1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng xung đột giữa cha me và con cái ở lứa tuổi thiếu niên tại trường trung học cơ sở đỗ thúc tịnh hòa khương hòa vang đà nẵng

139 45 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên tại trường trung học cơ sở Đỗ Thức Tịnh - Hòa Khương - Hòa Vang - Đà Nẵng
Tác giả Đặng Thị Tâm
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Phương Trang
Trường học Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2016
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 2,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan các nghiên cứu về hiện tượng xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên tại Việt Nam Tác giả Trần Trọng Thủy với công trình nghiên cứu “Xung đột và không khí tâm lý

Trang 1

ỌC N N

Ƣ N ỌC Ƣ M KHOA TÂM LÝ - GIÁO DỤC

-

ẶNG THỊ TÂM

THỰC TR N XUN ỘT GIỮA CHA MẸ VÀ CON CÁI Ở LỨA TUỔI THIẾU NIÊN T I Ƣ NG TRUNG HỌC CƠ Ở

Ỗ THÚC TỊNH – ÒA K ƢƠN – HÒA VANG – N NG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH CỬ NHÂN TÂM LÝ HỌC

Trang 2

ỌC N N

Ư N ỌC Ư M KHOA TÂM LÝ - GIÁO DỤC

-

ẶNG THỊ TÂM

THỰC TR N XUN ỘT GIỮA CHA MẸ VÀ CON CÁI Ở LỨA TUỔI THIẾU NIÊN T I Ư NG TRUNG HỌC CƠ Ở

Ỗ THÚC TỊNH – ÒA K ƯƠN – HÒA VANG – N NG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH CỬ NHÂN TÂM LÝ HỌC

Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị hương rang

Trang 3

L I CAM KẾT

Tôi xin cam đoan đề tài này là công trình nghiên cứu khoa học do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Thị Phương Trang – Giảng viên khoa Tâm lý – Giáo dục – Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng

Những số liệu, kết quả nêu trong đề tài là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào trước đây

Đà Nẵng, tháng 04 năm 2016

Sinh viên thực hiện

Đặng Thị Tâm

Trang 4

Đặc biệt em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo – Thạc sĩ Nguyễn Thị Phương Trang – cô giáo trực tiếp hướng dẫn đã nhiệt tình dẫn dắt, tận tâm chỉ bảo em trong suốt quá trình làm đề tài

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các em học sinh, phụ huynh học sinh

ở trường Trung Học Cơ Sở Đỗ Thức Tịnh – Xã Hòa Khương – Huyện Hòa Vang – Thành phố Đà Nẵng đã giúp đỡ em trong quá trình điều tra, thu thập dữ liệu thực tiễn

Cảm ơn các bạn trong lớp đã giúp tôi trong thời gian học tập cũng như chia

sẻ tài liệu, đóng góp ý kiến giúp tôi làm tốt đề tài của mình

Do điều kiện thời gian và khả năng có hạn, bài nghiên cứu tuy hoàn thành nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến để bài nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, ngày 30 tháng 4 năm 2016

Sinh viên thực hiện

Đặng Thị Tâm

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

1 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Giả thuyết khoa học 3

7 Các phương pháp nghiên cứu 3

NỘI DUNG 5

Chương 1 CƠ Ở LÝ LUẬN CỦA Ề TÀI 5

1.1 Tổng quan các nghiên cứu về hiện tượng xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên 5

1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu về hiện tượng xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên trên thế giới 5

1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu về hiện tượng xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên tại Việt Nam 6

1.2 Lý luận về xung đột 6

1.2.1 Khái niệm xung đột 7

1.2.2 Bản chất của xung đột 7

1.2.3 Các hình thức xung đột 8

1.2.4 Ảnh hưởng của xung đột 9

1.2.4.1 Mặt tích cực 9

1.2.4.2 Mặt tiêu cực 9

1.2.5 Các phương pháp giải quyết xung đột 10

1.3 ặc điểm tâm - sinh lý của tuổi thiếu niên 11

1.3.1 Khái niệm lứa tuổi thiếu niên 11

1.3.2 Vị trí, ý nghĩa của lứa tuổi thiếu niên 11

1.3.3 Đặc điểm phát triển về thể chất của tuổi thiếu niên 12

Trang 6

1.3.3.1 Sự phát triển của chiều cao và trọng lượng 12

1.3.3.2 Sự phát triển hệ xương 13

1.3.3.3 Sự phát triển hệ thần kinh, não bộ 13

1.3.3.4 Sự xuất hiện của tuyến sinh dục (hiện tượng dậy thì) 14

1.3.4 Hoạt động của tuổi thiếu niên 15

1.3.4.1 Hoạt động giao tiếp ở lứa tuổi thiếu niên 15

1.3.4.2 Hoạt động học tập ở lứa tuổi thiếu niên 17

1.3.5 Đặc điểm phát triển tâm lý của tuổi thiếu niên 18

1.3.5.1 Hoạt động nhận thức của tuổi thiếu niên 18

1.3.5.2 Đặc điểm phát triển nhân cách của tuổi thiếu niên 21

1.3.5.3 Đặc điểm tình cảm và ý chí của tuổi thiếu niên 25

1.4 Lý luận về xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên 32

1.4.1 Khái niệm xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên 32

1.4.2 Đặc điểm xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên 32

1.4.3 Các giai đoạn xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên 33

1.4.3.1 Giai đoạn tiền xung đột 33

1.4.3.2 Giai đoạn phát triển xung đột 34

1.4.3.3 Giai đoạn giải quyết xung đột 35

1.4.4 Biểu hiện hành vi xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên 36

1.4.5 Kết quả giải quyết xung đột giữa cha mẹ và con ở lứa tuổi thiếu niên 36

1.4.5.1 Kết quả tích cực 36

1.4.5.2 Kết quả tiêu cực 37

1.4.6 Nguyên nhân gây ra xung đột giữa cha mẹ và con ở lứa tuổi thiếu niên 38

1.4.6.2 Nguyên nhân từ phía con 38

1.4.6.1 Nguyên nhân từ phía cha mẹ 38

1.4.6.3 Nguyên nhân từ cả hai phía cha mẹ và con 39

1.4.6.4 Nguyên nhân từ phía xã hội 39

TIỂU KẾ C ƢƠN 40

Trang 7

Chương 2 Ổ CHỨC V ƯƠN Á N ÊN CỨU 41

2.1 Tổ chức nghiên cứu 41

2.1.1 Sơ lược về địa bàn và khách thể nghiên cứu 41

2.1.1.1 Vài nét về trường THCS Đỗ Thúc Tịnh 41

2.1.1.2 Mô tả khách thể khảo sát 41

2.1.2 Tiến trình tổ chức nghiên cứu 42

2.2 hương pháp nghiên cứu 42

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 42

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 43

2.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi 43

2.2.2.2 Phương pháp trò chuyện 45

2.2.3 Phương pháp thống kê toán học 45

TIỂU KẾ C ƯƠN 45

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47

3.1 Thực trạng xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên 47

3.1.1 Biểu hiện xung đột 47

3.1.1.1 Mức độ thường xuyên xảy ra xung đột 47

3.1.1.2 Người thường khơi mào xung đột 48

3.1.1.3 Người thường xuyên xung đột 49

3.1.1.4 Người thường làm hòa trước sau khi xung đột xảy ra 50

3.1.2 Cách ứng xử khi xảy ra xung đột 51

3.1.2.1 Mức độ xung đột 51

3.1.2.2 Biểu hiện hành vi ứng xử theo các mức độ khi xảy ra xung đột 52

3.1.3 Lĩnh vực thường xảy ra xung đột 56

3.1.4 Biểu hiện của thiếu niên sau khi xảy ra xung đột với cha mẹ 57

3.1.5 Kết quả giải quyết xung đột 59

3.1.6 Mong muốn khi giải quyết vấn đề 61

3.2 Xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên phân tích trên từng phương diện so sánh 62

Trang 8

3.2.1 Theo khối lớp của học sinh 62

3.2.1.1 Mức độ xung đột theo khối lớp của học sinh 62

3.2.1.2 Lĩnh vực xung đột theo khối lớp của học sinh 63

3.2.2 Theo giới tính 64

3.2.2.1 Mức độ xung đột theo giới tính 64

3.2.2.2 Lĩnh vực xung đột theo giới tính 65

3.3 Nguyên nhân xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên 67

3.3.1 Nguyên nhân từ phía con 67

3.3.2 Nguyên nhân từ phía cha mẹ 69

3.3.3 Nguyên nhân từ cả hai phía cha mẹ và con 70

3.3.4 Nguyên nhân từ phía xã hội 71

TIỂU KẾ C ƢƠN 3 72

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

1 Kết luận 73

2 Kiến nghị 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

2 Mức độ thường xuyên xảy ra xung đột PL3

3 Người thường khơi mào xung đột PL3

4 Người thường xuyên xung đột PL3

5 Người thường làm hòa trước sau khi xung đột xảy ra PL3

6 Cách ứng xử khi xảy ra xung đột PL3

7 Lĩnh vực thường xảy ra xung đột PL3

8 Biểu hiện của thiếu niên sau khi xảy ra xung đột với cha mẹ PL3

9 Kết quả giải quyết xung đột PL3

10 Mong muốn khi giải quyết vấn đề PL3

11 Mức độ xung đột theo khối học của học sinh PL3

12 Lĩnh vực xung đột theo khối học của học sinh PL3

13 Mức độ xung đột theo giới tính PL3

14 Lĩnh vực xung đột theo giới tính PL3

15 Nguyên nhân xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên PL3

16 Quan niệm về lứa tuổi thiếu niên PL3

Trang 11

DANH MỤC CÁC BIỂU Ồ

1 Mức độ thường xuyên xảy ra xung đột 47

2 Người thường khơi mào xung đột 48

3 Người thường xuyên xung đột 49

4 Người thường làm hòa trước sau khi xung đột xảy ra 50

6 Biểu hiện hành vi ứng xử theo các mức độ khi xảy ra xung đột 52

7 Lĩnh vực thường xảy ra xung đột 56

8 Biểu hiện của thiếu niên sau khi xảy ra xung đột với cha mẹ 57

9 Kết quả giải quyết xung đột 59

10 Mong muốn khi giải quyết vấn đề 61

11 Mức độ xung đột theo khối học của học sinh 62

12 Lĩnh vực xung đột theo khối học của học sinh 63

13 Mức độ xung đột theo giới tính 64

14 Lĩnh vực xung đột theo giới tính 65

15 Nguyên nhân xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên 66

Trang 12

MỞ ẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển của trẻ em, gia đình có vai trò rất quan trọng Gia đình là tổ ấm, là chỗ dựa, là nơi bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ Gia đình còn là xã hội thu nhỏ với một hệ thống chuẩn mực, vai trò xã hội, đảm bảo cho các thành viên thoả mãn những nhu cầu xã hội, là nơi trẻ em soi mình vào đó tự nhìn nhận mình, định hướng cho quan điểm của mình với những người xung quanh và áp dụng chính khuôn mẫu của gia đình vào tương lai của nó thông qua quan hệ ứng xử giữa cha mẹ với nhau và với trẻ Gia đình còn là nơi giúp trẻ xây dựng và phát triển nhân cách với những giá trị phù hợp với giá trị xã hội

Trẻ em nói chung và trẻ em đang trong lứa tuổi thiếu niên nói riêng, nhìn từ góc độ tâm lý học, là những con người chưa chín muồi hoàn toàn về mặt tâm lý và

xã hội Theo cách hiểu này thì các em cần được sự dạy dỗ, giáo dục đúng phương pháp từ phía gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó có vai trò rất quan trọng của gia đình

Trong quá trình vận động và phát triển của gia đình không tránh khỏi xảy ra những xung đột giữa cha mẹ và con cái ở mức độ này hay mức độ khác Tuy nhiên khi con đến tuổi thiếu niên do những biến đổi mạnh mẽ về mặt tâm sinh lý đã dẫn đến khả năng tự ý thức phát triển mức độ khá cao Trẻ có nhu cầu độc lập khá mạnh

mẽ Nhưng vì nhiều nguyên nhân mà không phải cha mẹ nào cũng hiểu được điều

đó Vì vậy mâu thuẫn giữa con cái và cha mẹ bùng nổ và ngày càng gay gắt

Dù xuất phát từ bất cứ nguyên nhân nào, sự rạn nứt, đổ vỡ trong mối quan hệ cha mẹ - con cái trong gia đình cũng là một thực trạng đáng buồn và mang lại những hậu quả đáng tiếc Hiện nay, số vụ trẻ em tham gia vào các tệ nạn xã hội: Bài bạc, trộm cướp… ngày càng tăng cao Theo tổng kết sơ bộ của Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm (Bộ Công an), trong 6 tháng đầu năm 2011, Cục đã xử lý 15.000 vụ phạm pháp hình sự, xử lý trên 22.000 đối tượng, trong đó có hơn 75% là thanh thiếu niên Điều đáng nói là so với những năm trước, đối tượng phạm tội ngày càng trẻ hóa và hành vi phạm tội cũng như tính chất mức độ phạm tội ngày càng

Trang 13

nghiêm trọng hơn.Ngoài sự gia tăng về số lượng phạm tội còn xuất hiện nhiều loại tội phạm mới từ trong thanh thiếu niên như: bắt cóc, tống tiền, đâm thuê chém mướn, chống người thi hành công vụ, buôn bán phụ nữ, buôn bán vũ khí xu hướng phạm tội tập thể, phạm tội theo băng nhóm cũng gia tăng như hiếp dâm tập thể, đua xe máy [15] Đây là một tình trạng báo động về tệ nạn xã hội trong thanh thiếu niên mà trực tiếp hoặc gián tiếp có những nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ sự xung khắc với cha mẹ trong gia đình Đã đến lúc chúng ta cần xem xét lại một cách nghiêm túc hơn về vấn đề này, nhờ đó con cái phát triển một cách toàn diện, tránh các hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra mặc khác cha mẹ cũng biết cách hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ làm cha làm mẹ của mình

Tuy nhiên thực tế cho thấy chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này Ở Việt Nam chưa có số liệu thống kê rõ ràng nào về thực trạng xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên Nhận thức được vấn đề cấp thiết này chúng tôi chọn đề

tài: “ hực trạng xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên tại trường trung học cơ sở ỗ Thúc Tịnh – òa Khương – Hòa Vang – à Nẵng”

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích như sau:

- Tìm hiểu thực trạng xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên tại

trường THCS Đỗ Thúc Tịnh – xã Hòa Khương – huyện Hòa Vang – thành phố Đà Nẵng

- Phân tích nguyên nhân và đề xuất một số khuyến nghị nhằm phòng ngừa và hạn chế xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu sách báo lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu Trên cơ sở kế thừa có tính chọn lọc những công trình đi trước để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

Khảo sát thực trạng xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên Chỉ

ra nguyên nhân và đánh giá hậu quả của thực trạng đó

Trang 14

Trên cơ sở đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm phòng ngừa và hạn chế xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên

4 ối tượng, khách thể nghiên cứu

4.1 ối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên tại trường THCS Đỗ Thúc Tịnh - xã Hòa Khương – huyện Hòa Vang – thành phố

6 Giả thuyết khoa học

Đa số học sinh và phụ huynh trong diện nghiên cứu thường xảy ra xung đột với nhau do nhiều nguyên nhân, trên nhiều lĩnh vực với các mức độ khác nhau Khi xảy ra xung đột, họ chưa biết cách giải quyết sao cho mang lại kết quả tích cực

7 Các phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

Trang 15

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn + Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi + Phương pháp trò chuyện

- Phương pháp thống kê trong toán học

Trang 16

NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA Ề TÀI 1.1 Tổng quan các nghiên cứu về hiện tượng xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên

1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu về hiện tượng xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên trên thế giới

Hiện tượng xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên luôn được

các nhà nghiên cứu quan tâm Theo các nhà tâm lý học Liên Xô, xung đột xảy ra là

do mục đích và động cơ của các cá nhân mâu thuẫn nhau trong quá trình hoạt động chung của nhóm Các nhà tâm lý xã hội phương Tây lại rất quan tâm nghiên cứu nhóm nhỏ

Ngay từ năm 1904, G.S.Hall, người đầu tiên đưa ra khái niệm về tuổi thiếu niên, đây là giai đọan mà sự phát triển tâm lý đầy bất trắc, xung đột, khủng hoảng

tiêu cực [5; tr.26-30] Sau đó đã có hàng loạt nghiên cứu về vấn đề này

Theo S Freud: xung đột chủ yếu là do những xung lực bản năng vấp phải thực

tế (sự vật bên ngoài và ràng buộc xã hội) không thể thỏa mãn trực tiếp đầy đủ Đó là nguồn gốc của mọi hành vi, hành vi là do sự thỏa hiệp giữa các xung năng và thực

tế Xung đột là tình trạng thường xuyên trong thực tế

Theo thuyết “so sánh xã hội” của G N Fischer trong mỗi nhóm có một hệ thống chuẩn mực riêng do các thành viên trong nhóm xây dựng nên Chuẩn mực này có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm ràng buộc các cá nhân trong nhóm, tạo ra

sự thống nhất, duy trì trật tự, quyết định phương hướng phát triển, giảm bớt tính hỗn tạp trong nhóm Sự xuất hiện chuẩn mực nhóm chính là kết quả mà các cá nhân chấp nhận và gặp nhau ở các đánh giá, chính kiến sau khi đã gạt bỏ những xung đột [3]

J.Piaget cho rằng tuổi đầu vị thành niên là giai đoạn chuyển sang thao tác hình thức, nên có nét đặc trưng là phát triển năng lượng trừu tượng hóa các thao tác tư duy vượt ra khỏi những đối tượng của các thao tác đó là khuynh hướng lý luận hóa theo một lý luận nhất định – cái chung là cái chiếm ưu thế hơn cái riêng Lứa tuổi

Trang 17

này xử sự theo kiểu là cả thế giới này phải phụ thuộc vào các hệ thống chứ không phải các hệ thống phụ thuộc vào thực tại khách quan Do đó đã xuất hiện nhiều xung đột giữa các em với những người xung quanh vì tính hay lý luận và không chịu lắng nghe người khác [2; tr.4]

Nghiên cứu của nhà Tâm lý học T.A.Gavrinlova (1984) cho rằng mâu thuẫn trong quan hệ giữa cha mẹ và các em lứa tuổi vị thành niên thường nằm trong những vấn đề về quần áo, ăn mặc, bạn bè, những trò giải trí những khác biệt đó khá rõ nét Chính sự mâu thuẫn này là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến cha mẹ phải dùng những lời nói làm tổn thương con trẻ, những sự trừng phạt hay sự bao bọc quá mức đối với trẻ, mà theo chúng, tất cả những điều đó đều gây nên ở các

em cảm giác không được tôn trọng và bị kiểm soát [14; tr.30]

1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu về hiện tượng xung đột giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi thiếu niên tại Việt Nam

Tác giả Trần Trọng Thủy với công trình nghiên cứu “Xung đột và không khí tâm lý trong tập thể” (1987) đã cho rằng: “Xung đột là một hiện tượng nảy sinh trong hoạt động cùng nhau giữa các cá nhân trong tập thể Nó liên quan tới bầu không khí tâm lý trong tập thể”

Tác giả Nguyễn Thị Oanh (1995) với “Các phong cách giải quyết xung đột hữu hiệu” đã nêu lên bốn biện pháp trong việc giải quyết xung đột” Hay vấn đề xung đột cũng được tác giả Vũ Dũng đề cập trong cuốn “nghiên cứu ê kíp lãnh đạo” (1995)

Năm 2001 có luận án Tiến sĩ của Cao Thị Huyền Nga nghiên cứu về “Xung đột trong quan hệ vợ chồng”- Đại học Sư phạm Hà Nội

Năm 2005 tác giả Nguyễn Thị Tế - Đại học Sư Phạm Hà nội với công trình nghiên cứu về “một số biểu hiện xung đột tâm lý trong quan hệ cha mẹ và con cái thiếu niên về nhu cầu độc lập” Theo tác giả nguyên nhân chính dẫn đến xung đột giữa cha mẹ và con cái ở tuổi thiếu niên là do sự khác biệt về nhận thức giữa cha

mẹ và thiếu niên liên quan đến quyền được thỏa mãn nhu cầu độc lập

Trang 18

1.2 Lý luận về xung đột

1.2.1 Khái niệm xung đột

Khái niệm “xung đột” được hiểu là sự tương tác, đối đầu công khai trong mối

quan hệ mâu thuẫn giữa hai bên bằng hành vi có thể quan sát được Đó là “sự va

chạm nhau, mâu thuẫn, đụng độ, chống đối nhau” Từ điển Tiếng Việt có chỉ ra một

số khái niệm tương tự với “xung đột”, trong đó khái niệm “sự va chạm” thường được các nhà tâm lý học sử dụng nhiều hơn cả “Sự va chạm” có ý nghĩa rất rộng,

từ những biểu hiện ở mức độ thấp “sự tranh chấp”, “sự đấu tranh”,… đến mức độ cao và có cường độ mạnh hơn như “sự đối lập”, “sự đối kháng”, nhưng những biểu hiện này đều có đặc điểm giống nhau là đều thể hiện sự tương tác, đối đầu công khai trong các mối quan hệ

Từ điển Xã hội học thì cho rằng: “Xung đột là những mâu thuẫn tranh chấp,

giữa hai hoặc nhiều nhóm cá nhân hay nhóm tổ chức, quốc gia về quyền lợi hoặc giá trị”

Nhà tâm lý học L.A.Karpencô cho rằng: “Xung đột tâm lý là sự va chạm có tính đối kháng của các định hướng, khuynh hướng không tương hợp nhau về nhận thức ở trong một cá nhân, trong mối quan hệ liên nhân cách của các cá nhân hay nhóm người có mối liên hệ với những trải nghiệm cảm xúc cực kì tiêu cực” [8; tr.37]

Theo tác giả Vũ Dũng trong cuốn Tâm lý học xã hội cho rằng: “Xung đột là sự khác biệt về quan điểm, mục đích, động cơ … giữa các thành viên trong quá trình hoạt động chung của nhóm” [8; tr.37]

Như vậy dù nhìn ở các góc độ nào thì các tác giả đều có những điểm tương đồng trong việc xác định nội hàm của khái niệm xung đột Trong đề tài này chúng

tôi sử dụng khái niệm xung đột của tác giả Đỗ Hạnh Nga: Xung đột là sự va chạm, mâu thuẫn ở mức độ cao của các xu hướng đối lập nhau trong tâm lý – ý thức của mỗi cá nhân, trong quan hệ qua lại của các cá nhân hay các nhóm người,

nó biểu hiện trong các trãi nghiệm cảm xúc kèm theo những chấn động về tình cảm (thường là những cảm xúc âm tính: bực bội, khó chịu, căm giận…)

Trang 19

1.2.2 Bản chất của xung đột

Có nhiều quan điểm khác nhau về bản chất của xung đột Parker Follet cho rằng, xung đột cần phải được hiểu như sự khác biệt - khác biệt về quan điểm và lợi ích

C Mác viết: Suy cho cùng, mọi mâu thuẫn trong xã hội là mâu thuẫn lợi ích Chính lợi ích mới là nguồn gốc sâu xa của xung đột Khi con người có mâu thuẫn lợi ích (có thể là vật chất hoặc tinh thần) thì rất dễ xảy ra xung đột Mức độ lợi ích của mỗi bên trong mâu thuẫn sẽ chi phối mức độ xung đột Nếu lợi ích đối kháng nhau thì xung đột sẽ rất mạnh mẽ và có thể loại trừ nhau Trong xung đột, mọi người nhận diện ra sự khác biệt giữa mình và với người khác Tùy mức độ mâu thuẫn lợi ích mà họ nhìn người khác như đối thủ hoặc như kẻ thù

Tác giả Vũ Dũng cũng cho rằng xung đột là sự khác biệt về quan điểm mục đích, động cơ khi thực hiện hoạt động nhóm

Như vậy theo các tác giả, xung đột là do khác biệt về một điều gì đó Nhưng thực tế, nhiều sự khác biệt không dẫn đến xung đột Sự khác biệt là tất yếu trong cuộc sống Mặc dù có sự khác biệt nhưng con người vẫn có thể dung hòa với nhau, nhường nhịn nhau và xử lý các mâu thuẫn bằng hòa giải hoặc một bên chấp nhận sự thua thiệt để giữ lấy sự cân bằng

Khi có xung đột xảy ra, người ta phải tìm hiểu ngay lợi ích mỗi bên để xác định mức độ xung đột Nhìn hình thức bên ngoài, có khi chỉ là vấn đề quan điểm về một vấn đề Nhưng bên trong có thể là sự khẳng định bản thân của mỗi người (lợi ích tinh thần)

Từ các phân tích trên có thể thấy, bản chất của xung đột là các mâu thuẫn lợi ích giữa các thành viên của nhóm hoặc của các bộ phận trong nhóm Điều hòa các lợi ích cho phù hợp là một biện pháp quan trọng để phòng ngừa xung đột xảy ra.[11]

1.2.3 Các hình thức xung đột

Theo Pruit và Gahagam (1974) thì có 3 hình thức xung đột cơ bản: Kẻ xâm lược - kẻ tự vệ; xung đột theo đường xoắn ốc và thay đổi cấu trúc

Trang 20

+ Hình thức xung đột kẻ xâm lược - kẻ tự vệ: Đây là xung đột thường bị quy

định bởi tư duy của những người lãnh đạo xã hội Xung đột mang tính xã hội có thể xảy ra ở quy mô lớn và có hậu quả ghê gớm

+ Hình thức xung đột theo đường xoắn ốc: Hình thức này có đặc điểm xung đột phát sinh ra xung đột Kết quả là xung đột tiếp tục leo thang phát triển theo đường xoắn ốc

+ Hình thức xung đột thay đổi cấu trúc: Xung đột thay đổi cấu trúc liên quan đến sự tương tác có tính động thái giữa cái bên trong quá trình diễn biến của xung đột Xung đột này thay đổi về sự tồn tại vị trí của các bên tham gia xung đột một cách vĩnh viễn Sự thay đổi có thể xảy ra ở các lĩnh vực cơ bản: trong cấu trúc xã hội của các bên tham gia, trong quan điểm, thái độ, động cơ, trong những vấn đề nổi bật

1.2.4 Ảnh hưởng của xung đột

1.2.4.1 Mặt tích cực

Xung đột là một hiện tượng đời thường và nó có ý nghĩa tích cực như một nhà nghiên cứu từng nói rằng: Xung đột là động lực sự phát triển, xung đột giúp: giải tỏa thần kinh (nói ra được điều khúc mắc), dẫn đến sự hiểu biết, thông cảm với nhau, đôi khi còn giúp nhóm phát triển, làm hoàn hảo hơn các chuẩn mực, các quy chế ban hành Cũng cần nhấn mạnh rằng có những xung đột mang tính tích cực, thông thường đó là xung đột đơn thuần về ý kiến, phương thức hoạt động, không phải là các xung đột lợi ích Các xung đột được gọi là tích cực có thể đem lại một động lực mới cho sự phát triển của một nhóm Dạng xung đột này có thể giúp nhóm thoát khỏi trạng thái ỳ, khi các cá nhân đồng thuận đến mức bị động [11]

1.2.4.2 Mặt tiêu cực

Xung đột thường gắn với những cảm xúc mang tính tiêu cực Như xung đột thuờng gây nên bầu không khí tâm lý căng thẳng nặng nề, gây stress cho các thành viên trong nhóm Mỗi thành viên trong nhóm có thể cảm thấy bất hạnh, bế tắc, hụt hẫng Nếu như xung đột phát triển thành bạo hành ngược đãi dễ khiến cho các thành

Trang 21

viên tự hủy hoại lẫn nhau Mối quan hệ thêm khủng hoảng thậm chí có thể dẫn đến tan vỡ nhóm

Xung đột có tác hại rất lớn đến nhóm và mỗi cá nhân Khi nhóm có xung đột, bầu không khí của nhóm bị phá vỡ Môi trường sống yên bình của cá nhân bị đảo lộn làm người ta sống trong trạng thái căng thẳng, không có lợi cho sức khỏe thể chất và tinh thần của con người Sau mỗi lần xung đột cá nhân phải mất thời gian thể nghiệm lại bản thân nên vừa mất thời gian vừa bị phân tán tư tưởng trong công việc Do đó, những người bị lôi kéo vào xung đột sẽ làm việc kém hiệu quả và dễ gây tai nạn vì không tập trung

Đối với toàn nhóm, khi có xung đột, nhóm không thể thống nhất ý kiến và hành động nên năng suất lao động sẽ giảm đi, mọi người dễ nghi kị nhau.[11]

1.2.5 Các phương pháp giải quyết xung đột

- Muriel Zamses cho rằng phản ứng với xung đột thường diễn ra như sau: + Sự kiềm chế biết tự chủ

+ Phản ứng bằng thái độ hoàn toàn cự tuyệt việc giải quyết vấn đề

+ Thống nhất: Đó là việc đối diện trực tiếp với vấn đề bóc trần các mâu thuẫn

- Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh, có 4 cách giải quyết xung đột đó là:

+ Lờ nó đi, bỏ qua để sống hoà thuận

+ Khoan dung với nó

+ Đấu tranh một cách công bằng

+ Quản lý xung đột bằng cách bình tĩnh bày tỏ quan điểm

Trang 22

Nhưng các cách giải quyết khác nhau thì đều phải dựa trên nguyên tắc chung:

- Phải xác định nguyên nhân gây xung đột (nguyên nhân gốc rễ) Phải lắng nghe với thái độ thiện chí không xem nhẹ, không bỏ qua chi tiết

- Nắm lấy thực chất của sự bất đồng, không đi chệch đề tài, không nóng giận, phải cần nhiều thời gian

- Thảo luận chân thành, không sỉ nhục miệt thị lẫn nhau

- Tìm biện pháp đàm phán – dung hòa

Nhìn chung muốn giải quyết xung đột cần phải có những cuộc trò chuyện tâm tình cởi mở lắng nghe từ hai phía

1.3 ặc điểm tâm - sinh lý của tuổi thiếu niên

1.3.1 Khái niệm lứa tuổi thiếu niên

Lứa tuổi học sinh trung học cơ sở (THCS) bao gồm những em có độ tuổi từ

11, 12 tuổi đến 14, 15 Đó là những em đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 trường THCS

Lứa tuổi này còn gọi là lứa tuổi thiếu niên và nó có một vị trí đặc biệt trong thời kỳ phát triển của trẻ em Người ta gọi trẻ trong giai đoạn này với những tên gọi khác nhau như “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị”… Những tên gọi đó nói lên tầm quan trọng và tính phức tạp của lứa tuổi đang

có những biến đổi về mặt tâm - sinh lý khác hẳn giai đoạn trước

1.3.2 Vị trí, ý nghĩa của lứa tuổi thiếu niên

Tuổi thiếu niên có vị trí và ý nghĩa đặc biệt trong suốt quá trình phát triển của

cả đời người Điều này được thể hiện ở những điểm sau:

– Thứ nhất: Đây là thời kì quá độ từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành, thời kì trẻ

ở "ngã ba đường" của sự phát triển trong đó có rất nhiều khả năng, nhiều phương

án, nhiều con đường để mỗi trẻ em trở thành một cá nhân Trong thời kì này, nếu sự phát triển được định hướng đúng, được tạo thuận lợi thì trẻ em sẽ trở thành cá nhân thành đạt, công dân tốt Ngược lại, nếu không được định hướng đúng, bị tác động bởi các yếu tố tiêu cực thì sẽ xuất hiện hàng loạt nguy cơ dẫn trẻ em đến bên bờ của

sự phát triển lệch lạc về nhận thức, thái độ, hành vi và nhân cách

Trang 23

– Thứ hai: Thời kì mà tính tích cực xã hội của trẻ em được phát triển mạnh

mẽ, đặc biệt trong việc thiết lập các quan hệ bình đẳng với người lớn và bạn ngang hàng; trong việc lĩnh hội các chuẩn mực và giá trị xã hội Thiết kế tương lai của mình và những kế hoạch hành động cá nhân tương ứng

– Thứ ba: Trong suốt thời kì tuổi thiếu niên đều diễn ra sự cấu tạo lại, cải tổ

lại, hình thành các cấu trúc mới về thể chất, sinh lý, về hoạt động, tương tác xã hội

và tâm lý, nhân cách Từ đó hình thành cơ sở nền tảng và vạch chiều hướng cho sự trưởng thành thực thụ của cá nhân

– Thứ tư: Tuổi thiếu niên là giai đoạn khó khăn, phức tạp và đầy mâu thuẫn

trong quá trình phát triển

Ngay các tên gọi của thời kì này: Thời kì quá độ, tuổi bứt phá, tuổi khó khăn, tuổi khủng hoảng… đã nói lên tính phức tạp và quan trọng của quá trình phát triển diễn ra trong lứa tuổi thiếu niên:

Sự phức tạp thể hiện qua tính hai mặt của hoàn cảnh phát triển của trẻ: Một mặt có những yếu tố thúc đẩy phát triển tính cách của người lớn Mặt khác hoàn cảnh sống của các em có những yếu tố kìm hãm sự phát triển tính người lớn: phần lớn thời gian các em bận học, ít có nghĩa vụ khác với gia đình, nhiều bậc cha mẹ quá chăm sóc trẻ Không để các em phải chăm lo công việc gia đình…

Trong quá trình phát triển, tuổi thiếu niên thường xuất hiện nhiều mâu thuẫn: Mâu thuẫn ngay trong nhận thức và nhu cầu nội tại của trẻ trong quá trình phát triển; mâu thuẫn giữa trẻ em với người lớn trong quan niệm và cách hành xử của người lớn đối với trẻ [4; tr.170]

1.3.3 ặc điểm phát triển về thể chất của tuổi thiếu niên

1.3.3.1 Sự phát triển của chiều cao và trọng lượng

Chiều cao của các em tăng rất nhanh: trung bình một năm, các em gái cao thêm 5 – 6cm, các em trai cao thêm 7 – 8 cm Trọng lượng cơ thể của các em tăng

từ 2 – 5kg/năm, sự tăng vòng ngực của thiếu niên trai và gái…Sự gia tốc phát triển

về thể chất của các em biểu hiện đặc biệt trong lứa tuổi thiếu niên Trong vòng 20 –

Trang 24

30 năm trước đây, thiếu niên phát triển với nhịp độ nhanh chóng, các em trở nên cao, to, khỏe mạnh hơn những thiếu niên cùng tuổi ở 30 năm trước [4; tr.171]

1.3.3.2 Sự phát triển hệ xương

Hệ xương đang diễn ra quá trình cốt hóa về hình thái, làm cho thiếu niên lớn lên rất nhanh, xương sọ phần mặt phát triển mạnh Ở các em gái đang diễn ra quá trình hoàn thiện các mảnh xương chậu (chứa đựng chức năng làm mẹ sau này) và kết thúc vào tuổi 20 – 21 Bởi vậy, cần tránh cho các em đi giày, guốc cao gót, tránh nhảy quá cao để khỏi ảnh hưởng đến chức năng sinh sản của các em [4; tr.172] Mặt khác trong sự phát triển hệ xương chân, xương tay phát triển nhanh nhưng xương cổ tay và các đốt ngón tay chưa hoàn thiện nên các thao tác hành vi ở các em còn lóng ngóng, làm gì cũng đổ vỡ, hậu đậu Sự mất cân đối này sẽ diễn ra trong thời gian ngắn, cuối tuổi thiếu niên sự phát triển thể chất sẽ êm ả hơn

Từ 12 – 15 tuổi, phần tăng thêm của xương sống phát triển chậm hơn so với nhịp độ lớn lên về chiều cao của thân thể Dưới 14 tuổi vẫn còn có các đốt sụn hoàn toàn giữa các đốt xương sống, do đó, cột sống dễ bị cong, bị vẹo khi đứng – ngồi – vận động, mang vác vật nặng… không đúng tư thế (sự hỏng tư thế diễn ra nhiều nhất ở tuổi 11 – 15) Do đó cần lưu ý nhắc nhở giúp các em tránh những sai lệch về cột sống Khuôn mặt thiếu niên cũng thay đổi so sự phát triển nhanh chóng phần phía trước của hộp xương sọ Điều này khiến cho tỷ lệ chung ở thân thể thiếu niên thay đổi so với trẻ nhỏ và đã xấp xỉ tỷ lệ đặc trưng cho người lớn Đến cuối tuổi thiếu niên, sự phát triển thể chất đạt mức tối đa [4; tr.172]

1.3.3.3 Sự phát triển hệ thần kinh, não bộ

Sự phát triển của hệ thần kinh không cân đối Hệ thần kinh chưa vững để có thể chịu những kích thích mạnh, đơn điệu hoặc kéo dài (dễ bị ức chế hoặc bị kích thích mạnh)

Sự phát triển hệ thống tín hiệu thứ nhất và tín hiệu thứ hai, giữa hưng phấn và

ức chế cũng diễn ra mất cân đối (hưng phấn mạnh hơn ức chế) Quá trình hưng phấn chiếm ưu thế rõ rệt khiến thiếu niên không làm chủ được cảm xúc của mình,

Trang 25

không kiềm chế được xúc động mạnh Các em dễ bị kích động, dễ bực tức, cáu gắt, mất bình tĩnh…

Trong lứa tuổi thiếu niên có sự thay đổi đột ngột bên trong cơ thể do những thay đổi trong hệ thống các tuyến nội tiết đang hoạt động tích cực (đặc biệt những hoocmone của tuyến giáp trạng, tuyến sinh dục) Do hệ thống tuyến nội tiết và hệ thần kinh có liên quan với nhau về chức năng nên một mặt nghị lực của thiếu niên tăng lên mạnh mẽ, mặt khác các em lại nhạy cảm cao với các tác động gây bệnh Vì vậy, làm việc quá sức, sự căng thẳng thần kinh kéo dài, sự xúc động và những cảm xúc tiêu cực có thể là nguyên nhân gây rối loạn nội tiết và rối loạn chức năng của hệ thần kinh

Hệ cơ phát triển chậm hơn hệ xương Trong sự phát triển của hệ xương thì xương tay, xương chân phát triển mạnh nhưng xương lồng ngực phát triển chậm hơn Sự phát triển giữa xương bàn tay và các xương đốt ngón tay không đồng đều

Sự cải tổ bộ máy vận động làm mất đi sự nhịp nhàng của các cử động, làm thiếu niên lúng túng, vụng về, vận động thiếu hài hòa, nảy sinh ở các em các cảm xúc không thoải mái, không tự tin

Hệ tim mạch phát triển cũng không cân đối Thể tích tim tăng nhanh, tim to hơn, hoạt động mạnh hơn, trong khi đường kính của các mạch máu lại phát triển chậm hơn dẫn đến sự rối loạn tạm thời của tuần hoàn máu Do đó thiếu niên thường

bị mệt mỏi, chóng mặt, nhức đầu, huyết áp tăng… khi phải làm việc quá sức hoặc làm việc trong thời gian kéo dài

1.3.3.4 Sự xuất hiện của tuyến sinh dục (hiện tượng dậy thì)

Sự trưởng thành về mặt sinh dục là yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển cơ thể của lứa tuổi thiếu niên Dấu hiệu dậy thì ở em gái là sự xuất hiện kinh nguyệt,

sự phát triển tuyến vú Ở em trai là hiện tượng “vỡ giọng”, sự tăng lên của thể tích tinh hoàn và bắt đầu có hiện tượng “mộng tinh” Tuổi dậy thì ở các em gái Việt Nam vào khoảng 12 – 14 tuổi, ở các em trai bắt đầu và kết thúc chậm hơn các em gái khoảng từ 1,5 đến 2 năm Dấu diệu phụ báo tuổi dậy thì có sự khác nhau giữa các em trai và gái Các em trai cao rất nhanh, giọng nói ồm ồm, vai to, có ria mép…

Trang 26

Các em gái cũng lớn nhanh, thân hình duyên dáng, da dẻ hồng hào, tóc mượt mà, môi đỏ, giọng nói trong trẻo…[4; tr.174-175]

Sự xuất hiện tuổi dậy thì phụ thuộc yếu tố khí hậu, thể chất, dân tộc, chế độ sinh hoạt (vật chất, tinh thần…), lối sống… Tuy nhiên, hiện nay do gia tốc phát triển thể chất và phát dục nên tuổi dậy thì có thể đến sớm hơn từ 1,5 – 2 năm Đến

15 – 16 tuồi, giai đoạn dậy thì kết thúc Các em có thể sinh sản được nhưng các em chưa trưởng thành về mặt cơ thể, đặc biệt về mặt tâm lý và xã hội Bởi vậy lứa tuổi học sinh THCS không được coi là có sự cân đối giữa sự phát dục, giữa bản năng tương ứng, những tình cảm và ham muốn tình dục với mức trưởng thành về xã hội

và tâm lý Vì thế, người lớn (cha mẹ, giáo viên, các nhà giáo dục…) cần hướng dẫn, trợ giúp một cách khéo léo, tế nhị để các em hiểu đúng vấn đề, biết xây dựng mối quan hệ đúng đắn với bạn khác giới… và không băn khoăn lo lắng khi bước vào tuổi dậy thì [4; tr.175]

Sự phát dục và những biến đổi trong sự phát triển thể chất của tuổi thiếu niên

có ý nghĩa quan trọng đối với sự xuất hiện những cấu tạo tâm lý mới Những biến đổi rõ rệt về mặt giải phẫu sinh lý đối với thiếu niên đã làm cho các em trở thành một người lớn một cách khách quan và làm nảy sinh cảm giác về tính người lớn của bản thân các em Sự phát dục làm cho thiếu niên xuất hiện những cảm giác, tình cảm và rung cảm mới mang tính chất giới tính, các em quan tâm nhiều hơn đến bạn khác giới Tuy nhiên, những ảnh hưởng trên đến sự phát triển tâm lý của học sinh THCS còn phụ thuộc nhiều yếu tố: kinh nghiệm sống, đặc điểm giao tiếp của thiếu niên, những hoàn cảnh riêng trong cuộc sống và điều kiện giáo dục (gia đình và nhà trường) đối với các em [4; tr.175]

1.3.4 Hoạt động của tuổi thiếu niên

1.3.4.1 Hoạt động giao tiếp ở lứa tuổi thiếu niên

- Giao tiếp với người lớn

Học sinh THCS có nhu cầu được tôn trọng cao trong quá trình giao tiếp với người lớn Các em đòi hỏi được bình đẳng, tôn trọng, được đối xử như người lớn, được hợp tác, cùng hoạt động với người lớn Nếu người lớn ra lệnh với các em thì

Trang 27

bằng cách này hay cách khác sẽ xuất hiện thái độ phản ứng tiêu cực, công khai hoặc ngấm ngầm Mặt khác, các em có khát vọng độc lập, được khẳng định, không thích

sự quan tâm, can thiệp của người lớn, không thích có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của người lớn Rất dễ dẫn đến tình trạng mâu thuẫn, xung đột trong gia đình (lời

nói, việc làm, bỏ nhà ra đi…) [4; tr.180]

Trong quan hệ với người lớn, ở thiếu niên thường xuất hiện nhiều mâu thuẫn

Do sự phát triển mạnh về thể chất và tâm lý nên trong quan hệ với người lớn, thiếu niên có nhu cầu thoát ly khỏi sự giám sát của người lớn, muốn độc lập Tuy nhiên

do địa vị còn lệ thuộc, do chưa có nhiều kinh nghiệm ứng xử và giải quyết vấn đề liên quan trực tiếp tới hoạt động và tương lai cuộc sống nên các em vẫn có nhu cầu được người lớn gần gũi, chia sẻ và định hướng cho mình, làm gương để mình noi theo Mặt khác là mâu thuẫn giữa sự phát triển nhanh, bất ổn định về thể chất, tâm

lý và vị thế xã hội của trẻ em với nhận thức và hành xử của người lớn không kịp sự thay đổi đó Vì vậy người lớn vẫn thường có thái độ và cách cư xử với các em như với trẻ nhỏ [4; tr.180-181]

Trong tương tác với người lớn, thiếu niên thường cường điệu hóa các tác động của người lớn trong ứng xử hằng ngày Các em thường suy diễn, thổi phồng, cường điệu hóa quá mức tầm quan trọng của các tác động đó, đặc biệt là đến danh dự và lòng tự trọng của các em Trong khi đó, hành vi của chính các em có thể gây hậu quả đến tính mạng mình lại thường bị các em coi nhẹ Vì vậy, chỉ cần một sự tác động của người lớn làm tổn thương chút ít đến các em thì trẻ thiếu niên coi đó là sự xúc phạm lớn, sự tổn thất nghiêm trọng, từ đó dẫn đến các phản ứng tiêu cực cường

độ mạnh [4; tr.181]

- Giao tiếp với bạn bè

Ở tuổi thiếu niên, giao tiếp với bạn trở thành một hoạt động riêng và chiếm vị trí quan trọng trong đời sống các em Nhiều khi giá trị này cao đến mức đẩy lùi học tập xuống hàng thứ 2 và làm cho các em sao nhãng việc giao tiếp với người thân [4; tr.182]

Trang 28

Các em giao tiếp với bạn để khẳng định mình, trao đổi những nhận xét, tình cảm, ý chí, tâm tư, khó khăn của mình trong quan hệ với bạn, với người lớn… các

em mong muốn có bạn thân để chia sẻ, giải bày tâm sự, vướng mắc, băn khoăn Trong cuộc sống hằng ngày, các em không thể không có bạn Sự tẩy chay của bạn bè, của tập thể có thể thúc đẩy các em sửa chữa để hòa nhập với bạn, cũng có thể làm cho các em tìm kiếm và gia nhập nhóm bạn ngoài đường; hoặc nảy sinh các hành vi tiêu cực như phá phách, gây hấn… hoặc cũng có thể khiến các em cảm thấy

bế tắc và chán nản

Thiếu niên coi quan hệ với bạn là quan hệ riêng cá nhân và các em muốn được độc lập, không muốn người lớn can thiệp Người bạn kết giao phải là người tôn trọng, trung thực, cởi mở, hiểu biết và sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau.Thiếu niên yêu cầu rất cao về phía bạn cũng như bản thân Vì vậy, các em thường lên án những thái độ

và hành vi từ chối giúp bạn, ích kỷ, tham lam, tự phụ, hay nói xấu bạn, nịnh bợ Sắc thái giới tính trong quan hệ với bạn ở thiếu niên: sự dậy thì kích thích thiếu niên quan tâm đến bạn khác giới Xuất hiện những rung động, những cảm xúc mới lạ với bạn khác giới Sự quan tâm đến bạn khác giới có ý nghĩa đối với sự phát triển nhân cách học sinh THCS: có thể động viên những khả năng của thiếu niên, gợi nên những nguyện vọng tốt Trong giao tiếp với bạn khác giới, các em cũng thể hiện mâu thuẫn giữa ý muốn, nhu cầu với hành vi thể hiện (có nhu cầu giao tiếp với bạn khác giới nhưng lại cố ngụy trang ý muốn, che giấu nội tâm của mình) Các bạn nam thể hiện khá mạnh mẽ, đôi khi còn thô bạo, “gây sự” với bạn nữ để bạn chú ý tới mình Các em nữ thường kín đáo, tế nhị hơn (các em thường chú ý đến hình thức của mình, trang phục, cách ứng xử, che giấu, tình cảm của mình…)

1.3.4.2 Hoạt động học tập ở lứa tuổi thiếu niên

Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo ở tuổi thiếu niên và đến tuổi này nó được xây dựng một cách cơ bản so với lứa tuổi tiểu học Ở trường THCS, việc học tập của các em phức tạp hơn so với trước, các em học tập có phân môn Mỗi môn học gồm những khái niệm, những quy luật được sắp xếp một cách có hệ thống tương đối sâu sắc Điều đó đòi hỏi các em phải có tính tự giác và độc lập cao

Trang 29

Những tri thức mang tính logic, tính khái quát ở mỗi môn đòi hỏi ở thiếu niên tính tích cực cao, đòi hỏi sự tập trung chú ý có chủ định, đòi hỏi sự ghi nhớ có ý nghĩa Quan hệ giữa giáo viên với học sinh cũng thay đổi khác trước Các em được tiếp xúc với nhiều thầy cô giáo hơn Mỗi giáo viên có cách dạy và yêu cầu đối với môn học khác nhau Quan hệ giữa giáo viên với học sinh cũng xa cách hơn so với bậc tiểu học

Nội dung học tập: các môn học phong phú, đa dạng đòi hỏi các em phải có tư duy độc lập, khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa, so sánh phán đoán .Do vậy,

tư duy trừu tượng của các em lứa tuổi này phát triển mạnh mẽ, lĩnh hội được nhiều kiến thức khoa học nền tảng

Thái độ học tập của các em ở giai đoạn này là hầu hết các em có ý thức hiểu tầm quan trọng và cần thiết của nhiệm vụ học tập nhưng biểu hiện thái độ rất khác nhau [4, tr.177-178]

1.3.5 Đặc điểm phát triển tâm lý của tuổi thiếu niên

1.3.5.1 Hoạt động nhận thức của tuổi thiếu niên

- Tri giác

Ở học sinh THCS, khối lượng các đối tượng tri giác được tăng lên rõ rệt Tri giác của các em có trình tự, có kế hoạch và hoàn thiện hơn Các em có khả năng phân tích và tổng hợp phức tạp khi tri giác sự vật, hiện tượng Các em đã sử dụng

hệ thống thông tin cảm tính linh hoạt tuỳ thuộc vào nhiệm vụ của tư duy Khả năng quan sát phát triển, tạo thành thuộc tính ổn định của cá nhân Tuy nhiên tri giác của học sinh THCS còn một số hạn chế: thiếu kiên trì, còn vội vàng, hấp tấp trong tri giác, tính tổ chức, tính hệ thống trong tri giác còn yếu [4; tr187]

- Trí nhớ

Ghi nhớ có ý nghĩa, ghi nhớ lôgíc đang dần được chiếm ưu thế hơn ghi nhớ máy móc Trong khi tái hiện tài liệu, các em đã biết dựa vào lôgíc của vấn đề nên nhớ chính xác và lâu hơn Các em có khả năng sử dụng các loại trí nhớ một cách hợp lí, biết tìm ra các phương pháp ghi nhớ, nhớ lại thích hợp, có hiệu quả, biết phát huy vai trò của tư duy trong các quá trình ghi nhớ Như vậy, kĩ năng tổ chức hoạt

Trang 30

động tư duy của thiếu niên để ghi nhớ tài liệu, kĩ năng nắm vững những phương tiện ghi nhớ được phát triển ở mức độ cao hơn nhiều so với nhi đồng [4; tr.187]

Tuy nhiên, ghi nhớ của thiếu niên cũng còn thiếu sót: Các em thường bị mâu thuẫn trong việc ghi nhớ: mặc dù có khả năng ghi nhớ ý nghĩa song các em vẫn tuỳ tiện trong ghi nhớ, khi gặp khó khăn lại từ bỏ ghi nhớ Các em chưa hiểu đúng vại trò của ghi nhớ máy móc, coi đó là học vẹt nên coi thường loại ghi nhớ này, các em không nhớ được tài liệu [4; tr.187-188]

- Chú ý

Ở học sinh THCS, chú ý có chủ định được tăng cường hơn so với nhi đồng Các phẩm chất chú ý của thiếu niên mang nội dung mới Sức tập trung chú ý cao hơn, khối lượng chú ý nhiều hơn, khả năng di chuyển được tăng cường rõ rệt, khả năng duy trì chú ý được lâu bền hơn so với nhi đồng Chú ý của các em thể hiện tính lựa chọn rất rõ Sự lựa chọn phụ thuộc vào tính chất của đối tượng và hứng thú của thiếu niên đối với nó

Tuy nhiên; trong sự phát triển chú ý của thiếu niên cũng có mâu thuẫn: Một mặt, chú ý có chủ định của các em phát triển mạnh Mặt khác, những ấn tượng và rung động mạnh mẽ, phong phú lại làm cho sự chú ý của các em không bền vững Điều này phụ thuộc vào hứng thú nhận thức, vào tài liệu cần lĩnh hội, vào tâm trạng, thái độ của các em trong giờ học [4; tr.188]

- Tư duy

Chuyển từ tư duy cụ thể sang tư duy trừu tượng là nét đặc thù trong sự phát triển tư duy của thiếu niên Tuy nhiên, ở đầu cấp THCS, thành phần của tư duy cụ thể vẫn phát triển và giữ vai trò quan trọng trong cấu trúc tư duy Sang các lớp cuối cấp, tư duy trừu tượng của thiếu niên phát triển mạnh Các em có khả năng phân tích tài liệu tương đối đầy đủ, sâu sắc, biết phân tích các yếu tố bản chất, những mối liên hệ, quan hệ của tài liệu Khả năng khái quát hoá, trừu tượng hóa ở thiếu niên phát triển, các em biết thâu tóm những đặc điểm chung, bản chất của nhiều sự vật, hiện tượng, biết trừu xuất những yếu tố không bản chất để lĩnh hội khái niệm Khả năng suy luận của thiếu niên tương đối hợp lí và có cơ sở xác thực [4; tr.188]

Trang 31

Khác với nhi đồng, thiếu niên phân tích nhiệm vụ trí tuệ bằng cách tạo ra những giả định khác nhau, những liên hệ giữa chúng và kiểm tra những giả thuyết này Các em phát triển kĩ năng sử dụng những giả thuyết để giải quyết các nhiệm vụ trí tuệ trong việc phân tích hiện thực Tư duy bằng những giả định là công cụ đặc biệt của suy luận khoa học Thiếu niên muốn độc lập lĩnh hội tri thức, muốn giải quyết nhiệm vụ theo những quan điểm, lập luận, cách diễn đạt riêng không thích trả lời máy móc như nhi đồng Các em không dễ tin, không dễ chấp nhận ý kiến người khác, muốn tranh luận, chứng minh vấn đề một cách sát thực, rõ ràng Thậm chí đôi khi muốn phê phán những kết luận, những phán đoán của người khác Thiếu niên thích tìm hiểu những vấn đề mang tính chất phức tạp, khó khăn cao trong tư duy, không thích các tri thức khuôn mẫu, bày sẵn Các em muốn tham gia các hoạt động giải trí cần sử dụng khả năng trí tuệ và thích những vấn đề có lính phản đề Tuy nhiên, mức độ và chất lượng tư duy trừu tượng không được hình thành như nhau ở mọi thiếu niên [4; tr.188-189]

Có những học sinh thuộc bài nhưng không hiểu bài (nắm khái niệm lý luận rất khó nếu không dựa vào dữ kiện cảm tính, kinh nghiệm thì khó nắm được tài liệu) Ngược lại, có nhiều em nắm chắc lý luận, khái niệm mang tính chất khái quát nhưng coi thường thực tiễn, do đó khái niệm thoát li khỏi thực tiễn Sự hình thành tính độc lập và sáng tạo là một đặc điểm quan trọng trong sự phát triển tư duy của thiếu niên Trên thực tế, tư duy của thiếu niên còn bộc lộ một số hạn chế: Một số em nắm dấu hiệu bề ngoài của khái niệm khoa học dễ hơn các dấu hiệu bản chất của nó; các em hiểu dấu hiệu bản chất của khái niệm nhưng không phải lúc nào cũng phân biệt được các dấu hiệu đó trong mọi trường hợp; hay gặp khó khăn trong khi phân tích mối liên hệ nhân quả… Ngoài ra đối với một số thiếu niên, hoạt động nhận thức chưa trở thành hoạt động độc lập, tinh thần kiên trì trong học tập còn yếu Các em thích học nhanh nhưng ngại suy nghĩ, không có nhu cầu tìm hiểu vấn đề phức tạp, chỉ thích những vấn đề nhanh chóng đưa lại kết quả [4; tr.189]

Trang 32

- Tưởng tượng và ngôn ngữ

Khả năng tưởng tượng ở thiếu niên khá phong phú nhưng còn bay bổng, thiếu thực tiễn

Ngôn ngữ của thiếu niên đang phát triển mạnh Vốn từ tăng lên rõ rệt Ngôn ngữ của các em phức tạp, phong phú hơn, tính hình tượng và trình độ lôgíc chặt chẽ trong ngôn ngữ của thiếu niên phát triển ở mức cao hơn so với nhi đồng Tuy nhiên, ngôn ngữ của thiếu niên cũng còn hạn chế Khả năng dùng từ để biểu đạt ý nghĩa còn hạn chế, các em còn dùng từ chưa chính xác, chưa chú ý cách diễn đạt theo cấu trúc ngữ pháp chặt chẽ; một số em thích dùng từ cầu kì bóng bẩy nhưng sáo rỗng do

ý muốn bắt chước người lớn, hoặc sử dụng một số thành ngữ dung tục [4; 190]

tr189-1.3.5.2 Đặc điểm phát triển nhân cách của tuổi thiếu niên

Việc nhận thức về mình còn thông qua việc đối chiếu so sánh mình với người khác Nhưng khi đánh giá người khác, các em còn chủ quan, nông cạn, nhiều khi chỉ dựa vào một vài hình tuợng không rõ ràng, các em đã vội kết luận hoặc chỉ chú

ý vào một vài phẩm chất nào đó mà quy kết toàn bộ Vì thế, người lớn rất dễ mà cũng rất khó gây uy tín với thiếu niên Và khi đã có kết luận đánh giá về một người nào đó, các em thường có ấn tượng dai dẳng, sâu sắc Đánh giá không chính xác mình và người khác cũng là tác nhân gây nên căng thẳng ở các em

Sự phát triển của tự ý thức là một trong những phẩm chất nhân cách nổi bật ở tuổi thiếu niên Thiếu niên có mối quan hệ phong phú với hiện thực xung quanh Họ

có ý thức về mình là một nhân cách có quyền được tôn trọng, được độc lập và được tin cậy như mọi người lớn khác Họ tích cực lĩnh hội từ thế giới người lớn những giá trị, những chuẩn mực và phương thức hành vi khác nhau, nhờ đó những phẩm chất mới về tự ý thức, tự đánh giá được hình thành

Khác với học sinh nhỏ, thiếu niên có nhu cầu hiểu biết những đặc điểm của bản thân, suy nghĩ về chính mình và tự đánh giá về mình để đi đến chỗ hài lòng hay bất mãn với chính mình Thiếu niên thường tự phân tích nhân cách của mình và coi

sự phân tích đó như là một phương tiện cần thiết để điều chỉnh, tổ chức những mối

Trang 33

quan hệ đối với hoạt động, với bạn bè, với người lớn Trong quá trình tự phân tích mình, thiếu niên rút ra những ưu, khuyết điểm Xu hướng chung là thiếu niên thường tự thấy chưa hài lòng về mình Điều quan trọng là thiếu niên thường suy nghĩ về mình một cách có chủ định, trở thành quá trình độc lập bên trong và thường

có ý nghĩa điều chỉnh hành vi, hoạt động, giao tiếp Đó là đặc điểm mới so với tuổi nhi đồng

Thiếu niên có khát vọng mạnh mẽ là muốn chiếm vị trí được tôn trọng trong nhóm bạn cùng tuổi, có được đồng chí và bạn thân Thiếu niên thường suy nghĩ, phân tích bản thân mình khi so sánh với người bạn cùng tuổi mà nó ngưỡng mộ Từ

đó nó thấy được những ưu điểm, thiếu sót cũng như tiến bộ của mình, cố gắng điều chỉnh mình theo gương họ Song nhìn chung, sự tự đánh giá của thiếu niên có xu hướng cao hơn hiện thực Chẳng hạn, khi ta ra một số đề toán khó, trung bình, dễ và bảo thiếu niên tự chọn để làm thì đa số thiếu niên chọn những bài tập khó, rất ít em chọn bài trung bình và hầu như không có học sinh chọn đề dễ Trong khi đó người lớn (bố mẹ, giáo viên) lại thường đánh giá thấp khả năng của thiếu niên Tình hình này nhiều khi dẫn đến mối quan hệ không thuận lợi giữa thiến niên và người lớn: thiếu niên dễ có xúc cảm tiêu cực, khi người lớn đánh giá thiếu công bằng đối với

nó, coi thường nó khi nó gặp thất bại trong học tập, hoạt động xã hội Bởi vậy để giúp thiếu niên phát triển khả năng tự đánh giá, nhà giáo dục một mặt không quá đề cao những học sinh có khả năng, mặt khác không coi thường những em còn yếu Điều quan trọng là đưa chúng vào hoạt động, giúp chúng tự lập kế hoạch phấn đấu

và rút ra những bài học thành công hay thất bại sau mỗi lần thử sức Nhờ đó dần dần thiếu niên sẽ tự đánh giá mình phù hợp hơn

Ngoài khả năng tự đánh giá, thiếu niên phát triển khả năng đánh giá người khác một cách mạnh mẽ Khả năng này thường đầy đủ và đúng đắn hơn khả năng tự đánh giá Thiếu niên thường đánh giá bạn bè và người xung quanh cả về hình thức lẫn nội dung Những công trình nghiên cứu cho thấy khi đánh giá những quan hệ bạn bè đối với mình, thiếu niên ngày càng quan tâm đến việc đánh giá những nét đặc trưng của nhân cách Ví dụ, sự đánh giá các phẩm chất bề ngoài và sự đánh giá

Trang 34

việc học tập giảm sút từ lớp 5, 6 đến lớp 8, lớp 9, mà ngược lại những phẩm chất liên quan đến thái độ đối với bạn bè, đến hứng thú hoạt động, đến những đặc điểm

về ý chí lại được nâng cao Điều lý thú là học sinh thiếu niên quan tâm đến việc xác định thái độ của bạn cùng tuổi đối với đồng chí, với mọi người xung quanh thường xuyên hơn cả người lớn (bố mẹ, thầy cô giáo) Những đánh giá về phẩm chất khác nhau của bạn bè ở các em thường phong phú hơn nhận xét của giáo viên

Ngoài sự đánh giá đối với bạn đồng lứa, thiếu niên thường quan sát, đánh giá những người xung quanh, trong đó bố mẹ, thầy cô giáo là những đối tượng được các em quan tâm thường xuyên Tuy nhiên biểu hiện của sự đánh giá này thường kín đáo Nhìn chung nó chủ yếu được trao đổi một cách bí mật ở nhóm bạn thân Những sự đánh giá này nói chung khá chính xác và hơi khắt khe Nó thường biểu lộ không phải trên lời nói mà chủ yếu ở cách ứng xử, ở nghĩa vụ đối với chính những người mà các em đánh giá: các em thường hài lòng, sung sướng hoàn thành tốt những nhiệm vụ khi được những người các em đánh giá cao trao đổi hoặc giao nhiệm vụ Ngược lại, miễn cưỡng, hoàn thành tắc trách những việc mà những người các em đánh giá là thiếu uy tín giao cho

Việc đánh giá những người xung quanh có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nhân cách của học sinh Nhiều khi chính sự đánh giá này giúp thiếu niên tìm được mẫu người lý tưởng trong thực tế cuộc sống để noi theo Thực tiễn đã chứng minh rằng có những thiếu niên đã miệt mài phấn đấu theo mẫu người, theo nghề nghiệp của người bố, người mẹ, người thầy mà các em yêu quí và đánh giá cao Trái lại, nếu phải sống trong gia đình bố mẹ nghiện ngập phạm pháp thiếu niên sẽ bị hẫng hụt, bất hạnh và dễ hư đốn Những điều tra nghiên cứu về trẻ em phạm pháp

đã chứng minh rõ điều này

Trong sự phát triển nhân cách của thiếu niên, thái độ đối với nghề nghiệp tương lai là một trong những biểu hiện phải lưu ý Ở tuổi nhi đồng, trẻ em còn có những ước mơ trẻ con về nghề nghiệp Đó chỉ là những ước mơ thuần túy, nhiều khi thiếu hiện thực, viển vông Thiếu niên bắt đầu suy nghĩ đến nghề nghiệp một cách hiện thực, có tính đến những khả năng của bản thân và hoàn cảnh sống của gia đình

Trang 35

Một số ít em đã suy nghĩ một cách nghiêm túc để sau khi học xong bậc THCS thì sẽ học nghề gì? Thi vào trường trung học phổ thông hay dạy nghề nào? Sống với gia đình, làng, bản hay đi xa v.v

Biểu hiện thái độ nghề nghiệp tương lai là sự thu thập những thông tin, những đặc điểm của những nghề khác nhau, bàn luận về những nghề nghiệp mà mình quan tâm với bạn thân, đánh giá các nghề nghiệp đó và thử ướm khả năng, hoàn cảnh của mình vào các nghề mình thích thú Nhìn chung thiếu niên có hứng thú với những nghề hiện đại, có vị trí quan trọng, khả năng làm việc thú vị, sáng tạo, có tính lãng mạn cao như các nghề kỹ thuật, kinh tế, tin học, thương nghiệp

Thái độ đối với nghề nghiệp tương lai không chỉ làm cho thiếu niên có những thay đổi trong xu hướng học tập, tập trung sức lực cho các môn học liên quan đến nghề sẽ chọn, mà còn giúp họ có cái nhìn hiện thực, có trách nhiệm hơn với chính mình, tăng cường hơn khả năng tự đánh giá, tự giáo dục, một phẩm chất rất quan trọng trong sự phát triển nhân cách

Do khả năng đánh giá và tự đánh giá phát triển, ở thiếu niên hình thành một phẩm chất nhân cách quan trọng là sự tự giáo dục Phẩm chất này được hình thành

từ cuối tuổi nhi đồng và phát triển mạnh vào cuối tuổi thiếu niên Biểu hiện của nó

là khát vọng muốn làm chủ được những phản ứng của mình trong quá trình hoạt động và ứng xử với mọi người Khá nhiều thiếu niên có khả năng tự kiềm chế bản thân, biết dấu kín thái độ, ý nghĩ trong nhiều trường hợp, hoàn cảnh cần thiết Một

số em đã biết suy nghĩ về ý nghĩa của bản thân mình, lập kế hoạch cho bản thân, phân chia thành những điều cần thiết và không cần thiết, điều quan trọng và không quan trọng, tập trung thời gian cho những gì mà các em cho là có giá trị Tuy nhiên

ở lứa tuổi này giữa mong muốn và hiện thực, giữa "khối óc" và "trái tim" thường không hòa hợp nhau Thường xảy ra quá trình đấu tranh động cơ giữa những nguyện vọng, tình huống trực tiếp với kế hoạch đã vạch ra từ trước và thường thường những nguyện vọng, mong muốn trước mắt chiến thắng Bởi vậy, giáo dục ý chí là một nhiệm vụ quan trọng đối với thiếu niên

Trang 36

Yếu tố mới quan trọng nhất của sự phát triển nhân cách ở tuổi thiếu niên là ở chỗ, đối tượng hoạt động chính của thiếu niên lại chính là bản thân các em Các em quan tâm đến sự tiến bộ của mình, tự kiểm tra sự tiến bộ đó, đau khổ vì chưa thực hiện được nhiệm vụ, kế hoạch, tự kiềm chế mình, tự lên án bản thân Các em bắt đầu tự tác động đến bản thân, tự sáng tạo ra chính mình trong khi định hướng đến những mẫu mực nhất định, đến những nhiệm vụ, mục đích có ý nghĩa đối với cá nhân có liên quan đến nhu cầu của hôm nay và tương lai mai sau Đây là thời kỳ cái

"tôi" hình thành và phát triển mạnh mẽ Nhằm tạo ra những phẩm chất mới, đánh dấu sự chuyển tiếp sang giai đoạn khác về chất trong sự phát triển nhân cách của thiếu niên

Trong bước quá độ vươn lên làm người lớn, trong quá trình hình thành và khẳng định cái "tôi" có ý nghĩa xã hội, thiếu niên gặp không ít những khó khăn, trở ngại phải vượt qua Ở đây ngoài sự trưởng thành của chính bản thân mình, thiếu niên cần có sự hỗ trợ đắc lực, có hiệu quả của người lớn và xã hội Xã hội và người lớn nói chung, giáo dục nói riêng cần có lòng tin, sự khích lệ, tạo một môi trường vĩ

mô (gia đình, trường học) và vi mô (xã hội, dư luận xã hội, sách, báo, phim ảnh, truyền thông, ) thuận lợi để thiếu niên dần dần vượt qua những khó khăn, giải quyết mâu thuẫn để trưởng thành và chuyển sang giai đoạn phát triển mới.[9]

1.3.5.3 Đặc điểm tình cảm và ý chí của tuổi thiếu niên

- Các yếu tố cơ bản chi phối đời sống xúc cảm, tình cảm của thiếu niên

+ Thứ nhất là sự cải tổ về mặt sinh lý giải phẫu dẫn đến sự phát dục (dậy thì)

+ Thứ hai là hoạt động giao tiếp với bạn bè cùng tuổi với sự mở rộng của phạm vi hoạt động xã hội trong môi trường mới

+ Thứ ba là xu hướng vươn lên làm người lớn

Sự phát triển của tuổi dậy thì làm cho quan hệ giữa các em trai, em gái thay đổi một cách căn bản Xuất hiện sự quan tâm đến nhau, có nguyện vọng được bạn khác giới ưa thích Do đó thiếu niên thường quan tâm đến vẻ bề ngoài của mình, quan tâm tới những yếu tố gây sự hấp dẫn Trong sự phát triển về thể chất và phát

Trang 37

dục, các em gái sớm hơn các em trai 1 - 2 năm nên ở giai đoạn đầu một số em gái cao hơn đầy đặn hơn các em trai Thân hình thấp lúc 12 - 13 tuổi thường gây ra ở

em trai những cảm giác khó chịu, đó là cảm giác thua kém bạn bè Ngược lại, những rung cảm tương tự cũng xảy ra ở các em gái có chiều cao, thân hình vượt hẳn

so với các bạn cùng tuổi

Lúc đầu sự quan tâm tới người khác giới của nhiều em nam có xu hướng tràn lan và được biểu hiện dưới dạng hay "gây sự" với các em gái Về sau những quan

hệ này thay đổi: mất tính trực tiếp, xuất hiện tính ngượng ngùng, nhút nhát, e thẹn

Ở một số em điều đó bộc lộ rõ và trực tiếp, một số em khác được che dấu bằng thái

độ thờ ơ, giả tạo, "khinh khỉnh" đối với giới khác Hành vi của những xúc cảm, tình cảm với bạn khác giới có tính hai mặt: vừa quan tâm đến nhau nhưng lại vừa phân biệt nam, nữ Song, nhìn chung thiếu niên đều có thái độ tò mò đối với những quan

hệ đang nảy sinh, đối với sự phát triển về giới của chính chúng

Ở lớp 7, lớp 8 các em gái thường quan tâm đến vấn đề ai thích ai Chúng rất hay quan sát và trao đổi vấn đề trên với nhau tạo nên một bầu không khí bí mật rất

lý thú Cũng ở lứa tuổi này dễ hình thành một tình bạn gắn bó đôi bên nhiều khi rất xúc động, có thể giữ một vị trí lớn trong đời sống tình cảm của tuổi thiếu niên Mối cảm tình không được đáp lại nhiều khi là nguồn gốc của sự rung cảm mạnh mẽ gây

ra ở thiếu niên những tâm trạng buồn rầu, nhớ nhung Nếu ngược lại nó gây cho thiếu niên tâm trạng phấn chấn, sự dịu dàng, sự quan tâm đến nhau một cách vô tư, trong sáng Đó chính là những xúc cảm ban đầu rất kín đáo, tế nhị, hợp qui luật ở tuổi thiếu niên Hơn lúc nào hết, chính lúc này thiếu niên cần có một người bạn chân tình để tin cậy và thông cảm Những sự can thiệp thô bạo của người lớn sẽ làm cho thiếu niên cảm thấy bị chế diễu, xúc phạm và thường dẫn đến hậu quả không tốt đẹp thậm chí tai hại cho nó

- Nhu cầu cần có bạn tâm tình và thông cảm là một nhu cầu đặc trưng và nổi bật ở tuổi thiến niên

Hoạt động giao tiếp bạn bè là hoạt động mang tính chủ đạo ở lứa tuổi này Vị trí bình đẳng trong quan hệ bạn bè đặc biệt hấp dẫn thiếu niên Nguyên tắc bình

Trang 38

đẳng trong quan hệ bè bạn phù hợp với nội dung đạo đức và cảm giác về mức trưởng thành của bản thân thiếu niên Những điều đó tạo ra khả năng phát triển những quan hệ cùng tuổi theo chiều sâu Ở thiếu niên, hình thành những giá trị dễ hiểu và gần gũi với bạn bè hơn là đối với người lớn, ngay cả với những người thân như bố, mẹ, anh, chị.

Quan hệ với bạn bè ở tuổi thiếu niên phức tạp, đa dạng và có nội dung hơn ở học sinh nhỏ Ở thiếu niên có phân biệt mức độ trong tình bạn: có thể chỉ đơn giản

là bạn cùng học, có thể là bạn thân, có thể là bạn riêng (chí thân) Sự giao tiếp với bạn bè vượt ra ngoài giới hạn của học tập, ngoài phạm vi nhà trường Nó bao quát những hứng thú mới, những việc làm, những quan hệ mới tạo thành một lĩnh vực độc lập và rất quan trọng đối với đời sống của tuổi thiếu niên Trong cuộc sống đó, thiếu niên hành động và suy nghĩ giành cho nó nhiều tâm huyết, đồng thời trải nghiệm niềm vui của thắng lợi của thành công, niềm đau khổ và thất vọng của thất bại

Giao tiếp với bạn bè và sự phát triển của tình bạn ở thiếu niên có giá trị rất lớn, nhiều khi giá trị này chiếm hết vị trí của học tập, của quan hệ đối với người thân Do đó ảnh hưởng đáng kể đến việc học tập và những mối quan hệ khác Người

mẹ sẽ cảm nhận sớm nhất cái cảm giác con mình đang tách xa dần khỏi vòng lay của mình Và chính ở đây dễ xảy ra những thắc mắc, những mâu thuẫn trong giao tiếp giữa mẹ con Một điều rất đáng quan tâm là quan hệ của thiếu niên và người lớn càng không suôn sẻ thì sự giao tiếp với bạn bè càng lớn và sự ảnh hưởng đến thiếu niên càng mạnh mẽ

Thiếu niên một mặt biểu hiện rất rõ khát vọng được giao tiếp được hoạt động chung với bạn cùng tuổi, với tình đồng chí và bạn bè thân thiết, mặt khác một khát vọng không kém mạnh mẽ nữa là được bạn bè tôn trọng, công nhận Sự bất hòa trong quan hệ bạn bè cùng tuổi, sự thiếu bạn thân hoặc tình bạn bị phá vỡ đều sinh

ra những cảm xúc nặng nề, được đánh giá như một bi kịch của cá nhân Sự khó chịu nhất đối với tuổi thiếu niên là sự phê phán của tập thể, của bạn bè Sự đơn độc là trải nghiệm nặng nề và hầu như không chịu đựng nổi đối với tuổi thiếu niên Tất cả

Trang 39

những tình huống đó đẩy thiếu niên đến chỗ đi tìm những đồng chí, những bạn mới ngoài lớp học, ngoài nhà trường và một số em đã bị lôi kéo bởi những "nhóm" những "bè đảng" tự phát dưới nhiều hình thức chính, ở đây các em có thể phải trải nghiệm những bi kịch thực sự của cuộc đời.

- Những yêu cầu trong quan hệ bạn bè ở tuổi thiếu niên có những nội dung

và sắc thái mới so với học sinh lứa tuổi trước

Nếu như ở học sinh lứa tuổi trước, vị trí của trẻ trong tập thể tùy thuộc chủ yếu vào sức học, vào hành vi và tính tích cực xã hội, vào chỗ đứa trẻ thực hiện những yêu cầu của người lớn như thế nào thì đối với thiếu niên, điều quan trọng nhất là những phẩm chất của người đồng chí và người bạn, là sự nhanh trí và những kiến thức rộng không phải chỉ do học tập mang lại, là tính can đảm và khả năng làm chủ bản thân Trong các nhóm thiếu niên khác nhau tồn tại một thứ bậc trật tự khác nhau của những phẩm chất trên đây Song nhìn chung, một trong những ưu điểm mà thiếu niên xếp hạng đầu đó là những phẩm chất của tình bạn Nghĩa là muốn được thừa nhận, tôn trọng hay nổi tiếng trước hết phải là một người bạn tốt, một người bạn trung thành, thủy chung, không bao giờ "phản lại" đồng chí của mình Điều này dẫn đến tình trạng là những học sinh được bố mẹ, giáo viên đánh giá là tốt nhiều khi không trùng hợp với những học sinh mà thiếu niên coi là có uy tín nhất Những học sinh chỉ học giỏi, vâng lời, ngoan ngoãn không phải là những "mẫu người bạn" mà thiếu niên chọn Tiêu chuẩn hàng đầu và cơ bản của các em đối với người lớn cũng như đối với bạn bè là tôn trọng nhân cách và phẩm chất con người Tình hình này dẫn đến có thể có mâu thuẫn, khó khăn đối với giáo viên trong việc xây dựng tập thể lớp, tập thể đội thiếu niên tiền phong, vì chuẩn giá trị của giáo viên không trùng khớp với học sinh

Những chuẩn mực quan trọng nhất trong "bộ luật tình bạn" của thiếu niên là:

sự tôn trọng, bình đẳng, trung thành, giúp đỡ bạn, trung thực Trong mỗi lớp, mỗi trường, những hành vi của tuổi thiếu niên đều được đánh giá xem những hành vi đó

có phù hợp hay không với những chuẩn mực đã đề ra Thiếu niên lên án sự "thay lòng đổi dạ" với bạn bè, đồng chí, từ chối sự giúp đỡ, ích kỷ và tham lam, khát vọng

Trang 40

làm chỉ huy, tự phụ, phô trương ưu điểm của mình, dùng sức mạnh và lời nói để hạ thấp ưu điểm của bạn trước mặt và sau lưng Các em thường phê phán những kẻ thiếu tự trọng, xu nịnh, đạo đức giả, Những phẩm chất kể trên là cơ sở của lý tưởng, đạo đức đang hình thành ở thiếu niên, ảnh hưởng rất rõ rệt đến sự phát triển nhân cách ở lứa tuổi này.

Thiếu niên thích giao tiếp và kết bạn với những bạn cùng lớp được mọi người tôn trọng, có uy tín và tiến bộ rõ rệt về một mặt nào đó Những khía cạnh hấp dẫn có thể khác nhau Ví dụ, trung thành với bạn, với đồng chí, khéo tay, can đảm, giỏi thể thao, những cử chỉ hành vi có tính lãng mạn v.v Có những thiếu niên cùng một lúc bị lôi cuốn bởi những người bạn rất khác nhau, có những hứng thú đối lập nhau Trong những trường hợp như vậy, phạm vi giao tiếp bạn bè mở rộng, nhưng thường những mối quan hệ đó không bền chặt và sau một thời gian, những

em này sẽ loại trừ dần để tìm kiếm những người bạn thân gắn bó hơn với mình theo hướng có chung hứng thú và những việc làm yêu thích để tâm sự trò chuyện

Những ưu điểm của bạn cùng học mà nó yêu thích thường làm nó nảy sinh những suy nghĩ đánh giá về mình một cách nghiêm túc để ý thức được mình còn thiếu những phẩm chất gì mà bạn bè đánh giá cao Lúc đó, bạn bè trở thành hình mẫu đối với thiếu niên và nó cố gắng bắt chước, rèn luyện mình theo mẫu đó Đây

là khía cạnh rất tích cực trong tình bạn của tuổi thiếu niên

- Trò chuyện để trao đổi tâm tư nguyện vọng giữ vị trí quan trọng trong giao tiếp của tuổi thiếu niên

Các em thường nói với nhau những tin tức cùng quan tâm, thảo luận những biến cố thường xảy ra trong đời sống của lớp, những câu chuyên riêng tư chỉ nói một cách bí mật như những ước mơ, những tình cảm lãng mạn, những vấn đề kín liên quan đến sự phát dục Những đôi bạn thân ở lứa tuổi thiếu niên có thể tâm sự với nhau hàng giờ, hàng buổi và không ít trường hợp ảnh hưởng đến kế hoạch học tập và những việc cần làm khác

Tình bạn thân thiết giữa thiếu niên đòi hỏi đôi bên phải cởi mở và hiểu nhau,

tế nhị và vị tha, đồng cảm và biết giữ bí mật cho nhau Sự giao tiếp trong đó mỗi

Ngày đăng: 14/05/2021, 22:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Dũng, Tâm lý học xã hội, Nxb KHXH, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học xã hội
Nhà XB: Nxb KHXH
2. Trần Thị Minh Đức (chủ biên), Giáo trình tâm lý hoc xã hội, Trường ĐH Tổng hợp Hà nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giáo trình tâm lý hoc xã hội
3. Trần Hiệp, Theo cuốn tâm lý học xã hội, những vấn đề lý luận, Nxb Khoa học xã hội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theo cuốn tâm lý học xã hội, những vấn đề lý luận
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
4. Dương Thị Diệu Hoa, Giáo trình tâm lý học phát triển, Nxb Đại học Sư Phạm, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lý học phát triển
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm
5. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng, Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nxb ĐHQGHN, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
6. Ngô Công Hoàn, Tâm lý học gia đình, ĐHSP Hà Nội I, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học gia đình
7. Kol, I.X., Tâm lý học thanh niên, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học thanh niên
Nhà XB: NXB Trẻ
8. Đỗ Hạnh Nga, Xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con lứa tuổi trung học cơ sở về nhu cầu độc lập, Nxb Đại học Quốc Gia TPHCM, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con lứa tuổi trung học cơ sở về nhu cầu độc lập
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia TPHCM
9. Vũ Thị Nho, Tâm lý học phát triển, NxbĐHQGHN, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học phát triển
Nhà XB: NxbĐHQGHN
10. J. Piaget, Tâm lý học và giáo dục học, NXB giáo dục, TPHCM, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học và giáo dục học
Nhà XB: NXB giáo dục
11. Trần Quốc Thành, Nguyễn Đức Sơn, Tâm lý học xã hội, NxB Đại Học Sư Phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học xã hội
12. Trần Trọng Thủy, Tâm lý học lao động, ĐH sư phạm HN, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lao động
13. Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Tâm lý học đại cương, Nxb, ĐHQGHN, 2004 14. S.Yamuna, Bùi Linh Huệ dịch, Sao chẳng ai chịu hiểu con, Nxb Lao động xãhội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương", Nxb, ĐHQGHN, 2004 14. S.Yamuna, Bùi Linh Huệ dịch, "Sao chẳng ai chịu hiểu con
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w