1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, phát sinh gây hại của bệnh đốm nâu (neoscytalidium dimidiatum) hại thanh long và biện pháp phòng trừ bằng thuốc bảo vệ thực vật tại bình thuận

90 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, phát sinh gây hại của bệnh đốm nâu (neoscytalidium dimidiatum) hại thanh long và biện pháp phòng trừ bằng thuốc bảo vệ thực vật tại bình thuận
Tác giả Vũ Thị Kim Thanh
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Thị Vượng
Trường học Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Bảo vệ thực vật
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 12,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, phát sinh, gây hại của bệnh đốm nâu Neoscytalidium dimidiatum hại cây thanh long .... Hiệu lực của một số chế phẩm sinh học khi kết hợp với phân bón

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan một số kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn đã được sự đồng ý cho phép của chủ nhiệm đề tài và các thành viên trong nhóm nghiên cứu mà tôi

có tham gia Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Vũ Thị Kim Thanh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trìng học tập và nghiên cứu tại Viện Khoa Học Nông Nghiệp Việt Nam, tôi luôn nhận được sự quan tâm dạy dỗ và chỉ bảo ân cần của các thầy giáo,

cô giáo, sự ủng hộ, động viên và giúp đỡ nhiệt tình của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp

Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ sự chân thành cảm ơn tới PGS.TS Phạm Thị Vượng-nguyên Viện trưởng Viện BVTV, người hướng dẫn khoa học và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Đốc, Ban đào tạo Sau đại học, các Giáo

sư, Tiến sĩ hợp tác giảng dạy tại Ban Sau đại học, toàn thể cán bộ Viện Khoa Học Nông Nghiệp Việt Nam

Xin cảm ơn, Bộ môn Thuốc và cỏ dại, Bộ môn Bệnh cây của Viện Bảo Vệ Thực Vật, Chi cục Bảo Vệ Thực Vật Tỉnh Bình Thuận, Lãnh đạo các phòng ban và các hộ nông dân trồng thanh long ở hai huyện Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận Bắc của tỉnh Bình Thuận đã giúp đỡ tôi trong việc điều tra nghiên cứu để hoàn thành luận văn

Trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn, do điều kiện hạn chế về thời gian, nhân lực, tài chính và đối tượng nghiên cứu của luận văn còn mới nên không tránh khỏi thiếu sót Tôi kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy

cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Vũ Thị Kim Thanh

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu 2

1.2.2 Yêu cầu 2

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

1.4 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 3

Phần 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu 4

2.2 Một số kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài 4

2.2.1 Nghiên cứu về bệnh đốm nâu hại thanh long và biện pháp phòng trừ ở nước ngoài 5

2.2.2 Nghiên cứu về bệnh đốm nâu hại thanh long và biện pháp phòng trừ ở trong nước 12

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 26

3.1 Địa điểm nghiên cứu 26

3.2 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 26

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu 26

3.2.2 Vật liệu ngiên cứu 26

3.3 Nội dung nghiên cứu 27

Trang 5

3.3.1 Điều tra, xác định thành phần bệnh hại thanh long, vai trò của bệnh đốm nâu

(Neoscytalidium dimidiatum) trong sản xuất thanh long tại Bình Thuận 27

3.3.2 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, phát sinh, gây hại của bệnh đốm nâu (Neoscytalidium dimidiatum) hại thanh long 27

3.3.3 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh đốm nâu 27

3.4 Phương pháp nghiên cứu 28

3.4.1 Phương pháp điều tra, xác định thành phần bệnh hại thanh long, vai trò của bệnh đốm nâu trong sản xuất thanh long tại Bình Thuận 28

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, phát sinh, gây hại của bệnh đốm nâu (Neoscytalidium dimidiatum) hại thanh long 29

3.4.3 Biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh đốm nâu 3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 35

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 36

4.1 Thành phần bệnh hại và tác hại của bệnh đốm nâu (Neoscytalidium dimidiatum) trong sản xuất thanh long tại bình thuận 36

4.1.1 Thành phần và mức độ phổ biến của các bệnh hại chính trên cây thanh long 36

4.1.2 Tác hại của bệnh đốm nâu trên cây thanh long tại Bình Thuận 37

4.2 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, phát sinh, gây hại của bệnh đốm nâu (Neoscytalidium dimidiatum) hại cây thanh long 42

4.2.1 Đặc điểm sinh học của nấm Neoscytalidium dimidiatum 42

4.2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái đến sự phát sinh, gây hại của bệnh đốm nâu Neoscytalidium dimidiatum trên thanh long 45

4.3 Biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh đốm nâu 50

4.3.1 Hiệu quả phòng trừ bệnh đốm nâu thanh long của biện pháp kỹ thuật canh tác 50

4.3.2 Hiệu quả phòng trừ bệnh đốm nâu bằng thuốc BVTV hoá học 51

4.3.3 Hiệu quả phòng trừ bệnh đốm nâu(Neoscytalidium dimidiatum) bằng chế phẩm sinh học MXA- 8 59

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 66

5.1 Kết luận 66

5.2 Kiến nghị 66

Tài liệu tham khảo 68

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

BVTV : Bảo vệ thực vật

QCVN 01-38:2010/BNNPTNT : Quy chuẩn Việt Nam 01-38:2010/Bộ

nông nghiệp và phát triển nông thôn

TQND : Tập quán nông dân

TSXH : Tần suất xuất hiện

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Thành phần và mức độ phổ biến của bệnh hại trên cây thanh long tại

Tỉnh Bình Thuận năm 2015 36 Bảng 4.2 So sánh diễn biến bệnh đốm nâu trên địa bàn Tỉnh qua từng tháng trong

năm 2015 và cùng kỳ 2014 39 Bảng 4.3 Diện tích nhiễm bệnh đốm nâu 6 tháng đầu năm 2015 và 2016 40 Bảng 4.4 Ảnh hưởng của bệnh đốm nâu đến giá thành và chất lượng quả thanh long 42 Bảng 4.5 Sự phát triển của nấm Neoscytalidium dimidiatum trên các môi trường

dinh dưỡng khác nhau ở điều kiện 28oC 43 Bảng 4.6 Thí nghiệm ảnh hưởng của pH môi trường nuôi cấy đến sự phát triển và

sinh bào tử của nấm Neoscytalidium dimidiatum 44 Bảng 4.7 Ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ đến sự phát triển của nấm đốm trắng

hại thanh long Neoscytalidium dimidiatum 44 Bảng 4.8 Diễn biến bệnh đốm nâu hại cành thanh long tại hai huyện Hàm Thuận

Bắc và Hàm Thuận Nam 45 Bảng 4.9 Diễn biến bệnh đốm nâu trên quả qua 5 lứa trái vụ chính và trái vụ 46 Bảng 4.10 Diễn biến bệnh đốm nâu trên hai giống thanh long qua các tháng điều tra 47 Bảng 4.11 Diễn biến bệnh đốm nâu trên các năm tuổi thanh long qua các tháng

điều tra 49 Bảng 4.12 Ảnh hưởng của biện pháp tỉa cành, tạo tán đến bệnh đốm nâu trên

Thanh Long 50 Bảng 4.14 Hiệu quả của biện pháp cắt tỉa, vệ sinh vườn quả thanh long 51 Bảng 4.16 Hiệu lực của một số hoạt chất đối với sự phát triển của nấm

Neoscytalidium dimidiatum trên môi trường PDA 52 Bảng 4.17 Hiệu lực của một số thuốc bảo vệ thực vật sử dụng đơn lẻ và khi kết

hợp với phân bón lá trong phòng trừ bệnh đốm nâu hại cành thanh long 53 Bảng 4.18 Hiệu lực của một số thuốc bảo vệ thực vật sử dụng đơn lẻ và khi kết

hợp với phân bón lá trong phòng trừ bệnh đốm nâu hại quả thanh long 54Bảng 4.19 Hiệu lực của một số thuốc bảo vệ thực vật sử dụng đơn lẻ và khi kết

hợp với phân bón lá trong phòng trừ bệnh đốm nâu hại cành thanh long (Chính vụ, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận tháng 8-9/ 2015) 55

Trang 8

Bảng 4.20 Hiệu lực của một số thuốc bảo vệ thực vật sử dụng đơn lẻ và khi kết hợp

với phân bón lá trong phòng trừ bệnh đốm nâu hại quả thanh long (Chính vụ, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận, tháng 8-9/2015) 56 Bảng 4.21 Hiệu lực của một số thuốc bảo vệ thực vật sử dụng đơn lẻ và khi kết

hợp với phân phòng bón lá trong trừ bệnh đốm nâu hại cành thanh long (trái vụ, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận, tháng 1-2/2016) 57 Bảng 4.22 Hiệu lực của một số thuốc bảo vệ thực vật sử dụng đơn lẻ và khi kết

hợp với phân bón lá trong phòng trừ bệnh đốm nâu hại quả thanh long (trái vụ, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận, tháng 1-2/2016) 58 Bảng 4.23 Hiệu lực của chế phẩm MXA-8 khi kết hợp với phân bón lá và một số

hỗn hợp khác trong phòng trừ bệnh đốm nâu hại cành thanh long 59 Bảng 4.24 Hiệu lực của một số chế phẩm sinh học khi kết hợp với phân bón lá và

một số hỗn hợp khác trong phòng trừ bệnh đốm nâu hại quả thanh long trên một lứa quả 60 Bảng 4.25 Kết quả đánh giá năng suất và hiệu quả kinh tế mô hình ứng dụng chế

phẩm sinh học MXA-8 trên vườn thanh long ruột đỏ 6 năm tuổi (HTX Thanh long hữu cơ Phú Hội, Xã Hàm Hiệp, Huyện Hàm Thuận Bắc, Tỉnh Bình Thuận- Chính vụ ) 61 Bảng 4.26 Kết quả đánh giá năng suất và hiệu quả kinh tế mô hình ứng dụng chế

phẩm sinh học MXA-8 trên vườn thanh long ruột đỏ 6 năm tuổi (HTX Thanh long hữu cơ Phú Hội, Xã Hàm Hiệp, Huyện Hàm Thuận Bắc, Tỉnh Bình Thuận- trái vụ) 63 Bảng 4.27 Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học đến năng suất và hiệu quả kinh tế

trên Thanh Long ruột đỏ 2 năm tuổi (HTX Thanh long hữu cơ Phú Hội,

Xã Hàm Hiệp, Huyện Hàm Thuận Bắc, Tỉnh Bình Thuận- Chính vụ ) 64 Bảng 4.28 Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học đến năng suất và hiệu quả kinh tế

trên Thanh Long ruột đỏ 2 năm tuổi (HTX Thanh long hữu cơ Phú Hội,

Xã Hàm Hiệp, Huyện Hàm Thuận Bắc, Tỉnh Bình Thuận- trái vụ ) 65

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Hình ảnh một số bệnh hại quan trọng hại thanh long 37 Hình 4.2 Bệnh đốm nâu thanh long( Neoscytalidium dimidiatum) 38 Hình 4 3 Ảnh hưởng của điều kiện thời tiết đến bệnh đốm nâu hại thanh long

tại Bình Thuận, năm 2015 49 Hình 4.4 Hình ảnh thí nghiệm quản lý bệnh đốm nâu thanh long tại Bình Thuận 60 Hình 4.5 Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học MXA-8 năng suất và hiệu quả

kinh tế trên thanh long 62

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Vũ Thị Kim Thanh

Tên Luận văn: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, phát sinh gây hại của bệnh đốm nâu (Neoscytalidium dimidiatum) hại Thanh Long và biện pháp phòng trừ bằng thuốc bảo vệ thực vật tại Bình Thuận”

Phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là bệnh đốm nâu(Neoscytalidium dimidiatum)và biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh đốm nâu trên cây thanh long tại tỉnh Bình Thuận

Phương pháp điều tra thành phần bệnh hại và diễn biến được thực hiện theo Quy chuẩn Việt Nam QCVN 01-38:2010/BNNPTNT và phương pháp nghiên cứu Bảo vệ thực vật của Viện Bảo vệ thực vật Các đặc điểm sinh học, sinh thái học được nghiên cứu theo phương pháp nghiên cứu của Viện bảo vệ thực vật.Tất cả các thử nghiệm để ứng dụng trong phòng trừ sâu bệnh hại bằng biện pháp sinh học, hóa học các giải pháp khoa học trong thâm canh cây thanh long, được bố trí theo diện rộng, diện hẹp theo tiêu quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm thuốc trên đồng ruộng của Cục BVTV ban hành

Kết quả chính và kết luận

Có 7 loài bệnh gây hại trên thanh long tại tỉnh Bình Thuận, bệnh đốm nâu (N dimidiatum ) là bệnh phổ biến và gây hại quan trọng bậc nhất, bệnh gây hại trên tất cả các bộ phận của cây và gây ảnh hưởng tới chất lượng và giá thành của quả thanh long Bệnh phát sinh, phát triển và gây hại nghiêm trọng trong điều kiện nhiệt độ cao từ trên

28 - 350C và ẩm độ cao, lượng mưa lớn ở tỉnh Bình Thuận từ tháng 6-tháng 9 Các biện pháp cắt tỉa, bón phân theo quy trình có tác dụng hạn chế sự phát sinh, phát triển của bệnh đốm nâu Biện pháp sử dụng thuốc hóa học, kết hợp với chất bám dính, giảm ảnh

Trang 11

hưởng của mưa lớn đã có hiệu quả phòng trừ bệnh; Hoạt chất Mancozeb có hiệu lực phòng trừ cao nhất, khi kết hợp với TB888 và rỉ đường hiệu lực của thuốc đã tăng cao hơn so với việc sử dụng thuốc đơn thuần ở cả hai vụ chính và trái vụ Mô hình sử dụng chế phẩm sinh học ( 2 lần MXA-8/ lứa quả) trên thanh long ruột đỏ 6 năm tuổi và 2 năm tuổi: ở chính vụ và trái vụ đều có tỷ lệ thanh long loại 1đạt cao và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn đối chứng

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Vu Thi Kim Thanh

Thesis title: “Study some biological characteristics, harm incurred by brown spot (Neoscytalidium dimidiatum) on dragon fruit and damage control measures by pesticide in Binh Thuan”

Major: Plant protection Code: 60.62.01.12

Educational organization: Vietnam Academy of Agricultural sciences

Research objectives:

Study some biological characteristics, arisen issues and damage caused by brown spot (Neoscytalidium dimidiatum) on dragon fruit, hence recommend prevention measures via effectively using pesticide and restricting its negative impact on production so as to contribute instructive materials to building integrated, efficient and sustainable prevention measures

Materials and Methods

Subjects of research include brown spot (Neoscytalidium dimidiatum) on dragon fruits in Binh Thuan province and integrated control measures

The method of surveying the patterns/elements of the disease and its progress is applied in accordance with the QCVN 01-38:2010/BNNPTNT and the research methodology on plant protection by the Institute of plant protection Biological and ecological characteristics are studied in conformity with the research methodology on plant protection by the Institute of plant protection Experiments applied to prevent pest-causing damage by biological, chemical and scientific measures when planting dragon fruits were conducted on large scale or small scale as provided in the QCVN on basic standard for pesticide field trials issued by the Plant Protection Authority

Main findings and conclusions

There are 7 species harming dragon fruits in Binh Thuan province, of which brown spot (Neoscytalidium dimidiatum) is a popular disease and among the most harmful ones It damages all parts of the dragon fruit plants and negatively affects the quality as well as the price of dragon fruit products It occurs, develops and cause serious damage at the temperature of 28 - 350C and conditions of high humidity and rainfall in Binh Thuan from June to September Pruning and processed fertilizing measures could limit the growth and expansion of the disease Using chemicals in

Trang 13

combination with an adhesive could help reduce the impact of heavy rainfall and increase preventive effect Mancozeb is considered as the most effective in preventing the disease especially when combined with TB888 and efficacy, which is more effective than using itself in both main and off-season Models using probiotics (2 times MXA-8 / group performance) on the 6 year old and 2 year old red flesh dragon fruits in both season and off-season indicate more economically efficient rates and produce more type

I dragon fruits

Trang 14

PHẦN I MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Thanh long là một trong những cây ăn quả dễ trồng và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất so với các loại cây trồng khác ở nước ta, góp phần giải quyết việc làm và tạo thu nhập cao cho người trồng thanh long không chỉ riêng ở tỉnh Bình Thuận mà còn ở một số tỉnh khác trong cả nước Hiện nay, Thanh long được trồng tập trung chủ yếu ở 3 tỉnh tỉnh Bình Thuận, Long An và Tiền Giang, với tổng diện tích 33.628ha, trong đó tập trung chủ yếu ở tỉnh Bình Thuận 24.023 ha, Long An 5.408ha và Tiền Giang 4.200ha và rải rác ở một số tỉnh khác Tuy nhiên, trong những năm gần đây cây thanh long bị nhiều đối tượng sâu bệnh tấn công và gây hại như bệnh thán thư, thối quả, thối cành và đặc biệt là bệnh đốm nâu gây thiệt hại nghiêm trọng về năng suất, chất lượng quả, ảnh hưởng lớn đến tiêu thụ nội địa và xuất khẩu Tính đến đầu năm 2012, diện tích trồng thanh long của Long An là 1.478,52 ha; tỷ lệ vườn bị nhiễm bệnh chiếm khoảng 10% Đến giữa năm 2012, diện tính trồng thanh long đã lên đến 2.150 ha và có khoảng 860 ha bị nhiễm bệnh rải rác (chiếm 40%) Theo báo cáo chỉ đạo phòng chống bệnh đốm nâu hại thanh long mới nhất của Chi Cục bảo vệ thực vật tỉnh Bình Thuận 8/2014, diện tích trồng thanh long của Bình Thuận là 24.023 ha; diện tích bị nhiễm bệnh là 10.385 ha trong đó diện tích nhiễm nhẹ là 5.535 ha, trung bình là 3.566 ha và nặng là 1.284 ha

Bệnh đốm nâu do nấm Neoscytalidium dimidiatum (thuộc họ Botryosphaeriaceae; bộ Botryosphaeriales; lớp nấm túi Ascomycetes) gây ra Hiện tại tình trạng bệnh đang diễn biến rất phức tạp, lây lan nhanh trên diện rộng, phát triển mạnh vào mùa mưa Ở một số vườn thanh long mới trồng, bệnh đã xuất hiện trên cành với tỷ lệ bệnh dao động từ 1-5% Trên một số vườn thanh long kinh doanh, bệnh nặng hơn với tỷ lệ bệnh dao động từ 10-50% Bệnh phát triển mạnh trên cành non và trên quả gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất

và chất lượng sản phẩm Khi bị bệnh xâm nhập, vỏ quả thanh long bị các vết đốm gây mất mỹ quan và rất khó tiêu thụ Do diện tích trồng thanh long tăng nhanh chóng trong thời gian ngắn, đầu tư thâm canh cao nhưng không áp dụng hợp lý các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp theo hướng bền vững đã tạo điều kiện cho sâu bệnh gia tăng, đặc biệt là các bệnh hại trên thanh long phát sinh gây hại, lây lan nhanh rất khó kiểm soát Để có cơ sở nhằm kiểm soát và áp dụng các biện

Trang 15

pháp phòng trừ hợp lí bệnh đốm nâu (Neoscytalidium dimidiatum) hại thanh long tại Bình Thuận, việc tiến hành đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, phát sinh gây hại của bệnh đốm nâu (Neoscytalidium dimidiatum) hại Thanh Long và biện pháp phòng trừ bằng thuốc bảo vệ thực vật tại Bình Thuận” là rất cần thiết và cấp bách

1.2 MỤC TIÊU VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Mục tiêu

Nắm được một số đặc điểm sinh học, phát sinh, gây hại của bệnh đốm nâu (Neoscytalidium dimidiatum) trên thanh long tại Bình Thuận Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp phòng trừ bằng chế phẩm sinh học và hoá học theo hướng

sử dụng an toàn, hiệu quả thuốc bảo vệ thực vật, góp phần hạn chế sự gây hại, đảm bảo sản xuất thanh long an toàn và bền vững

Trang 16

1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nấm gây bệnh đốm nâu (Neoscytalidium dimidiatum) và một số bệnh hại trên cây thanh long

- Một số thuốc hoá học và chế phẩm sinh học phòng trừ bệnh đốm nâu (Neoscytalidium dimidiatum) hại thanh long tại Bình Thuận

1.4.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Đề tài được tiến hành từ năm tháng 3/2015 đến 12/ 2016

Đề tài được thực hiện tại tỉnh Bình Thuận và Viện BVTV

Trang 17

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU

Cây thanh long là cây dễ trồng, cho thu nhập cao, chính vì thế thời gian qua, diện tích trồng thanh long tăng nhanh, lan rộng ở nhiều tỉnh, thành phố Năm 2013, ngành rau quả nước ta đã gia nhập câu lạc bộ xuất khẩu "tỷ USD", trong đó thanh long đóng vai trò rất lớn trong xuất khẩu trái cây của Việt Nam Bên cạnh Việt Nam, một số quốc gia và vùng lãnh thổ cũng bắt đầu xúc tiến trồng thanh long, đáng chú ý, Ðài Loan đã có thể xử lý để thanh long ra hoa, trái suốt năm và Trung Quốc đã triển khai trồng khoảng 20 nghìn ha thanh long Mặt khác, việc mở rộng diện tích thanh long ồ ạt, không theo quy hoạch như hiện nay đã phát sinh nhiều rủi ro như: dịch bệnh phát tán nhanh, ảnh hưởng môi trường, ảnh hưởng chất lượng trái và cũng đồng nghĩa ảnh hưởng giá trị xuất khẩu Một trong các dịch bệnh quan trọng nhất đã và đang ảnh hưởng đến sản xuất thanh long của Việt Nam là bệnh đốm nâu/đốm trắng/bệnh tắc kè (N dimidiatum) đã bùng phát và gây hại nghiêm trọng trên cây thanh long tại tỉnh Bình Thuận, làm giảm năng suất, chất lượng của thanh Mặc dù, các cơ quan chức năng và nhân dân đã dùng các biện pháp phòng trừ bệnh hại này, nhưng hiệu quả phòng trừ không cao do chưa dùng đúng thuốc và phòng trừ chưa đúng thời điểm Điều đó đã làm giảm hiệu quả kinh tế, ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ người lao động Các công trình nghiên cứu về bệnh đốm nâu (N dimidiatum) trên cây thanh long ở nước ta chưa nhiều, chưa thực sự đầy đủ để làm cơ sở khoa học đề xuất các biện pháp phòng trừ chúng một cách

có hiệu quả

Xuất phát từ luận điểm cơ bản trên và yêu cầu của sản xuất hiện nay và lâu dài, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài theo trình tự qua các bước: Điều tra thu thập, xác định thành phần, vai trò gây hại của bệnh đốm nâu ở các vườn thanh long Đi sâu tìm hiểu đặc điểm sinh học và phát sinh, gây hại của bệnh đốm nâu dưới tác động của một số yếu tố sinh thái; Thử nghiệm và phát triển các biện pháp phòng chống có hiệu quả, thích hợp với điều kiện sinh thái vùng sản xuất thanh long tại Bình Thuận

2.2 MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Trang 18

2.2.1 Nghiên cứu về bệnh đốm nâu hại thanh long và biện pháp phòng trừ ở nước ngoài

2.2.1.1 Những nghiên cứu về bệnh hại cây thanh long

Cây Thanh long (Hylocereus spp.), còn gọi là Pitahaya, thuộc họ xương rồng leo (Cactaceae), có nguồn gốc từ vùng bán sa mạc, nhiệt đới nóng Châu Mỹ

la tin (Crane and Balerdi, 2005) Nhiều loài thanh long được tìm thấy tại Mexico, Colombia, CostaRica và Nicaragoa Cây thanh long được người Pháp trồng tại Việt nam từ khoảng ít nhất 100 năm nay (Luders and McMahon, 2006) Cây còn được trồng ở vùng sa mạc Isarael, phía Bắc Teritory và một số vùng bang Queensland, Úc Cây thanh long thường được trồng tại các vùng đất khô, đặc biệt những vùng đất giàu dinh dưỡng hữu cơ Hiện nay, cây thanh long được trồng nhiều tại các vùng nhiệt đới và rất nổi tiếng tại các nước vùng Đông Nam Á, đặc biệt là Việt nam, nước có thị trường xuất khẩu thanh long lớn so với các nước khác trong vùng Một số nước khác trồng thanh long như Đài Loan, Thái Lan, Phillippines, Srilanka và Malaysia

Tại Sarawak, các nghiên cứu cho thấy phần thân giả non của cây thường bị các loài vi khuẩn và nấm gây hại Quả thanh long thường bị nấm xâm nhiễm và gây hại cả ở giai đoạn vườn sản xuất và sau thu hoạch và là vấn đề về thương phẩm đối với người trồng thanh long Trên thân giả thanh long thường ghi nhận bệnh vi khuẩn do Erwinia spp., các bệnh nấm do Phomopsis sp., Pestalotiopsis sp., Cladosporium sp., Fusarium spp., Colletotrichum gloeosporioides, Botryosphaeria sp và Curvularia spp gây ra Trên quả thanh long ngoài vườn sản xuất thường ghi nhận sự gây hại của các loài nấm như Colletotrichum gloeosporioides, Curvularia spp và ở giai đoạn sau thu hoạch các loài nấm như Colletotrichum, Curvularia và Fusarium gây hại (By Dr Lily Eng)

Các nhà khoa học trên thế giới đã cho thấy cây thanh long ruột đỏ và ruột vàng bị nhiều loại VSV ký sinh, tấn công và gây hại Các nghiên cứu từ lâu đã xác định rằng một số loài nấm gây một số bệnh cho thanh long như: thán thư và thối Alternaria sp., Ascochyta sp., Aspergillus sp., Bipolaris cactivora, Botryosphaeria dothidae, Capnodium sp., Colletotrichum gloeosporioides, Dothiorella sp., Fusarium sp., Gloeosporium agaves, Macssonina agaves, Phytophthora sp và Sphaceloma sp (FAO, 2004; Sijam et al., 2008; Paull, 2007; Taba et al., 2006, 2007) Tại Peninsular, Malaysia, một số nấm như Bipolaris sp., Botryosphaeria sp., C gloeosporoides và Monilinia sp., đã tấn công và gây các

Trang 19

bệnh thối thân và quả, đốm nâu quả thanh long, gây thiệt hại từ 15 đến 30% năng suất và chất lượng thương phẩm (Masyahit et al., 2008, 2009) Các kiến thức cơ bản về sinh học của tác nhân gây bệnh như sự sinh trưởng, phát triển liên quan đến các yếu tố môi trường rất hữu ích trong sự phát triển chiến lược bền vững quản lý dịch hại (Xu et al., 2001) Việc biết được chính xác các điều kiện môi trường khi VSV xâm nhiễm và phát triển thành dịch hại là rất cần thiết để xác định rõ thời gian phun thuốc phòng trừ bệnh và tiến hành các phương pháp khác nhau để phòng trừ bệnh (Percich et al., 1997) Masayahit et al (2009) cho rằng các loài nấm Bipolaris sp., Botryosphaeria sp., C gloeosporoides và Monilinia

sp bị hạn chế phát triển và gây hại khi nhiệt độ ở 350C, pH ≤ 4 hoặc ≥ 10 Ở nồng độ muối 100 ppm, nấm Bipolaris sp gây bệnh thối thân và thối quả không thể phát triển sau 4 đến 6 ngày thí nghiệm Trong điều kiện phòng thí nghiệm, vi khuẩn Bukholderia multivoral có tác dụng hạn chế sự sinh trưởng của nấm Bipolaris sp., Botryosphaeria sp., C gloeosporoides, trong khi nấm Monilinia sp

bị hạn chế do vi khuẩn B multivoral và B cepacia Những kết quả này giúp cho việc kết hợp các yếu tố môi trường có thay đổi sẽ hạn chế được tác hại của bệnh trên vườn sản xuất và trong bảo quản quả thanh long sau thu hoạch

2.2.1.2 Những nghiên cứu về bệnh đốm nâu hại Thanh long

* Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sự tồn tại của nấm

Tháng 6 năm 2011, một loại bệnh mới trên thanh long có triệu chứng là các đốm nhỏ màu nâu đỏ nhạt, dạng đều trên thân được phát hiện tại thành phố Conghua và Yunfu, tỉnh Quảng Đông, nơi là một trong những tỉnh trồng nhiều thanh long tại Trung Quốc Vết bệnh tiếp tục phát triển và hình thành nên những đốm lớn trên thân Kết quả phân lập, sử dụng phương pháp sinh học phân tử để xác định nguyên nhân gây bệnh, lây bệnh trở lại theo nguyên tắc Koch đã chứng minh rằng bệnh mới tại Conghua và Yunfu do nấm Neoscytalidium dimidiatum gây ra (Lan and He, 2012)

Nấm Neoscytalidium dimidiatum, còn có các tên khác như Fusicoccum dimidiatum, Torula dimidiata, Scytalidium dimidiatum, Hendersonula toruloidea (Crous et al., 2006)

Hiện nay trên thế giới có rất ít báo cáo ghi nhận nấm N dimidiatum tấn công trên cây thanh long Gần đây, theo báo cáo của Chuang et al (2012) tại Đài Loan vào năm 2009-2010 đã bắt đầu xuất hiện bệnh loét (canker) do nấm N dimidiatum gây ra trên cả hai loài Hylocereus undatus và H polyrhizus Britt &

Trang 20

Rose Kết quả phân lập trên môi trường PDA, quan sát hình thái và sử dụng kỹ thuật PCR khuếch đại với mồi ITS1 và ITS4 và giải trình tự genne cho kết quả là nấm gây hại đồng hình đến 99% với Neoscytalidium dimidiatum (Penz.) Crous & Slipper (GenBank Accession No.GQ330903)

Ở Trung Quốc, thanh long (Hylocereus undatus) được trồng phổ biến ở Quảng Đông, Quảng Tây và Hải Nam Trong năm 2011, tại thành phố Conghua

và Yunfu, tỉnh Quảng Đông xuất hiện một loại bệnh hại mới trên cành thanh long đã được ghi nhận với một số đặc điểm như: cành bị bệnh có nhiều đốm tròn nhỏ có màu nâu nhạt đỏ Vết bệnh phát triển rất nhanh chóng và gây loét rộng khắp cành Triệu chứng bệnh cũng tương tự như trường hợp bệnh loét (N dimidiatum) đã từng xảy ra ở Đài Loan Tương tự, tác nhân gây hại cũng được xác định là do N dimidiatum (Penz.) Crous & Slippers gây ra Kết quả kiểm chứng tác nhân bằng quy trình Koch cũng cho triệu chứng giống như triệu chứng ở điều kiện tự nhiên và đây là trường hợp được ghi nhận đầu tiên tại Trung Quốc đại lục (Lan et al., 2012)

Ở Đài Loan, Chuang et al (2012) ghi nhận, bệnh loét tấn công hầu hết các vùng trồng thanh long tập trung như Pintung, Chiayi và Chunghua và lây lan rất nhanh Đây cũng là báo cáo ghi nhận đầu tiên bệnh loét tấn công trên cành thanh long ở Đài Loan Triệu chứng trên bẹ là những đốm tròn nhỏ màu trắng, vết bệnh trũng thấp so với bề mặt bẹ, về sau vết bệnh có màu cam và phát triển gây loét bẹ

và có khi gây thối nhũn nếu bị bệnh tấn công nặng

* Những nghiên cứu về ký chủ

Nấm N dimidiatum là loài nấm ký sinh có phân bố địa lý rộng lớn và có thể gây hại cho nhiều loại cây trồng khác nhau trên thế giới Nấm này có thể gây hại trên Albizia lebbeck, Delonix regia, Ficus carica, Ficus spp., Peltophorum petrocarpum và Thespesia populena ở Oman (Elshafie and Ba-Omar, 2001); trên Arbutus, Castanea, Citrus, Ficus, Juglans, Musa, Populus, Prunus, Rhus, Sequoiadendron ở Mỹ (Farr et al., 1989); và trên Mangifera indica ở Niger (Reckhaus, 1987)

Điều kiện bất lợi về thời tiết sẽ tăng khả năng gây bệnh của nấm và các triệu chứng bệnh thường xuất hiện như héo cành, chết cành, ung thư, chảy gôm

và chết cây (Punithalingam and Waterson, 1970; Reckhaus, 1987; Elshafie and Ba-Omar, 2001) Abdullah et al., (2012) kết luận rằng, cùng với nấm Lasiodiplodia theobromae, nấm N dimidiatum là nguyên nhân gây bệnh chết

Trang 21

cành nho tại Iraq Polizzi et al (2008) đã điều tra bệnh trên cây cam ghép năm

2008 cho thấy 12% trong tổng số 1.500 cây điều tra bị các bệnh cháy chồi non, ung thư và chảy gôm tại Sicily, Italia Kết quả giám định cho thấy nấm N dimidiatum là nguyên nhân gây các bệnh nói trên

Mohd et al (2013) cũng đã ghi nhận bệnh loét cành (canker) đã tấn công và gây hại thanh long (Hylocereus polyrhizus) ở 10 bang ở Malaysia 2008-2009 với

tỷ lệ gây hại 2-42% Tương tự như ở Đài Loan và Trung Quốc, nấm N dimidiatum cũng được chứng minh là tác nhân gây bệnh loét cành thanh long

* Điều kiện phát sinh, phát triển

Ở điều kiện lây nhiễm nhân tạo bằng cách phun dung dịch nấm (103 bào tử /ml) lên đoạn cành thanh long và đặt trong hộp nhựa ở 300C, ẩm độ 100% trong 2 ngày Triệu chứng do lây nhiễm nhân tạo đã xuất hiện sau 6-14 ngày sau khi lây

và đối chứng (khử trùng và phun nước cất) không biểu hiện

Theo Pavlic et al (2008), các yếu tố gây stress làm gia tăng mức độ nghiêm trọng của bệnh gây ra bởi Neoscytalidium dimidiatum và triệu chứng bao gồm: héo cành, chết ngọn, loét, chảy nhựa và gây chết cây (Punithalingam và Waterson, 1970; Reckhaus, 1987; Elshafie and Ba-Omar, 2001) Gần đây, Neoscytalidium novaehollandiae ở Đông Bắc Australia được mô tả như là nấm

ký sinh trên một số chủng cây trồng như Adansonia gibbosa, Synchronica acacia, Crotalaria medicaginea, Grevillia agrifolia

Theo báo cáo của Hassan et al (2009), ở Iraq vào những tháng nóng nhất (tháng sáu, tháng bảy và tháng tám) giai đoạn 2001-2010, bệnh loét (N dimidiatum) tấn công hàng ngàn cây vỏ mỏng hoặc mịn và cây cảnh như dâu tằm, tro, óc chó, quả sung, sycamore, táo, mơ và dương

2.2.1.3 Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ

a Biện pháp canh tác

+ Về kỹ thuật cắt tỉa và quản lý cây

Cắt tỉa là một trong những biện pháp tác động cơ giới được áp dụng phổ biến trên các loại cây ăn quả nói chung Việc sử dụng biện pháp cắt tỉa, cưa đốn

là để loại trừ ưu thế ngọn của các chồi bên phát triển theo hướng có lợi về năng suất và chất lượng quả, đảm bảo sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây cân đối, điều chỉnh thời gian cho lộc quả sang năm, hạn chế sâu bệnh hại, nâng cao năng suất, mẫu mã quả, quản lý được kích thước của cây luôn ở độ lớn vừa phải tiện lợi cho thu hái

Trang 22

Cắt tỉa sau thu hoạch là biện pháp rất quan trọng có tác dụng tích cực trong việc điều hòa sự ra quả hàng năm và duy trì chế độ ánh sáng thích hợp cho các vườn trồng mật độ dày; 3) Tỉa quả: là việc tỉa bớt quả ngay sau rụng quả sinh lý đợt 2 (cuối tháng 5 đầu tháng 6) để điều chỉnh số lượng quả một cách hợp lý, giúp cho quả đạt được độ lớn tối đa và duy trì năng suất năm sau Ngoài ra việc cắt tỉa vẫn phải tiến hành thường xuyên làm cho cây luôn giữ được thông thoáng cần thiết, ngăn ngừa sâu bệnh (Lữ Minh Hùng, 2000)

Bón phân theo chuẩn đoán dinh dưỡng lá dựa trên 4 nguyên tắc: chức năng của lá, qui luật bù hoàn giảm dần, chức năng của các nguyên tố dinh dưỡng và sự đối kháng ion Từ 4 nguyên tắc này (Emblenton and Reuther,973) đã xây dựng được tiêu chuẩn về thành phần dinh dưỡng lá gồm 5 cấp: Thiếu, thấp, tối thích, cao và thừa Dựa vào thang tiêu chuẩn này người ta thường xuyên phân tích lá để biết được có cần hay không cần phải bón phân

Sử dụng phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng

Trong những vườn cây ăn quả có mạch nước ngầm cao, hoặc những thời kỳ khô hạn, bộ rễ hoạt động kém do vậy bón phân vào đất hiệu quả sẽ giảm, việc bón phân qua lá là cực kỳ hiệu quả để ngăn ngừa sự thiếu hụt dinh dưỡng, bổ sung dinh dưỡng kịp thời các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng cho cây Hiện nay việc kết hợp giữa bón phân gốc, phun phân qua lá, phân vi lượng, chất điều hòa sinh trưởng đã mang lại hiệu quả rất cao trong sản xuất cây ăn quả nói chung và cây Thanh Long nói riêng ở Trung Quốc, Đài Loan, Phân bón lá, đặc biệt là những loại phân có chứa các nguyên tố vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng như GA3 có tác dụng làm tăng khả năng ra hoa, đậu quả, chất lượng nếu phun vào những thời kỳ thích hợp

Trang 23

Trong những năm qua, sự ra đời của phân bón lá đã giúp cây trồng ngăn ngừa được bệnh của cây ngay trong giai đoạn cây đang ở giai đoạn sinh trưởng Việc bổ sung Mn cho cam Washington Navel dưới dạng MnSO4 có tác dụng cải thiện màu sắc, độ mọng nước, tỷ lệ đường/ axit, hàm lượng vitaminC của quả mặc dù năng suất không tăng( Emblenton et.al, 1988) Lợi ích đầu tiên của phun GA3 là có thể điều chỉnh được mùa thu hoạch theo yêu cầu của thị trường và kéo dài thời gian bảo quản sau thu hoạch (Davies, 1994)

Sử dụng phân hữu cơ và vi sinh vật có lợi

Phân hữu cơ từ lâu đã được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp và giá trị ích lợi mang lại của nó được đánh giá rất cao trước khi có sự ra đời của các loại phân vô cơ Phân hữu cơ được hiểu một cách đơn giản như là những chất

bổ sung cho cây trồng, ngoài ra chúng còn có tác dụng làm giảm các mầm bệnh

do sự gia tăng hoạt động của vi sinh vật đất giúp cây mạnh khoẻ hơn, gia tăng năng suất và kiễm soát được dịch hại Việc sử dụng các chất hữu cơ trong nền sản xuất nông nghiệp cho mục đích như là phân bón và quản lý hệ vi sinh vật đất

có lợi đã được ghi nhận từ những năm 1930 Ở các nước tiên tiến, người ta rất quan tâm đến vấn đề sử dụng nguồn nguyên vật liệu có thể tái tạo lại và phục vụ trở lại sản xuất, đặc biệt là đối với nền sản xuất nông nghiệp Theo Ferreira et al (1991), John et al (2005) đã sử dụng chế phẩm Trichoderma thương mại như: Biotricho®, Vinevax® và ECO 77®, T atroviride (USPP-T1 và USPP-T2) và Bacillus subtilis quản lý hiệu quả bệnh loét cành, quả do nấm Neofusicoccum australe gây ra trên nho ở cả điều kiện in vitro và ngoài đồng Ngoài ra, nghiên cứu tiếp theo của Schmidt et al (2001) cũng cho rằng dòng vi khuẩn Erwinia herbicola đã đột biến cũng có khả năng kiễm soát Neofusicoccum australe ở điều kiện phòng thí nghiệm

b Chất kích kháng

Tính kích kháng (induced resistance) là dạng kháng liên quan đến tình trạng sinh lý của khả năng phòng vệ tăng thêm của cây được gợi do kích thích từ môi trường, trong đó tiềm lực phòng vệ bẩm sinh của cây trở nên hữu hiệu giúp chúng chống lại sự tấn công tiếp sau của mầm bệnh (van Loon et al., 1998) Có 2 dạng kích kháng cảm ứng đó là kích kháng lưu dẫn (Systemic Acquired Resistance-SAR) và kích kháng cảm ứng lưu dẫn SAR có thể được hiểu một cách đơn giản là sử dụng các tác nhân hữu sinh (nấm, vi khuẩn) và vô sinh (các

Trang 24

loại hoá chất tổng hợp nhân tạo không phải là thuốc trừ dịch hại- salicylic acid, ) có khả năng kích thích cây trồng kháng lại nhiều bệnh hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau (Noyes and Hancock, 1981; Tu, 1989; Dann et al., 1997; Reglinski, 1997; Toal and Jones, 1999; Chandra et al., 2001; Bakker, 2003) Trong số các tác nhân đó thì hoá chất là tác nhân dễ sử dụng nhất (Kessmann et al., 1994) vì chúng ít nhạy cảm với môi trường và dễ tìm (Steiner and Schonbeck, 1995) Biện pháp sử dụng hoá chất không độc hại cho môi trường và con người mà vẫn có thể bảo vệ được cây trồng chống lại bệnh hại, đây là biện pháp có nhiều triển vọng và dự đoán trong tương lai có thể thay thế 10-15% thuốc phòng trừ dịch hại cây trồng (Urech, 1999)

Cây móng tay có axit p-hydroxybenzoic có tính chất kháng sinh, axit gentisic C7H6O4, axit ferulic C10H10O4, axit p-cumaric C9H8O3, axit sinapic C11H12O5, axit cafeic C9H8O4, ngoài ra còn có scopoletin C10H8O4 Dịch trích từ cây móng tay có tác dụng kháng sinh mạnh, chống lại một số nấm và vi khuẩn gây hại cho cây trồng (Ishiguro et al., 2000; Little et al., 1948; Wang et al., 2009)

Belly and Sali Antocan (2011) ghi nhận việc sử dụng dịch trích hoa móng tay có khả năng phòng trừ bệnh xì mủ thân trên sầu riêng

d Sử dụng thuốc BVTV

Việc sử dụng thuốc diệt nấm lưu dẫn đã được chứng minh có hiệu quả trong quản lý Botryosphaeria trên nhiều cây ăn quả (Lonsdale and Kotze 1993; Li et al., 1995; Brown-Rytlewski and McManus, 2000; Ma et al., 2001b, 2001c) Phun các loại thuốc như: kresoxim-methyl, benomyl, hoặc trifloxystrobin làm giảm triệu chứng bệnh trên cây táo (Brown-Rytlewski and McManus, 2000)

Trang 25

Theo ghi nhận của Lonsdale and Kotze (1993) cho thấy cây được xử lý với Fosetyl-Al đã kích thích gia tăng mức độ phytoalexins trong cây từ đó làm tăng tính phòng vệ cho cây trồng (Percival, 2001) Ngoài ra, thuốc trừ nấm bệnh triazole cũng có tác dụng tương tự khi phun cho cây

Theo Elliott and Edmonds (2008) đã đánh giá 15 loại thuốc trừ nấm bao gồm: Tebuject (Tebuconazole), Fungisol (Debacarb, carbendazim), Cleary (Carbendazim), Arbotect (Thiabendizole), Alamo (Propiconazole), Phyton (Copper), Cambistat (Paclobutrazole), Rovral (Iprodione), Bayleton (Triadimefon), NuCop (Copper), Cinnamite (Cinnamaldehyde), Kaligreen (Potassium bicarbonate), Subdue Maxx (Mefanoxam), M-pede (Potassium salts

of fatty acids), Compass (Strobilurin) Trong đó, các loại thuốc Tebuject, Fungisol, Cleary, Arbotect, Alamo, Phyton và Cambistat có hiệu lực rất cao, kiểm soát hoàn toàn nấm Fusicoccum arbuti trong điều kiện in vitro Riêng ở điều kiện ngoài đồng, BioSerum TM có hiệu quả quản lý bệnh cao nhất so với các nghiệm thức thí nghiệm khác và so với đối chứng (không xử lý thuốc) Hiệu quả giảm bệnh đạt 50% ở năm đầu tiên và giảm đến 70% vào năm thứ 2 và chỉ có 3% diện tích bề mặt chủng nhân tạo là xuất hiện triệu chứng bệnh, trong khi đó các nghiệm thức còn lại có tỷ lệ diện tích bề mặt nhiễm cao hơn là Alamo (7%), Fungisol (13%), Phyton (21%) và đối chứng (17%)

2.2.2 Nghiên cứu về bệnh đốm nâu hại thanh long và biện pháp phòng trừ ở trong nước

Cây thanh long được du nhập và trồng ở nước ta từ hơn 100 năm nay (Luders and McMahon, 2006) Ở Việt nam, thanh long được trồng chủ yếu tại Bình Thuận, Long An và Tiền Giang Bên cạnh đó có một số tỉnh bắt đầu phát triển thanh long như Đồng Nai và một số tỉnh Miền Bắc… Thanh long ở nước

ta hầu hết là thanh long ruột trắng, một số diện tích đang phát triển thanh long ruột đỏ có nguồn từ Thái Lan, Đài Loan…

Thanh long ruột trắng là trái cây có thế mạnh của Việt Nam vì Việt Nam hiện là một trong nước có diện tích trồng lớn nhất ở Châu Á và chúng ta có nhiều kinh nghiệm về kỹ thuật trồng Thanh long được xuất khẩu sang thị trường châu Á, Âu và Bắc Mỹ Trong đó thị trường Châu Á chiếm tỷ lệ quan trọng nhất Đài Loan, Singapore, Trung Quốc, Hồng Kông là những thị trường quan trọng nhất ở châu Á Thị trường châu Âu là nơi Thanh long chịu sự cạnh tranh từ Thanh long ruột đỏ đến từ Nam Mỹ và một số nơi khác Đây là thị trường truyền thống của thanh long ruột đỏ

Trang 26

Cây thanh long đang được trồng phổ biến ở các tỉnh phía nam và trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu Vì thế diện tích trồng thanh long không ngừng phát triển Mặc dù thanh long là loại cây tương đối ít sâu bệnh, nhưng do việc mở rộng diện tích, đầu tư thâm canh nên trong những năm gần đây dịch bệnh đã phát sinh và gây hại đáng kể cho sản xuất thanh long Trong số các bệnh gây hại thì bệnh thán thư, bệnh thối thân, bệnh đốm nâu cành là các bệnh nguy hiểm nhất

2.2.2.1 Đặc điểm và điều kiện phát sinh gây hại của một số bệnh hại trên cây thanh long

a Bệnh thán thư

Bệnh thán thư là bệnh gây hại quan trọng trên thanh long, bệnh gây tổn thất đến năng suất và phẩm chất của quả, đặc biệt là trên cây mang quả vào mùa mưa bão Bệnh tấn công lên thân, cành, nụ hoa và trên quả ở các giai đoạn khác nhau

và đặc biệt nhiễm nặng nhất là giai đoạn sau thu hoạch

Tác nhân gây bệnh: Bệnh do nấm Colletotrichum gloeosporioides gây ra Trên cành: thân cành thối mềm có màu vàng sáng sau đó chuyền sang nâu, vết thối thường bắt đầu từ phần ngọn hoặc ngay mắt (gai) của cành thanh long vào trong Trên hoa: Bệnh tấn công cả phần nụ hoa, làm cho nụ hoa bị biến màu nâu, sau đó rụng rất nhanh Trên quả: ở điều kiện ngoài đồng bệnh ít khi tấn công trên quả, tuy nhiên mầm bệnh hiện diện trên vỏ quả lúc còn xanh đến ở giai đoạn quả lớn sắp thu hoạch hoặc đã thu hoạch và tồn trữ, bệnh xuất hiện phát triển với những đốm nhỏ ban đầu màu vàng, sau đó lớn dần và chuyển sang màu nâu đen, vết bệnh lớn dần và làm thành từng vòng tròn, trên vết bệnh có nhiều bào tử màu nâu đen

Đặc điểm phát sinh và phát triển của bệnh: Bệnh thán thư phát triển mạnh

ở điều kiện ẩm ướt và nhiệt độ không khí cao

Nguồn bệnh và sự lây lan:

Trong điều kiện ngoài đồng: Bệnh thường tồn tại trong tàn dư thực vật có trên vườn hoặc trên cành, quả bệnh Bệnh phát sinh, phát triển mạnh ở điều kiện ẩm

độ cao nhất là vào mùa mưa Bệnh phát triển và gây hại nặng ở giai đoạn ra hoa, quả sắp thu hoạch và sau thu hoạch Bào tử nấm có thể lan truyền qua gió, vật liệu cây trồng hay qua nguồn nước

Trang 27

Biện pháp quản lý:

Đối với những vườn trồng mới, nên thiết kế vườn, đắp mô cao đảm bảo tránh bị ngập úng trong mùa mưa Sau thu hoạch nên tỉa cành (cành sâu bệnh, cành vô hiệu,…) và tiêu huỷ triệt để nguồn bệnh nhằm tạo thông thoáng và hạn chế mầm bệnh lây lan cho vườn cây Nên phun thuốc trừ nấm gốc đồng sau khi cắt tỉa để sát trùng vết thương và làm giảm áp lực mầm bệnh Tăng cường bón vôi cho cây thanh long 1-2 lần/năm (vào đầu và cuối mùa mưa) Bón phân cân đối và hợp lý Nên bón nhiều phân hữu cơ hoai mục và nấm đối kháng Trichoderma nhằm giúp cây sinh trưởng mạnh, chống chịu tốt với bệnh

Có thể phun thuốc kích kháng như Salicylic acid (Bion, Exin) 15 ngày trước khi thu hoạch Sử dụng thuốc trừ nấm gốc đồng để phun ngừa và phun luân phiên thuốc gốc Propineb (Antracol), Difenoconazole/+ propiconazole (Score, Tilt super), Azoxystrobin + Difenoconazole (Amistar top), Diniconazole (Sumi eight) định kỳ 7-10 ngày/lần tùy theo áp lực bệnh

Phòng trừ trên diện rộng: Đây là loại nấm đa ký chủ và gây hại quan trọng, khó quản lý, để phòng trị hiệu quả nên thực hiện phòng trị đồng loạt trên diện rộng, đồng loạt thì sẽ mang lại hiệu quả cao

b Bệnh thối cành

Do vi khuẩn Erwinia sp hay Xanthomonas sp gây ra Vi khuẩn này xâm nhập vào trong cây thông qua các vết thương cơ giới trên cây như vết cắn phá của côn trùng hay vết thương trong quá trình chăm sóc cây Sau khi xâm nhập vào bên trong cây vi khuẩn bắt đầu gây hại, nhân nhanh số lượng và lan rộng dần ra xung quanh, làm cho phần mô mềm của nhánh đang từ mầu xanh chuyển dần sang mầu vàng, mọng nước và thối rữa, có mùi hôi rất khó ngửi (gần giống như mùi hôi thối của bệnh vi khuẩn gây thối nhũn trên cây bắp cải, trên cây hành) Vết bệnh tiếp tục kéo dài lên phía trên và cả xuống phía dưới vị trí bị xâm nhiễm Nếu không phun xịt thuốc kịp thời, lại gặp điều kiện thời tiết mưa,

ẩm bệnh có thể hủy hoại hoàn toàn phần mô mềm của nhánh đó, sau đó phần

mô mềm bị chết khô đi, chỉ còn lại phần “lõi gỗ” bên trong của nhánh, “lõi gỗ” này sẽ khô dần rồi mục gẫy Những cây bị hại nặng sẽ cho năng suất rất thấp do cho ít quả, quả nhỏ Nếu bị hại nặng nhìn vườn thanh long thấy xơ xác và có thể không cho thu họach trái

Trang 28

c Bệnh thối hoa

Đây là một bệnh do vi khuẩn gây ra Loài vi khuẩn này xâm nhập vào trong cây thông qua các vết thương cơ giới trên cây như vết cắn phá của một số loài kiến, sâu hại, vết thương do nhà vườn, những vết thương do cắt tỉa nhánh hàng năm, vết xây xát do các nhánh cọ quệt vào nhau, vết gãy nứt tự nhiên của những nhánh do mang quá nhiều trái nặng kéo xuống

Tác nhân gây hại: Do vi khuẩn Erwinia chrysanthemi và nấm Rhizopus sp (tác nhân thứ cấp) gây ra

Triệu chứng bệnh: Bệnh thường xuyên xuất hiện ở giai đoạn cây ra nụ, sau khi hoa nở và ở giai đoạn quả non Triệu chứng ban đầu là nụ hoặc quả có vết bị thối nhũn, có bọt khí nổi trên bề mặt vết bệnh, bên trên vết bệnh có xuất hiện lớp

tơ nấm màu đen và lan rộng rất nhanh chóng làm thối cả quả, có mùi hôi và có dịch nhựa màu nâu vàng chảy ra Ngoài ra, bệnh cũng có thể tấn công và gây thối nhũn đầu trái

Đặc điểm phát sinh và phát triển của bệnh:

Bệnh gây hại quanh năm, phát triển mạnh trong điều kiện mùa mưa (ẩm độ cao và nhiệt độ khoảng 25- 35 0 C

Nguồn bệnh và sự lây lan:

Bệnh thường tồn tại trong xác bả thực vật có trên vườn hoặc trên cành, bông bị bệnh không được tiêu hủy Bệnh có thể lây lan thông qua gió, mưa bão, côn trùng gây vết thương Những vườn bị bệnh thối quả thường thấy xuất hiện rất nhiều bọ hung đục cành và câu cấu xanh lớn (Protaetia sp và Hypomeces squamesus)

Biện pháp quản lý:

Tạo điều kiện thông thoáng và thoát nước tốt cho vườn trong mùa mưa Vệ sinh vườn thường xuyên và tiêu huỷ nguồn bệnh triệt để Nếu có cắt tỉa và tạo tán cây sau thu hoạch, có thể phun ngừa thuốc trừ nấm gốc đồng, hoặc thuốc sinh học gốc Chitosan (Biogreen), Streptomycin sulfate (Poner, Stepguard) Tăng cường bón vôi cho cây thanh long 1-2 lần/năm (vào đầu và cuối mùa mưa) Bón phân cân đối và hợp lý Nên bón nhiều phân hữu cơ hoai mục kết hợp với nấm đối kháng Trichoderma nhằm giúp cây sinh trưởng mạnh, chống chịu tốt với bệnh Nên ngắt bỏ đài hoa (rút râu) sau khi hoa nở khoảng 3-4 ngày đối với mùa nắng và 2-3 ngày đối với mùa mưa Sau đó phun một số loại thuốc trừ nấm để

Trang 29

nhằm ngăn chặn mầm bệnh xâm nhiễm thông qua vết thương sau khi rút râu Có thể phun xen kẽ theo định kỳ 5-7 ngày/lần bằng thuốc sinh học Chitosan hoặc các loại thuốc trừ nấm gốc Kasugamycin, Streptomycin sulfate, Oxolinic acid (Starner) Lưu ý, giai đoạn nụ hoa 14-20 ngày sau trổ và 7-10 ngày sau rút râu là hai giai đoạn mẫn cảm nhất đối bệnh thối nhũn và nên có biện pháp quản lý ngâu phù hợp (bắt bằng tay, bả độc,…)

d Bệnh muội đen( bệnh bồ hóng)

Tác nhân gây hại: Do nấm Capnodium sp gây ra

Triệu chứng bệnh: Bồ hóng phát triển tạo thành một lớp mụi đen (khói đèn) trên cành làm cho cây giảm khả năng quang hợp Bệnh thường xuất hiện trên các vườn ít chăm sóc

Bệnh tấn công trên vỏ quả làm mất màu ngay tại vị trí vết bệnh Trong trường hợp nhiễm bệnh nặng sẽ làm cho vỏ quả bị xù xì và làm giảm giá trị thương phẩm

Điều kiện phát sinh, phát triển bệnh:

Bệnh thường phát triển vào mùa nắng Bệnh bồ hóng xuất hiện thường do hai nguyên nhân chính: Trong mùa nắng, nụ bông và quả non thanh long thường tiết ra mật ngọt tự nhiên chính điều này tạo điều kiện cho nấm bồ hóng tấn công lên ở những vị trí này Đây cũng là nguyên nhân chính gây nên bệnh bồ hóng trên thanh long Do rầy hoặc rệp tấn công trên bẹ non thanh long, trong quá trình chích hút nhựa chúng bài tiết ra chất mật và sau đó nấm bồ hóng có điều kiện tấn công Bệnh có thể tồn tại trên cành, quả bị nhiễm bệnh và phát tán nhờ gió, nước mưa, côn trùng,.v.v

Biện pháp quản lý: Bón phân cân đối, hợp lý Sau thu hoạch, tiến hành tỉa cành tạo điều kiện thông thoáng cho trụ thanh long Trong điều kiện mùa nắng, tưới nước đều đặn cho cây để làm giảm sự tiết mật tự nhiên trên nụ và quả non đồng thời có thể phun mạnh lên trụ thanh long để rữa trôi bớt lớp mật này Phun thuốc gốc đồng (Coc 85, Champion), Chlorothalonil (Daconil) kết hợp phun thuốc trừ sâu trừ rệp sáp, rầy mềm (nếu có)

d Bệnh vàng cành

Bệnh vàng cành là bệnh sinh lý, do đầu tư phân bón không cân đối, dẫn đến cành vàng, suy giảm tính chống chịu bệnh, suy giảm năng suất, tuổi thọ của cành

Trang 30

Trong điều kiện nắng nóng gay gắt và thiếu nước tưới, ở một số vùng trồng thanh long trên địa bàn tỉnh bệnh vàng cành, cháy cành gia tăng mạnh” Mặc dù bệnh vàng cành là bệnh thường gặp trên cây thanh long vào mùa nắng nóng, tuy nhiên nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời, các cành bị vàng sẽ thối, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng của các lứa quả sau

Để hạn chế bệnh, bà con cần chăm sóc, bón phân kịp thời, cân đối NPK, không được bón thừa đạm Sử dụng các loại phân bón lá có hàm lượng lân, canxi, magiê cao; phun định kỳ 10-15 ngày/lần Đối với những vườn bị bệnh vàng cành nặng tuyệt đối không tưới nước vào buổi trưa nắng nóng, chỉ tưới nước lên đầu trụ lúc sáng sớm hay chiều mát

2.2.2.2 Những nghiên cứu về bệnh đốm nâu hại thanh long

* Thiệt hại của bệnh đối với sản xuất thanh long

Bệnh đốm nâu hay còn gọi là đốm trắng thanh long, tắc kè, bệnh “ma” là những tên gọi khác nhau mà bà con nông dân trồng thanh long ở Bình Thuận, Tiền Giang và Long An đặt tên cho một loại dịch hại mới phát sinh, gây thiệt hại nghiêm trọng và có xu hướng ngày càng lan rộng Theo ghi nhận của Viện Cây

ăn quả miền Nam thì trên thực tế bệnh này đã xuất hiện rải rác đầu tiên vào năm

2008 tại Bình Thuận và Tiền Giang và đến năm 2011 trở lại đây thì bệnh tấn công mạnh và lây lan nhanh hơn Mức độ bệnh ở các vườn, địa phương khác nhau, dao động từ 20-50%, có những vườn mất trắng năng suất do quả bị nhiễm bệnh không thể thu hoạch được, thiệt hại rất lớn cho nhà vườn trồng thanh long Theo các nhà vườn trồng thanh long, bệnh này xuất hiện đầu tiên vào năm

2010, trên một vài vườn với diện tích không đáng kể Do không biết nguyên nhân gây bệnh nên mặc dù đã sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ nhưng hiệu quả giảm bệnh không đáng kể Mầm bệnh tiếp tục lây lan và bùng phát Xã Hàm Hiệp hiện có 1.300 ha thanh long, trong đó có khoảng 20% diện tích phát hiện bệnh đốm trắng Một hộ dân ở thôn Đại Lộc, xã Hàm Hiệp cho biết “có 450 trụ thanh long chuẩn bị thu hoạch trái chín nghịch vụ, nhưng hầu hết trái thanh long đều bị bệnh, đây là lần thứ hai trong vườn ông xuất hiện bệnh này, trước đó đã xảy ra một lần, do hình dạng bên ngoài trái thanh long xấu nên không thể bán được, phải chặt bỏ” Một hộ khác có 500 trụ thanh long, nhưng do quả bị bệnh đốm nâu làm trái bị thối, phải bán với giá rất rẻ Mặc dù đã phun thuốc định kỳ 7-10 ngày/lần nhưng không thể khắc phục được bệnh, giá bán thu được không bù

Trang 31

đắp được chi phí về bảo vệ thực vật Tương tự, vườn thanh long của một hộ dân

ở khu phố Lâm Giáo, thị trấn Ma Lâm cũng bị "dính" bệnh đốm nâu Dù đã đầu

tư cả máy phun xịt, mua các loại thuốc đặc trị bệnh nấm, phun nhiều lần nhưng không cứu vãn nổi".Hiện tại, dịch bệnh đang lây lan với tốc độ nhanh, người dân

đã thử dùng nhiều loại thuốc nhưng bệnh dịch không giảm

Theo nghiên cứu Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Bình Thuận, triệu chứng đầu tiên là những đốm chấm trắng xuất hiện trên cành non, quả gần chín và quả chín Trên quả xuất hiện những đốm trắng lõm xuống, các vết này liên kết với nhau tạo thành mảng, làm cho mẫu mã của quả không đẹp, không bán được giá, nhưng chất lượng quả thì không thay đổi Trên cành non sau khi xuất hiện vết chấm thì 7-10 ngày sau lớp biểu bì sẽ chết, do đó nấm, vi khuẩn xâm nhập vào gây thối cành Không chỉ gây hư cành, bệnh này còn lan xuống trái, nếu mức độ nhẹ thì trên trái có những đốm chấm, nổi sần như da con tắc kè (người dân hay gọi là nấm tắc kè), còn nặng hơn thì làm thối trái Bệnh gây hại trên tất cả các vườn trồng thanh long ở các giai đoạn khác nhau, kể cả vườn mới trồng Bệnh gây hại trên cành non và cành bánh tẻ, những vườn nhiễm bệnh sớm, cành non bị nặng hơn Trên quả bệnh gây hại quả non và quả già, bệnh gây hại nặng khi quả ở giai đoạn gần chín và chín Bệnh gây quanh năm và gây hại nặng nhất vào mùa mưa Bệnh thường xuất hiện rõ nhất và nhiều nhất vào các thời điểm sau cơn mưa (đặc biệt sau các thời điểm áp thấp nhiệt đới hay nhiều ngày mưa liên tục Chi cục đã đưa ra một số giải pháp khắc phục như dọn sạch cỏ vườn thanh long, thu gom cành, trái bị hư hỏng ra khỏi vườn Phun thuốc Agri-life, Actinovate khoảng 2 lần, mỗi lần cách nhau 1 tuần Tăng cường bón phân lân và kali, hạn chế bón đạm và thuốc kích thích sinh trưởng

Ở tỉnh Long An, tính đến đầu năm 2012, diện tích trồng thanh long của Long An là 1.478,52 ha; tỷ lệ vườn bị nhiễm bệnh chiếm khoảng 10% Đến giữa năm 2012, diện tính trồng thanh long đã lên đến 2150ha và có khoảng 860ha bị nhiễm bệnh rải rác (chiếm 40%), trong đó có 43ha gây hại trên quả Đến đầu năm

2014, diện tính thanh long đã lên đến 3248 Anh Huỳnh Văn Quốc, ấp Long Thạnh, xã Quơn Long cho biết, anh có 2 công trồng thanh long trên 10 năm tuổi đang bị nhiễm bệnh đốm nâu khoảng 50% Biểu hiện của bệnh là lúc đầu nổi những đốm trắng nhỏ trên thân và trái, sau đó to dần làm cho thân bị nhiễm chuyển sang màu vàng và trái sần sùi Theo anh Quốc, hầu như các vườn thanh long trong vùng đều bị bệnh như thế, chỉ có khác nhau ở chỗ là vườn bị bệnh

Trang 32

nhiều hay ít và đã gây thiệt hại không nhỏ cho nhà vườn Đặc biệt, nhiều tuần qua, bệnh phát triển rất mạnh Những vườn nào chăm sóc tốt, thường xuyên phun thuốc phòng trị thì tỷ lệ bệnh thấp, còn vườn ít chăm sóc bệnh nhiễm rất cao, có vườn tỷ lệ bệnh lên đến 70 - 80% Ông Nguyễn Mai, ấp Tân Bình 2, xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, cho biết, gia đình ông trồng 5 công thanh long ruột trắng hiện 8 năm tuổi, đang bị nhiễm bệnh đốm nâu trên 50% Thời gian qua, vườn thanh long của ông liên tục bị dịch bệnh hoành hành, hết bệnh thán thư đến đốm nâu; rồi bị vàng, cháy cành ở đầu trụ Theo ông Mai, cứ đến mùa mưa là bệnh đốm nâu (hay đốm trắng) lại bùng phát dữ dội, hầu như nhà vườn nào cũng

bị nhiễm bệnh, chủ yếu là ít hay nhiều mà thôi Biểu hiện bệnh ban đầu là nổi những đốm trắng nhỏ trên thân và trái, sau đó to dần và lan rộng ra làm cho thân chuyển sang màu vàng và trái sần sùi

Tại huyện Châu Thành (Long An), hàng ngàn nông dân trong huyện cũng kêu than vì dịch bệnh đốm nâu bùng phát Xã Long Trì (Châu Thành, Long An)

là địa phương có diện tích trồng thanh long nhất nhì tỉnh Đến đâu, nông dân cũng than: Bây giờ trồng thanh long sao khó “ăn” quá! Dịch bệnh xảy ra liên miên và rộng khắp Chi phí sản xuất ngày một tăng cao, trong khi thu nhập ngày dần đi xuống Bệnh này xuất hiện và bùng phát mạnh tại xã Long Trì, sau đó lan nhanh ra các địa phương khác và chưa có thuốc trị Triệu chứng ban đầu là những chấm trắng nhỏ tròn và hơi lõm xuống, sau đó chuyển sang màu nâu đỏ, liên kết lại thành từng vùng rộng Bệnh tấn công trên cành non và trái sắp thu hoạch, gây thiệt hại nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng trái Những vườn bón phân gà tươi và bón phân có hàm lượng đạm cao để thúc cành thì bệnh gây hại nặng hơn

* Những nghiên cứu về đặc điểm sinh học

Với diễn biến bệnh ngày càng phức tạp, trong năm 2011 Chi cục BVTV Tỉnh Bình Thuận có gửi mẫu bệnh (mẫu cành và trái) đến Viện Cây Ăn Quả Miền Nam để giám định tác nhân gây hại Bộ môn Bảo vệ thực vật – Viện ăn quả miền Nam đã giám định một số mẫu bệnh đốm trắng trên cành thanh long do Chi cục BVTV Bình Thuận gửi đến Qua kết quả phân lập và giám định tác nhân đã xác định tác nhân gây bệnh đốm trắng trên thanh long là do nấm Neoscytalidiumdimidiatum gây ra Kết quả cũng tương tự đối với những mẫu bệnh trên cành và trái thanh long ở Long An và Tiền Giang Trước đây Neoscytalidium dimidiatum có nhiều tên gọi khác nhau như: Fusicoccum

Trang 33

dimidiatum, Scytalidium dimidiatum, Scytalidium lignicola, Hendersonula toruloidea, v.v Neoscytalidium dimidiatum là loài nấm có phạm vi phân bố và có nhiều ký chủ: xoài, cây có múi, thanh long và nhiều cây trồng khác Kết quả phân lập tác nhân trên môi trường PDA và thông qua giám định hình thái và giải trình

tự genne từ mẫu nấm phân lập được cho kết quả gene có 233bp và khi thực hiện BLAST SEARCH từ Ngân hàng gen trên NCBI cho thấy, các chuỗi rDNA này đồng hình với nấm Neoscytalidium dimidiatum đến 100% Do đó, nấm Neoscytalidium dimidiatum có thể là tác nhân gây bệnh đốm nâu trên cành và trái thanh long Tuy nhiên, kết quả này chưa được thực hiện kiểm chứng tác nhân và phân lập mẫu bệnh ở nhiều vùng khác nhau để có kết luận chính xác nhất (thực hiện quy trình Koch) (Nguyễn Thành Hiếu và cs., 2012)

Tương tự, Phan Thị Thu Hiền và ctv (2014) cũng đã tiến hành phân lập, kiểm chứng tác nhân cũng là do nấm Neoscytalidium dimidiatum gây ra, ngoài ra theo một tài liệu thì Viện Bảo Vệ Thực Vật cũng đã công bố tác nhân là do nấm Neoscytalidium dimidiatum gây hại Kết quả nghiên cứu bước đầu của Phan Thị Thu Hiền và ctv (2014) cũng xác định khả năng sinh trưởng và phát triển tối ưu của nấm ở các điều kiện nhiệt độ 35-400C và chịu ngưỡng pH khá rộng ở điều kiện in vitro

Theo ghi nhận của Nguyễn Thành Hiếu và cs (2014a), từ năm 2013 đến nay, Viện Cây ăn quả miền Nam đã tiếp tục thực hiện một số nghiên cứu chuyên sâu về tác nhân gây hại như: xác định bổ sung tác nhân có kiễm chứng theo quy trình Koch, nghiên cứu sơ bộ về đặc điểm sinh học, biện pháp quản lý bệnh đốm nâu (chủ yếu là biện pháp hoá học) và đã đề xuất biện pháp quản lý tạm thời bệnh đốm nâu thanh long tại Hội thảo bàn với biện pháp quản lý bệnh đốm nâu trên thanh long với sự chủ trì của Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn tổ chức tại Viện và tại Hội thảo Bệnh hại thực vật Việt Nam lần thứ 13 tổ chức tại Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh (6-7/5/2014), cụ thể như sau: Nấm Neoscytalidium dimidiatum phát triển khá nhanh trên môi trường PDA (3 ngày mọc đầy đĩa petri có đường kính 90mm) Tản nấm tròn, ban đầu có màu trắng sau chuyển sau màu xám đen rất nhanh Sợi nấm có màu nâu đến nâu sậm, mịn, dày Bào tử (Conidia) có nhiều hình dạng khác nhau: ellip, trứng, que, tròn Bào tử có dạng hình tròn có đường kính 6,33  1,91 µm, (Hình 2C), hình trứng

có kích thước 7,85  1,68 x 5,06  0,91µm, dạng hình que có kích thước 10,12  2,99 µm x 4,33µm  1,11 µm Sợi nấm phân nhánh, có màu nâu, có vách ngăn và

Trang 34

tự tách ra thành bào tử đốt (arthrospore) Bào tử đốt hình thành rất nhanh chỉ sau

2 ngày nuôi cấy, có màu nâu nhạt đến nâu sẫm, có 0-1 vách ngăn

Kết quả kiểm chứng tác nhân thông qua quy trình Koch cũng đã khẳng định tác nhân trực tiếp (có tạo vết thương và không tạo vết thương) gây ra bệnh đốm nâu là do nấm Neoscytalidium dimidiatum gây ra

Nấm Neoscytalidium dimidiatum có khả năng phát triển trong khoảng nhiệt

độ, pH khá rộng (T0C: 15-400C, pH 4,5 - 8,0) và nhiệt độ tối hảo là từ 30 - 400C Tuy nhiên, trong Hội thảo bàn với biện pháp quản lý bệnh đốm nâu trên thanh long với sự chủ trì của Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn tổ chức tại Viện Cây ăn quả miền Nam có một vài ý kiến cho rằng cần xác định bổ sung một số yếu

tố khác (côn trùng gây vết thương,…) để làm rỏ, cũng như khẳng định chính xác tác nhân gây bệnh đốm nâu Theo ghi nhận của tác giả thì ngoài công trình nêu trên được công bố thì chưa có bất kỳ báo cáo chính thức nào được ghi nhận

Theo nghiên cứu của Võ Thị Thu Oanh và cs (2014) Kết quả phân lâp và xác định tác nhân gây bệnh đốm nâu thanh long theo đặc điểm hình thái từ những mẫu cành, quả thanh long bị bệnh đốm nâu thu thập được ở huyện Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận Bắc và Bắc Bình của Tỉnh Bình Thuận dựa trên đặc điểm hình thái đã phân lâp và theo khóa phân loại của Ellis (1976), CABI (2007), CABI, 013) đã xác định được tác nhân gây bệnh là do nấm Neoscytalidium dimidiatum (Penz) Crous and Slippers (2006)

Tản nấm Neoscytalidium dimidiatum mọc rất nhanh trên môi trường PGA,

3 ngày sau cấy đã mọc đầy đĩa Tản nấm ban đầu có màu trắng xám, sau 10 ngày nuôi cấy có màu xám đen đến nâu đen, không có vòng đồng tâm Sợi nấm có màu nâu đen, vưon cao như bông gòn trên bề mặt môi trường Cành bào tử sinh

ra trực tiếp từ bề mặt của môi trường nuôi cấy, cành bào tử mọc đơn lẻ, thẳng hoặc hơi cong Bào tử có màu nâu nhạt đến nâu sẫm, hầu hết không có vách ngăn, bào tử hình thành rất nhanh: chỉ sau 2 ngày nuôi cấy Bào tử dạng chuỗi hoặc đơn lẻ, có nhiều hình dạng khác nhau như: hình que, hình tròn, hình quả lê, hình trứng, hình trụ Kích thước trung bình của bào tử khoảng 9,17 - 21,2 µm x 4,05 - 7,75µm

Kết quả giải trình tự vùng gien ITS-rADN và so sánh với các trình tự đã được công bố trên ngân hàng gien của loài Neoscytalidium gây bệnh đốm nâu trên thanh long cho thấy, các mẫu phân lập trên trên thanh long ở tỉnh Bình

Trang 35

Thuận là loài Neoscytalidium dimidiatum và tương đống rất cao với trình tự của loài Neoscytalidium dimidiatumanh gây bênh đốm nâu trên thanh long ở Trung Quốc Trung Quốc Kết quả cũng ghi nhận, 11 mẫu phân lập N dimidiatum ở Bình Thuận chia thành 2 nhóm, trong đó 2 gồm các mẫu C_HTB1, Q_HTB, C_HTB2, C_HTB3, C_BB1, C_BB2, C_BB3, Q_BB giống với loài N dimidiatum của Trung Quốc và nhóm 1 gốm các mẫu phân lập Q_HTN, C_HTN1, C_HTN2 giống với loài N dimidiatum của Malaysia hoặc là nhóm đặc trưng riêng cho loài N dimidiatum gây bệnh trên thanh long ở Bình Thuận, Việt Nam và như vây có thể nhận biết loài nấm này dựa vào trình tự ITS-rADN

* Điều kiện phát sinh, phát triển

Thông tin ghi nhận ghi nhận từ bà con nông dân trồng thanh long ở Bình Thuận, Tiền Giang và Long An thì bệnh đốm nâu thường xuất hiện phổ biến vào thời điểm sắp kết thúc mùa mưa (nhiệt độ tăng) và hầu hết những vườn bị nhiễm bệnh xảy ra chủ yếu ở vụ chong đèn

Lúc đầu bệnh chỉ tấn công rải rác trên vườn nhưng lây lan rất nhanh chóng, qua theo dõi thực tế trên ruộng sản xuất thanh long thì sau thời điểm bệnh tấn công khoảng 2-3 ngày thì số lượng vết bệnh trên cùng trái có thể gia tăng gấp 2-3 lần ban đầu (Nguyễn Thành Hiếu và cs., 2014c)

2.2.2.3 Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ

a Biện pháp canh tác

Theo khuyến cáo của Nguyễn Thành Hiếu và cs (2013) thì để tạm thời quản lý bệnh đốm nâu thì phải vệ sinh triệt để nguồn bệnh trên vườn (cành, trái nhiễm bệnh) và có thể sử dụng nguồn vật liệu này ủ hoai chung với phân chuồng

và bón cho cây

Kết quả khảo sát bước đầu của Viện Cây ăn quả miền Nam cho thấy có khả năng xử lý cành thanh long nhiễm bệnh bằng máy băm cành và sử dụng làm nguồn vật liệu hữu cơ để tái sử dụng cho cây Kết quả ghi nhận bào tử của nấm Neoscytalidium dimidiatum không có khả năng sống xót ở thời điểm 1 tháng sau khi xử lý (số liệu chưa công bố chính thức)

Ngoài ra, việc vệ sinh, cắt tỉa loại bỏ cành, quả bị nhiễm sâu bệnh là một trong những biện pháp quan trọng có ý nghĩa góp phần thành công trong việc quản lý tổng hợp dịch hại trên thanh long

Trang 36

b Sử dụng chất kích kháng, thảo mộc

Việc ứng dụng chất kích kháng trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam chưa được phổ biến, đặc biệt trên cây thanh long lại rất ít được sử dụng mặc dù hiệu quả mang lại đã được đánh giá rất khả quan (Trần Thị Thu Thuỷ và cs., 2010; Nguyễn Thành Hiếu và cs., 2008)

Theo Đặng Thị Kim Uyên và cs (2011) thì việc phun chất kích kháng Salycilic acid trên thanh long sẽ giúp hạn chế bệnh thán thư và một số bệnh hại khác

Sử dụng dịch trích thảo mộc từ cây móng tay có khả năng làm ức chế sự phát triển đường kính tản nấm Phytophthora nicotianae, P citricola và Phtyophthora sp., N dimidiatum và Colletotrichum sp ở điều kiện phòng thí nghiệm Dịch trích móng tay có khả năng ức chế nấm N dimidiatum (nồng độ 7,5%) ở thời điểm 72 giờ sau khi cấy đối với cả hai phương pháp ly trích

Theo quy trình quản lý sâu bệnh hại quan trọng trên thanh long được Viện CAQMN khuyến cáo thì việc sử dụng các nguồn vi sinh vật có lợi cho thanh long

là rất quan trọng và cần thiết vì chúng không độc hại, an toàn cho môi sinh, sức khoẻ người sản xuất và quan trọng hơn cả sự ổn định và hiệu quả lâu dài Một số chế phẩm sinh học được khuyến cáo ứng dụng trong sản xuất thanh long như: Trichoderma, Bacillus, Pseudomonas…Theo ghi nhận của Nguyễn Thành Hiếu

và cs (2012, số liệu chưa xuất bản) thì việc sử dụng các nguồn vi sinh vật nêu trên có thể hỗ trợ rất tốt trong việc quản lý một số bệnh hại quan trọng trên thanh long như: bệnh thối rễ, bệnh thối đầu trái thanh long

c Kỹ thuật bao quả

Việc dùng bao túi nylon, bao giấy hay bao chuyên dùng để bao quả, phòng ngừa sâu bệnh gây hại đã được một số nước trong khu vực áp dụng từ lâu và thu được kết quả tốt; không những hạn chế được một số loại sâu bệnh chuyên hại quả

mà còn làm cho vỏ quả sáng, đẹp, hấp dẫn người tiêu dùng

Khi quả được bao bằng túi ny-lon màu trắng trong, chất diệp lục ở vỏ quả vẫn hấp thụ được ánh sáng và quang hợp bình thường, do vậy màu sắc của quả không thay đổi

Đa số các loại côn trùng trưởng thành là bướm (ngài) đều bay theo phương thẳng, khi đậu vào quả được bao bởi nylon để đẻ trứng chúng gặp bề mặt trơn, nhẵn nên bướm và trứng không bám được, do vậy hầu hết các loại sâu như: bọ xít, bọ cánh cứng, ruồi đục quả, bọ rầy, được loại trừ

Trang 37

Điều kiện khí hậu trong túi chứa quả khác biệt so với điều kiện tự nhiên bên ngoài nên một số nấm, vi khuẩn gây bệnh không có cơ hội phát triển

Trong giai đoạn từ quả non đến chín, cây ăn quả thường bị nhiều loại sâu, bệnh phá hại như sâu đục cuống, bọ xít, ruồi đục trái, bệnh thán thư, đốm nâu, sương mai khiến quả bị thối, rụng làm giảm năng suất, chất lượng, vì vậy, để bảo

vệ chất lượng quả tốt, nông dân thường phải phun thuốc liên tục, gây tốn nhiều tiền của và công sức nhưng hiệu quả vẫn bị thất thu, chưa kể tồn dư thuốc bảo vệ thực vật có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và xuất khẩu Nhưng nếu trong giai đoạn quả phát triển, chúng ta sử dụng túi bao quả, không những giảm được số lần phun thuốc, tiết kiệm được chi phí, mà chất lượng quả thu hoạch còn tăng cao, do túi bao quả là một loại túi được gia công đặc biệt, với ưu điểm không thấm nước mưa nhưng hấp thụ ánh sáng, giúp bảo vệ quả non khỏi tác hại của môi trường ô nhiễm, hoặc sâu bọ châm chích Khi bao quả, túi sẽ bảo vệ quả một cách triệt để, đảm bảo quả phát triển tốt, an toàn, vỏ quả sáng đẹp, không xuất hiện vết bám bẩn, đặc biệt, quả đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, không tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, mang lại lợi ích cao cho người nông dân

d Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Đối với bà con nông dân, do đây là một đối tượng dịch hại mới nên chưa biết nguyên nhân cũng như biện pháp quản lý thích hợp Biện pháp chủ yếu được nông dân sử dụng đó là biện pháp hóa học, nông dân sử dụng rất nhiều loại thuốc trừ nấm khác nhau nhưng hiệu quả mang lại chưa được mong muốn

Trong năm 2012, Viện Cây ăn quả miền Nam cũng đã tiến hành khảo sát sơ

bộ tình hình bệnh đốm nâu ở Tiền Giang và Long An và cũng đã hướng dẫn một

số nông dân sử dụng một số loại thuốc hóa học để phòng trị bệnh này cho kết quả rất khả quan (Nguyễn Văn Hoà và Nguyễn Thành Hiếu, số liệu chưa công bố) Nguyễn Thành Hiếu và cs.(2014b) đã ghi nhận trong tổng 22 loại thuốc khảo sát ở điều kiện in vitro chỉ có 8 loại thuốc có khả năng ức chế hoàn toàn sự phát triển nấm Neoscytalidium dimidiatum là Cyat (Trifloxystrobin), Tilt supper (Propiconazole + Difenoconazole), Map super (Difenoconazole +Propiconazole), Map Unique (Tebuconazole + Tricyclazole), Sagorain (Difenoconazole + Propiconazole), Viroval (Iprodione), Ridomyl gold (Metalaxyl-M + mancozeb)

và Dithan (Mancozeb) Ngoài ra, kết quả khảo sát hiệu quả của 20 loại thuốc đối với bệnh đốm nâu trên cành cho thấy Dithan M45 có hiệu quả tốt nhất, kế đến là

Trang 38

Ridomyl gold, Saiporra, Vicarben, Map Hero và Viroval Tương tự, Saipora (Carbendazim + Hexaconazole) cho hiệu quả tốt nhất, làm giảm chỉ số bệnh trên trái dưới 10%, kế đến là Ridomil gold (metalaxyl-M +Mancozeb), Dithan (Mancozeb) và Vicarben (Carbendazim)

Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc hóa học có hiệu quả còn phụ thuộc vào kỹ thuật phun rải và thời điểm thích hợp

Trang 39

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Các nghiên cứu trong phòng: Được tiến hành tại phòng thí nghiệm Viện BVTV

Địa điểm điều tra, thu thập mẫu bệnh : Các vùng trồng Thanh long chính tại Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận Bắc của tỉnh Bình Thuận

Các thí nghiệm ngoài đồng ruộng được tiến hành tại HTX Thanh long hữu

cơ Phú Hội, Xã Hàm Hiệp, Huyện Hàm Thuận Bắc, Tỉnh Bình Thuận

Đề tài được thực hiện từ tháng 3/2015- tháng 12/2016

3.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Bệnh đốm nâu (Neoscytalidium dimidiatum ) và các bệnh hại thanh long thu thập từ vùng thanh long của Bình Thuận

Một số loại chế phẩm BVTV hóa và sinh học

+ Anvil 5SC: Thuốc có tác dụng nội hấp, thấm sâu;

+ Mataxyl 500WP: Thuốc có tác dụng lưu dẫn phổ rộng;

+ Penncozeb 80WP: Thuốc có tác dụng tiếp xúc có phổ rộng;

+ Carbenzim 500FL: Thuốc có tác dụng nội hấp có phổ rộng;

+ Amistar top 325SC: Thuốc có tác dụng nội hấp và lưu dẫn ;

+ TB888: TB 888 (tỷ lệ 2 ‰) phân bón lá cao cấp thành phần N,P,K,Ga3,Mg,Mo,Bo,Cu,Zn… + rỉ đường (tỷ lệ 2 ‰);

+ MXA-8 là một chế phẩm sinh học có mật độ vi sinh vật: 107 CFU/g đây

là loại chế phẩm mới có tác dụng phòng trừ các vi sinh vật có hại và tuyến trùng hại trên cây trồng Chế phẩm sinh học MXA-8 đang trong giai đoạn sản xuất thử nghiệm, được phân phổi bơi trung tâm đầu tư phát triển công nghệ mới thuộc Viện Nông nghiệp Nhiệt đới

3.2.2 Vật liệu ngiên cứu

a Trong phòng thí nghiệm

- Hộp Petri, ống nghiệm, bình tam giác, tủ lạnh, tủ sấy, tủ định ôn, thiết bị

Trang 40

đo nhiệt độ, kính hiển vi có màn hình chụp ảnh kỹ thuật số, các hoá chất, các dụng cụ ống nghiệm và các hóa chất phân lập, chuẩn bị môi trường nuôi cấy, nghiên cứu sinh học bệnh, phục vụ cho công tác phân loại và bảo quản mẫu

- Các vật liệu khác: cốc nhựa, bông, cồn (ethyl alcohol) 75%, cồn (ethyl alcohol) 90%, bút lông, bút chì, ông tuýp, bầu cây, ẩm nhiệt kế, nhãn

b Trong nhà lưới và ngoài đồng ruộng

- Cành, quả thanh long

- Các dụng cụ phục vụ điều tra, thí nghiệm đồng ruộng: Dụng cụ lấy mẫu, túi nilon, ống nghiệm, bình phun thuốc và các dụng cụ pha chế thuốc ở mức chính xác kỹ thuật

3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.3.1 Điều tra, xác định thành phần bệnh hại thanh long, vai trò của bệnh đốm nâu (Neoscytalidium dimidiatum) trong sản xuất thanh long tại Bình Thuận

- Điều tra thành phần và đặc điểm gây hại của các bệnh hại chính trên cây thanh long

- Đánh giá ảnh hưởng của bệnh đốm nâu (Neoscytalidium dimidiatum) đến sản xuất thanh long tại Bình Thuận

3.3.2 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, phát sinh, gây hại của bệnh đốm nâu (Neoscytalidium dimidiatum) hại thanh long

- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của nấm gây bệnh đốm nâu (Neoscytalidium dimidiatum) hại thanh long bao gồm: Đặc điểm hình thái của bệnh, điều kiện nhiệt độ, pH, môi trường đến khả năng sinh trưởng, phát triển của bệnh đốm nâu

- Nghiên cứu một số quy luật phát sinh phát triển của bệnh ngoài sản xuất, dưới ảnh hưởng của một số điều kiện sinh thái

3.3.3 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh đốm nâu

- Nghiên cứu, đánh giá hiệu quả phòng trừ bằng bệnh đốm nâu bằng kỹ thuật canh tác

- Nghiên cứu, đánh giá hiệu quả phòng trừ bằng bệnh đốm nâu bằng một số chế phẩm BVTV hóa học

- Nghiên cứu, đánh giá hiệu quả phòng trừ bệnh đốm nâu bằng một số chế phẩm BVTV sinh học

Ngày đăng: 14/05/2021, 21:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Cục Bảo Vệ Thực Vật (2014). Tình hình sâu bệnh hại trên thanh long và giải quyết các rào cản kiễm dịch thực vật cho quả thanh long xuất khẩu của Việt Nam.Báo cáo trong Hội nghị “Sản xuất và phát triển thị trường thanh long bền vững”ngày 15/5/2014 tại Bình Thuận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sâu bệnh hại trên thanh long và giải quyết các rào cản kiễm dịch thực vật cho quả thanh long xuất khẩu của Việt Nam
Tác giả: Cục Bảo Vệ Thực Vật
Nhà XB: Báo cáo trong Hội nghị “Sản xuất và phát triển thị trường thanh long bền vững”
Năm: 2014
6. Nguyễn Thành Hiếu, Nguyễn Ngọc Anh Thư và Nguyễn Văn Hoà (2014a). Nghiên cứu xác định tác nhân, đặc điểm hình thái và sinh học của nấm Neoscytalidium dimidiatum gây bệnh đốm nâu trên thanh long (Hylocereus undatus). Hội thảo quốc gia Bệnh hại Thực vật Việt Nam lần thứ 13, tổ chức tại Trường Đại học Nông lâm TP. Hồ Chí Minh.. tr. 114-120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xác định tác nhân, đặc điểm hình thái và sinh học của nấm Neoscytalidium dimidiatum gây bệnh đốm nâu trên thanh long (Hylocereus undatus)
Tác giả: Nguyễn Thành Hiếu, Nguyễn Ngọc Anh Thư, Nguyễn Văn Hoà
Nhà XB: Hội thảo quốc gia Bệnh hại Thực vật Việt Nam lần thứ 13
Năm: 2014
7. Nguyễn Thành Hiếu, Nguyễn Ngọc Anh Thư, Nguyễn Huy Cường và Nguyễn Văn Hoà (2014b). Đánh giá hiệu quả của một số loại thuốc hoá học đối với bệnh đốm nâu Neoscytalidium dimidiatum gây bệnh đốm nâu trên thanh long (Hylocereus undatus). Hội thảo quốc gia Bệnh hại Thực vật Việt Nam lần thứ 13, tổ chức tại Trường Đại học Nông lâm TP. Hồ Chí Minh. tr. 191-199 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả của một số loại thuốc hoá học đối với bệnh đốm nâu Neoscytalidium dimidiatum gây bệnh đốm nâu trên thanh long (Hylocereus undatus)
Tác giả: Nguyễn Thành Hiếu, Nguyễn Ngọc Anh Thư, Nguyễn Huy Cường, Nguyễn Văn Hoà
Nhà XB: Hội thảo quốc gia Bệnh hại Thực vật Việt Nam lần thứ 13
Năm: 2014
9. Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Thành Hiếu, Đặng Kim Uyên, Trần Ước và Nguyễn Thị Hoàng Linh (2011). Báo cáo tổng kết đề tài: “Nghiên cứu biện pháp quản lý hữu hiệu một số bệnh hại do nấm và vi khuẩn quan trọng trên thanh long” thuộc dự án ACP Bình Thuận. Tài liệu báo cáo tổng kết quả thực hiện đề tài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết đề tài: “Nghiên cứu biện pháp quản lý hữu hiệu một số bệnh hại do nấm và vi khuẩn quan trọng trên thanh long”
Tác giả: Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Thành Hiếu, Đặng Kim Uyên, Trần Ước, Nguyễn Thị Hoàng Linh
Nhà XB: Tài liệu báo cáo tổng kết quả thực hiện đề tài
Năm: 2011
10. Phan Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Huyền, Đinh Thị Ánh Tuyết, Võ Thị Ngọc Liễu, Cao Thị Mỹ Loan, Võ Thị Thu Oanh và Lê Đình Đôn (2014). Nghiên cứu định danh và khảo sát đặc điểm sinh học của tác nhân gây bệnh đốm trắng hại thanh long (Hylocereus undatus). Hội thảo quốc gia Bệnh hại Thực vật Việt Nam lần thứ 13, tổ chức tại Trường Đại học Nông lâm TP. Hồ Chí Minh. tr. 114-120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu định danh và khảo sát đặc điểm sinh học của tác nhân gây bệnh đốm trắng hại thanh long (Hylocereus undatus)
Tác giả: Phan Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Huyền, Đinh Thị Ánh Tuyết, Võ Thị Ngọc Liễu, Cao Thị Mỹ Loan, Võ Thị Thu Oanh, Lê Đình Đôn
Nhà XB: Hội thảo quốc gia Bệnh hại Thực vật Việt Nam lần thứ 13
Năm: 2014
11. Đặng Thị Kim Uyên, Lê Thị Tưởng và Nguyễn Văn Hoà (2014). Đánh giá hiệu quả của dịch trích móng tay (Impatiens balsamina) đối với một số nấm bệnh gây hại trên cây ăn quả. Hội thảo quốc gia Bệnh hại Thực vật Việt Nam lần thứ 13, tổ chức tại Trường Đại học Nông lâm TP. Hồ Chí Minh. tr. 258-267 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả của dịch trích móng tay (Impatiens balsamina) đối với một số nấm bệnh gây hại trên cây ăn quả
Tác giả: Đặng Thị Kim Uyên, Lê Thị Tưởng, Nguyễn Văn Hoà
Nhà XB: Hội thảo quốc gia Bệnh hại Thực vật Việt Nam lần thứ 13
Năm: 2014
12. Viện Bảo vệ thực vật (1970). Kết quả điều tra bệnh cây và côn trùng 1967-1968, NXB Nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra bệnh cây và côn trùng 1967-1968
Tác giả: Viện Bảo vệ thực vật
Nhà XB: NXB Nông thôn
Năm: 1970
15. Viện Bảo vệ Thực vật, 2000. Phương pháp nghiên cứu bảo vệ thực vật tập III. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu bảo vệ thực vật tập III
Tác giả: Viện Bảo vệ Thực vật
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2000
20. Abdullah H.A., Mohanad K. M. A., Muhammed A. H., Adnan A. B. and Zulfiqar A., (2012). First report of grapevine dieback caused by Lasiodiplodia theobromae and Neoscytalidium. dimidiatum in Basrah, Southern Iraq. Affrican Journal of Biotechnology. Vol. 11 (95). pp.16165-16171 Sách, tạp chí
Tiêu đề: First report of grapevine dieback caused by Lasiodiplodia theobromae and Neoscytalidium. dimidiatum in Basrah, Southern Iraq
Tác giả: Abdullah H.A., Mohanad K. M. A., Muhammed A. H., Adnan A. B., Zulfiqar A
Nhà XB: Affrican Journal of Biotechnology
Năm: 2012
21. Amponsah, N. T, Jones, E. E, Ridgway, H. J, Jaspers, M. V. 2009. Rainwater dispersal of Botryosphaeria conidia from infected grapevines. New Zealand Plant Protection. Vol 62. pp. 228-233 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rainwater dispersal of Botryosphaeria conidia from infected grapevines
Tác giả: Amponsah, N. T, Jones, E. E, Ridgway, H. J, Jaspers, M. V
Nhà XB: New Zealand Plant Protection
Năm: 2009
23. Chuang, M. F., Ni, H. F., Yang, H. R., Shu, S. L. and Lai, S. Y. (2012). First Report of Stem Canker Disease of Pitaya (Hylocereus undatus and H. polyrhizus) Caused by Neoscytalidium dimidiatum in Taiwan. Plant Disease. Vol 96 (6). pp. 906 Sách, tạp chí
Tiêu đề: First Report of Stem Canker Disease of Pitaya (Hylocereus undatus and H. polyrhizus) Caused by Neoscytalidium dimidiatum in Taiwan
Tác giả: Chuang, M. F., Ni, H. F., Yang, H. R., Shu, S. L., Lai, S. Y
Nhà XB: Plant Disease
Năm: 2012
26. Lan, G. B. and He, Z. F. and Xi, P. G. and Jiang, Z. D. (2012). First Report of Brown Spot Disease Caused by Neoscytalidium dimidiatum on Hylocereus undatus in Guangdong, Chinese Mainland. Plant Disease. Vol 96 (11). pp.1702 Sách, tạp chí
Tiêu đề: First Report of Brown Spot Disease Caused by Neoscytalidium dimidiatum on Hylocereus undatus in Guangdong, Chinese Mainland
Tác giả: Lan, G. B., He, Z. F., Xi, P. G., Jiang, Z. D
Nhà XB: Plant Disease
Năm: 2012
27. Little, J. E., Sproston, T. J., Foote, M. W. (1948). Isolation and antifungal action of naturally occurring 2-methoxy-1,4-naphthoquinone. J. Biol. Chem. Vol 1948 (174). pp. 335-342 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Isolation and antifungal action of naturally occurring 2-methoxy-1,4-naphthoquinone
Tác giả: J. E. Little, T. J. Sproston, M. W. Foote
Nhà XB: J. Biol. Chem.
Năm: 1948
29. Masyahit, M., Sijam K., Awang Y. and Satar M.G.M., (2009). The first report of occurrence of anthracnose disease caused by Colettotrichum gloeosporioides on Dragon Fruit (Hylocereus spp.) in Peninsular Malaysia. Arn. J. Applied Sci. Vol 6. pp. 902-912 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The first report of occurrence of anthracnose disease caused by Colettotrichum gloeosporioides on Dragon Fruit (Hylocereus spp.) in Peninsular Malaysia
Tác giả: Masyahit, M., Sijam K., Awang Y., Satar M.G.M
Nhà XB: Arn. J. Applied Sci.
Năm: 2009
31. Masyahit M., Sijam K., Awang Y. and Satar M. G. M., (2009). In vitro Assay of Factors Affecting the Growth of Pathogens Associated with Disease on Dragon Fruit (Hylocereus spp.) in Peninsular Malaysia. Plant Protection Journal Sách, tạp chí
Tiêu đề: In vitro Assay of Factors Affecting the Growth of Pathogens Associated with Disease on Dragon Fruit (Hylocereus spp.) in Peninsular Malaysia
Tác giả: Masyahit M., Sijam K., Awang Y., Satar M. G. M
Nhà XB: Plant Protection Journal
Năm: 2009
32. McDonald, V., Lynch, S. and Eskalen, A. (2009). First Report of Neofusicoccum australe, N. luteum, and N. parvum Associated With Avocado Branch Canker in California. Plant Disease. Vol 93 (9). pp 967 Sách, tạp chí
Tiêu đề: First Report of Neofusicoccum australe, N. luteum, and N. parvum Associated With Avocado Branch Canker in California
Tác giả: McDonald, V., Lynch, S., Eskalen, A
Nhà XB: Plant Disease
Năm: 2009
37. Punithalingam E, Waterson JM (1970) Hendersonula toruloidea. CMI Descriptions of Pathogenic Fungi and Bacteria. Vol 28. pp. 274 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hendersonula toruloidea
Tác giả: Punithalingam E, Waterson JM
Nhà XB: CMI Descriptions of Pathogenic Fungi and Bacteria
Năm: 1970
40. Sijam, K., Awang Y. and Satar M.G.M., (2008). Fungi associated with diseases on dragon fruit (Hylocereus spp.) in Peninsular Malaysia. Proceeding of the Microbes: Biotechnology Engine for Health and Wealth Creation. Hyatt Regency Resort, Kuantan, Pahang, Darul Makmur, Malaysia, Aug. 16-19, Malaysia society for Microbiology. pp. 234-237 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fungi associated with diseases on dragon fruit (Hylocereus spp.) in Peninsular Malaysia
Tác giả: Sijam, K., Awang Y., Satar M.G.M
Nhà XB: Malaysia society for Microbiology
Năm: 2008
41. Slippers, B. and Wingfield, M. J. (2007). Botryosphaeriaceae as endophytes and latent pathogens of woody plants: diversity, ecology and impact. Fungal Biology Reviews. 21 (2-3). pp. 90-106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Botryosphaeriaceae as endophytes and latent pathogens of woody plants: diversity, ecology and impact
Tác giả: B. Slippers, M. J. Wingfield
Nhà XB: Fungal Biology Reviews
Năm: 2007
42. Sutton, B. C. and Dyko, B. J. (1989). Revision of Hendersounla. Mycol. Res. vol 93. pp. 466-488 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Revision of Hendersounla
Tác giả: B. C. Sutton, B. J. Dyko
Nhà XB: Mycol. Res.
Năm: 1989

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm