1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài giảng Đại cương về giáo dục trẻ khiếm thị: Phần 1

31 14 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 453,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 1 bài giảng Đại cương về giáo dục trẻ khiếm thị trình bày nội dung các chương: Chương 1 - Những vấn đề chung về trẻ khiếm thị, chương 2 - Phát triển các kỹ năng cho trẻ khiếm thị. Tham khảo nội dung bài giảng để nắm bắt nội dung chi tiết.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG

KHOA TÂM LÝ- GIÁO DỤC

Trang 2

MỤC LỤC

I Đề cương chi tiết

II Đề cương bài giảng

Chương 1 Những vấn đề chung về trẻ khiếm thị

1.1 Khái niệm 4

1.2 Phân loại 4

1.3 Nguyên nhân 4

1.4 Đặc điểm tâm lý của trẻ khiếm thị 4

1.4.1 Giao tiếp và tình cảm xã hội 4

1.4.2 Nhận thức 5

1.4.3 Ngôn ngữ 8

Chương 2 Phát triển các kỹ năng cho trẻ khiếm thị 2.1 Dạy kỹ năng định hướng di chuyển cho trẻ khiếm thị 11

2.2.1 Kỹ thuật đi với người dẫn đường 11

2.2.2 Kỹ thuật sử dụng các thế tay an toàn 12

2.2.3 Các kỹ thuật sử dụng gậy 13

2.2 Phát triển kỹ năng xúc giác và dạy đọc và viết chữ nổi cho trẻ khiếm thị 17

2.2.1.Phát triển kỹ năng xúc giác 17

2.2.2 Dạy đọc và viết chữ nổi cho trẻ khiếm thị 22

2.3 Phát triển kỹ năng thị giác cho trẻ khiếm thị 27

Chương 3 Hệ thống phương tiện trợ thị 3.1 Phương tiện trợ thị quang học 31

3.2 Phương tiện trợ thị phi quang học 39

Chương 4 Giáo dục trẻ khiếm thị ở Việt Nam 4.1 Tình hình giáo dục trẻ khiếm thị ở Việt Nam 43

4.2 Hệ thống giáo dục trẻ khiếm thị tại Việt Nam 47

4.2.1 Các hình thức giáo dục trẻ khiếm thị ở Việt Nam 47

4.2.2 Hệ thống dịch vụ đáp ứng nhu cầu cho trẻ khiếm thị ở Việt Nam 48

III Tài liệu tham khảo

Trang 3

I ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT HỌC PHẦN

1 Tên học phần: Đại cương giáo dục trẻ khiếm thị

(Overview of Education of Children with Visually Impairment)

2 Số tín chỉ: 3

3 Trình độ: Sinh viên năm thứ ba (học kì 5)

4 Phân bổ thời gian:

+ Nghe giảng lí thuyết: 17

+ Làm bài tập trên lớp: 7

+ Thảo luận, xemina: 14

+ Thực hành, thực tập:

+ Tự học: 7

5 Điều kiện tiên quyết:

Sinh viên đã học xong học phần Nhập môn giáo dục đặc biệt

6 Mục tiêu học phần:

Học phần sẽ trang bị những kiến thức cơ bản về các đặc điểm tâm lí của trẻ khiếm

thị, bước đầu cung cấp phương pháp phát triển một số kỹ năng đặc thù và hỗ trợ cho trẻ

khiếm thị giúp sinh viên bước đầu tiếp cận và thực hiện một số hoạt động giáo dục cho trẻ

khiếm thị

- Mục tiêu cụ thể: Sau khi học xong học phần này sinh viên đạt được:

+ Về kiến thức: hiểu biết về tật khiếm thị, đặc điểm tâm lý của trẻ khiếm thị, các kỹ

năng đặc thù của trẻ khiếm thị, hệ thống phương tiện trợ thị và tình hình giáo dục trẻ khiếm

thị ở Việt Nam

+ Về kỹ năng: có thể trình bày được những hiểu biết và quan điểm về các vấn đề có

liên quan đến giáo dục trẻ khiếm thị, biết phát triển các kỹ năng đặc thù cho trẻ khiếm thị,

biết sử dụng các hệ thống phương tiện trợ thị

+ Về thái độ: có thái độ tôn trọng khả năng của trẻ khiếm thị, kiên trì nhẫn nại trong

khi dạy trẻ khiếm thị; có tình yêu thương đối với trẻ, tích cực tìm hiểu lý thuyết và thực tế

giáo dục trẻ khiếm thị, áp dụng những kiến thức và kỹ năng đã học vào thực tiễn

7 Mô tả vắn tắt nội dung học phần:

Học phần cung cấp cho người học kiến thức cơ bản về: Đặc điểm tâm lý cơ bản của

trẻ khiếm thị: cảm giác tri giác, giao tiếp, ngôn ngữ, nhận thức; phát triển các kỹ năng đặc

thù cho trẻ khiếm thị; Giới thiệu hệ thống phương tiện trợ thị và tình hình giáo dục trẻ

khiếm thị ở Việt Nam

8 Nhiệm vụ của sinh viên

- Dự lớp: đầy đủ các tiết lý thuyết, thảo luận, bài tập và thực hành

- Làm bài thi kiểm tra giữa kì, thi hết học phần

Trang 4

9 Học liệu học tập

1 Tài liệu bài giảng

2 Geert Wiliam van Delden, Bài giảng về Đại cương giáo dục trẻ khiếm thị, Khoá

đào tạo cử nhân về giáo dục trẻ khiếm thị 2001 –2003

3 .Đặc điểm nhận thức của trẻ khiếm thị, Trung tâm nghiên cứu trẻ có tật, Viện

6 Phạm Thị Bền, Hình thành các kỹ năng và phát triển các giác quan, Tài liệu bài

giảng, Đại học Sư phạm Hà Nội

10 Tiêu chuẩn đánh giá sinh viên:

Đánh giá kết quả học tập của sinh viên dựa vào các tiêu chí sau:

- Dự lớp : Sinh viên đi đủ số giờ lý thuyết và thực hành theo qui định, chuẩn bị các

bài đọc theo yêu cầu của giảng viên

- Thảo luận : Tham gia thảo luận nhóm, đóng góp ý kiến, trình bày được kết quả

thảo luận của nhóm

- Bản thu hoạch : Viết thu hoạch về các buổi tự học, thảo luận (theo nhóm), viết thu

hoạch các nhân sau mỗi buổi thực hành

- Thuyết trình : Thuyết trình về quan điểm của các thành viên trong mỗi nhóm thảo

luận về các vấn đề được giao trong buổi thảo luận

- Kiểm tra giữa học kì : làm bài kiểm tra và viết bài báo cáo thực hành

- Thi cuối học kì : Thi trắc nghiệm 60 phút hoặc thi tự luận 120 phút

11.Thang điểm: 10 điểm với nội dung như sau:

STT Nội dung đánh giá Trọng số

1 Báo cáo bài tự học, thực hành 0,2

2 Kiểm tra giữa môn/ tiểu luận 0,2

12 Nội dung chi tiết học phần

Chương 1 Những vấn đề chung về trẻ khiếm thị

1.1 Khái niệm

1.2 Phân loại

1.3 Nguyên nhân

1.4 Đặc điểm tâm lý của trẻ khiếm thị

1.4.1 Giao tiếp và tình cảm xã hội

Trang 5

2.1 Dạy kỹ năng định hướng di chuyển cho trẻ khiếm thị

2.2.1 Kỹ thuật đi với người dẫn đường

2.2.2 Kỹ thuật sử dụng các thế tay an toàn

2.2.3 Các kỹ thuật sử dụng gậy

2.2 Phát triển kỹ năng xúc giác và dạy đọc và viết chữ nổi cho trẻ khiếm thị

2.3.1.Phát triển kỹ năng xúc giác

2.3.2 Dạy đọc và viết chữ nổi cho trẻ khiếm thị

2.3 Phát triển kỹ năng thị giác cho trẻ khiếm thị

2.3.1.Phát triển kỹ năng thị giác cho trẻ khiếm thị từ 0 –3 tuổi

2.3.2 Phát triển kỹ năng thị giác cho trẻ khiếm thị từ 3 – 6 tuổi

Chương 3 Hệ thống phương tiện trợ thị

3.1 Phương tiện trợ thị quang học

3.1.1 Giới thiệu các phương tiện trợ thị quang học

3.1.2 Hướng dẫn sử dụng phương tiện trợ thị quang học cho trẻ khiếm thị

3.2 Phương tiện trợ thị phi quang học

3.2.1 Giới thiệu các phương tiện trợ thị phi quang học

3.3.2 Hướng dẫn sử dụng phương tiện trợ thị phi quang học cho trẻ khiếm thị

Chương 4 Giáo dục trẻ khiếm thị ở Việt Nam

4.1 Tình hình giáo dục trẻ khiếm thị ở Việt Nam

4.1.1.Sự phát triển của giáo dục trẻ khiếm thị ở Việt Nam trước năm 1945

4.1.2 Sự phát triển của giáo dục trẻ khiếm thị ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay

4.2 Hệ thống giáo dục trẻ khiếm thị tại Việt Nam

4.2.1 Các hình thức giáo dục trẻ khiếm thị ở Việt Nam

4.2.2 Hệ thống dịch vụ đáp ứng nhu cầu cho trẻ khiếm thị ở Việt Nam

13 Ngày phê duyệt

14 Cấp phê duyệt

Trang 6

II ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRẺ KHIẾM THỊ

1.1 Khái niệm

Trẻ khiếm thị là trẻ dưới 16 tuổi có khuyết tật thị giác, khi đã có phương tiện trợ

giúp nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn trong các hoạt động cần sử dụng mắt

Trẻ khiếm thị có những mức độ khác nhau về thị lực và thị trường của thị giác

Người bình thường, có thị lực bằng 1 Vis; thị trường ngang (góc nhìn bao quát theo

chiều ngang) một mắt là 1500; cả hai mắt là 1800 ; thị trường dọc (góc nhìn bao quát theo

chiều đứng) là 1100

1.2 Phân loại

Căn cứ vào mức độ khiếm khuyết của thị giác người ta chia khiếm thị thành hai loại

mù và nhìn kém (việc phân loại thị giác còn phụ thuộc vào mục tiêu của từng ngành chức

năng: Y tế, Giáo dục, Lao động- thương binh, xã hội )

Mù (được chia làm 2 mức độ):

Mù hoàn toàn: Thị lực = 0 đến 0,005 Vis; Thị trường = 0 tới 100 với cả hai mắt

Mù thực tế: Thị lực còn 0,005 đến 0,04 Vis, thị trường còn nhỏ hơn 10o khi đã được các

phương tiện trợ giúp tối đa (Mắt còn khả năng phân biệt sáng tối nhưng không rõ.)

Nhìn kém (được chia làm 2 mức độ)

Nhìn quá kém: Thị lực còn từ 0,04 đến 0,08 Vis khi có các phương tiện trợ giúp tối đa Trẻ

gặp rất nhiều khó khăn trong học tập khi sử dụng mắt và cần được giúp đỡ thường xuyên

trong sinh hoạt và học tập

Nhìn kém: Thị lực còn 0,09-0,3 Vis khi đã có các phương tiện trợ giúp tối đa trẻ vẫn gặp

khó khăn trong hoạt động Tuy nhiên trẻ này có khả năng tự phục vụ, ít cần sự giúp đỡ

thường xuyên của mọi người, còn chủ động trong mọi hoạt động hằng ngày

1.3 Nguyên nhân

Trẻ bị khiếm thị do nhiều nguyên nhân Những nguyên nhân chính sau đây gây tật

khiếm thị:

- Do bẩm sinh; di truyền gen; bố hoặc mẹ bị nhiễm chất độc hoá học; mẹ bị cúm lúc

mang thai hoặc bị tai nạn gây chấn thương thai nhi

- Trong khi sinh: nhiễm khuẩn, forcep, trẻ bị sinh ngược, sinh khó, ngạt trong khi

sinh,…

- Hậu quả của các bệnh: thiếu vitamin, đau mắt hoặc do bị tai nạn lao động, giao

thông,…

1.4 Đặc điểm tâm lý của trẻ khiếm thị

1.4.1 Giao tiếp và tình cảm xã hội

Việc giao tiếp phụ thuộc rất nhiều vào giao tiếp bằng mắt (90% lượng thông tin thu

nhận của người bình thường là thông qua thị giác) Khiếm thị ảnh hưởng rất lớn đến quá

trình phát triển ngôn ngữ cũng như giao tiếp của trẻ

- Giảm hoặc giảm đáng kể khả năng tư duy trừu tượng, lượng thông tin tiếp nhận rời

rạc, đơn điệu và nghèo nàn

- Lời nói mang nặng tính hình thức, khó diễn đạt ý nghĩa của câu nói

Trang 7

- Mất hoặc giảm khả năng bắt chước những cử động, biểu hiện của nét mặt cũng

như khả năng biểu đạt bằng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt Kết quả tất yếu là trẻ khiếm thị, đặc

biệt là trẻ mù không biết kết hợp ngôn ngữ nói với ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ

- Khó định hướng trong giao tiếp, khó tham gia vào các hoạt động giao tiếp nhất là

những hoạt động đòi hỏi phải có sự định hướng, di chuyển trong không gian

- Bị động trong giao tiếp, không xác định được khoảng cách, số lượng người nghe

trong không gian giao tiếp

- Xuất hiện tâm lý mặc cảm, tự ti, ngại giao tiếp

Nguyên nhân:

- Cơ quan tiếp nhận ánh sáng (mắt, dây thần kinh thị giác) hoặc vùng não thị lực bị

phá huỷ

- Đời sống tình cảm, nội tâm của trẻ khiếm thị, đặc biệt là trẻ mù rất phức tạp,

những người sáng mắt thường áp đặt thế giới của mình đối với thế giới riêng của người

khiếm thị

- Môi trường giao tiếp bị hạn chế, trẻ khiếm thị ít có cơ hội tham gia và trải nghiệm

thông qua những hoạt động với mọi người xung quanh

Những khó khăn trong giao tiếp trẻ mù thường gặp

- Mất hoặc giảm khả năng biểu đạt cử chỉ, điệu bộ, nét mặt;

- Định hướng không gian trong giao tiếp;

- Bị động trong giao tiếp;

- Tâm lý mặc cảm, ngại giao tiếp

1.4.2 Nhận thức

Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn trong các hoạt động và trong đời sống xã hội

Nhưng các đặc điểm tâm lý của trẻ nhìn kém vẫn gần giống vẫn những đặc điểm tâm lý của

trẻ sáng cùng độ tuổi, nên trong giới hạn phạm vi của giáo trình này chủ yếu tập chung vào

đối tượng trẻ mù và nhìn quá kém

* Đặc điểm nhận thức cảm tính

Hoạt động nhận thức cảm tính là hình thức khởi đầu trong sự phát triển hoạt động

nhận thức của con người

Cảm giác là quá trình tâm lý phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật và hiện

tượng khi trực tiếp tác động vào giác quan của ta

Ví dụ: Đặt vào tay trẻ mù một vật lạ, trẻ rất khó trả lời đúng đó là vật gì Nhưng nếu

hỏi: Em cảm thấy vật đó thế nào? (cứng, mềm, nhẵn, nóng, lạnh, nặng, nhẹ ) Nếu trẻ trả

lời được tức là trẻ có cảm giác

Trẻ mù hoàn toàn còn có những cảm giác:

Đối với trẻ mù cảm giác sờ và cảm giác nghe đem lại khả năng thay thế chức năng

nhìn của mắt có hiệu quả nhất

a) Đặc điểm cảm giác xúc giác của trẻ khiếm thị

Trang 8

Cảm giác xúc giác là tổng hợp của nhiều loại cảm giác gồm: cảm giác áp lực, cảm

giác nhiệt, cảm giác đau, cảm giác sờ

Có hai loại cảm giác xúc giác: cảm giác xúc giác tuyệt đối và cảm giác xúc giác

phân biệt:

Ngưỡng cảm giác tuyệt đối là khả năng nhận rõ một điểm của vật tác động vào bề

mặt của da

Đo cảm giác tuyệt đối bằng giác kế (bộ lông nhỏ), xác định được diện tích của một

điểm tác động lên từng bộ phận của cơ thể người (khả năng cảm nhận được một điểm) tính

theo miligam/ milimét vuông: đầu lưỡi 2, đầu ngón tay trỏ 2.2, môi 5, bụng 26, thắt lưng

48, gan bàn chân 250

Ngưỡng cảm giác phân biệt: là khả năng nhận biết hai điểm gần nhau đang kích

thích trên da Nếu tính khoảng cách giữa hai điểm theo đơn vị milimét thì ngưỡng cảm giác

phân biệt các vùng trên cơ thể như sau: môi 4,5, cổ 54,2, đùi và lưng 67,4

Khoảng cách tối thiểu giữa các chấm nổi trong ô ký hiệu Braille chỉ bằng 2,5 mm

(ngưỡng xúc giác phân biệt ở đầu ngón tay trỏ của người bình thường là 2,2 mm và ở người

mù được rèn luyện tốt là 1,2 mm) Nhờ vậy, tay của người mù sờ đọc chữ Braille không

gặp khó khăn về nguyên tắc Đó cũng chính là cơ sở khoa học của hệ thống ký hiệu Braille

b) Đặc điểm thính giác của trẻ khiếm thị

Cùng với cảm giác xúc giác, cảm giác thính giác là một trong những cảm giác quan

trọng giúp trẻ mù giao tiếp, định hướng trong các hoạt động: học tập, lao động và sinh hoạt

cuộc sống

Tai người hơn hẳn tai động vật ở chỗ hiểu được ngôn ngữ, cảm thụ được phẩm chất

của âm thanh như cường độ, trường độ và nhịp điệu

Âm thanh phản ánh nhiều thông tin:

- Vật nào phát ra âm thanh

- Khoảng cách và vị trí không gian của vật phát ra âm thanh đối với người nghe, các

vật xung quanh

- Vật phát ra âm thanh tĩnh tại hay chuyển động? chuyển động theo hướng nào? (an

toàn hay nguy hiểm; sôi động hay yên tĩnh )

- Nhờ âm thanh giọng nói của đối tượng đang giao tiếp, trẻ mù có thể biết được

trạng thái tâm lý của họ

Ngưỡng cảm giác thính giác của trẻ khiếm thị

Độ nhạy cảm âm thanh của mọi người đều phát triển theo quy luật như nhau, tuy

nhiên, khi bị mù buộc họ phải thường xuyên lắng nghe đủ mọi âm thanh, nên độ nhạy cảm

giác nghe của họ tốt Nói như vậy, không có nghĩa là mọi người mù đều có độ nhạy âm

thanh tốt hơn người sáng mắt

Khoa học và thực tiễn đã chứng minh được rằng: muốn có độ nhạy của thính giác

cần phải được rèn luyện thường xuyên Âm nhạc là một công cụ rèn luyện thính giác rất tốt

cho trẻ mù

c) Đặc điểm các loại cảm giác khác của trẻ mù

Cảm giác cơ khớp vận động

Là cảm giác nhận biết tín hiệu từ các cơ quan vận động của cơ thể

Với người sáng mắt, cảm giác cơ khớp vận động ít có ý nghĩa

Trang 9

Với người mù, nhờ có cảm giác này trong khi di chuyển họ điều chỉnh bước đi

chính xác hơn, nhận biết nhiều dấu hiệu không gian, khoảng cách, phương hướng, tốc

độ của vật thể

Cảm giác rung

Là cảm giác phản ánh sự dao động của môi trường không khí

Loại cảm giác này ở người bình thường ít có ý nghĩa thiết thực trừ một số ít người

làm nghề lái máy bay, lái ô tô, lái xe gắn máy nhờ nó có thể biết được tình trạng hoạt động

của máy móc

Với người mù nhờ cảm giác rung, họ đoán được vật cản, độ lớn, khoảng trống sắp

đi tới

Cảm giác mùi, vị

Cảm giác mùi, vị phản ánh tính chất hoá học của vật chất

Khi vật chất đó tan trong không khí (hiện tượng thăng hoa), tác động vào cơ quan

thụ cảm là mũi (mùi);

Khi vật chất đó được cơ quan thụ cảm là lưỡi tiếp nhận (vị);

Thông qua mùi, vị người mù dễ xác định được đối tượng: nhà ăn hay nhà vệ sinh;

Người mù cảm nhận người quen có thể qua mùi mồ hôi

Cảm giác thăng bằng

Là cảm giác phản ánh sự cảm nhận vị trí của cơ thể trong không gian;

Bộ máy nhạy cảm thăng bằng là bộ phận tiền đình nằm ở tai trong

Thực nghiệm cho thấy: trong điều kiện như nhau, nếu người sáng mắt nhắm lại thì

người mù có độ nhạy cảm thăng bằng và định hướng không gian tốt hơn

d) Đặc điểm tri giác của trẻ khiếm thị

Tri giác là một quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn thuộc tính của sự vật và

hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào các giác quan của ta

Không phải chỉ có một cơ quan mà có cả hệ cơ quan phân tích tham gia vào quá

trình tri giác Tuỳ theo đối tượng và nhiệm vụ tri giác mà xác định giác quan nào giữ vai trò

chính Nếu nghe giảng văn thì thính giác giữ vai trò chủ yếu, nếu xem tranh vẽ thì mắt giữ

vai trò chính

Hình ảnh xuất hiện trên vỏ não do tri giác sờ đem lại tuy bị hạn chế hơn so với tri giác

nhìn nhưng cũng giúp cho trẻ mù nhận biết hình ảnh một cách trung thực

Giữa mắt và tay có thể phản ánh những dấu hiệu giống nhau (hình dạng, độ lớn,

phương hướng, khoảng cách, thực thể, chuyển động hay đứng yên), và những dấu hiệu

khác nhau

- Nhận biết màu sắc ánh sáng, bóng tối thì mắt mới phản ánh đầy đủ trọn vẹn;

- Nhận biết về áp lực, trọng lượng, nhiệt độ thì tay phản ánh tốt hơn

Thực nghiệm cho thấy: hiệu quả tri giác sờ chỉ được phát huy khi trẻ bị mù hoàn

toàn Đó là điều lý giải vì sao người sáng mắt khi bị bịt mắt để sờ đọc và viết chữ nổi

không hiệu quả như người mù

* Đặc điểm nhận thức lý tính của trẻ khiếm thị

a) Đặc điểm tư duy của trẻ khiếm thị

Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, nhưng mối liên

hệ bên trong, có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước

đó ta chưa biết

Trang 10

Ngôn ngữ giữ vai trò đặc biệt trong quá trình tư duy ở trẻ mù, chức năng cơ bản

của ngôn ngữ không bị rối loạn Do đó tư duy của trẻ vẫn đủ điều kiện phát triển Tuy

nhiên, những thao tác tư duy diễn ra phức tạp và khó khăn:

- Quá trình phân tích, tổng hợp dựa trên kết quả của quá trình nhận thức cảm tính

(cảm giác, tri giác) Ở trẻ mù, nhận thức cảm tính lại bị khiếm khuyết, không đầy đủ, do đó,

ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả tư duy (phân tích, tổng hợp);

- Quá trình so sánh thường dựa vào kết quả phân tích, tổng hợp, để tìm ra những

dấu hiệu giống và khác nhau giữa các sự vật và hiện tượng Trẻ mù khó tự tìm ra những dấu

hiệu bản chất để khái quát hoá và phân loại theo một hệ thống xác định Đôi khi các em chỉ

dựa vào một dấu hiệu đơn lẻ để khái quát thành một nhóm chung

Nhờ có khả năng bù trừ chức năng của các giác quan nên khả năng nhận thức của

trẻ không bị ảnh hưởng nhiều, vì thế tư duy của trẻ mù vẫn có thể phát triển bình thường

b) Đặc điểm biểu tượng và tưởng tượng của trẻ khiếm thị

Biểu tượng là những hình ảnh được lưu giữ lại, nhờ kết quả tri giác sự vật và hiện

tượng trước đó Đó là những hình ảnh xuất hiện trên não bộ không phải do các sự vật đang

trực tiếp tác động lên cơ quan cảm giác mà chỉ là hình ảnh của trí nhớ Do những hạn chế

của quá trình tiếp nhận thông tin của trẻ khiếm thị, biểu tượng của trẻ khiếm thị có những

đặc điểm sau:

- Khuyết lệch, nghèo nàn;

-Hình ảnh bị đứt đoạn;

- Mức độ khái quát thấp

Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm

của cá nhân, là quá trình xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có

Tưởng tượng được xây dựng trên cơ sở của biểu tượng Khi biểu tượng bị nghèo nàn,

khuyết lệch, lờ mờ, đứt đoạn, chắp vá thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới khả năng phát triển của

tưởng tượng, tức là hạn chế khả năng tái tạo, sáng tạo

Tưởng tượng của trẻ mù có đặc điểm:

- Hạn chế khả năng tái tạo, sáng tạo.hình ảnh mới (đôi khi đánh giá không đúng sự

thật hoặc cường điệu hoá);

- Trí tưởng tượng nghèo;

Ví dụ 1: Trẻ mù bẩm sinh, chưa được nhìn trực tiếp đám mây thì khó tưởng tượng

ra hình ảnh: một lùm cây xanh in trên nền trời xanh biếc, có đám mây trắng ngần

Ví dụ 2: Trẻ mù bẩm sinh, trong giấc mơ của họ không bao giờ có hình ảnh màu

sắc

Trẻ mù ở độ tuổi trưởng thành, vẫn có nhiều cơ hội phát triển tưởng tượng

1.4.3 Ngôn ngữ

Trong giao tiếp, con người sử dụng ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết) để biểu đạt tư

tưởng, ý nghĩ, tình cảm, ý muốn của mình

Ngôn ngữ giữ vai trò quan trọng đối với tất cả mọi người Nó không chỉ là phương

tiện giao tiếp mà còn có chức năng khái quát hoá và trừu tượng hoá, là điều kiện không thể

thiếu được nhằm phát triển tư duy Ngôn ngữ là cái vỏ của tư duy

Với người mù, ngôn ngữ còn có thêm chức năng bù trừ những khiếm khuyết trong

hoạt động nhận thức Chẳng hạn, những gì mà người mù không sờ thấy được thì ta có thể

Trang 11

thấy được thì ta có thể giải thích mô hình bằng lời Ngay cả những sự vật tuy đã sờ thấy,

nghe được, nhưng chưa hẳn người mù đã thấu hiểu Nếu được giải thích thêm (bằng ngôn

ngữ) sẽ giúp người mù hiểu rõ hơn, kĩ càng hơn Vai trò của giáo viên dạy trẻ mù chính là ở

chỗ này Ta cần tìm hiểu sự phát triển ngôn ngữ của người mù để có biện pháp giảng dạy

tốt Nhìn chung, ngôn ngữ của người mù cũng như ngôn ngữ của người sáng Ngôn ngữ

phát triển đều trải qua quá trình:

- Luyện phát âm

- Tích luỹ vốn từ

- Nắm vững luật chính tả, ngữ pháp

Bên cạnh ngôn ngữ nói (phát thành tiếng) còn có ngôn ngữ cử chỉ, điệu bộ (nét mặt,

ngôn ngữ kịch câm,…) Khi giảm thị lực (mù), ngôn ngữ ít nhiều mang sắc thái riêng, biểu

hiện trong quá trình biến đổi, phát triển, tích luỹ và đặc biệt là thiếu hài hoà giữa nội dung

và hình thức diễn đạt Một trong những điều kiện quan trọng để phát âm đúng là biết bắt

chước khẩu hình Trẻ mù khó bắt chước vì không nhìn thấy sự vận động của cơ quan phát

âm của người hướng dẫn mà chủ yếu thông qua tri giác nghe để luyện phát âm Bởi vậy,

khi học phát âm những từ khó, trẻ mù thường khó nói gấp 2 lần so với trẻ bình thường

Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ mù thường khó phát âm sai các âm s, gi, tr, d,…

Ngôn ngữ phát triển kém còn thể hiện chữ viết Những âm khó phát âm cũng dẫn tới

viết sai Đó cũng là đặc điểm trong ngôn ngữ viết của trẻ mù

Quá trình tích luỹ vốn từ phụ thuộc khả năng tri giác nhìn Vốn từ ngữ của trẻ mù

thường không phong phú bằng trẻ sáng Vì vốn từ phụ thuộc vào mức độ giao tiếp với mọi

người xung quanh, vào năng lực hiểu rõ nội dung lời nói, vào kết quả đọc sách, xem phim,

du lịch,… So với trẻ sáng, trẻ mù rất ít có các cơ hội nói trên Điều đó càng hạn chế vốn từ

của các em

Như ta đã biết, hệ thống tín hiệu thứ hai hình thành và phát triển thông qua hệ thống

tín hiệu thứ nhất Với trẻ mù, mối liên hệ giữa hai hệ thống tín hiệu này thường bị gián

đoạn Bởi vậy, lời nói của trẻ mù thường mang tính hình thức, bắt chước máy móc câu nói

của người khác Lượng thông tin của lời nói kém, thiếu logic Quá trình nắm bắt ý nghĩa

của lời nói thường xuất phát từ cảm thụ đặc điểm đặc điểm đối tượng, nhận dạng rồi mới

gọi tên Có hiểu rõ nội dung mới khái quát được tài liệu cảm nhận Chỉ trên cơ sở ấy mới

tạo nên khả năng khái quát hoá ý nghĩa lời nói, không cần phụ thuộc tính chất cụ thể nữa Ở

trẻ mù, quá trình này thường ngược lại; các em học lỏm cách nói trước, hiểu nội dung từ

ngữ sau Lúc đầu nghe thoáng qua các em nói có vẻ logic, hợp lí với hoàn cảnh Nhưng

thực tế là lời nói rỗng, thiếu mối quan hệ cụ thể

Nhờ tri giác thính giác qua quá trình học tập, giao tiếp, bắt chước người xung

quanh, con người có khả năng nắm được quy luật chính tả, ngữ pháp Ở trẻ mù, khả năng

này phát triển tốt nếu các em được chăm sóc, giáo dục Hạn chế lớn nhất của trẻ mù là rất

khó hiểu được ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ Trong giao tiếp, hàng loạt cử chỉ, điệu bộ như: gật,

Trang 12

lắc đầu, cau mày,… hầu như không thấy ở trẻ mù Vì vậy, khi nói chuyện, trẻ mù thường

biểu hiện rất yếu tình cảm, xúc cảm Có không ít người mù, khi trò chuyện, họ nói quá to

hoặc ngược lại, do họ không xác định được khoảng cách đến người đối thoại Khi nói, họ

cũng khó xác định mặt nên quay về hướng nào cho đúng phép xã giao

Chương 2 PHÁT TRIỂN CÁC KỸ NĂNG CHO TRẺ KHIẾM THỊ

2.1 Dạy kỹ năng định hướng di chuyển cho trẻ khiếm thị

Trang 13

Định hướng và di chuyển là khả năng sử dụng các giác quan còn lại để xách định vị

trí của mình ở một không gian nhất định Tìm hiểu và quyết định hướng đi, từ vị trí cố định

hiện tại đến vị trí mong muốn khác một cách an toàn, chính xác và thoải mái

2.2.1 Kỹ thuật đi với người dẫn đường

* Kỹ thuật

- Cách nắm đúng khi đi với người dẫn sáng

- Dấu hiệu khi được hướng dẫn: người hướng dẫn sáng sẽ dùng khuỷu tay chạm nhẹ

vào tay người mù

Cách nắm đúng: Người mù dùng tay phải hoặc tay trái nắm lấy cánh tay của người

hướng dẫn, tỳ theo cánh tay của họ chạm nhẹ vào tay người mù

Trên cùi chỏ (khuỷu tay) người hướng dẫn

Ngón tay cái để ngoài, các ngón tay còn lại khép vào phía trong

Khuỷu tay kẹp sát hông, như vậy người mù đi sau người hướng dẫn 1/2 bước (1/2

cánh tay)

Để đọc được cử động người hướng dẫn (nhận được báo hiệu) người mù không nắm

chặt quá hoặc lỏng quá

Đi thoải mái tự nhiên, theo tốc độ người hướng dẫn

Chú ý:

- Nếu người hướng dẫn là một em bé, thì người mù sẽ đặt tay lên vai em bé

- Nếu người hướng dẫn là một người lớn, người mù là em bé người mù sẽ nắm vào

cườm tay người hướng dẫn (cổ tay)

* Kỹ thuật đi qua lối hẹp với người dẫn sáng:

- Người hướng dẫn đưa cánh tay ra phía sau lưng, ép tay vào giữa lưng, đi hơi

chậm lại để báo hiệu qua lối hẹp

- Người mù duỗi thẳng cánh tay và đi thẳng hàng sau người hướng dẫn cách nhau

một bước

- Qua hết lối hẹp, cánh tay người hướng dẫn sẽ trở lại vị trí cũ (sát hông) và người

mù đi trở lại bình thường (cách 1/2 bước)

* Qua thế đất gồ ghề - bước qua rãnh nước:

Người hướng dẫn dừng bước báo cho người mù biết, người mù sẽ:

- Chân bước cao (ở thế đất gồ ghề)

- Chân bước xa (bước ngang qua hào rãnh) Trước khi bước qua hào rãnh, người

hướng dẫn nên để cho người mù đứng ngang hàng với mình rồi báo mức độ rộng của hào,

rãnh cho người mù ước lượng và sau đó cùng bước một lượt với người hướng dẫn Qua hết

người hướng dẫn báo cho người mù biết và đi trở lại như cũ

* Kỹ thuật đi qua cửa với người hướng dẫn sáng

- Đến cánh cửa người hướng dẫn bằng lời cho người mù biết cửa đóng mở về phía

tay nào

- Người mù đứng sau lưng người hướng dẫn một bước (duỗi thẳng cánh tay)

- Người mù phải đổi tay nếu người hướng dẫn mở cửa bằng chính cánh tay đang bị

người nắm, bàn tay rảnh đỡ phụ cánh cửa mở

Qua khỏi cửa người hướng dẫn dừng lại chờ cho người mù đóng cửa lại rồi mới đi

Chú ý:

- Cửa có 2 cánh khép lại hoặc một cánh lớn

- Phân biệt cửa có 4 hướng chính: đẩy ra và kéo vào về phía tay phải, đẩy ra và kéo

vào về phía tay trái

Trang 14

- Cánh cửa bật có gắn lò xo

* Kỹ thuật lên cầu thang

- Người hướng dẫn báo cho người mù biết và tiến đến bậc cầu thang dừng lại, người

mù tiến đến đứng ngang hàng với người hướng dẫn, ngón chân sát mép cầu thang

- Quang sát cầu thang có lan can hay không

- Dùng chân đo chiều cao và chiều dài của bậc thang

- Người hướng dẫn bước lên một bước rưỡi, cánh tay người mù duỗi thẳng, người

mù bước lên và hơi nghiêng người về phía trước

- Hết thang người mù cách người hướng dẫn một bước rưỡi Người hướng dẫn tiến

đến một bước, chờ người tiến lên hết nấc thang (tránh bước hụt) rồi lại đi như cũ

* Kỹ thuật xuống cầu thang

- Người hướng dẫn đến mép bậc thang dừng lại, người mù tiến đến dùng chân tìm

mép cầu thang và đứng ngang hàng

- Người hướng dẫn bước xuống một bước rưỡi cánh tay người mù duỗi thẳng và

bước xuống theo

- Xuống hết cầu thang, người hướng dẫn tiến đến một bước dừng lại chờ người mù

Sau đó tiếp tục đi như cũ, khi xuống thang phải đi thẳng người, tránh trường hợp bị chúi

người xuống dưới dễ bị té

Chú ý:

- Lên xuống cầu thang nên đi bên phải

- Trong trường hợp cầu thang có nấc thang đặc biệt (nấc đầu rộng hơn, cao hơn

hoặc thấp hơn nấc thang trên) thì người hướng dẫn phải cho người mù đứng hẳn lên nấc

thang đó rồi mới dò nấc thang kế tiếp

- Cầu thang xoắn, người mù nên đi ở phía trước mặt nấc thang rộng, không nên đi

phía trước trục tròn cầu thang vì tiết diện nấc thang hẹp (nấc thang hình tam giác) sử dụng

lan can

- Cầu thang gỗ lên gác thường hẹp, nấc thang khít hoặc quá thưa, người mù phải sử

dụng lan can, chân bước trọn hoặc nửa bàn chân tuỳ theo nấc thang

- Tránh đừng để người mù bị té khi thực tập dễ mất tin tưởng vào bài học

2.2.2 Kỹ thuật sử dụng các thế tay an toàn

* Thế tay an toàn trên

- Lòng bàn tay hướng ra ngoài, đầu ngón tay giữa chạm nhẹ chân tóc ở trán

- Từ từ đưa tay ra trước mặt khoảng từ 20 đến 25 cm

- Các ngón tay khép lại và hướng lên trời

- Vừa đi vừa di chuyển nhẹ nhàng ra hai bên để bảo vệ toàn bộ khuôn mặt

Kỹ thuật này giúp cho người khiếm thị cảm thấy tự tin và an tâm khi đi lại trong

môi trường, tránh được những chướng ngại vật ở tầm ngang mặt

* Thế tay an toàn ngang

- Cánh tay và cổ tay song song với nền nhà, gập cánh tay lại sao cho các ngón tay

che chở bờ vai bên kia và cách vai khoảng 20 – 25 cm

- Các ngón tay khép lại, lòng bàn tay hướng ra ngoài

Trang 15

Kỹ thuật này giúp trẻ khiếm thị tránh được các chướng ngại vật ở tầm ngang người,

bảo vệ an toàn cho trẻ khi đi qua cửa, những nơi không quen thuộc Tìm các vật dụng thông

thường có tầm cao ngang vai

* Thế tay an toàn dưới

- Cánh tay duỗi thẳng xuống giữa người

- Các ngón tay khép lại

- Bàn tay đưa nhẹ nhàng qua hai bên để bảo vệ toàn thân

Lợi ích: Kỹ thuật này giúp người khiếm thị che chở phần dưới cơ thể khi nghi ngờ có

chướng ngại vật ở tầm thấp Đồng thời có thể dùng kĩ thuật này để tìm những mục tiêu

thấp ngang tầm cánh tay thõng xuống như đầu gường, bàn ghế…

2.2.3 Các kỹ thuật sử dụng gậy

Đặc điểm của gậy dò đường

Người mù thường sử dụng nhiều loại gậy làm phương tiện để di chuyển:

- Gậy mây

- Gậy tre

- Gậy nhôm

- Gậy gỗ các loại

Và kích thước các gậy này thường chỉ tuỳ thích Đó là gậy của những người mù

đang sử dụng phương pháp “tự do”

Với kỹ thuật định hướng di chuyển của Hoover, thì gậy sử dụng phải đúng kích

thước, tính chất của gậy phải tương đối bảo đảm theo yêu cầu

Ông Russel C Williams ở Nha cựu chiến binh Hoa Kỳ, đã hoàn thành tính chất đặc

biệt của cây gậy dài cứng và không nối Những cây gậy này đã được sử dụng tại trường đại

học Western Michigan, bệnh viện Nha cựu chiến binh Hines Illinois

Đại cương thì hình dáng của cây gậy dài gồm có đầu ngoéo, tay cầm, thân gậy, đầu

gậy

- Đầu ngoéo: uốn cong một vòng cung 1800 song song với thân cây gậy

- Nắp đầu ngoéo: đậy đầu ngoéo bằng một nắp plasstic hay cao su để bọc những

phần sù sì của bờ ống

- Thân gậy: phải thẳng từ khúc ngoéo đến nút vặn đầu gậy

- Tay cầm: gắn vào cây gậy ở điểm nơi thân cây và khúc ngoéo Cái tay nắm này

thường giống cái tay nắm gậy đánh gôn và phải làm thế nào để luồn qua khúc ngoéo Cây

gậy nhôm Việt Nam thì người ta dùng nhựa đen quấn vào phần trên thân cây gậy để làm tay

nắm (cầm) Tay nắm chỉ dài hơn hai tấc

- Đầu gậy: làm bằng nylon trắng đục, nylatron hay chất tương tự Đầu gậy gắn vào

thân gậy hoặc vặn vào thân gậy Phần này có thể rút ra thay cái khác khi bị mòn

- Chiều dài: đo từ đỉnh khúc ngoéo đến cuối đầu gây, thường có 3 chiều dài cần

thiết: 1,1m; 1,2 m; 1,35 m, (cho trẻ em và những người cao thấp bất thường cần phải sửa

chữa lại)

Cây gậy nặng toàn thể trung bình từ : 228g > 285 g trọng lượng này có thể thay

đổi

Phần bọc ngoài gậy: Gồm hai đoạn băng dán mào vàng ngà và một băng dán đỏ sát

đầu gậy để bọc ngoài thân cây gậy Loại băng này có đặc tính phản chiếu ánh sáng để đi

đêm

Cách sử dụng gậy dài,cách nắm gậy đúng

Ngày đăng: 14/05/2021, 21:45

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm