Việc thay đổi cơ quan chủ quản không làm thay đổi mô hình đào tạo của các trường cao đẳng hiện tại, tuy nhiên lại ảnh hưởng rất lớn đến chế độ làm việc của giảng viên về giờ chuẩn giảng dạy, quy đổi giờ chuẩn, nghiên cứu khoa học. Bài viết tập trung làm rõ những bất cập về chế độ làm việc của giảng viên các trường cao đẳng chuyên nghiệp khi chuyển đổi sang Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lí.
Trang 1NHỮNG KHÁC BIỆT VỀ CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC CỦA GIẢNG VIÊN
CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG KHI SO SÁNH CÁC VĂN BẢN QUY ĐỊNH CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VỚI BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
Nguyễn Thị Hồng Vân - Trường Đại học Đồng Tháp
Ngày nhận bài: 20/02/2019; ngày sửa chữa: 20/03/2019; ngày duyệt đăng: 29/03/2019
Abstract: Since January 1, 2017, all professional colleges (except pedagogical colleges) were
converted to the Ministry of Labour, War invalids and Social Affairs for management The change
of governing body does not change the training model of the current colleges, but this change
greatly affects the lecturers’ working regime of teaching standard time, convert standard time,
scientific research The article focuses on clarifying inadequacies in the working regime of teachers
of professional colleges when converting to the Ministry of Labour, War invalids and Social
Affairs for management
Keywords: Lecturers’s working regime, professional college, change of governing body in
professional colleges, lecturers’ rights
1 Mở đầu
Giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu của một
quốc gia và đầu tư cho giáo dục là đầu tư khôn ngoan
nhất Hiểu rõ được tầm quan trọng của giáo dục nên trong
những năm gần đây Đảng và Nhà nước không ngừng đổi
mới hệ thống giáo dục theo xu thế chung của toàn cầu
Tâm điểm của đổi mới giáo dục chính là đội ngũ nhà
giáo, những người sẽ đóng vai trò chủ lực đưa cuộc cải
cách giáo dục đi đến thành công
Căn cứ quyết định của Chính phủ, từ ngày
01/01/2017, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sẽ
quản lí nhà nước lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp trình độ
cao đẳng trở xuống, trừ các trường sư phạm, trong đó có
201 trường cao đẳng, 303 trường trung cấp chuyên
nghiệp sẽ được chuyển đổi từ Bộ GD-ĐT sang Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội quản lí Việc chuyển đổi
này đã làm thay đổi rất nhiều vấn đề như: chương trình
đào tạo, phân cấp quản lí, tiêu chuẩn giảng viên, chế độ
giảng viên, Sự thay đổi này đã gây ra một số bất cập về
chế độ làm việc của giảng viên
Bài viết làm rõ những bất cập về chế độ làm việc của
giảng viên các trường cao đẳng khi chuyển đổi từ Bộ
GD-ĐT sang Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản
lí bằng việc so sánh các văn bản quy định của hai Bộ này
2 Nội dung nghiên cứu
2.1 Những bất cập về chế độ làm việc của giảng viên
các trường cao đẳng khi chuyển đổi sang Bộ Lao động
- Thương binh và Xã hội quản lí
Những bất cập về chế độ làm việc của giảng viên các
trường cao đẳng khi chuyển đổi từ Bộ GD-ĐT sang Bộ
Lao động Thương binh và Xã hội quản lí được so sánh
dựa trên hai văn bản quy định sau:
- Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT của Bộ GD-ĐT
ban hành ngày 31/12/2014 quy định về chế độ làm việc đối với giảng viên
- Thông tư số 07/2017/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội ban hành ngày 10/03/2017
quy định về chế độ làm việc của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp
Những bất cập được thể hiện qua một số vấn đề như: định mức giờ giảng, quy đổi giờ chuẩn, quy mô lớp học, định mức nghiên cứu khoa học, thực tập nhà máy xí nghiệp,
2.1.1 Định mức giờ giảng
Giờ chuẩn giảng dạy (sau đây gọi chung là giờ chuẩn)
là đơn vị thời gian quy đổi để thực hiện một công việc tương đương cho một tiết giảng lí thuyết trình độ cao đẳng, đại học trực tiếp trên lớp theo niên chế, bao gồm thời gian lao động cần thiết trước, trong và sau tiết giảng Định mức giờ giảng là số giờ chuẩn mà nhà giáo phải thực hiện trong một năm học
Thời giờ làm việc giữa hai Bộ được quy định như nhau là tổng quỹ thời gian làm việc của giảng viên trong một năm học để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học, học tập bồi dưỡng và các nhiệm vụ khác trong nhà trường là 1.760 giờ sau khi trừ số ngày nghỉ theo quy định
Định mức giờ giảng của giảng viên cao đẳng giữa hai
Bộ có sự khác biệt cụ thể như sau:
- Điều 5 Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT thì định mức giờ giảng dành cho giảng viên đại học, cao đẳng nói chung là 270 giờ chuẩn/1 năm học, không có sự phân biệt giữa các môn học
Trang 2- Điều 5 Thông tư số 07/2017/TT-BLĐTBXH định
mức giờ giảng của nhà giáo trong một năm học: Từ
380-450 giờ chuẩn đối với nhà giáo dạy trình độ cao đẳng
Riêng đối với nhà giáo dạy các môn chung (Chính trị,
Pháp luật, Giáo dục thể chất, Giáo dục Quốc phòng và an
ninh, Tin học, Ngoại ngữ) thì định mức giờ chuẩn trong
một năm học là 450 giờ chuẩn
Xem xét từ quy định của hai Bộ được nêu trên, có thể
thấy, khi chuyển đổi từ Bộ GD-ĐT sang Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội quản lí thì định mức giờ giảng
của giảng viên cao đẳng tăng lên rất cao, đặc biệt là
những giáo viên giảng dạy môn chung, nhưng Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội cũng không đưa ra lí giải
cho việc chênh lệch giờ chuẩn giữa cũ và mới; giữa giảng
viên dạy môn chung và những môn học khác Trong khi
đó, theo chuẩn cũ thì các giảng viên giảng dạy các môn
đều bình đẳng với nhau về giờ chuẩn
Mặt khác, khi chuyển đổi thì các trường cao đẳng
phải thực hiện việc chuyển đổi chương trình đào tạo theo
khung của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo
hướng cắt giảm lí thuyết, tăng cường thực hành Vì thế,
dẫn đến tình trạng giảng viên giảng dạy môn chung số
giờ học bị cắt giảm nhưng giờ chuẩn lại tăng cao, thậm
chí là giờ chuẩn cao nhất trong khung mà Bộ quy định
Từ đó, thực trạng hiện nay xảy ra là giảng viên của các
trường cao đẳng thiếu giờ chuẩn giảng dạy, hoặc nếu
giảng dạy đủ giờ chuẩn (bao gồm cả nghiên cứu khoa
học) thì giảng viên rất vất vả
Thiết nghĩ, trong cùng một hệ thống giáo dục, cùng
một chức danh cần có sự bình đẳng về chế độ, chính sách
giữa đội ngũ nhà giáo tham gia giảng dạy
2.1.2 Quy đổi giờ chuẩn
Quy đổi giờ chuẩn là cách thức để chuyển đổi số giờ
làm việc sang giờ chuẩn của giảng viên bao gồm giờ
giảng dạy lí thuyết, thực hành, tích hợp và những công
việc khác được quy đổi thành giờ chuẩn
Theo quy định hai bộ thì có những cách thức quy đổi
giờ chuẩn khác nhau tuỳ theo tính chất của ngành nghề,
quy mô lớp học Nhưng có một vấn đề bất cập trong quy
định về quy đổi giờ chuẩn theo Điểm a, Khoản 1, Điều
11, Thông tư 07 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội như sau : “Giảng dạy song song nhiều lớp cùng
chương trình, trình độ, từ lớp thứ 3 trở đi: 01 giờ lí thuyết
được tính bằng 0,75 giờ chuẩn”, trong khi đó Bộ GD-ĐT
không quy định về vấn đề này
Xét về mặt lí luận, công việc của một giảng viên cao
đẳng khi thực hiện giảng dạy trên một lớp học đều phải
thực hiện đầy đủ các công tác giảng dạy như: chuẩn bị
giảng dạy; thực hiện giảng dạy; kiểm tra định kì kết quả
học tập của mô-đun, môn học là như nhau nhưng tại sao
giảng dạy từ lớp thứ 3 trở đi, cùng chương trình, trình độ thì một giờ lí thuyết tính bằng 0,75 giờ chuẩn còn chưa hợp lí, cần phải được xem xét sửa đổi Trong khi đó, định mức giờ giảng lại tăng rất cao điều này làm cho giảng viên dạy lí thuyết khó có thể giảng dạy đủ chuẩn
2.1.3 Quy mô lớp học
Quy mô lớp học là quy định về số lượng người học trong một lớp học
Căn cứ Thông tư 07 của Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội quy định về quy mô lớp học đã có sự mâu thuẫn, chồng chéo trong một văn bản Khoản 4, Điều 2,
Thông tư 07 quy định quy mô rõ lớp học như sau: “Lớp học lí thuyết không quá 35 học viên, học sinh, sinh viên ” và không có trường hợp ngoại lệ Nhưng tại Điều
11 Thông tư này quy định về việc quy đổi hoạt động
chuyên môn ra giờ chuẩn lại quy định: “Trường hợp các môn học chung cần thiết phải ghép lớp: Đối với lớp học
có trên 35 học viên, học sinh, sinh viên thì 01 giờ được tính bằng 1,2 giờ chuẩn; đối với lớp học có trên 50 học viên, học sinh, sinh viên nhưng tối đa không quá 60 học viên, học sinh, sinh viên thì 01 giờ được tính bằng 1,3 giờ chuẩn ” Vậy, đối với môn chung có thể ghép tối đa là
60 người học Từ đó, có thể thấy ngay cả trên một văn bản đã chứa đựng sự mâu thuẫn với nhau về quy mô lớp học Hầu hết các trường đều tổ chức ghép lớp khi giảng dạy môn học chung để tiết kiệm kinh phí, nhưng quy định
về ghép lớp chỉ thực hiện khi “cần thiết”, nhưng thế nào
là cần thiết thì Thông tư không nêu rõ
2.1.4 Giảm định mức giờ giảng trong thời gian tập sự
Thời gian tập sự của giảng viên là thời gian để giảng viên làm quen với công việc trước khi được tuyển dụng chính thức, là quy định bắt buộc đối với công chức, viên chức làm việc tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập Thời gian tập sự là từ 3 tháng đến 12 tháng kể
từ ngày kí hợp đồng lao động, trong đó, đối với giảng viên cao đẳng là 12 tháng Trong thời gian tập sự, giảng viên được hưởng 85% mức lương, đồng thời, giảng viên
sẽ được giảm định mức giờ giảng nhưng việc giảm định mức này cũng có sự chênh lệch rất lớn giữa hai Bộ, cụ thể như sau:
- Căn cứ Thông tư 47 của Bộ GD-ĐT quy định:
“Giảng viên trong thời gian tập sự, thử việc chỉ thực hiện tối đa 50% định mức giờ chuẩn quy định ” (Khoản 1
Điều 8 Thông tư 47) Vậy trong thời gian tập sự giảng viên chỉ thực hiện từ 50% số giờ chuẩn trở xuống tuỳ theo quy chế chi tiêu nội bộ của mỗi trường quy định, để tạo điều kiện cho giảng viên tập sự có thời gian học hỏi, nghiên cứu tài liệu, soạn bài giảng
- Căn cứ vào Thông tư 07 của Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội quy định: “Nhà giáo trong thời
Trang 3gian tập sự được giảm 30% định mức giờ giảng” (Điểm
b, Khoản 4, Điều 10, Thông tư 07) Vậy trong thời gian
tập sự giảng viên phải thực hiện 70% định mức giờ
chuẩn quy định
Từ các quy định trên, ta thấy có sự chênh lệch lớn
giữa chế độ giảng viên tập sự của Bộ GD-ĐT và Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội với tỉ lệ trên 20% số giờ
chuẩn Vấn đề đặt ra là tại sao có sự chênh lệch này, mặc
dù về mặt chức danh là như nhau, tính chất công việc
tương tự nhau nhưng chế độ lại hoàn toàn khác nhau
2.1.5 Định mức nghiên cứu khoa học, thực tập nhà máy
xí nghiệp
Bên cạnh công tác giảng dạy, để nâng cao năng lực
chuyên môn, nghiệp vụ đòi hỏi giảng viên cần phải
không ngừng nghiên cứu khoa học, thực hành nâng cao
tay nghề; vì vậy, cơ quan quản lí giáo dục đã quy định
định mức nghiên cứu khoa học đối với giảng viên trong
một năm học
Căn cứ Khoản 1, 2 Điều 7 Thông tư 47 của Bộ
GD-ĐT quy định về định mức nghiên cứu khoa học của giảng
viên như sau:
1 Giảng viên phải dành ít nhất 1/3 tổng quỹ thời
gian làm việc trong năm học để làm nhiệm vụ nghiên
cứu khoa học
2 Việc giao và triển khai thực hiện nhiệm vụ nghiên
cứu khoa học cho giảng viên phải phù hợp với điều kiện,
tiềm lực khoa học, định hướng phát triển hoạt động khoa
học và công nghệ của cơ sở giáo dục đại học và phù hợp
với năng lực chuyên môn của giảng viên Thủ trưởng cơ
sở giáo dục đại học giao cụ thể nhiệm vụ nghiên cứu
khoa học cho giảng viên của đơn vị ”
Từ quy định này, các trường sẽ cụ thể hoá vào quy
chế chi tiêu nội bộ dựa trên mô hình hoạt động của trường
và vị trí việc làm của giảng viên nhằm đưa ra định mức
nghiên cứu hợp lí
Tuy nhiên, khi chuyển sang Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội quản lí thì bên cạnh phải thực hiện định
mức nghiên cứu khoa học thì giảng viên phải thực hiện
thêm định mức “thực tập nhà máy, xí nghiệp” được quy
định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 4, Thông tư 07 “Thực
tập tại doanh nghiệp hoặc cơ quan chuyên môn: 04 tuần
đối với nhà giáo dạy trình độ cao đẳng, trung cấp”, quy
định này dành cho giảng viên giảng dạy tất cả các môn
học Từ đó, chúng ta thấy quy định trên chưa hợp lí vì nó
không căn cứ vào tính chất, vị trí việc làm, chuyên môn
của giảng viên như: giảng viên dạy những môn Triết học,
Tiếng Anh, Pháp luật, Thể dục, sẽ không thể hoàn
thành nhiệm vụ này Vì vậy, cần sửa đổi quy định này
cho phù hợp hơn với thực tế, tạo điều kiện cho giảng viên
có thể hoàn thành nhiệm vụ, yên tâm công tác
2.2 Đề xuất một số kiến nghị nhằm hạn chế những bất cập
Từ những căn cứ đã được phân tích nêu trên, cho thấy
có hai vấn đề đặt ra:
- Khi chuyển đổi cơ quan chủ quản từ Bộ GD-ĐT sang Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì chế độ giảng viên cao đẳng cũng thay đổi theo hướng bất lợi hơn cho giảng viên về các vấn đề như: định mức giờ giảng, quy đổi giờ chuẩn, giảm định mức cho giảng viên tập sự
- Căn cứ theo các quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tồn tại sự bất bình đẳng giữa những giảng viên giảng dạy môn chung và những môn khác như:
+ Định mức giờ giảng của giảng viên dạy môn chung được ấn định ở mức cao nhất khung định mức giờ giảng
+ Quy mô lớp học của giảng viên dạy môn chung
được ghép lớp đông hơn những môn học khác Thêm vào
đó, khi chuyển đổi sang Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội thì hầu hết tiết giảng của môn lí thuyết bị cắt giảm, bao gồm cả môn chung dẫn đến tình trạng giảng viên dạy môn chung giảng dạy thiếu định mức
+ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định
“Giảng dạy song song nhiều lớp cùng chương trình, trình
độ, từ lớp thứ 3 trở đi: 01 giờ lí thuyết được tính bằng 0,75 giờ chuẩn ” (Điểm a, Khoản 1, Điều 11, Thông tư 07) Đối với những môn chung, đa số đều giảng dạy
nhiều về lí thuyết nên quy định này ảnh hưởng trực tiếp đối với giảng viên dạy môn chung như: định mức giảng dạy cao, lớp ghép đông,số tiết bị giảm, hệ số thấp + Đối với giảng viên môn chung rất khó hoàn thành quy định về thực tập nhà máy, xí nghiệp ít nhất 4 tuần trong một năm học Nếu không hoàn thành được quy định này thì những trường sẽ quy đổi giờ thực tập nhà máy, xí nghiệp này thành giờ chuẩn
Để khắc phục những vấn đề trên, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị như sau:
- Đề xuất sửa đổi Thông tư 07 của Bộ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo hướng duy trì những quy định có lợi cho giảng viên khi chuyển đổi cơ quan chủ quản Cần giảm định mức giảng dạy cho giảng viên tạo điều kiện tốt cho giảng viên hoàn thành công việc, an tâm công tác và nghiên cứu khoa học Tiếp đó, Thông tư cần loại bỏ quy định bất hợp lí tại Điểm a, Khoản 1, Điều 11, Thông tư 07 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
như sau : “Giảng dạy song song nhiều lớp cùng chương trình, trình độ, từ lớp thứ 3 trở đi: 01 giờ lí thuyết được tính bằng 0,75 giờ chuẩn” vì đây là quy định hoàn toàn
không có cơ sở, không phù hợp
- Đề nghị sửa đổi Thông tư 07 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội những nội dung có sự phân biệt giữa giảng dạy môn chung và môn chuyên ngành để tạo
Trang 4ra sự bình đẳng giữa giảng viên và giữa những môn học
với nhau Đối với giáo dục cao đẳng thì những môn
chung (gồm Thể chất, Chính trị, Anh văn, Tin học, Pháp
luật, Quốc phòng An ninh) là môn học tạo kiến thức, kĩ
năng cần thiết cho sinh viên để học tập, nhưng quy định
phân biệt như trên của Bộ đã tạo ra sự phân biệt, những
trường cao đẳng và sinh viên sẽ có tâm lí môn chung là
môn phụ, không cần thiết, xem thường kiến thức môn
chung Điều đó cũng ảnh hưởng đến tâm lí, vị thế của
giảng viên giảng dạy môn chung
3 Kết luận
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII khẳng định:
“GD-ĐT là quốc sách hàng đầu ” Giáo dục tác động
mạnh mẽ đến vận mệnh quốc gia, dân tộc Vì vậy, để có
một nền giáo dục tốt thì cần có một đội ngũ nhân lực vừa
có đức và tài, tâm huyết với nghề, nhưng hiện nay chế độ
dành cho giảng viên chưa phù hợp, bình đẳng nên khó
thu hút những người có năng lực trụ lại với nghề Từ
những phân tích trên, thiết nghĩ cần có sự thống nhất chế
độ dành cho giảng viên giữa những cơ quan quản lí giáo
dục và giữa các môn học nhằm tạo sự hài hoà cho người
lao động trong cùng hệ thống giáo dục, cùng trình độ đào
tạo góp phần vào tiến trình đổi mới giáo dục theo xu thế
toàn cầu hoá
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ GD-ĐT (2014) Thông tư 47/2014/TT-BGDĐT
ban hành ngày 31/12/2014 quy định về chế độ làm
việc đối với giảng viên
[2] Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2017)
Thông tư 07/2017/TT-BLĐTBXH ban hành ngày
10/03/2017 quy định về chế độ làm việc của nhà
giáo giáo dục nghề nghiệp
[3] Ban Chấp hành Trung ương (2018) Nghị quyết số
27-NQ/TW ngày 21/05/2018 về cải cách chính
sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên
chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong
doanh nghiệp
[4] Ban Chấp hành Trung ương (1996) Nghị quyết số
2-NQ/TW ngày 24/12/1996 về định hướng chiến
lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời
kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến
năm 2000
[5] Quốc hội (2009) Luật Giáo dục sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Giáo dục 2005 số
44/2009/QH12 ban hành ngày 25/11/2009
[6] Quốc hội (2012) Luật Giáo dục Đại học số
08/2012/QH13 ban hành ngày 18/06/2012
[7] Quốc hội (2014) Luật Giáo dục Nghề nghiệp số
74/2014/QH13 ban hành ngày 27/11/2014
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU
(Tiếp theo trang 296)
- HS kể lại hoặc tưởng tượng về việc đánh bắt
cá trên sông
4 Cách bắt
cá trái phép
có hại như thế nào với cuộc sống của con người và loài động vật dưới nước?
4 Cách bắt cá trái phép
nó không chỉ làm tuyệt chủng các thủy sinh mà còn rất nguy hiểm với tính mạng của bản thân mình và người xung quanh
3 Kết luận
Mục đích của dạy học Tập đọc là phát triển năng lực đọc cho HS Chính vì vậy, dạy HS đọc hiểu văn bản có
vai trò quan trọng trong dạy học phân môn Tập đọc nói
riêng và trong dạy học tiểu học ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào nói chung Trong đó, việc khai thác những tri thức nền có vai trò rất quan trọng trong việc đọc hiểu văn bản, tác phẩm Để giờ tập đọc có hiệu quả,
GV cần phải linh hoạt vận dụng những biện pháp để khơi gợi kiến thức nền của HS, giúp các em tái hiện, vận dụng kiến thức đã có để hình thành kiến thức mới
Tài liệu tham khảo
[1] Đỗ Ngọc Thống (2012) Chương trình Ngữ văn trong nhà trường phổ thông NXB Giáo dục Việt
Nam
[2] Nguyễn Thị Hạnh (2014) Xây dựng chuẩn năng lực đọc hiểu cho môn Ngữ văn của chương trình giáo dục phổ thông sau 2015 ở Việt Nam Tạp chí Khoa
học, Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, số
56 (90), tr 88-97
[3] Pardo, L S (2004) What every teacher needs to know about comprehension International Reading Association, pp 272-280, doi:10.1598/RT.58.3.5
[4] Viện nghiên cứu Khoa học giáo dục - Bộ GD-ĐT
(2009-2010) Sách giáo khoa Tiếng Lào (lớp 4)
[5] Đỗ Ngọc Thống (chủ biên) - Đỗ Xuân Thảo - Phan
Thị Hồ Điệp - Lê Phương Nga (2018) Dạy học phát triển năng lực môn Tiếng Việt tiểu học NXB Đại học Sư phạm
[6] Lê Đức Luận (2015) Tiếp cận tác phẩm văn học nhà trường theo phương pháp phức hợp NXB Văn học
[7] Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (2015) Chương
trình dạy tiếng Việt cho học sinh Lào tại nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào