1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua hệ thống bài giảng điện tử tin học 10

78 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua hệ thống bài giảng điện tử tin học 10
Tác giả Phạm Thị Huỳnh Trâm
Người hướng dẫn Th.S Trần Văn Hưng
Trường học Đại học Đà Nẵng - Trường Đại học Sư phạm
Chuyên ngành Tin học
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2016
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

23 Chương 2: Thực trạng dạy Tin học ở trường THPT và đề xuất một số phương pháp rèn luyện và phát triển khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề…………24 1.. Nắm được sự quan trọng của dạy h

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA: TIN HỌC



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Đề tài: PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI GIẢNG

ĐIỆN TỬ TIN HỌC 10

SVTH : Phạm Thị Huỳnh Trâm LỚP : 12SPT

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA: TIN HỌC



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Đề tài: PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI GIẢNG

ĐIỆN TỬ TIN HỌC 10

GVHD : Th.S Trần Văn Hưng SVTH : Phạm Thị Huỳnh Trâm LỚP : 12SPT

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy em trong suốt quá trình học tập rèn luyện tại trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo trong khoa Tin học – Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã tận tâm chỉ bảo, giúp đỡ em

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Trần Văn Hưng - giảng viên khoa Tin học đã nhiệt tình hướng dẫn em thực hiện và hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các em học sinh trường THPT Sào Nam – Duy Xuyên – Quảng Nam đã giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện thuận lợi cho em có thể hoàn thành khóa luận này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Em rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của quý thầy cô và các bạn sinh viên để khóa luận hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Phạm Thị Huỳnh Trâm

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN……… i

DANH MỤC VIẾT TẮT………

vi DANH MỤC BẢNG BIỂU……… vii

DANH SÁCH HÌNH VẼ………viii

PHẦN MỞ ĐẦU……… 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

2.1 Đối tượng nghiên cứu……… 2

2.2 Phạm vi nghiên cứu……… 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục của đề tài 4

PHẦN NỘI DUNG………5

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài……… …5

1 Cơ sở lý luận và thực tiễn 5

1.1 Tổng quan về năng lực……… 5

1.1.1 Khái niệm………5

1.1.2 Phân loại năng lực……… 5

a Năng lực chung:……… 6

b Đặc điểm năng lực……… 6

1.2 Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề……… 9

1.2.1 Vấn đề là gì? 9

1.2.2 Tình huống có vấn đề và tình huống gợi vấn đề 10

1.3 Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề……… 12

1.3.1 Khái niệm:…… ……… 12

Trang 5

1.3.2 Các bước chủ yếu của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề…12

1.3.3 Các hình thức của phát hiện và giải quyết vấn đề……… 15

1.3.4 Một số biểu hiện năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong môn Tin học 10……… 17

2 Cơ sở thực tiễn 20

2.1 Vị trí môn Tin học………20

2.2 Nội dung chương trình Tin học 10……… 21

Tiểu kết chương 1: 23

Chương 2: Thực trạng dạy Tin học ở trường THPT và đề xuất một số phương pháp rèn luyện và phát triển khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề…………24

1 Thực trạng dạy học môn Tin học ở trường THPT 24

2 Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề tại trường THPT 28

2.1 Thực trạng sử dụng phương pháp tại trường THPT Sào Nam………28

2.2 Đánh giá chung……… 32

3 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp phát triển năng lực PH và GQVĐ 33

3.1 Nguyên tắc 1: Đảm bảo tính khoa học, tính tư tưởng và tính thực tiễn……… 33

3.2 Nguyên tắc 2: Đảm bảo sự thống nhất giữa cụ thể và trừu tượng… 34

3.3 Nguyên tắc 3: Đảm bảo sự thống nhất giữa tính đồng loạt và tính phân hóa……… 34

3.4 Đảm bảo sự thống nhất nhất giữa tính vừa sức và yêu cầu phát triển.35 3.5 Đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của người thầy và tính chủ động, tích cực, tự giác của trò……… 36

4 Các biện pháp phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho HS thông qua hệ thống bài giảng trực tuyến chương IV SGK Tin học 10.[8] 37

4.1 Biện pháp 1: Làm cho HS nắm vững các khái niệm, định nghĩa, tính chất để phát hiện và giải quyết vấn đề……… 37

4.1.1 Tác dụng:……… 37

4.1.2 Cách thực hiện:… 38

4.1.3 Ví dụ:… ……… 38 4.2 Biện pháp 2: Tăng cường huy động các kiến thức khác nhau để HS

Trang 6

vận dụng giải quyết vấn đề trong Tin học………39

4.2.1 Tác dụng:……… 39

4.2.2 Cách thực hiện:……… 39

4.2.3 Đặc điểm:……… 40

4.2.4 Ví dụ:……… 40

4.3 Biện pháp 3: Giúp HS thấy được ứng dụng của Tin học qua đó có hứng thú trong học tập ……….43

4.3.1 Tác dụng:……… 43

4.3.2 Cách thực hiện:……… 43

4.3.3 Ví dụ:……… 44

4.4 Hệ thống hóa, bổ sung kiến thức cho HS……… 45

4.4.1 Tác dụng:……… 45

4.4.2 Cách thực hiện:……… 45

4.4.3 Ví dụ:……… 46

4.5 Hướng dẫn HS học tập trực tuyến để tiếp thu được nhiều kiến thức 48

4.5.1 Tác dụng:……… 48

4.5.2 Cách thực hiện:……… 48

4.5.3 Ví dụ……… 48

4.6 Xây dựng hệ thống bài giảng điện tử chương IV Tin học 10 theo hướng phát hiện và giải quyết vấn đề……… 48

4.6.1 Tác dụng:……… 48

4.6.2 Cách thực hiện:……… 49

Tiểu kết chương 2: 49

Chương 3: Xây dựng bài giảng điện tử tin học 10 theo hướng phát hiện và giải quyết vấn đề tích hợp lên hệ thống E – learning……… 50

1 Các nguyên tắc xây dựng bài giảng điện tử theo hướng phát hiện và giải quyết vấn đề tích hợp đa truyền thông phương tiện 50

1.1 Nguyên tắc 1: Đảm bảo tính chính xác của nội dung dạy học hướng dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề……… 50 1.2 Nguyên tắc 2: Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trong dạy học… 50 1.3 Nguyên tắc 3: Nguyên tắc đảm bảo phát huy tối đa vai trò của các giác

Trang 7

quan trong quá trình dạy học……… 51

1.4 Nguyên tắc 4: Nguyên tắc đảm bảo tính tương tác trong elearning… 52 1.5 Nguyên tắc 5: Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu dạy học và truyền thông……… 52

2 Quy trình xây dựng bài giảng trực tuyến theo hướng phát hiện và giải quyết vấn đề 54

2.1 Cấu trúc cơ bản của một bài giảng điện tử……… 54

2.2 Các bước xây dựng bài giảng điện tử……… 54

2.2.1 Khâu xác định mục tiêu dạy học……… 55

2.2.2 Xác định logic cấu trúc của nội dung dạy học……… 56

2.2.3 Multimedia hoá từng đơn vị kiến thức……… 57

2.2.4 Khâu chuẩn bị bài giảng trực tuyến elearning……… 59

2.2.5 Khâu chuẩn bị hệ thống tích hợp hợp bài giảng elearning………61

2.2.6 Khâu tích hợp bài giảng lên hệ thống elearning………61

3 Yêu cầu thiết kế nội dung bài giảng 61

3.1 Phần lý thuyết……… 61

3.2 Phần bài tập……… 62

4 Tiêu chí của một bài giảng điện tử 63

Tiểu kết chương 3: 63

TỔNG KẾT……… 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 65

PHỤ LỤC……… a

Trang 8

DANH MỤC VIẾT TẮT

SGK : Sách giáo khoa

HS : Học sinh

GV : Giáo viên THPT : Trung học phổ thông THCS : Trung học cơ sơ CNTT : Công nghệ thông tin ICT : Information and communications technology

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Biểu đồ 1.1 Biểu đồ thể hiện thái độ của HS đối với môn Tin học 27

Biểu đồ 1.3 Biểu đồ thể hiện cảm xúc của HS trong giờ Tin học 29

Biểu đồ 1.4 Biểu đồ thể hiện việc cung cấp kiến thức của GV cho

HS

29

Biểu đồ 1.5 Biểu đồ thể hiện mức sử dụng các phương pháp 30

Biểu đồ 2.1 Biểu đồ thể hiện sự tiếp cận phương pháp của HS 31

Biểu đồ 2.2 Biểu đồ thể hiện mức độ thường xuyên của phương

pháp

33

Biểu đồ 2.3 Biểu đồ thể hiện quan điểm của HS về phương pháp 34

Biểu đồ 2.4 Biểu đồ thể hiện cảm xúc của HS đối với phương pháp 35

Bảng 2.2 Bảng cấu trúc bài Mạng máy tính 61

Bảng 2.7 Bảng multimedia hoá kiến thức bài mạng máy tính 62

Trang 10

DANH SÁCH HÌNH VẼ

Hình 4.2 Sơ đồ khối thuật toán kiểm tra số nguyên tố 46

Hình 4 4 Sơ đồ tư duy bài Mạng máy tính 50

Hình 4.5 Sơ đồ tổng kết bài Thông tin và dữ liệu 51

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công cuộc đổi mới đất nước đã và đang đặt ra cho ngành Giáo dục và Đào tạo nhiệm vụ to lớn và hết sức nặng nề đó là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tại Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã đưa ra 9 nhiệm vụ và giải pháp để thực hiện những quan điểm và mục tiêu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục.Trong đó, nhiệm vụ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản và chương trình giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học được xem là nhiệm vụ quan trọng hiện nay:

“Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” Việc này dẫn tới xu thế dạy học theo chương trình định hướng phát triển năng lực học sinh đã và đang được giới thiệu, tập huấn cho giáo viên ở nhiều địa phương

Để tạo ra những con người lao động có sáng tạo, có năng lực cần có một phương pháp dạy học kiểu mới để khơi dậy và phát huy được năng lực của mỗi con người Vậy “năng lực là gì?” Quy luật phát triển của năng lực là như thế nào? Vấn đề đặt ra là đề ra những biện pháp cụ thể, dễ thực hiện và có tính thực tiễn dạy học cao để giáo viên có thể giúp học sinh phát huy năng lực để học tập tốt hơn

Việc định hướng phát triển năng lực học sinh trong giáo dục phổ thông là định hướng nổi trội Hầu hết đều chú ý hình thành, rèn luyện và phát triển năng lực cần thiết cho việc học cũng như trong sinh hoạt cuộc sống hằng ngày, trong đó chú trọng các năng lực chung như: năng lực tự học, năng lực

tư duy, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực quản lí, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực sử dụng

Trang 12

CNTT và truyền thông… cũng như một số năng lực chuyên biệt của từng môn học Vậy làm thế nào để giúp học sinh phát triển được những năng lực đó? Đây chính là vấn đề đặt ra đối với việc cải cách giáo dục hiện nay

Hơn thế nữa trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin theo hướng ngày càng hiện đại hóa, con người ngày càng sử dụng nhiều phương tiện khoa học

kĩ thuật hiện đại thì năng lực suy luận, tư duy và sáng tạo giải quyết vấn đề càng trở nên khẩn thiết hơn Không có một nhà giáo dục nào lại từ chối việc dạy cho học sinh tư duy và biết phát triển các năng lực của bản thân Nhưng làm thế nào để đạt được điều đó? Do vậy việc rèn luyện và phát triển năng lực cho học sinh là một mục tiêu mà các nhà giáo dục phải lưu tâm và hướng đến

Và điều quan trọng nhất mà đề tài hướng đến là phát triển năng lực cho

HS phát hiện và giải quyết vấn đề Theo chúng ta đã biết, dạy học phát hiện

và giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học mới, đòi hỏi sự tương tác cao giữa GV và HS

Nắm được sự quan trọng của dạy học theo hướng phát triển năng lực kết

hợp với sự hỗ trợ của e-learning nên tôi chọn đề tài: “PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ TIN HỌC

10” nhằm đáp ứng nhu cầu tự học cho học sinh theo hướng phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề

2 Mục tiêu của đề tài

Nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của dạy học phát triển năng lực theo hướng phát hiện và giải quyết vấn đề

Xây dựng hệ thống bài giảng điện tử tin học 10

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tin học lớp 10

Trang 13

- Nghiên cứu hoạt động dạy và học theo hướng phát triển năng lực hiện nay

- Nghiên cứu phương pháp dạy học giải quyết vấn đề

- Xây dựng bài giảng điện tử phát triển năng lực theo hướng phát hiện và giải quyết vấn đề

- Nghiên cứu thực trạng dạy học ở trường THPT Sào Nam – Duy Xuyên

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm sáng tỏ một số vấn đề về tư duy phát hiện và giải quyết vấn đề

- Nghiên cứu những biểu hiện của năng lực

- Nghiên cứu biện pháp để HS rèn luyện tư duy phát hiện và giải quyết vấn

đề

- Xây dựng được hệ thống bài giảng tin học 10

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

+ Nghiên cứu sách giáo khoa, sách giáo viên

+ Nghiên cứu các công văn, chỉ thị của Đảng và Nhà nước trong việc đổi mới giáo dục

- Nghiên cứu các đề tài liên quan

+ Các phương pháp thống kê số liệu

Trang 14

+ Các đề tài về phương pháp dạy học ở trường THPT

- Phương pháp điều tra

+ Điều tra về thực trạng dạy tin học 10 theo hướng phát hiện và giải quyết vấn đề tại trường THPT Sào Nam- Duy Xuyên tại các lớp 10/4, 10/15

5 Bố cục của đề tài

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

- Chương 2: Thực trạng dạy Tin học ở trường THPT và đề xuất một số phương pháp rèn luyện và phát triển khả năng phát hiện và giải quyết vấn

đề

- Chương 3: Xây dựng bài giảng tích hợp lên hệ thống điện tử

Trang 15

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

1.1 Tổng quan về năng lực

1.1.1 Khái niệm

Theo GS.TS Đinh Quang Báo thì năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống

Theo quan điểm của những nhà tâm lý học năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao

Theo quan điểm của Weinert đưa ra vào năm 2001: “Năng lực là khả năng và

kỹ năng có sẵn trong mỗi cá nhân hoặc có thể học được để thể hiện có hiệu quả các tình huống xác định trong cuộc sống, đồng thời biết vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”. [1]

Như vậy, ta có thể thấy khái niệm về năng lực được nhiều tác giả khác nhau

ở trong và ngoài nước định nghĩa, được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tùy thuộc và hoàn cảnh được nhắc đến Nhưng các định nghĩa có thể diễn đạt bằng từ ngữ khác nhau nhưng nội hàm tương đối thống nhất và khẳng định kiến thức, kỹ năng, thái độ là ba chất liệu quan trọng nhất để hình thành năng lực tương ứng trên cơ sở rèn luyện, trải nghiệm hoạt động nhất định

1.1.2 Phân loại năng lực

Vấn đề phát hiện, bồi dưỡng và phát triển năng lực cho học sinh là một trong những vấn đề cơ bản của chiến lược nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực của Đảng ta Có 2 loại năng lực cơ bản: năng lực chung và năng lực riêng biệt

Trang 16

Năng lực chung: là những năng lực cần cho nhiều hoạt động khác nhau Là điều kiện cần thiết để giúp cho nhiều lĩnh vực hoạt động có kết quả

Năng lực chuyên biệt: là những năng lực thể hiện độc đáo các sản phẩm riêng biệt có tính chuyên môn nhằm đáp ứng nhu cầu của một lĩnh vực, hoạt động chuyên biệt với kết quả cao Hai loại năng lực chung và riêng luôn bổ sung,

hỗ trợ cho nhau

Như chúng ta đã biết tri thức, kỹ năng, kỹ xảo không đồng nhất với năng lực nhưng có quan hệ mật thiết với năng lực Năng lực góp phần làm cho sự tiếp xúc tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo một cách tốt hơn Năng lực mỗi người dựa trên cơ sở tư chất nhưng mặt khác điều chủ yếu là năng lực hình thành, rèn luyện và phát triển trong những hoạt động tích của con người dưới tác động của rèn luyện dạy học và giáo dục

a Năng lực chung:

Các nhóm năng lực: dựa vào dự thảo chương trình giáo dục phổ thông thì có

9 năng lực được đề xuất chia thành 3 nhóm:

- Nhóm 1: Năng lực làm chủ bản thân

+ Năng lực tự học

+ Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề

+ Năng lực sáng tạo

- Nhóm 2: Năng lực quan hệ xã hội

+ Năng lực giao tiếp

Trang 17

song với sự đổi mới của nền giáo dục của các nước trên thế giới nói chung

và của Việt Nam nói riêng Tuy nhiên trong nhiều năm gần đây, việc đổi mới phương pháp để nâng cao hiệu quả dạy học nói chung, dạy học Tin học nói riêng đã được chú ý, đầu tư nhiều, nhưng chưa thật chú trọng nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho học sinh Qua thực tế nghiên cứu cho thấy các em học sinh phổ thông cần dành nhiều thời gian để tự học, tự nghiên cứu nhằm nâng cao kiến thức nhưng lại gặp rất nhiều khó khăn trong việc lựa chọn, phân loại sách để học và nghiên cứu trước nguồn tài liệu quá phong phú Nhiều học sinh không biết phải tự học như thế nào để đạt được hiệu quả học tập cao Vì vậy tăng cường năng lực

tự học cho học sinh là một yếu tố quan trọng góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục

- Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề: : năng lực hoạt động trí tuệ của

HS khi đứng trước những vấn đề, những bài toán cụ thể, có mục tiêu và tính hướng đích cao đòi hỏi phải huy động khả năng tư duy tích cực và sáng tạo nhằm tìm ra lời giải cho vấn đề Năng lực giải quyết vấn đề là tổ hợp các năng lực thể hiện ở các kĩ năng (thao tác tư duy và hoạt động) trong hoạt động học tập nhằm giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ của bài toán

- Năng lực sáng tạo: khả năng tạo ra cái mới có giá trị của cá nhân dựa trên

tổ hợp các phẩm chất độc đáo của cá nhân đó Năng lực sáng tạo là cái tiềm ẩn bên trong cá nhân, sáng tạo là sự hiện thực hóa năng lực sáng tạo của chủ thể bằng những sản phẩm sáng tạo Một khi có năng lực sáng tạo thì liệu có ngay sản phẩm sáng tạo hay không? Trong đa số trường hợp,

có năng lực sáng tạo của bản thân cá nhân thì chưa đủ, cần phải có điều kiện, môi trường sáng tạo để năng lực sáng tạo đó phát huy

- Năng lực quản lý và phát triển bản thân: Đánh giá được ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến hành động, việc làm của mình, trong học tập và

Trang 18

trong cuộc sống hằng ngày Biết huy động, sử dụng nguồn lực có sẵn để xây dựng và thực hiện kế hoạch cá nhân nhằm đạt mục đích học tập; biết học tập độc lập; biết suy nghĩ và hành động hướng vào mục tiêu của mình phù hợp với hoàn cảnh Thường xuyên tự đánh giá, tự điều chỉnh được hành động của bản thân; thích ứng được những thay đổi hay những tình huống mới

- Năng lực giao tiếp: chủ động trong giao tiếp; tôn trọng, lắng nghe có phản ứng tích cực trong giao tiếp Lựa chọn nội dung, ngôn ngữ phù hợp với ngữ cảnh và đối tượng giao tiếp; biết kiềm chế; tự tin khi nói trước nhiều người

- Năng lực hợp tác: tự nhận trách nhiệm và vai trò của mình trong hoạt động chung của nhóm; phân tích các công việc cần thực hiện để hoàn thành nhiệm vụ đáp ứng được mục đích chung Phân tích được khả năng của từng thành viên để tham gia đề xuất phương án phân công công việc;

dự kiến phương án phân công, tổ chức hoạt động hợp tác

- Năng lực sử dụng CNTT và truyền thông: sử dụng đúng cách các thiết bị ICT để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể; nhận biết các thành phần của hệ thống ICT cơ bản; sử dụng được các phần mềm hỗ trợ học tập thuộc các lĩnh vực khác nhau; tổ chức và lưu trữ dữ liệu vào các bộ nhớ khác nhau, tại thiết bị và trên mạng Xác định được thông tin cần thiết để thực hiện nhiệm vụ học tập; tìm kiếm được thông tin với các chức năng tìm kiếm đơn giản và tổ chức thông tin phù hợp; đánh giá sự phù hợp của thông tin,

dữ liệu đã tìm thấy với nhiệm vụ đặt ra; xác lập mối liên hệ giữa kiến thức

đã biết với thông tin mới thu thập được và dùng thông tin đó để giải quyết các nhiệm vụ học tập và trong cuộc sống

- Năng lực sử dụng ngôn ngữ: nghe hiểu, chắt lọc được thông tin bổ ích từ lời giải thích, cuộc thảo luận; nói với cấu trúc logic, biết cách lập luận chặt chẽ; đọc và lựa chọn các thông tin quan trọng từ văn bản, tài liệu;

Trang 19

viết đúng các dạng văn bản với cấu trúc hợp lý, đúng chính tả, đúng cấu trúc câu Phát âm được tổ hợp phụ âm, tỉnh lược âm, đồng hóa, nối âm, nhịp điệu, ngữ điệu; sử dụng hợp lí từ vựng mẫu câu trong hai lĩnh vực khẩu ngữ và bút ngữ

- Năng lực tính toán: vận dụng thành thạo các phép toán trong học tập và cuộc sống; sử dụng hiệu quả các kiến thức, kỹ năng về đo lường, ước tính trong các tình huống ở nhà trường cũng như trong cuộc sống Sử dụng hiệu quả các thuật ngữ, ký hiệu toán học; sử dụng được thống kê toán để giải quyết vấn đề nảy sinh trong bối cảnh thực Mô hình hóa toán học được một số vấn đề thường gặp; vận dụng các bài toán tối ưu trong cuộc sống và học tập [2]

1.2 Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề

- Nếu trong một tình huống, chủ thể còn chưa biết ít nhất một phần tử của

khách thể thì tình huống này được gọi là một tình huống bài toán đối với

chủ thể

- Trong một tình huống bài toán, nếu được chủ thể đặt ra mục tiêu tìm phần

tử chưa biết nào đó dựa vào một số những phần tử cho trước ở trong

khách thể thì ta có một bài toán

- Một bài toán được gọi là vấn đề nếu chủ thể chưa biết một thuật giải nào

có thể áp dụng để tìm ra phần tử chưa biết của bài toán. [3]

Trang 20

1.2.2 Tình huống có vấn đề và tình huống gợi vấn đề

- Tình huống có vấn đề là tình huống tồn tại một vấn đề

- Ví dụ: trong bài 20 SGK lớp 10/134 Mạng máy tính, đặc giả thuyết có

một lượng dữ liệu lớn cần chuyển đi ra nước ngoài, nhưng nếu in ra và chuyển đi thì số lượng rất lớn, việc chuyển đi sẽ rất khó khăn và tốn kém Một trường hợp khác, văn phòng làm việc chỉ có một máy in nhưng mọi người đều có nhu cầu in nên phải xếp hàng chờ in dẫn đến công việc ách tắc, tốn thời gian chờ đợi Điều này đưa ra là một tình huống có vấn đề trong bài, vấn đề này sinh viên chưa được biết trước, đòi hỏi học sinh phải động não suy nghĩ để tìm hướng giải quyết vấn đề đó

- Tình huống gợi vấn đề:

o Tồn tại một vấn đề

o Gợi nhu cầu nhận thức: nếu tình huống có vấn đề nhưng vì một vấn

đề nào đó mà HS không có hứng thú tìm hiểu suy nghĩ để tìm hướng giải quyết (chẳng hạng như họ thấy không có ích cho bản thân, hay mệt mỏi không muốn tìm hiểu) thì đó cũng không phải là tình huống gợi vấn đề Điều quan trọng là tình huống phải gợi nhu cầu nhận thức, chẳng hạn làm bộ lộ sự khuyến khuyết về kiến thức và kĩ năng của học sinh để họ thấy cần thiết phải bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện tri thức, kĩ năng bằng cách tham gia giải quyết vấn đề nảy sinh

o Gây niềm tin ở khả năng bản thân nếu tình huống có vấn đề rất hấp dẫn, lôi cuốn học sinh có nhu cầu giải quyết, nhưng nếu họ cảm thấy vấn đề vượt quá so với khả năng của mình thì họ cũng không còn hứng thú, không sẵn sàng giải quyết vấn đề Tình huống gợi vấn đề phải bộ lộ mối quan hệ (có thể khá mờ nhạt) giữa vấn đề cần giải quyết và vốn kiến thức sẵn có của chủ thể, và tạo ra ở họ niềm tin rằng nếu tích cực suy nghĩ thì sẽ thấy rõ hơn mối quan hệ này và có nhiều khả năng tìm ra cách giải quyết

Trang 21

- Ví dụ: Trong bài Mạng máy tính, đặt giả thuyết có một lượng dữ liệu lớn cần chuyển đi ra nước ngoài, nhưng nếu in ra và chuyển đi thì số lượng rất lớn, việc chuyển đi sẽ rất khó khăn và tốn kém Một trường hợp khác, văn phòng làm việc chỉ có một máy in nhưng mọi người đều có nhu cầu in nên phải xếp hàng chờ in dẫn đến công việc ách tắc, tốn thời gian chờ đợi Điều này đưa ra là một tình huống có vấn đề trong bài, vấn đề này sinh viên chưa được biết trước Sau khi đặt vấn đề xong, phải khơi dậy hứng thú học bài cho HS, vì kiến thức của bài nay khá trừu tượng nên khi đặt vấn đề gần gủi với HS thì HS sẽ có hứng thú tìm hiểu và tham gia giải quyết vấn đề được đặt ra Đây là tình huống gợi vấn đề

Tóm lại: Tóm lại, tình huống gợi vấn đề là tình huống gợi ra cho học sinh những khó khăn về lí luận hay thực tiễn mà họ thấy cần thiết và có khả năng vượt qua, nhưng không phải ngay tức thì nhờ vào một quy tắc có tính thuật toán mà phải trải qua một quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động

để đồng hóa nó hay điều chỉnh hệ thống kiến thức sẵn có nhằm thích nghi với điều kiện hành động mới

Các điều kiện 2 và 3 ở trên cho phép phân biệt tình huống gợi vấn đề với tình huống có vấn đề Một tình huống có vấn đề chỉ cần thỏa mãn điều kiện a

Việc tạo ra một tình huống gợi vấn đề không phải là dễ dàng Quả thực, làm thế nào để vấn đề đặt ra đảm bảo đủ hai điều kiện: gợi nhu cầu nhận thức và gây niềm tin ở khả năng? Đó là một câu hỏi lớn rất cần thiết được nghiên cứu trả lời Chính vì vậy, trong thực tế dạy học ở trường phổ thông, giáo viên thường chỉ mới dừng lại ở mức độ tạo ra được tình huống

có vấn đề, chứ chưa phải là tình huống gợi vấn đề Tuy nhiên, ngay cả khi chỉ tạo được tình huống có vấn đề, thì việc áp dụng đúng như các bước đã nêu của dạy học đặt và giải quyết vấn đề cũng mang lại hiệu quả cao hơn nhiều so với phương pháp dạy học truyền thống

Trang 22

1.3 Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

1.3.1 Khái niệm:

Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học trong đó giáo viên tạo ra những tình huống có vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác Đặc trưng cơ bản của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là

"tình huống gợi vấn đề" vì "Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề" [4]

Tình huống có vấn đề (tình huống gợi vấn đề) là một tình huống gợi ra cho học sinh những khó khăn về lí luận hay thực hành mà họ thấy cần có khả năng vượt qua, nhưng không phải ngay tức khắc bằng một thuật giải, mà phải trải qua quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn có

1.3.2 Các bước chủ yếu của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

Bước 1: Tạo tình huống gợi vấn đề

Trong bài Mạng máy tính, đặt giả thuyết có một lượng dữ liệu lớn cần chuyển đi ra nước ngoài, nhưng nếu in ra và chuyển đi thì số lượng rất lớn, việc chuyển đi sẽ rất khó khăn và tốn kém Một trường hợp khác, văn phòng làm việc chỉ có một máy in nhưng mọi người đều có nhu cầu in nên phải xếp hàng chờ in dẫn đến công việc ách tắc, tốn thời gian chờ đợi Điều này đưa ra

là một tình huống có vấn đề trong bài, vấn đề này sinh viên chưa được biết trước Sau khi đặt vấn đề xong, phải khơi dậy hứng thú học bài cho HS, vì kiến thức của bài nay khá trừu tượng nên khi đặt vấn đề gần gũi với HS thì

HS sẽ có hứng thú tìm hiểu và tham gia giải quyết vấn đề được đặt ra Đây là tình huống gợi vấn đề

Bước 2: Trình bày vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết

Ở bước 1 đã tạo ra được tình huống gợi vấn đề, vấn đề trong phần này là HS

Trang 23

tìm cách giải quyết làm sao để chuyển đi nước ngoài, hay vấn đề dùng chung thiết bị trong hệ thống Mục tiêu của vấn đề này là giúp HS thấy được lợi ích của Mạng máy tính Và đi ngược lên tìm hiểu định nghĩa và thành phần tạo nên mạng máy tính

Bước 3: Giải quyết vấn đề

Tìm cách giải quyết vấn đề theo sơ đồ sau:

Hình 1.3: Sơ đồ giải quyết vấn đề

Trang 24

và thực hiện hướng giải quyết vấn đề Cần thu thập, tổ chức dữ liệu, huy

động tri thức; sử dụng những phương pháp, kĩ thuật nhận thức, tìm đoán suy luận như hướng đích, quy lạ về quen, đặc biệt hóa, chuyển qua những trường hợp suy biến, tương tự hóa, khái quát hóa, xem xét những mối liên

hệ phụ thuộc, suy xuôi, suy ngược tiến, suy ngược lùi, Phương hướng

đề xuất có thể được điều chỉnh khi cần thiết Kết quả của việc đề xuất và thực hiện hướng giải quyết vấn đề là hình thành được một giải pháp

- Kiểm tra tính đúng đắn của giải pháp: Nếu giải pháp đúng thì kết thúc

ngay, nếu không đúng thì lặp lại từ khâu phân tích vấn đề cho đến khi tìm được giải pháp đúng

- Chọn giải pháp thích hợp: Sau khi đã tìm ra một giải pháp, có thể tiếp tục

tìm thêm những giải pháp khác, so sánh chúng với nhau để tìm ra giải pháp hợp lí nhất

Trình bày giải pháp: Học sinh trình bày lại toàn bộ từ việc phát biểu vấn đề tới giải pháp Nếu vấn đề là một đề bài cho sẵn thì có thể không cần phát biểu lại vấn đề

Để giải quyết vấn đề trên thì GV bắt đầu phân tích vấn đề, đề xuất hướng giải quyết, ví dụ như để gửi dữ liệu lớn ra nước ngoài thì các em có thể gửi qua mail thay vì copy vào USB rồi chuyển đi Từ đó hướng dẫn cho HS hình thành giải pháp giải quyết vấn đề, sau đó GV nhận xét giải pháp của HS sau

đó đưa ra giải pháp đúng và đi vào bài học mới

Bước 4: Rút ra kết luận: kiểm tra đánh giá lời giải, kết quả và cả cách thức đi

tìm lời giải

Bước 5: Vận dụng kiến thức mới để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra tiếp

theo: Tìm hiểu khả năng ứng dụng của kết quả, đề xuất nhũng vấn đề mới liên quan

Trang 25

1.3.3 Các hình thức của phát hiện và giải quyết vấn đề

Tự nghiên cứu giải quyết vấn đề: Đây là cấp độ cao nhất của dạy học đặt và

giải quyết vấn đề Nó được đặc trưng bởi các mặt sau đây:

- Giáo viên (hoặc cùng học sinh) tạo ra tình huống gợi vấn đề, trình bày vấn

đề Sau khi vấn đề đã được giải quyết, giáo viên có trách nhiệm thực hiện

pha thể chế hoá: đánh giá vai trò và ý nghĩa của kết quả đạt được, chuyển

kiến thức có tính chất cá nhân thành thành tri thức chung, nhấn mạnh các

tri thức phương pháp có thể rút ra từ quá trình nghiên cứu và giải quyết

vấn đề

- Học sinh: độc lập tìm cách giải quyết vấn đề, trình bày lời giải, thực hiện

pha kiểm tra và đánh giá Như vậy họ phải hoạt động một cách tích cực,

chủ động, tự giác, độc lập và sáng tạo

Tuỳ theo tình hình mà công việc của học sinh có thể được tổ chức dưới

các hình thức khác nhau như:

o Làm việc cá nhân: mỗi học sinh làm việc một cách độc lập

o Làm việc hợp tác: học sinh làm việc theo nhóm nhỏ, thảo luận, trao

đổi trong tất cả các pha của dạy học đặt và giải quyết vấn đề

o Đan xen giữa hai hình thức làm việc trên

- Tri thức: Không được cho dưới dạng có sẵn, mà xuất hiện trong quá trình

hình thành và giải quyết vấn đề, được khám phá bởi chính học sinh

Hợp tác để phát hiện và giải quyết vấn đề: Hình thức này có những đặc

trưng sau:

- Giáo viên tạo ra tình huống gợi vấn đề, gợi ý, trao đổi, hợp tác với học

sinh để đưa cách giải quyết vấn đề

- Học sinh hợp tác với giáo viên, trình bày lời giải, thực hiện pha kiểm tra

đánh giá

- Tri thức không được cho dưới dạng có sẵn, mà xuất hiện qua quá trình giải quyết tình huống

Trang 26

Vấn đáp đặt và giải quyết vấn đề: Hình thức này có các đặc trưng sau:

- Giáo viên xây dựng một hệ thống câu hỏi để gợi ý, dẫn dắt học sinh thực hiện tất cả các pha của dạy học đặt và giải quyết vấn đề, ngoại trừ pha thể chế hoá Ở mức độ thấp hơn thì chính giáo viên thực hiện việc tạo tình huống có vấn đề và trình bày vấn đề

- Học sinh, nhờ vào hệ thống câu hỏi gợi ý dẫn dắt của giáo viên mà tự giác

và tích cực nghiên cứu phát hiện, trình bày và giải quyết vấn đề

- Tri thức không được cho dưới dạng có sẵn và trực tiếp, mà xuất hiện

trong quá trình hình thành và giải quyết vấn đề, được khám phá nhờ quá

trình tương tác giữa thầy và trò, trong đó trò đóng vai trò chính

- Thuyết trình đặt và giải quyết vấn đề: Là cấp độ thấp nhất của dạy học

đi đến kết quả

- Nói cách khác, giáo viên phải đóng vai một học sinh đang tìm cách phát hiện và giải quyết vấn đề: tự đặt ra cho mình các câu hỏi, các nghi vấn, tự mày mò tìm kiếm các phương án giải quyết, rồi tự trả lời… Điều quan trọng là trong quá trình này, giáo viên cần để lại những “khoảng lặng” để cho học sinh (người học) đủ thời gian cùng tham gia vào quá trình suy nghĩ, tìm kiếm câu trả lời như chính học sinh giả tưởng, chứ không cho câu trả lời ngay sau khi vừa đặt ra một câu hỏi, một nghi vấn nào đó

- HS theo dõi quá trình nghiên cứu đặt và giải quyết vấn đề được trình bày bởi giáo viên Trong quá trình này, họ cũng trải qua những thời điểm, những cảm xúc và thái độ khác nhau như một học sinh đang thực sự tham

Trang 27

gia quá trình nghiên cứu, nhưng không trực tiếp giải quyết vấn đề

- Tri thức, mặc dù không được khám phá bởi chính HS, nhưng cũng không được truyền thụ dưới dạng có sẵn và trực tiếp, mà nảy sinh trong quá trình đặt và giải quyết vấn đề của GV

1.3.4 Một số biểu hiện năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong môn

Tin học 10

Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề góp phần rèn luyện và phát triển nhân cách cũng như năng lực trí tuệ cho HS; bồi dưỡng hứng thú và nhu cầu học tập, khuyến khích HS say mê tìm tòi

Trên cơ sở cho HS làm quen với một số hoạt động nhằm rèn luyện khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề, GV đưa ra một số tình huống có vấn đề trong bài học giúp HS vận dụng nội dung, kiến thức và phương pháp có được trong quá trình học tập cũng như các kiến thức về sự vật sự việc trong xã hội để giải quyết vấn đề

Đối với HS THPT có thể thấy các biểu hiện của năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong việc học Tin học 10 qua các khả năng sau:

a Có khả năng vận dụng thành thục các kiến thức, kỹ năng đã biết để

phát hiện và giải quyết vấn đề:

Khả năng này được biểu hiện trong quá trình học, GV cần quan tâm, phát

hiện, bồi dưỡng khả năng này Biết vận dụng những kiến thức đã học và

những hiểu biết để giải quyết các vấn đề được đặt ra Biểu hiện của khả

năng phát hiện và giải quyết vấn đề là vận dụng những điều đã học, đã

biết vào giải quyết các tình huống

Ví dụ: Viết thuật toán tìm ước chung lớn nhất (UCLN) của hai số nguyên

Trang 28

5;

+ Bước 3: Nếu M<N thì M ‹- M-N rồi quay lại bước 2;

+ Bước 4: N ‹- N-M rồi quay lại bước 2;

+ Bước 5: Đưa ra kết quả UCLN rồi kết thúc [5]

Yêu cầu của GV là HS hãy dùng thuật toán Euclid để viết lại thuật toán

tìm UCLN trên?

HS giải quyết vấn đề mà GV đưa ra, nhớ lại kiến thức đã học về thuật

toán Euclid về phép chia Nếu HS chưa nhớ thuật toán thì GV có thể gợi

mở, bổ sung thêm kiến thức giúp HS giải quyết vấn đề: Ở dạng đơn giản

nhất, thuật toán Euclid bắt đầu với cặp số nguyên dương, và tạo ra một

cặp số nguyên dương mới bao gồm số nhỏ hơn và phần dư của của phép

chia hai số ban đầu Quá trình được tiếp tục cho đến khi hai số trong cặp

bằng nhau, giá trị lúc đó sẽ trở thành ước số chung lớn nhất của cặp số

ban đầu [6]

+ Bước 1: Nhập số nguyên M, N;

+ Bước 2: Nếu M=0, N=0 thì thông báo không tồn tại UCLN, sang bước

8;

+ Bước 3: Nếu N=0, M<>0, thông báo UCLN là M, sang bước 8;

+ Bước 4: Nếu N<>0, M=0, thông báo UCLN là N, sang bước 8;

+ Bước 5: Gán dư của M chia N bằng D (D=M mod N);

+ Bước 6: Nếu D=0, thông báo UCLN là N, sang bước 8;

+ Bước 7: Gán M=N, N=D; D= M mod N, sang bước 6;

+ Bước 8: Kết thúc [7]

Để giải quyết được vấn đề GV đặt ra, HS phải thành thục về phép chia và

hiểu được bản chất của thuật toán Euclid

b Có khả năng dùng nhiều cách khác nhau để giải quyết vấn đề:

Đây là biểu hiện của HS khi đứng trước một vấn đề Trong vấn đề này HS

có thể đưa ra nhiều cách giải quyết khác nhau

Trang 29

Ví dụ: Trong bài “Thuật toán và bài toán” yêu cầu HS nêu ý tưởng tìm HS cao nhất trong lớp HS suy nghĩ và giải quyết vấn đề được GV đưa ra HS

sẽ suy nghĩ ra được nhiều hướng giải quyết khác nhau:

Cách 1: Cho HS xếp thành một hàng, thấp đứng trước, cao đứng sau, người đứng sau cùng là người cao nhất

Cách 2: Từng HS đứng đo chiều cao với nhau, ai cao hơn thì đứng lại, người ở lại cuối cùng là người cao nhất

Cách 3: Dùng thước đo, ai cao nhất thì số đo sẽ lớn nhất

Cách 4: Cho HS đứng thành một đôi, ai cao hơi của đôi này sẽ so chiều cao với người cao hơn của đôi khác, cú tiếp tục như vậy, ai cao hơn sẽ đo tiếp

Nếu HS có thể đưa ra các cách giải quyết như thế này thì đã thể hiện được khả năng giải quyết vấn đề của HS theo nhiều hướng

c Đưa ra được cách giải quyết tốt nhất cho một vấn đề:

Khi đứng trước một vấn đề có nhiều hướng giải quyết thì HS có thể chọn được hướng

Ví dụ: Trong bài “Thuật toán và bài toán” yêu cầu HS nêu ý tưởng tìm HS cao nhất trong lớp HS suy nghĩ và giải quyết vấn đề được GV đưa ra HS

sẽ suy nghĩ ra được nhiều hướng giải quyết khác nhau:

Cách 1: Cho HS xếp thành một hàng, thấp đứng trước, cao đứng sau, người đứng sau cùng là người cao nhất

Cách 2: Từng HS đứng đo chiều cao với nhau, ai cao hơn thì đứng lại, người ở lại cuối cùng là người cao nhất

Cách 3: Dùng thước đo, ai cao nhất thì số đo sẽ lớn nhất

Cách 4: Cho HS đứng thành một đôi, ai cao hơi của đôi này sẽ so chiều cao với người cao hơn của đôi khác, cú tiếp tục như vậy, ai cao hơn sẽ đo tiếp

Trong những cách này có những cách làm rất lâu, tốn thời gian, HS suy

Trang 30

nghĩ tìm ra cách giải nhanh nhất để tìm được HS cao nhất trong lớp Cách giải quyết tốt nhất trong trường hợp này HS sẽ chọn cách 4 vì sẽ rút ngắn thời gian so với cách còn lại

2 Cơ sở thực tiễn

2.1 Vị trí môn Tin học

Môn Tin học là môn học công cụ Do tính trừu tượng cao độ, Tin học có tính thực tiễn phổ dụng Những tri thức và kĩ năng Tin học cùng với

những phương pháp làm việc trong Tin học đã trở thành công cụ để học

tập những môn học khác trong nhà trường, là công cụ của nhiều ngành khoa học khác, là công cụ để hoạt động trong đời sống thực tế và vì vậy

là một thành phần không thể thiếu của trình độ văn hoá phổ thông của con người mới Về mặt tri thức và kĩ năng, môn Tin học trong nhà trường cần làm cho tất cả mọi học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học đều nắm được những yếu tố cơ bản của Tin học, có khả năng ứng dụng CNTT như

công cụ học tập và hoạt động, có thể nhanh chóng bước vào những ngành nghề đòi hỏi sử dụng công nghệ này Cụ thể là HS có những hiểu biết về Tin học và máy tính điện tử, có khái niệm về thuật giải và làm quen với tư duy thuật giải Học sinh biết lập trình để giải những bài toán đơn giản, trước hết là những bài toán trong sách giáo khoa Toán, Lí, Hoá từ đó chuẩn bị những tri thức kỹ năng và phong cách làm việc cần thiết để sau này có thể đi sâu hơn về lĩnh vực lập trình Học sinh biết làm việc với một

số hệ điều hành, một số phần mềm như soạn thảo văn bản, bảng tính điện

tử, hệ quản trị cơ sở dữ liệu

Ngoài việc tạo điều kiện cho học sinh chiếm lĩnh những tri thức và kỉ

năng Tin học cần thiết, môn Tin học còn có tác dụng góp phần phát triển

năng lực trí tuệ chung như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá, rèn luyện những đức tính, phẩm chất của người lao động mới như tính cẩn thận, chính xác, tính kỉ luật, tính phê phán, tính sáng tạo Học

Trang 31

sinh thấy rõ hiệu lực mạnh mẽ của công nghệ thông tin và nhận thức được cần có những phẩm chất nào của người lao động trong thời đại mới

Với những lí do trên, trong trường phổ thông môn Tin học giữ một vị trí

hết sức quan trọng Việc xác định mục tiêu và nhiệm vụ của môn Tin học không thể không tính tới vị trí của môn học này trong nhà trường phổ thông

2.2 Nội dung chương trình Tin học 10

Chương I: Một số khái niệm cơ bản của tin học

§1: Tin học là một ngành khoa học

§2: Thông tin và dữ liệu

Bài đọc thêm 1: Biểu diễn hình ảnh và âm thanh

Bài tập và thực hành 1: Làm quen với thông tin và mã hóa thông tin

Bài đọc thêm 2: Biểu diễn số trong các hệ đếm khác nhau

§3: Giới thiệu về máy tính

Bài tập và thực hành 2: Làm quen với máy tính

Bài đọc thêm 3: Lịch sử phát triển của ký thuật tính toán

§4: Bài toán và thuật toán

Chương II: Hệ điều hành

§10: Khái niệm về hệ điều hành

§11: Tệp và quản lý tệp

§12: Giao tiếp với hệ điều hành

Bài tập và thực hành 3: Làm quen với hệ điều hành

Bài tập và thực hành 4: Giao tiếp với hệ điều hành Windows

Trang 32

Bài tập và thực hành 5: Thao tác với tệp và thư mục

§13: Một số hệ điều hành thông dụng

Bài đọc thêm 4: Lịch sử phát triển hệ điều hành

Chương III: Soạn thảo văn bản

§14: Khái niệm về soạn thảo văn bản

§15: Làm quen với Microsoft Word

Bài tập và thực hành 6: Làm quen với Word

§16: Định dạng văn bản

Bài tập và thực hành 7: Định dạng văn bản

§17: Một số chức năng khác

§18: Các công cụ trợ giúp soạn thảo

Bài tập và thực hành 8: Sử dụng một số công cụ trợ giúp soạn thảo

§19: Tạo và làm việc với bảng

Bài tập và thực hành 9: Bài tập và thực hành tổng hợp

Bài đọc thêm 5: Chèn kí hiệu và hình ảnh

Chương IV: Mạng máy tính và Internet

§20: Mạng máy tính

§21: Mạng máy tính toàn cầu internet

§22: Một số dịch vụ cơ bản của internet

Bài tập và thực hành 10: Sử dụng trình duyệt Internet Exployer

Bài tập và thực hành 11: Thư điện tử và máy tìm kiếm thông tin

Bài đọc thêm 6: Thiết kế trang Web đơn giản

Bài đọc thêm 7: Sự hình thành và phát triển của Internet

Trang 33

Tiểu kết chương 1:

Trong chương này tôi đã nghiên cứu về năng lực nói chung, năng lực riêng, đặc điểm của từng loại năng lực và đi sâu khai thác lý luận của năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề

Đưa ra được các biểu hiện của khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề của HS

Trang 34

Chương 2: Thực trạng dạy Tin học ở trường THPT và đề xuất

một số phương pháp rèn luyện và phát triển khả năng phát hiện

và giải quyết vấn đề

1 Thực trạng dạy học môn Tin học ở trường THPT

Môn Tin học đã được bộ Giáo dục và đào tạo chính thức đưa vào giảng dạy ở bậc THPT từ năm 2006-2007 Đồng thời Bộ đã thiết lập khung chương trình môn tin học là môn tự chọn cho các cấp tiểu học và THCS

Riêng đối với HS, khi bước vào môn Tin học 10 cũng có những thuận lợi

Môn Tin học hiện đang có sức hấp dẫn nhất định (hấp dẫn ở sự mới mẻ và nhu cầu học tập của HS) nhất là các HS ở thành thị có điều kiện tốt về máy móc, phương tiện tiếp cận

Môn Tin học cũng là môn công cụ giúp HS học tốt các môn khác, giúp học sinh có cách học hiện đại hơn, hiệu quả hơn, mở mang nhiều kiến thức

Hiện nay, ở các trường THPT đều trang bị đầy đủ cơ sở vật chất cho 2 phòng CNTT và 1 phòng thực hành Ở trường THPT Sào Nam được trang bị 2 phòng CNTT và 1 phòng thực hành trên 50 máy có kết nối mạng Đối với môn Tin học ngày càng được quan tâm hỗ trợ từ phía nhà trường cũng như học sinh có cái nhìn khác về môn học này, HS nhìn thấy được tầm quan trọng của môn học cho cuộc sống sau này GV có trình độ chuyên sâu hơn

Bên cạnh những thuận lợi cũng gặp không ít khó khăn Cho đến nay môn Tin học vẫn chưa được coi trọng như các môn khác Nhân lực GV Tin học vẫn còn ít, một số trường có sự luân chuyển GV như GV dạy Toán, Lý … chuyển qua dạy Tin Việc luân chuyển này khiến GV không nắm vững kiến thức chuyên môn, cách dạy hời hợt, GV không được đào tạo đúng chuyên ngành nên việc truyền tải kiến thức đến HS còn hạn chế Theo quan niệm của HS và phụ huynh thì nên tập trung vào các môn thi tốt nghiệp, đại học, dẫn đến tình trạng học lệch, bỏ bê các môn không thi tốt nghiệp, đại học trong đó có môn

Trang 35

Một số trường ở miền núi vẫn chưa đảm bảo được cơ sở vật chất cho việc dạy tin học, còn tình trạng 2, 3 em ngồi một máy, hay nhiều máy hư hỏng không sử dụng được, mặt khác, môn tin học là môn khoa học, việc thuyết trình khô khan khiến HS không có hứng thú trong học tập, “học đi đôi với hành” nhưng điều kiện vật chất không đáp ứng được

Ví dụ như học bài soạn thảo văn bản, nếu dạy lý thuyết một cách khô khan thì khó nắm bắt được vấn đề, giờ thực hành trên lớp lại ít, chưa có điều kiện

để trang bị máy tính cá nhân nên để học tốt được là một điều khó khăn

Để đi sâu vào tìm hiểu thực trạng dạy môn Tin học, em đã có điều kiện thâm nhập vào trường THPT Sào Nam, tiến hành phát phiếu khảo sát, phỏng vấn

GV tổ Toán- Tin và một số HS

- Thái độ của HS 35% thích thú với môn học, 55% cảm thấy bình thường, 10% cảm thấy chán môn học Số HS thích môn Tin học không cao vì đa

số cho rằng môn Tin học chỉ là môn phụ và kiến thức trừu tượng

Biểu đồ 1.1: Biểu đồ thể hiện thái độ của HS đối với môn Tin học

Thích

Chán

Bình thường

Trang 36

- Cảm xúc của HS trong giờ Tin học: 50% hiểu bài, 30% cảm thấy lôi cuốn, 20% cảm tẻ nhạt Đa số học sinh tập trung trong giờ học, nắm được kiến thức và cảm thấy lôi cuốn trong giờ học, nhưng một số ít cảm thấy tẻ nhạt khi học môn Tin học

Biểu đồ 1.2: Biểu đồ thể hiện cảm xúc của HS trong giờ Tin học

- Về kiến thức GV cung cấp: 62% cho rằng GV bám sát kiến thức mà mở rộng, 31% cho rằng GV cung cấp đúng kiến thức SGK, 7% cho rằng GV dạy qua loa Trong giờ học, GV có mở rộng để HS nắm bắt được vấn đề, nhưng một sô nhỏ cho rằng GV dạy qua loa cho hết tiết, không cung cấp

Dạy qua loa

Đúng kiến thức

Trang 37

- Các phương pháp GV sử dụng trong giờ học mà HS biết được nghe giảng ghi chép, trao đổi nhóm, thực hành, trực quan GV hầu hết phối hợp nhiều phương pháp trong một tiết dạy, các phương pháp được sử dụng thường xuyên và HS nhận định được phương pháp

Biểu đồ 1.5: Biểu đồ thể hiện mức sử dụng các phương pháp

GV môn Tin học trường THPT Sào Nam thuộc tổ Toán- Tin, trong đó có

4 GV dạy chuyên ngành tin, số còn lại vừa dạy toán vừa dạy tin, đối với

GV dạy hai môn cùng một lúc sẽ có sự chi phối và so sánh giữa hai môn, một môn chính, một môn phụ nên GV sẽ ít đầu tư cho môn phụ GV cũng

so sánh thái độ học tập của HS đối với hai môn có sự khác nhau rõ rệt nên tâm trạng trong giờ dạy cũng chi phối

Bên cạnh đó, một số GV có sự đột phá trong quá trình dạy học, tìm ra nhưng phương pháp mới, áp dụng nhứng phương pháp tích cực để gây hứng thú cho HS tuy nhiên chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ Đa số các GV còn sử dụng các phương pháp truyền thống, vẫn còn tình trạng đọc chép, đưa ra câu hỏi nhưng không có sự gợi mở Trong quá trình học thì GV chưa có sự

Trang 38

tương tác nhiều đối với HS vẫn còn một số em chưa tập trung và cảm thấy

tẻ nhạt khi học Như vậy, bên cạnh một số em tích cực trong học tập thì vẫn còn tồn tại một số em có thái độ chưa tốt, GV cũng cần quan tâm, nhắc nhở Cần linh hoạt sử dụng các phương pháp

2 Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề tại trường THPT

2.1 Thực trạng sử dụng phương pháp tại trường THPT Sào Nam

Để tìm hiểu được tình hình sử dụng phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề, em đi đi thâm nhập sâu vào trường THPT Sào Nam Qua quá trình quan sát, thực tập, sử dụng phiếu điều tra, phỏng vấn GV hướng dẫn dạy học và các GV khác trong tổ chuyên môn, em đã thu được kết quả:

- Về nhận thức của HS, có 76% cho rằng đã được học, 24% cho rằng chưa được học Đa số HS cho rằng đã được học trong quá trình học, khi nói đến phương pháp, HS không biết đến phương pháp nhưng khi nghe GV giải thích thì HS đã hình dung được phương pháp này mình đã được học Bên cạnh đó vẫn có số ít HS chưa được học phương pháp này

Biểu đồ 2.1: Biểu đồ thể hiện sự tiếp cận phương pháp của HS

- Đối với HS đã học phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề

+ Mức độ thường xuyên sử dụng phương pháp trong giờ Tin học, tỉ lệ

Đã học

Chưa học

Trang 39

giờ Tin học, GV tại trường thường xuyên vận dụng phương pháp trong các phần vào bài và chuyển mục, khơi gợi tính tò mò cho HS, kích thích

HS động não suy nghĩ để phát hiện và giải quyết vấn đề Bên cạnh đó một

số HS cho rằng phương pháp rất ít khi sử dụng, qua quá trình thâm nhập thực tế thì thấy GV Tin học ở trường THPT Sào Nam sử dụng phương pháp rất nhiều, do học sinh chưa nhìn ra được phương pháp mà GV đã sử dụng hay còn lơ là trong việc học

Biểu đồ 2.2: Biểu đồ thể hiện mức độ thường xuyên của phương pháp

+ Phương pháp “phát hiện và giải quyết vấn đề làm tăng khả năng tư duy

và sáng tạo cho HS HS cho rằng khi sử dụng phương pháp này sẽ tăng tính tư duy và sáng tạo cho người học Phương pháp dạy khơi gợi những kiến thức sẵn có trong HS và tạo cho HS thói quen suy nghĩ để tìm ra hướng giải quyết của vấn đề, bên cạnh đáp án của GV đưa ra, HS còn có nhiều ý kiến, sáng kiến khác, làm cho nội dung học trở nên phong phú.Bên cạnh đó vẫn có số ít cho rằng không tăng khả năng tư duy sáng tạo cho HS qua phương pháp dạy này

+ Phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề có khó hơn các phương pháp khác: HS phần lớn cho rằng phương pháp này thường khó hơn

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Rất ít

Ngày đăng: 14/05/2021, 22:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2] Đặng Thành Hưng, Năng lực và giáo dục theo tiếp cận năng lực Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực và giáo dục theo tiếp cận năng lực
Tác giả: Đặng Thành Hưng
[3] Phương pháp dạy học tích cực; Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho GV khối THPT; Vụ Giáo dục Trung học; 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tích cực
Nhà XB: Vụ Giáo dục Trung học
Năm: 2013
[5] Hồ Sĩ Đàm (chủ biên) – Hồ Cẩm Hà – Trần Đỗ Hùng – Nguyễn Đức Nghĩa – Nguyễn Thanh Tùng – Ngô Ánh Tuyết, SGK Tin học 10, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Tin học 10
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
[8] Th.S Tạ Thị Thanh Bình, Phương pháp giảng dạy Tin học, học viện quản lý giáo dục, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy Tin học
Tác giả: Th.S Tạ Thị Thanh Bình
Nhà XB: học viện quản lý giáo dục
Năm: 2010
[9],[10] Hồ Sĩ Đàm (chủ biên) – Hồ Cẩm Hà – Trần Đỗ Hùng – Nguyễn Đức Nghĩa – Nguyễn Thanh Tùng – Ngô Ánh Tuyết, SGK Tin học 10, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Tin học 10
Tác giả: Hồ Sĩ Đàm, Hồ Cẩm Hà, Trần Đỗ Hùng, Nguyễn Đức Nghĩa, Nguyễn Thanh Tùng, Ngô Ánh Tuyết
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
[10] TS. Nguyễn Duy Hải, quy trình xây dựng bài giảng điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: quy trình xây dựng bài giảng điện tử
Tác giả: TS. Nguyễn Duy Hải
1] GS.TS. Đinh Quang Báo, Tài liệu Hội thảo về mục tiêu và chuẩn do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức năm 2013 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w