Nối tiếp phần 1 của tài liệu Tương lai đất nước và vai trò của nhân tài, phần 2 sẽ tiếp tục trình bày một số kinh nghiệm của Việt Nam và một số nước về phát triển nhân tài như: Kinh nghiệm của Mỹ, kinh nghiệm của Nhật Bản, kinh nghiệm của Hàn Quốc, kinh nghiệm của Trung Quốc. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1CHƯƠNG III
KINH NGHIỆM CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT sô Nưíc
ÌrỂ PHÁT TRIỂN NHÂN TÀI
I KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NHÂN TÀI ở VIỆT NAM
TRONG LỊCH sử
Vấn đề nhận biết nhân tài không phải gần đây mối
có, mà nó đã tồn tại cách đây khoảng 2.500 năm Lúc bấy giò, bằng sự quan sát trong thực tế và kinh nghiệm của cuộc sốhg, ngưòi xưa đã rút ra những điều cần thiết
ngưòi xưa đã trình bày dáng vẻ, cử chỉ và ngôn ngữ của những người có tài năng xuất chúng và giữ những địa vị cao trong xã hội Vào thời đó, cách nhận biết nhân tài còn rất sđ lược, người ta thường thông qua những đặc trưng về đưòng nét, hình dáng bên ngoài, khí sắc của những giác quan để phán đoán tính cách, tài năng của con ngưòi Các nhà nhân tướng học đã biết dưa vào những đặc điểm được biểu hiện ra ngoài để phán đoán
về tưdng lai, về sự phú quý, sang hèn, về phúc - lộc - thọ, hay đoán trưóc những điều tốt, xấu trong cuộc đời
Trang 2của mỗi con người Các nhà nhân tướng học thông qua
quan đến những ngưòi khác có quan hệ huyết thống hay hôn nhân vối ngưồi đó; cha mẹ, vỢ hay chồng, anh
em, con cái, thậm chí cả trong dòng họ^ Trải qua một thời gian dài, khi đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm, người ta hình thành nên một ngành khoa học gọi là khoa học Nhân dạng Trong những tài liệu viết về nhân
dạng, ngưòi xưa đã trình bày cách nhận biết con ngưòi
bằng cách xem Tử vi, Hà đồ, Tử bình, Elinh dịch, Thái
ất th ần kinh Mỗi cách xem xét, phán đoán về con ngưòi có những điểm khác nhau, nhưng cuối cùng cũng
đi đến đoán định sô' phận, tương lai của một con ngưòi
ngưòi có khả năng đặc biệt có thể đoán định “th ế cuộc, thiên cớ, quốc vận”
Khoa học nhân dạng có thể nghiên cứu về mối quan
hệ giữa nội tâm với ngoại hình của con ngưòi, tiên đoán vận mạng, đôi khi còn khẳng định được cả sự thành bại, thịnh suy, xét cả quá khứ lẫn tương lai của một con ngưòi cụ thể nào đó (tuy nhiên mức độ đúng, sai cũng tùy thuộc vào tài năng của ngưòi đoán định và tùy từng trường hợp cụ thể) Theo cách đoán định dựa trên kinh nghiệm, tuy đạt một sô" kết quả nhất định, nhưng nó cũng chỉ mang nặng tư duy cảm tính, tùy thuộc vào
1 Nhiều khi xem tử vi của vỢ mà phán đoán được về ngưòi chồng và ngược lại.
Trang 3kinh nghiệm của từng cá nhân chứ chưa thực sự mang đầy đủ tính khoa học Càng về sau, do con người đúc rút được nhiều kinh nghiệm và phân tích cụ thể từng trưòng hợp thông qua nhiều cách phán đoán dựa vào những luận thuyết khác nhau nên việc phát hiện nhân tài ngày càng mang tính khoa học hớn, trên cđ sỏ đó xác định những tiêu chí về nhân tài Phần lý luận để phán đoán
thông qua việc xem xét các tố chất, đặc điểm, tính cách
của con người một cách hỢp lý và được viết lại thành
những trường phái khác nhau để lưu truyền từ đời này qua đòi khác Tuy nhiên, cho dù lý giải hoặc đoán định như thế nào đi chăng nữa cũng phải thừa nhận rằng, một ngưòi có tài thì phải được phát hiện bỏi nhiều ngưòi khác, chứ bản thân mỗi người không thể tự nhận về tài năng của mình được Bởi vì, tâm lý chung thì ai cũng có thể nghĩ rằng mình có tài ở mặt này hay mặt khác, có khi cho mình là nhân tài, nhưng trong thực tế thì cái mà
bản thân mình nghĩ chưa chắc đã đưỢc người khác chấp nhận, mà tài năng phải đưỢc xã hội công nhận thông qua
sự công hiến cho xã hội của con ngưòi
Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu, người ta không chỉ phát hiện nhân tài thông qua việc phán xét về nhân dạng, mà còn phát hiện nhân tài thông qua việc trình bày thư pháp (thư), văn lý (biện) và cách thức nói năng (ngôn) của con người Ba yếu tố này đều thuộc phạm vi ngữ văn, phản ánh phẩm chất của con ngưòi ĐỐì vói nhân tài, ngoài việc giỏi về chuyên môn, thì trình
Trang 4độ ngữ văn cũng phải giỏi Người giỏi phải có tư duy tốt,
phải thể hiện tư duy đó bằng lòi nói để ngưòi khác hiểu
và từ đó, họ có thể thực hiện ý đồ thuyết trình, nhưng cao hơn nữa là phải lưu truyền được ý tưỏng của mình cho hậu thế Họ phải có khả năng thể hiện ý tưỏng của mình thông qua văn bản, tức là có khả năng viết Với sản phẩm là văn bản thì nhân tài không những phổ biến ý
tư tưởng, kinh nghiệm của mình cho đòi sau
Khi xã hội ngày càng phát triển, ngưòi ta không chỉ phát hiện nhân tài theo kinh nghiệm, đoán định tài năng của con ngưồi thông qua những biểu hiện bên ngoài mà còn tổ chức những khoa thi để chọn ngưòi
chú ý chọn những người chính trực có khả năng và bản lĩnh dám can gián vua; chọn ngưòi hiểu rộng văn chương, điển phạm, đạt tới mức giáo hoá để biên soạn
và sáng tác thư pháp; chọn người mưu lược quân sự giỏi
để có thể làm tưóng; chọn người hiểu rõ thuật làm chính sự, có thể trị dân để trở thành những người lãnh đạo quản lý xã hội Tất cả những kỳ thi để lựa chọn những ngưòi tài giỏi đều tổ chức thông qua các kỳ thi từ huyện, tỉnh và cao nhất là tại triều đình, do nhà vua đích thân ra đề và chấm thi Thông qua những cuộc thi văn chương, kê sách hay võ nghệ, triều đình chọn người giỏi phò vua giúp nước Đôl tượng dự thi trong các cuộc chọn lựa nhân tài rấ t rộng rãi, tấ t cả những ngưòi có khả năng đều được tham dự cuộc thi, không phân biệt
Trang 5tuối tác hay địa vị xã hội, không phân biệt sang hèn, không phân biệt tôn giáo, không phân biệt già trẻ, cứ có
tài, trưóc khi thi có thể tuyên truyền các tác phẩm về thành tích của mình để gây sự chú ý và hiểu biết thêm
về mình đối với các quan giám khảo
Trong quá trình tuyển chọn nhân tài, người xưa có rất nhiều cách để ngăn chặn thói gian dối trong thi cử, nhằm tìm được những nhân tài đích thực và thi đỗ để bổ nhiệm làm quan^ Những ai vi phạm trưòng thi (quy chế thi) bị phạt rất nặng, bị cấm thi (hoặc cấm coi thi đốỉ vói ngưòi coi thi), bị cách chức, bị lưu đày, có khi còn bị khép vào tội chết Các triều đại phong kiến quy định rất nghiêm ngặt về những tội của trường thi: người mắc tội nhận hỐì lộ để làm sai lệch kết quả thì phải chịu tội đi đày; tội chấm đồ cho con của quan trên không đúng trình
độ, hay tội chữa lại bài thi của thí sinh khi chấm thi,
đày, người thi thì bị đánh trượt; tội hai bài thi có nội dung giốhg nhau thì cả hai đều trượt, ngưòi coi thi bị phạt; tội làm náo loạn trưòng thi tùy theo nặng, nhẹ cũng phải chịu phạt; tội đem tài liệu vào phòng thi bị phạt đánh, bắt trượt và cấm suốt đòi không được thi
Về nghiên cứu nhân tướng học, ngay từ xa xưa, nhiều ngưòi đã rất quan tâm và coi đó là một khoa học
1 Xem Nguyễn Ván Thịnh: Khoa cử văn chương khoa cử Việt
N am thời trung đại, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, tr 18-23.
Trang 6vối ý tưdng “Tướng tự tâm sinh, tưống tùy tâm diệt” Những ngưòi nghiên cứu về nhân học coi nội tâm là chân tướng, cho nên phần tưống hình dáng của con người chỉ là những yếu tô" bề ngoài hướng dẫn ngưồi xem tìm hiểu chiều sâu trong nội tâm con ngưòi Họ coi
đó là quy tắc duy nhất, bất di bất dịch của việc học cách xem tưống và của việc xem tưóng Theo quan niệm của
một sinh vật, luôn luôn biến đổi, do đó các nét tưống cũng biến chuyển theo thòi gian Những biến đổi đó không phải chỉ là sự biến đổi ỏ bên ngoài mà còn là sự
con ngưòi đó Quan niệm này phần nào cũng phù hợp với thực tiễn và phản ánh quy luật hình thành, phát triển và biến hoá của vạn vật, trong đó có con ngưòi Vì vậy, chúng ta cũng không nên quan niệm tài năng và tính cách của con người là nhất thành bất biến, mà nó
có sự thay đổi tùy thuộc vào sự khổ công rèn luyện, vào việc tu nhân tích đức Khi nghiên cứu về nhân học, ngưòi ta cho rằng nhân tài được thể hiện qua chín đặc
định; 3 Hình dáng rõ ràng, khoan thai; 4 Khí sắc trong
minh, tài trí, nhanh nhẹn; 9 Làm những điều có đức
Kế thừa và phát triển những kinh nghiệm lựa chọn nhân tài của các bậc tiền nhân, ngày nay, cùng vối khoa học ngày càng phát triển đã hỗ trợ cho bộ môn nhân
Trang 7tưống học nghiên cứu về việc đoán định sô mệnh của
bản năm 2003 đã trình bày cách nhận dạng con người dựa vào một sô" biểu hiện để phân biệt người quân tử (người có tài, có đức) vối kẻ tiểu nhân (có tài, kém đức, hay bất tài, kém đức) Điều đó được thể hiện thông qua nét mặt, hình dáng, đường nét, khí sắc, dáng đi, giọng nói, hay một số đặc điểm trên khuôn mặt, thân thể và bàn tay của con người Từ những đặc điểm đó, người ta
có thể đoán đinh đươc tính cách, sô" mênh, thòi vân của« ♦ 7 m 7 «
con ngưòi Kinh nghiệm cho thấy, ngưòi quân tử có tiếng nói vang như chuông, tiếng phát ra từ đan điền, càng to âm lượng càng vang càng quý Âm thanh thể hiện tình cảm và khí phách của con ngưòi Nếu một người có tinh thần trong sáng, thanh cao thì tiếng nói
ắt phải tròn, phải rõ, vừa khoan thai, vừa ấm áp, thể hiện được uy lực, đồng thòi lại có sức truyền cảm, thuyết phục, lôi kéo ngưòi khác Tiếng nói của những ngưòi có tài tràn đầy khí phách, khi nói lốn thì âm vang, trầm hùng; khi nói nhỏ vẫn rõ ràng, nghe xa mà không đứt đoạn, sâu lắng mà ẩn tàng, tinh tế, không loạn nhịp, có sức cảm hoá, thu phục lòng người Nhân tài thường có tính cách giản dị, lòi nói trầm tĩnh, khiêm nhường, khoan thai, dõng dạc, tròn vành rõ chữ, nói mộc mạc, không sáo rỗng, không hoa mỹ
người xưa đúc kết như sau: mắt to, lòng trắng, lòng đen
Trang 8phân biệt rõ ràng; ánh mắt phải sáng, mắt luôn nhìn thẳng, có “thần” quắc thưốc Các đưòng nét của ngưòi
có tài trên thân thể, nhất là trên bàn tay thường thể hiện rấ t rõ ràng, có những biểu hiện khác thường nhưng không phải là dị tậ t so vối những ngưòi bình thường khác Những người có hiểu biết nhất định về nhân tướng học, khi tiếp xúc với người khác chỉ cần có thời gian gần gũi và thông qua một số hành vi của người đó là họ có thể biết đó là người quân tử hay là kẻ tiểu nhân Người quân tử là người có nhân cách đẹp, hưống thiện, vỊ tha, được giáo dục trong môi trưòng tốt
và có những cống hiến nhất định cho xã hội Bưóc đi của họ dù nhanh hay chậm đều thể hiện sự vững chãi, dáng đi ngay thảng, hùng dũng, nhưng cũng thể hiện
sự khoan thai
đề cập nhiều cách thức, phương pháp xem xét nhân dạng của con người để đưa ra phán đoán về sô' phận, sức khỏe, hạnh phúc, con cái, công danh, sự nghiệp Hình dáng của kẻ tiểu nhân thì uốii éo, ẻo lả, khúm núm Đưòng nét trên nét mặt và bàn tay của những người thuộc loại tầm thưòng thì rốì rắm, không rõ ràng* Từ kinh nghiệm của ngưòi xưa kết hợp vối kết quả nghiên cứu của khoa học nhân dạng, có thể rú t ra kết luận: klii lựa chọn, tuyển dụng cán bộ, nhất là phát
t i n , H à N ộ i , 2 0 0 3
Trang 9hiện nhân tài thì điều rấ t quan trọng đốỉ với ngưòi làm công tác cán bộ là phải được tiếp xúc trực tiếp với người tham gia tuyển dụng, qua đó sẽ cảm nhận được phần nào về họ để sử dụng cho phù hợp Kinh nghiệm của một số cơ quan thành công trong việc tuyển nhân sự là thưòng bố trí những chuyên viên hiểu biết nhất định về khoa học tâm lý, đôi khi cả ngưòi hiểu biết về khoa học nhân dạng để tham mưu vối lãnh đạo trong tuyển
dụng cán bộ vào vị trí quan trọng thì ngưòi đứng đầu cơ quan phải gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi, phỏng vấn trực tiếp cán bộ sau khi nghe bộ phận làm công tác nhân sự tham mưu Qua đó, ngưòi lãnh đạo có điều kiện để kiểm tra lại những thông tin cần thiết, đồng thòi cũng cảm nhận được người dự kiến tuyển dụng và bố trí vào công
việc thích hỢp để có thể đáp ứng được những yêu cầu
mà ngưòi lãnh đạo mong muốn
Trên thực tế, nhân tài có m ặt ỏ tấ t cả mọi tầng lóp
dẫu bần hàn, khổ sỏ vẫn thể hiện chí khí thanh cao, luôn chuyên cần lao động, không ỷ lại vào số phận, luôn phấn đấu vưđn lên mặc dù có thể không đạt nguyện vọng; luôn sống vối tâm hồn trong sáng, ngay thẳng, trọng nghĩa khí, tín đức Nhiều ngưòi tuy không cố địa
năng tự học, họ luôn tôn trọng những ngưòi có lẽ sông cao thượng, có tri thức và cách ứng xử mang đậm tính nhân văn Ngưòi có tài nếu kiên trì, nỗ lực học tập trau
Trang 10dồi kiến thức, tìm hiểu văn hoá, lịch sử thì đạo đức của
họ ngày càng tốt, hiểu biết đạo lý ngày càng nhiều, thực hành trong cuộc sống ngày càng thuần thục, hớp đạo lý Vối những ngưòi luôn nêu cao ý thức sửa mình, sửa nghiệp, thì sẽ dần dần thông hiểu được những điều cao
xa, bí ẩn và sâu sắc trong xã hội; hiểu đòi và hiểu người đưỢc nhiều hơn Họ luôn giữ cái tầm của mình thanh thản; luôn giữ cho tâm lý và tình cảm ỏ trạng thái thăng bằng, không dao động, chao đảo, thiên lệch, không để cho ngoại cảnh cám dỗ mà sa vào tư lợi hèn
hạ, luôn nêu cao phẩm giá của mình trong mọi hoàn cảnh Ngưòi quân tử bao giò cũng lấy “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” làm cái cốt yếu, làm cơ sở cho mọi suy nghĩ và hành động của mình Họ luôn biết phân biệt phải, trái một cách khách quan, công minh, không thiên vị Do trọng tín nghĩa, khinh lợi lộc, mà khi thực hiện công việc, nhân tài luôn luôn thể hiện sự công minh, chính trực, lúc nào cũng tỏ ra khiêm nhưòng, tự trọng, không kiêu ngạo, tâm trạng luôn thư thái và dễ hoà mình được vối mọi người Chính nhò những đức tính cao thưỢng, cùng vói tài năng xuất chúng mà nhân tài có khả năng làm được những việc lớn, biết dùng ngưồi giỏi hơn
mình, làm bất cứ công việc gì luôn nghĩ về quyền lợi của
không thích bon chen, cầu cạnh, đấu đả, tranh giành.Trong phép xử th ế ngày xưa, nhân tài luôn ý thức
“nưóc có đạo thì ra làm quan, nưốc không có đạo thì về ở
Trang 11thì cũng chẳng màng danh lợi, chỉ đau đáu một nỗi niềm không được thể hiện tài năng để giúp dân, giúp nước Trong nhân cách của nhân tài luôn chứa đựng tình yêu con ngưòi, yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước và trên hết là yêu quý gia đình, kính trọng tổ tiên, nhớ ơn các bậc tiền nhân đã có công với dân, vối nước Lúc bình thường cũng như trong cơn nguy khốh, nhân tài luôn giữ vững đạo lý “Uốhg nưốc nhố nguồn”; “Ãn quả nhớ người trồng cây”, luôn nêu cao tinh thần “nhân - nghĩa - lễ - trí - tín - dũng - liêm” Nhân tài luôn tin tưởng ở bản thân mình, không ngừng phấn đấu làm nên
sự nghiệp lổn, vì con người, vì nhân loại Chính vì vậy, khi sử dụng nhân tài, ngưồi lãnh đạo phải có cái “t r í ’ để hiểu được nhân tài và phát hiện nhân tài; phải có
“nhân” để thu phục nhân tài; phải có “tín” để sử dụng nhân tài Khi sử dụng nhân tài, ngưòi lãnh đạo không nên giao cho họ những công việc nhỏ nhặt, vụn vặt, mà nên giao cho họ những công việc quan trọng, tạo điều kiện cho nhân tài lập được công danh, sự nghiệp, đạt được địa vị nhất định trong xã hội tương xứng với tài năng, đức độ của họ
Để phân biệt rõ hơn giữa ngưòi quân tử và kẻ tiểu nhân, ngưòi ta còn đưa ra cách nhận biết về kẻ tiểu nhân như sau: tiếng nói khi phát ra nghe rối loạn, lủng củng và trì trệ, dè dè hoặc the thé, lộn xộn, âm thanh tán sắc nghe ròn rỢn, nói dài lê thê nhưng nông cạn Nếu âm thanh phát ra nghe như có gió rít qua hàm răng thì đó là ngưòi độc ác, nham hiểm Loại người này
Trang 12có tính cách nhỏ nhen, làm thì chẳng bằng ai nhưng lại hay huênh hoang, hay tỏ ra giận dữ, nôn nóng, thô bạo khi gặp phải những điều trái vối mong muôn của mình
Kẻ tiểu nhân thường hay tranh công, đổ lỗi, nịnh hót, a dua, bất nhân, bất nghĩa và có nhĩều “thâm ý” hại người Mắt của kẻ tiểu nhân thì ít lòng đen, nhiều lòng trắng (mắt trắng dã), “ti hí mắt lươn”, mắt hay nhìn trộm, không dám nhìn thẳng Không ít kẻ tiểu nhân lười biếng học tập, chỉ thích loanh quanh chạy mánh, luồn lọt, lợi dụng, thích dùng quỷ kế lưu manh, không chịu tu thân, tích đức, chỉ chăm chú tìm lợi ích cho bản thân; chí khí hèn hạ, thấp kém, đứng trước danh và lợi hay trong nguy nan, gặp trắc trỏ thường tìm cách dựa dẫm vào người khác để né tránh Kẻ tiểu nhân thưòng nịnh trên, nạt dưới, hạ mình luồn cúi, chấp nhận đánh mất nhân phẩm của mình, miễn là đạt được danh và lợi Họ không thể đảm đương được những công việc lổn, không có khả năng chăm lo lợi ích cho dân, dễ dàng phản bội lợi ích quốc gia, thường là những người bất nhân, bất nghĩa Kẻ tiểu nhân luôn đam mê theo vật dục, trông chò, ỷ thế, lợi dụng người khác và luôn làm trái với những tiêu chuẩn đạo đức xã hội Loại ngưòi này làm việc gì cũng chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân nên không thể tín nhiệm, giao cho những việc quan trọng, bdi vì khi họ eó địa vỊ trong xã hội thì làm việc không phải vì cái chung mà chỉ nghĩ đến lợi riêng Kẻ tiểu nhân vì tham lợi mà hay làm càn, tham danh mà làm những điều thất đức, luôn bị cái “danh” và “lợi” chi phối,
Trang 13luôn ghen ghét và đô" kỵ vói hiền tài, không muôn ai bằng mình, ích kỷ hại nhân, kéo bè kết đảng để thực hiện tham vọng của mình, vì thê luôn sông trong trạng thái căng thẳng, không thoải mái, luôn suy nghĩ ra những quỷ kế để vun vén quyền lợi cho mình Kẻ tiểu nhân khi đắc chí thì kiêu căng, cao ngạo; khi th ấ t thế thì lo sỢ, tìm đủ mọi cách để trôn tránh, tìm chốn dung thân Những người này dù có quyền cao, chức trọng, học rộng biết nhiều thì cũng không có khí tiết, không có liêm sĩ, không có tình nghĩa thủy chung, đạo đức thì kém cỏi và luôn ham muốn chức vị, thèm lợi, hèn nhát, nhu nhược, bất nhânV Điều đáng buồn là ỏ nước ta đâu
đó vẫn đang tồn tại không ít loại người tiểu nhân mang những phẩm chất đê hèn như thế
Nhìn lại quá trình phát triển lịch sử nhân loại, từ xưa đến nay có không ít ngưòi lãnh đạo mong được nghe những lời nói thẳng, nhất là những lời tâm huyết của các bậc trí thức tài năng Thực tế lịch sử ỏ nước ta đã chứng minh, nếu có những vị vua sáng thì mói có tôi hiền, mới khuyến khích được những ngưòi tài giỏi dám nói những điều mình nghĩ về những kế sách trị quốc, an dân vối ngưòi lãnh đạo
Vối những vị vua muốh mưu cầu việc lốn, họ đều mong muốn được nghe những lòi nói thẳng, những ý kiến trung thực của các bậc trí thức đương thòi để tự
1 Xem Trần Đình Thảo: Trường Đ ại học Mỏ - Đ ịa chất, Tạp chí
Triết học, tháng 11-2009.
Trang 14sửa mình, cố gắng gánh vác việc non sông, chăm lo cho muôn dân, trăm họ, để đất nưốc được cưồng thịnh, thái bình, nhân dân ngày càng có cuộc sốhg ấm no, hạnh phúc Và thồi nào cũng vậy, nếu những ngưồi lãnh đạo
mà sốhg giả dối, chỉ dùng “ba tấc lưỡi” để mị dân, nói một đằng làm một nẻo, bỏ bê công việc quốc gia, mưu
n gu dốt, tham quan ô lại chuyên nịnh hót, chuyên làm những hành động bẩn thỉu, thì sĩ phu sẽ ngoảnh mặt đi, trung thần sẽ cáo quan về ỏ ẩn Lúc bấy giò “sâu mọt”
có điều kiện phát triển, chúng đua nhau kéo bè kết đảng để đục khoét quốc gia, làm cho đất nưốc ngày càng suy yếu, cuộc sốhg của người dân sẽ chịu cảnh lầm than, ớ những triều đại mà có những biểu hiện thối nát như thế, thì sẽ xuất hiện những vị vua, dù ở bậc “trí tôn”, nhưng cũng chỉ là loại “hôn quân vô đạo” Nếu để kéo dài những tiêu cực sâu sắc trong xã hội sẽ dẫn đến
mâu thuẫn đốì kháng và kết cục là triều đại thôi nát bị
lật đổ, những kẻ phản lại lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân sẽ không có chỗ dung thân
Nếu một đất nước mà ngưòi đứng đầu một lòng một
dạ vì nước, vì dân thì sẽ thu phục được nhân tâm, sẽ không thiếu ngưồi tài giỏi đến tham mưu hiến kế Bỏi vì, đôi vối những ngưòi giỏi, họ đều mong muốn được cống hiến cho xã hội Khi được trọng dụng để làm công tác tham mưu, họ mong được nói ra những điều tâm huyết, mong được người lãnh đạo lắng nghe những lòi nói thẳng, mong những ngưòi có trách nhiệm biết phân biệt
Trang 15phải, trái và ra sức lấy lại sự công bằng cho xã hội Nếu
có nhiều người giỏi tận tâm với nước và được ngưòi lãnh đạo trọng dụng thì đó ìà phúc lớn cho xã tắc
Từ xưa, các bậc đế vương anh minh đã nhận thức sâu sắc vai trò quan trọng của nhân tài đốỉ vối vận mệnh của quốc gia, đặc biệt là đốì với sự hưng vong của một triều đại Vì thế, họ thường rất chú trọng đến việc
“chiêu hiền”, coi công việc này là quốc sách Kinh nghiệm về sử dụng nhân tài cũng được người xưa đúc kết sâu sắc Nếu một ngưòi dùng được ngưòi giỏi hơn mình thì người đó có tư chất của bậc đế vương; nếu dùng được ngưòi giỏi bằng mình, thì ngưòi đó có tư chất
của một vương hầu; nếu sử dụng đưỢc người kém hơn
mình, thì người đó có tư chất của một bậc đại phu, còn không biết sử dụng ngưòi giỏi thì không xứng đáng là ngưòi lãnh đạo
Trong các triều đại phong kiến Việt Nam, cha ông
ta đã có những thành công trong việc “chiêu hiền, đãi sĩ” và có những nét tiến bộ nhất định, đó là: khi tiến cử nhân tài thì “bên trong tiến cử không kể ngưòi thân, bên ngoài tiến cử không kể ngưòi thù oán, kháo xét căn
cứ vào công sức, năng lực, cứ có tài năng, đức độ là tiến
cử, không trông ngóng báo đáp của người được tiến c ử ’ Việc tiến cử được tiến hành rất cẩn thận “mang điều nhân để hành động, lấy điều nghĩa để quyết đoán, nghe
có ngưòi giỏi phải nói cho nhau biết, thấy ngưđi tốt phải giới thiệu cho nhau Dốc sức ra hành động mà không mệt mỏi, ỏ nới ẩn khuất mà không suy nghĩ và liành động
Trang 16sai lệch Gột rửa thân để thấm nhuần đạo đức, lòi nói chân thực thẳng thắn thì phục tùng nghe theo, tĩnh tại
mà ngay thẳng, không phải đứng ở chỗ thấp mà cho cái không phải cao ìà cao Thưđng dân khép mình vào
trông rộng, không tư tình trong việc dùng người, bồi dưỡng nhân tài đêm ngày giữ phép công, không xâm phạm vào của công Tuy ở hoàn cảnh nguy khôn nhưng vẫn nhất quán đến cùng với chí, không những thê lại còn không quên nỗi thống khổ của trăm họ, ngày đêm giữ phép công không sỢ sức mạnh ngăn trở, chí công vô
tư Không vì đòi bình trị yên ổn mà khinh suất, không
vì thòi loạn mà bị ngăn trở”^ Những tư tưởng nêu ỏ trên có rấ t nhiều điều đáng để ngày nay chúng ta suy ngẫm và học tập
Trong các triều đại phong kiến Việt Nam có ảnh hưởng sâu sắc tư tưỏng Nho giáo, ngưòi ta đã rất đề cao tinh th ần đại đoàn kết, đó là tư tưỏng “tứ hải giai huynh đệ” hoặc “thiên hạ nhất gia” Trong Nho giáo đã thể hiện tư tưởng “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi kinh” (Dân là quan trọng, rồi đến đất nước, vua chỉ là thường), lioặc “Vua muốh dùng nhân đức trị dân thì nên giảm bớt hình phạt, giảm thuê khoá, khuyên khích
dưỡiig hiếia, đễ, tnmg, tm” Nho giáo cũng thể hiện tư tưỏng
1 Vi Chúnh Thông: Nho gia với Trung Quốc ngày nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr 63-70.
Trang 17gần dân và vì dân “Dân có thể gần gũi, không thể khinh thường” Đặc biệt, tư tưỏng lấy dân làm gốc “Dân là gốc của nưốc, gốc vững thì nước mới yên” là một tư tưỏng rất tiến bộ mà cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị
Tư tưỏng này đã nhắc nhỏ các đấng quân vương muốn
có được thiên hạ thái bình, thịnh trị thì phải dốc sức làm yên được lòng dân Có như vậy thì đất nước mói ổn
định và phát triển, đó là mục tiêu tốì thượng “lấy đưỢc
thiên hạ phải có chính đạo, lấy được lòng dân thì mới thực sự lấy được thiên hạ, cái gì dân muốn thì mang đến cho dân, cái gì dân phản đối thì không thi hành”, ý dân là tối thượng “Dân muốn tròi phải theo”^ Các bậc quân vương cũng nêu cao tư tưỏng “Phàm làm đấng nhân quân, thì phải lấy ý muốh của thiên hạ làm ý muốn của mình và lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình” Trong tư tưỏng của những ngưòi ở vị trí tôi cao
“mưu việc lớn phải lấy dân làm gốc, dân được yên thì xã tắc mói được yên” Nhận thức được tầm quan trọng của dân, đó là: dân là quý nhất, dân là quan trọng nhất, dân có quyền cao nhất, nên các triều đại phong kiến thấm nhuần tư tưởng lấy được lòng dân mối xứng đáng
ỏ ngôi tối cao Bất cứ triều đại nào để m ất lòng dân thì sớm hay muộn sẽ suy vong
Tuy chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưỏng Nho giáo, nhưng ông cha ta một mặt tiếp thu có chọn lọc những
1 Vi Chính Thông: N h o g ia VỚI Trung Quốc ngày nay, S đ d ,
tr 184, 185, 198.
Trang 18điểm tích cực của Nho giáo, mặt khác vẫn giữ được bản sắc văn hoá để tạo nên nét mối trong văn hoá của mình
Vì thế, ngay trong việc phát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng
và sử dụng hiền tài, ông cha ta vẫn có những nét đặc trưng riêng của dân tộc Việt Nam Điều này được thể hiện rất rõ ỏ triều đại nhà Lý, ngay sau khi ròi đô từ
Hoa Lư - Ninh Bình về Thăng Long, vua Lý Công uẩn
đã cho xây dựng Trường đại học đầu tiên của Việt Nam tại Thăng Long - Hà Nội là Quốc Tử Giám; xây dựng khu Văn Miếu, nhà Thái học, sau đó mỏ rộng để học
sinh học tập, lập thư khố đầu tiên để chứa sách Quốc
Tử Giám là nđi đào tạo được rấ t nhiều trí thức, nhân tài cho đất nưóc Sự ra đời của trường đại học này đã
mở ra một trang sử mới cho nền giáo dục của nưốc nhà Kể từ khoa thi đầu tiên năm 1075, đến những năm đầu th ế kỷ XX (năm 1919), tại Quốc Tử Giám, sử sách còn ghi lại được 188 khoa thi Nho học và tuyển
trạng nguyên (có tài liệu nói là 56 trạng nguyên), 48 vị
đỗ bảng nhãn và 75 vị đỗ thám hoa, 2.396 vị tiến sĩ (trong đó có hàng trăm vị đỗ hoàng giáp), 266 vị đỗ phó
thức bậc cao của các triều đại phong kiến ỏ nước ta Tên tuổi của họ gắn liền với lịch sử, với sự phát triển đất nước, nhiều ngưòi đã có những cống hiến to lốn cho dân tộc Để ca ngỢi trí thức và nhân tài của Việt Nam, Phan Huy Chú đã viết “Nước Việt ta phong khí đã mỏ mang, khí tinh hoa đều hỢp lại Trong khoảnh khắc đó,
Trang 19vua hiền chúa sáng kế tiếp nổi lên, danh khanh, lương
tá thường xuất hiện ra Các danh tài tuấn kiệt đòi đời
có, hoặc có người đưỢc ghi công vào đỉnh vạc, hoặc có
ngưòi ghi công vào lưôi búa cò mao, có ngưòi nổi tiếng
ỏ làng văn, có ngưòi tỏ khí tiết trong lúc cùngi đểu là những ngưòi tài năng đáng chép, có công danh nghiệp vọng đáng khen mà trên dưới một nghìn năm xuất hiện lũ lượt"' Để tôn vinh và lưu truyền danh thơm của các nhà khoa bảng cho con cháu đòi sau học tập, năm 1484, ngưòi xưa đã khắc tên các vị tiến sĩ, hoặc khắc những áng thơ văn ca ngợi các nhân tài trên nhũng tấm bia đá để lưu truyền đòi này qua đòi khác.Trong các văn bia hay những thư tịch còn lưu lại những tư tưỏng của các vị thánh đế, minh vương về
chủ tưổng, nhưng một thì già yếu bất tài, hai thì học ít biết nông, ba thì nhiệm vụ nặng nề khó gánh vác nổi
Vì th ế ta nhún mình tỏ lòng thành thực, khuyên các bực hào kiệt đều nên cùng nhau gắng sức, cứu đổ muôn dân, đừng có kín tiếng giấu tài, khiến thiên hạ phải hãm trong lầm than mãi mãi”^ Trong thòi gian trị vì đất nước, Lê Thái Tổ đă ban chiếu khắp thiên hạ thu nạp ngưòi tài, cho xây dựng tníòng học tuyển chọn tất
1 Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Sử học,
Hà Nội, 1960, t 1, tr 153.
2 Http://www.military history.com.
Trang 20cả những người giỏi vào học không kể thành phần xuất
thân Tháng 11-1429, sau khi đánh tan quân Minh, Lê
trong đó cố ghi; “Tuy ngưòi tài ỏ đòi vốn không ít mà
cầu tài không có một đưòng Hoặc có người nào có tài
kinh luân mà bị khuất ở hạng quan nhỏ, không ai tiến
cử, cùng ngưòi hào kiệt ỏ nơi đồng nội hay lẫn trong
binh lính, nếu không tự đề đạt thì Trẫm bởi đâu mà
biết được Từ nay v ề‘sau, các bậc quân tử ai muốh đi
chơi với ta đều cho tự tiện” Chiếu còn viết “Đất nưỏc
thịnh vượng tất ồ việc cử hiền Ngưòi làm vua thiên hạ
phải lo công việc đó trước tiên” Vua hạ lệnh cho các
quan từ tam phẩm trồ lên đều phải tiến cử một ngưòi,
ai tiến cử đúng hiền tài thì được thưỏng; ngưòi nào có
tài mà bị khuất, mà không ai tiến cử thì được tự tiến cử
vua trọng dụng
Trong bài ký đề tên tiến sĩ khoa Đinh Mùi (1478),
Thân Nhân Trung đã viết “Thần trộm nghĩ, nhân tài
phồn thịnh vốh có quan hệ đến khí hoá trời đất và côt
ở cái gốc giáo hoá của thánh nhân Bỏi vì, khi có khí
hoá của tròi đất, thì chân nguyên hội hớp, gây dựng
chứa chất thì mói sinh ra nhân tài đông đảo như thế'’
Trong bài ký pòn có đoạn “Tròi mở cuộc thịnh trị thái
bình ức vạn niên cho nước nhà, ắt sinh ra câc bậc hiền
tài để nước nhà sử dụng Bỏi vì, nền giáo hoá thịnh trị
là gốc ỏ việc có ngưòi tài, ngưòi hiền tài đông đảo là do
giáo dưỡng ”; “kính nghĩ Thánh triều ta, đức Thái tổ
Trang 21Cao Hoàng Đế (vua Lê Thái Tổ) thuở mở đầu cuộc cách mạng tân khai sáng đã lấy việc xây dựng nhà học, bồi dưởng nhân tài là nhiệm vụ hàng đầu ”.
Trong văn bia khoa thi năm 1613 có đoạn viết “Đất nước có nền thịnh trị tất sinh ra bậc toàn tài, bậc toàn tài có thể giữ nền thịnh trị” Trong văn bia khoa thi năm 1715 cũng có ghi “Vận hội nước nhà được thịnh vượng, cơ đồ được vững vàng vì có hiền tài đông đúc như cây trong rừng” Vâng lệnh vua Lê Thánh Tông, năm 1484, Đông các điện Đại học sĩ Thân Nhân Trung
đã thảo bài văn bia, trong đó nhấn mạnh những nội dung cơ bản trong chính sách hiền tài của Nhà nước;
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì th ế nưốc mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nưốc yếu mà thấp hèn Vì th ế các bậc đê vường thánh minh không đòi nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết ” Có thể thấy lời lẽ trong văn bia là tuyên ngôn bất hủ về tư tưỏng và chính sách phát triển nhân tài không chỉ của triều đại nhà Lê, mà
nó còn nguyên giá trị đến muôn đời Theo quan niệm của Thân Nhân Trung, nhân tài là ngưòi “lấy trung
nghĩa mà rèn cho danh thực hỢp nhau, thực hành điều
sỏ học, làm nên sự nghiệp vĩ đại sáng ngòi, khiến cho mọi ngưòi đời sau kính trọng thanh danh, mến mộ khí tiết, may ra trên không phụ lòng nhân dưỡng dục của triều đình, dưối không phụ công phu học tập thưòng nhật” (Văn bia năm 1487)
Trang 22Mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789), sau khi đại thắng quân Thanh xâm lược, Quang Trung nhận mình chỉ là
kẻ áo vải xuất thân từ nông thôn, tự nghĩ mình tài đức không theo kịp cổ nhân nay lại đảm đương là bậc Đế vương trong thiên hạ, nên Quang Trung rất chú trọng
Chiếu ghi rõ: “Kiến quốc dĩ học vi tiên Cầu trị nhân tài
vi gấp” (Dựng nước lấy việc học làm đầu Cầu trị nhân tài làm gấp)‘ Đốì với những nho sĩ, trí thức, kể cả quan lại trong chính quyền cũ có tài năng, trí tuệ, có nhiệt tình xây dựng đất nưốc, Quang Trung đều cố gắng thuyết phục và sử dụng, đặt họ ỗ những chức vụ cao tương xứng với tài năng của họ Ngô Thòi Nhậm, Phan
Quang Trung trọng dụng Đức vua sau khi diệt xong giặc ngoại xâm, một lòng một dạ mong ngóng nhân tài:
“Trẫm đang để ý lắng nghe, sớm hôm mong mỏi Thế
mà những người tài cao, học rộng, chưa có ai đến, hay Trẫm là người ít đức, không xứng để phò tá chăng? ôi! Tròi đất bế tắc, thì hiền tài ẩn náu! Xưa thì đúng như
vậy, còn nay tròi đất thanh bình chính là lúc ngưòi tài
gặp gió may Trẫm buổi đầu dựng nghiệp, tôn trọng việc học, lưu tâm yêu mến kẻ sĩ, muốn có ngưòi thực tài
ra sức giúp nước”^ Năm Cảnh Hưng thứ 24 (1763), đức
1 N g u ồ n : L ư u t ạ i B ả o t à n g T â y S ơ n
2 G h i t r o n g V ă n M i ế u - Q u ố c T ử G i á m
Trang 23trị phải dùng ngưòi hiền tài, triều đình dùng người phải xét lòi bàn của nhiều ngưòi Ta lưu tâm việc trị nưốc, độc ý việc cầu tài.
Trong thư gửi Nguyễn Thiếp (La Sơn Phu Tử) tháng 10-1787, vua Quang Trung đã viết: Quả đức sinh
ra ở chỗ hẻo lánh, học ở sự nghe trông Những ngưòi làm việc nhất thòi đều là kẻ chiến đấu mạnh bạo Trong lúc cầm quân không thể không xâm chiếm, tàn phá Đạo trị dân đã để có nhiều điều làm cứng cỏi phiền nhiễu Tuy ìà tội ở những ngưòi ấy, nhưng kỳ thật giúp việc chưa ai là tội quả đức chưa biết cầu hiền
Để thể hiện quyết tâm lựa chọn nhân tài, việc làm cấp thiết của vua Quang Trung sau khi giải phóng dân tộc là tổ chức kỳ thi hương đầu tiên ở Nghệ An để tuyển chọn nhân tài và giao cho Nguyễn Thiếp làm chánh chủ khảo Nhò tư tưởng tiến bộ về khuyến khích việc học và chú trọng tuyển chọn nhân tài, mà vua Quang Trung không những có những vị tướng lĩnh tài ba, mà còn có được một hệ thống quan lại tài năng hiểu biết về ván chường, thư pháp và có khả nàng làm việc thực sự để phục vụ vương triều, đất nước
Nhận thức sâu sắc vấn đề thực học có ảnh hưỏng đến chất lượng của hàng ngũ quan lại, nên triều đình lúc bấy giò quy định ngưòi dạy học phải đạt hai tiêu
vua Quang Trung yêu cầu: Chọn nho sĩ trong xã hội có đạo đức, hạnh kiểm, đặt làm thầy dạy, giảng tập cho học trò xã hội Trưốc tình hình giáo dục có nhiều yếu kém,
Trang 24vua Quang Trung đã thuận theo ý Nguyễn Thiếp cho tiến hành cải cách giáo dục Chính đức vua cũng cho rằng: Nước Việt ta từ khi lập quốc đến bây giờ, chính học lâu ngày đă mất đi Người ta chỉ tranh đua tập việc học từ chương cầu lợi Chúa tầm thưòng, tôi nịnh hót, quốc phá gia vong, những tệ kia ỏ đó mà ra, cho nên việc học: phải tuần tự mà tiến, đọc cho kỹ mà ngẫm nghĩ cho tinh, học cho rộng rồi ưốc lượng cho gọn, theo điều học biết mà làm, họa may nhân tài mối có thể thành tựu, nưốc nhà nhò đó mà vững yên.
Đến triều Nguyễn, việc sử dụng nhân tài cũng có nhiều câu chuyện rất đáng quan tâm, trong đó có chuyện kể về vua Gia Long sử dụng Nguyễn Công Trứ Nguyễn Công Trứ được ngưòi đương thòi suy tôn là một nhân tài trên rất nhiều lĩnh vực từ quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá và có nhiều cá tính Chính vì những cá tính đặc biệt mà cuộc đòi Nguyễn Công Trứ trải qua rất nhiều bước thăng trầm “thăng chức và giáng chức, rồi lại phục chức cũng rất nhanh”, có lúc Nguyễn Công Trứ
ỏ vị trí rấ t cao trong xã hội, nhưng cũng có khi bị cách chức xuốítig làm ngưồi lính thường Nhưng điều đáng quan tâm là cách sử dụng nhân tài của vua Gia Long
Vị vua này đã biết phân biệt rõ ràng giữa công và tội, thưỏng và phạt nghiêm minh, khi bề dưối bị mắc tội thì thẳng tay trừng trị, nhưng klii bề dưới lập được công lại nhanh chóng trọng dụng, không ghét bỏ, không định kiến, luôn tạo điều kiện để cho cấp dưối có cd hội lập công chuộc tội Với cách dùng ngưòi như vậy, nên một
Trang 25nhân tài như Nguyễn Công Trứ mới có cơ hội để lập công chuộc tội.
Đòi vua Minh Mạng (năm 1827), ngay sau khi lên
ngôi, nhà vua đã coi trọng việc học tập, chọn lựa nhân
tài Chính vua đã khẳng định: “Đạo trị nưốc phải lấy
việc gây dựng nhân tài làm việc ưu tiên mà phương pháp gây dựng thì trước hết phải nuôi dưỡng ngưòi tài”
Nhò tư tưỏng tiến bộ này, mà đất nưóc dưới thòi vua Minh Mạng đã có những tiến bộ nhất định về chính trị, kinh tế; xã hội tương đốỉ ổn định Đến đòi vua Tự Đức -
một vị vua trí thức và đưỢc cho là có tư tưồng đổi mới, nhưng do hạn chế bỏi hoàn cảnh lịch sử, nên dù ỏ vị trí tối cao, nhà vua vẫn không vượt khỏi sự kìm tỏa của bọn quan lại có tư tưỏng “cổ hủ, bảo thủ” tìm mọi cách
để ngăn cản không cho vua trọng dụng Nguyễn Trưòng
Tộ - một nhà cải cách tài ba lúc bấy giờ, để đến nỗi Nguyễn Trường Tộ phải nhắm mắt khi mới 41 tuổi
trong tâm trạng đầy phẫn uất vì không đưỢc triều đình nghe những điều tấu trình kế sách phục hưng đất nưóc
đầy tâm huyết Kết cục của việc không biết trọng dụng nhân tài, triều Nguyễn đã làm cho nưóc ta bỏ lỡ một cơ
hội cải cách vươn lên giàu mạnh, để rồi rơi vào kiếp nạn
bị thực dân Pháp đô hộ gần một trăm năm và cho đến tận bây giò, Việt Nam vẫn là một nưốc nghèo có thu nhập thấp
Các triều đại phong kiến kén chọn hiền tài không
chỉ trong các quan văn, quan võ mà còn quan tâm tuyển chọn những ngưòi tài giỏi ỏ các làng nghề, các nghệ nhân,
Trang 26nghệ sĩ trong các tầng lốp nhân dân Việc tuyển chọn
hiền tài đưỢc áp dụng một số biện pháp như sau: cầu hiền, tiến cử, tự tiến cử, kết hỢp giữa tiến cử và tự tiến
cử, thi cử Cầu hiền là hình thức mòi gọi người tài; tiến
cử là hình thức giao trách nhiệm cho tấ t cả mọi người nếu phát hiện được ngưòi tài thì báo với vua hoặc quan cấp trên; tự tiến cử là tự mình tìm đến vua để trình bày
kế sách, mưu lược, tự giói thiệu về mình; thi cử là hình thức tuyển chọn qua các kỳ thi
Điều khá thú vị là cách nhận biết nhân tài của
trí và tấm lòng kiên trung, trong sạch như: phái đi xa
để xem sự trung thành, bỗi vì đi xa thì khó đôn đốíc, kiểm tra để biết người đó có tự giác, tận tâm với công việc hay không; hoặc giữ lại gần và không thúc giục xem người đó có tự giác và cung kính hay không Một sô" cách khác để nhận biết nhân tài như: giao cho một ngưồi nhiều công việc có lớn, có nhỏ, có khó, có dễ để xem năng lực của ngưòi đó ra sao; đột nhiên ra một vấn
đề bao gồm những ý tưởng kỳ lạ để thử xem tri thức, trí tuệ và sự nhạy cảm của ngưòi đó như th ế nào; giao công việc và hẹn thòi gian để xem có giữ chữ tín hay không; cho phép quản lý tiền bạc, vật phẩm có giá trị để xem có nảy sinh lòng tham hay không; báo cho biết trước sự nguy cấp để xem khí tiết của người đố thế nào; cho uống rượu để xem thái độ và trạng thái thần kinh có vững hay không; đặt vào nơi nhiều gái đẹp xem có biểu hiện hiếu sắc hay không Thử thách con ngưòi qua những
Trang 27hoàn cảnh như thế mói thấy rằng việc tuyển chọn nhân tài của ngưòi xưa cũng thực sự kỹ càng và rất khoa học.Trong các triều đại phong kiến, tiêu chuẩn lựa chọn hiền tài được quy định khá rõ ràng, như: phải tuyệt đối trung thành với vua; phải là ngưòi trong sạch; phải là ngưòi chính trực, ngay thẳng, không xu nịnh Khi đã chọn được nhân tài, việc sử dụng họ lại là vấn đề vô cùng quan trọng Ngưòi xưa cũng đã dựa vào nguyên tắc tuỳ tài mà giao việc, bởi vì tài cao mà giao việc nhỏ dẫn đến nhân tài chán mà bỏ việc, tài nhỏ mà giao việc lớn thì sẽ hỏng việc; hoặc có tài ỏ lĩnh vực này lại giao cho công việc của lĩnh vực khác thì cũng không làm được việc Ngay từ thòi phong kiến, cha ông ta đã biết cách đề phòng và tránh kéo bè, kéo cánh, địa phương chủ nghĩa, nên đã áp dụng hình thức định kỳ thuyên chuyển quan lại (mà ngày nay Đảng ta đang làm là luân chuyển cán bộ) từ nơi này sang nơi khác, có khi di chuyển rất xa Đặc biệt từ thời xưa, ông cha ta đã có quy định ai sinh ra
đó, không được xây dựng tư dinh mà phải sông ở trong khu vực công đưòng (ngày nay gọi là nhà công vụ) Đến khi về hưu, vua xét công trạng và phẩm cấp ban lộc cho xây dựng nhà cửa ỏ quê nhà
Bằng việc đúc kết kinh nghiệm xử lý những tình huốhg nảy sinh phức tạp trong xã hội, người xưa đã nghĩ
ra những điều luật để ngăn chặn, giảm bớt những tệ nạn trong xã hội, và Luật Hồi tỵ đã ra đòi Luật Hồi tỵ ra đòi
Trang 28từ thòi vua Lê Thánh Tông (1442- 1497), vối quan điểm
“Trăm quan là nguồn gôc của trị, loạn Quan có đức, có tài thì nưốc trị Quan vô đức, kém tài là thềm, bậc dẫn đến hoạ loạn” Trải qua những triều đại phong kiến khác nhau, Luật Hồi tỵ được chỉnh sửa nhiều lần, thòi vua Minh Mạng, Luật được sửa đổi vào năm 1831 và được chỉnh sửa một lần nữa vào năm 1836^
Luật Hồi tỵ quy định:
1 Không đưỢc bổ nhiệm một viên quan về cai trị huyện hoặc tỉnh mà ông ta xuất thân từ đó
ta có ngưòi họ hàng tại nhiệm ở vị trí lãnh đạo
3 Trong thời gian trị nhậm tại một tỉnh hoặc một
huyện, một viên quan không được cưới vỢ, lấy thiếp là ngưòi của địa hạt đó.
4 Một viên quan không được phép tại vị quá lâu ỏ cùng một địa phương hoặc cùng một viện, bộ chức năng
5 Quan lại không được tậu đất, vườn, ruộng, nhà tại nơi cai quản
ngưòi giúp việc
7 Người có quan hệ thầy trò, bạn bè không được làm việc tại cùng một công sỏ
M i n h M ạ n g v à b à i h ọ c c h o c ô n g tá c t ổ c h ứ c c á n bộ h iệ n n a y ,
h t t p : / / p h a p l y n e t v n / d i e n - d a n - p h a p - l u a t
Trang 298 Các lại dịch nha môn, các bộ ở kinh đô và các tỉnh
là con, anh em ruột, anh em con chú, con bác vối nhau thì phải tách ra, đổi bổ đi nơi khác.
9 Các quan lại không được làm quan ỏ nơi trú quán
(nơi ỏ một thòi gian lâu), ỏ quê vợ, quê mẹ mình, thậm chí cả nơi học tập lúc nhỏ hoặc lúc trẻ tuổi.
ở phủ huyện là quê hương mình.
là ngưòi cùng làng cũng phải chuyển bổ đi nới khác.
tỉnh về kinh đô chầu được dự đình nghị, song khi trong các cuộc họp có bàn việc liên quan đến địa phương mà
mình nhậm trị thì không được vào dự
thích dự thi ỗ trưòng mình thì phải báo lên cấp trên để tránh đi Nếu cô' tình không khai báo sẽ bị trọng tội vì
cố ý làm trái
14 Các quan thanh tra, xét xử thấy trong vụ án, vụ điều tra có ngưòi thân quen của mình (bà con nội,
ngoại, bạn thân ) đều phải khai báo và hồi tỵ ngay.
15 Cấm quan đầu tĩnh lấy vỢ trong trị hạt vì sỢ gia
đình vỢ nhũng nhiễu; cấm các quan tậu ruộng vưòn,
nhà cửa trong trị hạt vì sỢ quan hiếp dân để được mua rẻ; cấm tư giao vối đàn bà con gái trong trị hạt; cấm các
quan lại đă về hưu quay lại cửa công để cầu cạnh.
16 Các quan đầu tĩnh như tổng đốc, tuần phủ, bô" chánh, án sát, lãnh binh, đốc học đều không được cử
Trang 30những ngưòi cùng chung một quê Trong từng bộ, nha,
con, anh - em, thông gia, thầy - trò, họ hàng thân thiết'.Những quy định trong Luật Hồi tỵ đã thể hiện khá nhiều điểm tích cực nhằm tránh mầm họa cho các quan
và cho cả quốc gia, đưa hoạt động xã hội vào khuôn phép, tránh sự làm việc không khách quan, nể nang, né tránh hoặc bao che, nâng đõ cho nhau giữa những người thân thuộc, hạn chế việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện các hành vi tiêu cực
Để tránh tình trạng quan lại không chịu phấn đấu, hoặc tham quyền cố vị, cản trở việc bổ nhiệm những người có tài có đức vào những cương vị cần thiết, các triều đại phong kiến đã thực hiện chính sách không giữ chức quan suốt đòi hoặc thăng quan theo niên hạn mà
có sự đánh giá tuỳ theo năng lực và đạo đức để bổ nhiệm lại Quan lại sau một thòi gian làm việc, triều đình tổ chức sát hạch để đề bạt, bố trí, sử dụng: ngưòi đạt loại ưu thì đề bạt ngay, người đạt khá thì nâng theo niên hạn, ngưòi đạt loại trung bình thì giữ nguyên, ngưòi đạt loại yếu thì thuyên chuyển làm việc thấp hđn, nếu vi phạm kỷ luật thì tùy mức độ mà xử phạt, có thể về hưu, hoặc sa thải, cầm tù hoặc lưu đày Tuy nhiên, cách làm là căn cứ vào kết quả công việc hoàn
1 Xem Ths Nguyễn Xuân Tùng: L u ậ t Hồi tỵ và m ột vài suy ngẫm về công tác cán bộ trong gia i đoạn hiện nay, c ổ n g thông tin điện tử Bộ T ư pháp, ngày 18-5-2011.
Trang 31thành trong thực tế chứ không phải qua thi cử sách vở hoặc đánh giá chung chung Cùng với việc sát hạch quan lại, triều đình phong kiến cũng áp dụng chê độ thưỏng phạt nghiêm minh; đối với người đỗ cao, làm việc giỏi được cất nhắc, lên chức, lên lương, cấp bổng lộc, có khi được vua gả công chúa cho, được ban tước cho bô mẹ, vỢ con Mặt khác, họ cũng đặt ra nhiều hình thức xử phạt để bảo đảm tính nghiêm minh của phép nưốc làm cho các quan lại phải tuyệt đốì trung thành với vua, chăm chỉ làm việc, thanh liêm, chính trực Một sô" hình thức xử phạt được các triều đại phong kiến áp dụng như sau: hạ lương, giáng chức, tống giam, tịch thu tài sản, cách hết các chức, tưóc bổng lộc, cho lưu đày, hoặc bắt làm thứ dân, nếu nặng có thể bị xử tội chết hoặc tội chu di Nhưng nếu lập được công trạng thì lại được triều đình xem xét bổ nhiệm lại, được phục hồi một số quyền lới Từ cách thưỏng phạt như vậy đã giáo dục quan ỉại không ngừng tu dưõng và rèn luyện vươn lên, nếu không may bị xử phạt thì cũng không hết hy vọng Để khuyến khích các quan lại thanh liêm, chống tham nhũng, triều đình cũng đặt ra khoản trợ cấp dưỡng liêm cho các quan lại tận tâm với công việc và luôn giữ phép công.
Điểm tiến bộ trong việc sử dụng hiền tài của ông cha ta ngày xưa là không chỉ chú trọng vào bằng cấp,
mà quan trọng hớn là coi trọng năng lực thực tê thông qua kết quả hoàn thành công việc Vì thế, có người tuy không đỗ đạt cao nhưng cũng đã được đề bạt đến những
Trang 32chức vụ cao, có khi được chọn làm chánh chủ khảo trong các đợt thi tiến sĩ Bên cạnh việc phát hiện và sử dụng hiền tài, cha ông ta cũng rất chú trọng đến việc tôn vinh các bậc hiền tài, những người có đức, có tài, có công lớn với quê hương, đất nước Những người này đều được đích thân nhà vua trọng thưởng tuỳ theo công trạng và khi chết đều được nhân dân thồ cúng, suy tôn
là thần, là thánh
Để lựa chọn được hiền tài đích thực thì ngoài việc thi cử nghiêm túc (yếu tô" quan trọng bậc nhất) cần phải kết hớp với nhiều phương pháp khác nhau thì mới
có thể suy xét đến cùng và không chọn nhầm hoặc bỏ sót hiền tài Để chứng tỏ lòng trung thành và đạo đức của quan lại, trước khi nhậm chức, các quan phải tuyên thệ trước tròi đất và nhà vua Hình thức này được tổ chức vào đời Lý - Trần, thòi gian vào khoảng
phường Yên Thái (Ba Đình ngày nay), các quan trong triều cùng uống máu, ăn thê “làm tôi tận trung, làm quan trong sạch, ai trái lời thề thần linh giết chết” Ngoài ra, triều đình còn quy định không cho phép các quan được tổ chức sinh hoạt lãng phí, phải hết lòng vì công việc chung Vua Lê Thái Tổ đã ban chiếu: “Truyền
các quan không đưỢc lễ nghi khánh hạ, cấm tham lam
hay lưòi biếng, coi công việc của quốc gia là công việc của mình, lấy điều lo của dân là điều lo thiết kỷ, khiến cho xă tắc yên như thái sơn, cơ đồ vững như bàn thạch” Ngày nay, nhân dân ta cũng rất mong muốn cán bộ
Trang 33trước khi nhậm chức hãy noi gưong các bậc tiền nhân
mà tuyên thệ trước trời đất và nhân dân để tỏ lòng trung thành vối Tổ quốc và hết lòng phục vụ nhân dân, tận tâm vói công việc và không tham nhũng
Các triều đại phong kiến sau này rú t kinh nghiệm của triều đại trước trong việc phát hiện, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài, nên công tác này được tiến hành ngày
càng chính quy và khoa học Việc đào tạo nhân tài đưỢc
tiến hành qua các trường từ thấp đến cao Trong giáo dục lấy đào tạo và bồi dưỡng hiền tài là mục tiêu, học
cao việc học trước, tuyển dụng sau, và trưốc tiên là coi trọng “Vi chính dĩ đức” nghĩa là làm việc chính sự lấy đức để thi hành Điểm cốt lõi của việc phát hiện nhân tài là qua thi cử nghiêm túc cùng vối việc khảo hạch thành tích Lịch sù cũng đã chứng minh mặc dù có tài, nhưng người cầm quyền dù ỏ cấp nào nếu không liêm chính thì không gây được uy tín trong nhân dân, mà đã mất uy tín trong dân thì thực hiện công việc rất khó
khán, khi gặp lâm nguy sẽ không đưỢc nhân dân giúp
đõ Những ngưòi như vậy, sự nghiệp của họ trước sau cũng bị thất bại
Trong các triều đại phong kiến, mục đích giáo dục đầu tiên của triều đình là quan tâm đến đào tạo các con
em trong hoàng tộc, chọn các vị quan tài giỏi nhất trong triều phong làm Thái phó (một chức quan cao nhất trong hàng đại thần làm nhiệm vụ dạy dỗ trong cung) Nội dung đào tạo trong các thòi kỳ phong kiến là nặng
Trang 34về khoa học xã hội - nhân văn, chì chú ý đến kỹ năng cai trị, binh pháp, văn học, nghệ thuật, lễ, nhạc, đạo làm vua, làm tướng, mà nhẹ về đào tạo khoa học tự
nhiên và khoa học kỹ thuật Thi cử thì quá nặng vềphạm trưòng quy (phạm huý) khiến nhiều ngưòi thực
tài có khi không đỗ đạt về sau, đối tượng đào tạo đưỢc
mỏ rộng hơn nhưng cũng chỉ có thêm con nhà quý tộc
hoặc giàu có, còn con nhà nghèo, con hàng cháu mõ
(tầng lóp hạ lưu) thì không có điều kiện và không phải
là đốì tượng được giáo dục Chính vì những hạn chế
trong việc đào tạo, nên các triều đại phong kiến không
có những nhà khoa học công nghệ giỏi, bỏ sót nhân tài
là con em nông dân lao động, đó cũng là nguyên nhânlàm kìm hãm sự phát triển đất nước, làm cho nước talạc hậu so vối các nưóc phương Tây Dần dần, đối tượngđào tạo đã được mỏ rộng cho phép con em nông dânthực sự tài năng cũng được vào học Tối thời nhàNguyễn, triều đình cấp lương bổng cho các giám sinh để
họ theo học ở Kinh đô é «
Trong các triều đại phong kiến, triều đình định kỳ
tổ chức các khoa thi để tuyển chọn hiền tài Tuy nhiên, thòi gian tổ chức thi cử ở các triều đại cũng rấ t
khoa thi, các triều đại sau này tiến hành thưòng xuyên hơn, đến triều Lê trở về sau thì 3 năm tổ chức một khoa thi Việc thi cử được tổ chức ở ba cấp trình
độ khác nhau: thi Hương - tổ chức ỏ cấp tỉnh để chọn
cử nhân; th i Hội - do Bộ Lễ của triều đình tổ chức để
Trang 35chọn tiến sĩ; thi Đình - được triều đình tổ chức do đích thân vua chủ trì để chọn Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa (tam khôi) Sau khi đã tuyển chọn được hiền tài, triều đình quy định về các chức sắc, vị trí trong xã hội, ban thưỏng áo mũ vối những quy định
về màu sắc và trang trí trên mũ áo tương ứng vói phẩm hàm, học vấn và tài năng của từng ngưòi Nguyên tắc sử dụng những người sau khi đỗ đạt được quy định như sau: ngưòi có học vị cao và thi đỗ cao thì phân bổ ngay, được nhận chức cao hoặc được làm việc
ở triều đình; người thi đỗ với học vị thấp hơn thì làm quan ỏ phủ, ỏ huyện và ai đỗ cao hơn thì được bổ nhiệm trưổc Chế độ đãi ngộ đối vói hiền tài cũng được người xưa thực hiện hết sức chu đáo Sau khi công bô" danh sách thi đậu, những ngưòi đỗ đạt từ bậc tiến sĩ trỏ lên được nhà vua đãi yến tại cung đình, được ban mũ áo, tước hiệu kèm theo các bổng lộc, được rước vinh quy về làng và được bổ nhiệm ngay vào các chức vụ xứng đáng Những người đỗ đạt đều được hưởng bổng lộc, đỗ đạt cao th ì được hưởng bổng lộc cao Trong quá trình sử dụng nhân tài, triều đình thường xuyên tổ chức các đợt “khảo hạch” để bồi dưỡng và kiểm tra kiến thức của các quan lại, trên cơ
sỏ đó mà có chế độ đãi ngộ phù hợp; có chính sách ban phát bổng lộc tuỳ theo phẩm cấp và công trạng; sử dụng chế độ thưỏng phạt nghiêm minh để phát huy tài năng, đức độ của những ngưồi làm quan và ngăn chặn những việc làm sai trái
Trang 36Đúc rú t từ kinh nghiệm thực tế, người xưa đã tổng kết: “Biết ngưòi là đạo của đê vương, biết việc là đạo của bề tôi”, việc chỉ đạo chiến Iược, quản lý con ngưòi
và điều phối các công việc là trách nhiệm của người đứng đầu một quốc gia, một tổ chức, còn việc làm cụ thể là của người dưối quyền, có như vậy mới phát huy được năng lực của từng cá nhân trong tập thể và tạo được sức mạnh cộng đồng để thực hiện công việc to lốn
và phức tạp mà từng người không thể thực hiện được Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của người lãnh đạo là quan tâm vào việc tìm kiếm nhân tài, biết
sử dụng người tài, bồi dưõng người có khả năng kế nhiệm mình Người lãnh đạo có tài là trưốc lúc làm việc lớn cần lắng nghe nhiều loại ý kiến, nhưng phải bình tĩnh để phân biệt đưỢc phải, trái, đúng, sai, vào lúc quan trọng phải có dũng khí đề ra những quyết sách m ạnh mẽ, đúng đắn, phải có chủ kiến của mình trước nhiều ý kiến trái ngưỢc nhau Điều quan trọng
đốì với người lãnh đạo là phải có lòng yêu nưốc, thương
dân, chuộng lẽ phải và công lý, làm việc công tâm và công bằng, có hiểu biết sáng suốt hơn ngưòi, can đảm dám làm và dám chịu trách nhiệm Những ngưòi trí thức chân chính từ xưa đã được các bậc thánh đế, minh vương căn dặn “Kẻ sĩ may được khắc tên lên bia
đá này tấ t phải làm sao cho xứng danh vôi thực Người cai trị địa phương thì lo sao làm tỏ đức vua mà thấu tình dân Ngưòi giữ quyền chăn dân thì làm sao cho đủ dân sinh để bền gốc nưốc, ngõ hầu, trên không phụ ý
Trang 37tốt của triều đình ban khen, dưới không phụ chí lớn phò vua, giúp dân, thưòng ngày ôm ấp”^
biệt quân tử và tiểu nhân thông qua nhìn nhận, phán xét về nhân cách của con ngưòi, đó là: ngưòi quân tử lấy lợi ích của đất nưốc, của nhân dân là trên hết; kẻ tiểu nhân chỉ lo vun vén cá nhân Ngưòi quân tử có đức hạnh cao quý; còn kẻ tiểu nhân có chí khí hèn hạ, thấp kém Ngưòi quân tử là những ngưòi dù có học rộng hay không, nhưng đều có khí tiết, bản lĩnh, khiêm nhường Còn những kẻ tiểu nhân đã không có khí tiết, lại không
có liêm sĩ, cho dù họ có học vấn cao Người quân tử trọng nghĩa, biết phân biệt phải, trái một cách khách quan, công minh, không thiên vị, luôn sống thoải mái, tôn trọng mọi người, không kiêu căng, hốhg hách Còn kẻ tiểu nhân cho dù biết phải, trái, nhưng khi hành động thì chỉ coi trọng danh và lợi, trong cuộc sốhg luôn trong tâm trạng lo lắng, không thể giúp người làm việc tốt, gặp lúc khốiti khó thì hay làm càn, làm ẩu, thậm chí còn
có những hành động phản bội Tổ quốc Những ngưòi quyền cao chức trọng nhưng đạo đức kém cỏi, chí khí hèn nhát, mượn tiếng học rộng biết nhiều để mưu cầu danh lợi, luôn nói đạo đức nhưng lại làm toàn những chuyện bất nhân, bất nghĩa thì chỉ là những kẻ tiểu nhân Dù nói hay nghĩ như th ế nào đi chăng nữa thì kẻ tiểu nhân không thể làm được điều nhân đức, vì họ luôn
1 Bia số 3 ở Văn Miếu.
Trang 38bị dục vọng tham lam, ích kỷ chi phôi, luôn ghen ghét và
đố kỵ, không muốn ai bằng mình
Ngưòi quân tử lúc nào cũng mong muốn thể hiện biết mình, biết ngưòi, tâm trạng luôn thư thái và có thể hoà mình được với mọi người Họ không mưu cầu danh lợi cho riêng mình nên cũng không thích bon chen, cầu cạnh, đấu đá, tran h giành Ngưòi quân tử có khả năng làm được những việc lớn, biết dùng ngưòi hiền tài Lúc bình thường cũng như trong cơn nguy khốn, họ luôn giữ vững đạo lý cao đẹp Đó là những ngưòi có tài năng, có thể làm được những công việc lón, làm được những điều ích nước, lợi dân Bậc hiền tài chỉ mong muôn được mang tài trí của mình để phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Cái sáng suốt của nhà cầm quyền là biết dùng ngưòi, làm đúng việc, giữ đúng bổn phận, nhưng quan trọng hơn là phải nhận biết được nhân cách của con người và biết phân biệt ngưồi quân tử với kẻ tiểu nhân
Cách phân loại như trên nhằm mục đích để ngưòi lãnh đạo gần gũi ngưòi quân tử, xa lánh kẻ tiểu nhân, hưống con ngưòi đến cái thiện và bài trừ cái ác Ngưòi
có nhân cách tốt ắ t sẽ làm được việc lón, nhân cách xấu chỉ làm điều có hại Việc coi trọng và hiểu biết về cách phân loại con ngưòi trong xã hội sẽ giúp cho những người có trách nhiệm ban hành chính sách cai trị đất nưốc biết cách giáo dục và đào tạo con ngưòi
sao cho phù hỢp vối những thang bậc giá trị của xã
hội đường thòi Nghiên cứu các tầng lốp ngưòi trong
Trang 39xã hội, các nhà khoa học nhận thấy, không phải bất cứ
ai cũng có thể giáo dục để trỏ thành nhân tài Trong sô" rất nhiều ngưòi chỉ có một số ít người có khả năng vượt trội, vì vậy mà tuỳ khả năng của con ngưòi mà có phương pháp giáo dục hợp lý Đối vói những ngưồi có năng khiếu thì phướng pháp giáo dục là khêu gỢi và dẫn dắt họ vào kho tàng tri thức, tự họ cảm nhận, tìm tòi, khám phá và sáng tạo, từ đó sẽ hình thành các quan niệm về nhân sinh quan, th ế giới quan; hình thành nên những giá trị cho riêng mình, phù hỢp với hoàn cảnh xã hội
Khi nghiên cứu lịch sử, ngưòi ta nhận thấy hạn chế rất lớn đốỉ với hầu hết các triều đại phong kiến phương Đông là vua - tôi chỉ có thể cùng chung hoạn nạn, nhưng không cùng hưỏng phú quý, sang giàu Điều đó xuất phát từ tư tưồng cha truyền con nối, sỢ ngưòi khác chiếm quyền, vì thế mà đô" kỵ hiền tài Điển hình là vụ án Lệ Chi Viên mà sử sách còn ghi, Nguyễn Trãi và một số^ trung thần có công lón vói đất nưóc và góp phần xây
Như một quy luật, ỏ giai đoạn suy vong của các triều đại phong kiến phổ biến nạn mua quan, bán chức, những
kẻ nhiều tiền nhưng bất tài lại được trọng dụng, trong hàng ngũ quan lại nhan nhản bọn tham nhũng, sâu mọt, bọn nịnh thần lộng hành Những kẻ tiểu nhân ấy được “hôn quân vô đạo” dung túng, thỏa sức vơ vét bóc lột nhân dân, gây thù chuốc oán, đố kỵ, hãm hại hiền tài, làm cho nước nhà suy yếu, dân chúng lầm than
Trang 40Nếu không trừ bỏ được những con “sâu mọt” này thì ắt dẫn đến triều đại đó phải đổ.
Từ những nghiên cứu về lịch sử, trải nghiệm và cảm nhận của bản thân, Lê Quý Đôn (một nhà bác học của Việt Nam vào thế kỷ thứ XVIII) đã đưa ra năm dấu hiệu dẫn đến sự suy vong của một triều đại, đó là: Trẻ không trọng già; trò không trọng thầy; binh kiêu, tướng thoái; tham nhũng tràn lan; sĩ phu ngoảnh mặt Ngưòi xưa cũng nêu lên ba dấu hiệu về nguy cơ mất nước của
trọng trách không thấy việc mình đảm nhận là thiêng liêng và gian khó mà lại coi đó là đặc quyền, đặc lợi để
làm ăn chụp giật và vụ lợi cá nhân, xem thưòng đạo lý,
và mất lòng tin vào công lý Theo người xưa, nếu điều thứ nhất đúng thì đất nước đang ỏ vào thế suy vi; nếu
điều thứ hai đúng thì nước sẽ khốn khó trong sự chia rẽ
lục đục; nếu điều thứ ba đúng thì nước sắp loạn Nếu cả
ba điều trên đều đúng thì nước mất đến ndi rồi Những tổng kết của các bậc tiền nhân là lòi cảnh báo đanh thép rất đáng để chúng ta suy nghĩ
Trong lịch sử nưóc ta có nhiều tấm gương những vị vua chúa anh minh biết trọng dụng hiền tài, nhưng nổi bật nhất là Hoàng đế Quang Trung Tuy ông chỉ làm vua trong một thòi gian ngắn (từ năm 1788 đến năm 1792) nhưng đã để lại một di sản quý giá về tư tưỏng