1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thử tìm hiểu tâm sự Nguyễn Du qua truyện Kiều: Phần 2 - Ngô Quốc Quýnh

113 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thử tìm hiểu tâm sự Nguyễn Du qua truyện Kiều: Phần 2 - Ngô Quốc Quýnh
Trường học Trường Đại Học
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 7,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thử tìm hiểu tâm sự Nguyễn Du qua truyện Kiều: Phần 2 gồm nội dung chương 5 đến chương 7 của cuốn sách. Nội dung các chương của phần này như: Từ Hải thực và Từ Hải hư, Hoạn Thư thực và Hoạn Thư hư, tâm sự của Nguyễn Du, vì sao tâm sự Nguyễn Du lại u uất.

Trang 1

"TỪ HẢI THựC" VÀ "TỪ HẢI Hư'

"HOẠN THƯ THựC" VÀ "HOẠN THƯ Hư' • • •

"Thúy Kiểu thực" có ba đời chồng: Kim Trọng, Thúc sinh và Từ Hải Cuộc đời của Nguyễn Du cũng

bị chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp bởi ba ông vua: Lê Chiêu Thống, Quang Trung và Gia Long "Thúy Kiều hư" là Nguyễn Du "Kim Trọng hư" trong giai đoạn trước khi Kiều gặp Thúc sinh và Từ Hải là Chiêu Thống Vậy vua Quang Trung được đại diện bởi người chồng nào trong hai người chồng sau của Kiéu? Tìm khắp cả phần liên quan đến Thúc sinh, trong "Truyện Kiều" không thể tìm được một dấu vết nào có thể gán cho "Thúc sinh hư", vậy, chỉ có "Thúc sinh thực" và nhân vật Thúc sinh không đại diện cho một ngưòd cụ thể nào

Trái lại, với Từ Hải, chúng ta có thể tìm thấy một sô' dấu vết khá rõ, giúp chúng ta tách riêng được "Từ Hải thực" và "Từ Hải hư", để từ đó tìm ra được bóng dáng vua Quang Trung ẩn sau nhân vật Từ Hải

Trang 2

Dường như để giúp chúng ta dễ nhận thấy sự khác nhau trong thái độ của "Thúy Kiều hư" đối với

"Kim Trọng hư" và "Từ Hải hư", Nguyễn Du đã "bố trí" cho Kim và Từ gặp và trò chuyên với Kiều trong những hoàn cảnh giống nhau Chúng ta thống kê được đến sáu hoàn cảnh như vậy

Trước hết, chương trên, chúng ta đã thấy ràng, nếu chân dung của Kim được mô lả bằng sáu câu (kể

cả câu giới thiệu tên, họ, quê quán) thì chân dung của

Từ (kể cả câu giới thiệu tên, họ, quê quán) cũng được

mô tả bằng sáu câu Trong khi Kim được phác họa bằng những nét mơ hồ, thiếu cụ thể và rất lẩm thường, thì Từ lại được khắc vẽ bằng những nét rõ ràng cụ thể,

rõ ra tướng mạo của một người anh hùng

Nói cho thật công bằng, "Kim Trọng hư" cũng có các ưu điểm là "hào hoa, phong nhã" đổ đới chọi với các ưu điểm của Từ Hải là "côn quyển hơn sức, lược thao gồm tài" Nhưng chúng ta cũng phải công nhận là rèn luyộn cái hào hoa phong nhã không khó, không mắt nhiểu thời gian và sự nỗ lực, như rèn luyện côn quyền, thao lược

Hoàn cảnh thứ hai là chuyện "xem tướng" Kiều gặp gỡ, tiếp xúc với nhiều người nhưng chỉ "xem tướng" cho hai người là Kim Trọng và Từ Hải (Tuy Kiều có phỏng đoán: Mã giám sinh là tay bợm già,

"như hình con buôn" nhưng không phải là nhờ quan sát tướng mạo, mà là qua thái độ lén lút, lời ăn tiếng

Trang 3

nói của Mã, và lũ người nhà) Xem tướng cho Kim, Kiều thấy Kim chỉ là "phường Kim môn", như ta đã thấy ở trên Khi "xem tướng"cho Từ thì Kiều trả lời:

2159 Thưa rằng: Lượtig cả bao dong

Tấn Dương được thấy máy rồng có phen

Như thế là Kiều đã nhìn thấy ở Từ một người làm nên sự nghiệp đế vương, một người anh hùng sẽ nhất thống sơn hà, theo cách đánh giá của người xưa

Hoàn cảnh thứ ba là sự nhớ nhung của Kim và

Từ, đối với Kiều Chưa đầy một tháng, sau khi hai người ưao thoa, đổi quạt, được dịp cả nhà về bên ngoại mừng sinh nhật, Kiều đã lập tức sang thăm Kim, Ihế mà vừa thấy mặt nhau, Kim đã buông ngay lời trách móc, than thở:

381 Trách lòng hờ hững với lòng

Lùa hương chốc đ ể lạnh lùng bấy láu

Những là đắp nhớ đổi sầu

384 Tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm.

Trái lại, sau nửa năm chăn gối cùng Kiều, Từ đã

"quyết lời dứt áo ra đi" lập sự nghiệp, không chút bịn rịn, và không để Kiều "theo càng thêm bận":

22ỉ 3 Nửa năm hương lửa đương nồng

Trượtìg phu thoắt đ ã động lòng bốn phương Trông vời trời b ể mênh mang

22ì 6 Thanh gươm, yên ngựa, lên đường thẳng giong.

Trang 4

Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Du đã lấy chi tiết "hương lửa đưcmg nồng" để đối lại với "lửa hương chốc để lạnh lùng" nhầm làm nổi bật sự tương phản giữa tính cách của Kim và của Từ: Kim chỉ biết trách móc Kiều hờ hững, còn Từ, thì Kiều đòi đi theo, lại không đồng ý và cũng trách, nhưng trách "sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình".

Hoàn cảnh thứ tư là lúc từ biệt Kiều.♦

Nhận được thư của "Xuân đường" gọi vé chịu tang chú, lúc tạm biệt Kiều, Kim chỉ biết than thở lo buồn, rồi dặn dò một cách ích kỷ:

543 Ngoài nghìn dặm, chốc ba đông,

Mối sầu khi gỡ cho xong còn chầy!

Gìn vàng, giữ ngọc cho hay

546 Cho đành lòng k ẻ chăn máy cuối trời.

Trái lại, khi để Kiều ở lại để ra đi lập sự nghiệp,

Từ sẫn lòng tin ở lòng chung thủy của nàng, mà ra đi không chút bịn rịn, chỉ dặn:

2227 Đành rằng chờ đó ít ìảu

Chầy chăng ià một năm sau, vội gì.

rổi

2229 Quyết lời dứt áo ra đi

Gió đưa bằng tiện đ ã lìa dặm khơi.

Hoàn ỉảnh thứ năm là lức nghe tin vé sự bất hạnh của Kiẻu

Trang 5

Nửa năm sau, khi từ Liêu Dương ưở lại "vườn Thúy" rói được nghe Vương ông kổ lại chuyện gia đình gập nạn, Kiểu phải bán mình cứu cha, Kim khỏng hé tỏ vẻ câm phẫn vì nỗi oan uổng của gia đình

họ Vương, mà chỉ biết khóc lóc, kẽu gào vì "đau nỗi biệt ly":

2795 Vật mình, vầy gió, tuôn mưa

Dầm dê giọt ngọc, thẫn thờ hồn mai

Đau đòi đoạn, ngất đòi thôi Tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê.

Trái lại, khi nghe Kiểu "kể lại sự ngày hàn vi" thì

Từ đùng đùng nổi giận, và ngay lập tức ra lệnh cho ba quần đi bắt những người đã làm khổ Kiều để trừng trị:

2295 Từ công nghe nói thủy chung

Bất bình nổi trận đùng đùng sấm vang.

Nghiêm quản tuyển tướng sẵn sàng Dưới cờ một lệnh vội vàng ruổi sao

Ba quân chỉ ngọn cờ đào

3000 Đạo ra Vô Tích, đạo vào Làm Truy.

Cuối cùng, cảnh thứ sáu là cảnh gặp lại Kiều sau một thèả gian dài xa cách

Sau mười lăm năm xa cách, biết bao thương nhớ,

và mất không kể xiết công sức, Kim mới tìm lại được Kiều, thế mà Kiều lại đáp lại bằng vẻ thờ ơ, lạnh nhạt:

3012 Nọ chàng Kim đó là người ngày xưa.

Trang 6

ở frfiần dưới, tôi sẽ phân tích thái độ này của Kiéu một cách chi tiếl hơn; ở đây, chỉ cần chúng ta nhận xét rằng thái độ phi logic này chính là đổ dành cho "Kim Trọng hư" chớ không phải cho "Kim Trọng ứiực".

Trái lại, một năm sau khi ra đi lập sự nghiệp, Từ lại được Kiều đón tiếp một cách mặn mà, đằm thắm:

2273 Rỡ minh là vể cân đai

Hãy còn hàm én, mày ngài như xưa.

và hai người:

2283 Cùng nhau trông mặt cả cười

Dan tay vê' chốn trướng mai tự tình.

Qua sáu đoạn so sánh này, qua sự đối chọi nhau hầu như từng câu, từng chữ, chúng ta thấy rõ

sự tưcmg phản trong tính cách của hai nhân vật: một đàng là Kim Trọng tầm thường cả về dung mạo lẫn tài trí, đàng kia là Từ Hải anh hùng, chí lớn, tài cao Hầu hết các đặc điểm trên của Kim, như đã trình bày trong chương trước, đều là của "Kim Trọng hư" Vậy, tất nhiên chúng ta phải cho rằng các đậc điểm cùa Từ được đưa ra so sánh với Kim cũng là của "Từ Hải hư", tức là vua Quang Trung Để xác minh thêm kết luận này, chúng ta hãy làm rõ chân dung của

Trang 7

đồ vương, có chí muốn bình thiên hạ, nhất thống scfn

hà, và khi mưu đồ sự nghiệp có thể nhiều phen thất bại, nhưng dù thất bại bao nhiêu cũng không được nhụt chí mà phải phấn đấu đến lúc sức cùng, lực tận Qiúng ta hãy xem, Từ Hải có cái chí đó không

Khi từ biệt lên đường lập sự nghiệp, Từ đã nói với Kiều:

2221 Bao giờ mười vạn tinh bình

Tiếng chiêng dậy đất, bóng linh rợp dường

Làm cho rõ mặt phi thường

2224 Bấy giờ ta s ẽ rước nàng nghi gia.

Một năm sau, Từ quả là đã tập hợp được đủ mười vạn quân và kéo cả về thành Lâm Truy giúp Kiều báo

ân báo oán:

2905 Trong tay mười vạn tinh binh

Kéo về đóng chật một thành Lâm Truy.

Theo các nhà nghiên cứu về dân số, thì đầu Công nguyên, dân số toàn thế giới chỉ độ 100 triệu người, trong đó dân sô' Trung Hoa không thể quá 30 triệu Thế mà, hai trâm năm trước đó, năm 202 Inrớc Công nguyên, trong trận quyết thắng cuối cùng ở Cai Hạ, theo sử gia Tư Mã Thiên, Hàn Tín phải huy động tới

ba mưcri vạn quân để bao vây rổi tiêu diệt mười vạn quân của Hạng Vũ Lại hai trảm năm sau Công nguyên, thcri Tam quốc, trong trận Xích Bích, Chu Du

Trang 8

và Gia Cát Lượng đã đánh tan 83 vạn quân Tào, khiến Tào Tháo khi về tới Hứa Đô chỉ còn các tướng lá và vài chục tên quân Thế mà Tào Tháo vẫn chảng suy yếu chút nào, đất đai của nưóc Ngụy chẳng mất một tấc Cuối thế kỷ 13, để xâm lược nước Đại Viột nhỏ

bé, lần thứ nhất, Thoát Hoan đã đem 50 vạn quân mà vẫn đại bại, lần thứ hai, Thoát Hoan rút kinh nghiệm, chỉ đem 30 vạn quân, nhưng đi theo hai đường thủy,

bộ lạo một gọng kìm mạnh hòng nhanh chóng tiêu diệt chủ lực của ra, rồi cũng lại đại bại, không khuất phục nổi một đất nước chỉ nhỏ chưa bằng một phần hai mươi nước mình

Nảm Gia Tĩnh triểu Minh (khoảng giữa thế kỷ

16, sau Công nguyên, chừng hcm 250 nàm sau thất bại của quân Nguyên - Mông ở Đại Việt ) dân số thế giới

đã phải tăng gấp hàng chục lần so với đẩu Công nguyên, và dân số Trung Hoa không thể dưới 100 triệu, thế mà Từ Hải chỉ đạt "mục tiêu phấn đấu" có mười vạn quân, thì làm sao Từ có thể tính đến chuyện thâu tóm cả thiên hạ Cũng không thể bào chữa hô Từ rằng: Từ chỉ nói phỏng chừng, với ngụ ý là "có trong tay rất nhiéu quân", vì hai lẽ: lẽ thứ nhất là con số mười vạn không phải chỉ do Từ đưa ra, mà còn do người lại già họ Đô cũng nói nữa (xem câu 2905, lời

họ Đô), và thứ hai là, trong văn học Trung Hoa, để chỉ một đạo quân hùng mạnh, người ta thường nói:"hùng binh trăm vạn, mãnh tướng nghìn viên", vì trong biển người Trung Hoa, một đám giặc cỏ cũng có thể có

Trang 9

hàng chục vạn lâu la Thí dụ: giặc khăn vàng thời Tam quổc, mới nổi lên có vài tháng đã có hơn mười vạn lâu

la, mà rồi trong vài năm cũng bị tiêu diệt Vậy thì

"mười vạn tinh binh" của Từ Hải đâu phải là một lực lượng có thể làm lung lay triều đình Trung Hoa?

(Có thể cho rằng Từ Hải cũng được Việt Nam hóa Mà ở Việt Nam, thời Nguyễn Du, thì với mười vạn quân, Từ có thể mưu đồ đại sự được Tuy nhiẽn, dẫu châm chước cho Từ "tiêu chuẩn" quân số, ta vẫn không thể coi Từ là anh hùng, vì về các tiêu chuẩn tiếp theo, Từ đều không đạt

Lại cũng có thể là Nguyễn Du dùng con sô' mười vạn này để giúp chúng ta nhận ra "Từ Hải hư" chính là vua Quang Trung, vì theo một số sử gia - thí dụ Trần Trọng Kim - thì trong trận Đống Đa - Ngọc Hồi, vua Quang Trung đã chỉ huy mười vạn quân ta mà đánh tan được 26 vạn quân Thanh của Tôn Sĩ Nghị)

Vậy dẫu loại ưừ giả thuyết Nguyễn Du dùng con

số mười vạn để ám chỉ vua Quang Trung thì Từ Hải chỉ

mơ ước có mười vạn tinh binh, cũng không phải là người có chí lớn, muốn "bình thiên hạ" để làm thiên tử

Sau cái chí, phải xét đến cái khí phách, thể hiện

cả trong lời nói, lẫn hành động

Về lời nói, người xưa rất coi trọng "khẩu khí", là lời nói, thường là ngắn gọn, không giống ai, thốt ra khi còn chưa thành đạt, để đánh giá khí phách người

Trang 10

đó Thí dụ, câu nói của bà Triệu: "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp con sóng dữ, chém cá tràng kình ở biển Đông, quét sạch bờ cõi để cứu dân ra khỏi ncri đắm đuối, chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu cong lưng chịu làm tỳ thiếp người ta" và câu của Lê Lợi: "Làm trai sinh ở trên đời nên giúp nạn lớn, lập công to để tiếng thcnm muôn đời, chứ sao lại chịu bo

bo làm đầy tớ người" được nhân dân truyền tụng một cách kính phục đến muôn đời, và íuy bà Triệu không thành công như Lê Lợi, khí phách anh hùng của bà vẫn được đánh giá không thua kém Lê Lợi chút nào

Còn khẩu khí của Từ Hải, thì sao? Khi lừ biêt Kiểu lên đường lập sự nghiệp, Từ hứa "làm cho rõ mặt phi thường" (câu 2223 đã dẫn) Và khi đã làm vua, Từ

đã "bàn bạc gần xa" với Kiều, như sau:

2469 Sao bằng riêng một biên thùy

Sức này đã d ễ làm gì được nhau

Chọc trời quấy nước mặc dầu

2472 Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.

Vậy khẩu khí của Từ là: "chọc ười quấy nước" để

"làm cho rõ mặt phi thường, không biết có ai trên đầu" E)ó chưa phải là khẩu khí của người có chí làm thiên tử,

vì làm thiên tử thì phải "dẹp loạn yên dân" để "bình thiên hạ, nhất thống sơn hà, khiến mọi người phải thần phục", tức là thể hiộn một khí phách "cao" hơn của Từ một bậc Khẩu khí của Từ, tuy chứng tỏ một khí phách

Trang 11

ngang tàng, không tầm thường, nhưng cũng chỉ vào loại

"anh hùng Lương Sơn Bạc" không phải của người anh hùng, ứieo quan niệm của người xưa

Khi xét cái chí, thì cùng với khẩu khí, còn phải xét đến hành động, mà với Từ, là võ công Mà về võ cống, thì Từ chỉ chiếm vẻn vẹn được năm huyện ven biển:

2443 Đòi phen gió quét mưa sa

Huyện thành đạp đ ổ năm tòa cỗi nam

Phong trần mài một lưỡi gươm Những loài giá áo túi cơm xá gì!

Nghênh ngang một cõi biên thùy

2448 Kém gì cô quả, kém gì bá vương.

Mới được có thế, Từ đã thỏa mãn rồi, không chinh phục thêm đất đai để mở rộng bờ cõi, mà an phận "rạch đôi scm hà":

2441 Triều đinh riêng một góc trời

Gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà.

Cái chí "làm vua năm huyện" ấy không thể coi là chí khí anh hùng

Bây giờ ta lại xét cái "lược thao gồm tài" của Từ

Hồ Tôn Hiến vâng lệnh vua đem quân ra tiễu trừ

Từ Vì

2455 Biết Từ là đấng anh hùng

Biết nàng cũng dự quản trung luận bàn

Trang 12

nẽn HỔ:

2457 Đóng quản làm chước chiêu an

Ngọc vàng gấm vóc, sai quán thuyết hàng.

thế mà Từ không chịu tìm hiểu lực lượng cùa Hổ, không nắm được địch tình, trong khi Hồ lại hiểu Từ,

từ chân tơ kẽ tóc:

2506 Vương sư dòm đ ã tỏ tường thực hư.

Theo binh pháp Tôn Tử thì: "Biết mình, biết người, trăm đánh, trăm thắng" Từ chỉ biết mình, mà không biết HỒ, còn Hổ lại biết mình, biết Từ Như thế dẫu Từ không hàng, chống lại Hồ, thì cuối cùng cũng

sẽ thất bại mà thôi

Người làm tướng giỏi dẫu có:

2502 Hẹn kỳ thúc giáp, quyết đường giải binh.

và dẫu không nghi ngờ lòng thành thực của địch thì cũng không vội vã lơ là việc quân, mà phải ăn thề xong mới chịu giải binh T h ế mà Từ lại ngây thơ cả tin lời hẹn với Hồ và ngờ nghệch lơ là viêc quân;

2503 Tin lời thành hạ yêu minh

Ngọn c ờ ngơ ngác, trống canh trễ tràng

Việc binh b ỏ chẳng giữ giàng.

Vây tài thao lược của Từ chưa xứng với một tướng giỏi

Theo người xưa, đối với một ngưcfi tranh bá đồ vương, thì khuyết điém lớn nhất, đủ làm người đó mất

Trang 13

"danh hiệu anh hùng" bất chấp mọi ưu điểm khác, nếu

có, là: "nghe theo lời đàn bà" Thế mà Từ đã luôn luôn

để Kiều bàn bạc việc quân, và Hổ Tôn Hiến biết rõ điều đó:

2455 Biết Từ là đấng anh hùng

Biết nàng cũng dự quân trung luận bàn.

Đến viộc quan trọng nhất, là "chiến hay hàng",

mà Từ cũng làm theo lời Kiều:

2499 Nghe lời nàng nói mặn mà

T h ế công Từ mới đổi ra thế hàng.

và hàng, không phải để tránh cho muôn dân khỏi nạn binh đao, mà vì nghe lời dỗ ngon ngọt của Kiều mà quá tin lời hứa của Hồ:

2497 Sao bằng lộc trọng quyền cao

Công danh ai dứt lối nào cho qua.

Người anh hùng đâu có xử sự vì một chút danh lợi tầm thường như thế!

Tóm lại, ứieo logic của "Truyên Kiều", Từ Hải chỉ

là một người khí phách ngang tàng, chọc ười quấy nước,

"giữa đường dảu thấy bất bằng mà tha", tuy đáng khâm phục nhưng chưa xứng đáng được coi là người anh hùng

Về mọi mặt, Từ đéu thua xa Hoàng Sào

Hoàng Sào (theo [2]) là một nhà nho đời Đưòmg, thi trượt bèn dấy binh làm phản Hoàng lần lượt công phá các lỉnh Hà Nam, Giang Tây, Phúc Kiến, các châu

Trang 14

Tích Đông, Quảng Nam, Kinh Tương, thừa thắng lấy thành Lạc Dương, phá ải Đông Quan, vây hãm kinh đô Tràng An Vua Đường Hy Tông phải chạy vào đất Thục lánh nạn Hoàng chiếm kinh đô, tự xưng là Tề E)ế, lung hoành trong mười năm trời rổi bị quân triều đình đánh bại nhiều trận, cuối cùng bị thủ hạ mưu hại.

Còn Từ Hải chỉ chiếm cứ được nâm huyện ven biển, và chỉ cầm cự được có năm năm:

2449 Trước cờ ai dám tì anh cường

Năm năm hùng cứ một phương hái tân.

Khi, để thuyết phục Từ ra hàng, Kiều nói:

2496 Làm chi đ ể tiếng về sau

Nghìn năm ai có khen đáu Hoàng Sào

là Kiều đã đề cao Từ quá mức, đã làm vinh dự cho Từ nhiểu lắm

(Xin phép được mở một dấu ngoặc ở đây Về câu

2496, một số ngưcrt cho rằng Kiều đã hạ thấp tính cách anh hùng của Từ Hải, và như vậy, là Nguyên Du đã tự mâu thuản Theo tôi, theo diễn biến của truyện, thì câu nối dó của Kiéu là rất logic

Từ Hải và Thúy Kiểu lúc này chỉ sắm vai "Từ Hải thực" và "Thúy Kiều thực" Từ thì đang "mười phân hồ đổ" tức là đang hoang mang dao động, còn Kiều thì quyết thuyết phục Từ đầu hàng Từ vốn là người kiêu căng tự phụ, nên Kiều tránh ỉchông nói đến chuyên,

Trang 15

nếu đánh nhau, thì sự được thua khó mà nói trước Do

đó Kiều tìm lỹ lẽ đánh vào các điểm yếu của Từ: lý lẽ thứ nhất đánh vào lòng trắc ẩn, nghĩa hiộp của Từ (đống xưcmg vô định đã cao bằng đầu), và lý lẽ thứ hai đánh ngay vào lòng tự ái của Từ (dẫu có chống cự được, thì muôn đời sau, người ta vẫn chỉ coi anh là giặc, như Hoàng Sào mà thôi) Tác giả quyếi định cho

Từ Hải xuôi tai theo lời Kiều là hoàn toàn đúng tâm lý của Từ, đổng thời lại vớt vát được một chút danh dự cho Từ: Từ thua không phải vì kém tài thao lược, mà

vì chiều ý người yêu )

Nhưng Từ luôn lự cho mình là anh hùng; hãy nghe;

2199 Nghe lời vừa ý gật đầu

Cười rằng: Tri kỷ trước sau mấy người?

Khen cho con mắt tinh đời

2202 Anh hùng đoán giữa trần ai mm già!

2275 Cười rằng: Cá nước duyên ưa

Nhở lời nói những bao giờ hay không

Anh hùng mới biết anh hùng Rày xem phỏng đã cam lòng ấy chưa?

và Kiều cũng luôn luôn đề cao Từ là ngưòi anh hùng, làm nên sự nghiộp đế vương; hãy nghe các câu nói của Kiều:

2195 Thưa rằng: Lượng cả bao dong

Tấn Dương được thấy mày rồng có phen

Trang 16

2279 Nàng rằng: Chú! phận ngây thơ

Cũng may dây cát được nhờ bóng râv

Đến bây giờ mới thấy dây

Mà lòng đã chắc những ngày một hai.

cuối cùng:

2549 Rằng: Từ là đấng anh hùng

Dọc ngang trời rộng, vẫy vùng biển khơi

Người lại già họ Đô cũng khen Từ là một người:

2904 Hơn đời trí (ỉũng, ngất trời uy linh

Thúc Sinh cũng nói đến Từ một cách kính trọng, khâm phục;

29J 9 Đại vương tên Hải, họ Từ

Đánh quen trăm trận, sức dư muôn người

Gặp nàng khi ỏ Châu Thơi

Lạ gì quốc sắc, thiên tài phải duyên

vẫy vùng trong bấy nhiêu niên Làm cho động địa kinh thiên đùng đùng

Hồ Tôn Hiến, người đã tiêu diệt Từ nhờ cách lừa gạt Từ, cũng công nhận:

2455 Biết Từ là đấng anh hùng

Cách đánh giá này về "Từ Hải thực" không hợp với logic của truyện, vậy phải dành cho "Từ Hải hư",

Trang 17

tức là vua Quang Trung Họ Đô, chàng Thúc, "Thúy Kiều hư", đại diện cho các tầng lớp nhân dân khác nhau đều kính phục "Từ Hải hư" là người anh hùng, thì điều đó có nghĩa là ưong con mắt của nhân dân, và của bản thân Nguyễn Du, vua Quang Trung xứng danh

là một vị anh hùng

Như vậy, qua "Từ Hải hư", chúng ta thấy được mặt thứ hai của mâu thuẫn trong tâm sự của Nguyễn Du: "Cụ kính phục vua Quang Trung là anh hùng, tài đức, biết trọng dụng nhân tài của đất nước", vì:

2277 Anh hùng mới biết anh hùng

Ông vua đó xứng đáng để cụ tôn phù, nhưng cụ lại không "ưa"

*

* *

Từ chỗ so sánh hai ông vua, Nguyễn Du còn đi đến so sánh hai triều đại Chúng ta có thể thấy điều

đó, qua các dấu vết dưới đây

Khi thực hiện cuộc báo ân, báo oán, trước mặt ba quân và bè lũ tội phạm, Kiều đã lớn tiếng tuyên bố:

2356 Chính danh thù phạm tên là Hoạn thư

Theo logic của tniyộn, thì không thể quy tội cho Hoạn thư là chính danh thủ phạm đã làm cho Kiéu điêu đúng, khổ sở ưong mười năm trời được Theo thứ

tự thời gian, thì đẩu tiên, ỉà thằng bán tơ đã vu oan cho

Trang 18

Vưcmg ông, rồi đến tên quan tham nhũn’, đòi hối lộ

ba trăm lạng vàng, sau đến Mã Giám sinh, Tú bà, Sở Khanh, nối dối là mua Kiều làm thiếp, rói sau lại lập mẹo lừa, buộc nàng phải tiếp khách, rồi lại qua Khuyển, ưng, cướp nàng về Vô Tích, cho Hoạn bà đánh cho Kiều một trận thừa sống thiếu chết, rổi mới đến Hoạn thư Hoạn thư tuy có giấu mịt mượn tay Hoạn bà cho Kiểu trận đòn phủ đầu, nhmg chủ yếu chỉ hành hạ nàng và Thúc sinh về mặt tình cảm:

1813 Rõ ràng thật lứa đôi ta

Làm ra con ỏ chúa nhà đôi nơi

chứ không ra mặt đánh đập Kiéu Hoạn thư cũng thực bụng trọng tài Kiều, và cũng có "chút :ình thương" Kiều Khi Kiều trình Hoạn thư tờ thân cung nàng vừa thảo, thì tiểu thư:

/898 Thoắt xem, dường có ngẩn ngơ chù tình

Liền tay trao lại Thúc sinh

2000 Rằng: Tài nên trọng, mà tỉnh nên tkương

Ví chăng có s ố giàu sang Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên

và ngay sau đó, cho nàng ra ở Quan Âm các, đã không bắt phải làm "phận con hầu" lại còn cho "hai tên hương trà" phục vụ nữa Bắt quả tang Thúc sinh và Kiều "cùng nhau kể lể sau xưa" Hoạn thư vẫn làm bộ tin lời sinh, mà khen Kiều "bút pháp đã tinh" Kiều vì

sợ bóng, sợ vía nên mới mắc mưu Hoạn thư mà tự ý

Trang 19

trốn đi, chứ Hoạn thư không ra mặt đuổi Kiều Thật ra, Hoạn thư thừa biết Kiều chẳng trốn được xa Với thế lực của tiểu Uư con quan Lại bộ, lại có chứng cớ rõ ràng là Kiều dã lấy trộm "chuông vàng, khánh bạc", Hoạn thư có thể cho người lùng bắt nàng Nhưng Hoạn thư đã iờ đi cho nàng, đủ tỏ, cô ta không thù ghét nàng, mả chỉ muốn làm cho nàng rời bỏ Thúc sinh, mà thôi Đạt được mục đích rồi, Hoạn thư tha ngay, cả tội ăn trộm, cho nàng.

Thế mà Kiểu lại tuyên bô' trước ba quân, rằng Hoạn thư là chính danh thủ phạiĩi, thì thật không logic chút nào Chua hết Khi cho điệu "chính danh thủ phạm tới trước mặt, tưởng rằng Kiều sẽ cho cô ta một hình phạt thảm khốc, ai ngờ Kiều lại "chào thưa" một cách mát mẻ, và chỉ dọa dẫm một cách hiền lành:' • •

2557 Thoắt trông nàng đ ã chào thưa

Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!

Đàn bà d ễ có mấy tay Đời xua mấy mặt, đời này mấy gan!

D ễ dàng là thói hồng nhan Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều!

rồi, sau khi nghe Hoạn thư tự bào chữa, nàng iại khen,

và tha bổng:

2273 Khen cho 'Thật cũng nên rằng

Khôn ngoan hết mực, nói nâng phải lời.

Tha rơ thi cũng may đởi

Trang 20

"dấu vết" để giúp ta nhận ra "Hoạn thư thực" và "Hoạn thư hư".

Tha cho Hoạn thư là hợp với logic của "Truyện

K iều", vì Kiều không thể vừa trả ơn Thúc sinh xong, lại giết ngay vợ chàng Đạo lý làm ngưòd, thời xưa cũng như thcri nay, đều không thổ chấp nhận viộc vừa trả cm chồng, lại vừa giết vợ, vì đối với Kiều, dù Hoạn thư đáng tội chết, nhưng đối vó^ Thúc sinh, Hoạn thư

là người vợ mà chàng vừa yêu, vừa nể sợ Giết Hoạn thư sẽ làm cho Thúc sinh đau lòng, thì "trăm cuốn gấm, nghìn cân vàng" tạ lòng Thúc trước đó còn có nghĩa lý gì nữa? Vậy nếu việc tha cho Hoạn thư là hợp logic, thì cô Kiều quyết định viộc tha này là "Thúy

Kiều thực", cô Hoạn Ihư được tha cũng là "Hoạn Ihư

thực" Còn cô Kiều kết tội Hoạn thư một cách phi logic là chính danh thủ phạm phải là "Thúy Kiều hư"

và cô Hoạn thư bị kết tội phải là "Hoạn thư hư" "Thúy kiều hư", thì ta đã biết, là tác giả "Truyện K iều", vậy

"Hoạn thư hư" là ai?

"Hoạn thư thực" là con quan Thượng thư bộ L ại Theo cả hai tác giả của [1] và [2] thì đời Minh (cũng

Trang 21

như các đời Tống, Đường) khổng có tể tướng, mà chỉ

có sáu thượng thư của sáu bộ, và thượng thư bộ Lại đứng đầu các thượng thư, quyền hành như tể tướng Vậy, có thể cho rằng "Hoạn thư hư" chính là toàn thể các quan lại, từ lớn đến nhỏ, của triều đình nhà Lê

Và qua "Hoạn thư hư" bị lên án là chính danh thủ phạm, ta có thể cho rằng: Nguyễn Du đã nhận thức được rằng bộ máy quan liêu, tham nhũng của triều đình phong kiến chính là thủ phạm, là nguồn gốc của mọi sự bất công, của mọi nỗi lầm than, cơ cực của nhân dân Có thể xác minh thêm kết luận này nhờ dấu vết sau đây

Khi nghe Kiều "kể lại sự ngày hàn vi" thì:

2295 Từ công nghe nói thủy chung

2307 Thệ sư k ể hết mọi lời

Lòng lòng cùng giận, người người chấp uy.

Nguyễn Thạch Giang giải thích;

"Thệ sư là lễ tuyên cáo và hiểu dụ quân sĩ trước lúc xuất quân"

Trang 22

Theo logic của truyện, thì để bắt một chục người dân thường dẫu ờ trong một thành lớn như thành Lâm Truy, mà đưa cả một chục vạn quân, từ châu Thai nơi

Từ đón Kiều, đến Lâm Truy, xa hàng nghìn kilômét, thật quá lãng phí sức quân, sức của, Từ chỉ cần sai một viên tướng đem vài trăm quân là đủ, hà lâì phải thân chinh đem đại quân đi?

Lâm Truy vốn là kinh đô cũ của nước Tề, một trong bảy nước thời Chiến quốc, nên trong các triều đại sau này vẫn là một thành lớn với hàng vài chục vạn dân, buôn bán sầm uất, vây phải có thành cao, hào sâu, có quan binh với hàng vạn quân lính trỂ&i giữ, không thể dễ dàng đánh chiếm, lĩià không hao binh tổn tướng Lúc này Từ chưa:

2444 Huyện thành đạp đ ổ năm tỏa cõi nam

mà dẫu có năm huyện, thì năm huyện ấy cũng không thể sánh được với thành Lâm Truy, quan giữ thành đâu

có để cho Từ ngang nhiên đến bắt người, mà ngay khi thấy bóng quân Từ từ xa đã hạ lệnh đóng cửa thành, chống giữ Giả sử rằng nhờ tài cẩm quân, đánh thành,

Từ chiếm được thành, rồi mới sai đi bắt người Chịu hao binh, tổn tướng để làm chủ một tòa thành lớn, giàu có như vậy, trong khi lại chưa có một tấc đất làm căn cứ địa, lẽ nào Từ không giữ để chống lại triẻu đình, mà lại quay ra đánh chiếm năm huyện ven biển? Tóm lại, việc Từ kéo ba quân vào thành Lâm Truy để bắt bọn Tú Bà, Mã Giám sinh, Sở Khanh không hợp

Trang 23

với logic của "Truyện Kiều" "Từ Hải thực" chỉ có thể sai quân lén bắt "những người phụ bạc xưa kia" theo cách mà Hoạn thư đã dùng để bắt Kiều mà thôi.

Huy động toàn bộ lực lượng của mình chỉ để bắt mươi tên lưu manh, Từ đã làm một việc quá "xa xỉ" rồi Vậy mà trước khi cất quân, Từ còn làm lễ "thệ sư" tức là Từ còn hiệu triộu ba quân để khích động lòng quân nữa, thật là long trọng vượt quá mức cần thiết đối với việc báo ân, báo oán riêng tư Dẫu Từ có được lòng quân đến chừng nào, thì nếu điều binh chỉ đổ trả thù cho cá nhân mình, Từ cũng khó mà khêu gợi được lòng căm thù sôi sục như vậy của ba quân, khiến "lòng lòng đều giận" như thế, huống chi là để trả thù cho Kiều? Thái độ sôi sục căm thù này của toàn thể sĩ tốt

rõ ràng là trái với logic của truyện Nó không thể là thái độ của quân sĩ dưới trướng của "Từ Hải thực", vậy phải là của quân sĩ và quần chúng dưới sự lãnh đạo của "Từ Hải hư" nổi lên để trừng trị "Hoạn thư hư" Phải chăng Nguyễn Du dùng hai chữ "thệ sư" để kín đáo chỉ việc vua Quang Trung trước khi đem quân lên đường ra Bắc đánh quân Thanh, ngày 29 tháng chạp Mậu Thân (1788), đã mở cuộc duyệt binh rất lớn, và

tự Ngài hiệu triệu quân sĩ bằng những lời lẽ rất thớng thiết khiến cho không người nào là không hăng hái xông lên giết giặc?

Một chi tiết nữa, cũng không hợp với logic thông thường trong việc Từ đưa "mười vạn tinh binh, kéo về đóng chặt một thành Lâm Truy" Khi thấy Từ "nổi giận

Trang 24

đùng đùng" dẫn "mười vạn tinh binh" rầm rầm rộ rộ kéo vào thành, thì người đọc chúng ta, cũng như nhân dân ưong thành nghĩ ngay rằng Từ sẽ cho làm cỏ thành Lâm Truy phen này, chứ đâu lại "giơ cao đánh sẽ", chỉ

để bắt mấy tên bán thịt, buôn người, mấy đứa du côn, bất lương? Hcm nữa, để bình thiên hạ, thì mười vạn quân của Từ là quá ít, nhưng để vào đóng ưong một tòa thành thì lại quá đông Sang xâm chiếm cả nước ta, Tôn

Sĩ Nghị cũng chỉ đem hai mươi sáu vạn quân, mà cũng phải chia ra đóng giữ ở nhiều nơi xa và quanh thành Thăng Long, để cứu ứng lẫn nhau Một người cầm quân

"lược Uiao gồm tài" như "Từ Hải thực" không lẽ lại chủ quan dổn hết lực lượng của mình vào ưong một cái thành vừa mới chiếm được, mà không để lại một đơn vị nào đóng ở ngoài làm thế ỷ dốc?

Đã thế, Từ còn khiến chúng ta phải ngạc nhiên kính phục, không hiểu Từ làm thế nào mà giữ cho đạo quân hùng mạnh, đang sôi sục căm thù, đằng đằng sát khí đó vào đóng trong thành một cách hòa bình, tuân thủ được kỷ luât nghiêm minh, không cướp bóc, không tơ hào của dân, vì nếu có chuyện đó, thì Từ và Kiều đã không được "xa gần ngợi khen" như lời kể của người lại già họ Đô Đó là một điều không thể có dưới thời phong kiến Các tác giả Hoàng Lê nhất thống c h f'’ kể lại không thiếu gì chuyên quân lính

"> Ngô Tất TỐ dịch, NXB Văn hóa Hà Nội 1958

Trang 25

nhũng nhiễu dân chúng Ta hãy nghe lời Nguyễn Hữu Chỉnh dặn dò hai tướng Nguyễn Như Thái và Hoàng Viết Tuyển của mình khi sai họ đem quân đi đánh bắt Dưcmg Trọng Tế:

"Hắn hàng thì điệu ngay về, không được cho quân cướp bóc các làng, các xóm Hắn chạy cũng chẳng cần đuổi, sợ rằng quân đi đến đâu, gai góc sinh

ra đến đó "

Đinh Tích Nhưỡng dòng dõi mười tám đời quận công trấn giữ Hải Dương, Quảng Yên nhưng:

"Nhưỡng không khéo vỗ về trăm họ, lại thả quân

sĩ cướp bóc các làng xóm, hai phủ Thượng Hổng, Hạ hồng đều cùng căm oán, hào mục các nơi hùa nhau nổi lẽn đánh lại "

Còn bản thân Nguyễn Hữu Chỉnh thì:

"Sau khi giết được quận Thạc, Qiỉnh tự nắm hết quyền hành trong nước, hết thảy công việc đều ở mình

ra Sự "dông dỡ" mỗi ngày một tệ Từ đó lòng dân lìa

bỏ, quan văn, quan võ ai cũng chán nản Người nào theo lẽ công, giữ phép nước đều bị tướng sĩ của quân

Vũ Thành quấy nhiễu (Vũ Thành là lẽn do Chỉnh đặt cho đạo quân của mình, để cả oai thế)"

Cái chuyện; "quân lính đi đến đâu, gai góc sinh

ra đến đó" dưới mọi triều đại phong kiến, là chuyên chẳng làm ai ngạc nhiên Quân triều đinh còn thế, quân của các tưóng lĩnh, hào mục địa phương càng tệ

Trang 26

hơn Nguyễn Du hẳn không iạ gì chuyên đó, 'nên chúng ta không thé cho rằng cụ đã sơ suất mà kín đáo đưa ra chi tiếl, quân của Từ không xâm phạm của cải cùa dân Từ Hải bấy giờ còn là "đại vưcmg", quân của

Từ chưa có danh nghĩa là quân triều đình, dẫu có muốn, Từ cũng không thể ngăn câứn mười vạn quân của mình "sinh ra gai góc" trong một thành giàu có như thành Lâm Truy được

Trong khi đó, cụ lại chứng kiến mười vạn quân của vua Quang Trung kéo ra Bắc đánh quân Thanh, chẳng những không tơ hào của dân, lại còn được dân chúng khắp ncfi đem trâu, rượu khao thưởng Sau khi đánh tan quân Thanh, vua Quang Trung lại kéo đại quân vào thành Thăng Long vỗ yên tràm họ

Đối chiếu các chi tiết "thệ sư" và "mười vạn tinh binh kéo về đóng chật một thành Lâm Truy" với các

sự việc "vua Quang Trung hiệu triệu quân sT' và "mười vạn quân của vua, sau khi phá xong quân Thanh, kéo vào thành Thăng Long", chúng ta có thể kết luận rằng hai chi tiết của truyện, do không hợp với logic của truyộn, nên đúng là hai "dấu vết" ám chỉ hai sự kiện lịch sử vừa trình bày

Và đây là một dấu vết nữa, giúp chúng ta xác minh kết luận trên

Khi Từ Hải và Thúy Kiều xét xử Hoạn Thư cùng bọn Tú bà, Mã Giám sinh, Bạc Hạnh chưa đến một chục người, không có chút danh vọng gì cũng chẳng

Trang 27

phải loại chọc tròi khuấy nước, mà Từ dàn cả mười vạn quân, với đầy đủ cờ quạt, khí giới, một cách "tề chỉnh, uy nghi

23I I Quân trung gươm lớn, giáo dài

Vệ trong thị lập, cơ ngoài song phi.

sẵn sàng, tề chỉnh uy nghi, Vác đòng chật đất, tinh kỳ rợp sân.

Trướng hùm mỏ giữa trung quán

2316 Từ công sánh với phu nhân cùng ngồi.

Hơn nữa, khi bắt đầu xét xử "chính danh thủ phạm Hoạn thư", một ngưcri đàn bà yếu ớt, không một tấc sắt ưong tay, lại có giáp sĩ kèm hai bên, mà Từ còn

uy hiếp tinh thần phạm nhân, bằng cách ra lệnh cho quân sĩ nhất tề tuốt gươm ra khỏi vỏ:

2355 Kíp truyền chư tướng hiến phù

Lại đem các tích phạm tù hậu tra.

Dưới cờ, gươm tuốt nắp ra

2358 Chính danh thủ phạm, tên là Hoạn thư.

Những nghi thức xét xử long trọng, oai nghiêm như vậy, xưa kia thường chỉ dành cho các tướng chỉ huy quân địch bị bắt sống, để buộc phải đẩu hàng, hoặc để thị uy với bộ phận quân địch còn lại, nhằm làm lung lay tinh thần chiến đấu của họ Trong nội bộ quân mình, các vị chỉ huy thường chỉ bày đầy đủ các nghi thức đó trong ngày đầu nhậm chức, khi duyệt lại

Trang 28

đội ngũ trước lúc xuất quân Khi đó, họ thường tìm cớ

để xử tử một người cạy mình có danh tiếng, hoặc có thần thế mà coi thường quân lệnh, để "nghiêm quân pháp", để làm gương cho toàn thể quân sĩ ở đây, Kiều chỉ xử những người có thù riêng với nàng, những người chẳng có liên quan gì đến quân lệnh, quân pháp, thì xét xử họ trước toàn quân nào có tác dụng răn đe gì đối với quân sĩ? Mà đối với họ, chỉ riêng một việc quân lính ập vào nhà bắt đi cũng đủ làm cho họ khiếp đảm lắm rồi, hà tất phải bày đặt bấy nhiêu nghi thức long trọng kia mới uy hiếp được họ?

Vậy màn "xét xử tội phạm" một cách long trọng, uy nghi, rất không cần thiết, do tác giả

"Truyện Kiéu" dàn dựng ở đây không phù hợp với logic của truyện cũng lại là một "dấu vết" được dụấig

ý để lại Để hiổu được dụng ý này, ta hãy xem mức

án mà Kiều định đoạt cho các tội phạm của mình Theo lời tuyên án của nàng:

2387 Lệnh quán truyền xuống nội đao

Thề sao thì ìạỉ cứ sao gia hình

thì chỉ có ba người đã thề với nàng là Mã Giám sinh,

Tú bà và Bạc Hạnh là đáng tội chết mà thôi Ta không thể kể Bạc bà vào số ngưèõ ấy, vì Kiều chỉ đòi:

2123 Dù ai lòng có sỏ cầu

Tám minh xin quyết với nhau một lời.

nên chỉ một mình Bạc Hạnh phải thề:

Trang 29

2131 Bỉc sinh quỳ xuống vội vàng

Quớ lời, nguyên hết Thành hoàng Thổ công

Sở Khinh thì chỉ hứa hão, đánh lừa nàng, chớ không thề Ihốt, hai tên Khuyển, ưng lại càng không, vậy, tại sac Kiều lại sai "gia hình" tất cả? Hơn nữa, theo luật piáp ngày xưa "sát nhân giả, tử" (kẻ giết người (thì phải) chết), cả bảy tội phạm kể trên, khồng

ai làm hại đến tính mạng Kiều thì đâu có đáng tội chết? Hơn nữa, hai tên Khuyển, ưng là loại tay sai, chỉ phạm ưột tội là bắt cóc Kiều, theo lệnh của chủ, thế mà ngưòi sai chúng đi bắt Kiều thì được tha, còn chúng thì Kiều lại bắt tội, mà tội nặng đến thế? Lê Vãn Hòe đi phân tích rất chi tiết sự việc báo ân báo oán này của Kiều, và kết luận rất chí lý rằng: "suốt truyện chỗ nào Kiều cũng đáng thương, duy chỗ báo oán là Kiều đáng ghét" Nhưng, để cho đủ, còn phải nói thêm rằng việc xử tử cả bảy người là một việc làm vừa không công bằng, vừa thất đức

Thế mà bản thân Kiều lại cho rằng việc làm của nàng là công bằng, là quang minh, chính đại

2381 Nàng rằng: "Lồng lộng trời cao"

Hại nhân, nhân hại, sự nào tại ta.

Và việc báo oán cũng làm cho ba quân của Từ rất

hả hê;

2393 Mấy người bạc ác tỉnh ma

Mình làm mình chịu kều mà ai thương

Ba quân đông mật pháp trưởìig

Trang 30

2396 Thanh thiên bạch nhật rỗ ràng cho coi.

Vậy việc báo oán trái logic của truyện, do "Thúy Kiều thực", thực hiện phải được coi là viộc làm hợp logic của "Thúy Kiều hư", nhờ sự giúp đỡ của "Từ Hải hư" Và những Tú bà, Mã Giám sinh, Sở Khanh, ưng, Khuyển, Bạc Hạnh, Bạc bà bị xử tử khồng phải là nhân vật"thực" của truyện, mà phải được coi là bọn người bất lưomg, lưu manh, côn đồ, làm hại người lương thiện, gây bao nỗi thống khổ cho nhân dân, và việc tiêu diệt chúng được "Thúy Kiều hư" coi là một việc chính đáng, hợp lẽ công bằng Điều đó cũng có nghĩa là Nguyễn Du coi việc vua Quang Trung đem

"mười vạn tinh binh" ra giải phóng thành Thăng Long khỏi sự xâm lược cùa quân Thanh, đồng thời chấm dứt triều đại nhà Lê, là triều đại sản sinh ra bọn tham quan, lại nhũng, lưu manh, cổn đồ, gây đau khổ cho nhân dân là một sự viêc chính đáng, hợp lẽ công bằng

Và Nguyễn Du còn cho chúng ta thấy rằng, đó không chỉ là quan điểm của riêng cụ, mà còn là cách đánh giá của nhân dân, và cả của Trời Thật Ihế! Người lại già họ Đô, khi kể lại việc báo ân báo oán của Kiéu, đã phản ánh dư luận "xa gần", tức là của quần chúng:

2907 Tóc tơ các tích mọi khi

Oán thì trả oán, án thì trả ân

Đã nén có nghĩa có nhân

2910 Trước sau trọn vẹn, xơ gần ngợi khen.

Trang 31

Nếu chỉ vì trả thù cá nhân, mà giết gần một chục người, chắc chắn Kiều chẳng được ai khen Vậy, cái

mà nhân dân ca ngợi tất phải là sự "báo oán hư"

Đạm Tiên, khi báo mộng cho Kiều lần thứ ba, cũng nói:

2717 Tấm í hành đ ã thấu đến trời

Bán mình là hiếu, cứit người là nhân

Một niềm vì nước vì dân

2720 Ầm công cất một đồng cán đến già

Chúng ta chú ý rằng, Đạm Tiên báo mộng cho Kiều, cả thảy ba lần Lần thứ nhất, khi Kiều còn ở nhà, sau khi nàng đi tảo mộ về: Đạm báo cho nàng biết:

í 99 Vâng trình hội chủ xem tường

Mà xem trong s ổ đoạn trường có tên

Ầu đành quờ kiếp nhân duyên

202 Cùng người một hội, một thuyền đáu xa.

Lần thứ hai, khi Kiều tự tử, nhưng không chết:

995 Rỉ rằng: Nhân quả d ỏ dang

Đ ã toan trốn nợ đoạn trường được sao?

S ố cồn nặng nợ má đào Ngưíri dầu muốn quyết, trời nào đ ã cho!

Hãy xem hết kiếp liễu bồ Sông Tiền Đườììg s è hẹn hò vê sau.

Trang 32

Quả nhiên, mặc dù "toan trốn nợ đoạn trường", Kiều vản không thoát, vẫn phải chịu kiếp đó mười lãm nãm trời, và quả là, lại được gặp Đạm Tiên ở sông Tiền Đưcmg,

Lần thứ ba, khi Kiều gieo mình xuống sông Tiền Đường Đạm Tiên cho Kiều biết, Trời đã "thấu tấm thành" của nàng, nên nàng đã được:

Đoạn trường sổ rút tên ra Đoạn trường thơ phải đưa mà trá nhau

Còn nhiều hưởng thụ về sau Duyên xưa tròn trặn, phúc sau dổi dào!

Và quả nhiên là, sau đó, Kiểu được tái hồi Kim Trọng và được hưởng phú quý

3235 Một nhà phúc lộc gồm hai

Nghìn năm dằng dặc, quan giai iần lần.

Ba lần báo mộng cho Kiều, Đạm đều báo trước được một cách hoàn toàn chính xác mọi việc xảy ra cho Kiều, vì Đạm được xem sổ sách của Trời Vậy thì lời phán xét "cứu người ià nhân, một niềm vì nước vì dân" mà Đạm Tiên truyền đạt cho Kiều, cũng phải là lời phán xét xác đáng, chí công của Trời Nhưng

"Thúy Kiểu thực" có cứu ai đâu, và có làm gì vì nước

vì dân đâu? Trừ việc tiếp khách, khi ở thanh lâu và viộc hầu hạ Hoạn thư khi bị bắt cóc về Vô Tích, là những việc phải làm vì bị chủ sai khiến, và làm không phải vì dân vì nước, Kiều chỉ tự nguyện làm có hai

Trang 33

việc: một, là khuyên Từ Hải hàng, và hai, là báo ân, báo oán Trong việc khuyên Từ ra hàng, khiến Từ chếl

vì tay Hổ Tôn Hiến, Kiều là kẻ bị lừa, là nạn nhân và làm vì lợi ích riêng tư, mà chính nàng cũng nhận, đó là tội của nàng, chứ nàng có dám nhận công đâu? Hãy nghe lời nàng đáp lại Hồ Tôn Hiến; khi Hồ nói:

2543 Đã hay thành toán miếu đường

Giúp công cũng có lời nàng mới nên.

Kiều đã lập tức phản đối:

2549 Rằng: 'Từ là đấng anh hùng

Dọc ngang trời rộng, vẫy vùng biển khơi.

Tin tôi nên quá nghe lời Đem thán bách chiến làm tôi triều đỉnh.

Ngỡ là phu quý phụ vinh

Ai ngờ một phút tan tành thịt xương.

2555 Năm năm trời b ể ngang tàng

Dấn mình đi bỏ chiến trường như không.

Khéo khuyên k ể lấy làm công

K ể bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu.

Xét mình công ít tội nhiều

2560 Sống thừa, tôi đ ã nên liều mình tôi

Một số người vin vào mấy chữ "kể lấy làm công"

và "xét mình công ít" mà trách Kiều nhận việc khuyên

Từ ra hàng, để Từ bị hại vì tay Hồ Tôn Hiến là công

Trang 34

của nàng, và như vậy là Kiều quá vô om và tàn nhẫn đối với Từ Theo tôi, đó không phải là chủ ý của Nguyễn Du Trong tài liệu [2] Lê Văn Hòe đã giải thích rất chi tiết, và hợp lý từng câu một, từ câu 2551 đến hết câu 2558 Đặc biệt là câu 2557: "Kiều gián tiếp nói: tôi có khuyên chổng tôi ra hàng để ông giết chổng tôi đâu, mà bây giờ ông bảo tôi có công?" Giảng như thế là chí lý, vì Kiều đang phản đối Hổ, mà

Hồ nói: "giúp công có lời nàng", ihì hiểu, người "kể lấy làm công" là Hồ, mới là đúng

Nhưng vể hai chữ "công ít", Lê Văn Hòe lại nói:

"chúng tôi đổng ý với Tản Đà tiên sinh chê Kiểu đã nói hai tiếng này

Nàng không nên nhận việc khuyên Từ Hải ra hàng là một cái công, dù là công nhỏ xíu"

Theo tôi, Kiểu nhận mình "công ít" không phải là nhận rằng nàng có công, mà đó là một cách nói đổ phản đối hai chữ "giúp công" của Hồ Tôn Hiến, vì nàng đang là tù nhân trong tay Hồ, nên không dám nói thẳng thừng "tôi làm gì có công gì" mà phải nói khéo

"công ít" để Hổ đỡ nổi giận Cứ xem ngay trong

"Hoàng Lê nhất thống chí" cũng thấy cách nói công thức: "cố nhiên là phải như thế, nhưng " mà mọi người đều dùng, trước khi đưa ra ý kiến phản đối, đậc biệt là khi ý kiến ấy trái với ý kiến người trên, thì thấy, Kiều nói "công ít" là để phản đối một cách nhẹ nhàng, chứ không phải là Kiều nhận công

Trang 35

Vói Hổ Tôn Hiến, vì sợ oai Hổ, và cũng vì Ị^ép "lịch sự", ngoà mặt Kiều phải nhận là "công ít" nhưng sau lưng

Hồ, tnróc mọi người, nàng lại công khai tự nhận:

2631 Giết chồng mà lại lấy chồng

Mặt nào còn đứng ỏ trong cõi đời?

Tóm lại việc khuyên Từ Hải ra hàng của Kiều không thể coi là việc "cứu người", và không thể cho rằng vì "một lòng vì nước vì dân" mà Kiều đã đẩy Từ đến chỗ chết Vậy, chỉ còn lại việc "báo ân, báo oán"

mà theo logic của "Truyện Kiều" việc đó lại là một việc không công bằng, thất đức Vậy thì tính chất "có nghĩa, có nhân", "vì nước, vì dân" được cả Trời và người công nhận - mà Trời đã phán xet, thì ắt không sai - phải nằm ở việc "báo oán hư", tức là việc quét sạch bọn người bất lương, tàn ác, mà "Thúy Kiều hư" cùng "Từ Hải hư" thực hiện

Dường như cho rằng một Đạm Tiên chưa đủ để truyền đạt lời phán xét của Trời vì dù sao Đạm cũng chỉ là một hồn ma, và chỉ báo mộng được cho một mình Kiểu, nên Nguyễn Du còn mượn lời bà Tam Hợp đạo cô để truyền đạt cho mọi người, lời phán xét của Trời Sư Tam Hợp, tuy là một người trần, mắt thịt, nhưng vừa theo Phật giáo, vừa theo Đạo giáo, nên nắm được thuật bói toán, trở thành nhà tiên tri, theo lời Giác Duyên:

2403 Sư rằng: Cũng chẳng mấy lâu

Trong năm năm lại gặp nhau dó mà

Trang 36

Nhớ ngày hành cước phương xa Gặp sư Tam Hợp vốn là tiên tri

Bảo cho hội họp chi kỳ Năm nay là một, nữa thì nám năm

Mới hay tiền định chẳng lầm

Đã tin điều trước, ắt nhằm việc sau

Lần thứ hai gặp Giác Duyên, sau khi nói rõ sô' phận của Kiều, sư Tam Hợp còn dặn:

2691 Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau

Tiền Đường thả một bè lau rước người.

Trước sau cho vẹn một lời Duyên ta, mà cũng phúc trời, chi không.

Năm năm sau Giác Duyên thuê thuyền chờ sẵn ở sông Tiền Đường, quả nhiên vớt được Kiều, đúng như lời tiên tri của sư Tam Hợp Như vậy, mọi việc mà sư Tam Hợp tiên tri, đéu diễn ra đúng như lời sư Điểu đó chứng tỏ rằng mọi lời bà nói là hoàn toàn đúng, vì đó

là những lời phán xét của Tròi Và Trời đã phán xét như sau;

2680 Nghiệp duyên cân lại, nhắc đi còn nhiều

Xét trong tội nghiệp Thúy Kiều Mắc điều tình ái, khỏi điều tà dám

Lấy tình thám trả nghĩa thám Bán mình đ ã động hiếu tâm đến trời

Trang 37

2685 Hại mộíngười, cứit muôn người

Biết điều kỉinh trọng, biết lời phải chăng

2687 Thửa côig đức ấy ai bằng

Về câu 2685 Nguyễn Thạch Giang không đưa ra lời chú thích nào, ;òn Lê Ván Hòe viết:

Hại một nguời cứu muôn người, nói việc Kiều

vô tình đ ã giết T i Hải? Có người chê Tam Hợp đạo

cô dạy lẫn, vi sư đ ã tán thành và ca tụng việc Kiều giết chồng.

Nhưng trước mắt nhà sư, có lẽ Từ Hải chỉ là một tướng giặc Nhà s / không nhận Kiều với Từ Hải là vợ chồng Sư đứng vỉ quan điểm của nhân dân mà nói, chứ không đứng \ề quan điểm của Kiều Và theo sự nhận xét của nhâr dân, thì việc trừ bỏ Từ Hải là một cái may cho đời scng nhân dân.

Hại một Từ Hải, mà cứu được muôn người khỏi bị giết hại".

Lời kết luận cuối cùng này của Lê Văn Hòe rõ ràng là không đúng Từ Hải mắc lừa mà bị hại, đúng là quân của Hổ Tôn Hiến bớt được nhiều thương vong, nhưng còn "mười vạn tinh binh" của Từ bị:

2523 Quan quân truy sát đuổi dài

Ù ù sát khí ngất trời ai đang

2525 Trong hào ngoài lũy tan hoang.

Trang 38

không còn lấy một người, thì không kể là người sao? Giảng như vậy là ông Hòe đã hiểu câu "hại một người cứu muôn ngưcri" thành "hại một người mà cứu được muôn người" hoặc "hại một người để cứu muôn người",

và như thế có lẽ không đúng ý Nguyên Du Xét cả đoạn tám câu trên, chúng ta ửìấy sư Tam Hợp chủ định cho Giác Duyên biết toàn bộ bản luận công, tội của Kiều, ưong đó, Trcd cân nhắc cả công lẫn tội, chứ không chỉ nói đến công, vì "nghiệp duyên cân lại nhắc đi" kia mà!

Và ưong bản này có hai phần rõ ràng

Phần thứ nhất gồm ba câu 2682, 2683 và 2684, nói về việc tư của Kiều Trong phần này,Trời kể tội Kiều "mắc điều tình ái" tức là đã tự ý "tìm hiểu" và đính ước với chàng Kim vượt quyền cha mẹ, và Trời ghi cho Kiều cái công "bán mình" để cứu cha và cứu

cả nhà

Phần thứ hai, gồm ba câu 2685, 2686 và 2687, nói về việc công của Kiều Như đã nói ở trên, Kiều chỉ làm có hai viộc; khuyên Từ Hải hàng và báo ân, báo oán Mà trong bản luận tội, cũng có hai lời phán xét: hại một người và cứu muôn người Khi cân nhắc công, tội, giống như phần phán xét việc tư của Kiều,Trời

kể tội trước, và kể công sau Vậy "hại một người" ứng với chuyện khuyên Từ Hải ra hàng là tội của Kiều, còn

"cứu muôn người" ứng với "việc báo ân báo oán là công của nàng Như vậy, Trời cũng coi việc Kiều vô tình đẩy Từ Hải vào chỗ chết là tội giết chồng cùa

Trang 39

nàng, còn việc báo oán là việc "cứu muôn người" chính là một việc làm "công đức ấy ai bàng".

Hiểu như vậy, thì không những hợp lý hơn về mặt văn lý (vì ta không thêm một chữ nào vào câu cùa sư Tam Hợp) mà còn giúp ta thấy rằng sư Tam Hợp không dạy lẫn, như nhận xét của Lê Văn Hòe, mà trái lại, sư nói rất đúng, tức là Trời rất công minh Dù chỉ mắc lừa mà

vô tình đẩy Từ Hải vào chỗ chết, Kiều vẫn là có tội đôì với Từ, và Icri buộc tội "hại một người" cùa sư Tam Hợp

là hợp với logic của truyện, và "Thúy Kiều thực" bị cả Trời và người, và cả chính nàng nữa, kết tội giết chồng là

"Từ Hải thực" Còn việc báo oán của Kiều, theo logic của truyộn, đáng phải chê là không công bằng và thất đức, lại được ghi công là "cứu muôn người", thì không hợp logic của truyện, nên công đó phải được gán cho "Thúy Kiều hư", ưong viộc "báo oán hư"

Nếu lời báo mộng của Đạm Tiên còn làm cho chúng ta phân vân về viộc "cứu người" của Kiều thì lời

sư Tam Hợp, phân biệt rạch ròi công và tội của Kiều khiến chúng ta không còn nghi ngờ gì nữa Qua việc báo oán hư này, chúng ta hiểu được thâm ý của Nguyễn Du: "Cụ nhận thức được rằng chế độ phong kiến triều Lê đã sản sinh ra những quan tham, những phường bán thịt, buôn người, những bọn lưu manh (như Khuyển, ưng), áp bức, tàn hại nhân dân Và việc vua Quang Trung chấm dứt triều Lê và quét sạch bọn

đó để trừ hại cho dân là một việc công đức, một việc nhân nghĩa, thuận ý trời, hợp lòng người"

Trang 40

Để bạn đọc khỏi hiểu nhầm, tôi xin phép lưu ý rằng nhận thức của Nguyễn Du về tài, đức của vua Quang Trung mà chúng ta suy đoán qua các dấu vếi

"Từ Hải hư", "Hoạn thư hư", "báo oán hư" là nhận thức của cụ khi cụ viết "Truyện Kiều" Tới lúc đó vua Quang Trung đã bãng hà được gần hai chục nãm, triều Tây Scm cũng đã sụp đổ hcfn mười năm, kiến thức và

sự từng trải của Nguyễn Du đã đủ để giúp cho tư tưởng của cụ hoàn toàn chín mùi Trong khi đó, ưong

"Truyện Kiều" lại không có dấu vết nào giúp ta suy đoán tư tưởng đó nảy sinh từ lúc nào Điéu dễ hiểu là các tư tưởng lớn, sâu sắc của một người không thể hình thành ngay một sớm, một chiều, mà phải trải qua một quá trình mò mẫm, suy ngảm, so sánh, tích lũy kiến thức rất lâu dài Do đó, chúng ta có thể đoán rằng, khi vua Quang Trung ra Bắc lần đầu và dứt họ Trịnh, Nguyễn Du hẳn coi ông là Ihù, và đã có lúc chống lại Có lẽ cụ chỉ bắt đẩu thay đổi nhận định của mình sau khi Lê Chiêu Thống đón quân Thanh về, lộ

rõ bản chất bán nước như Trần ích Tắc, và vua Quang Trung phá tan mội cách thần tốc hai mươi sáu vạn quân Thanh, bộc lộ đầy đủ thiên tài quân sự của mình

và lập công to lớn đối với đất nước Nhưng sự chuyển biến đó có lẽ diễn ra rất chậm chập, và phải nhiều năm sau khi làm quan với triều Nguyễn, nhận thức của cụ mới đầy đủ như đã trình bày ở trên

Ngày đăng: 14/05/2021, 21:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w