1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giải pháp phát triển sản xuất nếp cái hoa vàng tại huyện đông triều, tỉnh quảng ninh

128 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu giải pháp phát triển sản xuất nếp cái hoa vàng tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
Tác giả Nguyễn Chính Văn
Người hướng dẫn PGS.TS. Mai Thanh Cúc
Trường học Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

70 Bảng 4.17 Đánh giá của nông hộ về những khó khăn trong phát triển sản xuất ngô vụ đông trên địa bàn huyện Yên Dũng .... Nghiên cứu đã hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận và thực t

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN CHÍNH VĂN

PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NGÔ VỤ ĐÔNG

CỦA NÔNG HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN DŨNG,

TỈNH BẮC GIANG

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 60.62.01.15

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mai Thanh Cúc

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Chính Văn

Trang 3

đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu

Đặc biêt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy giáo PGS.TS Mai Thanh Cúc, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn các phòng ban trong huyện Yên Dũng đã cung cấp cho tôi các số liệu và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt nội dung đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè

đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Chính Văn

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục biểu đồ, sơ đồ viii

Danh mục hộp ix

Trích yếu luận văn xi

Thesis abstract xiii

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.5 Đóng góp của luận văn 3

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Một số khái niệm 4

2.1.2 Vai trò của phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ 9

2.1.3 Đặc điểm của phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ 9

2.1.4 Nội dung nghiên cứu phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ 11

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ 13

2.2 Cơ sở thực tiễn 18

2.2.1 Thực trạng phát triển sản xuất ngô vụ đông ở Việt Nam 18

2.2.2 Kinh nghiệm phát triển sản xuất ngô vụ đông của một số tỉnh thành trong nước 22

2.2.3 Một số bài học kinh nghiệm 24

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 25

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 25

Trang 5

3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 25

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 27

3.2 Phương pháp nghiên cứu 36

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 36

3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu 37

3.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 39

3.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 40

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 43

4.1 Thực trạng phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang 43

4.1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng ngô của nông hộ 43

4.1.2 Quy hoạch, kế hoạch phát triển sản xuất ngô vụ đông 53

4.1.3 Công tác khuyến nông, tập huấn và chuyển giao khoa học kỹ thuật 54

4.1.4 Liên kết trong sản xuất ngô vụ đông 57

4.1.5 Nguồn lực cho phát triễn sản xuất ngô vụ đông 58

4.1.6 Chi phí đầu tư cho phát triển sản xuất ngô vụ đông của các hộ điều tra 64

4.1.7 Kết quả và hiệu quả kinh tế trong sản xuất ngô vụ đông của nông hộ điều tra 66

4.1.8 Đánh giá chung về thực trạng phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng 69

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng 71

4.2.1 Các yếu tố khách quan 71

4.2.2 Các yếu tố chủ quan 82

4.3 Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất ngô vụ đông trên địa bàn huyện Yên Dũng thời gian tới 86

4.3.1 Định hướng 86

4.3.2 Hệ thống các giải pháp 88

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 94

5.1 Kết luận 94

5.2 Kiến nghị 96

Tài liệu tham khảo 98

Phụ lục 100

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam qua một số năm 20

Bảng 2.2 Tình hình phát triển sản xuất ngô ở các vùng năm 2014 21

Bảng 2.3 Tình hình sản xuất ngô của tỉnh Vĩnh Phúc (2010-2014) 22

Bảng 3.1 Tình hình sử dụng và phân bổ đất đai trong 3 năm 2013 - 2015 29

Bảng 3.2 Tình hình lao động và sử dụng lao động của huyện Yên Dũng năm 2013 - 2015 30

Bảng 3.3 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Yên Dũng năm 2013 -2015 32

Bảng 3.4 Thu thập thông tin thứ cấp 37

Bảng 3.5 Số lượng mẫu điều tra tại các điểm nghiên cứu 39

Bảng 4.1 Diện tích trồng ngô vụ động của huyện Yên Dũng 44

Bảng 4.2 Diện tích gieo trồng cây ngô vụ đông trong tổng diện tích gieo trồng cây vụ đông của huyện Yên Dũng năm 2015 47

Bảng 4.3 Năng suất ngô vụ đông trên địa bàn huyện Yên Dũng năm 2013 – 2015 48

Bảng 4.4 Sản lượng ngô vụ đông của huyện Yên Dũng năm 2013 – 2015 49

Bảng 4.5 Số hộ tham gia sản xuất ngô vụ đông của huyện Yên Dũng 51

Bảng 4.6 Diện tích, năng suất, sản lượng ngô vụ đông bình quân của các hộ điều tra 53

Bảng 4.7 Kết quả tập huấn kỹ thuật sản xuất cây ngô vụ đông của huyện Yên Dũng năm 2013 – 2015 55

Bảng 4.8 Kết quả tập huấn kỹ thuật sản xuất ngô vụ đông của nông hộ tại các xã nghiên cứu năm 2015 56

Bảng 4.9 Diện tích đất phục vụ phát triển sản xuất ngô vụ đông năm 2015 59

Bảng 4.10 Danh mục thuốc BVTV sử dụng trong sản xuất ngô vụ đông trên địa bàn huyện Yên Dũng 61

Bảng 4.11 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và thuốc trừ cỏ của nông hộ sản xuất ngô vụ đông 62

Bảng 4.12 Tình hình sử dụng lao động trong sản xuất ngô vụ đông của các hộ điều tra 63

Bảng 4.13 Tổng hợp chi phí sản xuất ngô vụ đông năm 2014 – 2015 65

Trang 8

Bảng 4.14 Kết quả và hiệu quả kinh tế trong sản xuất ngô vụ đông của nông hộ 66

Bảng 4.15 Hiệu quả xã hội từ phát triển sản xuất cây ngô vụ đông trên địa bàn huyện Yên Dũng 68

Bảng 4.16 Phân tích SWOT trong phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng 70

Bảng 4.17 Đánh giá của nông hộ về những khó khăn trong phát triển sản xuất ngô vụ đông trên địa bàn huyện Yên Dũng 71

Bảng 4.18 Đánh giá của nông hộ về cơ chế chính sách phát triển sản xuất ngô vụ đông trên địa bàn huyện Yên Dũng 73

Bảng 4.19 Dòng thông tin trao đổi giữa các tác nhân trong sản xuất và tiêu thụ ngô vụ đông ở Yên Dũng 78

Bảng 4.20 Giá bán ngô tại các vụ thu hoạch 79

Bảng 4.21 Kinh nghiệm và việc áp dụng khoa học kỹ thuật tại các hộ 81

Bảng 4.22 Mức hỗ trợ vật tư cho phát triển sản xuất cây ngô vụ động 82

Bảng 4.23 Mức ảnh hưởng của trình độ học vấn đến phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng 82

Bảng 4.24 Đánh giá của cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật về ảnh hưởng của trình độ đến phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ 83

Bảng 4.25 Mức độ đáp ứng các nguồn lực của nông hộ trong sản xuất ngô vụ đông trên địa bàn huyện Yên Dũng 85

Bảng 4.26 Đánh giá về mức độ ảnh hưởng của các nguồn lực đến phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ 85

Bảng 4.27 Kế hoạch mở lớp bồi dưỡng kiến thức kinh tế- kỹ thuật-bảo quản chế biến cho hộ trồng ngô trong huyện 90

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Cơ cấu đất đai của huyện Yên Dũng năm 2014 28 Biểu đồ 3.2 Cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành kinh tế huyện Yên Dũng

năm 2015 33 Biểu đồ 4.1 Cơ cấu diện tích đất trồng ngô vụ động của huyện Yên Dũng

năm 2015 46 Biều đồ 4.2 Cơ cấu sản lượng ngô vụ đông ở các xã thuộc huyện Yên Dũng 50 Biểu đồ 4.3 Diện tích đất sản xuất cây trồng vụ đông của huyện Yên Dũng

năm 2015 59

Sơ đồ 4.1 Các kênh tập huấn kỹ thuật sản xuất ngô vụ đông của huyện Yên Dũng 57

Sơ đồ 4.2 Kênh tiêu thụ ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng 76

Sơ đồ 4.3 Yếu tố ảnh hưởng đến ra quyết định trong sản xuất ngô vụ đông của

nông hộ 84

Trang 10

DANH MỤC HỘP

Hộp 4.1 Hiệu quả từ việc sản xuất ngô vụ đông sớm 67 Hộp 4.2 Hiệu quả từ việc chuyển đổi đất sang trồng cây ngô vụ đông 67 Hộp 4.3 Sản xuất ngô vụ đông – tạo việc làm cho người lao động 69

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên Tác giả: Nguyễn Chính Văn

Tên luận văn: “Phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang”

Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Yên Dũng là huyện có nhiều tiềm năng, thế mạnh và truyền thống sản xuất vụ đông của tỉnh Bắc Giang, trong đó đặc biệt là cây ngô vụ đông Tuy nhiên, quá trình sản xuất ngô vụ đông của huyện Yên Dũng thời gian qua đã bộc lộ một số hạn chế như về năng suất, trình độ thâm canh ngô vụ đông của nông hộ, bên cạnh đó là thị trường đầu

ra cho sản phẩm không ổn định Tất cả những vấn đề trên chưa được giải quyết kịp thời

đã làm cho hiệu quả kinh tế trong sản xuất ngô vụ đông của nông hộ chưa cao Xuất phát từ thực tế đó, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang”

Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá thực trạng phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng thời gian qua, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng trong thời gian tới

Nghiên cứu đã hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ, đưa ra được các khái niệm có liên quan, nêu được vai trò, đặc điểm, nội dung nghiên cứu và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ; thực tiễn phát triển sản xuất ngô của Việt Nam trong thời gian qua và cụ thể ở một số tỉnh thành trong nước; trên cơ sở đó rút ra bài học kinh nghiệm vận dụng vào nghiên cứu phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang

Nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng thời gian qua Kết quả cho thấy: toàn huyện Yên Dũng có 14

xã tham gia trồng cây ngô vụ đông với tổng diện tích là 160,1 ha, năng suất ngô bình quân của các xã là 38,5 tạ/ha, sản lượng đạt 6.166 tạ (năm 2015) Công tác quy hoạch phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng còn mang tính tự phát, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, chưa có sự định hướng của các cấp, các ngành

và chính quyền địa phương Công khuyến nông tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật trong sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trong thời gian qua đã nhận được sự quan tâm của các cơ quan, tổ chức Tuy nhiên, do một bộ phận nông hộ có trình độ và nhận thức

Trang 12

còn hạn chế nên chưa mạnh dạn trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào trong sản xuất, chưa thay đổi được tư duy và cách làm mà vẫn canh tác theo hình thức truyền thống nên hiệu quả kinh tế trong sản xuất ngô ở các hộ này chưa cao Sự liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngô vụ đông của nông hộ tuy đã bước đầu nhận được sự quan tâm của các đơn vị, tổ chức nhưng kết quả vẫn còn ở mức thấp, sợi dây liên kết giữa hộ sản xuất và đơn vị thu mua, tiêu thụ còn yếu, thiếu tính bền vững và chặt chẽ Phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng cho thấy: chi phí sản xuất bình quân của nông hộ là 1,497 triệu đồng/sào, cho thu nhập hỗn hợp là 1,037 triệu đồng/sào, giá trị gia tăng bình quân là 1,157 triệu đồng/sào

Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ bao gồm các yếu tố khách quan như: cơ chế chính sách trong quy hoạch phát triển sản xuất ngô

vụ đông, các yếu tố về thị trường tiêu thụ, sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong sản xuất, dịch vụ giống và phân bón; nhóm các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ gồm: trình độ học vấn và nhận thức của nông hộ, nguồn lực của nông hộ

Để khắc phục những hạn chế trong phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng thời gian qua, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp, gồm: giải pháp trong công tác quy hoạch mở rộng diện tích trồng ngô vụ đông, các giải pháp nhằm nâng cao năng suất ngô vụ đông, giải pháp về thị trường và các giải pháp khác về

cơ sở hạ tầng, giao thông, thủy lợi, đất đai phục vụ sản xuất Việc áp dụng một cách đồng bộ hệ thống các giải pháp trên sẽ đem lại những tác động tích cực trong phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ nói riêng và phát triển sản xuất cây vụ đông nói chung trên địa bàn huyện Yên Dũng

Trang 13

THESIS ABSTRACT

Author’s name: Nguyen Chinh Van

Title of the study: Developing the winter corn crop production of farmer households in Yen Dung district, Bac Giang province

Major: Agricultural Economics Code: 60.62.01.15

Educational institution: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Yen Dung - a Bac Giang province’s district is known as an area with a lot of potentials, traditions and advantages in producing winter crops, especially the winter corn one However, the winter corn crop production in Yen Dung district has revealed many limitations in terms of th productivity, intensive farming capacity of the farmer households and unstable output market Those shortcomings have not been solved in a timely manner, followed by the low economic efficiency of winter corn crop All of those situational factors have raised the need for the implementation of the study namely “Developing the winter corn crop production of farmer households in Yen Dung district, Bac Giang province”

The general research objective is to evaluate the situation of farmer households’ winter corn crop production in the studied area; subsequently, to recommend several solutions

to improving the winter corn crop production of the local farmer households

The research has systemized the theoretical and empirical basis for improving the winter corn crop production by reviewing the related concepts, roles, characteristic and contents of research; factors affecting the development of winter corn crop production; the lessons on improving winter corn crop production of farmer households in Yen Dung district, Bac Giang province

The research results show that there are 14 towns producing winter corn crops in Yen Dung province with 160.1 ha in total area; 3.85 tons/ ha in average productivity; 616.6

kg in the total 2015 output The winter corn crop production in Yen Dung district is in small scale, spontaneous and scattered so the planning and orientation of the authorities prove to be necessary The recent training and technological transfer have drawn the attention of the local authorities and agricultural organizations Nevertheless, because of the farmers’ limited educational level and awareness, they are not willing to apply technical advances in production and adjust their farming methods This situation leads

to the low economic efficiency of the winter corn crop production Besides, the linkage between corn production and consumption, though being concerned by different organizations, reveals the lack of coherence and sustainability The analysis of the

Trang 14

winter corn crop production economic efficiency reveals that in a farmer household, the average cost of crop production is 1.497 million VND per sao1, given the mixed income

of 1.037 million VND per sao and the average added value of 1.157 million VND per sao

The major factors affecting the development of the winter corn crop production are (1) the objective factors such as planning winter corn crop production policies, consumption market, development of science and technology in seedling and fertilizer services; (2) the subjective factors, i.e the education and awareness level of farmer households and their resources

With an aim to addressing the aforementioned limitations, the research recommends the following solutions: (1) Solutions to bettering the planning of expanding winter corn crop area; (2) Solutions to improving winter corn crop productivity; (3) Solutions in terms of market, infrastructure, transportation facilities, soil and irrigation The synchronous implementation of those solutions is expected to bring back positive impacts on the winter crop production of Yen Dung district in general and particularly winter corn crop production

Trang 15

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trên thế giới, ngô là một trong những cây ngũ cốc quan trọng, diện tích đứng thứ 3 sau lúa mì và lúa nước; sản lượng thứ hai và năng suất cao nhất trong các cây ngũ cốc Năm 1961, diện tích ngô toàn thế giới đạt 105,5 triệu ha, năng suất 19,4 tạ/ha, sản lượng 205 triệu tấn, đến năm 2009, diện tích trồng ngô thế giới đạt khoảng 159,5 triệu ha, năng suất bình quân 51,3 tạ/ha, sản lượng 817,1 triệu tấn Trong đó Mỹ, Trung Quốc, Braxin là những nước đứng đầu về diện tích và sản lượng (Cục Trồng trọt, 2011a)

Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa và là cây màu quan trọng nhất được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, đa dạng

về mùa vụ gieo trồng và hệ thống canh tác Cây ngô không chỉ cung cấp lương thực cho người, vật nuôi mà còn là cây trồng xóa đói giảm nghèo tại các tỉnh có điều kiện kinh tế khó khăn Sản xuất ngô cả nước qua các năm không ngừng tăng về diện tích, năng suất, sản lượng: năm 2001 tổng diện tích ngô là 730.000

ha, đến năm 2005 đã tăng trên 1 triệu ha; năm 2010, diện tích ngô cả nước 1126,9 nghìn ha, năng suất 40,9 tạ/ha, sản lượng trên 4,6 triệu tấn (Cục Trồng trọt, 2011); năm 2014, tổng diện tích ngô cả nước 1.179 nghìn ha, năng suất 44 tạ/ha, sản lượng 5,19 triệu tấn (Cục Xúc tiến thương mại, 2015) Tuy vậy, cho đến nay sản xuất ngô ở nước ta phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, hàng năm nước ta vẫn phải nhập khẩu từ trên dới 1 triệu tấn ngô hạt

Yên Dũng là huyện có nhiều tiềm năng, thế mạnh và truyền thống sản xuất vụ đông của tỉnh Bắc Giang, trong đó đặc biệt là cây ngô vụ đông Trong những năm qua, cùng với những chuyển biến tích cực trong sản xuất nông nghiệp, sản xuất vụ đông nói chung và sản xuất ngô vụ đông nói riêng của huyện Yên Dũng cũng đã có những bước chuyển biến khả quan, dần dần khẳng định là một trong những lĩnh vực sản xuất quan trọng của ngành nông nghiệp Trong những năm gần đây, quy mô diện tích cây vụ đông của huyện chiếm một diện tích đáng kể với năng suất bình quân đạt 39 tạ/ha

Tuy nhiên, quá trình sản xuất ngô vụ đông của huyện thời gian qua cũng đã bộc lộ một số hạn chế như năng suất cây trồng còn thấp, trình độ thâm canh cây ngô

Trang 16

vụ đông của nông hộ nhìn chung chưa cao Bên cạnh đó là tình trạng giá bán sản phẩm ngô vụ đông không ổn định trong khi giá vật tư đầu vào ngày một tăng gây nhiều khó khăn cho nông hộ khi sản xuất Những vấn đề trên chưa được giải quyết kịp thời đã làm cho hiệu quả kinh tế trong sản xuất ngô vụ đông của nông hộ chưa cao và làm giảm động lực của hộ trong đầu tư phát triển sản xuất ngô vụ đông Xuất phát từ thực tế trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang” làm đề tài thạc sĩ

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng thời gian qua, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Hoạt động sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng;

- Chủ thể nghiên cứu: hộ nông dân trồng ngô vụ đông

Trang 17

khoảng thời gian từ năm 2013 – 2015; số liệu khảo sát thực trạng được điều tra vào vụ đông năm 2015 – 2016; các giải pháp dự kiến được áp dụng vào các vụ đông tiếp theo từ năm 2016

1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ có những vấn đề

lý luận và thực tiễn nào cần tìm hiểu?

- Thực trạng phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng thời gian qua như thế nào? Đã đạt được những kết quả gì trong sản xuất? Nông hộ trong quá trình sản xuất đã gặp phải những thuận lợi và khó khăn gì?

- Yếu tố nào ảnh hưởng đến phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng? Đâu là điểm mạnh, điểm yếu, đâu là cơ hội và thách thức đối với nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng trong sản xuất ngô vụ đông?

- Để phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng, trong thời gian tới, các cấp, các ngành, chính quyền địa phương và nông

hộ sản xuất cần phải thực hiện những giải pháp nào? Thứ tự ưu tiên thực hiện các giải pháp như thế nào?

1.5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

- Luận giải và phát triển cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ, làm rõ từng nội dung trong nghiên cứu phát triển sản xuất ngô vụ đông;

- Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng, phân tích làm rõ những thuận lợi và khó khăn trong phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng;

- Đề xuất những giải pháp phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng thời gian tới, trong đó chủ yếu tập trung vào những giải pháp phát triển về chất trong sản xuất ngô vụ đông của nông hộ;

- Những kết luận được đưa ra trong luận văn là cơ sở khoa học và thực tiễn cho cán bộ các cấp, các ngành, chính quyền địa phương và các nông hộ trồng ngô

vụ đông trên địa bàn huyện Yên Dũng đề ra những định hướng, chính sách, giải pháp phù hợp để phát triển sản xuất ngô vụ đông trên địa bàn trong thời gian tới

Trang 18

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Một số khái niệm

2.1.1.1 Khái niệm cây vụ đông

Cây vụ đông là loại cây thường được trồng vào mùa đông Đặc điểm của các loại cây trồng này là ưa cường độ ánh sáng yếu, nhiệt độ thấp và độ ẩm cao,

có những đặc điểm về kỹ thuật và kinh tế riêng

Đặc điểm về kỹ thuật:

- Hầu hết các cây vụ đông đều qua thời kỳ ươm giống, tức là các loại hạt giống đều phải được gieo ươm trước khi đưa ra ruộng sản xuất đại trà Thời gian gieo ươm của các loại cây này thường rất ngắn, trung bình từ 15 – 20 ngày

- Sản xuất cây vụ đông yêu cầu kỹ thuật cao, tỉ mỷ, đầu tư lao động và vốn nhiều

- Cây vụ đông thường bị nhiều sâu bệnh hại do trong thành phần của cây

vụ đông có chứa nhiều chất dinh dưỡng, thân lá mềm nên sâu bệnh hại dễ tấn công Sâu bệnh hại là một trong nhiều nguyên nhân làm giảm năng suất, chất lượng và giá trị hàng hóa của cây vụ đông, do đó, cần phải chú trọng đến việc ngăn ngừa và phòng trừ sâu bệnh hại cho cây vụ đông trong tất cả các thời kỳ và cần chú ý đến tính an toàn của sản phẩm khi sử dụng thuốc

- Một số cây rau vụ đông thích nghi với chế độ trồng xen, trồng gối và gieo lẫn

- Cây vụ đông yêu cầu về thời vụ rất nghiêm ngặt và chặt chẽ

Đặc điểm về kinh tế:

- Do có chu kỳ sản xuất ngắn nên trong quá trình sản xuất cần chú ý tới việc đầu tư các yếu tố đầu vào một cách hợp lý để đạt năng suất cao nhấ

- Cây vụ đông là ngành sản xuất hàng hóa có tỷ suất hàng hóa lớn

Do cây vụ đông thường có hàm lượng nước trong thân, lá cao, non, giòn,

dễ bị dập gẫy vì vậy trong các khâu từ trồng, chăm sóc, thu hoạch, vận chuyển phân phối đến người tiêu dùng cần phải được thực hiện theo một quy trình mang tính chuyên môn cao (Đinh Văn Đãn, 2002)

Trang 19

2.1.1.2 Khái niệm về sản xuất

Sản xuất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào?, sản xuất cho ai?, giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm? Trong sản xuất, con người đấu tranh với thiên nhiên để làm thay đổi những vật chất sẵn

có nhằm tạo ra lương thực, thực phẩm, quần áo, nhà ở và những của cải vật chất khác phục vụ cho cuộc sống Sản xuất là điều kiện tồn tại của mỗi xã hội, việc khai thác và tận dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong sản xuất, con người

là lực lượng sản xuất chủ yếu giữ vai trò quyết định Có nhiều quan điểm khác nhau về sản xuất, trong đó có hai quan điểm chính sau:

Theo quan điểm của hệ thống sản xuất vật chất (MPS), thì sản xuất là tạo

ra của cải vật chất, nên trong xã hội chỉ có hai ngành sản xuất là Nông nghiệp và Công nghiệp Theo hệ thống tài khoản quốc gia của Liên hiệp quốc, thì quan niệm về sản xuất rộng hơn Sản xuất là tạo ra của cải vật chất và dịch vụ, nên trong xã hội có ba ngành sản xuất là Nông nghiệp, Công nghiệp và dịch vụ Quá trình sản xuất bắt đầu từ khâu chuẩn bị các yếu tố đầu vào, để tiến hành sản xuất cho tới khi có các sản phẩm đủ tiêu chuẩn nhập kho

Theo quan điểm sản phẩm vật chất sản xuất, có thể định nghĩa sản xuất là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất đáp ứng nhu cầu cá nhân và xã hội

Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi thương mại Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề sau: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết để làm ra sản phẩm? (Đỗ Văn Ngọc, 2015)

Như vậy, sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào (tài nguyên hoặc các yếu tố sản xuất) để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ (đầu ra) Nếu giả thiết sản xuất sẽ diễn biến một cách có hệ thống với trình độ sử dụng đầu vào hợp lý, người ta mô tả mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra bằng một

Trang 20

Q = f (X1, X2, , Xn) Trong đó: Q biểu thị số lượng một loại sản phẩm nhất định

X1, X2, , Xn là lượng của một yếu tố đầu vào nào đó được sử dụng trong quá trình sản xuất

2.1.1.3 Khái niệm về phát triển sản xuất

Tăng trưởng là tăng về số lượng, còn phát triển không những tăng về số lượng mà còn phong phú hơn về chủng loại, chất lượng và phù hợp hơn về cơ cấu, phân bổ của cải Theo Đặng Trung Thuận và cs (1999) trong cuốn sách

“Mô hình hệ kinh tế, sinh thái phục vụ phát triển nông thôn bền vững”, thì phát triển được định nghĩa là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người bằng mở rộng sản xuất Phát triển cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế như phúc lợi xã hội, tuổi thọ…và những thay đổi về chất của nền kinh tế

Từ khái niệm về phát triển, có thể rút ra khái niệm về phát triển sản xuất: Phát triển sản xuất là quá trình vận động của đối tượng sản xuất tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, nó cũng bao hàm việc phát triển về cả mặt lượng và chất của sản xuất hàng hóa (Đỗ Văn Ngọc, 2015)

2.1.1.4 Phát triển sản xuất ngô

Theo quan điểm phát triển, phát triển sản xuất ngô là sự tăng lên về mặt số lượng, cải thiện về chất lượng sản phẩm, năng suất sản phẩm, sự hoàn thiện của

cả thị trường đầu vào và đầu ra Tuy nhiên phải phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội về sản phẩm ngô Đặng Trung Thuận và cs (1999)

Quan điểm phát triển sản xuất ngô trong giai đoạn hiện nay:

- Phát triển sản xuất ngô phải đảm bảo hiệu quả cả về kinh tế, xã hội + Về hiệu quả kinh tế: Phát triển sản xuất ngô nhằm đảm bảo sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm với giá thành hạ, chất lượng sản phẩm tăng, nâng cao năng suất lao động của người trồng ngô trên cơ sở đó nâng cao thu nhập cho nguời lao động

+ Hiệu quả xã hội: Phát triển sản xuất nhằm tạo việc làm, tận dụng lao động, tạo cơ hội tăng nguồn thu nhập, không ngừng cải thiện mức sống cho người nông dân

Trang 21

- Phát triển sản xuất ngô theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, phát triển sản xuất ngô phải theo hướng sản xuất hàng hóa Do đó, đi đôi với việc phát triển sản xuất cần phải chú

ý mở rộng thị trường, trong đó bao gồm cả thị trường đầu vào như thị trường vốn, lao động, vật tư và thị trường tiêu thụ sản phẩm (đầu ra) cùng hệ thống các dịch vụ khác như dịch vụ khoa học kỹ thuật…

- Phát triển sản xuất ngô phải tính đến việc khai thác lợi thế so sánh

Phát triển sản xuất ngô phải được đặt trong sự phát triển tổng thể kinh tế nói chung và phát triển sản xuất của vùng, địa phương vì vậy phát triển ngành nào, loại cây trồng nào, hoặc sản phẩm nào, tốc độ tăng trưởng bao nhiêu? Cần thiết phải tính đến lợi thế so sánh của nó, có như vậy mới phát huy được tiềm năng của vùng, của địa phương, mặt khác mới nâng cao được tính hiệu quả và bền vững của việc phát triển kinh tế

* Phát triển sản xuất ngô phải theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Sản xuất ngô không thể phát triển nếu chỉ dựa trên phát triển sản xuất truyền thống với quy mô nhỏ, kỹ thuật chăm sóc lạc hậu mà phải hướng tới sản xuất theo quy mô phù hợp với trình độ thâm canh cao, kỹ thuật công nghệ sản xuất tiên tiến như giống mới, phân bón… cho phép tăng năng suất tiết kiệm chi phí và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng trong nước và đủ tiêu chuẩn xuất khẩu (Đỗ Văn Ngọc, 2015)

2.1.1.5 Khái niệm về phát triển kinh tế

Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh

tế phát triển kinh tế được xem là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, nó là

sự kết hợp chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia

Quá trình biến đổi về lượng là sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh

tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trên đầu người Sự biến đổi về chất kinh tế

là sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế và sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội

Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc gia không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là việc xóa bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, sự tăng lên của tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ dân trí giáo dục của quần chúng nhân dân v.v…

Trang 22

Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất xã hội của quá trình phát triển

Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn

Trong phạm vi nền kinh tế quốc dân có dùng các chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), thu nhập quốc gia từ sản xuất (NI), thu nhập quốc gia tăng sử dụng (NDI) và tốc độ phát triển của chúng ta để đánh giá sự phát triển Như vậy, phát triển kinh tế là một khái niệm chung nhất

về sự chuyển biến của nền kinh tế từ một trạng thái thấp lên một trạng thái cao hơn Tuy nhiên có quan điểm cho rằng phát triển kinh tế cần chú trọng đến phát triển theo chiều rộng, chiều sâu (Phạm Vân Đình và cs., 1998)

* Phát triển kinh tế theo chiều rộng:

Phát triển kinh tế bằng cách tăng số lượng lao động, khai thác thêm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động trên

cơ sở kỹ thuật như trước Trong điều kiện một nước kinh tế chậm phát triển, những tiềm năng kinh tế chưa được khai thác và sử dụng hết, nhất là nhiều người lao động chưa có việc làm thì phát triển kinh tế theo chiều rộng là cần thiết và có

ý nghĩa quan trọng, nhưng đồng thời phải coi trọng phát triển kinh tế theo chiều sâu Tuy nhiên, phát triển kinh tế theo chiều rộng có những giới hạn, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội thấp Vì vậy, phương hướng cơ bản và lâu dài là phải chuyển sang phát triển kinh tế theo chiều sâu

* Phát triển kinh tế theo chiều sâu:

Phát triển kinh tế chủ yếu nhờ đổi mới thiết bị, áp dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao trình độ kĩ thuật, cải tiến tổ chức sản xuất và phân công lại lao động, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn nhân tài, vật lực hiện có Trong điều kiện hiện nay, những nhân tố phát triển theo chiều rộng đang cạn dần, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật trên thế giới ngày càng phát triển mạnh với những tiến bộ mới về điện tử và tin học, công nghệ mới, vật liệu mới, công nghệ sinh học đã thúc đẩy các nước coi trọng chuyển sang phát triển kinh tế theo chiều sâu Kết quả phát triển kinh tế theo chiều sâu được biểu hiện ở các chỉ tiêu: tăng hiệu quả kinh tế, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, giảm hàm lượng vật tư và tăng hàm lượng chất xám, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng hiệu suất của đồng vốn

Trang 23

2.1.2 Vai trò của phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ

- Giúp khai thác có hiệu quả hơn các nguồn lực

Việc tăng thêm vụ đông nói chung và ngô vụ đông nói riêng đã góp phần làm tăng hệ số sử dụng ruộng đất, tận dụng được nguồn lao động nông nhàn Năm 1998 cả nước đã sử dụng tương đương 1,997 triệu lao động cho ba tháng sản xuất vụ đông Ngoài ra, sản xuất vụ đông còn cho phép sử dụng có hiệu quả các tư liệu sản xuất khác và các cơ sở vật chất phục vụ sản xuất nông nghiệp của địa phương

- Giúp tăng thu nhập, góp phần cải thiện đời sống của nông dân

Với việc phát triển các cây trồng có giá trị kinh tế cao, tỷ suất hàng hóa lớn,

vụ đông đang dần trở thành vụ sản xuất chính và có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Vụ đông đã cung cấp cho thị trường một lượng nông sản hàng hóa có giá trị tiêu cùng cao, góp phần nâng cao thu nhập cho người nông dân

- Sản xuất vụ đông là nguồn cung cấp các loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao hơn cho con người mà hiếm có các sản phẩm thay thế Sản phẩm vụ đông còn làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và công nghiệp dược phẩm

- Góp phần thúc đẩy quá trình cải tạp và bồi dưỡng đất

Sản xuất cây vụ đông một mặt làm tiêu hao dinh dưỡng đất, mặt khác do đặc tính sinh học và đặc tính canh tác của cây vụ đông đã tạo nên sự kết hợp hài hòa giữa việc sử dụng đất với bồi dưỡng cải tạo đất lâu dài Cây vụ đông thường

là cây trồng cạn và được ứng dụng kỹ thuật canh tác của nghề làm vườn nên đã góp phần cải thiện chế độ dinh dưỡng của đất

Tóm lại, sản xuất vụ đông mang lại hiệu quả trên nhiều mặt: cung cấp lương thực, thực phẩm cho người và làm thức ăn cho gia súc, làm nguyên liệu cho chế biến, góp phần cải tạo và bồi dưỡng đất Đặc biệt, sản xuất vụ đông làm tăng thu nhập bằng tiền, tăng tích lũy và nâng cao mức sống của nông dân (Đỗ Văn Ngọc, 2015)

2.1.3 Đặc điểm của phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ

Theo nghiên cứu của các nhà khoa hoc, cây vụ đông có mặt ở nước ta từ hàng ngàn năm nay, ban đầu là các cây bản địa như khoai lang, ngô, đậu, đỗ… Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học nông nghiệp trong việc lai tạo, tuyển chọn các giống cây mới cũng như sự mở rộng giao lưu với các nước trên thế giới đã có nhiều giống cây mới được đưa vào sản xuất ở nước ta tạo nên tập đoàn cây vụ đông phong phú như hiện nay

Trang 24

Từ những năm 70 của thế kỷ trước, ở nước ta nhờ thành công tiến bộ khoa học kỹ thuật nên đã rút ngắn được thời gian sinh trưởng của một số loại cây trồng tạo điều kiện cơ cấu lại mùa vụ Từ đó trong nông nghiệp nước ta chính thức hình thành thêm một vụ sản xuất mới: vụ đông

Do đặc điểm thời tiết, khí hậu nến ở nước ta, duy nhất các tỉnh phía Bắc có điều kiện thuận lới cho việc sản xuất cây vụ đông ngoài hai vụ lúa

Tuy nhiên, để nghiên cứu phát triển cây vụ đông cần chú ý một số đặc điểm chủ yếu sau:

- Cây trồng vụ đông chủ yếu là các loại cây cạn và ngắn ngày có đặc tính sinh lý và sinh hóa khác nhau Hầu hết những loại cây trồng này có yêu cầu về thời vụ tương đối nghiêm ngặt và rất dễ bị các loại sâu bệnh hại Do đó, việc lựa chọn giống cây trồng cho phù hợp với chất đất của từng vùng và thích nghi với

sự biến động về điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu là hết sức cần thiết Bên cạnh đó, các hộ nông dân cần đầu tư thích đáng cho khâu lựa chọn giống tạo ra một tập đoàn giống đa dạng và phong phú đảm bảo cho nâng cao năng suất cũng như chất lượng của sản phẩm khi thu hoạch, đồng thời các khâu sản xuất phải làm đúng và kịp thời để không ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây vụ đông, không ảnh hưởng đến vụ sản xuất kế tiếp

- Vụ đông là vụ trồng nhiều loại cây khác nhau, do vậy, các hộ nông dân cần bố trí cơ cấu cây trồng sao cho phù hợp với sự đầu tư của mình nhằm tạo ra năng suất cao đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng và có sản phẩm cung ứng cho nhu cầu thị trường Đây là vấn đề quan trọng đối với các nông hộ sản xuất cây vụ đông Có như vậy hiệu quả sản xuất mới được tăng lên, do đó việc tăng tỷ trọng hàng hóa trong cơ cấu sản phẩm có ý nghĩa to lớn trong chiến lược phát triển ngành nông nghiệp thành ngành sản xuất hàng hóa

- Sản xuất vụ đông được tiến hành trong điều kiện thời tiết khí hậu lạnh, khô và diễn biến phức tạp Khí hậu lạnh và khô là điều kiện thuận lợi cho sản xuất vụ đông do hạn chế được sự phát triển của sâu bệnh hại, nhưng sự diễn biến phức tạp của thời tiết lại gây ra những rủi ro lớn cho sản xuất vụ đông Vì vậy, từng vùng, từng địa phương cần nắm rõ được quy luật thay đổi của khí hậu để có những giải pháp tốt, khắc phục một cách hữu hiệu nhất nhằm tránh được những thiệt hại khôn lường có thể xảy ra

Trang 25

- Sản phẩm cây vụ đông có hàm lượng dinh dưỡng cao, hàm lượng nước cao nên rất khó bảo quản Cũng do đặc điểm trên mà sản phẩm vụ đông sản xuất

ra phải bán ngay làm cho tỷ trọng sản xuất hàng hóa của sản phẩm vụ đông cao

Do đó, cần có biện pháp thu hoạch, bảo quản, chế biến và tiêu thụ kịp thời để vừa đảm bảo chất lượng sản phẩm, vừa tránh được rủi ro thị trường

- Cây vụ đông đòi hỏi đầu tư lớn về lao động, chi phí vật chất Do đó, để cây

vụ đông đạt năng suất, chất lượng cao, các nông hộ phải bố trí hợp lý tiền vốn, lao động cho vụ sản xuất này (Đỗ Văn Ngọc, 2015)

2.1.4 Nội dung nghiên cứu phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ 2.1.4.1 Phát triển sản xuất về lượng và chất

a Phát triển về lượng

Nguồn lực trong phát triển sản xuất ngô bao gồm các nguồn lực về đất đai, nguồn lực về vốn, lao động Nguồn lực về đất đai cho phát triển ngô phải xem xét trên các tiêu chí: diện tích canh tác, diện tích có khả năng sản xuất ngô và diện tích đã sản xuất ngô của hộ nông dân, bên cạnh đó cần đánh giá chất lượng nguồn đất đai phù hợp cho sản xuất ngô Nguồn lực về vốn được xem xét trên phương diện mức độ chi phí về giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho sản xuất ngô Nguồn lực về lao động bao gồm số lượng lao động phục vụ sản xuất ngô, chất lượng nguồn lao động (Đinh Văn Đãn, 2002)

Có thể nói phát triển về lượng của ngô tại Yên Dũng được thể hiện qua các số liệu và dẫn liệu của các đơn vị quản lý, chỉ đạo sản xuất cơ sở (Phòng NN&PTNT, Trạm Khuyến nông, Trạm BVTV, UBND xã ) về diện tích trồng ngô, cơ cấu cây trồng này trong bộ giống cây nông nghiệp của khu vực, số hộ trồng ngô

có khả năng khai thác phục vụ sản xuất ngô là điều quan trọng

Bên cạnh đó để thấy được tính hiệu quả hay chưa hiệu quả trong phương thức canh tác thì việc đánh giá kết quả, hiệu quả sản xuất, năng xuất, sản lượng,

Trang 26

giá trị sản xuất của cây ngô diễn biến qua các năm để thấy được giá trị kinh tế của cây ngô

Hiệu quả sản xuất ngô còn là sự thay đổi về chất: Bao gồm sự thay đổi tiến bộ về mặt xã hội: công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo và sự cải tạo, bảo vệ môi trường Như trên đã nói, phát triển là quá trình tăng cả về chất và lượng Trong quá trình phát triển ngô, sự thay đổi về chất chính là những thay đổi tiến

bộ trong việc giải quyết công ăn việc làm cho người dân và sự cải tạo, bảo về môi trường Sản xuất ngô là một chuỗi quá trình sản xuất từ chọn giống, trồng, chăm sóc, thu hoạch và tiêu thụ Trong mỗi khâu sản xuất đều cần một lực lượng lao động nhất định, việc mở rộng phát triển sản xuất ngô sẽ góp phần giải quyết công ăn việc làm cho nông dân trong thời gian nhàn rỗi Vì vậy việc phát triển sản xuất ngô cần được đánh giá tính hiệu quả không chỉ về mặt kinh tế mà còn cả

về hiệu quả xã hội và môi trường (Đinh Văn Đãn, 2002)

Có thể nói phát triển về chất của ngô tại Yên Dũng được thể hiện qua các

số liệu và dẫn liệu của các đơn vị quản lý, chỉ đạo sản xuất cơ sở (Phòng NN&PTNT, Trạm Khuyến nông, Trạm BVTV, UBND xã ) về hiệu quả kinh tế thu từ cây ngô, về thay đổi nhận thức và tư duy từ quảng canh sang thâm canh, ứng dụng các TBKT, về nhận thức và trách nhiệm của người trồng ngô trong việc tạo ra sản phẩm chất lượng, an toàn và bảo vệ môi trường canh tác (Phạm Vân Đình và cs., 1998)

2.1.4.2 Tổ chức sản xuất ngô

Để tổ chức sản xuất ngô có hiệu quả cần phát huy được vai trò của tất cả các loại hình sản xuất, trong đó chú trọng đến các hộ sản xuất, các hợp tác xã, các trang trại, đây là những loại hình chủ yếu cung cấp ngô phục vụ cho chế biến

Để gắn được vùng ngô với nhà máy chế biến cần tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa người sản xuất ngô với nhà máy thông qua hình thức hợp đồng, như hợp đồng về đầu tư ban đầu cho sản xuất ngô, hợp đồng mua ngô gắn với giá cả cụ thể và những biến động giá khi rủi ro xảy ra với người sản xuất ngô

Bên cạnh đó, muốn tổ chức sản xuất vùng ngô phục vụ tốt cho chế biến cần chú trọng đến chính sách vùng ngô Chính sách này cần phù hợp với từng loại hình sản xuất cụ thể, trong đó ưu tiên cho các chính sách giá thu mua ngô, chính sách đầu tư ban đầu (như chính sách về hỗ trợ cho vay vốn, phân bón, trợ giá giống, khai hoang, đầu tư cơ sở hạ tầng )

Trang 27

2.1.4.3 Sản xuất và cung ứng

Hoạt động sản xuất và cung ứng ngô có quan hệ chặt chẽ với nhau, việc cung ứng phải kịp thời, đầy đủ đáp ứng được công suất của nhà máy Nếu hoạt động cung ứng không kịp thời, đầy đủ sẽ dẫn đến tình trạng thiếu ngô cho sản xuất Đây cũng là một đặc điểm quan trọng trong mối quan hệ giữa cung ứng với sản xuất, khi đầu ra của nông nghiệp là đầu vào của công nghiệp

Về sản xuất: Vấn đề đặt ra là phải tăng năng suất, diện tích và chất lượng,

hạ giá thành sản xuất ngô

Về cung ứng: Cần giải quyết tốt khâu cung ứng nhanh, đúng, đủ và đảm bảo chất lượng tránh tình trạng lãng phí ngô, nâng cao hiệu quả sử dụng và chế biến ngô

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ 2.1.5.1 Các yếu tố khách quan

a Điều kiện tự nhiên

Trong 5 đặc điểm của nông nghiệp đã bao quát được tầm ảnh hưởng và tính nội tại của yếu tố tự nhiên trong nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp hàng hóa; đất trồng là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế; đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các cây trồng và vật nuôi; sản xuất nông nghiệp có tính mùa vụ; sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên; trong nền kinh

tế hiện đại, nông nghiệp trở thành sản xuất hàng hóa Ngô là một loại cây trồng nông nghiệp và có đầy đủ các đặc điểm trên trong quá trình sản xuất hàng hóa (Đỗ Văn Ngọc, 2015)

* Yếu tố thời tiết

Ngô là cây trồng vụ đông thường được gieo trồng vào tháng 8 đến tháng 9 trong năm, với nhiệt độc thích hơp cho cây phát triển là từ 150C – 200C, nhiệt độ thấp, không khí khô, gió bắc nhiều thuận lợi cho các cây vụ đông ưa nhiệt độ thấp phát như cây ngô Nếu thời tiết vụ đông ít rét và độ ẩm cao thì đó là điều kiện có tác động không tốt đến cây ngô Trong vài năm gần đây, diễn biến thời tiết có nhiều bất thường, rét thường đến muộn hơn, mưa đầu mùa khi ít khi nhiều,

có những năm hầu như không có rét, nhiệt độ cao, thời tiết nắng nóng nhưng cũng có năm khô hạn, rét đậm kéo dài, sương muối ảnh hưởng tới khối lượng và chất lượng cây ngô Chính vì vậy, yếu tố về thời tiết đã có tác động rất lớn đến năng suất và chất lượng cây ngô (Đỗ Văn Ngọc, 2015)

Trang 28

* Yếu tố đất đai

Đất đai là yếu tố thuộc tự nhiên quyết định đến quy mô và phương thức sản xuất Đặc điểm của đất đai quyết định đến mức độ thâm canh, kỹ thuật canh tác cũng như tổ chức lãnh thổ Trong quá trình sản xuất ngô thì yếu tố đất đai là đối tượng của môi trường như sản xuất ngô phải duy trì và nâng cao độ phì cho đất, phải sử dụng hợp lý và tiết kiệm đất (Viện Nghiên cứu Ngô, 2000)

* Nước

Nguồn nước ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng, phát triển và năng suất của ngô Bình quân một cây ngô trong vòng đời cần phải có 70 đến 100 lít nước để sinh trưởng và phát triển Nhu cầu về nước của cây ngô thay đổi theo từng thời kỳ sinh trưởng Vì vậy, việc đảm bảo nguồn nước tưới sẽ tạo điều kiện cho cây phát triển và nâng cao năng suất, chất lượng ngô trong quá trình sản xuất (Viện Nghiên cứu Ngô, 2000)

* Điều kiện tự nhiên khác

Ngô là loại cây trồng, sự tồn tại và phát triển của nó hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên khi có đủ năm yếu tố cơ bản của tự nhiên là nhiệt độ, ánh sáng, không khí và dinh dưỡng Các yếu tố này kết hợp chặt chẽ với nhau, cùng tác động trong một thể thống nhất và không thể thay thế nhau

* Vị trí địa lý, địa hình: một yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng đến phát triển sản xuất ngô là vị trí địa lý và địa hình Trong quá trình sản xuất hàng hóa, địa lý và địa hình xác định độ dốc của đất, điều này ảnh hưởng đến kỹ thuật canh tác và các biện pháp chống xói mòn trên đất dốc Sản xuất ngô ở vùng đồng bằng

sẽ hoàn toàn khác với vùng miền núi Đối với vùng miền núi và trung du, môi trường bị ảnh hưởng xấu do trong quá trình sản xuất ngô đã phá rừng làm ngô để kiến tạo đất đai với một quy mô lớn đủ để sản xuất hàng hóa Mặt khác do đặc điểm đất dốc sẽ dễ gây hiện tượng xói mòn đất do lũ quét hoặc các hiện tượng thiên tai khác

Vị trí địa lý và địa hình ảnh hưởng đến quá trình tiếp cận thông tin, KHKT, thị trường và khó khăn trong quá trình lưu thông hàng hóa Đây là yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất hàng hóa của bất kể loại hàng hóa nào Do đó trong quá trình phát triển sản xuất ngô thì yếu tố vị trí địa lý và địa hình rất quan trọng và ảnh hưởng lớn đến mục tiêu của quá trình sản xuất ngô, đó là đảm bảo sản xuất ngô và đảm bảo vấn đề về môi trường (Đỗ Văn Ngọc, 2015)

Trang 29

b Cơ chế chính sách của nhà nước

Cơ chế chính sách của Nhà nước tác động trực tiếp đến cung, cầu của một

số nông sản trên thị trường trong đó có ngô Đi đôi với việc kích thích sản xuất thông qua tác động của thị trường là chính sách giá, chính sách về tiêu thụ sản phẩm, chính sách về nghiên cứu một số giống mới Nhà nước cần chú ý đến việc đầu tư vốn, xây dựng các mạng lưới tiêu thụ cũng như xây dựng các nhà máy chế biến ngô

Chính sách quy hoạch phát triển vùng sản xuất: Việc quy hoạch phát triển vùng sản xuất cây ngô cần được bố trí tập trung gắn với các nhà máy chế biến, các thị trường tiêu thụ Đồng thời, lao động trồng và chăm sóc ngô cũng cần được quy hoạch tốt Mặt khác việc quy hoạch nâng cao trình độ đội ngũ lao động

và cải thiện cơ cấu đội ngũ là một yếu tố vô cùng quan trọng

Chính sách hỗ trợ về vốn: Khó khăn được đề cập nhiều nhất hiện nay đó là vốn và giá các yếu tố đầu vào cho sản xuất ngô Các hộ nông dân trồng ngô hiện nay do thiếu vốn tái sản xuất, thường xuyên trong tình trạng làm vụ sau trả nợ vụ trước, không có tiền mua giống, phân bón, trang trải sinh hoạt, vì thế họ phải nợ các đại lý, cơ sở thu mua ngô với lãi suất từ 2- 3%/tháng, chưa kể vật tư mua tại đại lý đều cao hơn rất nhiều so với giá thị trường Dường như thành quy luật, năm được mùa thì giá ngô rẻ, năm mất mùa thì giá tăng Song với cách sản xuất hiện tại thì giá có cao, người dân cũng không đủ trả nợ cũ Chưa kể nhiều yếu tố bất lợi khác do đầu ra phụ thuộc hoàn toàn vào các nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi thu mua nên bấp bênh

Chính sách phát triển hạ tầng nông thôn: Cơ sở hạ tầng yếu kém là một trong những khó khăn mà nhà nước cần có chính sách khắc phục Yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian bảo quản ngô, khả năng tăng vụ và giá bán của sản phẩm ngô sau thu hoạch Phát triển hệ thống giao thông cũng sẽ góp phần giảm

tỷ lệ hao hụt trong quá trình vận chuyển ngô

Các chính sách nghiên cưu phát triển giống ngô mới: cũng ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển sản xuất ngô, việc tạo ra các giống mới có khả năng chống chịu cao, năng suất chất lượng cao sẽ góp phần tăng năng suất ngô (Đinh Văn Đãn, 2002)

c Thị trường tiêu thụ

Trong nền kinh tế thị trường, cầu - cung là yếu tố quyết định đến sự ra đời và

Trang 30

phát triển một ngành sản xuất, hay một hàng hóa, dịch vụ nào đó Người sản xuất chỉ sản xuất những hàng hóa, dịch vụ mà thị trường có nhu cầu và xác định khả năng của mình khi đầu tư vào lĩnh vực, hàng hóa, dịch vụ nào đó mang lại lợi nhuận cao nhất, thông qua các thông tin và các tín hiệu giá cả phát ra từ thị trường Thị trường với các quy luật cầu - cung, cạnh tranh và quy luật giá trị, nó có tác động rất lớn đến các nhà sản xuất Thị trường ngô ở đây được đề cập đến cả hai yếu tố cầu - cung, có nghĩa là sức mua và sức sản xuất đều ảnh hưởng rất lớn đến phát triển sản xuất ngô, mất cân bằng một trong hai yếu tố đó thì sản xuất sẽ bất ổn

Yếu tố thị trường ảnh hưởng tới phát triển sản xuất ngô bao gồm thị trường tiêu thụ sản phẩm ngô, đối tượng thu mua sản phẩm ngô, phương thức tiêu thụ (trực tiếp, gián tiếp) Ngoài ra giá cả các vật tư đầu vào như phân bón, thuốc BVTV, giống cũng ảnh hưởng rất lớn tới việc đầu tư sản xuất ngô trong các

hộ nông dân Đầu tư vốn cho cây ngô có giá trị kinh tế đòi hỏi chi phí khá lớn về vật tư đầu vào Nếu giá cả vật tư đầu vào tăng cao sẽ làm cho tăng chi phí sản xuất dẫn đến một số hộ gia đình nghèo, không có vốn sản xuất sẽ không có điều kiện mở rộng, đầu tư sản xuất dẫn đến ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất

Để tạo thị trường tiêu thụ tốt, cần có sự tham gia của các doanh nghiệp về dịch vụ và thương mại để cung ứng vật tư và bao tiêu sản phẩm, đồng thời phát triển đa dạng hệ thống thu mua ngô thương phẩm từ đây giúp hộ trồng ngô không

bị thương lái ép giá

Thị trường tiêu thụ sản phẩm quy định quy mô, cơ cấu sản xuất ngô Các

hộ nông dân luôn căn cứ vào cung cầu và giá cả thị trường để điều chỉnh hành vi sản xuất ngô vụ đông cho phù hợp, nhằm hạn chế tối đa rủi ro do tác động của thị trường Mặc dù người nông dân thực tế không dự báo trước được thị trường tiêu thụ mà chỉ căn cứ vào vụ trước để tiếp tục phát triển cho vụ sau Việc chế biến các sản phẩm từ ngô tại khu vực còn hạn chế, nếu có giá thành còn cao so với sản phẩm ngô mà hộ sản xuất bán ra Vì vậy, việc nghiên cứu tìm kiếm, tiếp cận thị trường và xúc tiến thương mại cho sản phẩm ngô luôn đòi hỏi các nhà quản lý kinh tế phải quan tâm (Đỗ Văn Ngọc, 2015)

d Sự phát triển của khoa học công nghệ

Khoa học kỹ thuật là yếu tố quyết định trong phát triển nông nghiệp, theo các nghiên cứu KHKT góp phần tạo ra 30% giá trị của sản phẩm KHCN quyết định năng suất và chất lượng của sản phẩm, KHCN quyết định đến mức độ phát

Trang 31

triển hàng hóa và ứng dụng những tiến bộ KHKT trong nông nghiệp Trong sản xuất ngô, ảnh hưởng của KHCN là quan trọng nhất KHCN nhằm tìm ra những phương thức canh tác mới đảm bảo tăng năng suất, sản lượng cây trồng, đồng thời nhằm bảo vệ và làm giàu dinh dưỡng cho đất, tăng vụ thông qua thâm canh

và các biện pháp kỹ thuật khác KHCN ảnh hưởng lớn và quyết định trong bảo quản và chế biến sản phẩm KHCN phát triển thì bảo quản và chế biến các sản phẩm sẽ nâng giá trị thặng dư của sản phẩm cao hơn Hiện nay sản xuất ngô đã ứng dụng nhiều công nghệ mới vào sản xuất góp phần tăng năng suất ngô và bảo quản chế biến tốt hơn Trong đó có những công nghệ mới được sử dụng cho việc sản xuất ngô ở những vùng núi cao nơi địa hình hiểm trở và hệ thống giao thông chưa phát triển (Đỗ Văn Ngọc, 2015)

2.1.5.2 Các yếu tố chủ quan

a Trình độ và nhận thức của hộ sản xuất

Nếu đất đai là đối tượng sản xuất chính, điều kiện tự nhiên là yếu tố tác động trực tiếp thì nhận thức của người sản xuất là yếu tố quyết định trong phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá

Nhận thức ảnh hưởng đến cách thức tổ chức sản xuất: trong sản xuất những người có trình độ văn hóa và trình độ nghề nghiệp cao hơn thì khả năng tổ chức sản xuất tốt hơn Đối với người nông dân khi nhận thức còn thấp thì khả năng tổ chức sản xuất theo hướng hàng hóa là một yếu điểm gây cản trở lớn, hầu hết người dân có tư tưởng sản xuất nhỏ, manh mún theo điều kiện của gia đình về vốn và lao động, kinh nghiệm, dựa phần lớn vào thiên nhiên Nhận thức theo hướng sản xuất hàng hóa, đầu tư vốn lớn và sản xuất theo quy mô rất khó được tiếp cận bởi người dân có trình độ thấp Trong sản xuất ngô, nhận thức của người dân còn bị ảnh hưởng theo lối sản xuất du canh, du cư và chặt phá rừng để khai thác nguồn đất đai màu mỡ trong vài lần sản xuất đầu thay vì cải tạo đất

Tiếp cận và xử lý thông tin: trong quá trình sản xuất ngô, việc tiếp cận và

xử lý thông tin là rất quan trọng Cần trình độ nhận thức đủ để đồng thời tiếp cận, chọn lọc và xử lý thông tin và đưa ra các quyết định Nhận thức thấp sẽ hạn chế tất cả các bước trong quá trình này, ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất hàng hóa Nhận thức cao sẽ nâng cao tính hiệu quả của các lớp tập huấn, chuyển giao công nghệ và các lớp đào tạo ngắn hạn

Áp dụng khoa học kỹ thuật (KHKT): thực tiễn sản xuất đã được chứng

Trang 32

từ các kênh thông tin tốt hơn Khả năng áp dụng khoa học đó vào quá trình sản xuất tốt hơn Bên cạnh đó những người nhận thức thấp quá trình xử lý KHKT mới và sáng tạo đúc rút kinh nghiệm nhanh hơn Điều này ảnh hưởng tích cực tới quá trình sản xuất ngô Và điều ngược lại sẽ xảy ra nếu trình độ nhận thức của người dân thấp sẽ cản trở quá trình áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới Phát triển bền vững: phát triển được đặt ra trong quá trình sản xuất ngô Tuy nhiên nhận thức của nông dân đang ảnh hưởng đến quá trình phát triển bền vững Nội dung phát triển bền vững trong sản xuất ngô tức là phát triển cả 3 mặt: kinh tế, xã hội và môi trường Đạt được điều này thì nhận thức người dân phải ở mức cao Hầu hết người dân chưa hiểu được phát triển bền vững là gì và điều này ảnh hưởng đến quá trình phát triển sản xuất ngô (Đỗ Văn Ngọc, 2015)

b Tập quán sản xuất

Tập quán sản xuất ảnh hưởng rất lớn đến việc ứng dụng tiến bộ KHKT mới, áp dụng phương pháp canh tác mới Hiện nay, phần lớn trình độ nhận thức của người dân ở các vùng miền núi đặc biệt là vùng cao, vùng sâu, vùng xa còn thấp Vì vậy việc chuyển đổi phương thức canh tác cũ sang phương thức canh tác mới là một vấn đề khó khăn Hầu hết các phương pháp canh tác truyền thống là quảng canh ở các vùng núi, dựa vào tự nhiên là chủ yếu, canh tác theo hình thức quảng canh, đốt rừng và phá rừng làm nương rẫy diễn ra phổ biến, đặc biệt là những năm 1990 và 2000, điều này làm một lượng rừng bị biến mất Bên cạnh

đó, phương thức canh tác độc canh, không bón phân hoặc bón ít đã làm cho tầng đất mặt bị rửa trôi và bạc màu ảnh hưởng rất lớn đến diện tích đất sản xuất và môi trường, đồng thời làm tăng chi phí và tính không hiệu quả trong quá trình sản xuất (Đỗ Văn Ngọc, 2015)

Tập quán sản xuất ảnh hưởng đến quá trình sản xuất hàng hóa, sản xuất dựa trên tự nhiên, dựa vào điều kiện của hộ trong khi sản xuất hàng hóa phân công lao động diễn ra và quy mô sản xuất phải dựa vào nhu cầu và nguồn lực của

xã hội

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.2.1 Thực trạng phát triển sản xuất ngô vụ đông ở Việt Nam

2.2.1.1 Giai đoạn trước đổi mới

Giai đoạn trước đổi mới, sản xuất ngô ở Việt Nam còn nhỏ lẻ và phân tán, chủ yếu là tự cung tự cấp theo nhu cầu của hộ nông dân Tại một số vùng miền núi do khó khăn về sản xuất lúa nước nên nông dân phải trồng ngô làm lương

Trang 33

thực thay gạo Các giống ngô được trồng đều là các giống truyền thống của địa phương, giống cũ nên năng suất rất thấp Vào thập kỷ 60 của thế kỷ trước, diện tích ngô Việt Nam chưa đến 300 nghìn hecta, năng suất chỉ đạt trên 1 tấn/ha, đến đầu những năm 1980 cũng không cao hơn nhiều, chỉ ở mức 1,1 tấn/ha, sản lượng đạt khoảng hơn 400.000 tấn do vẫn trồng các giống ngô địa phương với kỹ thuật canh tác lạc hậu Từ giữa những năm 1980, nhờ hợp tác với Trung tâm Cải tạo Ngô và Lúa mỳ Quốc tế (CIMMYT), nhiều giống ngô cải tiến đã được đưa vào trồng góp phần nâng năng suất ngô lên gần 1,5 tấn/ha Tuy nhiên mức năng suất này vẫn còn thấp so với mức năng suất của các nước trong khu vực và trên thế giới (Cục Trồng trọt, 2011)

2.2.1.2 Giai đoạn sau đổi mới

Ngành sản xuất ngô nước ta thực sự có những bước tiến nhảy vọt từ đầu những năm 1990 đến nay, do việc tạo được các giống ngô lai và mở rộng diện tích trồng ngô lai trong sản xuất, kết hợp áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác theo nhu cầu của giống mới Năm 1991, diện tích trồng giống lai chưa đến 1% trên 430 nghìn hecta trồng ngô; năm 2006, giống lai đã chiếm khoảng 90% diện tích trong hơn 1 triệu hecta ngô cả nước, trong đó giống do các cơ quan nghiên cứu trong nước chọn tạo và sản xuất chiếm từ 58-60% thị phần trong nước, số còn lại là của các công ty liên doanh với nước ngoài Trong đó, giống ngô lai do Viện nghiên cứu ngô (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) tạo ra chiếm tới 90% lượng giống lai của Việt Nam Một số giống khá nổi bật như: LVN10, LVN99, LVN4, LVN9, VN8960, LVN885, LVN66… Các giống ngô này có năng suất và chất lượng tương đương các giống ngô của các công ty liên doanh với nước ngoài nhưng giá bán chỉ bằng 65-70%, góp phần tiết kiệm chi phí cho người trồng 80-90 tỷ đồng/năm Nhờ vậy, người trồng cũng đã chủ động được hạt giống cho sản xuất, không lệ thuộc vào giống nhập khẩu của nước ngoài như những năm trước (Cục Trồng trọt, 2011b)

Từ năm 2010, năng suất và sản lượng ngô của Việt Nam đã có những bước tiến nhảy vọt cao nhất từ trước đến nay Tốc độ tăng trưởng diện tích, năng suất

và sản lượng ngô của Việt Nam cao hơn nhiều lần của thế giới, lợi nhuận trồng ngô lai cao hơn hẳn các loại cây trồng khác Năm 2011, diện tích trồng ngô của

cả nước (trong đó 90% diện tích là ngô lai) đạt 1.126.000 ha, tổng sản lượng trên 83.541 tạ Năm 2012, diện tích đạt 1.170.900 ha, tổng sản lượng lên tới trên 87.288 tạ, cao nhất từ trước tới nay Các giống ngô lai của Việt Nam bước đầu cũng đã xuất bán sang các nước Bangladesh, Cam-pu-chia, Lào, Quảng Tây -Trung Quốc, Pakistan, Indonesia, Ấn Độ

Trang 34

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam qua một số năm

(1000 ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (Tạ)

% diện tích ngô lai

Cây ngô có khả năng thích ứng rộng, có thể được trồng nhiều vụ trong năm

và trồng ở hầu hết các địa phương trong cả nước Tiềm năng phát triển cây ngô ở nước ta là rất lớn cả về diện tích và thâm canh tăng năng suất Các giống ngô lai

có tiềm năng năng suất cao đã và đang được phát triển ở những vùng ngô trọng điểm, vùng thâm canh, có thuỷ lợi, những vùng đất tốt như: Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên để đạt năng suất cao Tuy nhiên, ở các tỉnh miền núi, những vùng khó khăn, canh tác chủ yếu nhờ nước trời, đất xấu, đầu tư thấp thì giống ngô thụ phấn tự do chiến ưu thế và chiếm một diện tích khá lớn Như vậy ta có thể nhận thấy sự tăng trưởng mạnh của ngành sản xuất ngô trong nước trong những năm gần đây Tuy nhiên, sự tăng trưởng đó lại thể hiện không đồng đều ở các vùng trong cả nước

Trang 35

Bảng 2.2 Tình hình phát triển sản xuất ngô ở các vùng năm 2014

Chỉ tiêu Các vùng

Diện tích (nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tạ)

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2014) Qua bảng 2.2 cho thấy rõ sự chênh lệch giữa các vùng về cả diện tích, năng suất và sản lượng: Vùng Trung du và miền núi phía Bắc tuy diện tích sản xuất ngô lớn nhất (443,4 nghìn ha) nhưng năng suất lại thấp nhất trong cả nước (84,5 tạ/ha) Ngược lại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long diện tích sản xuất nhỏ nhất (37,1 nghìn ha), nhưng lại cho năng suất cao nhất (81,8 tạ/ha) Sự trái ngược này

có thể được giải thích do nhiều nguyên nhân: Vùng Trung du và miền núi phía Bắc tuy có diện tích lớn song chủ yếu tập trung ở các vùng miền núi, diện tích rải rác nhỏ lẻ thuộc các vùng dân tộc ít người Họ không có đủ điều kiện đầu tư về vốn cũng như các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp mà chủ yếu canh tác theo lối truyền thống lạc hậu Cộng thêm vào đó là các điều kiện đất đai nghèo dinh dưỡng, khí hậu khắc nghiệt với hạn hán và rét kéo dài vào mùa đông, lượng mưa phân bố không đều trong năm dẫn tới năng suất thấp Tuy nhiên, với ưu thế về diện tích (chiếm 40,8% diện tích của cả nước) nên sản lượng chung của vùng vẫn cao hơn các vùng khác trong cả nước đạt trên 37.467 tạ chiếm 34,45% sản lượng của cả nước và trở thành một trong những vùng sản xuất ngô trọng điểm cung cấp lượng ngô lớn nhất cả nước Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có năng suất cao nhất đạt 81,8 tạ/ha bằng 127% năng suất của cả nước do vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi, phù hợp với yêu cầu sinh trưởng, phát triển của cây ngô như: nhiệt độ bình quân cao 25 - 30oC, nguồn ánh sáng dồi dào, hệ thống thủy lợi đảm bảo nhu cầu tưới tiêu, nền đất có độ phì nhiêu cao Tất cả các điều kiện tự nhiên kết hợp với các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp đã dẫn tới sự tăng vọt năng suất trung bình của vùng so với cả nước Một vùng cũng được xem là trọng điểm sản xuất ngô của cả nước phải kể đến Tây Nguyên với diện tích 242,1 nghìn ha đứng thứ 2 sau vùng Trung du và Miền núi phía Bắc và năng suất trung bình đạt 87,9 tạ/ha Hàng năm vùng cung cấp một lượng ngô lớn cho cả nước

Trang 36

2.2.2 Kinh nghiệm phát triển sản xuất ngô vụ đông của một số tỉnh thành trong nước

2.2.2.1 Tỉnh Vĩnh Phúc

Vĩnh Phúc - cửa ngõ Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội, thuộc vùng Châu thổ sông Hồng là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Phía Tây Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang; phía Đông Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên; phía Đông Nam giáp Thủ đô Hà Nội; phía Nam giáp tỉnh Hà Tây; phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ.Vĩnh Phúc nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm 24,20C, diện tích tự nhiên khoảng 1.371 km2, dân số gần 1, 2 triệu người Tỉnh có 152 xã, phường, thị trấn thuộc 9 đơn vị hành chính gồm: thành phố Vĩnh Yên (là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh), thị xã Phúc Yên

và 7 huyện là Mê Linh, Bình Xuyên, Yên Lạc, Vĩnh Tường, Tam Dương, Tam Đảo, Lập Thạch

Do đặc điểm vị trí địa lý nên nơi đây hình thành 3 vùng sinh thái rõ rệt: đồng bằng, trung du và miền núi, cùng với nguồn tài nguyên nước mặt, nước dưới đất tương đối rồi rào, do vậy hết sức thuận tiện cho phát triển nông lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp và du lịch - dịch vụ Một trong những ưu thế của Vĩnh Phúc so với các tỉnh xung quanh Hà Nội là có diện tích đất đồi khá lớn của vùng trung du,

có đặc tính cơ lý tốt thuận tiện cho việc xây dựng và phát triển công nghiệp Bảng 2.3 Tình hình sản xuất ngô của tỉnh Vĩnh Phúc (2010-2014)

( nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng ( nghìn tạ)

bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là công tác giống cây trồng mới như các giống lúa lai bồi tạp Sơn Thanh, HT1….,ngô lai LVN4, LVN10, MX2, VN2, P60… Với những thuận lợi trên dẫn đến năng suất, sản

Trang 37

lượng lương thực của Vĩnh Phúc tăng lên đáng kể Năm 2010 diện tích trồng ngô

là 17,8 nghìn ha, năng suất 81,79 tạ/ha, sản lượng đạt 1455,86 nghìn tạ, năm

2011 diện tích trồng ngô giảm xuống còn 16,9 nghìn ha, do gặp những yếu tố thời tiết bất lợi tuy nhiên năng suất vẫn đạt mức khá cao 81,3 tạ/ha và sản lượng là 1373,97 tạ Đến năm 2014 diện tích trồng ngô đã giảm xuống chỉ còn 15,1 nghìn ha, tuy nhiên năng suất vẫn tăng đạt mức 42,65 ta/ha, với sản lượng là 1248,02 nghìn tạ

Có thể nhận thấy năm 2011 sản xuất ngô bị chững lại, diện tích, năng suất cũng như sản lượng giảm mạnh, nguyên nhân là do vụ đông 2010 - 2011 chịu ảnh hưởng lớn từ những trận mưa to kéo dài làm hơn 20 nghìn ha rau màu bị ngập không có khả năng phục hồi trước thời điểm điều tra kết thúc diện tích của cục thống kê tỉnh, mặt khác một số diện tích đất chuyên nông nghiệp được chuyển sang làm đường giao thông, do vậy vụ đông 2011-2013 vẫn còn môt số diện tích bị

bỏ trống không gieo trồng Mặc dù diện tích gieo trồng suy giảm nhưng năng suất của cây ngô lại tăng lên, điều này có được là do Vĩnh Phúc đã tập trung áp dụng những biện pháp nhằm làm tăng năng suất cây ngô như tập trung nghiên cứu, trồng mới những giống ngô mới phù hợp với điều kiện địa phương, năng suất cao, chất lượng tốt; áp dụng máy móc-khoa học kĩ thuật vào sản xuất; tăng cường công tác khuyến nông, tập huấn đào tạo cho nông dân những kĩ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch sản phẩm Cùng với đó Vĩnh Phúc quy hoạch lại vùng trồng ngô vụ đông trên địa bàn tỉnh, do một lượng lớn diện tích gieo trồng bị thu hồi để phục vụ cho các dự án cao tốc, khu công nghiệp nên diện tích gieo trồng bị thu hẹp Vĩnh Phúc

đã có biện pháp giữ lại những nơi có điều kiện canh tác tốt, phù hợp với cây ngô

để quy hoạch thành những khu sản xuất cây ngô vụ đông nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho người nông dân

2.2.2.2 Tỉnh Bắc Ninh

Bắc Ninh là tỉnh có diện tích nhỏ nhất Việt Nam thuộc đồng bằng sông Hồng và nằm trên Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ Bắc Ninh tiếp giáp với vùng trung du Bắc bộ tại tỉnh Bắc Giang Thành phố Bắc Ninh nằm cách trung tâm Hà Nội 30 km về phía đông bắc phía tây và tây nam giáp thủ đô Hà Nội, phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía đông và đông nam giáp tỉnh Hải Dương, phía nam giáp tỉnh Hưng Yên Bắc Ninh cũng là 1 địa phương thực hiện tốt việc phát triển sản xuất các cây trồng vụ đông trong đó có cây ngô, tỉnh này đã có những giải pháp

cụ thể, hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy sản xuất ngô vụ đông trên địa bàn tỉnh

Trang 38

Bên cạnh hoạt động bán giống, gửi kho lạnh thì còn có một hoạt động khác

là thu gom và buôn bán ngô thương phẩm Việc khai thác thị trường ngô tại Bắc Ninh bắt đầu từ việc có một số người mang ngô đi các khắp chợ trên địa bàn tỉnh

để bán, và họ tìm hiểu xem những người mua ngô ở chợ từ đâu đến và họ đã tìm

ra các đối tác ở Hà Nội, nhờ đó đã mở rộng được thị trường ra các tỉnh lân cận, trong đó có chợ Hà Đông và một số nơi khác Từ đó hình thành nhóm thu gom tiêu thụ ngô tại tỉnh, khi quốc lộ 18 được mở rộng và nâng cấp Đó là điều kiện hết sức thuận lợi đối với việc vận chuyển bằng xe tải lớn, từ đây ngô đã được mở rộng tới miền Trung và miền Nam như Huế, đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, thông qua các chủ buôn tại thành phố Bắc Ninh

Ở đây cần nói thêm về vai trò kinh doanh cũng như tín dụng của các chủ ở Bắc Ninh Họ không chỉ thể hiện trong việc điều phối luân chuyển ngô cho toàn quốc,

mà còn ở hoạt động buôn bán với Trung Quốc Khi bán ngô ra thị trường, các chủ cũng phải đánh giá tiêu chuẩn, phân loại sản phẩm Nhưng do lượng vốn lưu động hạn chế nên khả năng bán trực tiếp chưa được nhiều Việc mở rộng đầu ra cho sản phẩm đã góp phần kích thích sản xuất trên địa bàn tỉnh qua đó khiến diện tích gieo trồng được chuyển đổi sang trồng ngô vụ đông được gia tăng, làm tăng sản lượng ngô góp phần phát triển kinh tế xã hội tỉnh (Nguyễn Thực Huy, 2009)

2.2.3 Một số bài học kinh nghiệm

Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ việc nghiên cứu thực tiễn phát triển sản xuất ngô của các tỉnh thành trong nước vận dụng vào nghiên cứu phát triển sản xuất ngô vụ đông của nông hộ trên địa bàn huyện Yên Dũng như sau:

- Giải pháp để nâng cao năng suất, sản lượng ngô cho nông hộ là áp dụng các giống ngô có năng suất cao, khả năng kháng sâu bệnh tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng Các giống ngô có năng suất cao, chống chịu tốt, kháng sâu bệnh là yếu tố quan trọng góp phần giảm ngày công lao động của nông

hộ và các chi phí khác trong quá trình sản xuất;

- Kinh nghiệm của các địa phương cũng cho thấy, để phát triển sản xuất ngô vụ đông cần đảm bảo đầy đủ các nguồn lực cần thiết cho quá trình sản xuất như cơ sở hạ tầng, trong đó chú trọng phát triển hệ thống thủy lợi nội đồng

- Phương thức sản xuất và canh tác trong sản xuất ngô vụ đông cũng là một yếu tố quan trọng nhằm mở rộng diện tích và tăng năng suất ngô cho nông hộ Trong quá trình sản xuất có thể áp dụng nhiều hình thức canh tác khác nhau;

Trang 39

PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vi trí địa lý

Yên Dũng là một huyện trung du miền núi nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bắc Giang, cách trung tâm tỉnh Bắc Giang khoảng 15 km.Với vị trí nằm liền kề với khu tam giác kinh tế phía Bắc và gần các trung tâm đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long, Thái Nguyên, Thành Phố Bắc Giang, Thành Phố Bắc Ninh, huyện Yên Dũng có lợi thế quan trọng trong giao lưu kinh tế, văn hoá với trung tâm này Diện tích đất tự nhiên 21.587,69 ha Yên Dũng là một huyện không lớn,

so với Bắc Giang chỉ chiếm 5,58% về diện tích và 10,7% về dân số, có 19 xã và

2 thị trấn, với số dân là 169.189 người Ranh giới hành chính của huyện:

­ Phía Đông Bắc giáp huyện Lục Nam và tỉnh Hải Dương

­ Phía Bắc giáp huyện Lạng Giang và thành phố Bắc Giang

­ Phía Tây giáp huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

­ Phía Nam giáp tỉnh Bắc Ninh

Trên địa bàn huyện có đường quốc lộ 1A cũ và mới chạy qua cùng với hệ thống giao thông đường thuỷ và đường sắt khá thuận lợi, có cơ hội giao lưu với thị trường bên ngoài, là tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong những năm tới

3.1.1.2 Địa hình

Địa hình của huyện đa dạng, dãy núi Nham Biền chạy qua các xã Nội Hoàng, Yên Lư, Tiền Phong, Nham Sơn, Tân Liễu và thị trấn Neo, có cao độ trên 20-230 m cắt ngang qua địa bàn huyện Phần lãnh thổ còn lại là địa hình bằng có

độ dốc dưới 30, cao độ phổ biến từ 2-15m, chiếm 72,9% tổng diện tích tự nhiên Tuỳ theo độ cao tuyệt đối và tình hình úng ngập trong mùa mưa, chia vùng đồng bằng của huyện thành 3 dạng địa hình khác nhau: Địa hình vàn cao là: 2.516,69

ha (17,81%); địa hình vàn là: 6.702,59 ha (347,43%); địa hình thấp là: 4.912,14

ha (34,76%)

Trang 40

3.1.1.3 Khí hậu, thuỷ văn

bố không đều giữa các tháng trong năm Mùa mưa bắt đầu từ tháng 3 đến tháng

11, tập trung nhiều vào các tháng 6, 7, 8; đây cũng là nguyên nhân gây ra úng lụt, các tháng có lượng mưa ít nhất là tháng 1, 2, 12

- Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, cao nhất là 85% vào tháng 8, thấp nhất là 77% vào tháng 12

Số giờ nắng trung bình trong năm là: 1.722 giờ

là nguyên nhân gây ra lũ lụt hàng năm vào mùa mưa bão đối với huyện

3.1.1.4 Tài nguyên rừng và đất đai

Yên Dũng không có các loại khoáng sản có giá trị và trữ lượng cao để khai thác theo quy mô công nghiệp Ngoài ra dọc theo sông Cầu và sông Thương

có khoáng sét để sản xuất nguyên vật liệu xây dựng như gạch, ngói…

Ngày đăng: 14/05/2021, 21:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Cục Trồng trọt (2011a). Báo cáo tổng kết năm 2010 và định hướng phát triển sản xuất ngô giai đoạn 2011 – 2015, Hà Nội tháng 3/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm 2010 và định hướng phát triển sản xuất ngô giai đoạn 2011 – 2015
Tác giả: Cục Trồng trọt
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
5. Cục Trồng trọt (2011b). Định hướng, giải pháp phát triển cây ngô vụ Xuân và vụ Đông các tỉnh phía Bắc, Hà Nội tháng 8/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng, giải pháp phát triển cây ngô vụ Xuân và vụ Đông các tỉnh phía Bắc
Tác giả: Cục Trồng trọt
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
9. Đỗ Văn Ngọc (2015). Phát triển sản xuất ngô hàng hóa gắn với bảo vệ môi trường ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Luận án Tiến sĩ, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển sản xuất ngô hàng hóa gắn với bảo vệ môi trường ở vùng Tây Bắc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Văn Ngọc
Nhà XB: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Năm: 2015
10. Nguyễn Thực Huy (2009). Tạp chí Kỹ thuật Nông nghiệp. (193) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kỹ thuật Nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thực Huy
Năm: 2009
11. Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung và công sự (1998). Kinh tế nông nghiệp. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
12. Phòng Lao động TBXH huyện Yên Dũng (2013). Hiệu quả xã hội từ phát triển sản xuất cây ngô vụ đông trên địa bàn huyện Yên Dũng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả xã hội từ phát triển sản xuất cây ngô vụ đông trên địa bàn huyện Yên Dũng
Tác giả: Phòng Lao động TBXH huyện Yên Dũng
Năm: 2013
14. Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Yên Dũng (2014). Báo cáo tình hình phát triển sản xuất ngô vụ động của huyện Yên Dũng năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình phát triển sản xuất ngô vụ động của huyện Yên Dũng năm 2014
Tác giả: Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Yên Dũng
Năm: 2014
21. Viện Nghiên cứu Ngô (2000). Quy trình kỹ thuật thâm canh và định hướng kinh tế kỹ thuật trong sản xuất ngô lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình kỹ thuật thâm canh và định hướng kinh tế kỹ thuật trong sản xuất ngô lai
Tác giả: Viện Nghiên cứu Ngô
Năm: 2000
22. Viện Nghiên cứu Ngô (2014). Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam qua một số năm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam qua một số năm
Tác giả: Viện Nghiên cứu Ngô
Năm: 2014
1. Chi cục Thống kê huyện Yên Dũng (2013). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội huyện Yên Dũng năm 2013 Khác
2. Chi cục Thống kê huyện Yên Dũng (2014). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội huyện Yên Dũng năm 2014 Khác
3. Chi cục Thống kê huyện Yên Dũng (2015). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội huyện Yên Dũng năm 2015 Khác
8. Đinh Văn Đãn (2002). Nghiên cứu phát triển cây vụ đông theo hướng sản xuất hàng hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Khác
13. Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Yên Dũng (2013). Báo cáo tình hình phát triển sản xuất ngô vụ động của huyện Yên Dũng năm 2013 Khác
15. Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Yên Dũng (2015). Báo cáo tình hình phát triển sản xuất ngô vụ động của huyện Yên Dũng năm 2015 Khác
16. Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Yên Dũng (2016). Báo cáo kế hoạch mở lớp bồi dưỡng kiến thức kinh tế- kỹ thuật-bảo quản chế biến cho hộ trồng ngô trong huyện Khác
17. Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Yên Dũng (2013). Báo cáo giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Yên Dũng năm 2013 Khác
18. Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Yên Dũng (2014). Báo cáo giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Yên Dũng năm 2014 Khác
19. Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Yên Dũng (2015). Báo cáo giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Yên Dũng năm 2015 Khác
20. UBND tỉnh Vĩnh Phúc (2014). Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w