1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những khác biệt về chế độ làm việc của giảng viên các trường cao đẳng khi so sánh các văn bản quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

4 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc thay đổi cơ quan chủ quản không làm thay đổi mô hình đào tạo của các trường cao đẳng hiện tại, tuy nhiên lại ảnh hưởng rất lớn đến chế độ làm việc của giảng viên về giờ chuẩn giảng dạy, quy đổi giờ chuẩn, nghiên cứu khoa học. Bài viết tập trung làm rõ những bất cập về chế độ làm việc của giảng viên các trường cao đẳng chuyên nghiệp khi chuyển đổi sang Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lí.

Trang 1

NHỮNG KHÁC BIỆT VỀ CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC CỦA GIẢNG VIÊN

CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG KHI SO SÁNH CÁC VĂN BẢN QUY ĐỊNH CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VỚI BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI

Nguyễn Thị Hồng Vân - Trường Đại học Đồng Tháp

Ngày nhận bài: 20/02/2019; ngày sửa chữa: 20/03/2019; ngày duyệt đăng: 29/03/2019

Abstract: Since January 1, 2017, all professional colleges (except pedagogical colleges) were

converted to the Ministry of Labour, War invalids and Social Affairs for management The change

of governing body does not change the training model of the current colleges, but this change

greatly affects the lecturers’ working regime of teaching standard time, convert standard time,

scientific research The article focuses on clarifying inadequacies in the working regime of teachers

of professional colleges when converting to the Ministry of Labour, War invalids and Social

Affairs for management

Keywords: Lecturers’s working regime, professional college, change of governing body in

professional colleges, lecturers’ rights

1 Mở đầu

Giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu của một

quốc gia và đầu tư cho giáo dục là đầu tư khôn ngoan

nhất Hiểu rõ được tầm quan trọng của giáo dục nên trong

những năm gần đây Đảng và Nhà nước không ngừng đổi

mới hệ thống giáo dục theo xu thế chung của toàn cầu

Tâm điểm của đổi mới giáo dục chính là đội ngũ nhà

giáo, những người sẽ đóng vai trò chủ lực đưa cuộc cải

cách giáo dục đi đến thành công

Căn cứ quyết định của Chính phủ, từ ngày

01/01/2017, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sẽ

quản lí nhà nước lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp trình độ

cao đẳng trở xuống, trừ các trường sư phạm, trong đó có

201 trường cao đẳng, 303 trường trung cấp chuyên

nghiệp sẽ được chuyển đổi từ Bộ GD-ĐT sang Bộ Lao

động - Thương binh và Xã hội quản lí Việc chuyển đổi

này đã làm thay đổi rất nhiều vấn đề như: chương trình

đào tạo, phân cấp quản lí, tiêu chuẩn giảng viên, chế độ

giảng viên, Sự thay đổi này đã gây ra một số bất cập về

chế độ làm việc của giảng viên

Bài viết làm rõ những bất cập về chế độ làm việc của

giảng viên các trường cao đẳng khi chuyển đổi từ Bộ

GD-ĐT sang Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản

lí bằng việc so sánh các văn bản quy định của hai Bộ này

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Những bất cập về chế độ làm việc của giảng viên

các trường cao đẳng khi chuyển đổi sang Bộ Lao động

- Thương binh và Xã hội quản lí

Những bất cập về chế độ làm việc của giảng viên các

trường cao đẳng khi chuyển đổi từ Bộ GD-ĐT sang Bộ

Lao động Thương binh và Xã hội quản lí được so sánh

dựa trên hai văn bản quy định sau:

- Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT của Bộ GD-ĐT

ban hành ngày 31/12/2014 quy định về chế độ làm việc đối với giảng viên

- Thông tư số 07/2017/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao

động - Thương binh và Xã hội ban hành ngày 10/03/2017

quy định về chế độ làm việc của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp

Những bất cập được thể hiện qua một số vấn đề như: định mức giờ giảng, quy đổi giờ chuẩn, quy mô lớp học, định mức nghiên cứu khoa học, thực tập nhà máy xí nghiệp,

2.1.1 Định mức giờ giảng

Giờ chuẩn giảng dạy (sau đây gọi chung là giờ chuẩn)

là đơn vị thời gian quy đổi để thực hiện một công việc tương đương cho một tiết giảng lí thuyết trình độ cao đẳng, đại học trực tiếp trên lớp theo niên chế, bao gồm thời gian lao động cần thiết trước, trong và sau tiết giảng Định mức giờ giảng là số giờ chuẩn mà nhà giáo phải thực hiện trong một năm học

Thời giờ làm việc giữa hai Bộ được quy định như nhau là tổng quỹ thời gian làm việc của giảng viên trong một năm học để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học, học tập bồi dưỡng và các nhiệm vụ khác trong nhà trường là 1.760 giờ sau khi trừ số ngày nghỉ theo quy định

Định mức giờ giảng của giảng viên cao đẳng giữa hai

Bộ có sự khác biệt cụ thể như sau:

- Điều 5 Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT thì định mức giờ giảng dành cho giảng viên đại học, cao đẳng nói chung là 270 giờ chuẩn/1 năm học, không có sự phân biệt giữa các môn học

Trang 2

- Điều 5 Thông tư số 07/2017/TT-BLĐTBXH định

mức giờ giảng của nhà giáo trong một năm học: Từ

380-450 giờ chuẩn đối với nhà giáo dạy trình độ cao đẳng

Riêng đối với nhà giáo dạy các môn chung (Chính trị,

Pháp luật, Giáo dục thể chất, Giáo dục Quốc phòng và an

ninh, Tin học, Ngoại ngữ) thì định mức giờ chuẩn trong

một năm học là 450 giờ chuẩn

Xem xét từ quy định của hai Bộ được nêu trên, có thể

thấy, khi chuyển đổi từ Bộ GD-ĐT sang Bộ Lao động -

Thương binh và Xã hội quản lí thì định mức giờ giảng

của giảng viên cao đẳng tăng lên rất cao, đặc biệt là

những giáo viên giảng dạy môn chung, nhưng Bộ Lao

động - Thương binh và Xã hội cũng không đưa ra lí giải

cho việc chênh lệch giờ chuẩn giữa cũ và mới; giữa giảng

viên dạy môn chung và những môn học khác Trong khi

đó, theo chuẩn cũ thì các giảng viên giảng dạy các môn

đều bình đẳng với nhau về giờ chuẩn

Mặt khác, khi chuyển đổi thì các trường cao đẳng

phải thực hiện việc chuyển đổi chương trình đào tạo theo

khung của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo

hướng cắt giảm lí thuyết, tăng cường thực hành Vì thế,

dẫn đến tình trạng giảng viên giảng dạy môn chung số

giờ học bị cắt giảm nhưng giờ chuẩn lại tăng cao, thậm

chí là giờ chuẩn cao nhất trong khung mà Bộ quy định

Từ đó, thực trạng hiện nay xảy ra là giảng viên của các

trường cao đẳng thiếu giờ chuẩn giảng dạy, hoặc nếu

giảng dạy đủ giờ chuẩn (bao gồm cả nghiên cứu khoa

học) thì giảng viên rất vất vả

Thiết nghĩ, trong cùng một hệ thống giáo dục, cùng

một chức danh cần có sự bình đẳng về chế độ, chính sách

giữa đội ngũ nhà giáo tham gia giảng dạy

2.1.2 Quy đổi giờ chuẩn

Quy đổi giờ chuẩn là cách thức để chuyển đổi số giờ

làm việc sang giờ chuẩn của giảng viên bao gồm giờ

giảng dạy lí thuyết, thực hành, tích hợp và những công

việc khác được quy đổi thành giờ chuẩn

Theo quy định hai bộ thì có những cách thức quy đổi

giờ chuẩn khác nhau tuỳ theo tính chất của ngành nghề,

quy mô lớp học Nhưng có một vấn đề bất cập trong quy

định về quy đổi giờ chuẩn theo Điểm a, Khoản 1, Điều

11, Thông tư 07 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã

hội như sau : “Giảng dạy song song nhiều lớp cùng

chương trình, trình độ, từ lớp thứ 3 trở đi: 01 giờ lí thuyết

được tính bằng 0,75 giờ chuẩn”, trong khi đó Bộ GD-ĐT

không quy định về vấn đề này

Xét về mặt lí luận, công việc của một giảng viên cao

đẳng khi thực hiện giảng dạy trên một lớp học đều phải

thực hiện đầy đủ các công tác giảng dạy như: chuẩn bị

giảng dạy; thực hiện giảng dạy; kiểm tra định kì kết quả

học tập của mô-đun, môn học là như nhau nhưng tại sao

giảng dạy từ lớp thứ 3 trở đi, cùng chương trình, trình độ thì một giờ lí thuyết tính bằng 0,75 giờ chuẩn còn chưa hợp lí, cần phải được xem xét sửa đổi Trong khi đó, định mức giờ giảng lại tăng rất cao điều này làm cho giảng viên dạy lí thuyết khó có thể giảng dạy đủ chuẩn

2.1.3 Quy mô lớp học

Quy mô lớp học là quy định về số lượng người học trong một lớp học

Căn cứ Thông tư 07 của Bộ Lao động - Thương binh

và Xã hội quy định về quy mô lớp học đã có sự mâu thuẫn, chồng chéo trong một văn bản Khoản 4, Điều 2,

Thông tư 07 quy định quy mô rõ lớp học như sau: “Lớp học lí thuyết không quá 35 học viên, học sinh, sinh viên ” và không có trường hợp ngoại lệ Nhưng tại Điều

11 Thông tư này quy định về việc quy đổi hoạt động

chuyên môn ra giờ chuẩn lại quy định: “Trường hợp các môn học chung cần thiết phải ghép lớp: Đối với lớp học

có trên 35 học viên, học sinh, sinh viên thì 01 giờ được tính bằng 1,2 giờ chuẩn; đối với lớp học có trên 50 học viên, học sinh, sinh viên nhưng tối đa không quá 60 học viên, học sinh, sinh viên thì 01 giờ được tính bằng 1,3 giờ chuẩn ” Vậy, đối với môn chung có thể ghép tối đa là

60 người học Từ đó, có thể thấy ngay cả trên một văn bản đã chứa đựng sự mâu thuẫn với nhau về quy mô lớp học Hầu hết các trường đều tổ chức ghép lớp khi giảng dạy môn học chung để tiết kiệm kinh phí, nhưng quy định

về ghép lớp chỉ thực hiện khi “cần thiết”, nhưng thế nào

là cần thiết thì Thông tư không nêu rõ

2.1.4 Giảm định mức giờ giảng trong thời gian tập sự

Thời gian tập sự của giảng viên là thời gian để giảng viên làm quen với công việc trước khi được tuyển dụng chính thức, là quy định bắt buộc đối với công chức, viên chức làm việc tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập Thời gian tập sự là từ 3 tháng đến 12 tháng kể

từ ngày kí hợp đồng lao động, trong đó, đối với giảng viên cao đẳng là 12 tháng Trong thời gian tập sự, giảng viên được hưởng 85% mức lương, đồng thời, giảng viên

sẽ được giảm định mức giờ giảng nhưng việc giảm định mức này cũng có sự chênh lệch rất lớn giữa hai Bộ, cụ thể như sau:

- Căn cứ Thông tư 47 của Bộ GD-ĐT quy định:

“Giảng viên trong thời gian tập sự, thử việc chỉ thực hiện tối đa 50% định mức giờ chuẩn quy định ” (Khoản 1

Điều 8 Thông tư 47) Vậy trong thời gian tập sự giảng viên chỉ thực hiện từ 50% số giờ chuẩn trở xuống tuỳ theo quy chế chi tiêu nội bộ của mỗi trường quy định, để tạo điều kiện cho giảng viên tập sự có thời gian học hỏi, nghiên cứu tài liệu, soạn bài giảng

- Căn cứ vào Thông tư 07 của Bộ Lao động -

Thương binh và Xã hội quy định: “Nhà giáo trong thời

Trang 3

gian tập sự được giảm 30% định mức giờ giảng” (Điểm

b, Khoản 4, Điều 10, Thông tư 07) Vậy trong thời gian

tập sự giảng viên phải thực hiện 70% định mức giờ

chuẩn quy định

Từ các quy định trên, ta thấy có sự chênh lệch lớn

giữa chế độ giảng viên tập sự của Bộ GD-ĐT và Bộ Lao

động - Thương binh và Xã hội với tỉ lệ trên 20% số giờ

chuẩn Vấn đề đặt ra là tại sao có sự chênh lệch này, mặc

dù về mặt chức danh là như nhau, tính chất công việc

tương tự nhau nhưng chế độ lại hoàn toàn khác nhau

2.1.5 Định mức nghiên cứu khoa học, thực tập nhà máy

xí nghiệp

Bên cạnh công tác giảng dạy, để nâng cao năng lực

chuyên môn, nghiệp vụ đòi hỏi giảng viên cần phải

không ngừng nghiên cứu khoa học, thực hành nâng cao

tay nghề; vì vậy, cơ quan quản lí giáo dục đã quy định

định mức nghiên cứu khoa học đối với giảng viên trong

một năm học

Căn cứ Khoản 1, 2 Điều 7 Thông tư 47 của Bộ

GD-ĐT quy định về định mức nghiên cứu khoa học của giảng

viên như sau:

1 Giảng viên phải dành ít nhất 1/3 tổng quỹ thời

gian làm việc trong năm học để làm nhiệm vụ nghiên

cứu khoa học

2 Việc giao và triển khai thực hiện nhiệm vụ nghiên

cứu khoa học cho giảng viên phải phù hợp với điều kiện,

tiềm lực khoa học, định hướng phát triển hoạt động khoa

học và công nghệ của cơ sở giáo dục đại học và phù hợp

với năng lực chuyên môn của giảng viên Thủ trưởng cơ

sở giáo dục đại học giao cụ thể nhiệm vụ nghiên cứu

khoa học cho giảng viên của đơn vị ”

Từ quy định này, các trường sẽ cụ thể hoá vào quy

chế chi tiêu nội bộ dựa trên mô hình hoạt động của trường

và vị trí việc làm của giảng viên nhằm đưa ra định mức

nghiên cứu hợp lí

Tuy nhiên, khi chuyển sang Bộ Lao động - Thương

binh và Xã hội quản lí thì bên cạnh phải thực hiện định

mức nghiên cứu khoa học thì giảng viên phải thực hiện

thêm định mức “thực tập nhà máy, xí nghiệp” được quy

định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 4, Thông tư 07 “Thực

tập tại doanh nghiệp hoặc cơ quan chuyên môn: 04 tuần

đối với nhà giáo dạy trình độ cao đẳng, trung cấp”, quy

định này dành cho giảng viên giảng dạy tất cả các môn

học Từ đó, chúng ta thấy quy định trên chưa hợp lí vì nó

không căn cứ vào tính chất, vị trí việc làm, chuyên môn

của giảng viên như: giảng viên dạy những môn Triết học,

Tiếng Anh, Pháp luật, Thể dục, sẽ không thể hoàn

thành nhiệm vụ này Vì vậy, cần sửa đổi quy định này

cho phù hợp hơn với thực tế, tạo điều kiện cho giảng viên

có thể hoàn thành nhiệm vụ, yên tâm công tác

2.2 Đề xuất một số kiến nghị nhằm hạn chế những bất cập

Từ những căn cứ đã được phân tích nêu trên, cho thấy

có hai vấn đề đặt ra:

- Khi chuyển đổi cơ quan chủ quản từ Bộ GD-ĐT sang Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì chế độ giảng viên cao đẳng cũng thay đổi theo hướng bất lợi hơn cho giảng viên về các vấn đề như: định mức giờ giảng, quy đổi giờ chuẩn, giảm định mức cho giảng viên tập sự

- Căn cứ theo các quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tồn tại sự bất bình đẳng giữa những giảng viên giảng dạy môn chung và những môn khác như:

+ Định mức giờ giảng của giảng viên dạy môn chung được ấn định ở mức cao nhất khung định mức giờ giảng

+ Quy mô lớp học của giảng viên dạy môn chung

được ghép lớp đông hơn những môn học khác Thêm vào

đó, khi chuyển đổi sang Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội thì hầu hết tiết giảng của môn lí thuyết bị cắt giảm, bao gồm cả môn chung dẫn đến tình trạng giảng viên dạy môn chung giảng dạy thiếu định mức

+ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định

“Giảng dạy song song nhiều lớp cùng chương trình, trình

độ, từ lớp thứ 3 trở đi: 01 giờ lí thuyết được tính bằng 0,75 giờ chuẩn ” (Điểm a, Khoản 1, Điều 11, Thông tư 07) Đối với những môn chung, đa số đều giảng dạy

nhiều về lí thuyết nên quy định này ảnh hưởng trực tiếp đối với giảng viên dạy môn chung như: định mức giảng dạy cao, lớp ghép đông,số tiết bị giảm, hệ số thấp + Đối với giảng viên môn chung rất khó hoàn thành quy định về thực tập nhà máy, xí nghiệp ít nhất 4 tuần trong một năm học Nếu không hoàn thành được quy định này thì những trường sẽ quy đổi giờ thực tập nhà máy, xí nghiệp này thành giờ chuẩn

Để khắc phục những vấn đề trên, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị như sau:

- Đề xuất sửa đổi Thông tư 07 của Bộ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo hướng duy trì những quy định có lợi cho giảng viên khi chuyển đổi cơ quan chủ quản Cần giảm định mức giảng dạy cho giảng viên tạo điều kiện tốt cho giảng viên hoàn thành công việc, an tâm công tác và nghiên cứu khoa học Tiếp đó, Thông tư cần loại bỏ quy định bất hợp lí tại Điểm a, Khoản 1, Điều 11, Thông tư 07 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

như sau : “Giảng dạy song song nhiều lớp cùng chương trình, trình độ, từ lớp thứ 3 trở đi: 01 giờ lí thuyết được tính bằng 0,75 giờ chuẩn” vì đây là quy định hoàn toàn

không có cơ sở, không phù hợp

- Đề nghị sửa đổi Thông tư 07 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội những nội dung có sự phân biệt giữa giảng dạy môn chung và môn chuyên ngành để tạo

Trang 4

ra sự bình đẳng giữa giảng viên và giữa những môn học

với nhau Đối với giáo dục cao đẳng thì những môn

chung (gồm Thể chất, Chính trị, Anh văn, Tin học, Pháp

luật, Quốc phòng An ninh) là môn học tạo kiến thức, kĩ

năng cần thiết cho sinh viên để học tập, nhưng quy định

phân biệt như trên của Bộ đã tạo ra sự phân biệt, những

trường cao đẳng và sinh viên sẽ có tâm lí môn chung là

môn phụ, không cần thiết, xem thường kiến thức môn

chung Điều đó cũng ảnh hưởng đến tâm lí, vị thế của

giảng viên giảng dạy môn chung

3 Kết luận

Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII khẳng định:

“GD-ĐT là quốc sách hàng đầu ” Giáo dục tác động

mạnh mẽ đến vận mệnh quốc gia, dân tộc Vì vậy, để có

một nền giáo dục tốt thì cần có một đội ngũ nhân lực vừa

có đức và tài, tâm huyết với nghề, nhưng hiện nay chế độ

dành cho giảng viên chưa phù hợp, bình đẳng nên khó

thu hút những người có năng lực trụ lại với nghề Từ

những phân tích trên, thiết nghĩ cần có sự thống nhất chế

độ dành cho giảng viên giữa những cơ quan quản lí giáo

dục và giữa các môn học nhằm tạo sự hài hoà cho người

lao động trong cùng hệ thống giáo dục, cùng trình độ đào

tạo góp phần vào tiến trình đổi mới giáo dục theo xu thế

toàn cầu hoá

Tài liệu tham khảo

[1] Bộ GD-ĐT (2014) Thông tư 47/2014/TT-BGDĐT

ban hành ngày 31/12/2014 quy định về chế độ làm

việc đối với giảng viên

[2] Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2017)

Thông tư 07/2017/TT-BLĐTBXH ban hành ngày

10/03/2017 quy định về chế độ làm việc của nhà

giáo giáo dục nghề nghiệp

[3] Ban Chấp hành Trung ương (2018) Nghị quyết số

27-NQ/TW ngày 21/05/2018 về cải cách chính

sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên

chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong

doanh nghiệp

[4] Ban Chấp hành Trung ương (1996) Nghị quyết số

2-NQ/TW ngày 24/12/1996 về định hướng chiến

lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời

kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến

năm 2000

[5] Quốc hội (2009) Luật Giáo dục sửa đổi, bổ sung

một số điều của Luật Giáo dục 2005 số

44/2009/QH12 ban hành ngày 25/11/2009

[6] Quốc hội (2012) Luật Giáo dục Đại học số

08/2012/QH13 ban hành ngày 18/06/2012

[7] Quốc hội (2014) Luật Giáo dục Nghề nghiệp số

74/2014/QH13 ban hành ngày 27/11/2014

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU

(Tiếp theo trang 296)

- HS kể lại hoặc tưởng tượng về việc đánh bắt

cá trên sông

4 Cách bắt

cá trái phép

có hại như thế nào với cuộc sống của con người và loài động vật dưới nước?

4 Cách bắt cá trái phép

nó không chỉ làm tuyệt chủng các thủy sinh mà còn rất nguy hiểm với tính mạng của bản thân mình và người xung quanh

3 Kết luận

Mục đích của dạy học Tập đọc là phát triển năng lực đọc cho HS Chính vì vậy, dạy HS đọc hiểu văn bản có

vai trò quan trọng trong dạy học phân môn Tập đọc nói

riêng và trong dạy học tiểu học ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào nói chung Trong đó, việc khai thác những tri thức nền có vai trò rất quan trọng trong việc đọc hiểu văn bản, tác phẩm Để giờ tập đọc có hiệu quả,

GV cần phải linh hoạt vận dụng những biện pháp để khơi gợi kiến thức nền của HS, giúp các em tái hiện, vận dụng kiến thức đã có để hình thành kiến thức mới

Tài liệu tham khảo

[1] Đỗ Ngọc Thống (2012) Chương trình Ngữ văn trong nhà trường phổ thông NXB Giáo dục Việt

Nam

[2] Nguyễn Thị Hạnh (2014) Xây dựng chuẩn năng lực đọc hiểu cho môn Ngữ văn của chương trình giáo dục phổ thông sau 2015 ở Việt Nam Tạp chí Khoa

học, Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, số

56 (90), tr 88-97

[3] Pardo, L S (2004) What every teacher needs to know about comprehension International Reading Association, pp 272-280, doi:10.1598/RT.58.3.5

[4] Viện nghiên cứu Khoa học giáo dục - Bộ GD-ĐT

(2009-2010) Sách giáo khoa Tiếng Lào (lớp 4)

[5] Đỗ Ngọc Thống (chủ biên) - Đỗ Xuân Thảo - Phan

Thị Hồ Điệp - Lê Phương Nga (2018) Dạy học phát triển năng lực môn Tiếng Việt tiểu học NXB Đại học Sư phạm

[6] Lê Đức Luận (2015) Tiếp cận tác phẩm văn học nhà trường theo phương pháp phức hợp NXB Văn học

[7] Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (2015) Chương

trình dạy tiếng Việt cho học sinh Lào tại nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

Ngày đăng: 14/05/2021, 21:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w