1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hoa văn trang trí trong công trình kiến trúc gỗ cổ việt nam

81 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 7,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với nguồn gốc lịch sử và nền văn hóa lâu đời, những công trình kiến trúc cổ được xây dựng dầy đặc, những công trình này tập trung những kiệt tác điêu khắc bao gồm phù điêu, chạm trổ… trê

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu, số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Người cam đoan

Chu Hồng Sơn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Nhân dịp hoàn thành bản luận văn thạc sĩ, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Vĩnh Khánh - người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình

Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn tới các Thầy, Cô giáo viện công nghiệp

gỗ và nội thất, khoa đào tạo sau đại học - Trường Đại học Lâm nghiệp, khoa Mỹ thuậtứng dụng - Trường đại học Mỹ thuật Hà Nội, lãnh đạo Trường Cao đẳng Công nghệ, Kinh tế và Chế biến Lâm sản - nơi tôi đang công tác đã quan tâm và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn bạn bè, gia đình và người thân đã luôn giành tình yêu, sự động viên và ủng hộ trong suốt thời gian tôi học tập và làm nghiên cứu

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả

Chu Hồng Sơn

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv

DANH MỤC CÁC HÌNH v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 3

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 8

1.2.1 Nghiên cứu về kiến trúc gỗ Việt Nam 8

1.2.2 Nghiên cứu về hoa văn trang trí trong công trình kiến trúc gỗ cổ Việt Nam 12 Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 18

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 18

2.2 Đối tượng nghiên cứu 18

2.3 Phạm vi nghiên cứu 18

2.4 Nội dung nghiên cứu 18

2.5 Phương pháp nghiên cứu 19

2.6 Tính mới của luận án 19

Chương 3 CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 20

3.1 Cở sở lý luận 20

3.1.1 Cơ sở lý luận văn hóa Việt Nam 20

3.1.2 Mối quan hệ kiến trúc và văn hóa 25

3.2 Nội dungvà kết quả nghiên cứu 27

3.2.1 Nghiên cứu hoa văn trên công trình công cộng 27

3.2.2 Nghiên cứu hoa văn trên nhà gỗ cổ 59

3.2.3 Nghiên cứu ý nghĩahoa văn trên công trình kiến trúc gỗ 67

KẾT LUẬN 70

KIẾN NGHỊ 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Phân loại nhóm hoa văn và tần xuất xuất hiện trong Chùa, Đền 41

Bảng 3.2: Motip hoa văn trang trí đình làng 57

Bảng 3.3: Thống kế hoa văn trang trí nhà cổ 64

Bảng 3.4: Sosánh hoa văn Chùa, Đình làng và Nhà cổ 65

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1: Phân loại nhóm hoa văn và tần xuất xuất hiện trong Chùa, Đền 42

Biểu đồ 3.2: Tần suất xuất hiện hoa văn đình làng 57

Biểu đồ 3.3: So sánh kết quả nghiên cứu hoa văn ở Chùa và Đình làng 58

Biểu đồ 3.4: Tần suất xuất hiện hoa văn trang trí nhà cổ 65

Biểu đồ 3.5: So sánh hoa văn Chùa, Đình làng và Nhà cổ 66

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Hoa văn gỗ trang trí nhà thờ hồi giáo 4

Hình 1.2: Một số hoa văn bằng gỗ trên công trình kiến trúc Ai cập 5

Hình 1.3: Một số hoa văn trong kiến trúc nhà thờ hồi giáo Châu Âu 6

Hình 1.4: Một số hoa văn trên cánh cửa gỗ, nhà gỗ cổ Trung Quốc 7

Hình 1.5: Hoa văn trên nhà gỗ cổ Trung Quốc 8

Hình 3.1: Hình ảnh chùa Bối Khê và hoa văn trên bức tường gạch xây nhà Tiền Đường của chùa 28

Hình 3.2: Hình ảnh một số hoa văn trang trí trên ván bưng và xà ngang Chùa Bối Khê 29

Hình 3.3: Hình ảnh chùa Dâu 29

Hình 3.4: Hoa văn Rồng trang trí trên ván bưng Chùa Dâu 30

Hình 3.5: Hình ảnh cổ chùa Phổ Minh 30

Hình 3.6: Chạm khắc gỗ hoa văn Rồng trên hai cánh cửa chùa Phổ Minh 31

Hình 3.7: Hìnhảnh Chùa keo Thái Bình 31

Hình 3.8: Gác Chuông là công trình kiến trúc độc đáo của chùa Keo 32

Hình 3.9: Hình ảnh hoa văn trên gỗ chùa Keo 32

Hình 3.10: Hình ảnh chùa Thái lạc 33

Hình 3.11: Hoa văn Rồng, Nghê trên bức ván bưng 34

Hình 3.12: Hình ảnh hoa văn Tiên nữ kéo nhị, thổi tiêu 34

Hình 3.13: Hình hoa văn ông Phỗng, Tiên nữ nhảy mứ trên vách bưng 34

Hình 3.14: Hình hoa văn Tiên nữ đầu người mình chim trên ván bưng 35

Hình 3.15: Hình ảnh hoa văn đôi Rồng chầu trên ván bưng 35

Hình 3.16: Chùa Tây Phương 36

Hình 3.17: Các vị La hán chùa Tây Phương 36

Hình 3.18.: Hình ảnh hoa văn Rồng trang trí trên gỗ chùa Tây Phương 36

Hình 3.19 : Hình ảnh Chùa Mía 37

Hình 3.20: Kiến trúc gỗ Chùa Mía 37

Hình 3.21: Hoa văn Vân mây, ngọn lửa và hoa văn đầu Rồng trang trí trên xà ngang Chùa Mía 38

Hình 3.22: Hình ảnh Điện Lam Kinh thờ các Vua Lê 38

Trang 7

Hình 3.23: Hoa văn Rồng trên cửa chính vào Điện 38

Hình 3.24: Hoa văn Rồng trên xà ngang Điện Lam Kinh 39

Hình 3.25: Chùa Bút Tháp 40

Hình 3.26: Tương Phật bà nghìn mắt nghìn tay đặc sắc Chùa Bút Tháp 40

Hình 3.27: Hình ảnh đình Chu Quyến 44

Hình 3.28: Hình ảnh hoa văn Rồng, Phượng, Người cưỡi ngựa voi trên cột, xà ngang, bức ván bưng Đình Chu Quyến 44

Hình 3.29: Hình ảnh đình Đình Bảng 46

Hình 3.30: Hoa văn phong cảnh, hoa văn chữ Thọ, hoa văn bát bảo trong lan can gỗ Đình Bảng 46

Hình 3.31: Hoa văn ngọn lửa bằng gỗ nóc đầu trái nhà 46

Hình 3.32: Hoa văn con Nghê dưới chân cột nhà trước cửa bước vào 47

Hình 3.33: Hoa văn Rồng trên xà ngang, ván bưng đình Đình Bảng 47

Hình 3.34: Hình ảnh Đình Thổ tang 48

Hình 3.35: Hoa Văn Hội mùa Đình Thổ Tang 49

Hình 3.36: Hoa văn uống Rượu Đình Thổ tang 49

Hình 3.37: Hoa văn Đánh ghen Đình Thổ tang 49

Hình 3.38: Hình ảnh Đình Hương Canh 50

Hình 3.39: Hoa văn Bơi chải ở phía trên, hoa văn cưỡi Long dự hội ở phía dưới- Đình Hương Canh 50

Hình 3.40: Hoa văn đánh vật ở phía trên, đi săn ở phía dưới đình Hương canh 51

Hình 3.41: Đình Thổ Hà 51

Hình 3.42: Hình ảnh hoa văn Rồng có nhiều bộ phận đầu dư, bẩy, kẻ, cốn, ván nong, câu đầu với nhiều đề tài Rổng ổ, rồng mẹ cõng rồng con, rồng và thiếu nữ 52

Hình 3.43: Hoa văn Tiên cưỡi Phượng -Đình Thổ Hà 52

Hình 3.44: Hoa văn Tiên cưỡi Rồng- Đình Thổ Hà 52

Hình 3.45: Hoa văn Nghê- đình Thổ Hà 53

Hình 3.46: Hình ảnh Đình Tây Đằng 54

Hình 3.47: Hoa văn chim Phượng Đình Tây Đằng 54

Hình 3.48: Hoa văn chạm khắc - ĐìnhTây Đằng 54

Trang 8

Hình 3.49: Nghệ thuật trang trí -Đình Tây đằng 55

Hình 3.50: Đình làng Mông Phụ 55

Hình3.51: Hoa văn trang trí trên Đình Mông Phụ 56

Hình 3.52: Hoa văn tứ linh trang trí trên xà ngang đình Mông phụ 56

Hình 3.53: Hoa văn nghê trang trí đình Mông phụ 56

Hình 3.54: Nhà gỗ cổ xã Tiên Phương (Chương Mỹ, Hà Nội) 60

Hình 3.55: Hoa văn trang trí nhà cổ Tiên Phương- 200 năm tuổi 61

Hình 3.56: Nhà cổ Lý Nhân Hà Nam, 100 năm tuổi 61

Hình 3.57: Hoa văn Dơi ngậm tiền trang trí trên nhà cổ Lý Nhân Hà Nam 61

Hình 3.58: Nhà cổ 400 năm tuổi Đường Lâm Hà Nội 62

Hình 3.59: Hoa văn mây nhà cổ Đường lâm Hà Nội 62

Hình 3.60: Hoa văn trang trí ngôi nhà cổ 100 năm tuổi thôn Trung Sơn, xã Tĩnh Hải, Tĩnh Gia, Thanh Hóa 62

Hình 3.61: Nhà cổ 400 năm tuổi Vĩnh Lộc, Thanh Hóa 63

Hình 3.62: Hoa văn mây, hoa lá dây trang trí nhà cổ 400 400 năm tuổi Vĩnh Lộc, Thanh Hóa 63

Hình 3.63: Họa tiết hoa văn nhà gỗ cổ Hà nam 63

Hình 3.64: Hoa văn hoa lá Tây nhà cổ Hà Tây 64

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nghệ thuật tạo hình dân gian Việt nam đa dạng về phong cách, phong phú về thể loại, giàu có về chất liệu Trong kho tàng văn hóa nghệ thuật phong phú và đa dạng ấy nghệ thuật chạm khắc gỗ truyền thống là một nghệ thuật tạo hình tài hoa, góp phần làm nên hồn cốt linh thiêng cho những cung vua phủ chúa, những công trình thờ cúng tâm linh như đình, chùa, miếu, phủ Trải qua dặm dài năm tháng, nghệ thuật chạm khắc gỗ cùng với những công trình ấy còn mang trên mình nhiều ý nghĩa về lịch sử, về khoa học, chính trị, văn hóa, tư tưởng

Đất nước Việt Nam ở vùng nhiệt đới, nguyên liệu gỗ là nguồn nguyên liệu tương đối dồi dào, phù hợp với kỹ nghệ chế tác nên đã được các nghệ nhân dân gian chọn làm vật liệu chủ đạo để thể hiện tư tưởng, bản chất và sự tài hoa khéo léo của mình, biến những kết cấu gỗ vô tri vô giác thành muôn vàn tác phẩm nghệ thuật, từ

cỏ cây hoa lá đến muông thú và các hình tượng khác theo trí tưởng tượng phong phú của con người Những con giống, hoa trái, Rồng Phượng, mây nước được chạm khắc trong các cấu kiện như đầu đao, xà, kèo, cây nóc, vì nhà ở các cung điện, đình, chùa đều thể hiện rõ nét các quan niệm triết học sâu sắc về thiên nhiên, con người với triết lý phương Đông “Thiên - Địa - Nhân” rất xúc tích qua phương pháp tượng hình

Với nguồn gốc lịch sử và nền văn hóa lâu đời, những công trình kiến trúc cổ được xây dựng dầy đặc, những công trình này tập trung những kiệt tác điêu khắc bao gồm phù điêu, chạm trổ… trên hầu hết các chi tiết kết cấu xây dựng bằng gỗ, thể hiện tinh hoa của người nghệ nhân dân gian mang tính độc đáo, sáng tạo, đóng góp một hình thức đa dạng về văn hóa nghệ thuật Việt Nam với cộng đồng nhân loại thế giới

Những cấu kiện được chạm khắc trong các công trình nhà gỗ truyền thống, kết cấu khung nhà gỗ như: Đầu dư, cốn, xà nách, bẩy, đẩu, ván nong, lá đề, con rường, vì, nóc, xà, kèo…và những khoảng không gian trống trên các mảng vì kèo, cánh cửa đều được các nghệ nhân dân gian tận dụng làm nơi bố trí những mảng đề tài chạm khắc gỗ Trong đó, thông thường Đầu dư được chạm khắc hình đầu rồng.Đấu chạm sen hóa Xà, bẩy, vì ,kèo chạm hoa lá hoặc các tích về tứ linh Các

Trang 10

đầu bẩy chạm chữ thọ, kẻ biên chạm lá đề chữ thọ Cốn, ván nong, cánh cửa là nơi thể hiện sự đa dạng của trang trí chạm khắc, với tất cả các loại đề tài, tùy theo ý nghĩa của công trình làm tăng thêm tính tôn nghiêm, linh thiêng cho các công trình

Có thể nói, ở hầu hết các cấu kiện, phụ kiện bằng gỗ trong các công trình của vua chúa, công trình đình chùa miếu phủ… các nghệ nhân đều biết khéo léo chạm khắc những hình tượng hoa văn, phong cảnh phù hợp với văn hóa, tôn giáo và cấp độ chức năng của công trình

Hoa văn chạm khắc trên kết cấu nhà gỗ truyền thống Trên các công trình còn được bảo tồn và sử dụng có niên đại từ cuối thế kỷ XV trở lại, các hoa văn chạm khắc trên gỗ mang phong cách nghệ thuật Tây phương là chủ đạo và trộn lẫn phong cách Trung hoa và dân gian Việt, trong đó biểu hiện sự ảnh hưởng khá lớn của Phật giáo và Nho giáo

Với mong muốn góp phần tìm hiểu rõ hơn nền nghệ thuật dân gian Việt độc

đáo trong kho báu tinh hoa nghệ thuật, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu hoa văn

trang trí trong công trình kiến trúc gỗ cổ Việt Nam”

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Việc nghiên cứu cứu hoa văn trang trí trong công trình kiến trúc gỗ cổ Việt Nam là khai thác dạng hoa văn được sử dụng trang trí tại các công trình công cộng hay nhà cổ và giả cổ tại Việt Nam, nhằm đa dạng hóa cách trang trí nhà cổ truyền thống nói riêng và chạm khắc gỗ trang trí nội thất nói chung sẽ là nguồn động lực thúc đẩy sự phát triển nền kiến trúc Việt Nam mới hướng tới bản sắc riêng trong hội nhập

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Những nghiên cứu về kiến trúc cổ và kiến trúc Gỗ nước ngoài tương đối phong phú Tác giả Dalia Shebl Said, Viện Công nghiệp trường đại học Kfar–Elshiekh,

Ai cập, đã nghiên cứu về kiến trúc gỗ cổ trong nhà thờ hồi giáo ở Ai cập.Trong công trình nghiên cứu, tác giả đã nghiên cứu đặc điểm loại gỗ, tuổi lịch sử, đặc điểm hoa văn trang trí của công trình kiến trúc gỗ trong nhà thờ Hồi giáo Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra giải pháp bảo tồn di sản văn hóa đó [1]

Tác giả K Larsen, N Marstein [2], Anh, nghiên cứu bảo tồn công trình kiến trúc gỗ cổ trên thế giới Tác giả đề cập đến nguyên tắc bảo tồn công trình gỗ cổ, chủng loại gỗ trong công trình kiến trúc gỗ cổ, phân tích sự xuống cấp hư hỏng của

gỗ theo thời gian, đồng thời tác giả đề cập đến đặc điểm và hoa văn của một số công trình kiến trúc gỗ cổ trên thế giới

Tác giả R Kliger [3], Thụy điển, nghiên cứu sự tác động của độ ẩm đến công trình kiến trúc gỗ Tác giả nêu đặc điểm loại gỗ sử dụng, thiệt hại do ẩm tác động đến gỗ và cấu trúc công trình

Tác giả Dongping Fang [4], Trung Quốc nghiên cứu về kiến trúc gỗ cổ Trung Quốc Tác giả nghiên cứu về đặc điểm kiến trúc và một số hoa văn trên công trình gỗ cổ, liên kết gỗ trong kiến trúc.Tác giả chỉ ra công trình kiến trúc gỗ nhờ mối liên kết đặc biệt có khả năng giảm chấn động, động đất đáng kể, giúp công trình gỗ bền với thời gian

Tác giả Heba-Talla Hamdy Mahmoud [5], Ai cập, nghiên cứu về họa tiết hoa văn và trang trí nội thất trong công trình kiến trúc cổ Ai cập.Tác giả chỉ ra Kiến trúc

và trang trí nội thất, cũng như nghệ thuật Ai Cập chú trọng đến các loại hình học Việc trang trí hoa văn hình học sử dụng nhiều vật liệu khác nhau như như gỗ, đá cẩm thạch, đất sét, thủy tinh, đá, kim loại và dệt may Nó có nhiều kích cỡ, khối lượng và quy mô khác nhau, quy mô từ các tác phẩm nhỏ và chính xác như đồ trang sức thủ công đến bề mặt lớn của kim tự tháp vĩ đại và mái vòm lớn nhà thờ Hồi giáo Các mô hình hình học của Ai Cập được phổ biến khắp cả nước

Trang 12

Sự tồn tại mô típ hình học trang trí trong kiến trúc và nội thất được tiếp diễn

từ Ai cập cổ đại cho đến đương thời Di sản của các giai đoạn lịch sử trước đó, đặc biệt là thời kỳ Coplic và Hồi giáo, chứa đầy các tác phẩm kiến trúc và nghệ thuậtvới các thiết kế mô hình hình học thuần túy hoặc phối hợp và thống nhất với các phong cách trang trí khác bằng cách sử dụngthư pháp, arabesque và các yếu tố tự nhiên Vai trò của công nhân và kỹ năng thợ thủ công Ai Cập có ảnh hưởng rất lớn đến giá trị của trang trí

Hình 1.1: Hoa văn gỗ trang trí nhà thờ hồi giáo

Trang 13

Hình 1.2: Một số hoa văn bằng gỗ trên công trình kiến trúc Ai cập

(Trích ảnh từ tài liệu)

Tác giả Behnam G, Atefeh F, Ali[6

] đã nghiên cứu về họa văn trang trí trên kiến trúc hồi giáo ở Châu Âu Tác giả đề cập đến mẫu mã, chủng loại, cách thức trang trí của hoa văn.Cùng với đó tác giả phân tích mối quan hệ giữa văn hóa và hoa văn trang trí trên công trình kiến trúc đó

Trang 14

Hình 1.3: Một số hoa văn trong kiến trúc nhà thờ hồi giáo Châu Âu

(trích ảnh từ tài liệu)

Liang Sicheng[7], Trung Quốc, nghiên cứu về lịch sử kiến trúc Trung Quốc Tác giả chỉ ra kiến trúc Gỗ là một trong những kiến trúc đặc biệt của Trung Quốc.Tác giả đề cập đến kiến trúc, văn hóa, hoa văn của rất nhiều công trình kiến trúc gỗ cổ Trung Quốc

Trang 15

Hình 1.4: Một số hoa văn trên cánh cửa gỗ, nhà gỗ cổ Trung Quốc

Trang 16

Hình 1.5: Hoa văn trên nhà gỗ cổ Trung Quốc

TuYuanyua [8], nghiên cứu về kiến trúc nhà gỗ Trung Quốc,tác giả chỉ ra ngôi nhà cấu trúc gỗ có khả năng bền vững với động đất Bên cạnh đó tác giả nghiên cứu về hoa văn, đặc điểm kiến trúc ngôi nhà, vật liệu

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.2.1 Nghiên cứu về kiến trúc gỗ Việt Nam

Nghiên cứu về kiến trúc gỗViệt Nam đã được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu

GS Trần Lâm Biền trong công trình nghiên cứu về Đình làng [9

], Tác giả nghiên cứu về đặc điểm, hoa văn trang trí trên công trình đình làng, giới thiệu đình làng nổi tiếng Việt Nam Tài liệu chỉ ra mỗi làng quê Việt Nam đều có một ngôi đình.Như là một ngôi nhà công cộng của làng quê thời xưa, đình được dùng làm nơi thờ Thành Hoàng làng (vị thần bảo trợ của làng) và họp việc làng Đó là một ngôi nhà to, rộng được dựng bằng những cột lim tròn, to, thẳng tắp đặt trên những hòn đá tảng lớn.Vì, kèo, xà ngang, xà dọc của đình cũng làm toàn bằng gỗ lim Tường đình xây bằng gạch Mái đình lợp ngói mũi hài, bốn góc có bốn đầu đao cong

GS Trần Lâm Biền, Trong nghiên cứu về mỹ thuật cổ Việt Nam [10

] Tác giả

đề cập đến hoa văn trang trí, phương pháp trang trí của người Việt cổ trên các chất liệu đá, đồng Tác giả cũng chỉ ra hoa văn trang trí đình làngcó ảnh hưởng của văn hóa Champa

Trang 17

GS Trần Lâm Biền, trong nghiên cứu về diễn biến kiến trúc truyền thống Việt Nam [11], Tác giả đề cập sự phát triển đặc điểm quy hoạch kiến trúc, thống số kiến trúc, hoa văn của công trình kiến trúc Việt Nam qua các thời kỳ Lý, Trần, Lê

sơ, Mạc, sau này đến triều Nguyễn và Pháp Nghiên cứu chỉ ra đặc điểm của công trình kiến trúc Chùa, Đình làng và nhà ở dân người dân Bắc bộ

PGS.TS Hoàng Văn Khoán, trong công trình nghiên cứu Mỹ thuật và kiến trúc Việt Nam truyền thống [12], Tác giả đề cập đến kiến trúc truyền thống Việt Nam đình, chùa, đền, nhà ở Đồng bằng bắc bộ Tác giả đề cập đến vật liệu, hoa văn trang trí trên công trình kiến trúc Hoa văn thường gặp Tứ linh (Long, Li, Quy, Phượng), hoa văn tứ quý, tích truyện, tranh phong cảnh, đời sống sinh hoạt của người dân Vật liệu sử dụng cho kiến trúc là gỗ, đá, vật liệu thực vật tự nhiên

PGS TS Trịnh Cao Tưởng, nghiên cứu về kiến trúc cổ Việt Nam từ cái nhìn khảo cổ học [13], Tác giả nghiên cứu đến kiến trúc của các thời kỳ, đặc điểm kiến trúc chùa chiền, đình làng, đặc điểm kiến trúc nhà cổ Việt Nam,vật liệu xây dựng kiến trúc và thông số cơ bản kiến trúc cổ

TS Hoàng Đạo Cương và TS Nguyễn Hồng Kiên, Viện Bảo tồn di tích, trong công trình nghiên cứu về kiến trúc Chùa Việt Nam [14], tác giả đề cập đến đặc điểm kiến trúc, hoa văn trang trí của ngôi chùa nổi tiếng Bắc bộ Việt Nam

từ thời Lý, Trần Ngôi chùa cổ vẫn giữ được kiến trúc cổ như Chùa Dâu, chùa Phật tích, Chùa Một cột

TS Hoàng Đạo Cương và TS Nguyễn Hồng Kiên, Viện Bảo tồn di tích, nghiên cứu về kiến trúc Đình Làng Việt Nam [15], tác giả đề cập đến đặc điểm kiến trúc, hình ảnh, hoa văn trang trí trên đình làng nổi tiếng Việt Nam thời kỳ Lý, Trần cho đến ngày nay

Tác giả Vũ Tam Lang, nghiên cứu về kiến Trúc Cổ Việt Nam [16], tác giả giải thích hoàn cảnh sản sinh và lược trình phát triển nền kiến trúc cổ truyền dân tộc Việt Nam Các loại hình, vật liệu, phương thức xây dựng, nghệ thuật trang trí, điêu khắc và màu sắc trong kiến trúc cổ và dân gian Việt Nam Nghệ thuật bố cục tạo hình và những đặc trưng cơ bản của nền kiến trúc truyền thống Việt Nam

Trang 18

Nhiều tác giả trong và ngoài nước, trong công trình nghiên cứu về kiến trúc Phố cổ Hội An [17] Tác giả nghiên cứu về lịch sử phố cổ Hội An, sách cũng tổng kết nghiên cứu thực địa từ 264 ngôi nhà cổ, nhà thờ họ lớn Hội An, đình làng, hội quán, đền thờ, miếu mạo Tác giả đua ra đặc điểm kết cấu, vật liệu, hoa văn trang trí trên công trình kiến trúc

Nhìn chung, các nghiên cứu chỉ ra kiến trúc cổ Việt nam Chùa chiền, Đình làng đặc điểm kiến trúc như sau:

- Theo cấu trúc chùa, người ta chia ra thành 04 kiểu cấu trúc: Chùa chữ Đinh, chùa chữ Công, chùa chữ Tam, chùa kiểu Nội công ngoại quốc

- Kiến trúc sử dụng phần lớn là kiến trúc gỗ Tính hợp lý của kết cấu, tính đơn giản, thốngnhất, tính điển hình và tính tiêu chuẩn thấy rõ trong bộ khung gỗ chịu lực của công trình

Kết cấu kiến trúc gỗ có các thành phần sau:

Cột là kết cấu đứng chịu nén, thường có các loại cột:

Cột cái: cột chính của nhà đặt ở hai đầu nhịp chính tạo chiều sâu cho gian giữa Nối hai cột cái là câu đầu

Cột quân hay cột con: cột phụ ngắn hơn cột cái, nằm ở đầu nhịp phụ hai bên nhịp chính Khác biệt chiều cao của cột cái và cột con tạo ra độ dốc của mái nhà Xà nách nối cột con với cột cái

Cột hiên: nằm ở hiên nhà, phía trước, ngắn hơn cột con Kẻ bảy nối cột con

và cột hiên

Xà là các giằng ngang chịu kéo, liên kết các cột với nhau, gồm có các loại xà nằm trong khung và các loại xà nằm ngoài khung vuông góc với khung Xà nằm trong khung, thường đặt ở cao độ đỉnh các cột quân để liên kết được cả cột cái và cột quân, gồm:

Xà lòng, tức câu đầu hay chếnh: liên kết các cột cái của khung;

Xà nách hay thuận: liên kết cột quân vào cột cái, trong khung

Đấu củng: bao gồm hai bộ phận là "đấu" (đóng vai trò là bệ đỡ) và "củng" (giống hình khủy tay, đóng vài trò là tay đỡ) được dùng đểđỡ kết cấu khác bên trên

là mái hiên

Trang 19

Kẻlà các dầm đơn đặt theo phương chéo của mái nhà, gác lên các cột bằng liên kết mộng, thường có các loại kẻ sau:

Kẻ ngồi loại kẻ gác từ cột cái sang cột quân, trong khung;

Kẻ hiên gác từ cột quân sang cột hiên, trong khung Một phần kẻ hiên được kéo dài đâm xuyên qua cột hiên để đỡ phần chân mái

Bảy hay bảy hậu hoặc bảy hiên: là dầm nằm trong khung liên kết vào cột

quân phía sau nhà, đỡ phần mái vẩy phía sau Đối với nhà ở thì tiền kẻ, hậu bảy

Đối với các công trình công cộng như đình làng, thường bốn mặt xung quanh đều

có hiên thoáng không có cột hiên, nên thường dùng bảy hiên

Câu đầu là dầm ngang chính đặt trên cùng, khoá các đầu trên của các cột cái trong khung (gác lên các cột cái)

Con rường hay chồng rường là các đoạn gối đỡ mái dạng dầm gỗ hộp để đỡ hoành mái, được đặt chồng lên nhau Chiều dài của chúng thu ngắn dần cân theo chiều vát của mái, càng lên cao các con rường bên trên càng ngắn Ở vì nóc các con rường nằm chồng lên câu đầu

Con lợn còn gọi là rường bụng lợn: là con rường trên cùng, gối lên con rường bên dưới qua hai đoạn cột ngắn gọi là trụ trốn, và làm nhiệm vụ đỡ xà nóc (thượng lương) Bên dưới rường bụng lợn (giữa hai trụ trốn) là ván lá đề thường

để điêu khắc trang trí Con lợn có thể được thay bằng giá chiêng

Rường cụt là loại rường nằm ở vì nách (giữa cột cái và cột quân), chúng nằm chồng trên xà nách, chúng cũng đỡ hoành và vẫn thu dần chiều dài khi lên cao theo

độ dốc mái

Các loại xà nằm ngoài khung gồm có:

Xà thượng liên kết đỉnh các cột cái; xà này song song với chiều dài của nhà

Xà hạ hay xà đại, liên kết các cột cái tại cao độ đỉnh cột quân, gần sát vị trí liên kết xà lòng, xà nách vào cột cái Xà này cũng chạy song song với chiều dài của nhà Xà tử thượng (xà trên của cột con): liên kết các cột quân của các khung ở bên trên Xà tử hạ (xà dưới của cột con): liên kết các cột quân của các khung ở bên dưới, tại mức độ cao ngay trên hệ cửa bức bàn.Xà ngưỡng nối các cột quân ở vị trí ngưỡng cửa Xà này đỡ hệ thống cửa bức bàn.Xà hiên liên kết các cột hiên của các khung Thượng lương, còn gọi là đòn dông hay Xà nóc đặt trên đỉnh mái

Trang 20

Mè là các dầm phụ nhỏ, đặt trực giao với dui, song song với hoành, gối lên

hệ dui.khoảng cách giữa các mè là nhỏ nhất, vừa đủ để lợp ngói Việc sử dụng hệ kết cấu hoành - dui - mè, nhằm phân nhỏ nhịp của kết cấu đỡ mái thành hệ lưới vừa

đủ để lát lớp gạch màn và lợp ngói bên trên

Gạch màn là một loại gạch lá nem đơn bằng đất nung, có tác dụng đỡ ngói đồng thời tạo độ phẳng cho mái, chống thấm dột và chống nóng Gạch màn ngồi trực tiếp trên lớp mè

- Trong trang trí Kiến trúc sử dụng điêu khắc, chạm khắc Việc sử dụng màu sắcnhư một yếu tố phụ trợ tích cực tăng tính nghệ thuậtcho công trình, mặt khác là phương tiện diễn đạt ý nghĩa biểu trưng, cái thần của công trình, như sử dụng các hoa văn (động vật quý, cây cối hoa lá…) đầy ý nghĩa tượng trưng

- Về ngoại hình của kiến trúc truyền thống Việt Nam là loại có mái dốc thẳng – đấu dốc mái có loại uốn cong với các trang trí trên dốc mái, trên góc mái phong phú có loại hai đầu hồi thẳng mái che cho thân nhà, thân nhà là hệ cột khung với hang hiên

1.2.2 Nghiên cứu về hoa văn trang trí trong công trình kiến trúc gỗ cổ Việt Nam

Trong công trình nghiên cứu về Tài liệu Bản rập họa tiết mỹ thuật cổ Việt Nam của các nhà nghiên cứuTrường Đại học Mỹ thuật Hà Nội [18], các tác giả nghiên cứu tiến trình phát triển hoạ tiết Mỹ thuật cổ Việt Nam, họa tiết thời Lý (thế

kỷ 11 - 12), hoạ tiết thời Trần (thế kỷ 13 - 14), hoạ tiết thời Lê Sơ (thế kỷ 15), hoạ tiết thời Mạc (thế kỷ 16), hoạ tiết thời Lê Trung Hưng (thế kỷ 17), hoạ tiết thời Lê Mạt (thế kỷ 18), hoạ tiết thời Nguyễn (thế kỷ 19)

Tác giả Nguyễn Du Chi, trong công trình nghiên cứu về Hoa văn Việt Nam [19] Tác giả đề cập đến hoa văn thời Tiền sử; hoa văn thời Sơ sử; hoa văn nửa đầu thời phong kiến

Tác giả Nguyễn Đỗ Cung, trong tài liệu nghiên cứu về Điêu Khắc dân gian Việt Nam, Thế Kỷ XVI, XVII, XVIII [20] Tác giả đề cập đến nghệ thuật điêu khắc trên công trình chùa triền, đình làng, miếu mạo, chủ đề, phương pháp trang trí hoa văn

Trang 21

Tác giả Nguyễn Đồng, trong công trình nghiên cứu về: Những nụ cười của

gỗ, vài đặc điểm nghệ thuật trong điêu khắc đình làng Việt Nam thế kỷ XVI, XVII, XVIII Thế Kỷ 21, số 23, 1991 Tác giả đề cập motips hoa văn cảnh sinh hoạt trang trí trên công trình gỗ, đặc biệt đình làng

Tác giả Phan Cẩm Thượng, nghiên cứu vềĐiêu khắc cổ Việt Nam [21] Tác giả đề cập đề cập nghệ thuật điêu khắc, hoa văn điêu khắc Việt Nam qua các thời kỳ.Kết quả nghiên cứu cho thấy:

Điêu khắc thời Tiền sử: Thời Tiền sử Việt Nam được tính từ nền văn hoá Núi

Đọ cách đây ba mươi vạn năm đến nền văn hoá Đông Sơn cách đây 2.500 năm Thời kỳ này hoạt động văn hoá chưa phân chia rõ ràng Chưa có một nền điêu khắc tiền sử, mà chỉ có những biểu hiện mang tính điêu khắc mà thôi Đáng kể nhất là những hình khắc trên hang Đồng Nội (Lạc Thuỷ, Hoà Bình) cách đây 10.000 năm, khắc ba mặt người và một mặt thú một cách sơ lược, trên đầu có cắm sừng hay lông chim Người Hoà Bình đã nhìn thấy hình khắc gương mặt, dù chưa rõ ràng nhưng

đã khôn ngoan đội lốt thú khi săn bắn một cách khái quát Tượng gốm và đá nhỏ vài

cm xuất hiện trong các di chỉ Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun chỉ như những hình thể trang trí gắn với các trang sức và công cụ lao động Đến nền văn hoá Đông Sơn nổi tiếng về các trống đồng, điêu khắc nhỏ gắn với đồ tế khí, gia dụng đẹp một cách tinh tế trong thẩm mỹ mang tính bạo lực Đó là các tượng người biến hình thành cán dao găm, các tượng voi, cóc, hươu, rùa trên trống, thạp, ấm bằng đồng Đặc biệt là bốn cặp tượng nam nữ giao phối trên nắp thạp đồng Đào Thịnh với một nhãn quan phồn thực Thờ thần mặt trời, tế lễ cầu mùa hay tang ma là âm hưởng chủ đạo qua các hình khắc trống đồng Đông Sơn, còn điêu khắc đóng vai trò nhấn mạnh tính hình khối rõ ràng của nhạc khí, tế khí và đồ dùng Điêu khắc Tiền Sử hoàn toàn thuần Việt trước khi các cuộc xâm lăng từ phương Bắc tràn xuống

Điêu khắc nhà mồ Tây Nguyên: Năm tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đăk Nông, Lâm Đồng chiếm trọn cao nguyên phía tây Nam Trung Bộ, Hệ ngữ Môn - Khmer và Malayo - Polinesia đóng vai trò chính trong ngôn ngữ Tây Nguyên cũng như tập tục tang ma trọng thể thấy phổ biến ở dân hoang đảo quanh xích đạo địa cầu Tiêu biểu là lễ bỏ mả và làm nhà mồ của người Gia Rai và Ba Na Trong đó, phần tạc tượng rào quanh nhà mồ rất quan trọng Những tượng nam - nữ giao hợp, tượng

Trang 22

bà chửa, tượng người ngồi khóc, tượng thú vật voi và chim cũng được đẽo phạt từ tâm linh sâu thẳm đối với thế giới bên kia, nơi mà các linh hồn sẽ trở về với tổ tiên

và ông bà Con thuyền tang lễ được gắn vào nóc nhà mồ Cột Klao, cột Kút dẫn linh hồn về trời được dựng lên trong tiếng nhạc cồng, chiêng trầm hùng và ai oán

Điêu khắc Champa: Vương quốc Champa hình thành ở Nam Trung Bộ, chia thành một số khu vực tự nhiên ứng với các dải đồng bằng ven biển là Amaravati (Quảng Nam), Vijaya (Bình Định), Kauthara (Nha Trang) và Paduranaga (Phan Rang) Sự liên kết giữa hai thị tộc Can và Dừa dẫn đến một Nhà nước phong kiến theo Ấn Độ giáo đầy mâu thuẫn và hiếu chiến Người Champa ẩn chứa trong mình năng lực sáng tạo dồi dào, cũng mạnh mẽ như khát vọng chiến tranh của họ Từ thế

kỷ 2 là thời sơ khai của vương quốc mà người Trung Hoa gọi là Lâm Ấp Nhưng phải đợi đến thế kỷ 7 - 8 nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Champa mới trở nên rực

rỡ cùng phong trào Phật giáo hoá và Ấn Độ giáo lan rộng khắp Đông Nam Á Tháp Champa xây bằng gạch không vữa, thường có một cổng, một tháp phụ có mái hình con thuyền, một tháp chính ở trung tâm khối vuốt lên cao nở ra ở nhiều góc và các múi vòm Trên đó thường gắn các phù điêu chạm khắc hình thần Siva hay các tiên

nữ Apsara Cửa chính quay về phía Nam hoặc Đông Nam.Trong lòng tháp đặt biểu tượng thờ Linga và Yoni (dương vật và âm vật) Điêu khắc tượng tròn được bố trí hài hoà với xung quanh kiến trúc và tuỳ theo chức năng tháp mà đục đẽo các tượng thần Người ta thường chia nghệ thuật Champa làm sáu giai đoạn chính: 1 Mỹ Sơn E1 (nửa đầu thế kỷ 8); 2 Hoà Lai (nửa đầu thế kỷ 9); 3.Đồng Dương (cuối thế kỷ 9); 4.Trà Kiệu (cuối thế kỷ 9 đầu thế kỷ 10); 5.Tháp Mẫm (thế kỷ 12 - 13); 6.Poklaung Gialai (cuối thế kỷ 13, 14 đến 16) Năm 1470 Lê Thánh Tông dứt điểm bình định phương Nam, sau đó là công cuộc Nam tiến của các Chúa Nguyễn, nền nghệ thuật Champa và Phù Nam - Chân Lạp chỉ còn lại các di sản đặc sắc với một quá khứ huy hoàng

Điêu khắc thời Lý (1010 - 1225): Đại Việt trở thành quốc gia độc lập, hùng cường sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi và dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long Phật giáo trở thành quốc đạo phát triển tới mức, nhà sử gia Lê Văn Hưu nói: "nhân dân quá nửa là sư sãi, trong nước chỗ nào cũng có chùa chiền" Các trung tâm Phật giáo

ở Quảng Ninh, Hà Nam Ninh và đặc biệt ở Bắc Ninh, quê hương Nhà Lý được xây dựng đồ sộ theo kiểu thức kiến trúc Đông Nam Á, kéo theo một nền điêu khắc Phật

Trang 23

giáo Các chùa thời Lý thường có 4 cấp, ăn sâu và cao dần theo triền núi, hoặc có mặt bằng hình vuông, hình tròn, trung tâm là tháp cao có tượng Phật đặt trong Tượng A Di Đà chùa Phật Tích làm năm 1057 là tác phẩm đầu tiên của thế giới Phật giáo vĩnh hằng ở Bắc Bộ Các tượng Kim Cương chùa Long Đọi, tượng đầu người mình chim, chạm khắc chùa Bà Tấm, chùa Chương Sơn đều thống nhất một tinh thần viên mãn, cá tính bị tan biến sau lớp đăng ten trang trí hoa văn dầy đặc trên bề mặt Cột biểu chùa Dạm (1086) vay mượn từ biểu tượng Linga - Yoni Champa, là tác phẩm đồ sộ cao 5,4m có tính hoành tráng Tinh thần Thiền Nhà Lý

đã chi phối tính ôn hoà và mạnh mẽ bên trong của các tác phẩm điêu khắc vừa khái quát về tổng thể, kỹ lưỡng về chi tiết ở các công trình kiến trúc kỳ vỹ mà từ đó các bậc Thiền sư có thể "Hú lên một tiếng lạnh cả trời" (Đạo Hạnh) Điêu khắc thời Trần (1225 - 1400): Nhà Trần thay thế nhà Lý suy tàn trong sự phát triển đi lên của phong kiến Việt Nam Ba lần chống quân Ngyên - Mông thắng lợi, bảo tồn giang sơn đã tạo nên một hào khí oai hùng cho dân tộc và thấm đẫm trong văn học nghệ thuật; mặt khác chiến tranh nhiều lần tàn phá đất nước, hoạt động nghệ thuật bị hạn chế, cuối cùng chế độ điền trang thái ấp cũng tan vỡ trong cuộc cải cách của Hồ Quý Ly vào cuối thế kỷ 14 Dù chùa chiền không được đồ sộ nhưng đạo Phật vẫn thịnh hành Điêu khắc Phật giáo hiện chưa tìm được pho tượng nào nhưng còn lại rất nhiều bệ tượng đá hoa sen hình hộp trên đặt tượng Tam Thế (Quá khứ - Hiện tại - Vị lai) ở chùa Thầy, chùa Bối Khê, chùa Dương Liễu Chạm khắc gỗ trang trí kiến trúc thấy ở chùa Phổ Minh (Nam Định), chùa Thái Lạc (Hưng Yên) với các đề tài "Rồng chầu lá đề", "Tiên nữ dâng hoa", "Tiên nữ tấu nhạc",

"Tiên nữ dâng hương" Phong cách hài hoà Lý đã biến đổi, phong cách Trần mạnh

mẽ, khái quát và quan tâm đến tính biến động của cấu trúc tổng thể hơn là hình mô

tả Trong các lăng mộ đời Trần, điêu khắc đá chủ yếu là tượng người, tượng thú chầu và làm thần canh giữ cho thế giới vĩnh viễn của ông vua có vẻ đẹp trầm mặc

và sinh động Tượng hổ ở lăng Trần Thủ Độ, tượng trâu và chó ở lăng Trần Hiển Tông, tượng quan hầu ở lăng Trần Anh Tông là lối điêu khắc lăng mộ đầu tiên ở Việt Nam, mà cách tạo hình luôn gắn với sự xác định trong không gian quần thể kiến trúc lộ thiên

Điêu khắc thời Lê Sơ (1428 - 1527): Trong trăm năm của triều đại Lê Sơ, Phật giáo đã bị đẩy lùi về các làng xã, Nho giáo lên ngôi và kinh tế nông nghiệp với

Trang 24

quan hệ địa chủ - nông dân cũng phát đạt Ngoài ba pho tượng đá chùa Ngọc Khám (Bắc Ninh) đến nay hình ảnh điêu khắc Phật giáo thời Lê Sơ rất mờ nhạt Thay vào

đó là nền điêu khắc lăng mộ của các vua Lê ở Lam Sơn (Thanh Hoá) Tám lăng vua

Lê và hai bà Hoàng hậu đều theo hình thức của lăng vua Lê Thái Tổ làm năm 1433, mặt bằng hình vuông, chính giữa là đường thần đạo dẫn đến mộ phần ở đáy lăng, hai bên có hai dãy tượng chầu gồm quan hầu, lân, tê giác, ngựa, hổ Bên ngoài lăng

là nhà bia Các lăng khác đều tương tự, tuy các con vật chầu có chút ít thay đổi Sau

20 năm chiến tranh với nhà Minh (1407 - 1427), đất nước trở nên hoang tàn, sản vật

bị vơ vét, sách vở bị đốt, đền chùa bị phá, thợ giỏi bị đưa về Tàu Vua Lê đành phải dùng những nông dân lân cận tạc tượng, xây lăng Tính thô mộc, giản dị, sự cần kiệm của một chính thể mới lên đã dẫn đến một nền điêu khắc đơn điệu, nghèo nàn,

dù con mắt kiến trúc tổng thể khá đặc sắc

Điêu khắc thời Lê - Trịnh - Tây Sơn: Nhà Mạc thay thế Nhà Lê Sơ 1528 đến

1598 Nông thôn Việt Nam tạm yên ổn và phát triển một phong cách điêu khắc đình làng, từ chối tính tôn giáo và phong kiến trước đó.Nội chiến bắt đầu giữa Nhà Mạc với các quan lại họ Trịnh và Nguyễn ủng hộ con cháu nhà Lê, còn gọi là chiến tranh Nam - Bắc triều.Nhà Mạc thất bại.Thế kỷ 17 họ Trịnh nắm binh quyền ở Bắc Bộ chi phối vua Lê.Họ Nguyễn cát cứ Nam Bộ Chiến tranh Trịnh - Nguyễn xảy ra tới bảy lần trong suốt thế kỷ 17.Nhân tâm náo loạn Phật giáo phục hưng như một cứu cánh tinh thần Thế kỷ 17 - 18 cũng là giai đoạn phát đạt nhất của văn hoá nghệ thuật.Điêu khắc đạt số lượng và loại hình đáng kể chi phối toàn bộ tinh thần thẩm

mỹ người Việt Gồm các bộ phận sau: điêu khắc Phật giáo trong các chùa làng, điêu khắc lăng mộ của vua quan Lê - Trịnh, điêu khắc trong các đền thờ với tín ngưỡng bản địa Tượng Phật là Quan Âm "nghìn mắt nghìn tay" chùa Hạ (Vĩnh Yên), cao 3,7m có 42 tay là tác phẩm đồ sộ của thế kỷ 16 Tượng Phật Bà Quan Âm "nghìn mắt nghìn tay" chùa Bút Tháp (Bắc Ninh) cao 3,7m; 42 tay lớn; 952 tay nhỏ kết thành quầng mắt và ánh sáng rực rỡ tiêu biểu cho nghệ thuật thế kỷ 17 Kết thúc thế

kỷ 18 là nhóm điêu khắc các vị tổ chùa Tây Phương được làm năm 1794 thời Tây Sơn Điêu khắc đình làng như các đình Phù Lão, Chu Quyến, Thổ Tang, Liên Hiệp, Hương Lộc mang đến một nguồn sinh khí mới với nét chạm tự do, cấu trúc đồ sộ

Trang 25

như nghệ thuật Baroque Cá tính và phong cách cá nhân chìm lẫn trong các hình tượng Thần Phật và được dung dưỡng bởi đời sống làng xã vừa khép kín vừa đa dạng như những tế bào gộp nên nền văn hoá nông nghiệp Việt Nam

Điêu khắc thời Nguyễn (1802 - 1945): Nhà Nguyễn rời đô vào Huế, xây dựng kinh thành Huế và quần thể lăng mộ cho các bậc đế vương ở phía tây kinh thành, điêu khắc lăng mộ phong kiến Huế nghèo nàn về ngôn ngữ và cứng nhắc về quy phạm Các lăng Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Khải Định tuy khác nhau về kiến trúc nhưng tương đối thống nhất về điêu khắc Tượng quan hầu, lính hầu, voi và ngựa nghiêm trang hai bên thần đạo, kích thước gần nguyên mẫu nhưng rất thiếu sinh khí Ở Bắc Bộ, điêu khắc Phật giáo tiếp tục phát triển với một tinh thần chung của xã hội phong kiến cuối mùa Tượng thì to ra, nhưng vẻ sinh động giảm thiểu Tác phẩm Quan Âm 112 tay chùa Tây Phương, tượng Phật chùa Bà Đá, chùa Hồng Phúc là những ánh sáng loé lên cuối cùng khi một thời đại mới bắt đầu Năm 1925, trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ra đời.Mỹ thuật Việt Nam có bước ngoặt mới, hội hoạ với các nghệ sỹ có tên tuổi bắt đầu thay thế địa vị độc tôn của nghệ thuật điêu khắc cổ

Từ nghiên cứu tổng quan trên cho thấy sự phân loại hoa văn trang trí trên công trình kiến trúc gỗ cổ, phân bố trang chưa được đề cập đến Từ đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu hoa văn trang trí trên công trình kiến trúc gỗ cổ, từ đó làm cơ

sở cho xây dựng công trình kiến trúc gỗ mới vẫn đảm bảo được đặc điểm truyền thống Việt Nam

Trang 26

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát:

Nghiên cứu được hoa văn trang trí trên công trình gỗ cổ Việt Nam, từ đó làm căn cứ cho sự bảo tồn công trình kiến trúc gỗ cổ, phát huy cho công trình kiến trúc mới góp phần giữ gìn văn hóa, nghệ thuật truyền thống

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

Nghiên cứu được loại motip hoa văn, hình thức trang trí hoa văn trên công trình kiến trúc gỗ cổ Việt Nam

Nghiên cứu được ý nghĩa một số motip hoa văn trên công trình kiến trúc gỗ cổ

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu trên đối tượng là họa tiết hoa văn trang trí trên

gỗ của công trình kiến trúc gỗ cổ có tuổi đời lớn hơn 100 năm

Công trình kiến trúc bao gồm đình làng, đền thờ, chùa chiền đang tồn tại, có tuổi đời trên 100 năm

2.3 Phạm vi nghiên cứu

Trong đề tài này, giới hạn nghiên cứu như sau:

- Loại hình công trình kiến trúc là công trình gỗ, bao gồm Đình làng, chùa chiền, Đền thờ, nhà gỗ trong dân

- Công trình kiến trúc gỗ có tuổi đời lớn hơn 100 năm, chủ yếu từ thời kỳ Nhà Trần và một số nhà Gỗ cổ truyền thống triều Nguyễn

- Những công trình nghiên cứu chủ yếu khu vực Đồng bằng bắc bộ

- Tập trung nghiên cứu họa tiết hoa văn trên công trình kiến trúc đó, bao gồm chủng loại, phân bố trên kiến trúc gỗ, ý nghĩa hoa văn trang trí, phương thức trang trí

2.4 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu đề tài hoa văn trang trí trên công trình công cộng (Đình, chùa, miếu)

- Nghiên cứu đề tài hoa văn trang trí trên công trình gỗ cổ nhà ở

- Nghiên cứu phương pháp trang trí hoa văn trên công trình kiến trúc gỗ cổ

Trang 27

2.5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nội dung trên, những phương pháp sau được sử dụng để nghiên cứu:

Phương pháp kế thừa:

Kế thừa tài liệu nghiên cứu về kiến trúc Nhà gỗ Việt Nam, Kiến trúc Đình làng, chùa chiền Việt Nam, tài liệu về Văn hóa truyền thống Việt Nam; Kế thừa tài liệu nghiên cứu về mỹ thuật Việt Nam qua các thời kỳ, đặc biệt thời kỳ Lý, Trần

Từ tài liệu bổ sung kiến thúc về họa tiết hoa văn, ý nghĩa của các hoa văn trang trí

Phương pháp điều tra khảo sát:

Điều tra khảo sát công trình kiến trúc gỗ cần nghiên cứu , tập trung Đồng bằng Bắc bộ

Điều tra khảo sát họa tiết hoa văn, phân bố, chủng loại, phương thức trang trí hoa văn tại chùa, đình làng, nhà cổ Nghiên cứu được phân ra công trình công cộng( Đình làng, chùa chiền, Đền thờ) và công trình nhà gỗ cổ trong dân gian Mỗi chủng loại kiến trúc điều tra từ 8 đến 9 công trình tiêu biểu.Số liệu tổng hợp bằng ghi chép và hình ảnh hoa văn tiêu biểu

Phương pháp phân tích tổng hợp:

Từ số liệu thu được dựa trên sự khảo sát thực tế, kế thừa các tài liệu nghiên cứu có liên quan của các nhà nghiên cứu trước, phân tích đưa ra số liệu đặc trưng thu thập được về nội dung nghiên cứu trên

Phương pháp phân tích xử lý số liệu: Dùng phần mềm excel để xử lý kết

quả vẽ đồ thị phân tích

2.6 Tính mới của luận án

Đây là công trình đầu tương đối đầy đủ về hoa văn trang trí trên công trình kiến trúc gỗ cổ bao gồm Chùa chiền, Đình làng, công trình gỗ nhà cổ Nghiên cứu

đã sư dụng phương pháp toán học để thống kê và phân loại về hoa văn trang trí trên công trình kiến trúc gỗ cổ Nghiên cứu cũng đã so sánh được sự khác nhau về hoa văn của 3 loại hình kiến trúc gỗ cổ nói trên

Trang 28

Chương 3

CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.1 Cở sở lý luận

3.1.1 Cơ sở lý luận văn hóa Việt Nam

Tiến trình văn hóa Việt Nam có thể chia thành 6 giai đoạn: văn hóa tiền sử, văn hóa Văn Lang – Âu Lạc, văn hóa thời chống Bắc thuộc, văn hóa Đại Việt, văn hóa Đại Nam và văn hóa hiện đại Sáu giai đoạn này tạo thành ba lớp: lớp văn hóa bản địa, lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực, lớp văn hóa giao lưu với phương Tây[22

Đông Nam Á chính là trung tâm nông nghiệp cổ xưa nhất Theo các tài liệu

cổ thực vật học thì việc cây lúa có nguồn gốc từ đây

Từ Đông Nam Á cổ đại, lúa và kĩ thuật trồng lúa đã lan tới bờ Địa Trung Hải vào nửa đầu của thiên niên kỉ I trước Công nguyên Còn ở các hòn đảo Nhật Bản,

nó mới chỉ được đưa tới qua con đường Hoa Bắc từ trước Công nguyên

Ngoài cây lúa và kĩ thuật trồng lúa, còn phải kể đến một số thành tựu đặc biệt khác của Đông Nam Á cổ đại:

(a) Việc trồng dâu nuôi tằm để làm đồ mặc và tục uống chè;

(b) Việc thuần dưỡng một số gia súc đặc thù như trâu, gà (trong cuốn Nguồn gốc các loài, E Darwin đã khẳng định rằng nguồn gốc của con gà nuôi là xuất phát

từ con gà rừng Đông Nam Á);

(c) Việc làm nhà sàn để ở và dùng các cây thuốc để chữa bệnh Truyền thuyết phương Nam đã đánh dấu giai đoạn văn hóa này bằng hình ảnh Thần Nông, nhân vật thần thoại này đã được bổ sung vào kho tàng văn hóa Trung Hoa

(2) Giai đoạn văn hóa Văn Lang – Âu Lạc kế tục giai đoạn tiền sử cả về không gian văn hóa, thời gian văn hóa và thành tựu văn hóa Nếu dựa vào thư tịch

Trang 29

cổ và truyền thuyết thì có thể hình dung giai đoạn này khởi đầu từ khoảng giữa thiên niên kỉ III trước Công nguyên

Thành tựu văn hóa chủ yếu của giai đoạn Văn Lang – Âu Lạc, sau nghề nông nghiệp lúa nước, chính là nghề luyện kim đồng Cả trên phương diện này, vai trò của vùng văn hóa Nam-Á đối với khu vực cũng hết sức to lớn; đồ đồng Đông Sơn

và ảnh hưởng của nó đã tìm thấy khắp nơi – từ nam Trung Hoa, Thái Lan đến toàn

bộ vùng Đông Nam Á hải đảo

(3) Giai đoạn từ 3-2 nghìn năm trước Công nguyên cho đến vài trăm năm trước Công nguyên đã tạo nên một đỉnh cao rực rỡ trong lịch sử văn hóa dân tộc và

có ảnh hưởng lớn đến toàn khu vực

Thời gian này, Ja.V Chesnov đã nhận xét: “Về hàng loạt phương diện của văn hóa – từ sản xuất nông nghiệp cho đến lĩnh vực thần thoại – Đông Nam Á đã có những ảnh hưởng lớn, vượt rất xa ra ngoài ranh giới những láng giềng của nó… Việc tạo nên những thứ như cây lúa trồng, nghề luyện kim đồng, hoặc những thành tựu văn hóa khác… là kết quả sáng tạo của rất nhiều dân tộc lớn nhỏ đã tạo nên trong suốt chiều dài lịch sử nhiều nghìn năm của mình cái thế giới độc đáo được gọi

là Đông Nam Á” Chính những thành tựu của thế giới Đông Nam Á cổ đại mà trong

đó có phần đóng góp của tổ tiên các dân tộc Việt Nam ấy đã làm nên cái nền vững chắc cho sự phát triển của văn hóa Việt Nam sau này

Lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực

Lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực còn lại được hình thành qua

2 giai đoạn: giai đoạn văn hóa chống Bắc thuộc và giai đoạn văn hóa Đại Việt Đặc trưng chung của lớp văn hóa này là sự song song tồn tại của hai xu hướng trái ngược nhau: Một bên là xu hướng Hán hóa về mặt văn hóa và bên kia là xu hướng chống Hán hóa và Việt Nam hóa các ảnh hưởng Trung Hoa

Giai đoạn văn hóa thời chống Bắc thuộc khởi đầu từ trước công nguyên và kéo dài đến khi Ngô Quyền giành lại được đất nước Những đặc điểm chủ yếu của giai đoạn văn hóa này là:

Ý thức đối kháng bất khuất và thường trực trước nguy cơ xâm lăng từ phía phong kiến phương Bắc Sự ra đời của quốc hiệu “Nam Việt” từ trước Công nguyên,

Trang 30

trong đó yếu tố chỉ phương hướng “nam” lần đầu tiên xuất hiện (và sẽ tồn tại trong hầu hết các quốc hiệu về sau) đánh dấu một bước ngoặt trong nhận thức của dân tộc

về hiểm họa xâm lăng thường trực từ phía phong kiến phương Bắc mà từ đời Hán trở đi đã trở thành một đế quốc hùng mạnh bậc nhất khu vực

Tần-Tinh thần đối kháng thường trực và bất khuất ấy đã bộc lộ mạnh mẽ qua các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40-43), Triệu Thị Trinh (246), Lí Bôn với nước Vạn Xuân (544-548), Triệu Quang Phục (548-571), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (791), cha con họ Khúc (906- 923), Dương Diên Nghệ (931- 937) và đạt đến đỉnh cao ở cuộc khởi nghĩa thắng lợi của Ngô Quyền (938)

Đặc điểm thứ hai của giai đoạn văn hóa chống Bắc thuộc là sự suy tàn của nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc, sự suy tàn này bắt nguồn từ:

(1) sự suy thoái tự nhiên có tính quy luật của một nền văn hóa sau khi đạt đến đỉnh cao;

(2) sự tàn phá cố tình của kẻ xâm lược phương Bắc với âm mưu đồng hóa thâm độc

Đặc điểm thứ ba là giai đoạn văn hóa chống Bắc thuộc đã mở đầu cho quá trình giao lưu – tiếp nhận văn hóa Trung Hoa và khu vực, cũng tức là mở đầu cho quá trình văn hóa Việt Nam hội nhập vào văn hóa khu vực Điều thú vị ở đây là, tuy tiếp xúc trực tiếp và thường xuyên với Trung Hoa, nhưng trong giai đoạn này, Việt Nam tiếp nhận văn hóa Trung Hoa chưa nhiều, Nho giáo hầu như chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam Lí do của sự kiện này rất đơn giản: đó là văn hóa đến theo

vó ngựa xâm lăng, do kẻ xâm lược tìm cách áp đặt vào Trong khi đó thì Phật giáo đến Việt Nam (ban đầu trực tiếp từ Ấn Độ, sau đó qua ngả đường Trung Hoa) một cách hòa bình, nên được người Việt Nam tự giác tiếp nhận Cho nên, cùng với sự chống Bắc thuộc quyết liệt về mặt chính trị, nét chủ đạo của giai đoạn này là xu hướng chống Hán hóa về mặt văn hóa và Việt Nam hóa các ảnh hưởng Trung Hoa

Chính do có xu hướng chống Hán hóa mạnh mẽ như vậy cho nên, mặc dù ngay từ đầu Công nguyên, các thái thú Tích Quang, Nhâm Diên ra sức truyền bá điển lễ hôn nhân và gia đình theo lối Trung Hoa; Sĩ Nhiếp vào thế kỉ II ra sức mở trường dạy học để truyền bá văn hóa Trung Hoa và thủ tiêu văn tự ngôn ngữ Việt;

Trang 31

Tô Định, Mã Viện ra sức thiết lập nền pháp chế hà khắc bằng gươm giáo, suốt các thế kỷ này văn hóa Trung Hoa nói chung và Nho giáo nói riêng vẫn không thể nào bắt rễ sâu được vào làng xã Việt Nam Trong sử sách Trung Hoa thời kì này, những đoạn viết về Phật giáo Giao Châu thì nhiều mà nói về Nho giáo thì rất ít Dân Mã lưu do Mã Viện đưa sang không những không thực hiện được nhiệm vụ đồng hóa người Việt và làm chỗ dựa cho chính quyền, trái lại, còn bị Việt hóa hoàn toàn

- Nhờ đã có được nền móng vững vàng tạo nên từ đỉnh cao rực rỡ trong lớp văn hóa bản địa, tinh thần Văn Lang – Âu Lạc vẫn tồn tại như một mạch ngầm trong suốt thời kì chống Bắc thuộc, để khi bước sang giai đoạn văn hóa Đại Việt, chỉ sau ba triều đại (Ngô – Đinh – Tiền Lê) lo việc gây dựng lại, văn hóa Việt Nam

đã khôi phục và thăng hoa nhanh chóng Giai đoạn Đại Việt trở thành đỉnh cao thứ hai trong lịch sử văn hóa Việt Nam với hai cột mốc: Lí-Trần và Lê (Đại Việt là quốc hiệu chủ yếu của nước ta trong thời kì này).Truyền thống tổng hợp bao dung của văn hóa dân tộc (lớp văn hóa bản địa), được tiếp sức bởi văn hóa Phật giáo giàu lòng bác ái (giai đoạn chống Bắc thuộc), đã làm nên linh hồn của thời đại Lí-Trần Văn hóa Lí-Trần chứng kiến thời kì hưng thịnh nhất của Phật giáo và, cùng với nhu cầu xây dựng và củng cố nhà nước trung ương tập quyền, đánh dấu thời điểm Việt Nam chính thức tiếp nhận Nho giáo Đồng thời, với tinh thần tổng hợp bao dung, nó cũng mở rộng cửa cho việc tiếp thu cả Đạo giáo “Tam giáo đồng quy ” trên cơ sở truyền thống dân tộc đã khiến cho văn hóa Việt Nam thời Lí-Trần phát triển mạnh

mẽ về mọi phương diện.Nho giáo (và cùng với nó là văn hóa Trung Hoa) mà trong suốt thời Bắc thuộc đã không thể thâm nhập sâu rộng được, thì giờ đây, từ khi được nhà Lí mở cửa và đặt nền móng (xây Văn Miếu thờ Khổng Tử năm 1070, lập trường Quốc Tử Giám năm 1076,…), đã thâm nhập mỗi ngày một mạnh Đến giữa thời Trần, Nho giáo Việt Nam đã trở thành một lực lượng đáng kể trong triều đình, các Nho sĩ tự khẳng định bằng cách quay lại công kích Phật giáo và các triều vua trước Đến thời Lê, Nho giáo đạt đến độ thịnh vượng nhất và nắm trong tay toàn bộ guồng máy xã hội Xu hướng tiếp nhận văn hóa Trung Hoa (Hán hóa) trở thành chủ đạo Tính cách trọng động (cứng rắn, độc tôn…) đã thâm nhập dần vào xã hội Việt Nam; nhà nước tuyên bố lấy Nho giáo làm quốc giáo; pháp luật phỏng theo Trung

Trang 32

Hoa; phụ nữ, con hát ngày một bị khinh rẻ… Văn hóa Việt Nam thời kì này chuyển sang một đỉnh cao kiểu khác: văn hóa Nho giáo

- Việc giao lưu với Trung Hoa dẫn đến việc dùng chữ Hán làm văn tự Chữ Nôm – chữ của người Nam (chữ “nôm” gồm bộ khẩu và chữ “nam”), một trong những sản phẩm của cuộc giao lưu này – manh nha từ cuối giai đoạn chống Bắc thuộc và hình thành vào đầu giai đoạn Đại Việt, được dùng trong sáng tác văn chương và đặc biệt được đề cao dưới triều đại nhà Hồ và Tây Sơn Vua Quang Trung đã sử dụng chữ Nôm làm văn tự chính thức trong các chiếu chỉ của mình và từng có kế hoạch giao cho La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp tổ chức dịch các sách vở kinh điển từ Hán sang Nôm

Lớp văn hóa giao lưu với văn hóa phương Tây

Cho đến nay, lớp này gồm hai giai đoạn: văn hóa Đại Nam và văn hóa hiện đại Tại đây cũng có hai xu hướng trái ngược: Một bên là xu hướng âu hóa, bên kia

là xu hướng chống âu hóa và Việt Nam hóa các ảnh hưởng phương Tây Song biểu hiện của chúng không phân rõ theo từng giai đoạn mà đan cài trong không gian và thời gian

- Giai đoạn văn hóa Đại Nam được chuẩn bị từ thời các chúa Nguyên và kéo dài hết thời Pháp thuộc và chống Pháp thuộc Tên gọi Đại Nam xuất hiện từ thời Minh Mạng, đó là quốc hiệu chủ yêu của nước ta trong giai đoạn này (thời Gia Long, quát hiệu nước ta là Việt Nam) Văn hóa Đại Nam có các đặc điểm:

a) Từ những tiền đề mà triều đại Tây Sơn đã chuẩn bị, với sự hoàn tất của nhà Nguyễn, lần đầu tiên nước ta có được sự thống nhất về lãnh thổ và tổ chức hành chính từ Đồng Văn đến Cà Mau

b) Sau thời kì hỗn độn Lê-Mạc, Trịnh-Nguyễn, đến nhà Nguyên Nho giáo lại được phục hồi làm quốc giáo, nhưng nó ngày một suy tàn

c) Khởi đầu quá trình thâm nhập của văn hoá phương Tây, cũng là khởi đầu thời kì văn hóa Việt Nam hội nhập vào nền văn hoá nhân loại Sự giao lưu đó đã làm văn hóa Việt Nam biến đổi về mọi phương diện: Lối tư duy phân tích phương Tây đã hổ sung khá nhuần nhuyễn cho lối tư duy tổng hợp truyền thống; ý thức về vai trò cá nhân được nâng cao dần bổ sung cho ý thức cộng đồng truyền thống; đô thị ngày

Trang 33

càng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, quá trình đô thị hóa diễn ra ngày một nhanh hơn Tất cả đã khiến cho lịch sử văn hoá Việt Nam lật sang trang mới

- Giai đoạn văn hóa hiện đại được chuẩn bị từ trong lòng văn hóa Đại Nam:

Sự giao lưu với phương Tây mở đầu bằng giai đoạn Đại Nam đã thổi vào Việt Nam luồng gió mới với những tư tưởng của K Marx, V.I Lênin Từ những năm 30-40 trở lại đây, rõ ràng là văn hóa Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới Tuy nhiên,

vì văn hóa là tiếp nối, thời gian văn hóa là khái niệm mờ, một giai đoạn văn hóa ngắn nhất (như Đại Nam) cũng phải tính bằng vài thế kỉ cho nên mấy chục năm tồn tại của giai đoạn văn hóa hiện đại chưa cho phép tổng kết đầy đủ những đặc điểm của nó: Đây là giai đoạn văn hóa đang định hình Tuy nhiên, có thể dự đoán một cách chắc chắn rằng đây là giai đoạn mà, sau một thời kì suy thoái kéo dài, không những văn hóa Việt Nam sẽ phục hưng mà còn phát triển mạnh mẽ về mọi phương diện, đạt tới một đỉnh cao mới

Lớp văn hóa giao lưu với phương Tây đem đến một sản phẩm của cuộc giao lưu mới: chữ Quốc ngữ

3.1.2 Mối quan hệ kiến trúc và văn hóa

Kiến trúc là một ngành nghệ thuật và khoa học về tổ chức sắp xếp không

gian Kiến trúc cũng chứa đựng những yếu tố về tôn giáo, tâm linh, văn hóa và đời sống xã hội Các giai đoạn xã hội khác nhau biểu hiện đời sống văn hóa cũng khác nhau và kiến trúc sẽ kế thừa của nền văn hóa dân tộc Mỗi dân tộc, do những đặc thù tự nhiên, đặc biệt là quá trình ứng xử, thích nghi với môi trường trong lịch sử tồn tại, phát triển của mình, đã hun đúc lên truyền thống văn hóa riêng mang những giá trị bền vững Bản sắc văn hóa này không chỉ lưu giữ, thế hiện trong tư tưởng đạo đức, lối sống, trong vãn học nghệ thuật mà cả trong công trình kiến trúc, vật

dụng hàng ngày

Trong văn học bản sắc văn hóa Việt Nam thường được thể hiện qua 3 giá

trị tiêu biểu:

Tinh thần yêu nước và quật cường

Tính cách bình dị, lạc quan, yêu thiên nhiên, khả năng thích nghi vớihoàn cảnh rất cao, lao động cần cù và ưa thực tiễn

Trang 34

Lòng nhân ái, trọng đạo lý, trọng nghĩa tình, khoan dung, ưa sự hài hòa cân đối, tế nhị trong cách ứng xử và biểu cảm

Những bản sắc dân tộc truyền thống đó được thể hiện trong kiến trúc Việt

Nam với những giá trị nổi bật như:

Sự khiêm tốn, đơn giản về hình khối kiến trúc, cân xứng, hướng nội, hài hòa hợp nhất với khung cảnh thiên nhiên (Thể hiện rõ nét qua kiểu nhà truyền thống của người Việt)

Có tính biểu tượng, tính ấn dụ, tính hàm súc Điêu khắc làm cho hình khối kiến trúc hàm chứa triết lý phương Đông: đa nghĩa, súc tích, ước lệ, thâm trầm ( trí tuệ mà không phô trương, cô đọng đơn giản mà không nghèo nàn cục mịch…)

Các công trình công cộng chú trọng chất hoành tráng trong tổ chức bố cục không gian và xứ lý tổng thể công trình, không thiên về tính đồ sộ đối chọi hay lấn

át thiên nhiên, kiến trúc đối xứng, lớp sân thềm tam cấp, mặt nước, không gian liên hoàn có đóng có mở…

Không gian nội thất, ngoại thất xử lý kiểu công dụng đa năng biến hóa linh hoạt có sự kết hợp hữu cơ giữa sân thoáng, hiên nửa kín, nửa hở và buồng phòng, tạo nhiều khả năng gắn kết không gian kiến trúc với thiên nhiên ngoại cảnh một cách tự nhiên và phong phú, sinh động

Không gian kiến trúc được kiến tạo và hình thành trên cơ sở hệ cấu trúc đơn giản hợp lý có logic kết cấu khúc triết, mang tính điển hình cao (ít loại hình, tháo lắp dễ dàng, vận chuyển thuận lợi) mang tính công nghiệp hóa cao…

Kiến trúc Việt coi trọng trang trí bằng chạm trổ và điêu khắc (ảnh hưởng mạnh bởi kiến trúc Nam Á) trên các bộ phận kết cấu và chi tiết kiến trúc nhằm làm giảm nhẹ sức nặng, tạo sự phong phú khi con người tiếp cận gần nhưng khi nhìn xa vẫn hoành tráng, ấn tượng khỏe khoắn, về tạo hình chú trọng cái đẹp nhờ tỷ lệ hài hòa, “nhân văn” nhấn mạnh sức truyền cảm có sự thống nhất từ chi tiết đến tổng thể làm cho kiến trúc vừa thuận mắt dễ coi vừa gần gũi với tầm vóc người Việt Nam

Trong xu thế giao thoa văn hóa như hiện nay, sự phát triển của bất kỳ một nền kiến trúc nào đều không thể đóng kín mà đòi hỏi giao lưu hội nhập.Trong điều kiện như vậy, kiến trúc cần hiện đại để hội nhập, hội nhập nhưng không được hòa tan Muốn vậy hơn bao giờ hết, văn hóa- nghệ thuật nói chung hay kiến trúc nói riêng phải kế thừa phát huy truyền thống, phải đậm đà bản sắc dân tộc

Trang 35

Kiến trúc có hiện đại mới đáp ứng tối đa những yêu cầu do ba yếu tố tạo thành của kiến trúc đòi hỏi: công năng, kỹ thuật, hình tượng của thời đại đang sống, đáp ứng nguyện vọng và thị hiếu của dân tộc Trong “hiện đại” hàm chứa “dân tộc” Các kiến trúc sư phải biết trân trọng những bản sắc văn hóa, bản sắc dân tộc, để chuyển hóa thẩm thấu vào mỗi công trình cụ thể và cao hơn là bản lĩnh và tay nghề

Nội dung và hình thức của kiến trúc có thể thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của lịch sử, của thời đại, song vẫn đảm bảo tính truyền thống và kế thừa sâu sắc của văn hóa dân tộc Mỗi dân tộc đều có phong tục tập quán sinh hoạt riêng, truyền thống văn hóa riêng cũng như những kinh nghiệm và các giải pháp xử lý kiến trúc riêng của mình

Nên kiến trúc quốc gia có những nét chung, tuy nhiên mỗi vùng miền, dân tộc lại có những đặc điểm, tính cách riêng, vì thế bản sắc dân tộc không hề đơn điệu, cứng nhắc mà đa dạng và phát triển không ngừng Nhiều công trình kiến trúc cổ của nước ta còn tổn tại như: đình, chùa, tháp, miếu… thế hiện rõ nét các đặc trưng tiêu biểu của văn hóa dân tộc mà chúng tôi đã trình bày ở phần trên Đây là những di sản quý báu, được kết tinh lâu đời về giải pháp và thẩm mỹ kiến trúc cũng như đặc điểm khí hậu đất đai thổ nhưỡng Việt Nam Vì vậy, những người làm công tác nghiên cứu, sáng tác kiến trúc nên coi trọng và gìn giữ truyền thống văn hóa tốt đẹp

và di sản kiến trúc quý báu đó

Bên cạnh đó, kiến trúc hiện đại kế thừa phải có sự phân tích, phê phán, gạn lọc và sáng tạo để phát triển nền kiến trúc tiên tiến hiện đại mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc Việt Nam, tránh xa thói mô phỏng hay bắt chước, câu nệ, bảo thủ và sùng bái cái mới, cái độc đáo vàxa lạ

3.2 Nội dungvà kết quả nghiên cứu

3.2.1 Nghiên cứu hoa văn trên công trình công cộng

Để nghiên cứu hoa văn trên công trình công cộng, nghiên cứu sử dụng phương pháp kế thừa, khảo sát và phân tích

Dựa vào đặc điểm văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, chúng tôi chia công trình công cộng theo 2 nhóm Nhóm 1 là Chùa, Đền, những công trình kiến trúc chủ yếu mang tính linh thiêng, tâm linh

Nhóm thứ 2 là Đình làng, nhóm công trình kiến trúc chủ yếu mang tính sinh hoạt tập thể hàng ngày của nhân dân

Trang 36

Những công trình khảo sát Chùa chiền cụ thể như: Chùa Bối khê, Chùa Dâu, chùa Thái Lạc, Chùa Phổ Minh, Chùa Keo, Chùa Tây Phương, Chùa Mía, Chùa Bút Tháp, Điện Lam Kinh Tổng số công trình nghiên cứu là 09

Những công trình khảo sát Đình làng cụ thể là: Đình làng Chu Quyến, Đình Đình Bảng, Đình Thổ Tang, Đình Hương Canh, Đình Tây Đằng, Đình Ngọc Canh, Đình thổ Hà, Đình Mông phụ Tổng số công trình nghiên cứu là 08

Thông số khảo sát Vị trí địa điểm, tuổi công trình, chủng loại hoa văn trang trí, phương pháp trang trí, ý nghĩa của hoa văn trang trí

Kết quả nghiên cứu mô tả bằng lời, lập bảng phân tích đánh giá, dùng phần mềm excel để xử lý kết quả vẽ đồ thị phân tích

3.2.1.1 Nghiên cứu hoa văn trên công trình Chùa chiền

Nghiên cứu trên 09 ngôi chùa và đền cổ Các ngôi chùa và đền này chủ yếu được xây dựng thời nhà Trần, thế kỷ XVII

Kết quả khảo sát công trình như sau:

(1) Chùa Bối Khê: Chùa nằm tại địa chỉ thôn Bối Khê, xã Tam Hưng, huyện

Thanh Oai, thành phố Hà Nội

Chùa Bối khê được lập khoảng năm 1338 dưới đời vua Trần Hiến Tông Sau

đó, chùa được trùng tu và mở rộng trong 8 đợt dưới các triều Lê Sơ, Mạc, Lê Trung Hưng và Nguyễn Những kiến trúc và hiện vật trong chùa đều vương dấu tích của các thời đại này Chùa được xếp hạng: Di tích lịch sử - cách mạng quốc gia (1979)

Một số hình ảnh về chùa Bối khê

Hình 3.1: Hình ảnh chùa Bối Khê và hoa văn trên bức tường gạch xây nhà

Tiền Đường của chùa

Trang 37

Hình 3.2: Hình ảnh một số hoa văn trang trí trên ván bƣng và xà ngang Chùa

Bối Khê

(2) Chùa Dâu:

Chùa DâuThuộc xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Chùa Dâu là ngôi chùa lâu đời nhất và gắn liền với lịch sử văn hóa, Phật giáo Việt Nam, được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử ngày 28 tháng 4 năm 1962.Chùa Dâu được khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226, là ngôi chùa lâu đời nhất và gắn liền với lịch sử văn hóa.Chùa Dâu ngày nay là kiến trúc tu sửa của thời Hậu Lê (thế kỷ 17-18)

Hình 3.3: Hình ảnh chùa Dâu

Trang 38

Hình 3.4: Hoa văn Rồng trang trí trên ván bƣng Chùa Dâu

(3) Chùa Phổ Minh:

Phổ Minh tự 普明寺) hay chùa Tháp là một ngôi chùa ở thôn Tức Mạc, nằm cách thành phố Nam Địnhkhoảng 5 km về phía bắc Năm 2012, di tích lịch sử và kiến

trúc nghệ thuật đền Trần và chùa Phổ Minh được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt

Cụm kiến trúc chính của chùa bao gồm 9 gian tiền đường, 3 gian thiêu hương, toà thượng điện cũng 3 gian nhưng rộng hơn, xếp theo hình chữ "công" Bộ cửa gian giữa nhà tiền đường gồm 4 cánh bằng gỗ lim, to dày, chạm rồng, sóng nước, hoa lá

và văn hoa hình học Hai cánh ở giữa chạm đôi rồng lớn chầu Mặt Trời trong khuôn hình lá đề, được coi là một tác phẩm điêu khắc khá hoàn mỹ Chùa Phổ Minh có 3 gian tam quan khung gỗ, tường gạch, mái ngói rêu phong, cổ kính với bức hoành phong đề 4 chữ lớn "Đại hùng bảo điện" và thành bậc thềm ở chính giữa có chạm đôi sấu đá rất sống động, hai hồ tròn thả sen nằm đăng đối hai bên lối đi dẫn vào chùa

Hình 3.5: Hình ảnh cổ chùa Phổ Minh

Trang 39

Hình 3.6: Chạm khắc gỗ hoa văn Rồng trên hai cánh cửa chùa Phổ Minh

(nay lưu trữ ở Hà Nội)

(4) Chùa Keo

Chùa Keo xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình Đây là một trong

những ngôi chùa cổ ở Việt Nam được bảo tồn hầu như còn nguyên vẹn kiến trúc

400 năm tuổi Kiến trúc Chùa keo chủ yếu làm bằng gỗ.Chùa keo có Cánh cửa tam quan nội cửa cao 2 m, được đánh giá là cánh cửa đẹp nhất trong số các cánh cửa kiến trúc cổ Việt Nam Chủ đề chính chỉ là hai con rồng nhưng những trang trí lửa hóa long, sóng nước và vân mây sinh động làm cho tấm gỗ như gấm

Hình 3.7: Hình ảnh Chùa keo Thái Bình

Trang 40

Hình 3.8: Gác Chuông là công trình kiến trúc độc đáo của chùa Keo

a b

c d

Hình3.9: Hình ảnh hoa văn trên gỗ chùa Keo

a Hoa văn Rồng trang trí trên cửa

chính Chùa Keo

c Hoa văn trên bức vách cốn

b Hoa văn trên cửa trước d Hoa văn gác chuông

Ngày đăng: 14/05/2021, 22:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[4] Dongping Fang (Tsinghua University), Ancient Chinese Timber Architecture. II: Dynamic Characteristics, Journal of Structural Engineering 127 (11) ã November 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ancient Chinese Timber Architecture. "II: Dynamic Characteristics
[5] Heba-Talla Hamdy Mahmoud, Geometric patterns in egyptian architecture & interior design, The Academic Research Community Publication) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Geometric patterns in egyptian architecture & interior design
[7] Liang Sicheng.A Pictorial History of Chinese Architecture. Beijing: The Joint Publishing Company Ltd.,2011[8 ] 本刊记者屠芫芫 , Chinese wooden structure architecture: Houses that can “breathe” Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Pictorial History of Chinese Architecture". Beijing: The Joint Publishing Company Ltd.,2011 [8 ] 本刊记者屠芫芫, "Chinese wooden structure architecture: Houses that can “breathe
[11] Trần Lâm Biền, Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt Nam, NXB Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt Nam
Nhà XB: NXB Hồng Đức
[12] PGS.TS. Hoàng Văn Khoán, Mỹ thuật và kiến trúc Việt Nam truyền thống, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật và kiến trúc Việt Nam truyền thống
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
[13] PGS. TS. Trịnh Cao Tưởng, Kiến trúc cổ Việt Nam từ cái nhìn khảo cổ học, NXB Xây Dựng, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc cổ Việt Nam từ cái nhìn khảo cổ học
Nhà XB: NXB Xây Dựng
[14] TS. Hoàng Đạo Cương và TS. Nguyễn Hồng Kiên (Viện Bảo tồn di tích), Kiến trúc Chùa Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc Chùa Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
[15] TS. Hoàng Đạo Cương và TS. Nguyễn Hồng Kiên (Viện Bảo tồn di tích), Kiến trúc Đình Làng Việt nam, NXB Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc Đình Làng Việt nam
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
[16] Vũ Tam Lang, Kiến Trúc Cổ Việt Nam , NXB Xây Dựng, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến Trúc Cổ Việt Nam
Nhà XB: NXB Xây Dựng
[17] Nhiều tác giả trong và ngoài nước, Kiến trúc Phố cổ Hội An, sách chuyên khảo,NXB Thế giới mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc Phố cổ Hội An
Nhà XB: NXB Thế giới mới
[18] Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội - Viện Mỹ thuật, BẢN RẬP HOẠ TIẾT MỸ THUẬT CỔ VIỆT NAM (RUBBINGS OF VIETNAMESE ANCIENT FINE ARTS PATTERNS), Chuyên khảo của Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội - Viện Mỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: BẢN RẬP HOẠ TIẾT MỸ THUẬT CỔ VIỆT NAM (RUBBINGS OF VIETNAMESE ANCIENT FINE ARTS PATTERNS)
[19] Nguyễn Du Chi, HOA VĂN VIỆT NAM, Nxb. Mỹ thuật - Hà Nội – 200 [20] Nguyễn Đỗ Cung, Việt Nam: Điêu Khắc dân gian, Thế Kỷ XVI, XVII,XVIII. Nxb Ngoại Văn, Hà Nội, 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: HOA VĂN VIỆT NAM", Nxb. Mỹ thuật - Hà Nội – 200 [20] Nguyễn Đỗ Cung, V"iệt Nam: Điêu Khắc dân gian, Thế Kỷ XVI, XVII, "XVIII
Nhà XB: Nxb. Mỹ thuật - Hà Nội – 200 [20] Nguyễn Đỗ Cung
[21] Phan Cẩm Thượng, Điêu khắc cổ Việt Nam.Nxb: Mỹ thuật 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điêu khắc cổ Việt Nam
Nhà XB: Nxb: Mỹ thuật 1997
[22] Trần Quốc Vượng, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w