1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài giảng Đại cương về giáo dục trẻ khiếm thị: Phần 2

22 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 566,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 2 bài giảng Đại cương về giáo dục trẻ khiếm thị trình bày nội dung các chương: Chương 3 - Hệ thống phương tiện trợ thị, chương 4 - Giáo dục trẻ khiếm thị ở Việt Nam. Tham khảo nội dung bài giảng để nắm bắt nội dung chi tiết.

Trang 1

Chương 3 HỆ THỐNG PHƯƠNG TIỆN TRỢ THỊ 3.1 Phương tiện trợ thị quang học

* Các phương pháp phóng đại

Sự phóng đại tăng kích thước ảnh mà mắt nhận được bằng cách làm tăng vùng nhận

ảnh trên võng mạc mắt Đối với những người khiếm thị những hình ảnh quá nhỏ để nhận

biết có thể được phóng lớn hơn qua sự phóng đại

Phóng đại bằng máy chiếu: sự phóng đại bằng máy chiếu làm tăng kích thước của

hình ảnh qua máy chiếu Các dụng cụ điện tử như màn hình máy tính Tivi cũng có thể tạo

ra sự phóng đại qua hình chiếu

CCTV là một dụng cụ dùng để phóng đại hình ảnh, chữ viết và đồ hoạ ra sự phóng

đại hình ảnh, chữ viết và đồ hoạ rồi chiếu cho người nhìn kém sử dụng

Sự phóng đại liên quan đến khoảng cách

Trang 2

Sự phóng đại này đạt được khi một vật đem đến gần mắt hơn tạo ra hình ảnh của

vật trên võng mạc sẽ to hơn Như vậy khoảng cách được kéo ngắn lại đã tạo ra sự phóng

đại Đây là phương pháp đơn giản nhất

Sự phóng đại liên quan đến kích thước

Tuy giữ nguyên khoảng cách, nếu vật có kích thước lớn hơn sẽ làm hình ảnh của vật

trên võng mạc tăng theo Loại phóng đại này gọi là phóng đại liên quan đến kích thước của

vật được làm lớn để tạo sự phóng đại, giống như dung cỡ chữ lớn; loại phóng đại này giới

hạn hơn loại trên vì nó đòi hỏi kích thước cỡ vật

Phóng đại liên quan đến góc nhìn

Kích thước biểu hiện của đồ vật có thể gia tăng việc sử dụng các loại kính hoặc

phức hợp kính Phóng đại góc nhìn làm cho vật ở xa hiện ra gần mắt hơn, nên hình ảnh của

vật trên võng mạc cũng gia tăng Các dụng cụ quang học là những ứng dụng của phóng đại

góc

* Kính trợ thị gần

Thành phần cơ bản của kính trợ thị gần là thấu kính lồi Nó có thể sử dụng đơn độc

hoặc phối hợp trong một hệ thống kính Công suất của thấu kính lồi có thể đạt tới 80Diop

hoặc hơn, nhưng công suất của kính trợ thị gần thường dùng từ +^diop đến +40diop Kính

trợ thị gần thông dụng gồm 3 dạng cơ bản sau: kính gọng phóng đại, kính lúp cầm tay và

kính lúp có chân

Kính gọng phóng đại

Kính gọng phóng đại làm gia tăng kích thước của hình ảnh ở mắt Khi hình ảnh lớn

hơn ở võng mạc, ánh sáng sẽ kích thích các vùng võng mạc còn hoạt động và chuyển tín

hiệu thần kinh về não bộ Nói cách khác, nếu hình ảnh của mắt được phóng đại thì hỉnh ảnh

lên võng mạc lên gấp 3 lần bằng kích thước phóng đại thì hình ảnh trên võng mạc hay số tế

bào võng mạc bị ánh sáng kích thích cũng tăng lên 3 lần Các trường hợp thông thường

nhất cần thông báo, kiểm tra tiền trong ví, xem giá đồ vật, kiểm tra địa chỉ số điện thoại

trong sổ tay Kính phóng đại được chỉ định cho người nhìn kém trong các nhà sinh hoạt ở

nhà làm việc, học tập hay phục hồi chức năng

Ưu điểm của kính phóng đại:

- Dễ dàng được chấp nhận

- Có thể lựa chọn kiểu dáng phù hợp thị hiếu thẩm mỹ

- Có sẵn trên thị trường, giá cả hợp lý

- Cho trường nhìn rộng nhất trong các loại kính trợ thị gần

Trang 3

- Có thể sử dụng được thị giác hai mắt

- Cho phép hai tay tự do

- Thích hợp cho những bệnh nhân bị run tay

- Có thể dùng để đọc trong quãng thời gian kéo dài

- Có thể dùng để viết

- Có thể phối hợp với kính trụ để điều chỉnh tật loạn thị

Nhược điểm của kính phóng đại

- Với kính công suất càng cao thì khoảng cách từ kính đến vật càng gần, cản trở ánh

sáng chiếu vào vật, giảm khả năng sử dụng thị giác hai mắt, hiện tượng méo hình ở chu

biên kính càng tăng, chu vi của trường nhìn giảm và giảm tốc độ đọc

- Cần giải thích kỹ cho trẻ khi sử dụng kính phóng đại có thể gây ra cảm giác mệt

mỏi, mỏi cổ, đau đầu, buồn nôn và lưu ý không được đeo kính khi đi lại

Kính lúp cầm tay

Là một thấu kính lồi được lắp vào một cán cầm tay thấu kính có thể một mặt lồi và

một mặt phẳng hoặc cả hai mặt lồi, kính lúp cầm tay có thể không gắn đèn hoặc gắn đèn

Các ưu điểm của kính lúp cầm tay

- Là một dụng cụ rất nhỏ, rất phổ biến trong xã hội và có tính thẩm mỹ nên người sử

dụng cảm thấy thoải mái khi sử dụng nơi công cộng

- Nhẹ và có thể cầm tay dễ dàng

- Giá thành vừa phải và rẻ tiền

- Khi có một số kỹ thuật lắp đặt thích hợp, người sử dụng có thể duy trì cả thị giác

xa

- Có nhiều loại: cỡ nhỏ bỏ túi, cỡ lớn là cả trang giấy

- Nếu như yếu tố chiếu sang và cả độ tương phản là quan trọng đối với người sử

dụng, thì có thể dùng kính lúp cầm tay có gắn đèn

- Kính lúp cầm tay linh hoạt hơn các dụng cụ khác trong việc sử dụng cho nhiều

mục đích của thị giác gần bởi vì có thể đặt ở mọi chỗ trong tầm tay và có thể dùng chung

với các loại kính khác

- Cho phép di chuyển đầu

- Có thể sử dụng thị giác 2 mắt khi dùng kính có công suất thấp đường kính rộng

- Có thể kết hợp với kính gọng phóng đại điều chỉnh tật khúc xạ

Các nhược điểm của kính lúp cầm tay

- Khoảng cách hội tụ phải giữ cố định

Trang 4

- Thị trường giới hạn, phụ thuộc vào độ phóng đại (độ phóng đại càng lớn thì thị

trường càng nhỏ)

- Khi sử dụng kính lúp cầm tay cần phải có sự kết hợp giữa tay và mắt, đầu nên

những người không có sự kết hợp tốt giữa ba bộ phận này như những người rối loạn vận

động sẽ gặp khó khăn

- Phải sử dụng một hoặc hai tay

- Kính lúp cầm tay có gắn đèn đòi hỏi thay bóng đèn và pin

- Cần giữ kính song song với bề mặt trang giấy để tránh gây ra méo hình

- Khi giữ kính cách xa mắt sẽ làm tăng mức độ quang sai ở chu biên của kính

Kính lúp có chân

Là một thấu kính lồi được gắn lên một giá đỡ để giữ cho khoảng cách từ kính đến

vật không thay đổi khi sử dụng: có hai mẫu kính hay dùng là kính có chân cố định và kính

có chân có thể thay đổi được chiều cao Hầu hết các kính có khoảng cách từ thấu kính tới

vật nằm trong khoảng tiêu cự của kính Do đó sẽ giảm được mức độ quang sai ở chu biên

của kính, nhưng lại tạo ra các tia ló phân kỳ, bởi vậy khi dùng kính đòi hỏi phải có kính

cộng thêm hoặc lực điều tiết để nhìn rõ vật

Các ưu điểm của kính lúp có chân

- Cho phép cải thiện khoảng cách nhìn

- Dễ mang theo người

- Kính có công suất thấp, giá rẻ

- Sử dụng kính hữu hiệu cho những bệnh nhân run tay

- Công suất kính có thể từ thấp đến cao

- Kính có thể gắn đèn chiếu sáng

Các nhược điểm của kính lúp có chân

- Tư thế không thoải mái, phải cong lưng, cúi đầu để nhìn qua trọng tâm kính Tư

thế như vậy gây mỏi và còn che mắt nguồn chiếu sáng từ trên xuống

- Đòi hỏi người sử dụng phaỉ có khả năng điều tiết hoặc có kính cộng thêm vào

- Giảm trường nhìn so với kính gọng phóng đại có công suất tương đương

- Quang sai của kính gây ra bởi những tia sáng không chiếu thẳng vào tâm quang

học của kính

- Rất khó duy trì ánh sáng thích hợp trừ khi nguồn sáng được gắn ngay ở kính

Khung phóng đại

Trang 5

Khung phóng đại về tổng thể cũng là một loại kính phóng đại có chân đứng vì nó có

khoảng cách hội tụ cố định do kính được đặt trực tiếp lên trang giấy để đọc Loại kính này

không có công suất lớn Vì kính phóng đại một dòng chữ một lần, nên rất có lợi cho những

người gặp khó khăn trong việc cầm kính dò theo chữ

Kính phóng đại có gắn đèn

Kính có gắn đèn đặc biệt cho những người sử dụng kính phóng đại có công suất

cao, cần có nguồn chiếu sáng phụ hay những người muốn tránh bóng phản xạ của đèn trần

nhà Cấu trúc của kính công suất cao này hấp thụ tốt ánh sáng và ngăn cản ánh sang truyền

qua, vì vậy làm giảm chiếu sang ở bề mặt sách đọc

Ở các quang cụ công suất cao cho thị giác gần, khoảng cách hội tụ giữa kính và bề

mặt đọc thường ngắn hơn ở các kính công suất thấp Ví khoảng cách thấp mà người sử

dụng quang cụ có công suất cao cần có sự chiếu sáng tốt hơn, nhưng các nguồn sáng ngoài

thông thường không đủ cung cấp ánh sáng mà không bị bóng phản xạ bất thường nên kính

phóng đại có gắn đèn được chế tạo ra để sửa chữa khiếm khuyết này

Kính phóng đại có gắn đèn được thiết kế ở cả hai dạng cầm tay và có chân đứng

Nguồn sáng có thể là ánh sáng thường, có thể cung cấp nguồn sáng cố định hay có thể điều

chỉnh lượng sang bằng một biến trở, nguồn năng lượng có thể là pin hoặc điện Các kính

phóng đại có gắn đèn cung cầp nguồn chiếu sang vật xem, do đó có thể người khiếm thị có

thể sử dụng ở các môi trường kém sáng tạo trong tự nhiện như nhà thờ, quán ăn, nhà hát,

cửa hiệu hay ngoài trời vào buổi tối

* Kính trợ thị nhìn xa bao gồm:

Mục đích chính của kính viễn vọng là đem hình ảnh vật ở xa gần mắt Như vậy vật

sẽ trở nên lớn hơn, các dụng cụ viễn vọng được sử dụng để định hướng, định vị trí các hoạt

động trong thời gian ngắn hoặc để di chuyển Mặc dù có rất nhiều loại kính viễn vọng được

chế tạo cho thị giác xa nhưng để cho người khiếm thị thì các chuyên gia thường chọn loại

kính viễn vọng Gahlean, loại kính viễn vọng được tạo vằng hau kính: vật kính là kính cầu

lồi và thị kính là kính cầu lõm Theo quy ước vật kính là kính gần vật hơn và thị kính là

kính ở gần mắt hơn Hai kính này ở trong kính viễn vọng được đặt cách nhau một khoảng

tương ứng với tổng chiều dài tiêu cự của cả hai kính Quang học và công suất của hai kính

trên cộng với chiều dài của Barrel kính viễn vọng xác định khoảng vật được nhìn rõ

Một số kính viễn vọng được gọi là afocal, có thể nhìn ở vô cực (vật ở khoảng cách

20m trở lên)

Trang 6

Có thể gắn thêm một kính cầu lồi ở phía trước kính viễn vọng tạo một hệ thống kính

gọi là telemicroscope giúp bệnh nhân có thể vừa nhìn xa vừa nhìn ở tầm vừa Người sử

dụng hệ thống kính này có thể vừa nhìn chi tiết ở gần vừa nhìn bao quát được khoảng cách

lớn hơn vừa có hai tay tự do Một đặc tính quan trọng của kính viễn vọng là khi độ phóng

đại càng tăng thì thị trường càng thu hẹp Do vậy người sử dụng sẽ khó theo dõi vật di

chuyển nó ra khỏi thị trường giới hạn của kính và có cảm giác mất thăng bằng Vì vậy trong

hướng dẫn sử dụng kính viễn vọng thấy thoải mái và an tâm khi sử dụng kính Một điểm

đáng chú ý nữa là ánh sáng sẽ bị thay đổi và giảm đi qua kính viễn vọng Do đó một số

người khiếm thị cần loại kính viễn vọng được gia tăng bề mặt kính để tăng lượng ánh sáng

đi qua Như vậy nhu cầu của người sử dụng ứng với các loại kính có các độ chiếu sáng

khác nhau

Kính viễn vọng một mắt cầm tay

Kính viễn vọng một mắt cầm tay là loại kính được chỉ định rộng rãi nhất và thường

được sử dụng cho các mục đích nhìn xa trong thời gian ngắn như đọc bảng chỉ đường, nhìn

bảng trong lớp học, nhìn các bảng trong cửa hàng siêu thị hay xem thể thao Các kính viễn

vọng này thường có độ phóng đại 2.5x, 2.8x, 3x, 4x, 6x, 8x, 10x Khi công suất kính gia

tăng thì thị trường thu hẹp, do đó người sử dụng có thể chấp nhận việc giảm thị trường tới

đâu để xác định bán kính thích hợp

* Các ưu điểm của loại kính viễn vọng

- Kính này nhỏ, nhẹ có thể bỏ trong ví hoặc đeo lên cổ bằng dây

- Rẻ hơn so với các kính có cùng công suất nhưng gắn trên gọng kính

- Có thể nhìn rõ vật ở khoảng cách 10inches tới vô cực

- Có thể linh động sử dụng mắt chủ đạo hơn và tay thuận hơn và có thể điều chỉnh

độ hội tụ bằng tay phải hoặc tay trái

- Có nhiều loại kính công suất từ thấo đến cao từ 2.5x đến 10x hay hơn

- Thêm một thấu kính lồi có thể biến thành kính viễn vọng nhìn gần

- Đổi ngược kính có thể tạo một thị trường rộng giúp mở rộng thị trường ở người có

thị trường hẹp

* Các nhược điểm của kính viễn vọng

- Cần các hướng dẫn đặc biệt về cách hướng đúng trục kính qua vật kính mắt và

cách nhìn vật đứng yên và di chuyển

- Chỉ dùng cho một mắt

- Ngăn cản sự truyền ánh sáng

Trang 7

- Không thể sử dụng trong các hoạt động cầm hai tay vì một tay phải chỉnh và điều

chỉnh kính

- Kính có công suất cao gây giới hạn thị trường và đòi hỏi phải phối hợp mắt với hai

tay

- Người sử dụng có thể bị mỏi khi phải giữ kính trong thời gian lâu

Kính viễn vọng một mắt gắn thêm vào kính gọng

Kính loại này là một dạng biến đổi thích ứng của kính viễn vọng một mắt cầm tay

Có thể gắn vào họăc lấy ra khỏi kính gọng tuỳ ý người sử dụng, có thể gạt xuống để nhìn

qua hoặc gạt lên khi không sử dụng Kính viễn vọng một mắt gắn thêm và kính gọng cho

phép người mang có hai tay tự do để làm việc

* Ưu điểm:

- Kính rẻ tiền

- Thuận tiện cho người làm việc hai tay và người kém phối hợp vận động

- Cung cấp kính có độ phóng đại thấp để có thể làm thị trường rộng hơn

* Nhược điểm:

- Mặc dù có các loại kính phóng đại nhưng kính có độ phóng đại trên 3x hiếm Kính

này làm nặng thâm gọng nên đôi khi làm người đeo không thoải mái

- Vì kính được gắn trên gọng nên khoảng cách giữa kính và mắt xa hơn là giữa kính

viễn vọng cầm tay với mắt nên nó giới hạn thị trường hơn

- Một số người khác phải che mắt không thêm kính viễn vọng trong giai đoạn đầu

mới sử dụng, để tránh lẫn lộn hình giữa hai mắt

Kính viễn vọng có gọng kính

Full-field Telescope system

Loại kính này được gắn trên gọng kính cố định và đặt trường đồng tử mắt Giống

kính viễn vọng gắn thêm vào kính gọng, kính viễn vọng có gọng cho phép người sử dụng

có hai tay tự do không phải giữ kính và không đòi hỏi sự phối hợp mắt tay Kính loại này

có độ phóng đại trên toàn bộ kính gắn trong tròng mắt kính thích hợp cho người cần thiết

một thị trường rộng trong sinh hoạt, tập luyện như xem tivi Kính loại này có công suất cao

và có thể có kính dạng lăng kính, kính có thể cố định trong gọng hay gắn thêm vào, có thể

kết hợp với các loại kính điều chỉnh tật khúc xạ, có thể tạo kính ở dạng nửa tròng thích hợp

cho loại kính vừa để nhìn gần và nhìn xa

Trong khi đeo loại kính này người sử dụng không thể tập đeo loại kính khác, người

sử dụng chỉ có thể nhìn hình được phóng đại

Trang 8

Trong khi đeo loại kính này người sử dụng sẽ bị quang sai chu biên nhiều, do đó

khó di chuyển cộng thêm giá thành loại kính này đắt so với các loại kính khác, đeo tròng

nặng nề, khi sử dụng thay vì liếc mắt phải quay đầu khi nhìn xung quanh nên kính này ít

khi được sử dụng

Biotric Telescope system

Loại kính này được gắn trên hai tròng trên gọng kính đeo mắt thông thường được

đặt cao hơn hay thấp hơn trục nhìn của mắt

Chỉ định gắn kính này tuỳ thuộc vào tính chất công việc của người sử dụng Phần

lớn hệ thống loại kính này, người sử dụng sẽ nhìn qua kính với một tư thế đầu đặc biệt:

ngẩng cao lên hoặc cúi xuống, còn tư thế ngược lại để nhìn qua kính điều chỉnh khác phục

vụ mục đích nhìn qua của người sử dụng

Đối với người có tồn tại thị giác hai mắt tiềm tàng, kính sẽ được gắn thêm hai tròng

kính Đối với người có thị lực tương đương, kính đeo trên hai mắt sẽ cho phép người sử

dụng phát triển phần nào thị giác hai mắt, phát triển thị giác chiều sâu

Kính loại này cũng gây giới hạn thị trường Ngoài ra kính nắng và cồng kềnh hơn

các kính viễn vọng khác và khi sử dụng đòi hỏi phải huấn luyện

Kính viễn vọng gắn sau kính

Là một dạng kính viễn vọng vũ trụ trong đó có hai kính cầu lồi và một lăng kính

Trong hệ thống này kính viễn vọng được gắn thêm một khung phía sau gọng kính ngay

trước giác mạc Vì kính được đặt sau kính điều chỉnh nên nó không giới hạn chức năng thị

giác trung tâm và giảm thiểu méo hình trung tâm

Do hệ thống viễn vọng gắn sau kính trên hai mắt nên hai mắt ở vị trí nhìn xuống và

qua kính Hiện tại chỉ có loại kính công suất 3x và 4x khi sử dụng phải qua huấn luyện

* Hướng dẫn sử dụng các thiết bị trợ thị quang học

Kính gọng phóng đại

- Ngồi vào vị trí đọc sách, đeo kính vào

- Cầm sách bằng hai tay

- Ngồi tư thế thằng người

- Cầm sách cách mặt một khoảng bằng chiều dài cánh tay, di chuyển sách từ từ gần

lại mắt cho tới khi các chữ số nét nhất Xác định được khoảng cách đúng là rất quan trọng

- Bắt đầu đọc sách bằng cách di chuyển sách chậm từ phải sang trái một cách đều

đặn sao cho giữ khoảng cách không đổi

Trang 9

- Đến cuối dòng chữ, di chuyển sách quay trở lại bên trái của chính dòng chữ đó, di

chuyển mắt xuống chữ đầu tiên của dòng tiếp theo

- Lại đọc dòng theo cách thức trên

Chú ý: cố định đầu và chỉ được di chuyển sách

Kính lúp cầm tay

- Đặt kính ở đầu trên của trang giấy, ở vị trí bắt đầu của đoạn văn

- Từ từ nâng kính lên dần về phía mắt cho tới khi đạt được khoảng cách mà qua đó

thấy chữ rõ nét nhất

- Di chuyển dần tới vị trí thích hợp nhất ở phía trên kính

- Cố gắng tìm tư thế thoải mái nhất

- Dịch chuyển kính từ từ, từ trái sang phải Trong khi đọc lưu ý khoảng cách giữa

trang giấy và kính không được thay đổi

- Khi đọc đến cuối dòng trước, di chuyển kính ngược lại đầu của dòng chữ đó

- Chuyển kính xuống đầu dòng tiếp theo và lại bắt đầu đọc

Kính lúp chân đứng

- Đặt kính lên phía trước của trang giấy ở vị trí bắt đầu của đoạn văn

- Di chuyển đầu về phía kính tới vị trí sao cho nhìn hình ảnh rõ nét nhất

- Từ từ dịch chuyển kính từ trái sang phải lưu ý không được nhấc kính lên khỏi mặt

giấy

- Đến cuối dòng chữ thì dịch chuyển kính ngược trở lại đầu của dòng chữ ấy

- Chuyển kính xuống dòng tiếp theo và bắt đầu đọc theo quy trình trên

Kính viễn vọng

- Đầu tiên phải tìm hướng của vật Ví dụ như chữ trên bảng mà mình muốn tìm lúc

này chưa dùng tới kính

- Trong khi nhìn về hướng bảng nâng dần kính lên trước mắt (dùng mắt tốt hơn)

- Lia kính từ từ để tìm dòng chữ ở trên bảng

- Lia kính từ trái sang phải của dòng chữ trên bảng

Lưu ý: có thể dùng kính viễn vọng đồng thời cùng với kính đeo của mình

3.2 Phương tiện trợ thị phi quang học

Chiếu sáng

Độ chiếu sáng là số lượng ánh sáng trên bề mặt được chiếu sáng Độ chiếu sáng này

được đo bằng độ sáng của ngọn nến Độ chiếu sáng là lượng ánh sáng được chiếu trên vật

tiêu bề mặt hoặc điểm hội tụ của mắt đi vào mắt, ánh sáng phản xạ là lượng ánh sáng mà

Trang 10

mắt đáp ứng Ánh sáng phản xạ được đo foot Lamberts Các bề mặt khác nhau tạo ra các

ánh sáng phản xạ khác nhau Một dụng cụ đo sáng đo được lượng ánh sáng trên bề mặt của

vật tiêu hoặc các bề mặt quanh nó

Ánh sáng thích hợp cho từng cá nhân thay đổi theo từng người

Ngành kỹ thuật chiếu sáng có đưa ra một danh sách có độ chiếu sáng tính bằng

ngọn nến cho từng bề mặt khác nhau

Loại ánh sáng

Độ chiếu sáng có liên quan đến loại ánh sáng được sử dụng nguồn sáng tự nhiên

như ánh sáng mặt trới có thể cần kết hợp với ánh sáng đèn để đủ cho thị giác gần Đối với

một số người nhìn kém, ánh sáng mặt trời đủ để nhìn cánh vật xung quanh, nhưng lại có

một số khác không thể chịu được ánh sáng mặt trới vì quá nhạy cảm với sáng

Gần tương tự với ánh sáng trời là ánh sáng đèn, thường được chiếu sáng trong nhà,

lượng ánh sáng này dịu, ít gây kích thích nhưng không cung cấp độ tương phản cao, nên

không thích hợp với một số người nhìn kém

Vì điều kiện ánh sáng thích hợp rất cần thiết cho người nhìn kém phát huy thị giác

tốt nhất

Vị trí chiếu sáng

Không có công thức để xác định vị trí chiếu sáng thích hợp cho từng cá nhân, do đó

khi tìm vị trí thích hợp phải xem xét tình trạng bệnh lý của mắt, loại vật liệu, loại nguồn

sáng, thời gian trong ngày và qua vai, ở phía ngược với tay thuận Ví dụ nếu người thuận

tay phải thì nguồn sáng ở phía sau vai trái để tránh đổ bóng trên vùng cần nhìn rõ Nếu

người chỉ có một mắt thì nguồn sáng phải phải đặt ở chỗ có thể chiếu qua vai phía mắt còn

nhìn được Đối với người có nguồn sáng phụ thì nguồn sáng phải đặt càng gần mắt càng

tốt, vì càng xa vật ánh sáng càng yếu

Trong nhiều trường hợp, giá đọc sách tránh bị đổ bóng lên vùng đọc và giúp người

đọc có vị trí thoải mái hơn, đặt giá đúng chỗ giúp người đọc đỡ mỏi cổ, lưng và cổ tay Với

một số giá đỡ có cần điều khiển ta có thể điều chỉnh giá đỡ chứ không cần thay đổi tư thế

khi đọc từ đầu đến cuối trang sách Một số giá đọc có gắn thêm đèn cổ ngỗng cho phép

thay đổi vị trí chiếu sáng thích hợp

Giá đỡ hiện nay có hai loại: để bàn, để trên sàn nhà và loại có gắn thêm

Sự đáp ứng với sáng và tối

Khi di chuyển từ vúng sáng tới vùng tối, cần 10 đến 20 phút để các tế bào võng

mạc, đặc biệt là tế bào que thích ứng với mức sáng thấp Vì tế bào nón đáp ứng nhanh hơn

Trang 11

tế bào que nên chỉ cần từ 2 đến 6 phút là thích ứng cho người từ vùng tối ra vùng sáng Do

đó cần xem xét khi chỉ định các trợ giúp cho người nhìn kém giúp họ thích ứng với các môi

trường ánh sáng khác nhau và cân nhắc khi chỉ định các dụng cụ trợ giúp như kính đỏ hoặc

kính màu hổ phách

Loá sáng

Một yếu tố quan trọng cần xem xét trong vấn đề chiếu sáng là loá sáng Có 3 loại

loá sáng: loá sáng gây khó chịu, loá sáng môi trường và loá sáng giảm chức năng

Loá sáng gây khó chịu là tia sáng làm khó chịu khi nhìn nhưng không ảnh hưởng

đến hình ảnh trên võng mạc Loá sáng môi trường có can thiệp vào sự tạo ảnh trên võng

mạc Loại loá sáng này gây ra cho các phần tử nhỏ trong không khí hay trên bề mặt nhìn

phản xạ ánh sáng Loại sáng quá nhiều như mặt giấy đọc quá bóng Loá sáng giảm chức

năng gây nên do những khiếm khuyết của mắt như sẹo giác mạc, đục thuỷ tinh thể

Để làm giảm sự loá sáng nên làm giảm lượng sáng từ môi trường xung quanh hoặc

trên bề mặt làm việc hơn là làm phản chiếu ánh sáng đi Có thể khắc phục bằng cách là thu

nhỏ kích thước các vật trên trần nhà, đặt một tấm thảm dưới bề mặt làm việc, cho đeo bớt

tấm che sáng

Điều khiển độ chiếu sáng

Có thể gắn thêm các biến trở vào các nguồn sáng để giúp người nhìn kém tự điều

khiển lượng ánh sáng thích hợp với mình, nhất là những người có chứng sợ ánh sáng Một

người có thể dùng biến trở điều khiển lượng ánh sáng thích hợp với mình trong thời gian

khác nhau trong ngày, khi đi làm các công việc khác nhau để tạo ra thị giác thoải mái nhất

tránh được mệt mỏi thị giác

Các dụng cụ khác được dung để điều khiển lượng ánh sáng và tránh loá sáng là kính

mát đeo mắt hay kính lọc ánh sáng Kính mát tạo sự dễ chịu và bảo vệ mắt khỏi ánh sáng

quá mức và loá sáng cho những người có độ nhạy cảm ánh sáng trung bình Tuy nhiên ở

người đục thuỷ tinh thể, sẹo giác mạc, xuất huyết thuỷ tinh dịch ngay cả ánh sáng mức

trung bình cũng là quá nhiều gây ra khó chịu trong trường hợp này nên dùng kính mát hay

dùng kính lọc để tạo thị giác khó chịu

Để chọn kính mát thích hợp phải chú ý đến các yếu tố: sự truyền sáng, sự tạo loá

mắt kiểm soát tia cực tím, màu sắc kính thích hợp, dạng gọng kính và sự kết hợp giữa kính

mát và kính điều chỉnh độ khúc xạ Bởi vì mỗi người đều có ngưỡng nhạy cảm riêng với

ánh sáng trong nhà và ngoài trời nên cần thử nghiệm trước trong các môi trường sẽ sử dụng

Ngày đăng: 14/05/2021, 21:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm