1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế giáo án điện tử nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi

122 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 2,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thiết kế GAĐT nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi Khái niệm này có thể được hiểu như sau: “là quá trình giáo viên cung cấp, hình thành cho trẻ những biểu tượng toán học sơ đ

Trang 1

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành khoá luận này, tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm giúp đỡ của thầy cô và bạn bè Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Chủ Nhiệm cùng các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non – Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô giáo - ThS Nguyễn Thị Triều Tiên, người đã hướng dẫn em chu đáo, tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này

Tôi xin cảm ơn ban giám hiệu, các cô giáo tập thể các cháu trường mầm non Tuổi Thơ – Thành phố Đà Nẵng đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khoá luận này Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã quan tâm, động viên, khích

lệ tôi trong suốt thời gian thực hiện khoá luận

Bước đầu làm công tác khoa học nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, bạn bè, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học giáo dục để đề tài được hoàn thiện hơn

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2016

Sinh viên Lưu Thị Phượng

Trang 3

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể đối tượng nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Giả thuyết khoa học 3

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Những đóng góp của đề tài 4

9 Cấu trúc đề tài 4

10 Kế hoạch nghiên cứu 5

PHẦN NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 6

1.1.1 Trên thế giới 6

1.1.2 Trong nước 7

1.2 Một số khái niệm 9

1.2.1 Thiết kế 9

1.2.2 Giáo án điện tử 9

1.2.3 Thiết kế giáo án điện tử 11

1.2.4 Khái niệm biểu tượng 11

1.2.5 Thiết kế GAĐT nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi 12

1.3 Quá trình hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi 12

1.3.1 Vai trò của việc hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi 12

1.3.2 Đặc điểm hình thành các biểu tượngtoán cho trẻ 5 – 6 tuổi 15

1.3.3 Nội dunghình thành các biểu tượng về toán cho trẻ 5 – 6 tuổi 19

1.3.4 Phương pháp hình thành các biểu tượng về toán cho trẻ 5 – 6 tuổi 27

1.4 Ứng dụng CNTT trong việc thiết kế giáo án điện tử 34

1.4.1 Vai trò của việc ứng dụng CNTT 34

1.4.2 Những thách thức khithiết kế giáo án điện tử 34

Trang 4

1.5 Xây dựng tiêu chí và thang đánh giá 44

1.5.1 Tiêu chí và thang đánh giá việc ứng dụng phương tiện Powerpoint trong việc thiết kế GAĐT nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi 44

1.5.2 Nhóm tiêu chí và thang đánh giá mức độ biểu hiện khả năng hình thành biểu tượng toán của trẻ 46

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 49

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CNTT TRONG VIỆC THIẾT KẾ GAĐT NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG TOÁN CHO TRẺ 5-6 TUỔI 51

2.1.Mục đích khảo sát thực trạng 51

2.2 Nội dung khảo sát thực trạng 51

2.3 Đối tượng khảo sát thực trạng 51

2.4 Thời gian khảo sát 51

2.5 Phương pháp tiến hành khảo sát thực trạng 51

2.6 Kết quả khảo sát 52

2.6.1 Nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc sử dụng phương tiện powerpoint trong việc thiết kế GAĐT nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi 53

2.6.2 Những biện pháp mà GV đã sử dụng nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ (trong đó có biện pháp sử dụng phương tiện Powerpoint) 55

2.6.3 Hiệu quả quá trìnhứng dụng phương tiện Powerpoint vào việc thiết kế GAĐT nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi 60

2.6.4 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thiết kế GAĐT nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi 65

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 69

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG TOÁN CHO TRẺ 5-6 TUỔI 72

3.1 Nguyên tắc và yêu cầu của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thiết kế giáo án điện tử nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi 72

Trang 5

3.1.2 Yêu cầu việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thiết kế giáo án điện tử

nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi 73

3.2 Quy trình các bước thiết kế giáo án điện tử trên phần mềm Microsoft Powerpoint 74

3.3 Một số yêu cầu khi thiết kế giáo án điện tử 80

3.4 Mô tả quá trình tiến hành 82

3.5 Kết quả và nhận xét chung: giáo án điện tử 87

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 88

CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM VIỆC THIẾT KẾ GAĐT NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG TOÁN CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI 89

4.1 Mục đích thực nghiệm 89

4.2 Nội dung thực nghiệm 89

4.3 Thời gian thực nghiệm 89

4.4 Đối tượng thực nghiệm 89

4.5 Cách tiến hành thực nghiệm 90

4.6 Tiêu chí đánh giá và cách đánh giá TN 91

4.7 Phương pháp đánh giá kết quả TN 91

4.8 Kết quả thực nghiệm 91

4.8.1 Mức độ ứng dụng phương tiện Powerpoint trong việc thiết kế GAĐT nhằm hình thành biểu tượng toán của trẻ 5-6 tuổi 91

4.8.2 Mức độ biểu hiện khả năng hình thành biểu tượng toán của trẻ 5-6 tuổi 95

TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 101

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 6

TN: thực nghiệm

ĐC: đối chứng

GV: giáo viên

GDMN: giáo dục mầm non

CNTT : công nghệ thông tin

GAĐT : giáo án điện tử

MN : mầm non

TBDH: thiết bị dạy học

Trang 7

Bảng 2.2 Nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc sử dụng phương tiện

powerpoint trong việc thiết kế GAĐT nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi 54Bảng 2.3 Những biện pháp mà GV đã sử dụng nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi 56Bảng 2.4 Hiệu quả quá trình ứng dụng phương tiện Powerpoint vào việc thiết kế GAĐT nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi 60Bảng 2.5Biểu hiện của trẻ khi GV sử dụng GAĐT 63Bảng 2.6 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thiết kế GAĐT nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi 65Bảng 4.1 Mức độ hình thành biểu tượng toán của trẻ 5 – 6 tuổi ở nhóm ĐC và TN trước TN 92Bảng 4.2 Mức độ hình thành biểu tượng toán của trẻ 5 – 6 tuổi ở nhóm ĐC và TN sau TN 93Bảng 4.3 Mức độ biểu hiện khả năng hình thành biểu tượng toán của trẻ 5-6 tuổi Thông qua GAĐT ở hai nhóm ĐC và TN trước TN qua từng tiêu chí 95Bảng 4.4 Mức độ biểu hiện khả năng hình thành biểu tượng toán của trẻ 5-6 tuổi thông qua GAĐT ở hai nhóm ĐC và TN trước TN qua từng tiêu chí 95

Trang 8

Biểu đồ 2.1: Những biện pháp mà GV đã sử dụng nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi 57Biểu đồ 4.1 Mức độ hình thành biểu tượng toán của trẻ 5-6 tuổi trước TN 92Biểu đồ 4.2 Mức độ hình thành biểu tượng toán của trẻ 5-6 tuổi sau TN 94Biểu đồ 4.3 Mức độ biểu hiện khả năng hình thành biểu tượng toán của trẻ 5-6 tuổi thông qua GAĐT ở hai nhóm ĐC và TN trước TN qua tiêu chí 1 96Biểu đồ 4.4 Mức độ biểu hiện khả năng hình thành biểu tượng toán của trẻ 5-6 tuổi thông qua GAĐT ở hai nhóm ĐC và TN trước TN qua tiêu chí 2 97Biểu đồ 4.5 Mức độ biểu hiện khả năng hình thành biểu tượng toán của trẻ 5-6 tuổi thông qua GAĐT ở hai nhóm ĐC và TN trước TN qua tiêu chí 3 99

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong xu thế hội nhập nền kinh tế tri thức, giáo dục giữ vai trò vô cùng to lớn

và có vị trí quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia trên thế giới nói chung

và của Việt Nam nói riêng Khi con người bước vào kỉ nguyên của CNTT, cuộc cách mạng về ứng dụng CNTT và truyền thông nhằm nâng cao chất lượng của việc dạy học đã và đang phát triển mạnh mẽ Trong quyết định số 81/2001/QD- TTg, thủ tướng chính phủ đã giao nhiệm vụ trọng tâm cho ngành giáo dục là đào tạo nguồn nhận lực CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo Năm học 2008-2009, Bộ giáo dục và đào tạo đã triển khai cuộc vận động "Năm học ứng dụng CNTT trong giảng dạy" ở tất cả các cấp trường từ đại học, cao đẳng cho đến THPT, THCS,TH và cả bậc học mầm non

Đối tượng giảng dạy của giáo viên mầm non là trẻ mầm non với đặc điểm tư duy trực quan là chủ yếu, khả năng tập trung chú ý của trẻ còn ngắn và chưa bền vững nhưng trẻ lại rất dễ hứng thú với các hình ảnh trực quan minh họa gây ấn tượng, tác động đến mọi giác quan như: hình ảnh, âm thanh, màu sắc sống động…Vì thế, việc ứng dụng CNTT để thiết kế giáo án điện tử sẽ kích thích hứng thú, sự tập trung chú ý, ghi nhớ có chủ định,… của trẻ vào bài giảng GAĐT không chỉ tác động đến trẻ mà còn giúp trẻ mở mang kiến thức giúp trẻ có thể tận mắt xemmọi thứ xung quanh mà trẻ chưa thấy bao giờ Thông qua trò chơi, trẻ được thao tác với máy tính giúp trẻ chủ động trong hoạt động và sáng tạo, từ đó những kiến thức tiếp cận sẽ được khắc sâu hơn trong tâm trí của trẻ Đây có thể coi là một phương pháp ưu việt vừa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, vừa thực hiện được nguyên lý giáo dục của Vưgotxki ” Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” một cách dễ dàng Có thể thấy ứng dụng của CNTTtrong giáo dục mầm non đã tạo ra một biến đổi về chất trong hiệu quả giảng dạy của ngành giáo dục mầm non, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao giữa giáo viên và trẻ

Trang 10

Mục tiêu của GDMN là hình thành cơ sở ban đầu về nhân cách con người phát triển toàn diện, hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non là một nội dung quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu đó Qua thực tiễn tôi nhận thấy quá trình dạy học có mục đích trong trường mầm non không chỉ giúp trẻ nắm được các mối liên hệ, quan hệ toán học, lĩnh hội được những tri thức toán ban đầu và những kĩ năng: đếm, đo…mà quan trọng hơn là qua đó biến đổi về chất trong các hình thức nhận biết tích cực của đứa trẻ Quá trình dạy trẻ 5 – 6 tuổi làm quen với toán trên thực tế gặp không ít khó khăn Về cơ bản chúng ta cũng biết toán là một môn học khó, thường rất khô khan, cứng nhắc, không lôi cuốn trẻ chủ động trong quá trình lĩnh hội kiến thức Bên cạnh đó nhiều GV tổ chức tiết học còn mang tính rập khuôn theo tài liệu hướng dẫn, thiếu đi sự linh hoạt, sáng tạo, không phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tìm tòi phát hiện của cá nhân trẻ, chưa biết lồng ghép,tích hợp gây hứng thú thu hút trẻ Nhận thức rõ được tình trạng đó, tôi đã mạnh dạn đưa ra đề tài giúp trẻ học toán đạt hiệu quả nhất, vừa duy trì được hứng thú của trẻ vừa giúp trẻ tiếp thu kiến thức toán một cách nhẹ nhàng và thỏa mái

“Thiết kế giáo án điện tử nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi”

3 Khách thể đối tượng nghiên cứu

* Khách thể nghiên cứu

Quátrình hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi

* Đối tượng nghiên cứu

Thiết kế giáo án điện tử nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi

4 Phạm vi nghiên cứu

Trong đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu phần mềm Microsoft office

Trang 11

powerpoint,ứng dụng các phần mềm đó trong việc thiết kế GAĐT nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non trên địa bàn thành phố

Đà Nẵng

5 Giả thuyết khoa học

Nếu GV biết sử dụng giáo án điện tử một cách khoa học, phù hợp với nội dung hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mần non thì sẽ góp phần đáng

kể vào việc đổi mới phương pháp dạy học đồng thời sẽ làm cho tiết dạy toán cho trẻ trở nên nhẹ nhàng; lôi quấn và hấp dẫn hơn

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận liên quan đến đề tài

- Tìm hiểu thực trạng việc thiết kế giáo án điện tử nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi

- Thực nghiệm một số GAĐT để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của việc hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận: tổng hợp tài liệu có liên quan đến vấn đề

nghiên cứu: tìm kiếm, đọc, phân tích và tổng hợp tài liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu như: các sách giáo khoa, sách chuyên ngành, các tạp chí, trang web…

- Phương pháp điều tra bằng Anket: sử dụng phiếu câu hỏi dành cho GV (mục

lục) Phiếu câu hỏi được chúng tôi xây dựng nhằm khảo sát thực trạng việc ứng dụng CNTT trong việc thiết kế GAĐT nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi trường mầm non Tuổi Thơ – thành phố Đà Nẵng Ý kiến giáo viên phản hồi trong phiếu câu hỏi giúp chúng tôi đưa ra nhận định cụ thể và khách quan về nhận thức, thái độ, thực trạng ứng dụng CNTT trong việc thiết kế GAĐT nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non này

- Phương pháp đàm thoại: với giáo viên (sử dụng hệ thống các câu hỏi dự

kiến): Chúng tôi sử dụng một hệ thống các câu hỏi để trao đổi, trò chuyện trực tiếp với GV liên quan đến việc việc ứng dụng CNTT trong việc thiết kế GAĐT nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi Qua đó, chúng tôi đưa ra những nhận

Trang 12

định liên quan đến vấn đề; đồng thời chúng tôi đối chiếu những nhận định này với những nhận định thu được từ việc sử dụng phiếu câu hỏi nhằm rút ra kết luận chính xác nhất về thực trạng vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: tìm hiểu các giáo án, các slide trình

chiếu về việc hình thành biểu tượng toán do GV cung cấp

- Phương pháp thực nghiệm: thực nghiệm những GAĐT nhằm kiểm nghiệm

tính khả thi và hiệu quả của việc sử dụng phương tiện Powerpoint nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi

- Phương pháp thống kê toán học: sử dụng phép tính % để thống kê xử lí số

liệu thu được trong nghiên cứu đề tài

Đóng góp và làm phong phú thêm hệ thống GAĐT, cách thức ứng dụng CNTT

để thiết kế GAĐT nhằm góp phần hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi

9 Cấu trúc đề tài

- Phần mở đầu

- Phần nội dung

Chương 1: cơ sở lí luận của đề tài

Chương 2: thực trạng của việc thiết kế giáo án điện tử nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi

Chương 3: thiết kế giáo án điện tử nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi

Chương 4: thực nghiệm việc thiết kế gađt nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi

- Phần kết luận chung và kiến nghị sư phạm

- Tài liệu tham khảo

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Trên thế giới

Trên thế giới, các nước có nền giáo dục hình thành đều chú trọng đến ứng dụng CNTT như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapo, Mỹ,…Để có được ứng dụng CNTT như ngày nay họ đã có một quá trình nghiên cứu và hình thành lâu dài với nhiều sự án, chương trình quốc gia về tin học hóa cũng như ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục Ở Hàn Quốc, từ năm 1993, GV cũng đã biết sử dụng phần mềm cơ bản để thiết kế bài giảng nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh Theo kết quả điều tra ở Nhật Bản học sinh đến trường đều được cung cấp về máy tính, nếu học sinh không biết sử dụng máy tính thì bị coi là “mù chữ”

Họ coi đây là vấn đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, là chìa khóa

để xây dựng và hình thành nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trên khu vực

và trên toàn thế giới

Ngoài ra, trên thế giới cũng đã có nhiều hội nghị quốc tế được tổ chức để trao đổi về việc ứng dụng CNTT trong GD như: “thiết kế và sử dụng giáo án điện tử trong giáo dục phổ thông ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương” ở Bru-nây (2003, 2004);

“Phát triển giáo án điện tử trong các trường trung học cơ sở” ở Xin-ga-po (2003, 2004); “phát triển môi trường dạy học đa phương t iện” ở I-ta-li-a (2005);

“phát triển thiết bị dạy học và giáo án điện tử” ở Phi-lip-pin (2005)

Vào năm 2003, tổng công ty quốc tế IBM đã mở lớp tập huấn cho rất nhiều các

GV ở các quốc gia về việc sử dụng phần mềm máy tính powerpoint vào giảng dạy, sau khi được tập huấn hầu hết GV đã nắm được quy trình thiết kế và cách thức trình diễn bài giảng một cách có hiệu quả vào trong quá trình giảng dạy

Có thể nói khởi nguồn vấn đề ứng dụng CNTT trong việc giáo dục trẻ là cho trẻ tiếp cận với các GAĐT thông qua các tiết học có chủ đích trên lớp Trẻ không

Trang 15

những tiếp thu được kiến thức mà còn được chơi thông qua các trò chơi điện tử Bà Esther Gabriel – chuyên gia tâm lí học Mỹ có nhận xét như sau: “Trong khi chơi trò chơi điện tử, trẻ có thể tiến bộ về tư duy, vì trẻ phải thu nhận nhiều thông tin vừa phải ghi nhớ, suy diễn và xử lý thông tin nhanh Trò chơi này giúp cho trẻ phản xạ nhanh bén và hình thành óc tưởng tượng, nhất là các trò chơi có nội dung về các cuộc phiêu lưu và các pha mạo hiểm Trò chơi điện tử cũng có thể giúp cho trẻ cách học cần thiết để đạt tới một mục đích Không nên quên rằng trẻ vừa chơi lại vừa sử dụng máy tính thì trẻ có khả năng mở mang kiến thức về tin học”

1.1.2 Trong nước

Việc ứng dụng CNTT trong giáo dục ở Việt Nam được triển khai từ những năm đầu của thế kỉ 21 Đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường, đặc biệt là tích cực sử dụng phương tiện dạy học trong nhà trường, đặc biệt là tích cực sử dụng phương tiện dạy học hiện đại trong giảng dạy đang được nhà nước và xã hội quan tâm Việc ứng dụng CNTT vào dạy học là phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Như vậy, việc ứng dụng CNTT vào dạy học là một nhu cầu cấp thiết đối với hệ thống giáo dục Việt Nam vì nó giúp GV có nhiều thời gian hơn để dẫn dắt học sinh nắm bắt vấn đề, tạo tình huống có vấn đề để kích thích sự tư duy sáng tạo của trẻ Mặt khác, nó cũng giúp trẻ chủ động hơn trong quá trình lĩnh hội tri thức khi được tiếp xúc với nhiều phương pháp dạy khác nhau Từ đó hình thành cho người học kĩ năng tự tiếp thu tri thức, độc lập trong tư duy và hứng thú, hăng say học tập

Chỉ thị số 58-CT/TW của Bộ chính trị (17/10/2000) ra quyết định về việc đẩy mạnh ứng dụng và hình thành CNTT và truyền thống phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Chỉ thị ngày 29/2001.CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2011 – 2005 Những điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất, khoa học – công nghệ và giáo dục đào tạo của nước ta đã có những bước tiến đáng

kể, điều này đã giúp cho việc triển khai các ứng dụng CNTT và truyền thông vào cuộc sống trở nên mạnh mẽ và khả thi hơn

Trang 16

Một số công trình nghiên cứu mang tính quốc gia về ứng dụng CNTT vào dạy học gồm: đề án “giáo dục tin học” do PGS Đinh Gia Phong chủ trì; đề tài cấp Bộ

“tin học và sử dụng máy tính điện tử trong dạy học” do PGS Lê Công Triêm chủ trì; đề tài “giáo dục tin học” do GS.TS Hồ Ngọc Đại chủ trì hay trong sách điện tử PGS.TS Phó Đức Hòa và TS Ngô Quang Sơn trong cuốn “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tích cực” đã trình bày về sự cần thiết của việc thiết kế GAĐT; cách thức thiết kế và sử dụng GAĐT

Năm học 2008 – 2009 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai cuộc vận động

“Năm học ứng dụng CNTT trong giảng dạy” ở tất cả các trường từ đại học, cao đẳng cho đến trung học phổ thông, trung học cơ sở, tiểu học và cả bậc học mầm non Và trên thực tế, hầu như các trường học đều có bộ môn giảng dạy về tin học hay những tiết học có ứng dụng CNTT nhằm giúp GV và học sinh có cơ hội tiếp cận với máy tính

Vụ giáo dục mầm non nghiên cứu đề tài “Cho trẻ mẫu giáo làm quen với máy tính” mã số B97-45-07-TD giáo dục mầm non 1 và mầm non 2 liên quan đến toán, chữ cái và tô vẽ được thực hiện tại 19 trường trọng điểm trong toàn quốc và đạt được một số kết quả nhất định

Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT trong giáo dục mầm non chỉ thực sự mạnh mẽ

từ năm 2000 với việc đưa chương trình IBM Kidsmart như là một giải pháp giáo dục tổng thể được nghiên cứu rất kĩ lưỡng bởi các chuyên gia giáo dục và CNTT nổi tiếng trên thế giới Theo TS Trần Lan Hương: “khi bắt đầu đưa chương trình Kismart vào thử nghiệm, nhiều người đã đặt nghi vấn liệu máy tính có hợp với lứa tuổi mẫu giáo, có đóng vai trò giáo dục và ảnh hưởng đến sự hình thành giao tiếp xã hội, ngôn ngữ trẻ hay không? Bây giờ đã có thể khẳng định nó là chương trình dạy học tích cực, có thể coi như một bộ sưu tập phong phú về các chiến lược giáo dục” Như vậy có thể nói rằng, vấn đề ứng dụng CNTT vào giáo dục được rất nhiều nước quan tâm đặc biệt là những nước có nền khoa học tiến bộ Bên cạnh đó nhiều nhà nghiên cứu cũng khẳng định vai trò to lớn của CNTT trong việc lĩnh hội kiến thức của trẻ Chúng tôi nhận thấy vấn đề hình thành biểu tượng toán cho trẻ nói

Trang 17

chung và trẻ 5-6 tuổi nói riêng bằng việc thiết kế GAĐT là rất quan trọng với trẻ Tuy nhiên, so với các cấp học khác, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc Vì thế, chúng tôi nhận thấy rằng việc nghiên cứu đề tài này là hết sức cần thiết, có ý nghĩa về mặt lí luận và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của đất nước, của xã hội đối với việc đổi mới giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay 1.2 Một số khái niệm

1.2.1 Thiết kế

“Thiết kế là những gì liên kết sự sáng tạo và đổi mới Nó định hình các ý tưởng

để trở thành những đề xuất thực tiễn và hấp dẫn người dùng hoặc khách hàng Thiết kế có thể được mô tả như sự triển khai sáng tạo đến một mục đích cụ thể nào đó.” – Theo George Cox, trưởng khoa Đồ họa, Trường đại học Luân Đôn

Bên cạnh đó cũng có định nghĩa cho rằng : “Thiết kế là việc tạo ra một kế

hoạch hoặc quy ước cho việc xây dựng một đối tượng hoặc một hệ thống, thiết kế có

ý nghĩa khác nhau trong các lĩnh vực khác nhau”

Một định nghĩa khác cho thiết kế là một lộ trình hoặc một cách tiếp cận chiến lược cho một người nào đó để đạt được một kết quả duy nhất Nó định nghĩa các thông số kỹ thuật, kế hoạch, thông số, chi phí, hoạt động, quy trình và cách thức và phải làm gì trong những ràng buộc pháp lý, chính trị, xã hội, môi trường, an toàn và kinh tế trong việc đạt được mục tiêu đó

Từ đó, chúng tôi tổng kết và cũng xây dựng khái niệm thiết kế: “là quá trình

giáo viên liên kết những kiến thức, kĩ năng của mình để tạo ra một kế hoạch hay một sản phẩm cụ thể thông qua từng bước chi tiết hóađã được đề ra trước đó”

1.2.2 Giáo án điện tử

Những năm gần đây, phong trào giảng dạy bằng GAĐT đã mở rộng trong các cấp học và ở nhiều địa phương khác nhau trên cả nước Hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về GAĐT:

Dưới góc độ kĩ thuật,GAĐT là giáo án được thiết kế trên máy tính chạy trên

nền (hoặc được sự hỗ trợ) của một số phần mềm chuyên dụng khác như: máy ảnh kĩ thuật số, Scanner, projector,…và được trình chiếu nội dung cho trẻ xem qua hệ

Trang 18

thống dạy học đa phương tiện (máy ảnh – máy chiếu đa năng – màn chiếu; đầu chạy đĩa CD – vô tuyến truyền hình;…)

Dưới góc độ giáo dục, GAĐT là kế hoạch bài học, là kịch bản sư phạm đã

được giáo viên chuẩn bị chi tiết trước khi lên lớp, thể hiện được mối quan hệ sư phạm tương tác giữa giáo viên với trẻ Mặt khác, quá trình dạy học lại quá trừu tượng, các loại hình thiết bị dạy học là rất truyền thống: tranh ảnh, mô hình,…) khó thể hiện, vì vậy những ứng dụng CNTT và truyền thông sẽ dễ dàng mở ra khả năng tiếp cận kiến thức cho trẻ

Theo quan điểm của các chuyên gia UNESCO FARIS và UNESCO PROAP, GAĐT là một thuật ngữ dùng để mô tả việc thiết kế và thực hiện giáo án trước và trong quá trình dạy học dựa trên CNTT và truyền thông Theo các chuyên gia giáo dục và chuyên gia TBDH, ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy học hiện nay

có 3 mức độ:

Mức độ 1: GV thiết kế giáo án dạy học có ứng dụng CNTT và truyền thông để

trẻ xem (nhìn) Với mức độ này các cán bộ quản lí giáo dục mầm non và GV có trình độ tin học ở mức cơ bản đều có thể làm được Tuy nhiên ở mức độ này trẻ chỉ được nhìn

Mức độ 2:GV thiết kế và sử dụng giáo án dạy học tích cực có ứng dụng CNTT

và truyền thông ở mức độ cơ bản để trẻ vừa được nhìn, vừa được nghe Hiện nay, đa

số GV mầm non đang thực hiện được ở mức độ này Đầu tiên, GV thiết kế giáo án dạy học tihcs cực, những nội dung kiến thức quá trừu tượng mà TBDH truyền thống không thể hiện rõ sẽ được thể hiện qua việc ứng dụng CNTT và truyền thông Ví dụ: mô phỏng quá trình hình thành và phát triển của cây…

Mức độ 3: dựa trên giáo án dạy học tích cực thông thường, những nội dung

kiến thức nào trừu tượng với trẻ mà TBDH truyền thông khó thể hiện, hoặc không thể tiến hành được sẽ được nhúng vào môi trường có ứng dụng CNTT và truyền thông ở mức độ cao hơn Mức độ này yêu cầu GV phải có trình độ tin học cao hơn hoặc cần phải có sự trợ giúp của người có chuyên môn về CNTT Ở mức độ này trẻ vừa được nhìn, vừa được nghe, vừa được hoạt động tương tác

Trang 19

1.2.3 Thiết kế giáo án điện tử

Thiết kế GAĐT có thể được hiểu: “là quá trình GV thu thập các thông tin,hình ảnh, âm thanhvà tiến hành theo các bước đã đề ra trước đó Có thể hiểu là giáo án truyền thống của giáo viên nhưng được đưa vào máy vi tính – giáo án truyền thống nhưng được lưu trữ, thể hiện ở dạng điện tử Khi giáo án truyền thống được đưa vào máy tính thì những ưu điểm, thế mạnh của CNTT sẽ phát huy trong việc trình bày nội dung cũng như hình thức của giáo án” Như vậy, GAĐT không bao hàm có ứng

dụng hay không việc ứng dụng CNTT trong tiết học mà: “Thiết kế giáo án điện tử

là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của giáo viên trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được số hóa và minh họa bằng các dữ liệu đa phương tiện (multimedia) một cách trực quan, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc của bài học”

1.2.4 Khái niệm biểu tượng

Theo triết học Mác – Lê Nin: biểu tượng là hình ảnh về khách thể đã được tri

giác còn lưu lại trong bộ óc con người và do một tác động nào đó được tái hiện nhớ lại Như vậy biểu tượng cũng như cảm giác và tri giác là “Hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” nhưng khác với cảm giác và tự giác, biểu tượng phản ánh khách thể một cách ảnh gián tiếp là hình của hình ảnh Ngoài ra, bằng tưởng tượng, con người từ những biểu tượng cũ có thể sáng tạo thành những biểu tượng mới Vậy theo Mac-Lê-Nin thì cảm giác và biểu tượng là những hình thức khác nhau của giai đoạn đầu tiên trong quá trình nhận thức Mọi nhận thức đều bắt đầu từ giai đoạn này, song chỉ bằng tương quan sinh động con người không thể nhận thức được những mối liên hệ bản chất và các quy luật chi phối sự vận động và phát triển của khách thể, nhận thức phải chuyển sang giai đoạn cao hơn đó là tư duy trừu tượng Tóm lại: Theo Mac-Lê Nin thì: “Từ những tri giác nhận thức cảm tính chuyển sang nhận thức cao hơn đó là biểu tượng”

Các nhà tâm lý học cho rằng: Biểu tượng là sản phẩm của quá trình trí nhớ và

tưởng tượng Biểu tượng thường là “Mẫu” những “đoạn” nào đó của tri giác, so với hình ảnh của tri giác biểu tượng không ổn định bằng, nó thường hay dao động (khi

Trang 20

trực tiếp nhìn người bạn thì hình ảnh của tri giác về người bạn rất ổn định, nhưng nếu chỉ nhớ lại thì biểu tượng về người bạn thường lờ mờ hơn) Theo họ, biểu tượng

là sự xâm nhập giữa tính trực quan vừa có tính khái quát, nên biểu tượng được coi như bước quá độ giữa hình tượng và khái niệm và là giai đoạn chuyển tiếp từ nhận thức cảm tính lên nhận thức lý tính Từ những quan niệm trên, các nhà tâm lý học cho rằng: “Biểu tượng là những hình ảnh của sự vật và hiện tượng, nảy sinh ra trong

óc khi sự vật hiện tượng đó không còn đang trực tiếp tác động vào giác quan ta như trước ”

Từ đó chúng tôi cũng đưa ra một khái niệm: “biểu tượng là những hình ảnh của sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh, được hình thành trên cơ sở các cảm giác và tri giác đã xảy ra trước đó, được giữ lại trong ý thức hay là những hình ảnh mới được hình thành trên cơ sở những hình ảnh đã có từ trước” Từ đó có thể thấy: biểu tượng toán học là hình ảnh cụ thể về những dấu hiệu toán học (số lượng, kích thước, hình dạng, không gian và thời gian,…) mà con người đã tri giác trước đây được tái hiện trong óc khi chúng không còn trực tiếp tác động vào các giác quan của

ta nữa

1.2.5 Thiết kế GAĐT nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi

Khái niệm này có thể được hiểu như sau: “là quá trình giáo viên cung cấp, hình thành cho trẻ những biểu tượng toán học sơ đẳng thông qua bản thiết kế cụ thể toàn

bộ kế hoạch hoạt động dạy học của giáo viên trên giờ lên lớp bằng việc toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được số hóa và minh họa bằng các dữ liệu đa phương tiện (multimedia) một cách trực quan, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc của bài học”

1.3 Quá trình hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi

1.3.1 Vai trò của việc hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi

Thực chất của quá trình dạy trẻ Làm quen với Toán là quá trình hình thành ở trẻ những kiến thức sơ đẳng về tập hợp, con số, phép đếm, về kích thước, hình dạng, khả năng định hướng trong không gian, các biểu tượng về thời gian và mối

Trang 21

quan hệ giữa các đại lượng dưới sự tổ chức hướng dẫn cúa GV trong quá trình dạy học ở trường mầm non

Những kết quả nghiên cứu của các nhà giáo dục Nga như: A.M.Lêusina, M.I.Nhepomiasaia…và những kinh nghiệm sư phạm cho thấy việc tổ chức hợp lí góp phần tích cực vào việc phát triển trí tuệ cho trẻ mầm non

Trong hệ thống giáo dục của I.G.Pestalosu, Ph.Phrebel, M.Mongtersori…đã khẳng định sự cần thiết phải cho trẻ làm quen với toán Cụ thể : I.G.Pestalosu đã đề cao vai trò của các phương pháp dạy học trực quan trong việc giúp trẻ dễ dàng lĩnh hội kiến thức Ph.Phrebel đã đưa việc sử dụng trò chơi vào trong dạy học trẻ với chức năng của một phương pháp dạy học chính nhằm đem lại cho trẻ sự thỏa mái,

tự do khi học, tuy nhiên sự tự do cần mang tính tích cực và dựa trên sự độc lập của trẻ, vai trò của người giáo viên là tạo những điều kiện thuận lợi nhất để trẻ hoạt động

a trong cuộc sống hàng ngày

Việc dạy học ở trường mầm non trước hết cần hướng vào việc giáo dục cho trẻ

có thói quen định hướng thế giới xung quanh một cách đầy đủ và logic Việc hình thành các biểu tượng toán cho trẻ mầm non còn có tác dụng hình thành ở trẻ những khả năng tìm tòi, quan sát…thúc đẩy sự phát triển tư duy, ngôn ngữ cho trẻ Ví dụ:

GV tổ chức hoạt động dạo chơi xung quanh sân trường cho trẻ quan sát cây cối, hoa

lá, đồ chơi ngoài trời Từ đó có thể ôn luyện các biểu tượng về toán cho trẻ thông qua các câu hỏi lồng ghép, tích hợp một cách nhẹ nhàng

Giúp trẻ mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh, trẻ nắm được các thuộc tính của sự vật, hiện tượng Từ đó giúp trẻ giải quyết được một số khó khăn trong cuộc sống hàng ngày

Mở rộng vốn từ, đặc biệt là các thuật ngữ toán học, giúp trẻ hiểu và diễn đạt chính xác các biểu tượng toán, hiểu và diễn đạt đúng ý nghĩa mong muốn Ví dụ: trẻ nói được đúng cây nào cao nhất, cây nào thấp nhất…

Giúp trẻ học tập các môn học khác dễ dàng hơn, hiểu sâu sắc hơn, đầy đủ hơn

về nội dung các môn học

Trang 22

b trong giáo dục toàn diện

 Góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ, đặc biệt là ngôn ngữ toán học

 Góp phần hình thành phát triển và thúc đẩy các quá trình tâm lí Đó là khả năng chú ý, ghi nhớ, tưởng tượng…

 Trong giáo dục đạo đức, thẩm mỹ

 Khi trẻ tham gia vào quá trình học toán ở trường mầm non, trẻ học được cách xưng hô, biết cách giơ tay phát biểu, biết giơ tay phát biểu, biết hợp tác, chia sẻ với bạn học…Tất cả những nét tính cách đó là một phần của nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ

 Nhờ có hiểu biết về các biểu tượng toán nên trẻ biết cảm nhận cái đẹp từ đó

có mong muốn, nhu cầu tạo ra cái đẹp

 Chuẩn bị cho trẻ học toán ở các giai đoạn sau

 Chuẩn bị về mặt kiến thức: các biểu tượng toán

+ Sự hình thành các biểu tượng toán về tập hợp ở trẻ cùng với việc trẻ nắm kỹ năng so sánh độ lớn của các tập hợp cụ thể là cơ sở để trẻ lĩnh hội những mối quan

hệ số lượng, cở sở để trẻ hiểu con số và nắm được quy luật của dãy số tự nhiên, đó

là những kiến thức trừu tượng phản ánh mối liên hệ và quan hệ số lượng của mọi sự vật và sự việc xung quanh trẻ

+ Chuẩn bị một số kiến thức đơn giản, là cơ sở để trẻ học môn toán ở bậc học sau Ví dụ: liên quan đến số lượng như: số lượng, tập hợp số…Học kỳ I của lớp 1 sẽ học lại các số từ 1 – 10 và học thêm số 0 Cộng trừ trong phạm vi 10

+ Các biểu tượng về định hướng trong không gian về các phía: trên – dưới, trước - sau, phải – trái của bản thân hoặc đối tượng có sự định hướng làm chuẩn

Trang 23

+ Dạy cho trẻ một số hoạt động biến đổi đơn giản như: thêm, bớt đối tượng, chia tách nhóm để dạy trẻ nhận biết ý nghĩa ban đầu của phép tính “cộng” và phép tính “trừ”

+ Dạy trẻ về tương ứng 1:1 từ đó giúp trẻ nhận biết mối quan hệ nhiều bằng nhau về số lượng hay nhiều không bằng nhau về số lượng (nhiều hơn – ít hơn)… + Các biểu tượng về nhận biết, gọi tên và phân biệt các hình (hình tròn, hình vuông, hình tam giác, hình chữ nhật) , các khối (khối cầu, khối trụ, khối vuông, khối chữ nhật)

+ Các phép so sánh về độ lớn, độ dài của 2 hoặc 3 đối tượng

+ Các biểu tượng về sự phân biệt các buổi trong ngày, các ngày trong tuần, các mùa trong năm Biết cách xem giờ

 Chuẩn bị về mặt tâm thế cho trẻ vào lớp một

Do sự khác biệt giữa môi trường mầm non và trường tiểu học nên cần chuẩn bị tốt cho trẻ về mặt tâm thế, tránh cho trẻ sự ngỡ ngàng, lạ lẫm khi đến trường

1.3.2 Đặc điểm hình thành các biểu tượngtoán cho trẻ 5 – 6 tuổi

 Đối với việc hình thành biểu tượng về số lượng, con số và phép đếm cho trẻ 5-6 tuổi: trẻ mẫu giáo lơn (5-6 tuổi) có khả năng phân tích chính xác các phần tử tập hợp, các tập con trong tập lớn Trẻ khái quát được một tập lớn gồm nhiều tập con và ngược lại nhiều tập hợp riêng biệt có thể gộp lại với nhau theo một đặc điểm chung nào đó để tạo thành một tập lớn Khi đánh giá độ lớn của các tập hợp, trẻ mẫu giáo lớn ít bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như: màu sắc, kích thước, vị trí sắp đặt các phần

Trang 24

Trẻ 5-6 tuổi bắt đầu hiểu mối quan hệ thuận nghịch giữa các số liền kề của dãy số tự nhiên( mỗi số đứng trước nhỏ hơn số đứng sau một đơn vị và mỗi số đứng sau lớn hơn số đứng trước một đơn vị) Trên cơ sở đó dần dần trẻ hiểu quy luật thành lập dãysố tự nhiên n ±1 Kỹ năng đếm của trẻ ngày càng trở nên thuần thục, trẻ không chỉ đếm đúng số lượng các nhóm vật mà còn cả các âm thanh và các động tác, qua đó trẻ hiểu sâu sắc hơn vai trò của số kết quả Mặt khác, trẻ không chỉ đếm từng vật mà còn đếm từng nhóm vật, qua đó trẻ hiểu sắc hơn ý nghĩa của khái niệm đơn vị - đơn vị của phép đếm có thể là cả nhóm vật chứ không chỉ là tưng vật riêng

lẻ

Hơn nữa dưới tác động của dạy học, trẻ lớn không chỉ biết đếm xuôi mà còn biết đếm ngược trong phạm vi 1-10, trẻ nhận biết được các số từ 1-10 Trẻ hiểu rằng mỗi con số không chỉ diễn đạt bằng lời nói mà còn có thể viết, và muốn biết số lượng của các vật trong nhóm không nhất thiết lúc nào cũng phải đếm, mà đôi lúc chỉ cần nhìn con số biểu thị số lượng của chúng Việc cho trẻ làm quen với các con

số có tác dụng phát triển tư duy trừu tượng cho trẻ, phát triển khả năng trừu suất số lượng khỏi những vật cụ thể, dạy trẻ thao tác với các kí hiệu – các con số

Như vậy cần tiếp tục phát triển biểu tượng về tập hợp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, bước đầu cho trẻ làm quen với một số phép tính trên tập hợp, điều đó tạo cơ sở cho trẻ học các phép đếm trong phạm vi 10, trẻ lớn không chỉ đếm tưng vật riêng lẻ

mà còn đếm từng nhóm vật Nhờ vậy mà tư duy của trẻ tiếp tục được phát triển, giúp trẻ hiểu sâu sắc hơn khái niệm đơn vị, tạo tiền đề cho trẻ hiểu bản chất của các phép tính đại số mà trẻ sẽ học ở trường phổ thông

 Hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ 5-6 tuổi

So với hai giai đoạn trước, ở giai đoạn này sự nhận thức của trẻ có phần vượt trội Hệ thống tín hiệu thứ nhất không còn chiếm ưu thế như giai đoạn trước nữa mà thay vào đó là sự phát triển mạnh của hệ thống tín hiệu thứ 2 Cụ thể biểu hiện như sau:

Trẻ nhận biết được 3 chiều (chiều dài, chiều rộng, chiều cao và độ lớn) của vật một cách nhanh chóng bằng các biện pháp so sánh và phản ánh được bằng lời mối

Trang 25

quan hệ kích thước đó Ở giai đoạn này, phần lớn đã ước lượng bằng mắt về kích thước các đồ vật ở trẻ Các nghiên cứu cũng cho thấy khả năng ước lượng kích thước bằng mắt phát triển cùng với sự lớn lên của trẻ Trẻ càng lớn thì độ chính xác càng cao Do đó cần dạy trẻ những thủ thuật ước lượng kích thước bằng mắt

Trẻ mẫu giáo nhỡ đã sử dụng các thao tác tay để khảo sát đồ vật Ở giai đoạn này trẻ sử dụng thao tác tay một cách thành thạo, kết hợp được quy trình tri giác, ghi nhớ, phân tích tổng hợp Thể hiện bằng việc trẻ đã thực hiện thao tác đo lường,

sử dụng được thước đo, diễn đạt được kết quả đo Từ đó việc xác định các chiều kích thước của vật trở nên dễ dàng và chính xác Trẻ hiểu được mối quan hệ giữa độ lớn của thước đo với số đo kích thước càng nhỏ thì số đo kích thước càng lớn Mỗi thước đo khi đo một vật thì kết quả đo sẽ khác nhau Ngôn ngữ của trẻ phát triển khá mạnh trẻ có khả năng giao tiếp như người lớn Do vậy việc diễn đạt các mối quan hệ về kích thước đối với trẻ dễ dàng hơn và chính xác theo yêu cầu của cô giáo

 Hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ 5-6 tuổi

Những biểu tượng hình dạng của trẻ 5-6 tuổi ngày một phát triển, càng lớn thì quá trình tri giác của trẻ càng hoang thiện, do đó trẻ nhận biết hình dạng và các chi tiết của nó ngày càng chính xác hơn Hơn nữa, nội dung nhận biết càng phức tạp thì trí tuệ của trẻ càng phải hoạt động tích cực Hoạt động trí óc tích cực làm cho óc suy luận của trẻ mẫu giáo lớn càng phát triển, nhiều trẻ đã có khả năng tạo ra hình dạng mới từ những hình đã biết Ví dụ: trẻ biết chắp ghép từ những hình đã biết thành những ngôi nhà khác nhau…

Nếu trẻ mẫu giáo bé và nhỡ chỉ dễ dàng thực hiện các nhiệm vụ lựa chọn vật theo hình mẫu, thì trẻ mẫu giáo lớn hoàn toàn vừa sức để thực hiện các nhiệm vụ dạng này chỉ theo lời hướng dẫn của giáo viên và dựa trên những biểu tượng đã có

về hình dạng của các vật khác nhau Ví dụ:cô nói tên hình và yêu cầu trẻ nói tên những vật có hình dạng tương tự Điều đó chứng tỏ trẻ đã có vốn biểu tượng hình dạng khá phong phú Mặt khác kỹ năng so sánh, ghi nhớ, tái tạo, ứng từ - khái niệm với những từ phản ánh những biểu tượng cụ thể ở trẻ đã phát triển

Trang 26

Ở lứa tuổi mẫu giáo lớn trình độ khảo sát hình dạng của trẻ đã cao hơn, điều này cho phép trẻ tìm hiểu hình dạng của một vật một cách trình tự và có hệ thống bằng hai tay Các đầu ngón tay và mắt trẻ đã tích cực chuyển động lần lượt theo đường bao quanh vật, theo các cạnh và trên bề mặt vật dường như mô hình hóa hình dạng của vật, điều đó có tác dụng giúp trẻ nhận biết hình dạng vật một cách chính xác Trong ý thức trẻ lớn đã có sự tách rời các hình học khỏi các đồ vật, trẻ đã biết

sử dụng chúng như những hình chuẩn để xác định hình dạng của các vật xung quanh

Trong quá trình hình thành những biểu tượng hình dạng cho trẻ, lời nói của giáo viên đóng một vai trò quan trọng trong việc hướng trẻ chú ý tới những dấu hiệu

cơ bản của mình Lời nói đúng lúc và chính xác của giáo viên trong quá trình hướng dẫn trẻ tri giác vật sẽ giúp trẻ hiểu sâu sắc hơn những biểu tượng về vật và giúp trẻ ghi nhớ những điều quan sát Bằng lời nói giáo viên hướng dẫn trẻ tự đưa ra những kết luận cần thiết trong quá trình khảo sát vật và diễn đạt chúng bằng lời Lời nói có tác dụng nâng sự nhận biết cảm tính hình dạng vật của trẻ lên mức độ khái quát Vì vậy trong quá trình hướng dẫn trẻ tìm hiểu vật, tuyệt đối giáo viên không nên vội vã tách lời nói với sự tri giác sự vật, mà cần hướng dẫn trẻ thực hiện trình tự các thao tác khảo sát vật, giảng giải chúng cho trẻ Thông qua hệ thống câu hỏi, giáo viên giúp trẻ diễn đạt bằng lời nói những điều nhận biết được trong quá trình khảo sát và giúp trẻ đưa ra những kết luận khái quát

Sự phát triển các biểu tượng hình dạng ở trẻ nhỏ là một quá trình phức tạp, việc trẻ nắm và sử dụng được các hình chuẩn cho thấy mức độ phát triển trí tuệ của trẻ mầm non Việc phát triển ở trẻ khả năng nhận biết hình dạng của các vật, nhóm các vật theo hình dạng, nắm được các hình hình học và có khả năng sử dụng các hình chuẩn vào việc xác định hình dạng của các vật trong môi trường xung quanh là những chỉ số cho sự phát triển trí tuệ của trẻ, điều đó góp phần tích cực chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông

 Hình thành sự định hướng trong không gian cho trẻ 5-6 tuổi

Trang 27

Cuối lứa tuổi mẫu giáo phần lớn trẻ đã thực hiện được sự định hướng trong không gian mà không phụ thuộc vào vị trí của bản thân trẻ, trẻ đã biết thay đổi điểm chuẩn trong quá trình định hướng Sự phát triển của quá trình định hướng trong không gian ở trẻ mẫu giáo được thể hiện từ việc trẻ biết sử dụng hệ tọa độ, trẻ sử dụng hệ toạn độ tự do với chuẩn là vật bất kì để định hướng trong không gian Sự định hướng này có thể dễ dàng hình thành ở trẻ dưới tác động của việc dạy học, trong đó trẻ tự tạo ra mối quan hệ không gian giữa các vật, trẻ tập xác định mối quan hệ không gian giữa chúng khi chuẩn là các vật khác nhau và diễn đạt bằng lời các mối quan hệ đó

 Hình thành sự định hướng thời gian cho trẻ 5-6 tuổi

Trẻ 5 tuổi đã thiết lập đúng các mối liên hệ giữa các sự kiện lặp đi lặp lại theo thời gian Những biểu tượng thời gian của trẻ còn được hình thành dựa trên những hiện tượng tự nhiên khách quan như: “bây giờ là buổi sáng, trời sáng, ông mặt trời thức dậy” , “đêm- đó là khi trời tối, tất cả mọi người đều đi ngủ”…Trẻ định vị đúng thời gian diễn ra các sự kiện mang những dấu hiệu khác nhau Trẻ mẫu giáo đều có biểu tượng về các chuẩn đo thời gian như: giờ, ngày, tuần lễ, tháng…bởi những biểu tượng về độ dài của chúng được hình thành dần trong quá trình trẻ tham gia các hoạt động khác nhau Tuy nhiên những biểu tượng của trẻ về khoảng thời gian ngắn như: phút lại rất mờ nhạt, trừu tượng và chỉ thuần túy là lời nói Lời nói đóng via trò quan trọng trong sự hình thành biểu tượng thời gian, trẻ hiểu kém nhất những trạng từ diễn đạt chỉ tốc độ và sự định vị của các sự kiện trong thời gian Điều đó chứng tỏ những biểu tượng về tốc độ của trẻ thường mang tính trực quan,

dễ hình thành hơn những biểu tượng về độ dài Tuy nhiên, trẻ sẽ hiểu được ý nghĩa của những trạng từ chỉ thời gian một cách chính xác hơn nếu có sự hướng dẫn của người lớn

1.3.3 Nội dunghình thành các biểu tượng về toán cho trẻ 5 – 6 tuổi

- Đối với việc hình thành biểu tượng về số lượng, con số và phép đếm cho trẻ 5-6 tuổi: nội dung hình thành cho trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi các biểu tượng về số lượng, con số và phép đếm cần hướng tới việc củng cố và làm sâu sắc hơn những

Trang 28

kiến thức, kỹ năng mà trẻ đã học được từ các lớp trước Hơn nữa nội dung dạy trẻ phải có tác dụng thúc đấy sự phát triển trí tuệ và tư duy toán học cho trẻ nhỏ Ngay

từ các lớp mẫu giáo bé và nhỡ, trẻ đã được làm quen với các tập hợp và học cách phân tách các tập hợp con trong tập hợp lớn theo các dấuhiệu như: màu sắc, hình dạng, kích thước…Trẻ đã nắm được các biện pháp so sánh dộ lớn của các tập hợp hoặc các tập hợp controng tâp hợp lớn bằng cách thiết lập mối tương ứng 1:1 giữa các phần tử của các tập hợp hoặc của các tập hợp con, xác định mối quan hệ số lượng của chúng và diễn đạt mối quan hệ đó bằng lời nói Trẻ đã nắm được kĩ năng đếm trong phạm vi 5, xác định số lượng phần tử trong tập hợp hay số các tập hợp con trong tập hợp lớn bằng phép đếm và phản ánh độ lớn của tập hợp bằng từ số

Ở lớp mẫu giáo lớn, giáo viên cần tiếp tục phát triển biểu tượng về tập hợp cho trẻ Nếu trẻ bé và nhỡ thường nhận biết tập hợp theo các dấu hiệu bên ngoài dễ nhận thấy như: màu sắc, kích thước, hình dạng, thì trẻ mẫu giáo lớn cần nhận biết các tập hợp theo những dấu hiệu phức tạp hơn Ví dụ: trẻ phân loại đồ chơi theo vật liệu tạo nên chúng( đồ chơi bằng nhựa, đồ chơi bằng gỗ…), sau đó trẻ đếm để xác định và

so sánh số lượng từng loại đồ chơi

Trẻ mẫu giáo lớn cần tiếp tục học phép đếm xác định số lượng trong phạm vi

10, trẻ được làm quen với cách lập các số tiếp theo 5 số đầu của dãy số tự nhiên (6,

7, 8, 9, 10) trên cơ sở so sánh các tập hợp cụ thể có độ lớn bằng nhau hoặc hơn kém nhau 1 phần tử Trẻ học cách tạo lập các tập hợp với số lượng nhất định bằng cách thêm, bớt Trẻ học cách hình thành số tiếp theo bằng cách thêm 1 vào số đứng trước, qua đó trẻ hiểu được mối quan hệ giữa các số liền kề thuộc dãy số tự nhiên Dạy trẻ nhận biết các con só từ 1 tới 10

Để củng cố và phát triển kĩ năng đếm cho trẻ từ 5-6 tuổi, cần tổ chức cho trẻ tập đếm các nhóm vật được xếp theo các cách khác nhau trong không gian Qua luyện tập đếm, kỹ năng đếm của trẻ không chỉ được củng cố và phát triển mà nó còn giúp trẻ hiểu rằng, số lượng của nhóm vật không phụ thuộc vào tính chất của các vật, vào cách xắp đặt của chúng, cũng như vào hướng đếm ( đếm từ trái qua phải, từ phải qua trái, từ trên xuống…) Cần dạy trẻ đếm tách các nhóm vật trong

Trang 29

phạm vi 10 théo số lượng mẫu và theo con số cho trước, luyện tập đếm bằng các giác quan khác nhau, nhận biết độ lớn các tập hợp trong phạm vi 10 Các bài luyện tập này đồng thời cũng góp phần phát triển độ nhạy của các giác quan

Ngoài ra, nội dung dạy trẻ con hướng vào việc cho trẻ làm quen với các phép biến đổi đơn giản như: thêm, bớt, chia các nhóm đồ vật trong phạm vi 10 làm 2 phần theo các cách khác nhau Trên cơ sở đó cho trẻ làm quen với thành phần con

số trong giới hạn 10 từ hai số nhỏ hơn, dạy trẻ tạo một tập hợp theo con số cho trước từ hai tập hợp nhỏ hơn

 Hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ 5-6 tuổi

 Lên 5 tuổi trẻ đã có những biểu tượng nhất định về kích thước các vật Đặc biệt trẻ lứa tuổi này rất có hứng thú với những kiến thức toán học nói chung và với việc so sánh kích thước nói riêng Nhiều trẻ đã phân biệt được ba chiều đo kích thước của vật, tuy nhiên cũng có những trẻ nhầm các chiều đo kích thước này với nhau Ví dụ: Trẻ vẫn thường nhầm lẫn chiều dài với chiều rộng của vật…Trẻ còn rất khó hiểu tính tương đối của các chiều đo kích thước khi thay đổi cách đặt vật, ví dụ:cùng một chiều đo của vật nhưng lúc ta gọi là chiều dài lúc gọi là chiều cao Nhiều trẻ còn lúng túng khi phân biệt ba chiều đo của vật và gặp khó khan khi sắp đặt các vật theo trình tự kích thước tang dần hoặc giảm dần

 Trẻ mẫu giáo lớn có khả năng dung thước đo ước lệ để đánh giá kích thước của vật, hiểu được sự phụ thuộc giữa độ lớn của thước đo và kết quả đo Vì vậy cần dạy trẻ cách đo lường nhằm giúp trẻ nhận biết kích thước của vật một cách chính xác hơn và góp phần chuẩn bị cho trẻ học phép đo đạc ở trường tiểu học Như vậy nội dung hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo lớn bao gồm:

 Củng cố và phát triển kĩ năng so sánh kích thước của các đối tượng bằng các biện pháp: xếp chồng, xếp cạnh và ước lượng kích thước bằng mắt

 Củng cố, phát triển kỹ năng sắp xếp các vật theo trình tự kích thước tăng dần hoặc giảm dần và phản ánh mối quan hệ kích thước của chúng bằng lời nói

 Dạy trẻ phép đo lường và sử dụng phép đo để đo độ dài của từng đối tượng, nhận biết mối quan hệ kích thước theo từng chiều đo kích thước giữa các đối tượng

Trang 30

 Hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ 5-6 tuổi

 Trẻ 5-6 tuổi đã phân biệt và nắm được đặc điểm của đặc trưng của các hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật và hình tam giác, vì vậy giáo viên cần tiếp tục luyện tập trẻ sử dụng chúng như những hình chuẩn để xác định hình dạng của những vật

có xung quanh trẻ

 Ở trẻ lứa tuổi này khả năng nhận biết các hình học bằng các thao tác của tay

và mắt hoàn thiện hơn trước Vì vậy giáo viên cần dạy trẻ biện pháp khảo sát các khối cầu, khối trụ, khối vuông và khối chữ nhật bằng chuyển động lần lượt của các đầu ngón tay kết hợp với sự chuyển động của mắt trên bề mặt khối Trên cơ sở đó giúp trẻ nắm bắt được những đặc điểm đặc trưng của chúng như: cấu tạo bề mặt khối, số lượng các góc, các mặt của khối, hình dạng của mặt khối…

 Trên cơ sở những kiến thức về các hình khối mà trẻ nắm được, giáo viên dạy trẻ so sánh khối cầu với khối trụ, khối vuông với khối chữ nhật nhằm giúp trẻ nhận biết được sự giống và khác nhau giữa chúng dựa vào những dấu hiệu mang tính bản chất hơn

 Trẻ mẫu giáo lớn cần được tiếp tục luyện tập sử dụng các hình khối đã biết

để xác định hình dạng của các vật có xung quanh trẻ như: cái cốc, bình nước, lon bia… có dạng khối trụ hay hộp bánh, thùng xe ô tô… có dạng khối chữ nhật

 Tóm lại nội dụng hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo lớn bao gồm:

 Mở rộng và làm phong phú hơn biểu tượng về các hình hình học cho trẻ

 Dạy trẻ biện pháp khảo sát các khối cầu, khối vuông, khối trụ và khối chữ nhật nhằm giúp trẻ nắm được những dấu hiệu đặc trưng của các khối như: cấu tạo

bề mặt bao quanh khối, số lượng các mặt, các góc của chúng và hình dạng của mặt khối

 Dạy trẻ so sánh khối cầu với khối trụ, khối vuông với khối chữ nhật nhằm giúp trẻ thấy được sự giống và khác nhau giữa chúng

 Luyện tập cho trẻ xác định hình dạng của những vật xung quanh trẻ trên cơ

sở so sánh hình dạng của chúng với các hình học đã biết

Trang 31

 Hình thành sự định hướng trong không gian cho trẻ 5-6 tuổi

 Trẻ mẫu giáo lớn đã có khả năng xác định các hướng không gian cơ bản như: phía trên – phía dưới, phía trước – phía sau, phía phải – phía trái của bản thân trẻ không gian định hướng đã được mở rộng hơn, tuy nhiên giáo viên cần tác động để tiếp tục phát triển cho trẻ khả năng xác định vị trí của những đối tượng xung quanh

so với trẻ và vị trí của bản thân trẻ giữa những đối tượng xung quanh, mở rộng hơn những không gian định hướng cho trẻ

 Trẻ 5-6 tuổi còn có khả năng xác định các hướng không gian cơ bản như: phía trên – phía dưới, phía trước – phía sau của người khác Một mặt, giáo viên cần tiếp tục phát triển hơn nữa khả năng này của trẻ, mặt khác cần dạy trẻ xác định phía phải – phía trái của người khác dựa trên sự xác định tay phải và tay trái của người

đó

 Đến cuối lớp mẫu giáo lớn, giáo viên cần chú ý dạy trẻ học cách xác định đồ vật so với đồ vật khác nhằm hình thành cho trẻ kỹ năng xác định và diễn đạt bằng lời nói mối quan hệ không gian giữa các vật Điều đó có tác dụng giúp trẻ dễ dàng thực hiện sự định hướng trong không gian với việc sử dụng hệ tọa độ tự do mà chuẩn là vật bất kỳ

 Trong thời gian trẻ học lớp mẫu giáo lớn, giáo viên cần tiếp tục phát triển cho trẻ kỹ năng định hướng trên mặt phẳng như: tờ giấy, bảng, tấm bìa, trang sách… với việc xác định một cách chi tiết hơn các vị trí trên mặt phẳng như: góc trên bên phải, góc trên bên trái, góc dưới bên phải, góc dưới bên trái Tiếp tục dạy trẻ định hướng và thay đổi hướng khi di chuyển

 Tóm lại nội dung dạy trẻ mẫu giáo lớn định hướng trong không gian bao gồm:

 Phát triển cho trẻ kỹ năng định hướng trong không gian khi trẻ lấy mình và người khác làm chuẩn

 Dạy trẻ xác định các hướng: phía phải – phía trái của người khác

 Dạy trẻ xác định mối quan hệ không gian giữa các vật

Trang 32

 Phát triển cho trẻ kỹ năng định hướng trên mặt phẳng và hướng đi khi di chuyển

 Hình thành sự định hướng thời gian cho trẻ 5-6 tuổi

 Với trẻ mẫu giáo lớn giáo viên cần tiến hành củng cố và khắc sâu sắc hơn nữa những biểu tượng về các đơn vị đo thời gian và tính chất của thời gian mà trẻ

đã nắm được Cần mở rộng những biểu tượng về ngày cho trẻ lớn, những biểu tượng về các buổi trong ngày của trẻ không chỉ gắn liền với với nội dung hoạt động

cụ thể của trẻ và của những người lớn xung quanh, mà nó còn gắn vơi những dấu hiệu khách quan của các hiện tượng thiên nhiên Cần cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen với các mùa trong năm, với tuần lễ và tên gọi của các ngày trong tuần, định hướng được hôm qua, hôm nay và ngày mai sẽ là thứ mấy

 Để hình thành biểu tượng thời gian cho trẻ cần thường xuyên tổ chức cho trẻ quan sát các dấu hiệu đặc trưng cho các buổi trong ngày, các ngày trong tuần , các mùa trong năm…, tổ chức các cuộc đàm thoại, đọc thơ, chuyện, xem tranh ảnh …,

tổ chức các trò chơi học tập và các bài luyện tập, hướng sự chú ý của trẻ tới sự thay đổi mang tính chu kì của ban ngày và ban đêm, của các ngày, của các mùa trong năm

 Trẻ mẫu giáo lớn cần biết phân biệt và định hướng các buổi trong ngày theo

sự mọc và lặn của mặt trời Bằng việc tổ chức cho trẻ quan sát các hiện tượng thiên nhiên, xem tranh, ảnh kết hợp với việc đọc thơ, kể chuyện cho trẻ để hình thành cho trẻ biểu tượng về bình minh, hoàng hôn, ban ngày và ban đêm

 Trẻ mẫu giáo lớn cần có biểu tượng về tuần lẽ và bước đầu biết định hướng các ngày trong tuần Nên dạy trẻ nắm được những kiến thức về tuần lễ như một đơn

vị đo thời gian lao động của con người Giáo viên cần hướng sự chú ý của trẻ tới thời gian người lớn lao động, trẻ em đi học năm ngày trong tuần và nghỉ hai ngày: thứ bảy và chủ nhật Để hình thành các biểu tượng về các ngày trong tuần và dạy trẻ phân biệt và nắm được tên gọi của chúng, trong quá trình tổ chức các hoạt động khác nhau trong cuộc sống hằng ngày của trẻ giáo viên nên nói tên ngày gắn với hoạt động mà trẻ sẽ tham gia Ví dụ: “ Hôm nay thứ hai – ngày đầu tuần các cháu

Trang 33

đến trường sau các ngày nghỉ, thứ hai chúng mình sẽ học toán, sau đó chúng mình

sẽ học hát…” hay “ Hôm nay là thứ sáu, thứ sau cháu nào cả tuần đều ngoan sẽ được cô phát phiếu bé ngoan…” Hơn nữa giáo viên nên thường xuyên hỏi trẻ như:

“ Hôm nay là thứ mấy?” ( Hôm nay là thứ ba, thứ ba chúng mình luôn được cô kể chuyện cho nghe), “ Hôm qua là thứ mấy? Trước thứ ba là thứ mấy?”…Giáo viên chính xác lại câu trả lời của trẻ nhằm giúp trẻ nắm được tên gọi và trình tự các ngày trong tuần lễ Việc làm này không chỉ diễn ra trên các tiết học mà còn được thực hiện trong cuộc sống hang ngày của trẻ, như: mỗi sang trước khi học bài giáo viên hỏi trẻ: “ Hôm nay là thứ mấy?, ngày mai sẽ là thứ mấy?” Giáo viên cần dạy trẻ nắm được tên gọi của các ngày trong tuần theo trình tự, như “ Thứ hai, thứ ba,…, thứ bảy, chủ nhật”, “ Hôm nay là thứ sáu thì mãi sẽ là thứ bảy, sau thứ bảy sẽ là chủ nhật Ngày mai thứ bảy chúng ta sẽ nghỉ ở nhà, chúng ta còn nghỉ học ngày nào nữa? – Đó là ngày chủ nhật…”, giáo viên yêu cầu trẻ nói tên các ngày trong tuần lễ theo trình tự và cuối mỗi tiết học giáo viên cùng trẻ xác định lại tên gọi của ngày diễn ra tiết học đó

 Để giúp trẻ mẫu giáo lớn dễ dàng nắm được số lượng và trình tự các ngày trong tuần lễ, giáo viên có thể đứa thêm các kí hiệu vào dạy trẻ Đó là các hình tròn

có màu sắc khác nhau với các con số trên bề mặt, như: số 1 – chủ nhật ( màu đỏ), số

2 – thứ hai ( màu đen), số 3 – thứ 3 ( màu xám), số 4 – thứ 4 ( màu tím), số 5 – thứ

5 ( màu xanh), số 6 – thứ 6 ( màu vàng), số 7 – thwu7 ( màu hồng) Dựa trên các con số ghi trên bề mặt kí hiệu của hình tròn và màu sắc của chúng mà trẻ dễ dàng nhớ tên gọi và những dấu hiệu đặc trung của nó Để trẻ dễ dàng nắm được số lượng các ngày trong tuần lễ, giáo viên cho trẻ đếm số lượng các hình tròn Hơn nữa với việc sử dụng mô hình các tuần lễ, giáo viên dễ dàng giúp trẻ nắm được tính luân chuyển theo chu kì của các ngày trong tuần lễ Bằng việc tổ chức cho trẻ thực hành luyện tập định hướng các ngày trong tuần theo trình tự xuôi và ngược, giáo viên hình thành cho trẻ biểu tượng về tuần lễ 7 ngày và nó có thể được bắt đầu ngày bất

Trang 34

 Để cho trẻ làm quen với các mùa trong năm, giáo viên nên giới thiệu các mùa theo từng cặp như: mùa hè và mùa đông, mùa xuân và mùa thu Để hình thành viểu tượng về các mùa trong năm, giáo viên nên sử dụng các biện pháp đa dạng như: quan sát các dấu hiệu đặc trưng của mỗi mùa, tổ chức cho trẻ thu nhặt các loại cây, hoa, quả… đặc trưng cho mỗi mùa, xem tranh ảnh, trò chuyện với trẻ về các mùa kết hợp đọc truyện thơ, sử dụng câu đố, đồng dao… Việc cho trẻ làm quen với các mùa có thể tiến hành trên tết học và ngoài tiết học cùng với việc sử dụng hệ thống câu hỏi, như: “ Bây giờ là mùa nào?, Cháu biết những mùa nào trong năm? Khi nào là mùa hè, đông, xuân, thu? Một năm có mấy mùa?”

 Với trẻ mẫu giáo lớn, giáo viên nên sử dụng mô hình các mùa trong năm để giúp trẻ có biểu tượng về chúng cũng như số lượng và trình tự diễn ra các mùa trong năm Mô hình là hình tròn ở giữa có một cái kim và được chia làm 4 phần bằng nhau với 4 màu sắc khác nhau Ví dụ: Xanh, trắng, vàng, xám tượng trưng cho bốn mùa : xuân, hạ, thu, đông Trên cơ sở trẻ tìm hiểu và thao tác với mô hình, trẻ sẽ dễ dàng nắm bắt được số lượng và trịnh tự diễn ra các mùa trong năm, ngoài ra mô hình còn giúp trẻ ghi nhớ được những dấu hiệu đặc trưng của các mùa

 Cần tổ chức cho trẻ luyện tập định hướng các mùa trong năm, như: xác định thời điểm, thời lượng, trịnh tự của các mùa trong năm Ví dụ: Bây giờ đang là mùa nào? Một năm có mấy mùa? Hãy kể các mùa bắt đầu từ mùa đông hay từ một mùa bất kì theo yêu cầu của giáo viên Qua đó giúp trẻ hiêu rằng , một năm gồm có bốn mùa, một năm sẽ trôi qua khi tất cả các mùa lần lượt trôi qua

 Để củng cố và làm phong phú những biểu tượng về các mùa trong năm cho trẻ, giáo viên tổ chức cho trẻ đọc thơ, giải các câu đố, kể các câu chuyện từ cuộc sống riêng của mình diễn ra vào các mùa trong năm…

 Với trẻ mẫu giáo lớn, giáo viên cần hướng dẫn trẻ biết sử dụng đồng hồ cát hay đồng hồ thông thường vào việc đo các khoảng thời gian ngắn Trên cơ sở đó phát triển khả năng ước lượng độ dài khoảng thời gian ngắn cho trẻ như : 1 phút, 3 phút, 5 phút…Thông qua việc tổ chức cho trẻ thực hiện các hoạt động tạo ra sản phẩm theo thời gian quy định và việc đánh giá kết quả hoạt động của trẻ không chỉ

Trang 35

theo số lượng và chất lượng của sản phẩm thu được, mà còn tính đến cả thời gian chi phí cho nó, giúp trẻ nắm được các mối quan hệ thời gian như: nhiều thời gian hơn – ít thời gian hơn và hình thành cho trẻ biểu tượng về tốc độ thời gian, như: nhanh hơn – chậm hơn Việc dạy cho trẻ như vậy không chỉ giúp trẻ thấy được ý nghĩa của thời gian, tính không đảo ngược của thời gian, mà còn giáo dục trẻ biết quý trọng thời gian và bước đầu biết tổ chức công việc theo thời gian có được 1.3.4 Phương pháp hình thành các biểu tượng về toán cho trẻ 5 – 6 tuổi

 Đối với việc hình thành biểu tượng về số lượng, con số và phép đếm cho trẻ 5-6 tuổi: trẻ mẫu giáo lơn (5-6 tuổi)

Dạy trẻ đếm, xác định số lượng trong phạm vi 10, thêm, bớt, xác định các mối quan hệ số lượng, nhận biết các số từ 1 đến 10: việc dạy trẻ phép đếm xác định số lượng trong phạm vi 10, nhận biết các con số từ 1 đến 10 luôn bắt đầu bằng việc dạy trẻ lập số mới trên cơ sở số đã biết, trẻ học cách lập 5 số tiếp theo từ số 6 đến số

10 Ví dụ: khi dạy số 6 ta cho trẻ so sánh 5 bông hoa với 6 con bướm Khi thiết lập tương ứng 1:1 giữa số hoa và số bướm trẻ sẽ thấy số hoa ít hơn số bướm là 1, và ngược lại số bướm nhiều hơn số hoa là 1, khi cho trẻ so sánh với nhau 5 thêm 1 là 6,

6 bớt 1 là 5 như vậy trẻ sẽ lĩnh hội được nguyên tắc thành lập dãy số tự nhiên Hay

so sánh số vịt trắng với toàn bộ số vịt trắng và đen những bài tập này có tác dụng khắc sâu làm phong phú những biểu tượng về tập hợp cũng như những kinh nghiệm thao tác với các tập hợp của trẻ Trong quá trình hướng dẫn giáo viên nên hạn chế

sử dụng các hành động, thao tác mẫu, cần tăng cường dùng lời nói để hướng dẫn trẻ, bằng câu hỏi giáo viên gợi cho trẻ nhớ lại những kiến thức, kỹ năng cần thiết đã được học ví dụ: “để so sánh số hình tròn đỏ với số hình tròn xanh cháu phải làm như thế nào?” , “cháu định xếp các hình tròn đó như thế nào?” , “khi đếm cháu phải đếm như thế nào?” Đối với việc xác định số lượng các nhóm vật của trẻ mẫu giáo lớn vẫn còn bị ảnh hưởng bởi các dấu hiệu không gian của vật Ví dụ: khi dạy trẻ phân tích mối quan hệ số lượng giữa số bánh to và số kẹo nhỏ, hay giữa số hoa được xếp trên một diện tích hẹp và số bướm được xếp trên một diện tích rộng, trẻ cần phải đếm số hoa và số bướm sau đó so sánh các kết quả với nhau Hoặc trẻ có

Trang 36

thể thiết lập tương ứng 1:1 giữa mỗi vật của nhóm này với một vật của nhóm kia Giáo viên có thể sử dụng các nhóm vật có những đặc điểm chủng loại khác nhau nhưng có số lượng bằng nhau và đặt chúng ở xung quanh trẻ

Dạy trẻ cách chia một nhóm đối tượng thành 2 phần theo cách khác nhau: trong quá trình dạy trẻ giáo viên cần yêu cầu và hướng dẫn trẻ tự tìm kiếm được tất

cả các cách chia một nhóm đối tượng thành 2 nhóm Ví dụ: chia một nhóm gồm 6 đối tượng thành 2 phần theo các cách: 1 và 5, 2 và 4, 3 và 3 Giáo viên tổng kết lại các cách trẻ chia sau đó yêu cầu trẻ chia theo cô Cứ như vậy, trẻ học được cách khái quát toàn bộ cách chia các cặp thẻ số và qua đó hiểu thành phần của con số

 Hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ 5-6 tuổi: việc dạy trẻ phép đo lường cần được tiến hành theo các giai đoạn sau:

 Giáo viên giúp trẻ thấy được vai trò và mục đích của phép đo lường mà trẻ sẽ học

 Giáo viên hướng dẫn trẻ thực hiện hoạt động đo, qua đó dạy trẻ thực hiện các thao tác và quy định cần tuân thủ trong quá trình đo

 Giáo viên cần tổ chức cho trẻ nắm biện pháp đo lường trong quá trình đo các đối tượng khác nhau

Khi dạy trẻ đo, giáo viên cần giúp trẻ thấy được vai trò và mục đích của phép

đo lường mà trẻ sẽ học nhằm xác định kích thước của vật thông qua kích thước của vật lấy làm đơn vị đo

Giáo viên cần chuẩn bị sẵn các vật thể đo và các vật dùng làm thước đo Ví dụ: trẻ đo chiều dài băng giấy hay chiều rộng, chiều cao của cái bàn Với các vật dụng làm thước đo, nên sử dụng các vật tự nhiên như: que, đoạn dây, miếng gỗ mỏng, băng giấy, bước chân…giúp trẻ hiểu được tính ước lệ của các thước đo Trong quá trình đo giáo viên cần đưa ra hệ thống câu hỏi “cháu đo cái gì?” , “cháu đo bằng cái gì?” , “cháu đo như thế nào?” , giáo viên có thể sử dụng các bài luyện tập đa dạng như:

 Bài tập đo các đối tượng có kích thước bằng nhau bằng một thước đo nhằm giúp trẻ nhận thấy các đối tượng này có cùng một kết quả đo

Trang 37

 Bài tập đocác đối tượng có kích thước khác nhau bằng cùng một thước đo nhằm giúp trẻ nhận thấy các đối tượng này có kết quả đo khác nhau, vật nào có kích thước lớn hơn sẽ có số đo lớn hơn

 Bài tập đo độ dài của cùng một đối tượng bằng các thước đo có độ dài khác nhau, qua đó giúp trẻ nắm được mối quan hệ nhân quả giữa kết quả đo và độ dài của vật dùng làm thước đo: độ dài của thước đo càng lớn thì số kết quả đo càng nhỏ và ngược lại, độ dài của thước đo càng nhỏ thì số kết quả đo càng lớn

Ngoài giờ học, giáo viên cần tổ chức cho trẻ luyện tập đo các đối tượng bằng các đơn vị đo khác nhau nhằm củng cố kiến thức và kỹ năng đo cho trẻ

 Hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ 5-6 tuổi

Để đạt được mục đích hình thành ở trẻ biểu tượng đầy đủ, sâu sắc về các hình học phẳng và các hình khối, cần thiết phải cho trẻ làm quen với các dạng khác nhau của một loại hình hay hình khối, như: các hình tam giác có các cạnh và các góc khác nhau, các hình chữ nhật, khối chữ nhật dài ngắn khác nhau, các khối trụ to nhỏ, cao thấp khác nhau…Qua đó trẻ tìm những dấu hiệu đặc trưng giống nhau của các hình và khối hình cùng loại Giáo viên nên sử dụng đồ dùng dạy học phong phú

về số lượng và chủng loại, cho trẻ so sánh đồng thời mỗi loại hình và khối hình với màu sắc, kích thước, tương ứng các cạnh, góc khác nhau

Trên các tiết học cần thiết phải hình thành và phát triển ở trẻ kỹ năng khảo sát các khối với sự tham gia của thị giác và xúc giác trên bề mặt của khối bằng những bài tập: cho trẻ lựa chọn các khối theo mẫu, theot ên gọi của khối, nhận biết các khối bằng các giác quan khác nhau hay các bài tập nhóm đồng thời nhiều loại hình theo các dấu hiệu khác nhau như: màu sắc, kích thước, cấu tạo đường bao, bề mặt khối, hoặc số lượng đỉnh, góc, cạnh, mặt khối…Với các bài tập phân loại các hình phẳng và hình khối đã học, giáo viên có thể phát huy tính tích cực, độc lập của trẻ bằng cách để trẻ tự đề xuất sẽ nhóm chúng theo dấu hiệu nào, sẽ tạo thành bao nhiêu nhóm

Cần thường xuyên củng cố cho trẻ kỹ năng so sánh hình dạng của các vật với các mẫu hình học, phát triển sự tri giác Ngoài ra có thể sử dụng một số tranh ảnh,

Trang 38

tranh vẽ hay cắt dán, các vật khác nhau…để trẻ xác định và mô tả hình dạng của chúng, nhóm các vật theo dấu hiệu hình dạng và quan trọng là tập hợp cho trẻ kỹ năng ứng dụng những kiến thức thu được vào tình huống hoàn cảnh khác nhau

 Hình thành sự định hướng trong không gian cho trẻ 5-6 tuổi

Trẻ mẫu giáo cần nắm được biện pháp phân biệt các hướng khác nhau trên cơ thể người, con vật và các đồ vật khác Việc dạy trẻ phân tích sơ đồ không gian của các đối tượng khác nhau cần diễn ra trong quá trình trẻ tri giác trực tiếp các đối tượng đó Tuy nhiên, một số vật xung quanh trẻ lại không có những đặc tính không gian rõ ràng như: quả bóng, khối vuông…nên trẻ rất khó khăn khi phân tích các đặc tính này ở các vật đó Vì vậy giáo viên không nên sử dụng các vật này làm vật chuẩn để trẻ luyện tập xác định mối quan hệ không qian giữa các vật

Giáo viên tiến hành cho trẻ luyện tập định hướng trong không gian khi trẻ lấy mình, người khác và vật khác làm chuẩn Các nhiệm vụ dành cho trẻ mẫu giáo lớn cần phức tạp hơn so với các nhiệm vụ cho trẻ bé và nhỡ như: không gian mà trẻ cần định hướng mở rộng hơn, số lượng các dấu hiệu mà trẻ cần xác định đồng thời tăng dần, số lượng các dấu hiệu của đối tượng mà trẻ cần định hướng nhiều hơn…

Trên các tiết học, giáo viên cần giao cho trẻ thực hiện các nhiệm vụ di chuyển theo hướng cần thiết như: phía trước, phía sau, bên trái…Ví dụ: trò chơi “tìm đồ vật” trẻ phải tích cực thực hiện nhiệm vụ chơi thông qua việc thực hiện các thao tác chơi, di chuyển theo hướng cần thiết,thay đổi hướng di chuyển Khi mới tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi dạng này diện tích chơi cần có sự hạn chế Bên cạnh đó giáo viên cần dạy trẻ một số luật lệ giao thông, hình thành cho trẻ một số kĩ năng định hướng theo các hướng bên phải và bên trái Chẳng hạn, đi bộ phải đi trên vỉa

hè và đi ở bên phải…

Để dạy trẻ xác định mối quan hệ không gian giữa các vật, ban đầu bằng phương pháp trực quan kết hợp với lời nói giáo viên cần chỉ cho trẻ thấy rõ các mối quan hệ không gian giữa các đồ vật, đồ chơi (ở phía trước, ở phía sau, ở giữa…) và diễn đạt chúng một cách chính xác bằng lời

Trang 39

Để hình thành kỹ năng định hướng trên mặt bảng, tờ giấy…giáo viên cần cho trẻ xem mẫu kết hợp dùng lời mô tả số lượng, hình dạng và đặc biệt là vị trí sắp đặt của các vật trên tấm bìa Sau đó, trẻ cần thực hành mô tả và tái tạo lại vị trí sắp đặt của các vật đó Tiếp theo, trẻ sẽ thực hành sắp đặt các vật lên các vị trí khác nhau trên tấm bìa của mình theo mẫu và theo yêu cầu của giáo viên Với các bài luyện tập này, điều quan trọng là trẻ phải sử dụng những từ chính xác để mô tả vị trí sắp đặt của các vật trên tờ giấy, tấm bìa…sao cho các thao tác thực tiễn mà trẻ đã thực hiện được phản ánh vào trong lời nói của chính trẻ

 Hình thành sự định hướng thời gian cho trẻ 5-6 tuổi

 Để hình thành biểu tượng thời gian cho trẻ cần thường xuyên tổ chức cho trẻ quan sát các dấu hiệu đặc trưng cho các buổi trong ngày, các ngày trong tuần , các mùa trong năm…, tổ chức các cuộc đàm thoại, đọc thơ, chuyện, xem tranh ảnh …,

tổ chức các trò chơi học tập và các bài luyện tập, hướng sự chú ý của trẻ tới sự thay đổi mang tính chu kì của ban ngày và ban đêm, của các ngày, của các mùa trong năm

 Trẻ mẫu giáo lớn cần biết phân biệt và định hướng các buổi trong ngày theo

sự mọc và lặn của mặt trời Bằng việc tổ chức cho trẻ quan sát các hiện tượng thiên nhiên, xem tranh, ảnh kết hợp với việc đọc thơ, kể chuyện cho trẻ để hình thành cho trẻ biểu tượng về bình minh, hoàng hôn, ban ngày và ban đêm

 Trẻ mẫu giáo lớn cần có biểu tượng về tuần lẽ và bước đầu biết định hướng các ngày trong tuần Nên dạy trẻ nắm được những kiến thức về tuần lễ như một đơn

vị đo thời gian lao động của con người Giáo viên cần hướng sự chú ý của trẻ tới thời gian người lớn lao động, trẻ em đi học năm ngày trong tuần và nghỉ hai ngày: thứ bảy và chủ nhật Để hình thành các biểu tượng về các ngày trong tuần và dạy trẻ phân biệt và nắm được tên gọi của chúng, trong quá trình tổ chức các hoạt động khác nhau trong cuộc sống hằng ngày của trẻ giáo viên nên nói tên ngày gắn với hoạt động mà trẻ sẽ tham gia Ví dụ: “ Hôm nay thứ hai – ngày đầu tuần các cháu đến trường sau các ngày nghỉ, thứ hai chúng mình sẽ học toán, sau đó chúng mình

sẽ học hát…” hay “ Hôm nay là thứ sáu, thứ sau cháu nào cả tuần đều ngoan sẽ

Trang 40

được cô phát phiếu bé ngoan…” Hơn nữa giáo viên nên thường xuyên hỏi trẻ như:

“ Hôm nay là thứ mấy?” ( Hôm nay là thứ ba, thứ ba chúng mình luôn được cô kể chuyện cho nghe), “ Hôm qua là thứ mấy? Trước thứ ba là thứ mấy?”…Giáo viên chính xác lại câu trả lời của trẻ nhằm giúp trẻ nắm được tên gọi và trình tự các ngày trong tuần lễ Việc làm này không chỉ diễn ra trên các tiết học mà còn được thực hiện trong cuộc sống hang ngày của trẻ, như: mỗi sang trước khi học bài giáo viên hỏi trẻ: “ Hôm nay là thứ mấy?, ngày mai sẽ là thứ mấy?” Giáo viên cần dạy trẻ nắm được tên gọi của các ngày trong tuần theo trình tự, như “ Thứ hai, thứ ba,…, thứ bảy, chủ nhật”, “ Hôm nay là thứ sáu thì mãi sẽ là thứ bảy, sau thứ bảy sẽ là chủ nhật Ngày mai thứ bảy chúng ta sẽ nghỉ ở nhà, chúng ta còn nghỉ học ngày nào nữa? – Đó là ngày chủ nhật…”, giáo viên yêu cầu trẻ nói tên các ngày trong tuần lễ theo trình tự và cuối mỗi tiết học giáo viên cùng trẻ xác định lại tên gọi của ngày diễn ra tiết học đó

 Để giúp trẻ mẫu giáo lớn dễ dàng nắm được số lượng và trình tự các ngày trong tuần lễ, giáo viên có thể đưa thêm các kí hiệu vào dạy trẻ Đó là các hình tròn

có màu sắc khác nhau với các con số trên bề mặt, như: số 1 – chủ nhật ( màu đỏ), số

2 – thứ hai ( màu đen), số 3 – thứ 3 ( màu xám), số 4 – thứ 4 ( màu tím), số 5 – thứ

5 ( màu xanh), số 6 – thứ 6 ( màu vàng), số 7 – thwu7 ( màu hồng) Dựa trên các con số ghi trên bề mặt kí hiệu của hình tròn và màu sắc của chúng mà trẻ dễ dàng nhớ tên gọi và những dấu hiệu đặc trung của nó Để trẻ dễ dàng nắm được số lượng các ngày trong tuần lễ, giáo viên cho trẻ đếm số lượng các hình tròn Hơn nữa với việc sử dụng mô hình các tuần lễ, giáo viên dễ dàng giúp trẻ nắm được tính luân chuyển theo chu kì của các ngày trong tuần lễ Bằng việc tổ chức cho trẻ thực hành luyện tập định hướng các ngày trong tuần theo trình tự xuôi và ngược, giáo viên hình thành cho trẻ biểu tượng về tuần lễ 7 ngày và nó có thể được bắt đầu ngày bất

 Để cho trẻ làm quen với các mùa trong năm, giáo viên nên giới thiệu các mùa theo từng cặp như: mùa hè và mùa đông, mùa xuân và mùa thu Để hình thành viểu tượng về các mùa trong năm, giáo viên nên sử dụng các biện pháp đa dạng

Ngày đăng: 14/05/2021, 22:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w