1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ ngữ hội thoại và cú pháp khẩu ngữ nguyễn ngọc tư (khảo sát qua 2 tập truyện ngắn “gió lẻ và 9 câu chuyện khác” và “khói trời lộng lẫy”)

79 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ ngữ hội thoại và cú pháp khẩu ngữ Nguyễn Ngọc Tư (khảo sát qua hai tập truyện ngắn “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác” và “Khói trời lộng lẫy”)
Tác giả Nguyễn Thị Thùy Linh
Người hướng dẫn TS. Bùi Trọng Ngoãn
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Sư phạm Ngữ Văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2016
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 906,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi Nguyễn Thị Thùy Linh, sinh viên lớp 12SNV, khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, xin cam đoan công trình “Từ ngữ hội thoại và cú pháp khẩu ngữ Nguyễn

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ THÙY LINH

TỪ NGỮ HỘI THOẠI VÀ CÚ PHÁP KHẨU

NGỮ NGUYỄN NGỌC TƯ (KHẢO SÁT QUA HAI TẬP TRUYỆN NGẮN “GIÓ LẺ VÀ 9 CÂU CHUYỆN KHÁC” VÀ “KHÓI TRỜI LỘNG LẪY”)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Đà Nẵng, tháng 5/2016

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

TỪ NGỮ HỘI THOẠI VÀ CÚ PHÁP KHẨU

NGỮ NGUYỄN NGỌC TƯ (KHẢO SÁT QUA HAI TẬP TRUYỆN NGẮN “GIÓ LẺ VÀ 9 CÂU CHUYỆN KHÁC” VÀ “KHÓI TRỜI LỘNG LẪY”)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi Nguyễn Thị Thùy Linh, sinh viên lớp 12SNV, khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, xin cam đoan công trình “Từ ngữ hội thoại và cú pháp khẩu ngữ Nguyễn Ngọc Tư” (Khảo sát qua hai tập truyện ngắn “Gió lẻ và

9 câu chuyện khác” và “Khói trời lộng lẫy”) là công trình do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Giảng viên chính – Tiến sĩ Bùi Trọng Ngoãn

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2016

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Thùy Linh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo Bùi Trọng Ngoãn, người đã tận tâm, chu đáo hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này Xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2016

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Thùy Linh

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhắc đến những đề tài văn chương viết về mảnh đất sông nước Nam Bộ người

ta thường hay nghĩ đến văn chương Nguyễn Ngọc Tư Những tác phẩm của chị xuất hiện như thổi thêm một làn gió vừa mới mẻ nhưng cũng vừa bình dị vào văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ 21 Cái mới của Nguyễn Ngọc Tư có lẽ chính là việc tập trung đi sâu khắc hoạ rõ nét về đời sống, thân phận của những con người miền Nam kết hợp với việc sử dụng một lớp từ ngữ mang đậm chất khẩu ngữ không thể hoà lẫn vào đâu được Cái mới đó hoà lẫn với với sự bình dị từ chính những con người đời thường, những khía cạnh cuộc sống đa chiều, dung dị của những con người Nam Bộ đã tạo nên một Nguyễn Ngọc Tư rất riêng, không lẫn vào ai Nếu như những năm đầu thế kỉ 21, văn học Việt Nam có những bước chuyển mình trong việc thể hiện cả nội dung và nghệ thuật khi bắt đầu đề cập đến những vấn đề mang tầm cỡ thời đại hoặc miêu tả thế giới nội tâm đầy những suy nghĩ phức tạp của con người qua một lớp từ ngữ mang tính mới mẻ, “lạ hóa” Thì khi Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện, chị đã lay động, đã thu hút hàng triệu người đọc bởi một lối văn phong nhẹ nhàng cùng với một lớp từ vựng đậm chất khẩu ngữ Nam Bộ Chính sự xuất hiện của Nguyễn Ngọc Tư đã cho thấy không phải lúc nào cái mới, cái lạ trong văn học cũng đem lại sự thành công và mang lại sự chú ý, mà ngược lại chính những yếu tố dung dị, đời thường đôi khi lại đem đến sự thành công và mới mẻ trong hàng loạt cái tưởng chừng như rất mới Từ trước đến nay, các đề tài nghiên cứu về Nguyễn Ngọc Tư rất đa dạng, phong phú, đặc biệt là ở phương diện ngôn ngữ Mỗi một đề tài đều đi theo một hướng nghiên cứu, cách tiếp cận riêng ở nhiều mặt, tạo nên nhiều sự tranh luận với nhau

Mỗi một vùng miền có một lớp từ hội thoại riêng mang đặc trưng của ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày (khẩu ngữ) của vùng miền đó Cũng chính đặc trưng khẩu ngữ vùng miền đã tạo nên các kiểu cú pháp khẩu ngữ riêng biệt mà khi đọc vào đó ta có thể nhận biết được dấu ấn văn hóa cũng như nét đặc trưng riêng của từng vùng miền Về khía cạnh nghiên cứu “Từ ngữ hội thoại và cú pháp khẩu ngữ” trong thực

Trang 6

tiễn thì hầu như mọi công trình đều nói về phong cách chức năng ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày nhưng chưa có một công trình riêng về “Từ ngữ hội thoại và cú pháp khẩu ngữ” Đặc biệt, trong các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư cũng chủ yếu đề cập đến khẩu ngữ Nam Bộ trong sáng tác của chị chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu các kiểu cú pháp khẩu ngữ Một vài công trình trong quá trình nghiên cứu cũng có đề cập đến từ ngữ hội thoại nhưng chỉ là một khía cạnh nhỏ bổ sung cho vấn đề nghiên cứu của họ

Đối với bản thân tôi, là một sinh viên Sư phạm Ngữ văn, công việc tương lai sẽ trở thành một giáo viên nên việc nghiên cứu những đề tài như thế này sẽ giúp ích rất nhiều cho việc giảng dạy tiếng Việt và tác phẩm văn học trong chương trình dạy

học sau này Việc nghiên cứu “Từ ngữ hội thoại và cú pháp khẩu ngữ” vừa đem lại

cho tôi những hiểu biết về ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày, lại vừa có được sự so sánh, đối chiếu với ngôn ngữ phổ thông và khẩu ngữ của các vùng miền Chính những kiến thức như vậy sẽ giúp ích rất nhiều trong việc trao dồi kiến thức và kĩ năng khi dạy, phân tích tác phẩm văn học, từ ngữ trong nhà trường

Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư là một mảnh đất màu mỡ thu hút sự chú ý, quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Tuy nhiên ở vấn đề ngôn ngữ, các công trình nghiên cứu chỉ mới chú tâm vào lớp từ vựng phương ngữ mà chưa có một sự đầu tư thỏa đáng vào các bình diện của ngôn ngữ nghệ thuật Nguyễn Ngọc Tư Trong đó,

“Từ ngữ hội thoại và cú pháp khẩu ngữ Nguyễn Ngọc Tư” là một khía cạnh chưa ai

chạm tới Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Từ ngữ hội thoại và cú pháp khẩu ngữ Nguyễn Ngọc Tư” (khảo sát qua hai tập truyện ngắn

“Gió lẻ và 9 câu chuyện khác” và “Khói trời lộng lẫy”)

2 Lịch sử vấn đề

Từ ngữ hội thoại và cú pháp khẩu ngữ là một vấn đề chưa được nghiên cứu, đề cập đến một cách cụ thể mà chỉ được nói chung đến trong phong cách sinh hoạt hằng ngày như:

Giáo trình “Phong cách học tiếng Việt” (1982) của nhóm tác giả Võ Bình – Lê Anh Hiền – Cù Đình Tú – Nguyễn Thái Hòa đã đề cập đến phong cách khẩu ngữ,

Trang 7

và xem đó là “thứ ngôn ngữ giao tế thông thường trong cuộc sống hằng ngày”[1,

tr.54]

Cù Đình Tú (1983) trong giáo trình “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt” (1983) có đề cập đến “Phong cách khẩu ngữ tự nhiên còn được gọi là phong cách khẩu ngữ sinh hoạt, phong cách khẩu ngữ hằng ngày vì nó được dùng trong sinh hoạt hằng ngày của mỗi cá nhân …” [11, tr.92]

Đinh Trọng Lạc cũng đề cập đến phong cách chức năng ngôn ngữ sinh hoạt

hàng ngày, theo ông “Phong cách SHHN được chia ra hai biến thể: SHHN tự nhiên (thông tục) và SHHN văn hóa (thông dụng)”[8, tr.122] trong giáo trình “Phong cách

học tiếng Việt”

Hữu Đạt cũng nghiên cứu về phong cách khẩu ngữ tự nhiên trong tiếng Việt

ở giáo trình “Phong cách học tiếng Việt hiện đại” (1999), theo ông “Phong cách khẩu ngữ tự nhiên trong tiếng Việt gắn liền với những đặc điểm văn hóa truyền thống, với thói quen, tập quán của người Việt” [2, tr.80]

Về vấn đề “Từ ngữ hội thoại và cú pháp khẩu ngữ” trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư chưa có một công trình nào quan tâm nghiên cứu Chủ yếu các công trình nghiên cứu mới chỉ quan tâm đến việc nhận xét cách sử dụng từ ngữ của Nguyễn Ngọc Tư, hoặc nghiên cứu chủ yếu về phương ngữ Nam Bộ được sử dụng trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư

Trần Hữu Dũng trong bài viết “Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền Nam”(2004),

đã nhận xét: “Từ vựng của Nguyễn Ngọc Tư không quý phái hay độc sáng (như của Mai Ninh chẳng hạn) nhưng, đối nghịch, đó là một từ vựng dân dã, lấy thẳng từ cuộc sống xung quanh” [26]

Huỳnh Công Tín trong bài viết“ Nguyễn Ngọc Tư – nhà văn trẻ Nam bộ”

(2006) đã nghiên cứu các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư trên các bình diện không

gian, nhân vật, ngôn từ (trong đó có khẩu ngữ Nam bộ): “Nhìn từ phương diện nghệ thuật, chị đã sử dụng ngôn từ của phương ngữ Nam bộ khá thành công trong sáng tác của mình… Trong tác phẩm văn chương mà sử dụng quá nhiều từ địa phương

Trang 8

thì sẽ gây trở ngại cho người đọc, hạn chế độc giả Nhưng để có những sáng tác phản ánh sinh động thực tại, không gì tốt hơn là phải dùng chất liệu ngôn từ của thực tại cần phản ánh”[11]

Lời nhận xét của nhà văn Nguyễn Quang Sáng được Nguyễn Trọng Bình

trích dẫn trong bài viết“Đặc trưng ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”: “Cổ

có phong cách riêng Mà trong đó, bắt nguồn từ vốn sống độc đáo, do chính cổ tìm được … Thoại trong văn Nguyễn Ngọc Tư không hề bị lai, rặt Nam bộ mà người ta đọc vẫn hiểu và cảm thấu trọn vẹn” [25]

Nhà văn Dạ Ngân trong bài viết “May mà có Nguyễn Ngọc Tư” (2006) đã nhận xét về cách viết của Nguyễn Ngọc Tư “Chính cái truyện lấy tên tập lại không thấy thích bằng những truyện về những cảnh ngộ, những thân phận, những mảnh người thường nhật, nó cho thấy tác giả có thể dài hơi về kiểu nhân vật này, tất cả được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ Nam bộ lấp lánh và một giọng văn dung dị, đặc biệt ấm áp” [27] Là một người trong nghề, với kinh nghiệm và cảm nhận của bản

thân, Dạ Ngân đã nêu lên những nhận xét, suy nghĩ của mình về ngôn ngữ, cách viết

của Nguyễn Ngọc Tư với sự đề cao “tôi nghĩ hình như mình đang tiếp cận một ngôi sao chưa biết nó sẽ tỏa sáng đến đâu” [27]

Tiểu Hằng Ngôn trong bài viết “Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền Nam” thì lại rất đề cao phương diện phương ngữ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư: “Nhiều người cho rằng cái độc đáo của Nguyễn Ngọc Tư là sự chân chất mộc mạc tươm ra

từ mỗi truyện cô viết Đúng, và dưới đây sẽ nói thêm Song, trước hết, cái đầu tiên làm người đọc choáng váng (cách thích thú), là nồng độ phương ngữ miền Nam trong truyện của Nguyễn Ngọc Tư Nếu bạn là người Nam, và nhất là nếu bạn đã xa quê hương lâu năm, thì chỉ những chữ mà Nguyễn Ngọc Tư dùng cũng đủ làm bạn sống lại những ngày thơ ấu xa xôi ấy” [28] Đúng như lời nhận xét của Tiểu Hằng

Ngôn, mỗi lần đọc tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư là mỗi lần ta lại được khám phá vùng đất và con người Nam bộ hiện lên qua từng con chữ, từng dòng miêu tả với những từ khẩu ngữ mang đậm dấu ấn Nam Bộ, chỉ cần đọc tác phẩm của Nguyễn

Trang 9

Ngọc Tư thông qua từ ngữ cũng giúp ta đủ biết tác phẩm đang viết về vùng miền nào

Hầu như các bài viết về Nguyễn Ngọc Tư đều đề cập đến phương diện từ ngữ Nam Bộ, khẩu ngữ được thể hiện trong tác phẩm của chị Nhắc đến Nguyễn Ngọc Tư là người ta nhớ ngay đến một giọng văn mộc mạc, giản dị, đằm thắm và đậm chất Nam Bộ Ngôn ngữ Nam Bộ đã ăn sâu vào trong tiềm thức, trong lối suy nghĩ, tư duy văn chương của chị Từng trang văn, từng dòng miêu tả đều mang đậm dấu ấn của ngôn ngữ Nam Bộ, của phong cách chức năng ngôn ngữ thường ngày

Từ những lời nói giao tiếp cho đến những lời miêu tả về cuộc sống, từ ngữ giản dị

đến lạ thường, nào là “cười lỏn lẻn”, “dễ ẹt”, “xỉn”, “xí xọn”, …, những từ mà chỉ

được dùng trong giao tiếp thường ngày lại có thể đi vào trong văn học một cách tự nhiên, dân dã như vậy

Bên cạnh đó, các luận văn như: “Từ địa phương trong văn Nguyễn Ngọc Tư” (2007) của Đặng Thị Minh Hoa; “Thế giới nhân vật trong tập truyện ngắn “Gió lẻ

và 9 câu chuyện khác” của Nguyễn Ngọc Tư” (2010) của Nguyễn Thị Ngọ; “Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư qua Cánh đồng bất tận” (2007) của Phạm Thị

Mỹ Trang; “Phương ngữ Nam Bộ trong tập truyện ngắn “Khói trời lộng lẫy” của Nguyễn Ngọc Tư” (2011) của Phan Thị Ngọc Qúy, “Khẩu ngữ Nam Bộ trong câu văn Nguyễn Ngọc Tư qua tiểu thuyết “Sông””(2014) của Lê Thị Diễm… cũng chỉ

chủ yếu nói đến phương ngữ Nam Bộ, từ khẩu ngữ, từ địa phương trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư

Nhìn chung công trình nghiên cứu, các bài viết mới chỉ chủ yếu nhận xét cách sử dụng từ ngữ, nghiên cứu khẩu ngữ, phương ngữ Nam Bộ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu kĩ hai bình diện từ ngữ hội thoại

và cú pháp khẩu ngữ

Trang 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Từ ngữ hội thoại và cú pháp khẩu ngữ trong sáng tác Nguyễn Ngọc Tư, khảo sát qua hai tập truyện ngắn “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác” (2008) và “Khói trời lộng lẫy” (2010)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong hai tập truyện “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác” (2008) và “Khói trời lộng lẫy” (2010) của Nguyễn Ngọc Tư

4 Phương pháp nghiên cứu

Với đề tài trên, chúng tôi kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ với phương pháp nghiên cứu văn học Cụ thể như sau:

- Phương pháp thống kê, khảo sát: Được sử dụng để xác định số lượng, tần suất các đơn vị từ hội thoại, các kiểu cú pháp khẩu ngữ xuất hiện trong hai tập truyện ngắn “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác” và “Khói trời lộng lẫy” của Nguyễn Ngọc Tư

- Phương pháp miêu tả, phân tích: Được sử dụng để miêu tả và phân tích cụ thể các đơn vị từ hội thoại, các kiểu cú pháp khẩu ngữ xuất hiện trong hai tập truyện ngắn “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác” và “Khói trời lộng lẫy” của Nguyễn Ngọc Tư

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Giúp chúng tôi thực hiện việc nghiên cứu một cách chính xác, có hệ thống, rõ ràng

- Phương pháp tổng hợp, khái quát: Được sử dụng khi đưa ra những nhận định tổng hợp ở cuối mỗi phần và kết luận đề tài

5 Dự kiến đóng góp của đề tài

- Từ việc nhận diện, phân tích, tổng hợp hai tập truyện ngắn “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác” và “Khói trời lộng lẫy” của Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi chỉ ra những đặc sắc về cách sử dụng từ ngữ hội thoại và cú pháp khẩu ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

- Chỉ ra vai trò của các từ ngữ hội thoại và cú pháp khẩu ngữ trong việc truyền đạt nội dung truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư Đồng thời, tạo điều kiện cho việc

Trang 11

nghiên cứu chuyên sâu, bao quát ngôn ngữ trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc

Tư về sau

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, đề tài của chúng tôi gồm

3 chương chính sau:

- Chương 1: Một số vấn đề lí luận và tổng quan về đối tượng nghiên cứu

- Chương 2: Khảo sát về các từ ngữ hội thoại và cú pháp khẩu ngữ Nguyễn Ngọc

Tư qua hai tập truyện ngắn “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác” và “Khói trời lộng lẫy”

- Chương 3: Khả năng biểu đạt của từ ngữ hội thoại và cú pháp khẩu ngữ trong thế giới nghệ thuật Nguyễn Ngọc Tư

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỐI

TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1.1 Từ ngữ hội thoại và cú pháp khẩu ngữ

1.1.1 Phong cách chức năng ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày và các đặc điểm ngôn ngữ của nó

1.1.1.1 Phong cách chức năng ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày

Dựa vào phần tìm hiểu đã nêu ở mục lịch sử nghiên cứu vấn đề có thể thấy rằng các nhà nghiên cứu như Võ Bình, Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc, Hữu Đạt đều nhất quán quan điểm xem phong cách khẩu ngữ sinh hoạt hằng ngày đồng nhất với phong cách khẩu ngữ tự nhiên

Phong cách này tồn tại trong cộng đồng với tư cách là một kiểu nói năng phổ thông, phổ biến nhất Xuất phát từ thói quen ngôn ngữ của một dân tộc thông qua con đường giao tiếp

Đinh Trọng Lạc đề xuất việc tách biệt hai biến thể của phong cách chức năng ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày thành: sinh hoạt hằng ngày tự nhiên (thông tục) và

sinh hoạt hằng ngày văn hóa (thông dụng) Theo ông “Phục vụ sự trao đổi thân mật giữa các cá nhân, phong cách SHHN mang tính chất tự nhiên, thoải mái và do đó

nó trở nên sinh động, thân mật, gần gũi Do thói quen, do tính chất của mối quan hệ vai bằng nhau giữa hai người đối thoại, trong những hoàn cảnh không theo nghi thức, do tâm trạng lúc giao tiếp, họ có thể dùng cả những từ ngữ thô lỗ, tục tằn” [8, tr.122]; “Phong cách SHHN văn hóa dựa chủ yếu trên kiểu ngôn ngữ viết không nghệ thuật, nhưng cũng có thể bao gồm cả những cấu trúc của các kiểu viết và nói nghệ thuật Phong cách SHHN tự nhiên dựa chủ yếu trên kiểu ngôn ngữ nói không nghệ thuật, nhưng cũng có thể bao gồm cả những cấu trúc của kiểu nói – nghệ thuật” [8, tr.123]

Trang 13

1.1.1.2 Các đặc điểm ngôn ngữ của phong cách chức năng ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày

a Đặc điểm ngữ âm

- Trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày, thường sử dụng âm sắc mang tính cá thể, tùy thuộc vào cách phát âm của người nói

- Phát âm theo tập quán địa phương

Ví dụ: Người miền Bắc thường lẫn lộn các âm như: tr – gi (trời – giời), l – n (làm – nàm); người miền Trung mà cụ thể là người Quảng Nam, thường phát âm

“nói – núa”, “áo - ố”, “khói – khúa”

b Đặc điểm từ vựng

- Chủ yếu dùng những từ ngữ có hình ảnh, có tính cụ thể, giàu sắc thái biểu cảm

Ví dụ: Ăn: Tộng, nuốt, đớp, táp …

Nói: Há mồm, giở giọng, hót, chửi, mở miệng, há miệng, …

Đẹp: Đẹp dễ sợ, đẹp khủng khiếp, đẹp dã man, đẹp mê li, …

- Thường hay dùng các thán từ, tình thái từ, quán ngữ, thành ngữ

Ví dụ về thán từ: Ối giời ơi!, Mèn đét ơi!, Ô hay!, …

Ví dụ về tình thái từ:“Em đi nghen”, “Giờ này sao còn chưa về nhỉ”, “Tạm biệt

nha”

Ví dụ về quán ngữ:khốn nỗi, chết nỗi, nói bỏ ngoài tai, …

Ví dụ về thành ngữ:Khôn nhà dại chợ, nước đổ đầu vịt, ăn không ngồi rồi, …

- Từ thường được dùng theo nghĩa khẩu ngữ

Trang 14

- Có nhiều từ thông tục, từ địa phương, tiếng lóng

Ví dụ từ thông tục: Bỏ mẹ, chết cha, cút mẹ, thấy mẹ, …

Ví dụ từ địa phương: rú (rừng, núi), mướn (thuê), nỏ (không), …

Ví dụ tiếng lóng: Trong giới học sinh – sinh viên (gậy – một điểm, trứng – 0 điểm, …)

- Gọi tên đối tượng bằng những cái tên chỉ rõ đặc điểm nhận diện

Ví dụ: Hải ngố, Tư lé, Thắng cụt, …

c Đặc điểm ngữ pháp

- Hiện tượng vi phạm logic – khách quan vẫn khá phổ biến

Ví dụ: + Cấm không được đổ rác

+ Tôi quên không mang tiền

- Hiện tượng tỉnh lược:

Ví dụ:Ăn cơm chưa? → Rồi

Ngày mai mi có ra Đà Nẵng không? → Không

- Thường hay có yếu tố dư:

Ví dụ: Tôi thì tôi mến chú lắm

d Đặc điểm diễn đạt

- Thường có hiện tượng iếc hóa, nói láy, nói tắt

Ví dụ về “iếc hóa”: Học hiếc, bài biếc, bàn biếc

Ví dụ về nói láy: Con gái con đứa, đàn ông đàn ang

Ví dụ về hiện tượng nói tắt:

Cửa hàng bách hóa tổng hợp – bách hóa/ tổng hợp

Hợp tác xã – hợp tác – hợp

Tìm hiểu đối tượng để kết hôn – tìm hiểu

- Sử dụng cách nói ví von, khoa trương, ưa dùng các cách diễn đạt ẩn dụ, hoán dụ

Ví dụ về cách nói ví von, khoa trương:

Xấu: xấu như quỷ, xấu như ma, xấu như chó, …

Màu đen: đen như than, đen như mực, …

Ví dụ về ẩn dụ:Mặt trời của em

Trang 15

Ngôi sao màn bạc

Ví dụ về hoán dụ: Anh ấy là một cây bút trẻ

Cả phòng đều yên lặng

- Để tài luôn chuyển đổi, không có chủ đề nhất định

Ví dụ: Ngày mai tôi mới tính đi mướn người làm, khi nào anh về?

→ Con chó này đẹp quá, cho tôi nghen

- Trong khẩu ngữ phát ngôn thường có nghĩa hàm ngôn:

Ví dụ: Từ sáng tới giờ tui biểu em nấu cơm, em đã nấu chưa?

→ Tui mắc học bài lúc sáng tới giờ

Mưa! → mang quần áo/ dừng lại mặc áo mưa/ chạy vào nhà

1.1.2 Khái niệm từ hội thoại

1.1.2.1 Từ hội thoại

Bùi Trọng Ngoãn trong giáo trình “Phong cách học tiếng Việt” có định nghĩa : “Từ hội thoại còn được gọi là từ khẩu ngữ, là những từ được dùng chủ yếu trong lời nói miệng trong giao tiếp hằng ngày Từ hội thoại được coi là một dấu hiệu đặc trưng của PCNN hàng ngày” [10, tr 28]

Như vậy, có thể hiểu từ hội thoại chính là những từ được sử dụng trong lời nói miệng ở giao tiếp hằng ngày, còn có tên gọi khác là từ khẩu ngữ

Dưới đây là một số ví dụ về từ hội thoại:

Ví dụ 1 (từ) - ấm ớ (nói năng không ra lời)

- anh chị (kẻ sừng sỏ trong bọn lưu manh)

- ba láp (sai trái)

- ăn gian (cố ý tính sai)

Ví dụ 2: (tổ hợp) - ai lại (nhận xét về hành vi vô lí)

- ai mượn (trách cứ về việc lẽ ra không nên làm)

Cù Đình Tú đã trình bày khá kĩ về các kiểu cấu tạo từ hội thoại trong giáo trình “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt”, chúng tôi tóm gọn lại như sau:

(1) Từ hội thoại cấu tạo theo kiểu thêm yếu tố

- Từ đa phong cách + yêu tố không mang nghĩa

Trang 16

Ví dụ: Ngon ơ, mốc thếch, …

- Láy: Đàn ông đàn ang, con gái con đứa, …

(2) Từ hội thoại cấu tạo theo kiểu bớt yếu tố

- nhân khẩu → khẩu

- phê bình → phê

- vinh dự → vinh

(3) Từ hội thoại cấu tạo theo kiểu biến yếu tố

- Biến âm:- khối → ối

- trời → giời

- làm → nàm

- Biến nghĩa:- ngay lưng → lười

- níu áo → cản trở

(4) Từ hội thoại cấu tạo theo kiểu không lí do, ngẫu nhiên Ví dụ: chuồn, tùm

lum, tuế toá, tuềnh toàng, …

Bên cạnh 4 kiểu cấu tạo từ hội thoại của Cù Đình Tú, trong quá trình khảo sát chúng tôi còn bổ sung thêm hai kiểu cấu tạo từ hội thoại mới đó là:

(5) Từ hội thoại xuất phát từ sự vay mƣợn các ngôn ngữ khác Ví dụ: chế - chị,

Trang 17

chức năng định danh như từ dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hành động” [1,

tr.129]

Theo Cù Đình Tú “Thành ngữ vốn là những tổ hợp từ mang tính chất tự do, được nhiều người cùng dùng, cùng tham gia sửa đổi dần dần, gọt giũa dần dần trong trường kỳ lịch sử, cuối cùng trở thành những cụm từ cố định” [11, tr.232]

Bùi Trọng Ngoãn trong giáo trình “Phong cách học tiếng Việt” có định nghĩa về thành ngữ như sau: “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm, được sử dụng như một đơn vị sẵn có” [10,

tr.32]

Nhìn chung, các tác giả đều thống nhất thành ngữ là những cụm từ cố định Được dùng để gọi tên sự vật, hành động, vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm

Chạy đôn chạy đáo

- Mỗi thành ngữ khi nói ra đều kèm theo một thái độ cảm xúc, một thái độ đánh giá

Ví dụ: Cay như ớt, chát như sung

Con nhà lính, tính nhà quan

Con ông cháu cha

- Thành ngữ có khả năng khái quát cho mọi hành động, mọi tình thế tương tự nhờ có tính biểu trưng cao

Ví dụ: Chuột sa chĩnh gạo

Xanh vỏ đỏ lòng

* Phạm vi sử dụng

Trang 18

Thành ngữ được dùng trong các phong cách: khẩu ngữ, báo chí, văn chương nghệ thuật

b Quán ngữ

Quán ngữ là những cụm từ cố định được dùng lặp đi lặp lại trong các loại văn bản để liên kết nhấn mạnh, rào đón

Quán ngữ được xem là dạng trung gian giữa cụm từ cố định và cụm từ tự do

Có thể chia quán ngữ làm hai loại:

- Quán ngữ khẩu ngữ: của đáng tội, nói khí không phải,…

- Quán ngữ sách vở: một là, hai là, suy cho cùng, bên cạnh đó, …

Sự tách biệt từ thông tục với từ hội thoại là một việc cần thiết Mặc dù phạm

vi sử dụng của từ thông tục là ngôn ngữ hội thoại nhưng nó không nằm trong từ vựng của ngôn ngữ văn hóa Từ thông tục chỉ được dùng trong phong cách sinh hoạt hàng ngày tự nhiên giữa các cá nhân có quan hệ tự do, thoải mái trong giao tiếp, suồng sã

Ví dụ: thấy mẹ, má nó, con đĩ, …

Từ thông tục là một đơn vị từ đặc trưng của phong cách khẩu ngữ , việc sử dụng từ ngữ này chủ yếu nhằm khắc họa, miêu tả tính cách nhân vật Trong quá trình phân tích từ hội thoại thì việc tìm và phân tích từ thông tục là rất cần thiết, vừa

có sự so sánh đối chiếu giữa từ hội thoại được sử dụng trong giao tiếp văn hóa với

Trang 19

từ thông tục trong giao tiếp khẩu ngữ, vừa làm nổi bật lên nét tính cách nhân vật Bản thân từ thông tục cũng có sự khác nhau trong giao tiếp khẩu ngữ giữa các vùng miền

Sở dĩ chúng tôi đề cập đến từ thông tục trên đây là để nhằm khẳng định không phải bất cứ từ khẩu ngữ nào được dùng trong giao tiếp cũng là từ hội thoại Việc phân chia rõ ra một nhóm từ thông tục nhằm có sự so sánh, tránh nhầm lẫn trong việc quy ước từ hội thoại

Khái niệm cú pháp khẩu ngữ được nhắc tới trong các công trình phong cách học Tuy nhiên chưa được miêu tả một cách chi tiết Thông thường, các công trình phong cách học chỉ nêu ba biểu hiện của phong cách khẩu ngữ, đó là: Vi phạm logic, xuất hiện yếu tố dư, xuất hiện tượng tỉnh lược

Các giáo trình tiếng Việt thực hành dành cho người nước ngoài đã đề xuất một số dấu hiệu để nhận biết kiểu câu khẩu ngữ như sau:

Nguyễn Việt Hương trong cuốn giáo trình “Thực hành tiếng Việt cho người nước ngoài” đã đưa ra một số dấu hiệu để nhận diện kiểu câu khẩu ngữ “có thể dựa vào một số từ ngữ mang phong cách khẩu ngữ để nhận diện kiểu câu khẩu ngữ như: lắm, quá Trong đó lắm: đứng sau tính từ thường dùng trong khẩu ngữ Còn quá: đứng sau tính từ, thường dùng trong khẩu ngữ biểu thị sự cảm thán”[4, tr.29] Ngoài ra còn có những từ khác như: từ đâu“trợ từ, đứng cuối câu để nhấn mạnh ý phủ định (thường dùng trong khẩu ngữ)”[4, tr.29]; từ lâu“dùng để diễn tả khoảng thời gian dài, dùng nhiều trong khẩu ngữ”[4, tr.29]

Tác giả Đoàn Thiện Thuật trong cuốn “Thực hành tiếng Việt cho người nước

ngoài” (Trình độ B) đưa ra dấu hiệu nhận diện: “kết cấu “đã … lại…” có ý nghĩa

Trang 20

như “không những … mà còn …” nhưng được dùng nhiều trong khẩu ngữ và đó cũng như là dấu hiệu để nhận biết kiểu câu khẩu ngữ” [12, tr.147]

Từ những quan niệm, cách nhận diện khác nhau về kiểu câu khẩu ngữ, chung quy lại để xác định đó có phải là câu khẩu ngữ hay không thì cần phải đảm bảo được các điều kiện:

- Về mặt cấu tạo: Phải là một cấu trúc câu hoặc một thành ngữ, quán ngữ hay cụm từ cố định nằm trong một cấu trúc khẩu ngữ

- Về phạm vi sử dụng: Thường được sử dụng trong giao tiếp hội thoại, giao tiếp khẩu ngữ

- Về mặt ngữ nghĩa: Nghĩa của chúng không còn là nghĩa gốc của từng đơn

vị từ vựng có mặt trong đó kết hợp lại mà đã chuyển sang nghĩa mới cụ thể hơn, và nghĩa sử dụng thường gắn chặt với ngữ cảnh

Để xây dựng một cách hiểu về cú pháp khẩu ngữ Chúng tôi đã dựa vào các sách phong cách học và các giáo trình tiếng Việt thực hành dành cho người nước ngoài Trong luận văn, chúng tôi tiến hành khảo sát năm kiểu cú pháp khẩu ngữ sau đây:

- Dùng kết cấu có “thì” để nhấn mạnh

- Dùng câu hỏi để phủ định

- Chọn cách nói cụ thể hơn trong hai cách nói đồng nghĩa

- Kiểu câu sử dụng từ tình thái ở giữa câu

- Kiểu câu sử dụng từ tình thái ở cuối câu

1.2 Giới thiệu chung về Nguyễn Ngọc Tƣ và hai tập truyện ngắn đƣợc khảo sát

“Gió lẻ và 9 câu chuyện khác” và “Khói trời lộng lẫy”

1.2.1 Giới thiệu chung về Nguyễn Ngọc Tƣ

Nguyễn Ngọc Tư tên thật là Nguyễn Bé Tư, sinh năm 1976 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Chị sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo nơi tận cùng của đất nước Chính thực tại cuộc sống cùng với chất văn chương dung dị, dân

dã của một con người thuần Nam Bộ đã bồi đắp nên một Nguyễn Ngọc Tư “chân chất” và “đậm tính hiện thực” Trong từng trang viết của chị hiện lên những bức

Trang 21

chân dung, những khía cạnh của đời thực mà cụ thể là bức tranh toàn thể về cuộc sống cơ cực, những phận người heo hắt nơi miền Nam sông nước

Từ những trải nghiệm về cuộc sống cơ cực của chính bản thân mình, kết hợp với hoàn cảnh xung quanh đã đi vào trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư qua những lời kể đầy tự nhiên, chân thật Có thể nói, chưa có nhà văn nào có thể khắc hoạ đời sống, bức tranh của con người Nam Bộ một cách đa diện như Nguyễn Ngọc

Tư Là một con người Nam Bộ, lớn lên ở mảnh đất Nam Bộ đầy cơ cực, vất vả, quanh năm phải chèo chống giữa sông nước, chứng kiến những phận người cơ cực, tất cả đã tạo nên một chất liệu vô tận và không thể thiếu trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư

Năm 1996, ba tập truyện ngắn đầu tay của Nguyễn Ngọc Tư viết về đề tài tình bạn chốn đồng quê dựa trên một phần nhật kí của chị đã được đăng trên Tạp chí Văn nghệ Bán đảo Cà Mau Bắt đầu từ đây, Nguyễn Ngọc Tư đã đem những lời văn, tiếng nói của mình đến với mọi người, và trở thành một ngôi sao tiếp theo trên bầu trời văn chương Việt Nam Ngay ở tác phẩm đầu tay này, tài năng của chị đã được nhiều người đón nhận, chị được làm văn thư và học làm phóng viên tại tạp chí này Từ đây, tài năng của chị ngày càng được bồi đắp và thoả sức tung hoành

Tài năng đầu tiên của chị được công nhận là trên phương diện báo chí, vào

năm 1997 với bài “Ký sự sau cơn bão lũ” đã đem lại cho chị giải ba báo chí Đây là

giải thưởng đầu tiên và cũng là đà thúc đẩy cho sự nghiệp cầm bút của chị về sau

Đối với Nguyễn Ngọc Tư, chị quan niệm rằng viết văn một phần là để kiếm sống, phần khác là để giải bày tâm sự của lòng mình, được nói ra những góc khuất trong nội tâm Chỉ trong một thời gian ngắn, chị đã cho ra đời hàng loạt tác phẩm có

giá trị nội dung và nghệ thuật: Ngọn đèn không tắt (2000), Ông ngoại (2001), Giao thừa (2003), Cánh đồng bất tận (2005), Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (2008), Khói trời lộng lẫy (2010), Bánh trái mùa xưa (2012), Sông (2012), … Nhiều tác phẩm

trong số đó đã đạt được các giải thướng lớn trong và ngoài nước: chỉ riêng truyện

ngắn “Ngọn đèn không tắt” đã đạt được giải nhất Cuộc vận động sáng tác văn học

tuổi 20 lần II (2000); Giải thưởng dành cho tác giả trẻ của Uỷ ban toàn quốc Liên

Trang 22

hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam (2000); Giải B của hội nhà văn Việt Nam (2001) Chị cũng được vinh danh là một trong “Mười nhân vật trẻ xuất sắc tiêu biểu của năm 2002” (2003), đạt giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam (2001) Bên cạnh các giải thưởng trong nước, Nguyễn Ngọc Tư cũng đã khẳng định được tên tuổi của mình trong khu vực qua giải thưởng văn học Đông Nam Á (2008) dành cho tập truyện ngắn Cánh đồng bất tận Đặc biệt, “Cánh đồng bất tận” là tác phẩm đã khẳng định tên tuổi và vị thế của Nguyễn Ngọc Tư trên thi đàn văn học Việt Nam, tác phẩm đã giúp Nguyễn Ngọc Tư khẳng định tài năng của mình trong việc khắc hoạ chân thực cuộc sống cơ cực của những con người nghèo khổ nơi vùng quê sông nước, qua đó làm nổi bật lên một ý nghĩa nhân văn vô cùng sâu sắc về tình cảm gia đình, về tình người của những con người bất hạnh Tác phẩm đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc, cũng là tác phẩm đầu tiên của Nguyễn Ngọc Tư được thể hiện trên một phương diện khác đó là điện ảnh, được đông đảo công chúng yêu thích và đón nhận

Theo chúng tôi, đây mới chỉ là những dấu mốc đầu trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Ngọc Tư Với tài năng, sự nhiệt huyết của mình, chắc hẳn Nguyễn Ngọc Tư sẽ còn tiến xa hơn nữa trên con đường văn chương mà chị đã lựa chọn và cống hiến

1.2.2 Hai tập truyện ngắn “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác” và “Khói trời lộng lẫy”

1.2.2.1 “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác”

Tập truyện ngắn “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác” đã khẳng định tài năng của

Nguyễn Ngọc Tư đang ngày một toả sáng Đây là tập hợp của nhiều câu chuyện khác nhau, nhiều phận người khác nhau, từ đó thể hiện phong cách viết đa dạng và cũng nhiều tính triết lí hơn trong văn chương Nguyễn Ngọc Tư

Tập truyện ngắn được mở đầu từ câu chuyện của một đứa trẻ kể về gia đình

mình với những diễn biến thường ngày, những biến cố xảy ra trước đây(Vết chim trời) Trong đó hiện lên chân dung của một nhân vật chính thường xuyên được miêu

tả kĩ với diễn biến tâm trạng phức tạp đó là nhân vật Vĩnh Một đứa trẻ hiếu động

Trang 23

nhưng bên trong đấy lại đầy bất hạnh, sống nội tâm và biết suy nghĩ về những việc

đã xảy ra từ những câu chuyện của người lớn Đây mới chỉ là khởi đầu trong tập truyện ngắn đa diện, nhiều câu chuyện, nhiều số phận, mảnh đời khác nhau Trải dài trong tập truyện ngắn còn nhiều câu chuyện khác nhau, có thể đơn giản là câu

chuyện về một câu đố của người cha và đứa con gái (Chuồn chuồn đạp nước)hay

những rung động tình cảm của một cô gái nhưng không dám nói ra khi chứng kiến người mình thích rung động hết cô gái này tới cô gái khác; cũng vì tình cảm gia đình đẩy một đứa trẻ tới chỗ tự lập, tự lập trong cách sống và cả cách suy nghĩ, có những trăn trở trong lòng dù là đứng trước mặt cha thằng bé cũng chẳng muốn nói

ra, để rồi cuối cùng nó tự tìm cách giải thoát cho chính mình để không phải là gánh

nặng của ai(Ấu thơ tươi đẹp), … Hàng loạt câu chuyện, hàng loạt suy ngẫm, triết lí

được rút ra giúp chúng ta nhìn nhận lại một lần nữa cuộc sống xung quanh mình đâu phải đơn giản chỉ là màu hồng, đâu chỉ là dòng thời gian cuốn trôi đi tất cả Cuối cùng, tập truyện ngắn được kết lại bằng một câu chuyện và cũng là nhan đề

của tập thơ “Gió lẻ”

“Gió lẻ” là tiếng nói đa thanh của nhiều nhân vật khác nhau nhưng trên hết

là sự đổ vỡ, bất lực của một kiếp người trong một cuộc sống đầy sự dối trá và thiếu

vắng tình người “Gió lẻ” có ba nhân vật, ba mảnh đời trái ngược cùng hành trình

trên một chuyến xe Trên chuyến xe ấy, cuộc đời của mỗi con người được tự kể, kể lại, ba con người, ba phận đời, ba nỗi đau khổ, bất hạnh biến cuộc đời của mình thành một cuộc hành trình tựa lưng vào chuyến xe, trôi nổi, vùi dập không biết đích đến xác định Những trên hết, họ lại cảm thấy hài lòng với thực tại này Mặc dù hành trình trên chuyến xe như một sự hành xác, nhưng chính sự trải nghiệm cực khổ

ấy đã biến cô trở thành một bản thể khác, một bản thể không còn những đớn đau dồn nén, không còn quá khứ mà thay vào đó là một bản thể không tên gọi, không có đau đớn từng trải, không có giọng nói uất nghẹn lại vì giận, vì đau buồn Cô đi, tự lập ra cho mình một hành trình để rời xa cuộc sống dối trá, đi để không còn toan tính, không còn nhớ, không còn đau và quan trọng hơn hết là đi để giải thoát cuộc

Trang 24

đời cho chính mình, để giữ lại một phần nhân cách còn vẹn nguyên và tránh xa khỏi những sự thật đáng sợ

Khác với tác phẩm trước đó “Cánh đồng bất tận”, Nguyễn Ngọc Tư ở tập truyện ngắn “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác” đã được thoả sức thể hiện ngòi bút của

mình trong việc tái hiện những thế giới nội tâm đầy phức tạp, những phận người đầy mâu thuẫn, trăn trở Từ những mẫu chuyện rời rạc, không liên quan, những nhân vật đa dạng, nhiều chiều, Nguyễn Ngọc Tư đã tập hợp để tạo nên một thế giới truyện ngắn đa dạng trong một chỉnh thể để thoả sức vẫy vùng thế giới nghệ thuật của mình

1.2.2.2 “Khói trời lộng lẫy”

“Khói trời lộng lẫy” mở ra trước mắt người đọc những cảnh ngộ, những số phận kì lạ, heo hắt trong cuộc sống xô bồ, rộng lớn Hầu như các câu chuyện trong

tập truyện ngắn này đều mang tên nỗi buồn: Nước như nước mắt, Có con thuyền đã buông bờ, Cảm giác trên dây, Mộ gió, Thềm nắng sau lưng, … Những nỗi buồn

mang tên ấy bao trùm lên cả tập truyện ngắn, bao trùm lên cả tâm trạng của tác giả như chính những điều mà chị đã viết ra Đó là nỗi buồn của người chị luôn sống trong sự day dứt, dằn vặt khi đứa em trai bị mất tích, rồi tới ngày đứa em trai trở về

cũng là lúc chị nhận ra cuộc đời mình đã từ lâu bị chôn vùi trong nấm mộ gió(Mộ gió)

Hay nổi bật lên trên hết là nỗi buồn chính trong câu chuyện chủ đề của tập

truyện ngắn “Khói trời lộng lẫy”, đó là nỗi buồn của người chị không thể giữ chân

đứa em lại, không thể chấp nhận sống mãi trong sự lừa dối để che đậy sự thật Đây

là câu chuyện về chị em thằng bé Phiên bỏ trốn khỏi chốn thành thị phức tạp, xô bồ

để tìm đến nơi xóm Cồn heo hút nhằm giải thoát bản thân ra khỏi sự truy đuổi của quá khứ Người chị vì muốn trả thù người cha đã tìm cách để bế đứa em trai vừa mới ra đời để tìm đến một xóm Cồn heo hút, nơi có những phận người vất vưởng, cùng cực, nơi mà dù có đói khát đến mấy thì có một nồi chè cũng chia năm xẻ bảy

Ý định để người chị (Di) bồng đứa em trai tới đây còn nhằm mục đích lưu giữ lại tâm hồn trong sạch cho đứa nhỏ, giúp nó lớn lên trong một môi trường đầy tình

Trang 25

người, sống hòa mình với thiên nhiên vạn vật, không phải lo nghĩ chống chọi với cuộc sống xô bồ, phức tạp ngoài kia Di cảm thấy vui vì đã nuôi dưỡng được một tâm hồn trẻ thơ đầy thuần khiết, chất phác cho em trai Bỏ qua mọi lời nghi vấn của mọi người về thân phận của hai chị em, Di chấp nhận xem đứa em trai cùng cha khác mẹ như là con của mình, nuôi dưỡng nó lớn lên bằng tình thương và sự trải nghiệm mong muốn cho nó có được Càng ngày Phiên càng lớn, cũng là lúc Di lo

sợ một ngày nào đó Phiên sẽ biết sự thật, lo sợ Phiên sẽ bỏ cuộc sống cực khổ nhưng đầy tình người để tìm đến nơi thành thị xô bồ phức tạp, nơi mà thằng bé sẽ được hưởng tất cả những gì nó hằng ao ước bấy lâu nay và chắc chắn nó sẽ có được nếu nó được quay trở về nhà Cuối cùng, Di đành chấp nhận nói ra sự thật với mong muốn níu kéo và nhận được sự tha thứ từ đứa em trai Nhưng cuối cùng Phiên cũng

bỏ cuộc sống nơi đây mà ra đi với sự im lặng

Mười câu chuyện với nhiều mảnh đời, nhiều mối quan hệ, hoàn cảnh khác nhau làm nên một chỉnh thể truyện ngắn đa diện, nhiều màu sắc Đọc truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, ta luôn cảm thấy đọng lại dư âm về sự cảm thông, băn khoăn

và sự chia sẻ Đặt ra những nuối tiếc, những nghi vấn cho người đọc.Mỗi một câu chuyện, mỗi một tập truyện là một bước chuyển mình của Nguyễn Ngọc Tư trong lối viết, trong cảm nhận và suy nghĩ Chị đưa vào trong tác phẩm của mình những câu chuyện, những con người rất thật như chính bản thân mình tận mắt chứng kiến, trải nghiệm

Qua mỗi tập truyện ấy, người đọc lại tích lũy cho bản thân mình một vốn từ Nam Bộ tương đối dày đặc, đọc tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư như được giao tiếp, hòa mình vào chính cuộc sống thường ngày của những con người Nam Bộ cơ cực, lam lũ nhưng cũng đầy phóng khoáng

Trang 26

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT VỀ CÁC TỪ NGỮ HỘI THOẠI VÀ CÚ PHÁP KHẨU NGỮ CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ QUA HAI TẬP TRUYỆN NGẮN “GIÓ LẺ VÀ 9 CÂU CHUYỆN KHÁC” VÀ “KHÓI TRỜI LỘNG LẪY”

2.1 Khảo sát từ ngữ hội thoại

Khói trời lộng lẫy

Số lượng

Tỉ lệ (%)

Số lượng

Tỉ lệ (%)

1 Từ hội thoại cấu tạo theo kiểu thêm yếu tố 38 10.6 61 14.8

2 Từ hội thoại cấu tạo theo kiểu bớt yếu tố 16 4.5 9 2.2

Trang 27

a Từ hội thoại cấu tạo theo kiểu thêm yếu tố

Tất cả những từ hội thoại chúng tôi khảo sát đều được tra trong “Từ điển phương ngữ Nam Bộ” (1994) của Nguyễn Văn Ái

* “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác”

Trang 28

Bảng a(1): Từ hội thoại cấu tạo theo kiểu thêm yếu tố trong tập truyện ngắn

“Gió lẻ và 9 câu chuyện khác”

Qua khảo sát trên có thể thấy rằng từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu thêm yếu tố được sử dụng khá nhiều trong giao tiếp hằng ngày của người Nam Bộ, góp phần làm tăng sắc thái tu từ, làm cho cuộc đối thoại trở nên thú vị cũng như bổ sung thêm những sắc thái nghĩa mới Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Ngọc Tư đã sử dụng lớp từ này rất linh hoạt, tự nhiên

Xét ví dụ 1:

(1) “Vĩnh đẹt ngắt, nhưng gạt tôi ra rìa trong cuộc chiến giành măng vú bà nội”

[23, tr.11]

Theo từ điển, “đẹt ngắt” (tt): Đẹt câm (không lớn được, quá bé nhỏ so với

tuổi và thời gian) [20, tr.222] Ở đây Nguyễn Ngọc Tư đã sử dụng từ ngữ giàu sắc thái miêu tả để nhấn mạnh điểm nối bật về mặt ngoại hình của nhân vật Vĩnh

(2) “đọ, sáng mắt chưa, nhậu nhẹt tới mức anh Hai giận bỏ về rồi kìa” [23, tr.28]

Theo từ điển, “nhậu nhẹt” (đgt): Chè chén, rượu chè [20, tr.422] Sử dụng cách nói cụ thể “nhậu nhẹt” nhằm nhấn mạnh việc rượu chè bê tha, tránh cách nói

dài dòng

(3) “Nhưng sáng sau, dù hai mi mắt giữ rịt lấy nhau, cô cũng đến đón anh đúng giờ, như một cây kim khô dầu rọt rẹt vẫn mẫn cán chạy đều”[23, tr.35]

Theo từ điển, “rọt rẹt” (tth): Rọt roẹt, tiếng động nhỏ liên tiếp do cựa quậy,

động đậy.[20, tr.481] Sử dụng từ ngữ giàu tính thượng thanh để miêu tả hoạt động của sự vật

(4) “Em cuối đầu, nhìn sông trôi xơ rơ” [23, tr.108]

Trang 29

Theo từ điển, “xơ rơ”(tt): Còi cọc, trơ trụi, xơ xác [20, tr.638] Sử dụng từ

ngữ miêu tả nhằm nhấn mạnh sự xơ xác, mệt nhọc của cảnh vật xung quanh như chính tâm trạng của nhân vật

* “Khói trời lộng lẫy”

Trang 30

Theo từ điển, “tỉnh queo” (tt): Tỉnh khô [20, tr.543] “tỉnh như không, hoàn toàn

không tỏ một thái độ hay tình cảm gì trước điều lẽ ra phải có tác động đến mình” [21, tr.963] Việc sử dụng từ hội thoại này nhằm nhấn mạnh sự thản nhiên của loài

cá Bạc Đầu, khi mà để duy trì sự sống thì chúng có thể thực hiện những việc làm

mà người ta cho rằng tàn ác, đáng bị loại bỏ

(6) “Có 5 đứa sinh viên làm thêm ở ba xưởng tàu hủ, cả 5 đứa đều mỏng dờn”[24, tr 78]

Theo từ điển, “mỏng dờn” (tt): Mỏng dánh [20, tr 383], “mỏng đến mức như

không còn có thể mỏng hơn được nữa” [21, tr 615] Từ ngữ nhấn mạnh vẻ bên ngoài mỏng manh, gầy gò của 5 cô gái

(7) “Có lúc thằng nhỏ hơi mỉm cười, có lúc nó càu nhàu rồi lăn sát vách mùng,

có khi quạu quọ gạt tay tôi ra” [24, tr 107]

Theo từ điển, “quạu quọ” (tt): Cáu bẩn, cáu kỉnh, cáu gắt [20, tr 463] Thiên về

chỉ nét tính cách trong một thời điểm nhất thời khi xảy ra một sự việc nào đấy Trong câu trên, “quạu quọ” chỉ sự cáu kỉnh của Phiên trong một lúc nhất thời

Qua việc xét một vài ví dụ nêu trên có thể thấy rằng, Nguyễn Ngọc Tư đã sử dụng lớp từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu thêm yếu tố nhằm nhấn mạnh, miêu tả tính chất của sự vật, sự việc, khắc họa chân dung nhân vật Việc sử dụng những từ ngữ như vậy vừa mang lại tính cụ thể trong việc diễn đạt ý nghĩa của từ ngữ, vừa làm cho vốn từ trở nên phong phú

Trang 31

b Từ hội thoại cấu tạo theo kiểu bớt yếu tố

* “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác”

STT Từ hội thoại Từ nguyên mẫu Tần suất

1

2

nội vầy

bà nội như vầy

14

2

Bảng b (1): Từ hội thoại cấu tạo theo kiểu bớt yếu tố trong tập truyện ngắn

“Gió lẻ và 9 câu chuyện khác”

Nhìn chung, những từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu này được hình thành do thói quen ưa lối nói tắt trong giao tiếp của người Việt Thực chất, kiểu cấu tạo này không tạo ra từ mới, nghĩa của từ được bớt yếu tố cũng tương đương với nghĩa của

từ nguyên mẫu Các từ hội thoại được được cấu tạo theo kiểu bớt yếu tố xuất hiện tương đối ít trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư

Xét ví dụ 1:

(1) “Ủa nội ơi, nội bị làm sao?” [23, tr.6]

bà nội → nội

Trong câu này, thay vì lặp lại “Ủa bà nội ơi, bà nội bị làm sao?” thì người

nói có sự tỉnh lược từ “bà” phía trước, đây là hiện tượng phổ biến trong phương ngữ Nam Bộ Tương tự như vậy, thay vì gọi “bà ngoại”/ “ông ngoại” thì trong giao tiếp hằng ngày người Nam Bộ thường gọi tắt thành “ngoại”, đây là tên gọi được

dùng cho cả bà lẫn ông

* “Khói trời lộng lẫy”

STT Tên truyện ngắn Từ hội

thoại

Từ nguyên mẫu Tần suất

Bảng b(2): Từ hội thoại cấu tạo theo kiểu bớt yếu tố trong tập truyện ngắn

“Khói trời lộng lẫy”

Xét ví dụ 2:

(2) “Nắng vầy mà có bóng cây để treo võng nằm chơi là đúng điệu” [24, tr 11]

nhƣ vầy – vầy

Trang 32

Thay vì nói, “Nắng như vầy mà có bóng cây để treo võng nằm chơi là đúng điệu” thì ở đây tác giả đã có sự tỉnh lược bớt từ ngữ nhưng nghĩa không thay đổi,

đều nhằm nhấn mạnh “thế này”, “này”

c Từ hội thoại cấu tạo theo kiểu biến yếu tố

c1 Từ hội thoại cấu tạo theo kiểu biến âm

* “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác”

STT Từ hội thoại Từ nguyên mẫu Xuất hiện (lần)

Trang 33

Bảng c1 (a): Từ hội thoại cấu tạo theo kiểu biến âm trong tập truyện ngắn

“Gió lẻ và 9 câu chuyện khác”

Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu biến âm chủ yếu xuất hiện trong các phương ngữ Đa phần các từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu biến âm đều xuất phát

từ từ ngữ toàn dân Sự biến chuyển về mặt ngữ âm một mặt tùy thuộc vào giọng điệu phát âm của mỗi người, mặt khác và là yếu tố chi phối lớn nhất là do sự định hình về quy tắc phát âm trong giao tiếp của một cộng đồng, một vùng, một phương ngữ Các từ hội thoại theo kiểu biến âm rất đa dạng và được sử dụng phổ biến trong giao tiếp hằng ngày

Trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu biến âm này rất phổ biến Các từ phương ngữ Nam Bộ mang kiểu biến âm xuất hiện rất dày đặc trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư Tất cả các từ hội thoại cấu tạo

theo kiểu biến âm đều đều được chúng tôi khảo sát trên cuốn từ điển “Phương ngữ Nam Bộ” của Nguyễn Văn Ái và giải thích nghĩa dựa vào “Từ điển tiếng Việt” của

Hoàng Phê

Xét ví dụ 1:

(1) “Ai mà kêu tui bằng bà nội vậy cà” [23, tr 8]

“tôi” → “tui” (đt): Từ cá nhân dùng để tự xưng với người ngang hàng hoặc khi

không cần tỏ thái độ tình cảm gì [21, tr 974]

“kìa” → “cà”(pht): Từ dùng để chỉ một nơi ở xa vị trí người nói, nhưng có thể

nhìn thấy cụ thể, rõ ràng, nêu lên để gợi sự chú ý của người đối thoại [21, tr 503]

Trang 34

(2)“Chỉ có một đống rác, cha cằn nhằn, nhà có hai người phụ nữa mà dơ như vầy, thiệt hết chịu nổi”[23, tr 22]

“như vầy” → “thế này”: Như thế này [20, tr 431]

“thật” → “thiệt” (tt): Hoàn toàn đúng với nội dung của khái niệm hoặc đúng

với tên gọi [21, tr 895]

(3) “Ba chục ngàn, đủ chớ?” [23, tr 51]

“chứ” → “chớ” (pht): Từ biểu thị ít nhiều đã khẳng định về điều nêu ra để

hỏi, tựa như chỉ là để xác định thêm [21, tr 165]

(4)“Mầy đừng liếm chân tao, nhột lắm!”[23, tr 143]

Có sự biến âm về từ ngữ xưng hô “mày”→ “mầy” (đt): Từ dùng để gọi

người ngang hàng hoặc hàng dưới khi nói với người ấy, tỏ ý coi thường, coi khinh [21, tr 594]

* “Khói trời lộng lẫy”

STT Từ hội thoại Từ nguyên mẫu Xuất hiện (lần)

Trang 35

15 như vầy thế này 1

Bảng c1(b): Từ hội thoại cấu tạo theo kiểu biến âm trong tập truyện ngắn

“Khói trời lộng lẫy”

Trang 36

“đĩa” → “dĩa” (dt): Đồ dùng thường hình tròn, miệng rộng, lòng nông,

c2 Từ hội thoại cấu tạo theo kiểu biến nghĩa

* “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác”

STT Từ hội thoại Số lần xuất hiện

Bảng c2 (a): Từ hội thoại cấu tạo theo kiểu biến nghĩa trong tập truyện ngắn

“Gió lẻ và 9 câu chuyện khác”

Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu biến nghĩa cũng tương đối ít trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư Mặc dù số lượng từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu biến nghĩa xuất hiện không nhiều trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư nhưng rất linh hoạt, tự nhiên Việc sử dụng kiểu từ này đã mang lại cho tác phẩm những cách nói, lối diễn đạt sinh động, mới mẻ Có những từ đôi khi chúng ta nghĩ mang nghĩa gốc,

Trang 37

chuẩn nhất nhưng ngược lại, khi tìm hiểu lại thấy nó được phái sinh từ lớp nghĩa thứ nhất Việc sử dụng những từ ngữ như vậy vừa cho thấy vốn từ phong phú, đa dạng của tác giả, lại vừa giúp cho người đọc có những kiến thức mới về nghĩa của từ

Xét ví dụ 1:

(1) “Thôi nghen ông ngoại, tui dộng vô mặt ông bây giờ đó” [23, tr.17]

Theo từ điển, “dộng” (đgt): 1 So cho bằng Dộng đũa 2 Giũ, đập, đánh Dộng

chiếu Dộng cửa Dộng cho một trận 3 Tong Ăn dộng [20, tr.206]

Có thể thấy rằng, từ “dộng” lúc này không phải được dùng thì theo nghĩa 1 nữa,

mà lúc này đã có sự biến nghĩa, ý chỉ “tui đánh vô mặt ông bây giờ đó”

(2) “Cả người Sói thả lỏng, ba lô được sách hờ bằng mấy ngón tay buông lơi” [23,

tr.70]

Theo từ điển, “hờ” I (đgt): Phòng chừng Hờ kẻ gian 1 Để hờ mấy đồng trong túi,

có việc thì dùng 2 Qua loa, không chu đáo Làm hờ cho xong việc [20, tr.271]

Từ “hờ” được dùng ở câu trên không phải ở nghĩa 1: phòng chừng mà được dùng ở

nghĩa 2 là qua loa, không chu đáo Lúc nãy, chính tâm trạng lênh đênh, bất định muốn giải thoát khỏi lối sống thực tại đã chi phối đến hành động của Sói, thằng bé

ấy không quan tâm việc mình mang theo những gì, mà chỉ khắc khoải với thực tại, chủ yếu hướng đến con đường phía trước mà nó lựa chọn

(3) “Tía tôi tạt vào họ một bộ mặt lạnh tanh, te te bỏ ra vườn, cây gậy dấm dứ trên tay như chực phang vào ai đó” [23, tr.91]

Từ “tạt” thường được dùng với nghĩa 1: Hắt [20, tr.515], “làm cho chất lỏng rời xa

ra khỏi vật đựng hoặc vật rời, chuyển xa ra chỗ khác bằng động tác đưa ngang nhanh và mạnh” [21, tr.412] Tuy nhiên trong trường hợp này, từ “tạt” đã có sự biến nghĩa nhằm thể hiện vẻ mặt khó chịu, khinh thường với người đối diện

* “Khói trời lộng lẫy”

STT Từ hội thoại Số lần xuất hiện

Trang 38

Theo từ điển, “lủm” (đgt): 1 Bỏ gọn vào miệng, nuốt đớp Lủm gọn quả tứng

luộc Làm không đủ cho nó lủm 2 Nhận, lấy; cuỗm, mất, lấy cắp Cho cái gì nó cũng lủm ráo Có mấy đồng bị chúng lủm mất [20, tr.357]

Ở đây,“lủm” được dùng với nghĩa 2, với ý chỉ cô giáo Nghĩa với chồng chưa

được nói lời yêu lần nào thì đã bị một đứa học trò ranh mãnh nhảy vào cuỗm mất (5) “Có lúc không tìm ra học phí, bạn bè nói làm bồ mướn cũng có tiền, rồi giới thiệu cho tôi một anh” [24, tr.111]

Theo từ điển, “bồ”: bồ1( dt) Cót đựng thóc 2 Thùng vuông che bao ba phía bằng phên tre để đập lúa bồ 2(dt) 1 Bạn thân (gọi thân mật) 2 Người yêu, tình

nhân 3 Người cùng phía, cùng phe [20, tr.94]

Trong câu trên, bồ được dùng với nghĩa 2: chỉ người yêu, tình nhân Làm bồ mướn có nghĩa là giả làm người yêu của họ, được người khác thuê để làm người yêu

Những từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu biến nghĩa này đều được chúng tôi khảo sát trên cuốn từ điển “Phương ngữ Nam Bộ” của Nguyễn Văn Ái, các từ này có sự biến chuyển về nghĩa so với từ toàn dân

Trang 39

d Không lí do, ngẫu nhiên

Trong tập truyện ngắn “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác”, chúng tôi đã khảo sát ra được các từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu không lí do, ngẫu nhiên như sau:

* “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác”

STT Từ hội thoại Số lần xuất hiện

tả những lời ăn tiếng nói hàng ngày

Xét ví dụ 1:

(1) “Mình không thể bỏ lỡ, biết đâu nhỏ con lại cần mình trong một câu hỏi cắc cớ của chương trình cắc cớ nào đó, và trong lúc con bối rối, mình sẽ giúp nó đem về mười lăm, hai chục triệu gọn hơ” [23, tr.30]

“cắc cớ”(pht): Trớ trêu, thình lình, đột ngột [20, tr.126] Trong câu trên, “câu

hỏi cắc cớ” là những câu hỏi trớ trêu, khó giải quyết, “một chương trình cắc cớ” là một chương mà muốn đặt câu hỏi như thế nào cũng được, một chương trình “kì lạ” nào đấy

(2) “ở nhà cà nhỏng không biết làm gì ra tiền, nên theo đại ca thêm ít lâu” [23,

tr.162]

“cà nhỏng” (đgt): Nhỏng nhỏng, lang thang hết chỗ này đến chỗ khác, không có

mục đích [20, tr.115] Hành động “cà nhỏng” mang ý nghĩa chỉ sự lêu lỏng, ăn chơi của Dự khi ở nhà, không biết làm gì ra tiền

Ngày đăng: 14/05/2021, 22:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Võ Bình – Lê Anh Hiền – Cù Đình Tú – Nguyễn Thái Hòa (1982), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Võ Bình – Lê Anh Hiền – Cù Đình Tú – Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1982
2. Hữu Đạt (2011), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
3. Nguyễn Thái Hòa (1997), Dẫn luận phong cách học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận phong cách học
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
4. Nguyễn Việt Hương (1996), Thực hành tiếng Việt cho người nước ngoài, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành tiếng Việt cho người nước ngoài
Tác giả: Nguyễn Việt Hương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
5. Lý Tùng Hiểu (2012), Ngôn ngữ văn hóa vùng đất Sài Gòn và Nam Bộ, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ văn hóa vùng đất Sài Gòn và Nam Bộ
Tác giả: Lý Tùng Hiểu
Nhà XB: NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2012
6. Đinh Trọng Lạc (1997), Phong cách học tiếng Việt, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 1997
7. Đinh Trọng Lạc (2005), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
8. Đinh Trọng Lạc (Chủ biên), Nguyễn Thái Hòa (1995), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc (Chủ biên), Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
9. Đỗ Thị Kim Liên (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
10. Bùi Trọng Ngoãn (2015), Bài giảng phong cách học tiếng Việt, Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Bùi Trọng Ngoãn
Năm: 2015
11. Cù Đình Tú (1983), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt
Tác giả: Cù Đình Tú
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội
Năm: 1983
12. Đoàn Thiện Thuật (Chủ biên), Thực hành tiếng Việt dành cho người nước ngoài, (Trình độ B), NXB Thế giới.* Luận văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành tiếng Việt dành cho người nước ngoài
Nhà XB: NXB Thế giới. * Luận văn
13. Lê Thị Diễm (2014), Khẩu ngữ Nam Bộ qua trong câu văn Nguyễn Ngọc Tư qua tiểu thuyết Sông, luận văn tốt nghiệp, Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khẩu ngữ Nam Bộ qua trong câu văn Nguyễn Ngọc Tư qua tiểu thuyết Sông
Tác giả: Lê Thị Diễm
Năm: 2014
14. Nguyễn Thị Hạnh (2011), “Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”, luận văn tốt nghiệp, Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”
Tác giả: Nguyễn Thị Hạnh
Năm: 2011
15. Đặng Thị Minh Hoa (2007), “Từ địa phương trong văn Nguyễn Ngọc Tư”, luận văn tốt nghiệp, Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Từ địa phương trong văn Nguyễn Ngọc Tư”
Tác giả: Đặng Thị Minh Hoa
Năm: 2007
16. Nguyễn Thị Ngọ (2010), “Thế giới nhân vật trong tập truyện ngắn “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác” của Nguyễn Ngọc Tư”, luận văn tốt nghiệp, Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thế giới nhân vật trong tập truyện ngắn “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác” của Nguyễn Ngọc Tư”
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọ
Năm: 2010
17. Phan Thị Ngọc Quý (2011), “Phương ngữ Nam Bộ trong tập truyện ngắn “Khói trời lộng lẫy” của Nguyễn Ngọc Tư, luận văn tốt nghiệp, Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phương ngữ Nam Bộ trong tập truyện ngắn “Khói trời lộng lẫy”
Tác giả: Phan Thị Ngọc Quý
Năm: 2011
18.Nguyễn Thị Thu Trang (2009), “Phong cách ngôn ngữ Nguyễn Ngọc Tư qua truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” ”, luận văn tốt nghiệp, Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phong cách ngôn ngữ Nguyễn Ngọc Tư qua truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” ”
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Trang
Năm: 2009
19.Nguyễn Thị Mẫn Vy(2013), “Câu văn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn phong cách học qua “Gáy người thì lạnh” và “Bánh trái mùa xưa”, luận văn tốt nghiệp, Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng.* Tài liệu tra cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Câu văn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn phong cách học qua “Gáy người thì lạnh” và “Bánh trái mùa xưa”
Tác giả: Nguyễn Thị Mẫn Vy
Năm: 2013
20. Nguyễn Văn Ái (1994), Từ điển phương ngữ Nam Bộ, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển phương ngữ Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Văn Ái
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w