Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu
Cây Ngô đồng đỏ có đặc điểm sinh thái độc đáo và phân bố rộng rãi, đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái địa phương Việc phân tích những đặc điểm này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về môi trường sống của cây mà còn cung cấp cơ sở cho công tác bảo tồn hiệu quả Hơn nữa, nghiên cứu về cây Ngô đồng đỏ còn hỗ trợ các hoạt động kinh tế - xã hội, góp phần phát triển bền vững cho cộng đồng.
- Tình hình khai thác cây Ngô đồng đỏ hiện nay.
Nhiệm vụ
- Nghiên cứu các tài liệu khoa học về cây Ngô đồng đỏ trên thế giới và Việt Nam
- Đi khảo sát trên thực địa để xác định vùng phân bố và các chỉ tiêu về mật độ
- Thu thập các dữ liệu về môi trường sống của cây Ngô đồng đỏ tại địa bàn nghiên cứu
- Đưa ra một số đề xuất có ý nghĩa đối với thực tiễn sản xuất, kinh tế -xã hội.
Lịch sử nghiên cứu
- Đã có một vài công trình mới được công bố:
+ Lê Trần Chấn, 2002- 2011, “Hệ thực vật đảo Cù Lao Chàm và các đảo phụ cận.”
Nguyễn Ngọc Thanh (2009) đã thực hiện nghiên cứu về tình hình khai thác và sử dụng các loại cây lâm sản ngoài gỗ tại khu vực sinh quyển Cù Lao Chàm Bài viết đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển những loại cây này, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững trong khu vực.
Vũ Văn Dũng và Đinh Thị Phương Anh (2014) đã nghiên cứu về hiện trạng khai thác và sử dụng các loài thực vật làm nước uống của cộng đồng cư dân trên đảo Hòn Lao, Cù Lao Chàm Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về thói quen tiêu thụ nước uống tự nhiên của người dân địa phương, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của các loài thực vật trong việc bảo đảm nguồn nước sạch và an toàn cho sức khỏe cộng đồng.
Phạm Thị Hợi (2015) đã thực hiện một nghiên cứu khoa học nhằm đánh giá tiềm năng kinh tế của cây Ngô đồng đỏ (Firmiana colorata R Br) trong việc phát triển kinh tế-xã hội tại Cù Lao Chàm, Thành Phố Hội An, Tỉnh Quảng Nam Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về giá trị kinh tế của loài cây này mà còn góp phần vào việc phát triển bền vững khu vực.
Hiện tại, chưa có nghiên cứu nào được công bố về đặc điểm sinh thái và phân bố của cây Ngô đồng đỏ tại đảo Hòn Lao.
Giới hạn đề tài
Nội dung nghiên cứu
- Xác định đặc điểm sinh thái của cây Ngô đồng đỏ
- Xác định vùng phân bố tự nhiên của cây Ngô đồng đỏ
Phạm vi nghiên cứu
- Đảo Hòn Lao, xã Tân Hiệp, thành phố Hội An với diện tích tự nhiên là 1.317 ha.
Quan điểm nghiên cứu
Quan điểm lãnh thổ
Tri thức bản địa về việc sử dụng các loài thực vật gắn liền với lãnh thổ rất quan trọng Do đó, việc nghiên cứu đặc điểm sinh thái, phân bố và tình hình khai thác cây Ngô đồng đỏ cần được thực hiện trong bối cảnh cụ thể của Cù Lao Chàm, Thành phố Hội An.
Quan điểm tổng hợp
Để đánh giá một cách chính xác và đầy đủ các yếu tố tự nhiên và kinh tế xã hội, cần có một quan điểm tổng hợp nhằm hiểu rõ vai trò của loài bản địa trong phát triển kinh tế xã hội tại địa phương.
Quan điểm hệ thống
Mối quan hệ tương tác giữa môi trường tự nhiên và hoạt động của con người ảnh hưởng đến tiềm năng phát triển kinh tế xã hội của cây ngô đồng đỏ ở Cù Lao Chàm, Hội An Để nghiên cứu hiệu quả, cần xem xét đối tượng và địa bàn trong một cấu trúc tổng thể, phản ánh sự tương tác đa chiều giữa các yếu tố này.
Quan điểm lịch sử- viễn cảnh
Nghiên cứu tiềm năng của cây Ngô đồng đỏ trong các giai đoạn trước đây, hiện tại và dự báo trong tương lai.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tổng quan tài liệu
Sử dụng các tài liệu có liên quan đến đối tựợng và nội dung nghiên cứu.
Phương pháp thực địa
Xác định vùng phân bố theo phương pháp nghiên cứu truyền thống:
+ Điều tra theo tuyến: 5 tuyến:
Bảng 1: Các tuyến khảo sát vùng phân bố cây Ngô đồng đỏ ở Cù Lao Chàm
Tuyến Điểm xuất phát Điểm kết thúc Độ dài (km)
Vĩ độ( 0 B) Kinh độ( 0 Đ) Vĩ độ( 0 B) Kinh độ( 0 Đ)
( Bệnh xá đi lên khu quân đội)
Bãi Ông vòng về chùa Hải
Hình 1: Bản đồ các tuyến và điểm thực địa.
Phương pháp bản đồ
Khai thác và tra cứu tuyến nghiên cứu trên bản đồ nền khu vực, đồng thời cập nhật dữ liệu điều tra về phân bố cây Ngô đồng đỏ vào bản đồ nền bằng phần mềm ArcGIS 10.2.2.
Sử dụng mô hình số độ cao (DEM) trên phần mềm Arcgis 10.2.2 để cập nhật dữ liệu điều tra phân bố cây ngô đồng đỏ vào bản đồ nền.
Từ mô hình số độ cao (DEM), độ dốc của khu vực nghiên cứu được tính toán qua lệnh Slope trên phần mềm Arcgis 10.2.2, đồng thời cập nhật dữ liệu điều tra về phân bố cây ngô đồng đỏ trong vùng nghiên cứu.
Phương pháp phỏng vấn cộng đồng
Theo phương pháp phỏng vấn có sự tham gia của cộng đồng (phương pháp PRA)
Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, để phân tích lý giải các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu.
Cấu trúc đề tài
Đề tài gồm có 3 phần:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Hiện trạng phân bố của cây Ngô đồng đỏ ở Cù Lao Chàm
Chương 3: Tình hình khai thác cây Ngô đồng đỏ tại địa phương
Phần Kết luận- Kiến nghị
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Sinh thái học là một lĩnh vực khoa học nghiên cứu sự phân bố và sinh sống của các sinh vật, đồng thời phân tích các mối quan hệ tương tác giữa chúng và môi trường sống.
Môi trường sống của một sinh vật hàm chứa:
- Tổng hòa các nhân tố vật lý như khí hậu và địa lý được gọi là ổ sinh thái
- Các sinh vật khác nhau sinh sống trong cùng một ổ sinh thái
Nhân tố sinh thái là các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự sống của sinh vật, có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp Những nhân tố tác động trực tiếp và cần thiết cho sự tồn tại của sinh vật được gọi là điều kiện sống.
Các nhân tố sinh thái rất đa dạng và có khả năng vừa thúc đẩy sự sống của một số sinh vật, vừa kìm hãm sự phát triển của những sinh vật khác.
Các nhân tố sinh thái bao gồm:
Các nhân tố vô sinh, bao gồm nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, nước, gió, đất, độ mặn của nước, nguyên tố vi lượng và địa hình, có ảnh hưởng đáng kể đến cơ thể sinh vật.
Nhân tố hữu sinh là các sinh vật, có thể là cùng loài hoặc khác loài, tồn tại trong môi trường và thuộc giới hữu cơ, có ảnh hưởng đáng kể đến cơ thể sinh vật.
Nhân tố con người bao gồm tất cả các tác động trực tiếp và gián tiếp lên cơ thể sinh vật, đóng vai trò quan trọng trong môi trường Sự can thiệp của con người, với tính chất xã hội và hoạt động có ý thức, có khả năng tạo ra những biến đổi lớn lao cho môi trường xung quanh.
1.1.3 Các nhân tố sinh thái và ý nghĩa đối với sinh vật
1.1.3.1 Nhân tố vô sinh a Nhiệt độ
Nhiệt độ là nhân tố sinh thái thường xuyên có vai trò quan trọng đến đời sống sinh vật
Nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự sinh trưởng và phân bố của các sinh vật Mỗi loài chỉ có thể tồn tại trong một giới hạn nhiệt độ nhất định, và khi nhiệt độ vượt quá giới hạn này, sinh vật sẽ bị chết.
Sự biến đổi nhiệt độ giữa các khu vực trên Trái Đất dẫn đến sự hình thành các nhóm sinh vật với những đặc điểm khác nhau về hình thái, cấu trúc cơ thể, hoạt động sinh lý và tập tính sinh hoạt Nước cũng đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh tồn của các sinh vật này.
Trong môi trường tự nhiên, độ ẩm không khí là lượng nước tồn tại trong thủy quyển hoặc khí quyển Không khí luôn chứa một lượng nước dưới dạng hơi nước, nhưng khi nhiệt độ giảm xuống một mức nhất định, không khí không còn giữ được nước dưới dạng hơi, dẫn đến việc hình thành các hiện tượng như mù, sương, mưa, sương muối, tuyết và băng.
Nước là thành phần không thể thiếu của tất cả các tế bào sống, chiếm tới 80- 95% khối lượng của các mô sinh trưởng
Nước đóng vai trò quan trọng trong hầu hết các hoạt động sống của sinh vật, bao gồm việc là môi trường sống cho các loài thủy sinh, tạo điều kiện cho các phản ứng sinh hóa học trong cơ thể, cung cấp nguyên liệu cho quá trình tổng hợp và sinh lý, cũng như là phương tiện vận chuyển và trao đổi chất.
Nước tham gia trao đổi năng lượng và điều hòa nhiệt độ cơ thể
Dưới tác động của nhiệt độ, nước bốc hơi từ bề mặt cơ thể sinh vật, và tốc độ bốc hơi tăng lên khi độ ẩm không khí thấp, nhiệt độ cao và gió mạnh Để chống lại sự mất nước, sinh vật cần có cơ chế ngăn chặn thoát hơi nước và bổ sung nước từ môi trường thông qua việc hút nước qua rễ, uống nước hoặc hấp thụ từ thức ăn.
Nước còn giữ vai trò quan trọng trong sự sinh sản và phát tán nòi giống
Các sinh vật phản ứng khác nhau với độ ẩm của môi trường do nhu cầu nước và khả năng sống khác nhau, dẫn đến sự phân bố đa dạng trên Trái Đất Ánh sáng cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và sinh trưởng của các loài.
Tất cả các sinh vật trên Trái Đất đều sống nhờ vào năng lượng từ ánh sáng Mặt Trời một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
Cây xanh và một số vi khuẩn quang hợp thu nhận năng lượng từ ánh sáng Mặt Trời qua quá trình quang hợp để tổng hợp chất hữu cơ Động vật và vi sinh vật dị dưỡng sử dụng thực vật và con mồi làm nguồn thức ăn, chứa năng lượng từ các liên kết hóa học của chất hữu cơ Ánh sáng không chỉ cung cấp năng lượng mà còn ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh vật, giúp động vật cảm nhận môi trường xung quanh, tìm mồi, và thực hiện các hoạt động khác Nó cũng là yếu tố quan trọng trong việc điều hòa tập tính và nhịp sinh học của cơ thể sinh vật.
Cường độ và thành phần của quang phổ ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh vật, dẫn đến những tác động khác nhau đối với các hoạt động sinh lý của cơ thể.
Không khí có thành phần đa dạng, bao gồm các khí chủ yếu như nito, ôxy, cacbonic, hidro, amoniac, ozon, cùng với các khí hiếm như heli, argon, kripton Ngoài ra, không khí còn chứa các khí độc như SO2, Cl2, CO, cùng với tinh dầu, hương thơm, hơi nước, vi khuẩn và bụi Thành phần này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh vật trên Trái Đất.
KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN- KINH TẾ XÃ HỘI CỦA CÙ
Cù Lao Chàm là một cụm đảo gồm 8 hòn đảo lớn nhỏ: Hòn Khô Mẹ, Hòn Khô Con, Hòn Lá, Hòn Mồ, Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Tai và Hòn Ông, với tổng diện tích khoảng 18 km² Nằm ở phía Đông Bắc thành phố Hội An, Cù Lao Chàm cách Cửa Đại 15 km và cách trung tâm Hội An 18 km, thuộc xã Tân Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam Vị trí địa lý của Cù Lao Chàm rất thuận lợi cho việc khám phá và trải nghiệm thiên nhiên.
108 0 22’Đ – 108 0 44’Đ Hòn Lao là hòn đảo lớn nhất trong cụm đảo Cù Lao Chàm với diện tích 1.317 ha (các đảo còn lại có tổng diện tích là 327 ha) [3]
Hình 1.1: Bản đồ vị trí địa lý đảo Hòn Lao, xã Tân Hiệp, Thành phố Hội An
Nguồn: Hồ Phong, Lê Ngọc Hành, Phạm Thị Hợi
2.2.1 Diện tích Đảo Hòn Lao có diện tích 1.317 ha Đảo Hòn Lao hiện tại có 4 thôn là thôn Cấm, thôn Bãi Làng, thôn Bãi Ông và thôn Bãi Hương
Cù Lao Chàm là phần kéo dài về phía Đông Nam của khối núi đá granit Bạch
Mã – Hải Vân – Sơn Trà, hay còn gọi là “phức hệ Hải Vân”, được hình thành cách đây 230 triệu năm, tạo nên địa hình núi trên đảo Quá trình nâng lên của vỏ Trái Đất dọc các đứt gãy kiến tạo theo hướng Tây Bắc – Đông Nam đã tạo ra sườn Đông Bắc hẹp và dốc đứng, trong khi sườn Đông Nam lại rộng và thoải hơn Bờ biển phía Đông Bắc có các vách đá dựng đứng, trong khi bờ biển Tây Nam hình thành các vịnh nhỏ với cát lấp đầy các cong lõm.
2.2.2.2 Địa hình Địa hình Cù Lao Chàm chủ yếu là đồi núi thấp, hầu hết có hình chóp cụt Vùng núi cao nhất là có đỉnh là 517m Độ cao lớn nhất so với mực nước biển dao động từ
Hình 1.2 Bản đồ địa hình đảo Hòn Lao
Đảo Hòn Lao có một dãy núi hình cánh cung chạy từ Tây Bắc đến Đông Nam, tạo thành hai sườn với địa hình khác biệt.
+ Sườn Đông có độ dốc lớn, đá tảng bao quanh chân núi rất hiểm trở
+ Sườn Tây dốc thoải, ít đá tảng, nhiều bãi bồi ven biển.
Hình 1.3: Bản đồ độ dốc đảo Hòn Lao
Cù Lao Chàm có địa hình chủ yếu là đồi dốc lớn, với độ dốc từ 20° đến 71°, chiếm tới 50% diện tích của đảo Hòn Lao.
2.2.3 Khí hậu Đảo Hòn Lao nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình và chịu ảnh hưởng của biển, nhiệt độ cao và có nhiều biến động Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 2 đến tháng 7 năm sau
+ Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,6 0 C;
+ Nhiệt độ cao nhất trung bình 29,8 0 C, cao nhất vào các tháng 6, 7, 8
+ Nhiệt độ thấp nhất trung bình là 22,8 0 C thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2
Vùng Duyên hải miền Trung có đặc điểm chung là chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ địa hình và khí hậu, với sự tác động trực tiếp từ biển và các biến tướng khí hậu do khối cực bán xích đạo biến tính gây ra.
Mùa mưa tại khu vực này diễn ra từ tháng 8 đến tháng 11, chiếm tới 80% tổng lượng nước hàng năm Ngược lại, mùa khô kéo dài từ tháng 2 đến tháng 7, trong khi mùa mưa bão thường xảy ra vào khoảng thời gian này hàng năm.
+ Lượng mưa trung bình năm: 2.066 mm
+ Số ngày có mưa trung bình năm: 147 ngày
+ Lượng mưa lớn nhất năm: 3.307 mm
+ Tháng có lượng mưa trung bình nhiều nhất là tháng 10
+ Độ ẩm không khí trung bình năm: 82%
+ Độ ẩm không khí cao nhất trung bình: 90%
+ Độ ẩm không khí thấp nhất trung bình: 45%
+ Lượng bốc hơi trung bình năm từ 1.000- 1.150 mm
+ Lượng bốc hơi trong các tháng mùa khô lớn: từ 720- 810 mm, chiếm 73% lượng bốc hơi năm Tháng có lượng bốc hơi lớn nhất là tháng 7
- Số giờ nắng trong năm:
+ Số giờ nắng trung bình hằng năm từ 2.200- 2.250 giờ
+ Số giờ nắng tháng lớn nhất: 248 giờ
+ Số giờ nắng tháng ít nhất: 12 giờ
Chế độ gió trong khu vực khá phức tạp, nhưng chủ yếu chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam
+ Tốc độ gió mạnh nhất: 15m/s
Ngoài ra còn do ảnh hưởng của địa hình nên khi gió vào đảo thường bị đổi hướng tạo thành gió địa phương
Cù Lao Chàm thường xuyên bị ảnh hưởng bởi bão và áp thấp nhiệt đới, đặc biệt là vào tháng 9 và 10 Trong năm, khu vực này trung bình ghi nhận từ 2 đến 3 cơn bão, gây ra những trận mưa lớn.
Khí hậu Cù Lao Chàm dễ chịu với mùa đông ấm áp và mùa hè mát mẻ Khu vực này có lượng mưa ổn định, nhưng cũng thường xuyên chịu ảnh hưởng từ áp thấp nhiệt đới và bão trên biển Đông.
Cù Lao Chàm có 5 con suối chính: suối Bãi Ông, suối Tình, suối Bãi Chồng, suối Bãi Bìm và suối Bãi Hương, với lượng nước dồi dào vào mùa mưa, phục vụ nhu cầu nước ngọt cho cư dân trên đảo Tuy nhiên, vào mùa khô từ đầu tháng 5 đến tháng 7, nguồn nước gần như cạn kiệt Suối Bãi Bìm dài 900m, bắt nguồn từ Hòn Biển, có bể chứa nước phục vụ cho khu vực Bãi Ông và Bãi Làng Suối Bãi Hương dài khoảng 1900m, cung cấp nước ngọt cho cư dân tại Bãi Hương, nhưng cũng bị cạn kiệt vào mùa khô.
2.2.5 Đa dạng sinh học trên cạn Đảo Hòn Lao (Cù Lao Chàm) là một trong số ít đảo còn giữ được thảm thực vật có độ che phủ tương đối lớn, khoảng 60-70 % Kiểu thảm chiếm diện tích lớn nhất là rừng thường xanh cây lá rộng nhiệt đới, phân bố chủ yếu ở độ cao 50-500 m Rừng ở đảo Hòn Lao vẫn được đánh giá là nơi lưu trữ nhiều nguồn gen động thực vật quý hiếm
Đảo có hệ thực vật phong phú với 499 loài thuộc 352 chi và 115 họ, đại diện cho 5 ngành thực vật bậc cao có mạch Trong số đó, có 342 loài có giá trị sử dụng, trong khi hơn 60 loài có thể được khai thác cho nhiều mục đích khác nhau.
Hệ sinh thái rừng tại Cù Lao Chàm đã ghi nhận 288 loài cây thuộc 107 họ thực vật, trong đó nhiều loài được xác định là cây thuốc quý Qua hàng trăm năm kinh nghiệm, người dân nơi đây đã phát triển và tinh chế nhiều bài thuốc hiệu quả cho sức khỏe, như hỗ trợ tiêu hóa, bổ huyết, trị cảm cúm, ho, suy nhược thần kinh, giúp khỏe gân cốt, làm đen tóc, trị bệnh kiết lị và nhiều bài thuốc quý giá khác.
Trên sườn phía đông của đảo, địa hình dốc và lớp đất phủ mỏng tạo nên thảm thực vật đặc trưng với cây bụi và trảng cỏ, nơi các loài cây chịu khô như sến đất, huyết giác và cỏ cứng phát triển Ngược lại, sườn Tây Bắc nổi bật với thảm phong lan, trong đó loài Huyết nhung tía (lan nhung kim tuyến) gần như chiếm ưu thế tuyệt đối.
HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ CỦA CÂY NGÔ ĐỒNG ĐỎ Ở CÙ LAO CHÀM
Đặc điểm sinh thái
+Thân cao khoảng 5m – 10m, có khi tới 20-30m, đường kính trung bình từ 60- 80cm, phân cành sớm
+ Lá: lá nguyên và lá xẻ thuỳ chân vịt
+ Hoa: màu đỏ- da cam, cấu tạo hoa có đài hình ống, nhiều lông, trên đỉnh có 5 răng nhỏ
+ Quả: mang 1-2 hạt, quả hình lá phát tán khắp nơi theo gió khi chín
+ Cây rụng lá từ tháng 4- tháng 6
Cây Ngô đồng đỏ có một chu kỳ sinh trưởng rõ rệt trong tự nhiên, được tác giả theo dõi và ghi nhận trong suốt một năm Sơ đồ sinh trưởng của cây này cho thấy các giai đoạn phát triển quan trọng, từ sự nảy mầm cho đến thời kỳ ra hoa và kết trái Việc hiểu rõ chu kỳ sinh trưởng của cây Ngô đồng đỏ không chỉ giúp bảo tồn loài mà còn hỗ trợ trong các nghiên cứu về sinh thái và nông nghiệp.
Hình 2.1: Biểu đồ Sinh trưởng của cây Ngô đồng đỏ
Trong điều kiện không có sự chăm sóc, cây Ngô đồng đỏ cần khoảng một năm từ khi gieo hạt đến khi đạt chiều cao 1m.
Sinh trưởng của cây Ngô Đồng đỏ
Hình 2.2: Cây Ngô đồng trồng thử nghiệm tại khu vườn hộ gia đình cô Hồ Thị Nở
2.1.1.3 Sinh sản và phát tán: a Sinh sản
Cây Ngô đồng đỏ ra hoa từ tháng 5- 8, hoa thụ phấn nhờ gió, ra quả từ tháng 7-
Hạt Ngô đồng đỏ phát tán nhờ gió, hạt tiếp đất có độ ẩm cao sẽ nảy mầm thành cây con [5]
Bên cạnh đó, Hạt Ngô đồng còn được phát tán nhờ các động vật ăn hạt Ngô đồng như Sóc, Khỉ, Chim…
Cây Ngô Đồng đỏ phân bố ở độ dốc từ 0 0 - 72 0
- Phân bố của Ngô Đồng đỏ thay đổi ở các độ dốc khác nhau, trong đó: phân bố tập trung ở độ dốc 3 0 -20 0
Ngô đồng đỏ phân bố chủ yếu ở các độ dốc từ 3 độ trở xuống, chiếm 5% tổng diện tích vùng phân bố, và từ độ dốc 20 độ đến 72 độ, chiếm 15% tổng diện tích.
Cây Ngô đồng đỏ phân bố ở độ cao từ 5 m – 450 m trên sườn núi, và thay đổi theo độ cao rõ rệt
- Ngô đồng đỏ phân bố chủ yếu ở độ cao từ 10 m -100m
- Phân bố giảm dần từ độ cao 10m trở xuống và từ độ cao trên 100m
2.1.2.2 Khí hậu a Nhiệt độ Điều kiện nhiệt độ tại khu vực có phân bố của cây Ngô đồng đỏ:
+ Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,6 0 C;
+ Nhiệt độ cao nhất trung bình 29,8 0 C, cao nhất vào các tháng 6, 7, 8
+ Nhiệt độ thấp nhất trung bình là 22,8 0 C thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2 b Độ ẩm không khí
+ Độ ẩm không khí trung bình năm: 82%
+ Độ ẩm không khí cao nhất trung bình: 90%
+ Độ ẩm không khí thấp nhất trung bình: 45%
Ngô đồng đỏ ở khu vực nghiên cứu phân bố ở vùng đất cát pha trên đá granit lộ đầu a Thành phần cơ giới
Kết quả phân tích thành phần cơ giới của đất thể hiện ở bảng 2:
Bảng 2.1: Thành phần cơ giới của đất
Số thứ tự Kích thước hạt ( mm) Tỉ lệ (%)
Nguồn: Trung tâm BVMT- ĐHBK
Thành phần cơ giới của đất trong khu vực nghiên cứu cho thấy kích thước hạt từ 0,002 mm đến 0,020 mm chiếm 49,3%, trong khi kích thước hạt từ 0,02 mm đến 2,00 mm chiếm 46,7% Kích thước hạt nhỏ nhất, từ 0,0002 mm đến 0,002 mm, chỉ chiếm 4,0%.
Đất có tầng dày thường khác với đất mỏng, chủ yếu là đất cát pha trên đá granit nghèo dinh dưỡng Ngô đồng đỏ thường phát triển trên các vách đá và những khu vực có đá lộ ra.
Độ ẩm của đất, được xác định bằng lượng nước mất đi khi mẫu đất được đốt nóng đến 105°C, thường được biểu thị dưới dạng phần trăm khối lượng đất khô Khảo sát độ ẩm tại khu vực có Ngô đồng đỏ vào tháng 10/2014 (mùa mưa) cho thấy độ ẩm cao nhất đạt từ 70% đến 75%, trong khi vào tháng 4/2015 (mùa khô), độ ẩm thấp nhất ghi nhận là 28,5%.
Cây Ngô đồng đỏ ở Cù Lao Chàm phát triển trên đất phân hủy từ đá Granit, với thành phần đá lộ đầu lớn và hạt kích thước lớn Loại cây này thích nghi tốt với những vùng đất có độ dày tầng đất nhỏ, khoảng 10cm, và có thể mọc ngay cả trên bề mặt bê tông nơi lá cây tích tụ và phân hủy.
Cây Ngô đồng đỏ thích nghi được với vùng đất có độ mùn thấp, độ mùn của đất
Cù Lao Chàm có nhiệt độ trung bình năm cao và lượng mưa tập trung theo mùa, dẫn đến sự phân hủy mạnh của lá cây, tạo ra hàm lượng mùn lớn Tuy nhiên, với độ dốc lớn và lượng mưa lớn theo mùa, lớp mùn bề mặt dễ bị rửa trôi.
Vì vậy, lượng mùn thực tế trong đất rất nhỏ, đất có màu xám trắng, khả năng liên kết yếu
Hình 2.4: Mẫu đất ở Đảo Hòn Lao
Nước mặt là nguồn nước trong sông, hồ và vùng đất ngập nước, được bổ sung tự nhiên bởi mưa và mất đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi hoặc thấm xuống đất Tại đảo Hòn Lao, mặc dù có lượng mưa lớn vào mùa mưa, nhưng do mưa tập trung theo mùa, địa hình dốc và đất chủ yếu là cát pha, khả năng giữ nước của đất kém, dẫn đến tình trạng khan hiếm nguồn nước mặt Các suối thường cạn kiệt vào mùa khô, khiến đất luôn trong tình trạng khô kiệt.
Cù Lao Chàm hình thành trên khối núi đá granit Bạch Mã – Hải Vân – Sơn Trà, với tầng đá chủ yếu là granit Quá trình phong hoá của đá granit tạo ra tầng đất mỏng, địa hình dốc và khả năng giữ nước kém, dẫn đến việc nước ngầm không tồn tại trên địa hình núi Do đó, cây Ngô đồng đỏ đã phát triển khả năng chịu hạn để thích nghi với điều kiện khắc nghiệt này.
Các nhân tố ảnh hưởng đến phân bố của cây Ngô đồng đỏ
2.2.1 Các nhân tố tự nhiên
Ngô đồng đỏ là cây ưa sáng, thường mọc ở tầng tán của rừng, điều này ảnh hưởng đến vùng phân bố của nó Bên cạnh những cây nằm sâu trong rừng với hoa màu đỏ da cam nổi bật, Ngô đồng đỏ còn được tìm thấy ven đường quanh đảo.
Cây Ngô đồng đỏ có khả năng chịu hạn nhưng không chịu được ngập úng, thích hợp với địa hình cao và độ dốc lớn Tại Cù Lao Chàm, khi trồng 1000 cây Ngô đồng đỏ để quy hoạch vùng nguyên liệu, việc không hiểu rõ điều kiện sinh thái đã dẫn đến việc trồng cây ở khu vực ngập úng, khiến cây không phát triển và chết Sau 6 tháng, chỉ còn lại 5 cây.
Hình 2.5: Cây Ngô đồng đỏ thử nghiệm tại vùng nguyên liệu Cù Lao Chàm
Sau thời gian trồng thực nghiệm, khu vực Vườn sinh thái đã chuyển thành vườn cỏ do điều kiện sinh thái không phù hợp Cỏ mọc cao hơn cây Ngô đồng đỏ còn sót lại, khiến cho những cây này trở nên xiêu vẹo và không có thân thẳng như ở các khu vực khác có điều kiện sinh thái thuận lợi.
Hạt Ngô đồng đỏ không thể nảy mầm và phát triển trong các vùng úng, trũng ngập nước Điều này cho thấy rằng trong điều kiện tự nhiên, sự phát tán của hạt sẽ gặp khó khăn nếu gặp phải môi trường không thuận lợi.
Hướng sườn có tác động lớn đến sự phân bố của cây Ngô đồng đỏ, với sự khác biệt về nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng giữa các hướng Cây Ngô đồng đỏ chủ yếu tập trung ở sườn phía Tây của đảo, trong khi ở sườn phía Đông, chúng phân bố thưa thớt hơn.
Cây Ngô đồng đỏ phân tán chủ yếu qua hai hình thức: một là nhờ gió, hai là thông qua các loài động vật ăn hạt như sóc, khỉ và chim Trong mùa sinh sản, gió sẽ mang theo hạt đã chín đến những khu vực khác nhau Khi gặp điều kiện thuận lợi, hạt sẽ nảy mầm, giúp mở rộng vùng phân bố của cây Tuy nhiên, những khu vực bị chắn gió sẽ không nhận được hạt từ gió, và nếu thiếu các yếu tố phân tán khác, cây Ngô đồng đỏ sẽ không thể phát triển ở những nơi này.
Vào mùa sinh sản, cây Ngô đồng đỏ thu hút nhiều động vật ăn hạt như sóc, nhím, chim và khỉ Những loài này không chỉ tiêu thụ hạt mà còn giúp phát tán hạt đến các khu vực khác nhờ hạt có thể dính vào lông của chúng Đây là một yếu tố tự nhiên quan trọng trong việc phân bố cây Ngô đồng đỏ đến những vùng khuất gió.
2.2.2 Các nhân tố kinh tế - xã hội
Nhân tố con người là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến vùng phân bố của cây Ngô đồng đỏ Con người có tác động tích cực bằng cách mở rộng vùng phân bố thông qua việc trồng vùng nguyên liệu Tuy nhiên, tác động tiêu cực cũng đáng chú ý, khi các dự án cải tạo hệ thống cống thoát nước, đường giao thông và mạng lưới điện đã chặt phá nhiều cây Ngô đồng đỏ Ngoài ra, việc khai thác không có kế hoạch hợp lý đã dẫn đến tình trạng cạn kiệt nguồn cây Ngô đồng đỏ tự nhiên.
Hình 2.6:Đường “Ngô đồng đỏ” trong dự kiến trước khi có dự án cải tạo đường
Hình 2.7: Đường “Ngô đồng đỏ” trong dự kiến sau khi có dự án cải tạo đường
Đặc điểm phân bố của cây Ngô Đồng Đỏ
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát, định vị và đo đạc để xây dựng cơ sở dữ liệu nghiên cứu phân bố của cây Ngô đồng đỏ trên đảo Hòn Lao Công tác này bao gồm thống kê phân bố của các cá thể cây và vùng phân bố của loài cây này trên toàn đảo.
Theo kết quả khảo sát trên thực địa, chúng tôi đã thành lập bản đồ phân bố của cây Ngô đồng đỏ tại vùng nghiên cứu (Hình 2.8)
Hình 2.8: Bản đồ phân bố cây Ngô đồng đỏ tại đảo Hòn Lao
Từ kết quả khảo sát phân bố của cây Ngô đồng đỏ cho thấy:
Cây Ngô Đồng Đỏ phân bố không đều trên đảo, chủ yếu tập trung ở sườn phía tây và phía bắc, trong khi sườn phía đông có mật độ thưa thớt hơn Hình thái phân bố của cây này thể hiện rõ qua quần hợp và ưu hợp.
Cây Ngô đồng đỏ ở khu vực phía tây phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu tại 6 vùng chính: Bãi Ông, Bãi Làng, Bãi Chồng, Bãi Bìm, và Bãi Hương Trong số đó, Bãi Làng và Bãi Hương là hai khu vực có sự tập trung cao nhất của cây Ngô đồng đỏ.
- Ở Bãi Bắc, cây Ngô đồng phân bố không đều, tập trung thành 3 vùng chính
Khảo sát phân bố của Ngô đồng đỏ theo độ cao, kết quả cho thấy:
Ngô đồng đỏ phân bố ở độ cao từ 5 m – 450 m trên sườn núi, và thay đổi theo độ cao rõ rệt
- Ở độ cao từ 10 m -100m chiếm trên 50% tổng diện tích vùng có Ngô đồng đỏ phân bố
Ngô đồng đỏ chủ yếu phân bố ở độ cao dưới 10m, chiếm 15% tổng diện tích, và ở độ cao trên 100m, chiếm 35% tổng diện tích vùng phân bố của loài này.
Khảo sát phân bố của Ngô đồng đỏ theo độ dốc, kết quả cho thấy:
Ngô Đồng đỏ phân bố ở độ dốc từ 0 0 - 72 0
Ngô Đồng đỏ có sự phân bố chủ yếu ở các độ dốc từ 30 đến 200, chiếm hơn 80% tổng diện tích khu vực có loài cây này.
Ngô đồng đỏ chủ yếu phân bố ở những khu vực có độ dốc từ 3 độ trở xuống, chiếm khoảng 5% tổng diện tích vùng phân bố Bên cạnh đó, loại cây này cũng được tìm thấy ở các khu vực có độ dốc từ 20 độ đến 72 độ, chiếm 15% tổng diện tích phân bố.
TÌNH HÌNH KHAI THÁC CÂY NGÔ ĐỒNG ĐỎ TẠI CÙ
Giá trị sử dụng của cây Ngô đồng đỏ
Cây Ngô đồng đỏ, một loài cây đa tác dụng và có giá trị kinh tế cao, hiện đang được khai thác tại Cù Lao Chàm với nhiều mục đích khác nhau.
3.1.1 Làm đồ thủ công mỹ nghệ
Các sản phẩm đồ thủ công mỹ nghệ hiện nay chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của khách du lịch
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ vỏ cây Ngô đồng đỏ là sản phẩm truyền thống có giá trị cao của địa phương, với 100% hộ khai thác phục vụ cho việc làm võng Trong số đó, hai hộ gia đình chuyên khai thác vỏ Ngô đồng đỏ để bán Giá trị của võng ngô đồng phụ thuộc vào hoa văn, với mức giá trung bình từ 1.500.000 đồng đến 4.500.000 đồng Võng ngô đồng nổi bật với đặc điểm bền, dai, mịn, nằm êm, nhẹ và có tác dụng chữa bệnh đau lưng.
Hình 3.1: Sản phẩm võng Ngô đồng đỏ
Hình 3.2: Các sản phẩm từ cây Ngô Đồng đỏ
Hình 3.3: Một số sản phẩm mới từ vỏ ngô đồng
Một số hộ gia đình sử dụng Cây Ngô đồng đỏ làm củi đốt, tận dụng phần lõi sau khi tách vỏ để làm võng và nhặt cành gãy, cây chết làm củi Củi Ngô đồng đỏ có đặc điểm dễ cháy và bắt lửa nhanh nhờ chứa tinh dầu trong thân cây.
3.1.3 Lấy hạt làm thực phẩm
Hạt Ngô đồng đỏ chứa nhiều chất dinh dưỡng, nên việc sử dụng hạt để chế biến thực phẩm cung cấp nguồn dinh dưỡng cho người sử dụng
Hình 3.4: Các sản phẩm từ hạt Ngô đồng đỏ
3.2 Tình hình khai thác và sử dụng cây ngô đồng đỏ của người dân trong phát triển kinh tế
Bảng 3.1: Vai trò của cây Ngô đồng đỏ đối với người dân
1 Ông (bà) có biết đến Cây Ngô Đồng Cù Lao Chàm không?
Biết cây Ngô đồng đỏ 100,0
2 Ông (bà) có quan tâm đến cây Ngô đồng đỏ không? không quan tâm 20,0
Lý do quan tâm quan tâm
4 Ông (bà) có khai thác thường xuyên không?
5 Ông (bà) khai thác để làm gì?
6 Ông (bà) khai thác vào thời kì nào của cây?
7 Ông (Bà) khai thác cây Ngô đồng đỏ ở đâu?
Theo khảo sát với 30 người phỏng vấn, 100% hộ gia đình đang khai thác vỏ cây Ngô đồng đỏ để sản xuất võng Ngô đồng Quá trình khai thác diễn ra bằng cách chặt các cây Ngô đồng có đường kính từ 4cm đến 8cm, với thân thẳng và không phân cành để tách vỏ.
Một số hộ gia đình nhặt những cành cây Ngô đồng đỏ bị gãy bị chết để làm củi đốt
Hai hộ gia đình đi khai thác vỏ Ngô đồng đỏ để bán, trung bình 1 ngày thu được
Cây Ngô Đồng đỏ được bán theo bó với giá từ 500.000 đồng đến 600.000 đồng mỗi bó, hoặc có thể chế biến toàn bộ để bán 1kg vỏ với giá 500.000 đồng Người dân địa phương thường khai thác cây Ngô Đồng đỏ một cách thủ công và chưa có kế hoạch cụ thể, chủ yếu tập trung vào những cây từ 1 tuổi trở xuống, chiếm 33,33% tổng số cây khai thác.
Hiện nay, người dân chủ yếu chặt cây Ngô đồng đỏ để lấy vỏ bằng cách men theo bìa rừng và đường giao thông từ thôn Bãi Làng đến Bãi Hương Điều này dẫn đến số lượng cây non có thân thẳng và không có nốt sần ở khu vực này ngày càng giảm.
3.2.1 Tình hình khai thác cây Ngô đồng đỏ
Khảo sát tình hình khai thác cây Ngô Đồng Đỏ ở Cù Lao Chàm, kết quả cho thấy:
Về hình thức khai thác:
+ Chặt cây non ở độ tuổi từ 1-3 năm lấy vỏ làm các đồ mỹ nghệ như võng, giỏ, mũ, tranh
+ Chặt cành làm củi đun Đây là hai hình thức khai thác phổ biến của cộng đồng cư dân đảo
+ Hạ cây to lấy gỗ làm đồ gia dụng hình thức này chỉ gặp ở một vài hộ dân khai thác rừng lâu năm
Về qui mô khai thác: nhỏ lẻ, mang tính tự phát, theo hộ gia đình
Khu vực khai thác Ngô Đồng Đỏ chủ yếu nằm gần các khu dân cư với địa hình thấp và ít dốc Mặc dù vậy, theo Nguyễn Ngọc Thanh, mức độ khai thác Ngô Đồng Đỏ vẫn còn rất hạn chế so với các loại lâm sản ngoài gỗ khác Nguyên nhân chính là do lợi nhuận từ việc khai thác và sử dụng cây Ngô Đồng Đỏ hiện tại còn khá khiêm tốn, điều này được thể hiện rõ qua số liệu thống kê về số người tham gia khai thác lâm sản ngoài gỗ trong khu vực nghiên cứu.
Người dân hiện nay chủ yếu chặt cây Ngô đồng đỏ để lấy vỏ bằng cách đi men theo bìa rừng và các tuyến đường giao thông từ thôn Bãi Làng đến Bãi Hương Điều này dẫn đến việc có nhiều cây non với thân thẳng và không có nốt sần ở khu vực này.
Hình 3.5: Số lượng người dân khai thác lâm sản ngoài gỗ ở Cù Lao Chàm
Người dân Cù Lao Chàm khai thác cây Ngô đồng đỏ quanh năm để lấy vỏ làm đồ thủ công mỹ nghệ phục vụ cho du lịch Kể từ năm 2015, vào mùa cây kết hạt, họ còn thu hoạch hạt để chế biến thực phẩm, góp phần đa dạng hóa nguồn thu nhập và phát triển bền vững.
1 cua đá tắc kè huyết nhung tía ong ngô đồng củi rau rừng lá thuốc
3.2.2 Tình hình sử dụng cây Ngô đồng đỏ
Khảo sát việc sử dụng các bộ phận của cây Ngô Đồng Đỏ của người dân, kết quả cho thấy:
- Vỏ thân cây từ 1 - 3 năm tuổi dùng để chế biến thành sợi đan võng, bện dây thừng làm phụ kiện cho các phương tiện sản xuất và sinh hoạt
- Phần gỗ (đã tách lấy vỏ), cành cây khô được tận dụng làm chất đốt sinh hoạt trong gia đình
- Thân gỗ của cây Ngô đồng đỏ có đường kính từ 1m trở lên được dùng làm ván, quan tài, đồ gia dụng
3.2.3 Tình hình sử dụng hạt Ngô đồng đỏ
Năm 2015 đánh dấu sự khởi đầu trong việc khai thác hạt Ngô đồng đỏ nhằm chế biến các sản phẩm phục vụ cho ngành du lịch Các sản phẩm chế biến từ Ngô đồng đỏ đã góp phần làm phong phú thêm trải nghiệm du khách.
Vào mùa thu hoạch đầu tiên, giá hạt Ngô đồng đỏ dao động từ 500.000 đến 700.000 VNĐ/kg Tuy nhiên, giá đã giảm xuống còn 200.000-300.000 VNĐ/kg do chất lượng hạt phơi không đảm bảo.
Trong quá trình thu hoạch hạt Ngô đồng đỏ, nhiều người dân đã chặt cành chứa hạt để tiết kiệm thời gian, dẫn đến tình trạng cây Ngô đồng đỏ bị trơ trụi sau khi thu hoạch Hành vi này đã gây ra những vấn đề nghiêm trọng, buộc lực lượng kiểm lâm phải can thiệp để ngăn chặn tình trạng khai thác phá hủy này.
Việc nâng cấp và mở rộng tuyến đường từ Bãi Làng tới Bãi Hương, cùng với việc xây dựng hệ thống cống thoát nước và đường dây điện, đã dẫn đến việc chặt bỏ nhiều cây Ngô đồng lớn và cây con ven đường.
Hình 3.6: Quá trình mở rộng đường chặt bỏ các cây Ngô đồng
Một số đề xuất của đề tài
Hiện nay, tình hình khai thác cây Ngô đồng đỏ tại Đảo Hòn Lao, Cù Lao Chàm đang gặp nhiều thách thức Tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên này Việc nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của cây Ngô đồng đỏ và khuyến khích các hoạt động trồng mới là rất cần thiết Đồng thời, cần có chính sách quản lý chặt chẽ để đảm bảo việc khai thác diễn ra hợp lý và bảo vệ môi trường.
3.3.1 Giải pháp về Quản lý
Quy hoạch phát triển cây Ngô đồng đỏ bao gồm việc thiết lập vùng nguyên liệu phục vụ cho ngành thủ công, như sản xuất võng và đồ thủ công mỹ nghệ, cùng với vùng du lịch ngắm cảnh.
- Song song với khai thác, phải chú trọng đến công tác bảo vệ, phục hồi
- Ban hành các văn bản ngăn chặn việc khai thác cây Ngô đồng đỏ một cách tự phát và vô kế hoạch
- Xây dựng quy chế và lực lượng giám sát khai thác Ngô Đồng Đỏ
- Nghiên cứu kỹ thuật ươm, trồng cây Ngô đồng đỏ có hiệu quả
- Đánh giá và xác định các khu vực lãnh thổ phù hợp đối với việc trồng cây Ngô đồng đỏ để mở rộng diện tích phân bố của cây
- Nghiên cứu nhu cầu sinh thái của cây Ngô đồng đỏ
3.3.3 Giải pháp về tuyên truyền – nâng cao nhận thức
- Tuyên truyền cho người dân về giá trị của cây Ngô đồng đỏ, nhiệm vụ bảo tồn và phát triển loài theo hướng bền vững
- Tuyên truyền cho người dân về khai thác có kế hoạch cây Ngô đồng đỏ theo hướng phát triển bền vững
3.3.4 Giải pháp về quy hoạch
Cần quy hoạch một vùng nguyên liệu Ngô Đồng Đỏ nhằm phục vụ cho ngành thủ công mỹ nghệ, chế biến thực phẩm và dược liệu, đồng thời phát triển một khu vực du lịch để thúc đẩy kinh tế địa phương.
- xã hội vùng đảo một cách bền vững
- Dựa vào quá trình sinh trưởng của Cây Ngô đồng đỏ, tác giả có mô hình đề xuất việc khai thác như sau:
Hình 3.7: Mô hình khai thác Cây Ngô đồng đỏ
Nghề dựa vào cây Ngô Đồng đỏ
Lấy vỏ làm đồ thủ công
Lấy vỏ, làm đồ thủ công
Lấy vỏ, làm đồ thủ công
Qua quá trình nghiên cứu về tiềm năng của cây Ngô đồng đỏ, chúng tôi đi đến các kết luận sau:
- Cây Ngô đồng đỏ là cây dễ thích nghi, phù hợp với điều kiện tự nhiên của đảo
- Cây Ngô đồng đỏ hiện tại chủ yếu phân bố tự nhiên, nếu bảo vệ được thì đây là xu thế phát triển bền vững
Hiện nay, hoạt động khai thác tài nguyên đang gia tăng đáng kể, do đó, nếu không có các biện pháp bảo vệ hiệu quả, môi trường cảnh quan của toàn đảo sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.