Việc điều tra được tiến hành ở 34 cơ sở nuôi tôm trên cát bằng kỹ thuật phỏng vấn cấu trúc dựa trên phiếu điều tra kết hợp với khảo sát thực địa để thu thập các thông tin định lượng liê[r]
Trang 1ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA NUÔI TÔM TRÊN CÁT VEN
BIỂN TỈNH QUẢNG BÌNH
Trần Anh Tuấn 1 , Nguyễn Văn Chung 2 ,
1 Khoa Môi trường, Đại học Khoa Học Huế 2
Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Quảng Bình
TÓM TẮT
Hai huyện Lệ Thủy và Bố Trạch đã được lựa chọn làm địa bàn nghiên cứu nhằm đánh giá tính bền vững của nuôi tôm trên cát của tỉnh Quảng Bình Kỹ thuật phỏng vấn cấu trúc bằng phiếu điều tra kết hợp với quan sát thực địa đã được tiến hành tại 34 cơ sở nuôi tôm trên cát của 02 huyện nghiên cứu nhằm thu thập các số liệu và thông tin liên quan đến quy mô vùng nuôi, hiện trạng môi trường, luật pháp-thể chế và tình hình kinh tế-xã hội Nghiên cứu cũng đã kế thừa và
sử dụng Bộ chỉ thị của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) và Chỉ số Nuôi trồng Thủy sản bền vững (SAI) do Khoa Môi trường, Đại học Khoa học Huế xây dựng để đánh giá tính bền vững của các cơ sở nuôi Kết quả định lượng bằng SAI cho thấy 08 trên tổng số
09 cơ sở nuôi tôm ở huyện Lệ Thủy có giá trị SAI phân bố trong vùng nuôi an toàn và khá an toàn (giá trị SAI nằm trong khoảng từ 1,62 đến 2,49) Trong khi đó, có đến 21 trong tổng số 25
cơ sở nuôi tôm ở huyện Bố Trạch có giá trị SAI nằm trong vùng nuôi không an toàn (giá trị SAI nằm trong khoảng 3,57 – 3,85) Do vậy, huyện Bố Trạch cần phải xem xét và khắc phục các mặt yếu kém trong các hoạt động nuôi tôm để đạt được vùng nuôi bền vững
MỞ ĐẦU
Bên cạnh thế mạnh về du lịch, vùng cát ven biển tỉnh Quảng Bình cũng đang có lợi thế để xúc tiến các hoạt động phát triển khác như kinh tế cơ sở, nuôi trồng thủy hải sản, Hiện nay, nuôi tôm trên cát đã bước đầu mang lợi ích kinh tế lớn; do vậy, hoạt động này đã phát triển thành phong trào ở hầu hết các xã, huyện ven biển Những khu vực này đều tận dụng quỹ đất của mình hoặc cho thuê đất với giá thấp để nuôi tôm trên cát Thực tiễn trong mấy năm qua cho thấy nuôi tôm trên cát (chủ yếu là tôm thẻ chân trắng) là hướng đi đúng vì tỉnh Quảng Bình có những điều kiện thuận lợi như quỹ đất ven biển phong phú, diện tích đất trên cát vẫn còn nhiều, việc đền bù
và giải phóng mặt bằng sẽ dễ dàng hơn các vùng khác, là vùng bãi ngang nên khả năng trao đổi nước tương đối thuận lợi, chủ động được mùa vụ, Vì thế, nuôi tôm trên cát là giải pháp có sức hấp dẫn lớn đối với các nhà đầu tư cũng các hộ gia đình sống ven biển [6]
Tuy nhiên, các hoạt động nuôi tôm trên cát ở Quảng Bình chưa được quản lý và quy hoạch tốt Nhiều cơ sở nuôi hình thành tự phát, không tuân thủ trình tự các thủ tục và quy định về
Trang 2đất đai và môi trường Một số cơ sở dù đã thực hiện quy trình lập và đã được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cam kết/đề án bảo vệ môi trường nhưng không thực hiện đúng với các nội dung đã được UBND tỉnh phê duyệt, không tuân thủ đúng quy trình nuôi tôm, nuôi tôm mang tính thời vụ, chỉ nhắm vào lợi huận trước mắt mà không tính đến lợi ích lâu dài, Ngoài ra, thực tế còn cho thấy nhiều cơ sở nuôi tôm (đặc biệt là các cơ sở nhỏ lẽ quy mô hộ gia đình) không có hệ thống xử lý nước cấp, nước thải; hoặc có nhưng không tuân thủ quy trình xử lý; việc khai thác nước ngầm thiếu hợp lý, làm tăng nguy cơ ô nhiễm nước biển ven bờ, nguy
cơ dịch bệnh trong hoạt động nuôi trồng, nguy cơ xâm nhập mặn và làm gia tăng các tác động xấu đến môi trường vùng bờ Do vậy, môi trường nuôi tại nhiều địa phương bị ô nhiễm nghiêm trọng dẫn đến việc nuôi tôm kém hiệu quả do dịch bệnh [4]
Xuất phát từ những thực tế trên đây, một nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho các cấp quản lý liên quan là cần tiến hành tìm hiểu thực trạng và đánh giá tính bền vững của các vùng nuôi, cung cấp cơ sở thực tiễn để xem xét các tác động qua lại giữa phát triển vùng nuôi và các vấn đề về kinh tế - xã hội cũng như môi trường; qua đó đề xuất các giải pháp phát triển bền vững các hoạt động nuôi tôm trên cát của tỉnh Quảng Bình
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Việc điều tra được tiến hành ở 34 cơ sở nuôi tôm trên cát bằng kỹ thuật phỏng vấn cấu trúc dựa trên phiếu điều tra kết hợp với khảo sát thực địa để thu thập các thông tin định lượng liên quan đến quy mô vùng nuôi, hiện trạng môi trường, luật pháp - thể chế và tình hình kinh tế-xã hội
ở các cơ sở nuôi tôm của 2 xã Ngư Thủy Bắc và Ngư Thủy Trung thuộc huyện Lệ; và 2 xã Trung Trạch và Nhân Trạch thuộc huyện Bố Trạch
Kỹ thuật phỏng vấn sâu cũng được sử dụng để thu thập các thông tin định tính và các dữ liệu thứ cấp liên quan Đối tượng phỏng vấn sâu được chia thành 2 nhóm:
1) Lãnh đạo UBND của các xã liên quan;
2) Đại diện các cơ quan cấp huyện liên quan bao gồm Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, và Phòng Tài nguyên và Môi trường
Do lượng mẫu điều tra không quá lớn và các yêu cầu thống kê không quá phức tạp nên các số liệu thu thập được xử lý bằng công cụ Thống kê mô tả (Descriptive Statistics) của MS Excel Đây là một add-in miễn phí và dễ cài đặt, phục vụ khá tốt và thuận tiện cho việc thống kê các số liệu thu thập được
Phương pháp đánh giá tính bền vững của vùng nuôi
Trang 3Đề tài kế thừa, sử dụng Bộ chỉ thị của FAO và Chỉ số Nuôi trồng Thủy sản bền vững (SAI) của Khoa Môi trường, Đại học Khoa học Huế để đánh giá tính bền vững của các cơ sở nuôi tôm Theo khuyến nghị của FAO (1998), có 4 nhóm chỉ thị với 35 chỉ thị liên quan đến tính bền
vững của các cơ sở nuôi trồng thuỷ sản cần được xem xét, bao gồm: nhóm chỉ thị luật pháp và
thể chế (nhóm L), nhóm chỉ thị quy mô vùng nuôi (nhóm Q), nhóm chỉ thị môi trường và sinh thái (nhóm M) và nhóm chỉ thị kinh tế - xã hội (nhóm K) [1] Bộ chỉ thị, điểm và trọng số của từng chỉ
thị trong mỗi nhóm chỉ thị này được trình bày chi tiết trong bảng 1
Bảng 1 Bộ chỉ thị đánh giá tính bền vững của các cơ sở nuôi
số
Trọng
số Cơ sở dữ liệu cần thu thập
Nhóm chỉ thị luật pháp và thể chế (nhóm L)
1 Vùng nuôi nằm trong: - Quy hoạch
- Tự phát
1
- Quy hoạch tổng thể vùng, ngành
2 Lập ĐTM và Cam kết BVMT: - Có
- Không
1
- Quyết định, thẩm định báo cáo ĐTM, Cam kết BVMT
3 Giấy phép hoạt động: - Có
- Không
1
- Kiểm tra giấy phép hoạt động của cơ sở
4 Mức độ sử dụng hóa chất độc hại và kháng
sinh trong nuôi trồng
1 - 5
1
- Điều tra sử dụng hóa chất của cơ sở
5 Mức độ quy định về xử lý môi trường, giống
và dịch bệnh
1 - 5
1
- Các quy định về xử lý
MT, giống, dịch bệnh,
6 Các vi phạm về luật, chính sách: - Không
- Có
1
- Biên bản xử phạt
Các chỉ thị quy mô vùng nuôi (nhóm Q)
7 Diện tích ao nuôi tính theo ha 1 - 5 1 - Giấy phép hoạt động
8 Hình thức nuôi: - Quảng canh cải tiến
- Bán thâm canh
- Thâm canh
1
3
5
3
- Loại hình đang nuôi
9 Quyền sở hữu đất đai sử dụng: - Sở hữu
- Thuê
- Tự phát
1
3
5
1
- Giấy phép hoạt động
10 Thời gian hoạt động: - < 3 năm
- 3 5 năm
- > 5 năm
1
3
5
1
- Giấy phép hoạt động
11 Vùng nuôi được xây dựng theo đúng quy
trình kỹ thuật: - Có
- Không
1
5
3
- Diện tích trang trai, mặt nước (ao xử lý, ao chứa nước, )
12 Nguồn giống được kiểm tra: - Có
- Không
1
- Phiếu xét nghiệm giống, nguồn giống
13 Tình trạng sức khỏe của người lao động 1 - 5
1
- Phiếu khám sức khỏe + phỏng vấn người lao động
14 Mức tuân thủ mật độ thả đối tượng nuôi 1 - 5
1
- Số lượng đối tượng nuôi trên hình thức nuôi
15 Mức độ xây dựng chương trình giám sát 1 - 5 - Kế họach giám sát theo
Trang 4chất lượng 1 mùa vụ
16 Nguồn thức ăn phục vụ nuôi trồng được
giám sát, kiểm tra thường xuyên
1 - 5
1
- Loại thức ăn + lượng thức
ăn dư thừa khi nuôi
17 Loài nuôi: - Nhiều loài (tôm, cá, cua…)
- Hai loài
- Một loài
1
3
5
1
- Số loài trong một ao nuôi
18 Các loại nguồn vốn đầu tư nuôi 1 - 5 1 - Điều tra, phỏng vấn
Các chỉ thị môi trường và sinh thái (nhóm M)
19 Mức độ xử lý nước thải trong quá trình nuôi 1 - 5 3 - Báo cáo hiện trạng MT
phần CTR
21 Thuộc khu vực bảo tồn: - Không
- Nằm sát
- Có
1
3
5
1
- Các hệ sinh thái
- Các quy hoạch vùng và của ngành
22 Mức độ quy định danh mục sử dụng các loại
hóa chất trong quá trình nuôi
1 - 5
1
- Kiểm tra danh mục hoá chất
23 Biện pháp và mức độ xử lý dịch bệnh bùng
phát
1 - 5
3
- Báo cáo tình hình dịch bệnh trong vùng
24 Mức độ cảnh báo và hỗ trợ phòng ngừa dịch
bệnh
1 - 5
1
- Công cụ, phương tiện đã được xây dựng
25 Cải tạo môi trường sau vụ nuôi: - Hoàn toàn
- Một phần
- Không
1
3
5
1 - Đo đạc các thông số MT (đất, nước, không khí, CTR, )
1
- Đo đạc các thông số môi trường khí
27 Nguồn nước cấp: - Nước mặt
- Nước mặt và nước ngầm
- Nước ngầm
1
3
5
3
- Điều tra thực địa
Các chỉ thị kinh tế - xã hội (nhóm K)
28 Mức độ tạo công việc cho người dân: 1 - 5 1 - Số lượng lao động
30 Mức độ ảnh hưởng đến các hoạt động khác
trong vùng
1 - 5
1
- Các khiếu nại, khiếu kiện
31 Mức độ hưởng lợi của người dân trong vùng
từ các vùng nuôi
1 - 5
1
- Thống kê của địa phương
về tình hình kinh tế-xã hội
32 Sức khỏe cộng đồng xung quanh vùng nuôi
- Không bị ảnh hưởng
- Bị ảnh hưởng
1
5
1
- Số lượng người bị ảnh hưởng
- Khiếu nại của người dân
33 An ninh xã hội: - Bảo đảm an ninh xã hội
- Không bảo đảm
- Hoàn toàn không bảo đảm
1
3
5
1
- Tình hình an ninh trật tự
34 Gia tăng dân số: - Không tăng (0%)
- 0,12%
- > 2%
1
3
5
1
- Tỷ lệ nhập cư
35 Nộp thuế: - Có nộp thuế
- Không nộp thuế
1
- Hóa đơn nộp thuế hàng năm
Trang 5Trong bảng trên đây, các chỉ thị được tiến hành cho điểm theo mức độ lượng hoá thông tin chiều từ thấp đến cao Điểm số của mỗi chỉ thị có giá trị từ 1 đến 5 theo chiều hướng tăng dần của các tác động tiêu cực Khi các thông tin thu thập trải đều và được lượng hoá theo mức độ thì chỉ thị có thang điểm tăng dần từ 1 đến 5 Đối với các chỉ thị được lượng hoá dựa vào thông tin nhị phân (có hay không) thì điểm số được tính là 1 hay 5 Điểm 1 tác động ít nhất và điểm 5 tác động lớn nhất Trong một số trường hợp, điểm 3 tính cho giá trị trung bình [2]
Kỹ thuật đánh giá các cơ sở nuôi được dựa trên phương pháp đo lường tính bền vững do Khoa Môi trường, Đại học Khoa học Huế giới thiệu vào năm 2008 Đây là phương pháp tổng hợp các chỉ tiêu thông qua một chỉ số bền vững chung; trong đó, điểm số các chỉ thị có cùng đặc điểm kết hợp với nhau thành điểm số của 1 nhóm chỉ thị và điểm số của các nhóm chỉ thị lại được tích hợp thành một chỉ số nuôi trồng thủy sản bền vững (SAI) Chỉ số dao động từ 1 đến 5 cho biết mức độ bền vững của cơ sở nuôi Bảng 3.2 mô tả chi tiết các bước tính toán giá trị SAI
Bảng 2 Quy trình đánh giá tính bền vững của các cơ sở nuôi tôm bằng giá trị SAI
Các bước tính toán
Nhóm chỉ thị luật pháp-thể chế (nhóm L)
Nhóm chỉ thị quy mô vùng nuôi (nhóm Q)
Nhóm chỉ thị môi trường (nhóm M)
Nhóm chỉ thị kinh tế - xã hội (nhóm K)
1 Xác định giá trị chỉ
thị I (từ 1 đến 5) dựa
trên phiếu điều tra
IL1, IL2, … ILn IQ1, IQ2, … IQn IM1, IM2, … IMn IK1, IK2, … IKn
2 Xác định trọng số C
của từng chỉ thị (từ 1
đến 3)
CL1, CL2, … CLn CQ1, CQ2, … CQn CM1, CM2, … CMn CK1, CK2, … CKn
3 Tính toán điểm số của
từng chỉ thị (Li, Qi, Mi
và Ki)
Li = ILi x CLi Qi = IQi x CQi Mi = IMi x CMi Ki = IKi x CKi
4 Tính toán điểm số
trung bình của 4 nhóm
chỉ thị (L, Q, M và K)
n
i
Li
1
n
i Li
C
n
i
Qi
1
n
i Qi
C
n
i
Mi
1
n
i Mi
C
n
i
Ki
1
n
i Ki
C
1
5 Xác định trọng số của
4 nhóm chỉ thị CL, CQ,
CM, và CK
CL = 1* CQ = 1* CM = 1* CK = 1*
6 Tính toán chỉ số SAI j
K M
Q L
j
KxC MxC
QxC LxC
7 So sánh kết quả SAI với 5 cấp độ của vùng nuôi bền vững:
1) Giá trị SAI từ 1,01,89: cơ sở nuôi bền vững không nhất thiết có giải pháp can thiệp
2) Giá trị SAI từ 1,9 2,69: cơ sở nuôi khá bền vững có thể chấp nhận được một số tác động 3) Giá trị SAI từ 2,7 3,49: cơ sở nuôi trung bình, chấp nhận được nếu có biện pháp can thiệp 4) Giá trị SAI từ 3,5 4,29: cơ sở nuôi không bền vững cần xem xét điều chỉnh các hoạt động 5) Giá trị SAI từ 4,3 5,0: cơ sở nuôi rất không bền vững, hoàn toàn không đáp ứng yêu cầu
Ghi chú: *: Bốn nhóm chỉ thị có tầm quan trọng như nhau; do vậy, trọng số của 4 nhóm chỉ thị
là bằng nhau và bằng 1.
Trang 6KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Thực trạng trạng nuôi tôm trên cát ven biển ở địa bàn nghiên cứu
Theo kết quả điều tra và khảo sát, huyện Lệ Thủy hiện chỉ có hiện chỉ có 02 xã tiến hành các hoạt động nuôi tôm trên cát Ở huyện Bố Trạch, hiện đang có 4 xã nuôi tôm trên cát; trong đó
02 xã được chọn ngẫu nhiên từ 04 xã để tiến hành điều tra
Sử dụng đất cho nuôi tôm trên cát
Hai huyện nghiên cứu có tổng cộng 34 cơ sở nuôi tôm trên cát tập trung tại 04 xã: Ngư Thủy Trung và Ngư Thủy Bắc thuộc huyện Lệ Thủy - đại diện cho khu vực phía Nam của tỉnh; Nhân Trạch và Trung Trạch thuộc huyện Bố Trạch - đại diện cho khu vực phía Bắc của tỉnh (xem thêm chi tiết về các vùng nuôi ở bảng 3) Tổng diện tích đất nuôi tôm trên cát tại 04 xã này là 117,3 ha, chiếm 39,31% diện tích nuôi tôm trên cát trên toàn tỉnh
Bảng 3 Số cơ sở nuôi tôm và diện tích nuôi ở từng xã của địa bàn nghiên cứu
STT Địa bàn nghiên cứu Số cơ sở nuôi
tôm
Diện tích cơ sở nuôi (ha)
Diện tích
ao nuôi (m 2 )
Kết quả điều tra và khảo sát bằng phiếu điều tra và phỏng vấn sâu cho thấy việc quy hoạch
và phát triển vùng nuôi tôm trên cát tại 02 xã thuộc huyện Lệ Thủy là phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của huyện Tuy nhiên, huyện Bố Trạch vẫn còn một số cơ sở tư nhân tự phát nuôi tôm theo phong trào và thiếu sự quản lý của các cấp chính quyền Ngoài ra, nhiều cơ sở nuôi tôm ở huyện này có diện tích đất nuôi canh tác khá nhỏ (hơn 50% số hộ có diện tích từ 0,3 đến 1,0 ha) Đất đai ở đây bị chia manh mún bởi do quỹ đất hạn chế nhưng nhu cầu sử dụng đất nuôi tôm của người dân trên địa bàn là khá lớn Với diện tích đất nuôi tôm nhỏ, các hộ dân chỉ đầu tư được từ một đến vài ao nuôi và không có quỹ đất để đầu tư thêm cho ao xử lý nước thải hoặc ao xử lý nước cấp Như vậy, với việc quản lý thiếu chặt chẽ về sử dụng đất của chính quyền địa phương cộng thêm sự nóng vội của người dân trong việc phát triển nuôi tôm trên cát đã dẫn đến nhiều kết quả không mong muốn ở huyện Bố Trạch
Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường
Đối với huyện Lệ Thủy, 08 trên tổng số 09 cơ sở nuôi đã thực hiện lập quy hoạch chi tiết
sử dụng đất, lập báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cam kết bảo vệ môi trường/đề án bảo
vệ môi trường (gọi chung là lập hồ sơ môi trường) và đã được cấp có thẩm quyền thẩm định và
Trang 7phê duyệt trước khi tiến hành các hoạt động canh tác Chỉ có duy nhất trường hợp của 1 hộ gia đình ở xã Ngư Thủy Bắc phát triển tự phát tại vị trí nằm sát biển nên chưa được cấp phép Kết quả điều tra cũng cho biết trong tổng số 25 cơ sở nuôi ở huyện Bố Trạch, mới chỉ có 04 cơ sở trên địa bàn xã Trung Trạch đã lập lập hồ sơ môi trường và đã được phê duyệt (đạt tỷ lệ 0,16%); 21
cơ sở còn lại, chủ yếu là các hộ nuôi tôm ở xã Nhân Trạch (chiếm tỷ lệ 99,84%), hoàn toàn chưa lập hồ sơ môi trường
Tại các cơ sở nuôi tôm như Công ty cổ phần chăn nuôi C.P Việt Nam - Chi nhánh Quảng Bình, DNTN nuôi trồng thủy sản Hưng Thịnh và hộ tư nhân Trần Quang Mão (xã Ngư Thủy Bắc), hộ tư nhân Ngô Minh Phiện và Ngô Minh Khích (xã Ngư Thủy Trung), hộ tư nhân Phan Văn Thăng (xã Trung Trạch), do có vốn đầu tư và quỹ đất được cấp lớn nên đã thực hiện theo đúng quy hoạch thiết kế, bố trí đầy đủ ao xử lý nước cấp đầu vào, ao xử lý nước thải, ao chứa bùn, ao nuôi, Tuy nhiên, đối với phần lớn các hộ tư nhân, do đầu tư hạn chế, phát triển nuôi tự phát, quy mô đầu tư nhỏ nên phần lớn các hộ nuôi không thực hiện nghiêm túc vấn đề quy hoạch
ao nuôi mặc dù một số hộ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch chi tiết Họ tận dụng toàn bộ quỹ đất để thiết kế ao nuôi nên không bố trí ao xử lý nước cấp, ao xử lý nước thải, Toàn bộ nước thải, bùn thải không được xử lý thải trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm môi trường xung quanh, dẫn đến tình trạng phát triển chăn nuôi kém hiệu quả về lâu dài
Những thông tin trên cho thấy hầu hết các cơ sở nuôi tôm trên cát thuộc quy mô hộ gia đình có ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường chưa cao, dẫn đến các hệ lụy về ô nhiễm môi trường phát sinh trong quá trình nuôi, điều này tác động ngược trở lại việc nuôi tôm của các hộ dân Tại thời điểm điều tra, các hộ nuôi tôm trên cát ở huyện Lệ Thủy vẫn hoạt động bình thường, chỉ trừ 1 hộ tư nhân sát biển chỉ hoạt động được một vụ trong mùa khô Trong khi
đó, các hộ nuôi tôm trên cát thuộc địa bàn huyện Bố Trạch hoạt động cầm chừng do nguồn nước biển có dấu hiệu ô nhiễm và không đáp ứng được tiêu chuẩn về nguồn nước cấp cho các hoạt động nuôi tôm trên cát
Lựa chọn vụ nuôi và xử lý ao nuôi
Phần lớn các cơ sở nuôi tôm trên địa bàn nghiên cứu lựa chọn số vụ nuôi/năm chưa phù hợp dẫn đến nhiều phát sinh gây ô nhiễm môi trường Do vốn đầu tư nhỏ, có khá nhiều cơ sở nuôi tôm trên cát quy mô hộ gia đình phải đi vay ngân hàng nên áp lực trả lãi vay buộc các cơ sở nuôi tôm tăng cường số vụ nuôi trong năm để nhanh thu hồi vốn Do vậy, phần lớn các hộ nuôi
hộ gia đình đều lựa chọn nuôi 3 vụ/năm Đối với cơ sở nuôi thuộc các doanh nghiệp, do chủ động
về nguồn vốn lại có nhiều kinh nghiệm trong đầu tư và phát triển nuôi tôm trên cát nên đã lựa chọn số vụ nuôi phù hợp, với mức trung bình 2 vụ/năm, nhằm tạo đủ thời gian cho quá trình xử
lý ao nuôi và tái tạo môi trường xung quanh
Trang 8Đối với các cơ sở lựa chọn nuôi 3 vụ/năm, chủ ao nuôi thường không đủ thời gian cho quá trình xử lý ao sau khi thu hoạch xong để bảo đảm an toàn cho vụ nuôi tiếp theo Thực tế này dẫn đến ao nuôi bị ô nhiễm, dễ gây nên dịch bệnh khi nuôi vụ tiếp theo Mặt khác, do thời gian nuôi dày, nguồn nước thải ra liên tục không được xử lý làm cản trở quá trình tự làm sạch của nước biển Trong khi đó, điểm xả thải và điểm bơm cấp nước ao nuôi rất gần nhau (nhất là ở các
hộ nuôi của huyện Bố Trạch có diện tích nuôi nhỏ, lại nằm liền kề nhau) nên nguồn nước cấp không đảm bảo Như vậy, việc lựa chọn số vụ nuôi/năm cũng như xử lý ao nuôi có ý nghĩa quan đối với hiệu quả của quá trình phát triển nuôi tôm trên cát, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường xung quanh
Nước thải và xử lý nước thải từ các ao nuôi
Theo kết quả điều tra và khảo sát thực tế tại 34 cơ sở nuôi tôm, tổng diện tích ao nuôi trên địa bàn nghiên cứu ước tính vào khoảng 732.814 m2, tương đương với 73,28 ha Tổng lượng nước thải được tính toán vào khoảng 879.377 m3/vụ, tương đương với 1.758.754 m3/năm (tính trung bình một năm nuôi hai vụ) Lượng nước thải ước tính cho từng địa bàn cụ thể được trình bày ở bảng 4
Bảng 4 Kết quả điều tra, tính toán lượng nước thải nuôi tôm trên cát ở địa bàn nghiên cứu
STT Địa bàn nghiên cứu Tổng lượng
nước thải mỗi vụ (m 3 /vụ)
Tổng lượng nước thải hàng năm (m 3 /năm)
Theo kết quả phân tích của Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật môi trường tỉnh Quảng Bình trong năm 2014, nước thải ao nuôi thường có hàm lượng N, P và chất rắn lơ lửng cao [5] Nguồn gốc của các chất gây ô nhiễm này là từ thức ăn thừa, sản phẩm bài tiết, vỏ tôm, xác tôm và sản phẩm của quá trình phân huỷ chúng Với lượng thức ăn trung bình khoảng 16 tấn/ha/vụ, hàm lượng N và P trong nước thải nuôi tôm chưa qua xử lý ước tính khoảng 8,8 - 9,6 tấn/ha/vụ Như vậy, với tổng diện tích ao nuôi của 04 xã là 73,28 ha, lượng N và P trong nước thải nuôi tôm chưa
qua xử lý vào khoảng 644,9 – 703,5 tấn/vụ, tương đương với 1.289,8 – 1.407,0 tấn/năm Kết quả
phân tích chất lượng nước thải ao nuôi tại một số cơ sở nuôi tôm trên cát ở huyện Lệ Thủy và huyện Bố Trạch được thể hiện trong các bảng 5 và 6
Trang 9Bảng 5 Kết quả phân tích nước thải của một số cơ sở nuôi tôm trên cát ở huyện Lệ Thuỷ
STT Chỉ tiêu
phân tích
Đơn
vị tính
2011/BTNMT
100ml 4.860 4.522 3.686 5.929 5.929 5.526 5.000
(Nguồn: Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật môi trường Quảng Bình, 2014) Ghi chú: - T1: Công ty CP chăn nuôi C.P Việt Nam - Chi nhánh Quảng Bình, xã Ngư Thủy Bắc
- T2: Hộ gia đình, xã Ngư Thủy Bắc
- T3: DNTN nuôi trồng thủy sản Hưng Thịnh, xã Ngư Thủy Bắc
- T4: Hộ gia đình, xã Ngư Thủy Bắc
- T5: Hộ gia đình, xã Ngư Thủy Trung
- T6: Hộ gia đình, xã Ngư Thủy Trung
Bảng 6 Kết quả phân tích nước thải của một số cơ sở nuôi tôm trên cát ở huyện Bố Trạch
STT Chỉ tiêu phân
tích Đơn vị tính
Kết quả phân tích QCVN 40:
2011/BTNMT
(Nguồn: Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật môi trường Quảng Bình, 2014)
Ghi chú: - T7: Hộ gia đình, xã Nhân Trạch
- T8: Hộ gia đình, xã Nhân Trạch
- T9: Hộ gia đình, xã Trung Trạch Khi so sánh với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp (QCVN 40:2011/BTNMT), các chỉ tiêu như chất rắn lơ lửng, BOD5, tổng P và Coliform đều vượt quy chuẩn cho phép, cụ thể: chất rắn lơ lửng vượt từ 1,35-1,97 lần, BOD5 vượt từ 1,36-2,04 lần, tổng
P vượt từ 1,63-2,71 lần và Coliform vượt từ 1,10-1,41 lần Riêng chỉ có cơ sở nuôi tôm của Công
ty CP chăn nuôi C.P Việt Nam - Chi nhánh Quảng Bình ở xã Ngư Thủy Bắc có chất lượng nước thải nằm trong giới hạn cho phép
Trang 10Thực tế điều tra và khảo sát còn cho thấy việc thu gom và xử lý nước thải ao nuôi chỉ được thực hiện nghiêm túc tại các cơ sở nuôi lớn như Công ty Cổ phần chăn nuôi C.P Việt Nam
- Chi nhánh Quảng Bình, DNTN nuôi trồng thủy sản Hưng Thịnh và các cơ sở nuôi tôm hộ gia đình ở huyện Lệ Thủy Hầu hết các cơ sở nuôi tôm quy mô hộ gia đình trên địa bàn huyện Bố Trạch không đầu tư hệ thống xử lý nước thải; nguyên do là bởi một phần do vốn đầu tư ít, một phần do phát triển nuôi tôm tự phát không theo quy hoạch nên không đủ quỹ đất để bố trí ao xử
lý nước thải Nước thải ao nuôi không được xử lý thải trực tiếp ra biển, gây ô nhiễm môi trường nước biển ven bờ, ảnh hưởng ngược trở lại nguồn nước cấp phục vụ cho các ao nuôi Đây là một trong những nguyên nhân làm cho các hộ nuôi tôm hoạt động không có hiệu quả hoặc hiệu quả không cao
Các vấn đề kinh tế - xã hội của nuôi tôm trên cát ở địa bàn nghiên cứu
Trong những năm đầu mới phát triển, việc nuôi tôm trên cát gặp nhiều thuận lợi, mang lại lợi ích kinh tế lớn cho các cơ sở nuôi tôm và tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động tại địa phương Trước sức nóng về lợi ích kinh tế từ nuôi tôm trên cát, các hộ gia đình vay vốn ngân hàng để đầu tư phát triển nuôi tôm trên cát một cách ồ ạt, thiếu sự kiểm soát cũng như quy hoạch của các cấp, các ngành Trong một hai năm đầu, việc nuôi tôm trên cát mang lại nguồn thu đáng
kể cho các hộ nuôi tôm Tuy nhiên, càng về sau, các vấn đề về ô nhiễm môi trường như đã trình bày trên đây, kèm với thời tiết diễn biến thất thường làm môi trường ao nuôi thay đổi đột ngột, gây sốc và dễ phát sinh dịch bệnh cho tôm nuôi, giá cả thức ăn, vật tư đầu vào có xu hướng tăng dần theo các năm, làm cho các hộ nuôi gặp rất nhiều khó khăn
Năm 2013, ở địa bàn nghiên cứu xuất hiện mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát thay nước thường xuyên có xuất xứ từ xã Hải Ninh (huyện Quảng Ninh) Rất nhiều cơ sở nuôi tôm trên địa bàn tỉnh áp dụng mô hình nuôi này Mặc dù những vụ đầu cho kết quả khá cao, năng suất đạt từ 30-50 tấn/ha/vụ, nhưng càng về sau mô hình này càng bộc lộ những vấn đề bất cập như tôm nuôi chậm lớn, tỷ lệ hao hụt cao, hệ số thức ăn (FCR) quá cao (≥ 2), dịch bệnh bùng phát ở những thời điểm bất thường, ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả của nuôi tôm trên cát
Theo kết quả khảo sát bằng phiếu điều tra, đối với các hộ nuôi được đánh giá là có hiệu quả trong tình hình hiện nay, thu nhập bình quân đầu người lao động tại các cơ sở nuôi tôm dao động từ 3.000.000 đến 3.500.000 đồng/tháng Do các hộ nuôi tôm trên cát trên địa bàn huyện Bố Trạch hiện chỉ hoạt động cầm chừng, vụ nuôi không ổn định nên thu nhập bình quân đầu người thấp hơn, bình quân chỉ vào khoảng 2.500.000 đến 3.000.000 đồng/tháng Nếu vụ nào không tiến hành nuôi thì công nhân nghỉ việc và chuyển sang làm nghề khác Một số hộ nuôi bị phá sản và cho hộ khác thuê ao nuôi
Tính bền vững của nuôi tôm trên cát ở địa bàn nghiên cứu