu (1998), Ngữ liệu văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ liệu văn học
Tác giả: Đặng Đức Siêu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w