1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cấu trúc và chức năng của lễ hội truyền thống

59 30 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 650,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lễ hội truyền thống của người Việt nam chủ yếu là diễn ra trong không gian vật chất và xã hội làng. Trước hết, về phương diện xã hội học, làng là một nhóm địa vực. Điều đó nghĩa là: Điều kiện tiên quyết của những người muốn chung sống với nhau là họ phải có cùng chung một địa vực cư trú và làm ăn sinh sống.

Trang 1

Trước hết, về phương diện xã hội học, làng là một nhóm địa vực Điều đó có

nghĩa là: Điều kiện tiên quyết của những người muốn chung sống với nhau là họ

phải có cùng chung một địa vực cư trú và làm ăn sinh sống Có lẽ thủa ban đầu khai

hoang lập làng, người ta chưa thể có một ý thức xã hội về làng như ngày nay, mà

mới chỉ có ý thức thân tộc Dần dà, các gia tộc với tư cách là những láng giềng của

nhau đã có thêm nhu cầu liên kết để tồn tại và phát triển nên ranh giới làng, trước

hết là ranh giới vật chất, đã được hình thành Sau đó mới là những phát triển khác về

mặt kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá cộng đồng Chỉ đến lúc này không gian vật

chất mới trở thành không gian xã hội, không gian tâm lý và không gian văn hoá

Trong xã hội nông nghiệp cổ truyền của người Việt, làng là đơn vị xã hội gốc,

là một chỉnh thể kinh tế, xã hội, văn hoá cấp cơ sở của nước Nói cách khác, làng là

một kết cấu xã hội có tính cộng đồng cao: ngoài cộng đồng lãnh thổ, làng còn là

một cộng đồng chính trị, kinh tế (tự cấp tự túc) và văn hoá Làng tạo ra quan hệ

xã hội phức hợp, nội tại để thắt chặt con người cá thể, cũng như từng nhóm xã hội

với nhau, để tạo thành một sức mạnh vật chất cũng như tinh thần- sức mạnh cộng

đồng.

Có thể nói, trong xã hội nông nghiệp cổ truyền của người Việt (tính di động

xã hội thấp) thì làng chính là một xã hội thu nhỏ Nhiều người nông dân , trong suốt

cuộc đời của mình, không có điều kiện để đi xa hơn luỹ tre của làng mình, thì làng

chính là hiện thân của cái xã hội lớn mà anh ta đang sở thuộc Theo thời gian ý thức

Trang 2

về không gian vật chất và xã hội làng ấy ngày càng được bồi đắp: ý thức về mình vàngười khác, ý thức về chúng ta và họ…luôn được đặt trong tương quan với bối cảnhvật chất của cái làng cụ thể.

Chính những ý thức xã hội ấy đã bồi đắp nên những hệ thống chuẩn mực và giátrị xã hội làng Hệ thống chuẩn mực giá trị xã hội làng không tồn tại một cách trìutượng mà nó tồn tại dưới hình thái những biểu trưng- tức những loại hình văn hoá

Đến lượt nó, văn hoá lại có tác dụng củng cố, phát triển các chuẩn mực và giá trịxã hội, và tất nhiên là ý thức và tâm lý xã hội của từng cá thể cũng theo đó mà pháttriển

Câu nói dân gian: “Trống làng nào làng ấy đánh, Thánh làng nào làng ấy thờ”

là một ví dụ thể hiện khá rõ nguyên lý trên Mỗi làng của người Việt đều có một vịthánh- biểu tượng cao nhất về sự hiện tồn của cái xã hội làng- để tôn thờ Nói theo

cách lý giải của Đurkhem thì việc tôn thờ vị thánh này chính là một cách lý tưởng

hoá cái xã hội làng, là sự đề cao những giá trị xã hội đang hiện tồn ở làng

Sự lý tưởng hoá này được dân gian biểu tượng hoá bằng một loại hình văn hoá

đặc biệt: Đó là lễ hội Bằng và thông qua lễ hội, tất cả mội thành viên trong cộng

đồng làng (tức là tất cả những ai sinh ra và lớn lên trên địa vực làng, có cùng một

đức tin vào vị thánh của làng, cùng tuân thủ hệ chuẩn mực và giá trị của làng, có

chung ý thức và tâm lý xã hội làng) được tham dự vào việc bày tỏ tình cảm và ý thức

cộng đồng về cái xã hội làng của mình (mà ở đây là đối với vị thánh của mình) Sựtham dự này không chỉ được thể hiện ở những phương diện tinh thần mà còn ởnhững đóng góp sức lực và vật chất một cách tự nguyện Điều đó có nghĩa là: Tất cảnhững ai không phải là thành viên của làng thì dù họ có đi dự hội họ cũng chỉ là

những khán giả thuần tuý mà thôi: Họ sẽ không thể có một sự đồng cảm văn hoá với

những gì lễ hội đang trình ra, cũng không có bất kỳ một nghiã vụ hay quyền lợi nàoliên quan đến vị thánh được thờ Vì thế trong ngôn ngữ dân gian thì thành viên củacác làng có lễ hội dùng từ “mở hội”, còn những người khác thì lại dùng từ “xemhội”

Như vậy, đại đa số không gian vật chất và không gian xã hội của một lễ hội

cổ truyền là không gian làng Cụ thể hơn, lễ hội được tổ chức bởi những con người

Trang 3

của làng, bằng sự đóng góp về người và của bởi các thành viên trong làng, cầu cúngcũng vì lợi ích của toàn thể dân làng, lộc thánh cũng được chia đều cho làng, vuichơi cũng dành cho tất cả mọi người trong làng…

Cũng chính từ không gian làng, mà một số lễ hội đã phát triển lên thànhnhững lễ hội có qui mô rộng lớn hơn: lễ hội vùng (như lễ hội làng Gióng, Lễ hộilàng Mễ Sở, ), thậm chí lễ hội quốc gia (như lễ hội đền Hùng)1 Sở dĩ như vậy là

do không gian xã hội của lễ hội được nới rộng: Các vị thánh vốn trước đây chỉ làbiểu tượng cho giá trị của một cộng đồng làng, đã dần trở thành biểu tượng chonhững giá trị của cả một vùng, thậm chí cho cả một dân tộc, một quốc gia Sự lantoả của những giá trị xã hội ấy cũng có thể là sự vận động tự thân, nhưng đa số là dotác động của những yếu tố chính trị: Khi đã hình thành quốc gia- dân tộc, nhà nướcphong kiến đã tuyển chọn những giá trị xã hội phù hợp, có lợi cho lợi ích của quốcgia, dân tộc mình rồi thể chế hoá chúng và phổ biến chúng rộng khắp vào đời sốngxã hội Điều đó giải thích tại sao chúng ta lại có những lễ hội truyền thống rất quymô để suy tôn Hùng Vương như là quốc tổ, Thánh Gióng, Hai Bà Trưng, Trần Hưng

Đạo… như là hiện thân của tinh thần chống ngoại xâm

Vì vậy, có thể nói rằng: Trong lễ hội truyền thống, phạm vi ảnh hưởng của vị

thánh được tôn thờ sẽ quyết định không gian xã hội của lễ hội ấy Đến lượt nó, phậm

vi ảnh hưởng ấy lại chịu tác động trực tiếp bởi mức độ tham gia của nhà nướcphong kiến Có thể nói bên cạnh uy tín của các vị thánh, thần thì trong xã hội phong

1 Không gian của lễ hội không nhất thiết diễn ra trong từng địa hạt một làng, do dân làng đó tham dự mà có khi lan ra hàng tổng như hội Gióng tổ chức vào ngày mồng 9 tháng

4 âm lịch, bao gồm bốn làng thuộc tổng Phù Đổng là Phù Đổng, Phù Dực, Đổng Viên,

Đổng Xuyên Lễ hội làng Đa Hoà tôn thờ Chử Đồng Tử - Tiên Dung xưa do dân của 8 làng trong tổng Mễ Sở tiến hành tổ chức hàng năm vào mùa xuân, từ 12 - 15 tháng 3 (âm lịch) Theo tục lệ địa phương thì làng Mễ Sở là anh cả, làng Đa Hoà là chạ trưởng, làng Hoàng Trạch là em út; còn làng Nhạn Tháp, làng Phú Thị, làng Bằng Nhà và làng Phú Trạch đều

có bát hương thờ vọng Thành hoàng của làng mình trong hậu cung làng Đa Hoà Hàng phủ như hội Lim (Hà Bắc) Các lễ hội vùng hay còn gọi là liên làng thường do các làng thờ chung một vị thành hoàng nên mở hội kết chạ để rước ngài từ làng này sang làng kia.

Trang 4

kiến vị thì địa vị của chủ tế trong buổi khai mạc lễ hội cũng quyết định quy mô to

hay vừa của lễ hội ấy: Có những lễ hội vua đích thân (hoặc cử một quan lại cao cấp

làm đại diện cho mình) tới dự- thì đó là những lễ hội cấp quốc gia, có những lễ hội

Vua uỷ quyền cho quan lại vùng đến dự hoặc làm chủ tế thì đó là lễ hội cấp vùng

Tuy nhiên, về thực chất không gian vật chất vẫn là không gian của cái làng có

lễ hội: Lực lượng tổ chức và tham gia vào các nghi lễ và nghi trình chính của lễ hội

vẫn là người của làng, hành trình đám rước vẫn chỉ diễn ra ở trong phạm vi của làng,

tán lộc cũng chủ yếu là cho người trong làng… Sự nới rộng không gian vật chất ở

đây chủ yếu là ở chỗ: Người dự hội đông hơn (từ các làng lân cận trong vùng hoặc

từ mọi miền của tổ quốc về trảy hội) kèm theo đó là lễ vật và công đức nhiều hơn,

các trò vui hoặc thi đấu được mở rộng cho cả khách thập phương…

Tính chất đó của không gian vật chất ở những lễ hội truyền thống cấp vùng

và cấp quốc gia đã quyết định: làng gốc có lễ hội bao giờ cũng đóng vai trò chủ thể,

luôn giữ vai trò chính - vai trò trung tâm của lễ hội Ví dụ:Trong lễ hội Gióng lễ hội

được tổ chức chính ở làng Phù Đổng hoặc Phù Dực, lễ hội đền Hùng thì làng Cổ

Tích là trung tâm, ở lễ hội làng Đa Hoà lấy làng Đa Hoà làm trung tâm [xem …]

Thánh, thần là đối tượng tôn thờ, thiêng hoá của cộng đồng làng và người ta

tiến hành lễ hội cũng không ngoài mục đích đó Có thể nói, không có các vị thánh

thần thì không có lễ hội truyền thống

Trong tâm thức của người Việt, thuyết hồn linh chiếm địa vị chủ đạo Vì thế,

người Việt quan niệm rằng: Linh hồn của các vị thánh, thần cần phải có chỗ trú ngụ

và chỗ đó là một địa điểm thiêng

Trong lễ hội làng, những nghi lễ, nghi trình chủ chốt thường được tổ chức tập

trung ở địa điểm thiêng ấy Địa điểm đó là một không gian hẹp- hữu hạn: Có thể là

không gian nhân tạo như đình, đền, miếu, chùa (trong đó đình là không gian lễ hội

phổ biến nhất), cũng có thể là không gian tự nhiên như gò, đống, bãi 2

2 Theo số liệu thống kê 223 lễ hội tiêu biểu ở đồng bằng Bắc Bộ: có 79 lễ hội tổ chức tại

đền, 39 lễ hội tổ chức tại chùa, 105 lễ hội tổ chức tại đình Viện văn hoá dân gian: Khảo

sát thực trạng văn hoá lễ hội truyền thống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ trong xã hội

hiện nay Hà Nội 1999.

Trang 5

Đây là những địa điểm thiêng Tại những địa điểm này, cái thiêng được hiệntồn, được tri giác bởi những hình thái biểu trưng (như kiểu kiến trúc, tượng, ngai thờ,nghi vật, nghi trượng và kẻ cả những ứng xử nghi lễ) Chính vì vậy có thể gọi địa

điểm như thế là những không gian thiêng của lễ hội

Lễ hội cổ truyền của người Việt phần lớn được tổ chức tại đình - trung tâm củasinh hoạt làng/ xã: Kinh tế, chính trị, xã hội và đặc biệt là văn hoá tâm linh mỗilàng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ thường đều có một ngôi đình Đình nằm ởkhu đất đẹp và tốt lành nhất và cũng là thiêng nhất.3 Nhìn chung đình là biểu tượngcho mọi giá trị trong cuộc sống làng xã

Không gian của ngôi đình,(hay miếu, đền) trở nên thiêng liêng vì trước hết đây

là nơi các vị thánh, thần của làng ngự giá Toan ánh đã lý giải sự linh thiêng ấy nhưsau:

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một trong những tín ngưỡng chủ đạo trong đời

sống tâm linh của người Việt ở trong nhà, con cháu lập từ đường thờ cúng tổtiên, trong làng xã dân làng thiết lập những ngôi đình để thờ phụng Thànhhoàng Con cháu đối với tổ tiên ra sao thì dân làng đối với vị Thành hoànglàng như vậy Đức Thành hoàng thường ngự tại đình, chứng kiến đời sốngcủa dân chúng cùng dân chúng ghi nhớ mọi kỷ niệm của làng xã Luật lệ thóitục, đạo đức đều được ngài duy trì Những người hiền lương được phù hộ,những kẻ gian ác bị trừng phạt Dân làng nhất nhất tuân theo luật lệ, vì tôntrọng luật làng nhưng cũng vì sợ thần linh quả phạt Các vị hương chức tronglàng, mỗi khi muốn mở hội hoặc tổ chức việc gì đều cúng thần xin phép trước

3 Cho đến ngày nay, trong tâm thức của người nông dân, ngôi Đình vẫn luôn là cái gì đó rất thiêng, họ thường có những câu chuyện truyền miệng về sự linh thiêng của ngôi đình làng mình Ví dụ, dân làng Bồ Dương- Ninh Giang- Hải Dương luôn nói về việc linh thiêng của ngôi đình làng mình: Có một quả bom do máy bay Mỹ ném trúng đình nhưng không nổ

được; Hoặc ở làng Cựu Điện- Vĩnh Bảo- Hải Phòng, câu truyện về tên ăn trộm đồ thờ trong miếu thần đã bị thánh vật, không thể đi được và để dân làng đến trói cổ, hay ở làng Nhân Mỹ- Vĩnh Bảo- Hải Phòng cũng thế, các cụ kể rằng, lần thứ nhất xây đình không

đúng hướng, đúng chỗ, nạn ôn dịch làm nhiều người làng bị chết,khi di chuyển và xây cất

đình lần thứ hai, dân làng đã nghe theo lời của một vị quan Ông ấy đã nói rằng:”Nếu xây theo như thế thì dân làng ta có đi lính cũng không ai bị chết” Một điều rất trùng hợp là trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ dân làng này đi bộ đội nhiều nhưng không ai bị hy sinh……

Trang 6

Thành hoàng ở đây chính là vị chỉ huy tối cao không những riêng về phầnthiêng liêng mà còn có thể nói cả một phần về đời sống thực tế của dân làngnữa Ngài đã đoàn kết dân xã, và chính sự đoàn kết dân xã là cái sức mạnh vềphần thực tế của Ngài [Toan ánh Phong tục Việt Nam (thờ cúng tổ tiên)Nxb KHXH 1991,trang 129 130].

Tuy nhiên, dân làng sẽ không thể tri giác được vị thần đang ngự ở trong ngôi

đình nếu không có một hệ thống những nghi vật, nghi trượng mang tính biểu tượngcho sự thiêng liêng của thánh, thần Nếu như thế , tất yếu họ không thể có ý niệm vềthì sự thiêng liêng ấy Về mặt văn hoá vật thể, ngôi đình dân gian đã được tiêuchuẩn hoá hoá bằng hệ thống kiến trúc (nội ngoại thất) như sau:

Đình thường chia làm hai phần cách biệt: hậu cung (đình trong, nội điện), đạibái (đình ngoài)

Đình trong là chỗ thâm nghiêm, nơi thờ đức thành hoàng Trong cùng là cungcấm nơi an phụng thần vị, ở đây thường có tượng hoặc bài vị của ngài đặt tronglong ngai hoặc long khám

Trước nơi an phụng thần vị có bàn thờ Trên bàn thờ ngoài các đồ thờ, tam sự,ngũ sự hoặc thất sự bằng đồng, đài rượu, quả trầu.v.v còn có hòm sắt đựng sắcphong, kinh sách và thần tích

Trước bàn thờ và hương án là tả, hữu nội gian

Để ngăn bàn thờ với tả, hữu nội gian, hai bên có hai hàng tự khí gồm cờ quạt,tàn lọng, đồ bát bửu, đồ lỗ bộ, ngựa hồng, ngựa bạch hoặc voi Gần nơi cungcấm trong đình, thường ở hai bên có một cờ một biển, gọi là cờ vía, biển vía đềchức tước của vị Thành hoàng (xem chú thích phần nghi trượng)

Đình ngoài là phần ngoài hậu cung còn gọi là đại bái chia làm ba khoảng.Chính giữa là trung đình làm nơi tế tự

Trong cùng trung đình về phía hậu cung có bày thêm hương án với đồ thờ.Trước hương án này là nơi hành lễ khi tế tự Có trải chiếu, và trong lúc việclàng, các người có ngôi thứ cao có thể được ngồi nơi đây Còn tuỳ tục lệ, cónhiều làng, nơi đây chỉ dùng để lễ bái, không ai được phép ngồi

Hai bên trung đình còn có hai dãy hương án khác trên có đặt đồ lễ của dân lànghoặc của khách thập phương mang tới lễ thần

Phía ngoài hai dãy hương án này là Tả gian và Hữu gian

Trang 7

Đây là chỗ ngồi của những người ngôi thứ còn kém, tuổi chưa mấy cao và dânlàng trong khi đình đám.

Nhà đại bái còn được gọi là nhà tiền tế, vì mọi việc tế lễ cử hành nơi đây

Ngoài nhà đại bái là sân đình Hai bên sân đình là tả mạc và hữu mạc, còn gọi

là hai dãy muỗng hoặc gọi là nhà lang Các quan viên sửa soạn mũ áo vào tế tạihai muỗng này, và khi làng vào đám lớn, đây cũng dùng làm chỗ ngồi cho dânlàng.(Toan ánh Phong tục Việt Nam (thờ cúng tổ tiên) Nxb KHXH 1991 trang134)

Ngoài cùng là cửa tam quan, (nhiều học giả gọi cửa này là nghênh môn, cong ởchùa mới gọi là tam quan) là cách tôn nghiêm rộng rãi, tường hoa cột trụ, xây

đắp chung quanh Hai bên vách tường, nhiều nơi đắp con rồng, con cọp, hoặc

vẽ hình đôi võ tướng cầm long đao, hoặc vẽ voi, vẽ ngựa, hoặc làm voi đá đứng

đôi bên, trên đầu cột trụ thì đắp con sấu sành (Phan Kế Bính - Việt Nam phongtục dẫn theo Toan ánh Phong tục Việt Nam (thờ cúng tổ tiên) Nxb KHXH

1991 trang 134)

Cũng xin nói thêm, theo ý kiến của nhiều nhà khoa học, thời Bắc thuộc tínngưỡng sùng bái, tưởng niệm các anh hùng văn hoá, khai sáng đất nước như LạcLong Quân, thánh Tản Viên (Sơn Tinh) và các anh hùng có công chống giặc ngoạixâm như Thánh Gióng, Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, Triệu Quang Phục, PhùngHưng, đã xuất hiện trong lễ hội cổ truyền Tuy nhiên thời kì này ngôi đình củangười Việt chưa xuất hiện, lễ hội cổ truyền được tổ chức tại chùa và tín ngưỡng mớinày chỉ là một bộ phận nhỏ mà thôi Đến thế kỷ XV, XVI đặc biệt là từ thế kỷXVII -khi tín ngưỡng thành hoàng phát triển- kiến trúc đình xuất hiện, là lúc màkhông gian đình trở thành trung tâm lễ hội thay thế cho không gian cũ - chùa.4 [ ]

4 Theo Nguyễn Xuân Kính: “Kiến trúc đình làng ở thế kỷ XVI có đình Lỗ Hạnh (huyện Hiệp Hoà, Hà Bắc), đình Thổ Hà, (Việt Yên, Hà Bắc), đình Phù Lưu (Từ Sơn, Hà Bắc), đình Tây Đằng (Hà Tây) Sang thế kỷ XVII, đặc biệt ở nửa sau của thế kỷ này, phong trào dựng đình đạt đến đỉnh cao Khi chiến tranh Trịnh Nguyễn chấm dứt, các làng xã nô nức dựng đình, lòng người hướng về một cuộc sống thanh bình, ổn định, yên vui Những tên gọi “Thọ Khang Đình”, “Hoà Lạc Đình”, “Văn Thịnh Đình” đã chứng tỏ điều đó ở Bắc

Trang 8

Lễ hội cổ truyền của người Việt cũng còn được tổ chức tại những ngôi đền Sovới chùa và đình, đền được sách vở ghi chép ít hơn5.

Bộ, thuộc địa phận Hà Bắc, Hà Tây, Hà Nam Ninh, Vĩnh Phú, Hải Phòng có nhiều ngôi

đình nổi tiếng ở Hà Bắc có đình Cao Thượng (huyện Tân Yên), đình Thắng (huyện Hiệp Hoà), đình Phù Lão (huyện Lạng Giang), đình Diềm; ở Hà Tây có đình Chu Quyến (huyện Quảng Oai), đình Đông Lỗ (huyện ứng Hoà), đình Hoàng Xá (huyện ứng Hoà), đình Liên Hiệp (huyện Quốc Oai), đình Huy Xá (huyện Mỹ Đức); ở Hà Nam Ninh có đình Hương Lộc (huyện Nghĩa Hưng), đình Trùng Thượng và đình Trùng Hạ (huyện Gia Viễn); ở Vĩnh Phú

có đình Thổ Tang (huyện Vĩnh Lạc), đình Lâu Thượng (thành Phố Việt Trì), đình Đào Xá (huyện Tam Thành), đình Xốm (huyện Phong Châu), đình Hương Canh (huyện Tam Đảo),

đình Ngọc Canh và đình Tiên Hường (huyện Tam đảo); ở Hải Phòng có đình Kiến Bái (huyện Thuỷ Nguyên)

ở thế kỷ XVIII, lễ hội không những được tổ chức ở các ngôi đình mới ở Hà Bắc, có

Đình Bảng (huyện Tiên Sơn), ở Vĩnh Phú có đình Phú Mỹ (huyện Mê Linh); ở Hải Hưng có

đình Thạch Lỗi (huyện Mỹ Văn), đình Nhân Lý (huyện Nam Sách); ở Hải Phòng có đình Hàng Kênh ” (Nguyễn Xuân Kính Phác thảo lịch sử lễ hội )

5 ở thế kỷ XVII, đền thờ Lý Bát Đế (Hà Bắc) được xây dựng lại vào các năm 1603

-1604 Nơi đây thờ mẹ vua Lý Thái Tổ và tám bà hoàng hậu nhà Lý Đền bà chúa Mụa ở huyện Kim Động (Hải Hưng) được xây dựng vào thế kỷ XVII ở huyện Hoa Lư (Ninh Bình)

có hai đền thờ Đinh Tiên Hoàng, một thờ Lê Đại Hành Cả hai đền đều được xây dựng vào

đầu thế kỷ XVII và được sửa chữa, tu bổ ở những thế kỷ sau đó.

ở Hà Nội, đền Quán Thánh (còn gọi là Trấn Vũ Quán hoặc đền Trấn Vũ) nằm trong cụm đền trấn bốn phương do Lý Thái Tổ lập nhằm dùng thần quyền thu phục nhân tâm:

đền Bạch Mã (phố Hàng Buồm) trấn phía đông, đền Linh Lang trấn phía tây, đền Cao Vương (Kim Liên) trấn phía nam, còn đền Trấn vũ trấn phía bắc ở thế kỷ XIX, dù các triều vua có khác nhau, chính quyền phong kiến đều trú trọng sửa sang ngôi đền này.

ở Phú Thọ, đền Hùng lớn hơn cả về qui mô xây dựng và lưu lượng người trẩy hội.

Đền Hùng là một hệ thống kiến trúc thờ các vua Hùng Khu di tích này được xây dựng qua nhiều giai đoạn Trong giai đoạn nguyên sơ, nơi đây là những toà miếu cổ bằng đá Vào các thế kỷ XI - XIV, đền được xây dựng tương đối qui mô Vào thế kỷ XV, đền bị giặc Minh phá huỷ Vào thời hậu Lê, đền được khôi phục Dưới thời Nguyễn, những phần hư nát của

Trang 9

Đền là một nơi thờ tự công cộng được dựng lên để kỷ niệm một anh quân, một

vị anh hùng hoặc một vị thần nào đó có công với dân chúng

Đền thường nhỏ hơn đình, kiến trúc cũng tương tự như kiến trúc đình, nghĩa làcũng chia ra hậu cung và nhà đại bái

Tại nhiều làng, ngoài vị Thành hoàng chính thờ tại đình, còn thờ các vị thầnkhác tại các đền

Tóm lại, đền cũng như đình là nơi cúng phúc thần Theo các cụ truyền lại, đềnthường là chỗ quỷ thần an ngự còn đình chỉ là nơi thờ vọng, nghĩa là tại đình cóbàn thờ, nhưng chỉ trong những ngày tuần tiết, vị thần linh mới giáng lâm,những ngày khác ngài lại về đền Đây là nói những xã chỉ thờ một vị phúc thầnlàm Thành hoàng, còn những xã ngoài đức Thành hoàng ra thờ thêm các vịthần khác, đối với mỗi vị thần đều phải có một ngôi đền riêng

Tại đền không có chỗ rộng rãi để dân làng hội họp chỉ đủ để nơi hành lễ, trongnhững những dịp tuần tiết sóc vọng

Thường trong những ngày thần kỵ, trong làng có mở hội thì dân làng bao giờcũng tổ chức lễ rước thần từ đền tới đình

Tại các nơi đô thị tổ chức thành phường phố, ít nơi còn giữ lại ngôi đình,thường chỉ có đền nên hội kỷ niệm thần linh được tổ chức ngay tại đền

Chung quanh đền cũng như chung quanh đình thường có cây cao bóng mát,gồm các cây cổ thụ như đa, si, sanh là những loại cây quanh năm xanh tốt.Không kể ở các thành phố, tại nông thôn, đền thường được xây dựng cũng như

Trang 10

Người Việt còn có những lễ hội được tổ chức tại chùa, thường các nhà khoahọc thường gọi là hội chùa Cũng theo chứng minh của nhiều nhà khoa học, hộichùa xuất hiện ở nước ta từ rất sớm Phật giáo truyền vào Việt Nam khoảng đầucông nguyên, ngay từ đầu Phật giáo đã dung hoà hoặc thay thế một số hạt nhân tínngưỡng trong các hội làng cũ Chính từ đây, xuất hiện hội chùa mà tiêu biểu nhất làhội chùa Dâu thế kỷ II trước công nguyên (Hà Bắc)6 [ ]

6 Thế kỷ XI đến thế kỷ XIV là giai đoạn cực thịnh của Phật giáo, Phật giáo được tôn thành quốc giáo bởi vậy lễ hội chùa càng phát triển Hội chùa không chỉ có mặt ở những trung tâm Phật giáo thời Bắc thuộc như Luy Lâu (Hà Bắc) mà đã lan ra khắp nơi, vượt khỏi lưu vực sông Hồng vào đến tận Thanh Hoá, Nghệ An ở Hà Bắc ngày nay, lúc bấy giờ lễ hội được mở ở chùa Dâu, chùa Phật Tích (Vạn Phúc Tự), chùa Dạm (Thần Quang Tự), chùa Vĩnh Phúc (Linh Quang Tự) Trên địa phận Hà Nội ngày nay, dưới các triều đại Lý, Trần, hội được mở ở chùa Khai Quốc (Trấn Quốc), chùa Cát Tường, chùa Một Cột (Diên Hựu Tự, ở các chàu Bà Tấm (Sùng Phúc Tự, Linh Nhân Từ Phúc) Trên địa phận Nam

Hà lúc bấy giờ có hội chùa Long Đọi (Sùng Thiện Diên Linh), chùa Phổ Minh Trên địa phận Hà Tây hiện nay, vào thời Lý, Trần, hội được mở ở chùa Bối Khê, chùa Thầy (Thiên Phúc Tự)

Sang thế kỷ XV Phật giáo mất vị trí là quốc giáo nhường chỗ cho Nho giáo Lễ hội cổ truyền vẫn được tổ chức tại chùa nhưng, không còn rộn ràng như những thế kỷ trước Sau nhiều lần hạn hán, nhà vua đã cho tổ chức rước phật từ chùa Pháp Vân (Hà Bắc) về chùa Báo Thiên (Hà Nội) để cầu mưa.

Thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX lễ hội tiếp tục được tổ chức tại chùa Hà, chùa Hương Canh, chùa Cói (Vĩnh Phú), chùa Trà Phương (Hải Phòng), chùa Giám (Hải Hưng), chùa Thầy, chùa Hương (Hà Tây), chùa Tây Phương, chùa Mía, chùa Kim Liên (Hà Nội), chùa Trăm Gian, chùa Bút Tháp (Hà Bắc), chùa Keo Thái Bình Có thể hình dung sự nô nức háo hức của các hội chùa qua việc nhà nho Phạm Quí Thích (1760 - 1825) viết về sự tự nguyện, hồ hởi đóng góp tiền của để xây cất chùa, đúc chuông khánh: “người ta không xem người làng

ư? Tích luỹ để làm giầu, bôn ba để kiếm tước, một trinh cũng chẳng cho ai, những khi nói

bố thí thì nói tôi bao nhiêu? Chỉ sợ đứng sau người Kẻ nghèo bàng hoàng suốt ngày, bữa sớm chưa biết bữa chiều, mà có ai đến quyên thì cũng vét túi mở hòm cho được đồng tiền,

đấu gạo mà không gần gại gì cả” (dẫn theo Nguyễn Xuân Kính Phác thảo lịch sử lễ hội Tc VHDG số 4/1991 trang 38-44)

Trang 11

Lễ hội của người Việt còn được tổ chức tại những địa điểm khác như: gò

đống, bến bãi ngay cạnh làng như hội Bà Đống (Hà Bắc), Bia Bà (Hà Đông)…Những không gian thiêng nêu trên là những trung điểm của lễ hội cổ truyềncủa người Việt Đa phần, đến ngày giỗ của vị thánh, thần ở nơi nào (ở đình, miếu,

đền hay chùa) thì dân làng làm lễ hội ở nơi đó Nhưng cũng có làng thì cứ mỗi lần

mở hội thì tất cả các thiết chế văn hoá tâm linh trong làng đều được sử dụng Có thể

lễ hội được tổ chức chủ yếu ở một địa điểm hoặc xuất phát từ một điểm cố địnhnhưng sau đó sẽ lan toả ra các không gian thiêng khác:

- Chẳng hạn ở lễ hội Đồng Kỵ (ngày nay còn gọi là hội pháo Đồng Kỵ), tổchức hàng năm từ mồng 3 đến mồng 7 tháng giêng âm lịch Cao điểm làngày mồng 4 Lễ hội diễn ra tại đồng thời các trung tâm sinh hoạt văn hoátâm linh, cộng đồng của làng (đình, chùa, đền, miếu) [ ]

- Như lễ hội Dóng: không gian thiêng chính của hội Dóng là ở đền thượng.

Tuy nhiên không gian lễ hội không bó hẹp tại đó mà lan rộng ra nhiều nơi:

giếng đền mẫu, đên mẫu…[]

Tóm lại, cấu trúc không gian của lễ hội truyền thống của người Việt bao gồm:

- Không gian thiêng như đình, miếu, đền, chùa- là những nơi mà đối tượngcủa lễ hội được biểu trưng hoá ở đó, các nghi lễ trọng tâm của lễ hội diễn ra ở đó

Có thể ví không gian văn hoá này như thỏi từ: Sự mạnh yếu của thỏi từ này sẽ quyết

định độ rộng của từ trường Nói cách khác , uy tín của vị thánh, thần được thờ sẽquyết định quy mô, phạm vi nhỏ hay lớn của lễ hội (Mà uy tín đó lại do trình độbiểu trưng hoá cái linh thiêng- tức là cái văn hoá- của địa điểm thờ cúng đóng gópmột vai trò quan trọng) Ta có thể lấy một vài ví dụ: Phùng Hưng- “Bố Cái ĐạiVương”- là một nhân vật rất quan trọng trong lịch sử Việt Nam, nhưng đền thờ ông

ở Sơn Tây nhỏ, không khí thờ cúng lạnh lẽo, hệ thống nghi trượng, nghi vật sơsài…Vì thế nó không gây được cảm giác linh thiêng cho khách thập phương Trongkhi đó, cũng là tôn thờ Phùng Hưng, nhưng do đình làng Triều Khúc được nhân dân

ở đó chăm chút kỹ lưỡng hơn (mức độ biểu tượng hoá trong kiến trúc và trang trí nộithất cao hơn) nên dân chúng cảm thấy ở đây thiêng hơn và đến dự lễ hội đông hơn

Lễ hội chùa Hương hay lễ hội Yên Tử sở dĩ có lượng lữ khách rất lớn cũng có thể

Trang 12

được giải thích bằng cách này: Bản thân cảnh đẹp kỳ vĩ, sự hiểm trở, huyền bí của tựnhiên những nơi nàyđã là biểu tượng hiển nhiên của cái linh thiêng.

- Không gian vật chất làng: Là phạm vi thực tế mà lễ hội diễn ra Tại không

gian này (Làng), các nghi trình, nghi lễ của lễ hội được thể hiện bởi chính tất thẩynhững thành viên của cộng đồng làng: Từ sự chuẩn bị về mặt vật chất, từ công tác tổchức cho đến những nghi lễ quan trọng như tế lễ, rước sách, cho đến sự ăn uống vàvui chơi cộng cảm… đều do chính dân làng thực hiện Điều đáng chú ý ở đây là: Họthực hiện tất cả những điều đó với tâm lý của người trong cuộc- các nhà khoa họcgọi đó là tính tham dự [xem Đinh Gia Khánh chủ biên- bài của một TS ngườiSingapore]

- Không gian xã hội: Đây là sự nới rộng không gian của công chúng lễ hội.

Ngoài dân cư trong cộng dồng làng có lễ hội, có thêm rất nhiều người từ các làngkhác, địa phương khác đến dự hội và cầu cúng vị thánh ở làng có lễ hội Độ rộng lớncủa công chúng được quyết định bởi độ linh thiêng của vị thánh, thần được tôn thờ

và bởi cả mức độ thể chế hoá của nhà nước phong kiến đối với việc tôn thờ ấy Vìthế mới có lễ hội vùng, thậm chí quốc gia

Như vậy, cấu trúc không gian của lễ hội truyền thống lấy hạt nhân làkhông gian thiêng Điều này phù hợp với toàn bộ hoạt động của lễ hội truyền thống:Tất cả nhằm vào việc “hầu thánh”, nói cách khác toàn bộ hành động lễ hội đềumang tính hướng thần Có thể mô hình hoá không gian của lễ hội truyền thống nhưsau:

Đồ hình 1:

Không gian xã hội

Không gian vật chất- làng

Không gian thiêng

Trang 13

ở các cộng đồng người Việt, chu trình vòng đời được đánh dấu bằng

các lễ, chu trình vòng quay của tự nhiên được đánh dấu bằng các tết (tiết), thì chu

trình cây trồng lại được đánh dấu bằng một loại hình khác- đó là lễ hội Đa phần các

lễ hội làng cổ nhất của người Việt là lễ hội nông nghiệp: Cho dù đối tượng thờ cúng

là ai đi chăng nữa thì mục đích mà cộng đồng làng muốn trao gửi ở lễ hội hoặc là là

câù cho mùa màng tốt tươi, hoặc là tạ ơn trời đất đã ban cho một vụ mùa bội thu

Dần dần, trong những thời kỳ lịch sử giữ nước muộn hơn, xuất hiện những lễ hội

nhằm tưởng nhớ và suy tôn những nhân vật lịch sử đã có công trạng trong qúa trình

chống giặc ngoại xâm bảo vệ cộng đồng Những lễ hội này thường được tổ chức hai

lần/ một năm ( xuân thu nhị kỳ) vào ngày hoá, ngày sinh của các vị thánh ấy hoặc

ngày họ có những công trạng nổi bật Nhưng về sau này thì ngay cả những lễ hội

này cũng có những biến dịch về thời gian mở hội: Đa số các làng tổ chức lễ hội quy

mô và trang trọng trong khoảng thời gian của mùa xuân, còn lễ hội mùa thu thì

không còn được tổ chức linh đình nữa

Theo nhiều số liệu thống kê, chúng ta thấy rất rõ: Cứ sau Tết Nguyên đán- tức

cứ vào mùa xuân- nhân dân khắp các làng quê người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ đều

tưng bừng mở hội (Có nơi gọi là “vào đám” hay là tiệc cầu xuân) Rồi tiếp đó là

một số lễ hội diễn ra lẻ tẻ cho đến tháng 5, tháng 6 Đến mùa thu tháng 8, tháng

mười lễ hội lại được tổ chức nhiều lên ở một số nơi7

7 Lấy ví dụ thống kê từ đề tài của Thắng làm cho Hà Nội “Văn hoá phi vật thể ở thủ

đô Hà Nội”

Trang 14

Như vậy, dù hai lần hay chỉ một lần trong năm thì thời gian diễn ra lễ hội

truyền thống của người Việt cũng mang tính chu kỳ: Tức là sự quay tròn- lặp lại của

sự kiện Tính chu kỳ của lễ hội trong xã hội nông nghiệp phụ thuộc vào tính chu kỳ

của vòng sản xuất cây trồng và cũng là vòng thời tiết khí hậu trong khoảng thời gian

một năm Nhìn dưới góc độ xã hội học, lễ hội là một hình thức hoạt động rỗi trong

thời gian rỗi ở cấp độ mùa vụ (6 tháng) và cấp độ năm (12 tháng) Từ vài trăm

năm nay, dân ta đã sản xuất 2 vụ/ một năm: Cứ thu hoạch xong vụ mùa và cày cấy

xong vụ chiêm lại đến thu hoạch xong vụ chiêm và cày cấy xong vụ mùa Đấy là

những khoảng thời gian mà người nông dân không thể dồn tâm trí và sức lực cũng

như của cải vào những hoạt động tâm linh hay hội hè đình đám Chỉ ở giữa hai vụ

thu hoạch và cày cấy ấy người nông dân mới có một khoáng thời gian rỗi (thời gian

nông nhàn: trong giai đoạn này, người nông dân chỉ còn phải làm một số công việc

rải rác như làm cỏ, bỏ phân, giữ nước hay tháo nước) Bên cạnh những hoạt động rỗi

cấp cá nhân, cấp nhóm như làm nghề phụ, dân gian đã sáng tạo ra một dạng hoạt

động rỗi cấp cộng đồng là lễ hội làng Chính loại hình văn hoá này đã giúp cho cuộc

sống của người nông dân “chân lấm tay bùn” quanh năm kia có thêm sức sống và

niềm tin mới trong suốt quảng thời gian lao động vất vả sắp tới Điều này cắt nghĩa

được: Tại sao các hội làng thường được tỏ chức vào tháng giêng, hai, ba và vào

tháng tám

Cũng phải nói thêm rằng: Về phương diện kinh tế, nền kinh tế nông nghiệp

cổ truyền của người Việt, với năng suất lao động thấp kém, lại luôn bị phụ thuộc vào

thời tiết, khí hậu tự nhiên… nên nếu chu kỳ lễ hội quá mau thì người dân cũng

không thể đủ năng lực kinh tế cũng như thời gian vật chất để tham gia Vì thế, đại đa

số các làng, chu kỳ phổ biến nhất của lễ hội là một năm / một lần (và tốt nhất là vào

mùa xuân- mùa nông nhàn lý tưởng nhất trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta)

Nhiều nhà khoa học cho rằng, mùa lễ hội của người Việt xưa kia được bắt đầu

từ lễ hội mùa thu8 Cùng với sự du nhập của lịch phương Bắc và của phong tục ăn tết

8 Một số nhà khoa học đã chứng minh luận điểm này dựa vào những chứng cứ sau:

- Trên trống đồng Đông Sơn có hình ảnh những bông lau được trạm khắc mà những

người dự hội cắm trên đầu Hoa lau là thứ hoa chỉ nở đẹp vào mùa thu.

Trang 15

nguyên đán , cùng với sự có mặt ngày càng ổn định và có hiệu quả của lúa chiêmtăng vụ, thời gian mở hội làng đã chuyển dần từ mùa thu sang mùa xuân, hội xuândần dần thay thế hội thu, nhưng hội thu không mất hẳn, vì thế mà cả hai hội cùngtồn tại (xuân thu nhị kỳ) trong đó hội xuân chiếm số lượng nhiều hơn.

Dần dà, dân ta đã cũng quen với quan niệm: Tết nguyên đán (tính theo lịchTàu) đồng nghiã với sự khởi đầu năm mới- Mùa xuân Như vậy, dân ta đã có sự chấpnhận cái thời gian khởi đầu năm mới, khởi đầu mùa xuân của người Tàu là thời giannăm mới, đầu xuân của ta- đó chính là tính xã hội của thời gian (Chứ thực ra, ViệtNam là một nước đông nam á, nên theo lịch cổ ở vùng này người ta đón tết nămmới vào mùa thu [xem Lê Như Hoa chủ biên, Tết năm mới ở Việt Nam, NXB Vănhoá - Thông tin, H 1999 ]) Ngày nay, tính xã hội đó của thời gian đã trở thành mộtcái gì đó hiển nhiên trong ý thức và thậm chí trong cả tiềm thức của người Việt

đương đại

Nhà nghiên cứu Từ Chi đã diễn giải tâm lý và ý thức xã hội ấy nhưsau:

“Hội mùa xuân là lễ kết thúc một chu kỳ nông nghiệp cũ để mở màn một chu

kỳ mới Dưới con mắt của người nông dân đã quen với nhịp điệu đều đặn “bốn

mùa xuân lại thu qua” thì cái chu kỳ cũ - mới nối nhau ấy chỉ có thể là thời

gian không ngừng quay về chỗ cũ để rồi lại quay thêm vòng nữa, ” (dẫn theo

- ở Bắc Bộ còn bảo lưu khá nhiều hội mùa thu Vĩnh Phú có hội làng Đào Xá Hà Bắc

có hội Đằng Kim Hải Phòng có hội Đồ Sơn Hải Hưng có hội Kiếp Bạc Hà Nam Ninh có hội Cổ Lễ Thái Bình có hội Đồng Bằng, hội chùa Keo.

- Thư tịch Trung Quốc đã từng nói về người Việt mở hội vào mùa thu.

Sách Hán Thư chép rằng: Người Lạc Việt đến mùa thu tháng tám thì mở hội, trai gái giao duyên, bằng lòng thì lấy nhau.

Sách Thái Bình hoàn vũ ký viết rằng: người Lạc Việt không biết Tết, biết năm (theo lịch Trung Hoa), cứ lấy ngày sửu tháng tám làm ngày hội, già trẻ đi chúc tụng nhau, coi đó

là ngày đầu năm.

Sở dĩ hội được mở vào mùa thu là vì thời gian phù hợp với thời vụ trồng lúa mùa Về thời tiết, khí hậu, lúc này thường có trăng thanh gió mát, người ta có điều kiện để vui hội Cũng trong thời gian này hay có bão lụt Vì vậy người vui chơi vừa cầu khấn thần linh.(Nguyễn Xuân Kính: Phác thảo lịch sủ lễ hội của người Việt ở Bắc Bộ, Tc văn hoá dân gian số 1 năm 1991, trang 38).

Trang 16

Trần Quốc Vượng và Mùa xuân và phong tục Việt Nam”, trang 147, NXB

Như trên đã nói, Lễ hội truyền thống của người Việt dù được tổ chức để tưởng

nhớ đến vị thánh của làng mình - người đã có công giúp làng, nước hay để đánh dấu

một chu kỳ của vòng cây trồng nào thì cũng đều gắn với những thời điểm đáng ghi

nhớ của chu trình thời tiết- khí hậu Mà lễ hội là một hình thức thần thánh hoá, linh

thiêng hoá một nhân vật hay một sự kiện xã hội nào đó, nên thời điểm diễn ra lễ

hội cũng được dân gian linh thiêng hoá Vì thế cũng rất dễ hiểu khi trong dân gian

vẫn lưu truyền những câu chuyện về tính thiêng của thơì gian mở hội: Ví dụ, chuyện

năm nào cũng thế cứ vào ngày thứ hai của lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn cũng có mưa,

hay chuyện những áng mây như những con rồng tự nhiên bay về hội tụ trên đền Lý

Bát Đế vào ngày hội… Dĩ nhiên, để thiêng hoá cái thời gian ấy, người ta phải có

một tri thức khá đầy đủ và nhận thức vững vàng về tính chu kỳ, tính quy luật của

thời tiết và khí hậu: Ngày thiêng đó trùng với vòng quay của trời đất, vòng quay của

thời tiết.9

Trong các xã hội mà khi sản xuất nông nghiệp chưa đóng vai trò chính yếu,

nghĩa là sự sinh tồn của con người chưa dựa vào sự sản xuất của chính mình,

còn lệ thuộc vào sản phẩm tự nhiên, thì tiết tấu rỗi mang nhiều tính ngẫu nhiên,

chưa ổn định về tần số lẫn khoảng hạn Đến các xã hội nông nghiệp, cùng với

phát minh lịch pháp, người ta dần nắm vững được chu kỳ và chu trình vận động

sinh lý của cỏ cây, thú vật… và ấy cũng là lúc các hoạt động rỗi được ổn định

9 Có thể dẫn một ví dụ khác: Trước và trong ngày hội Dóng, người ta hồi hộp đón chờ những lực

lượng đó “về hái cà”, người ta “cúng cỗ chay” nghĩa là “cơm cà” cho ông Đổng, người ta cắm “que bông cà”

để “giữ lấy cà” kẻo ông Đổng hái mất,v.v Cũng trong những ngày đó, những ngày đó, những ngày cuối xuân

sang hè (tháng ba và đầu tháng tư âm lịch), sấm, chớp, mây, mưa, gió phải về cùng Ông Đổng - người ta tin

như vậy - và quả có thực, vì thời tiết tự nhiên cuối tháng ba đầu tháng tư âm lịch là như vậy qua bao đời

đã cho người ta một kinh nghiệm thực tiễn rồi “sấm ra cà trổ” đã thành tục ngữ Nếu những cái đó không “về”,

tức là nghịch, dân làm ăn sẽ súi quẩy Rõ ràng đây là kết quả của một quá trình tích tụ tri thức về tự nhiên

của dân gian:

Trang 17

về tiết tấu đại thể Một mặt khác, sự định cư, sự phát triển dân số, sự chủ động

nguồn lương thực, thực phẩm và các vật phẩm nhu yếu khác, sự tích luỹ kiến

thức, tư tưởng và tri thức làm…đã làm điều kiện cơ bản cho sự phát triển các

hoạt động trong thì giờ rỗi, đó là các hình thức văn hoá [DVChúc, xã hội học

văn hoá , tr.237- 238]

Trải qua nhiều lần lễ hội, dần dần trong ý thức và tiềm thức của các thành viên

trong làng đã hình thành một hình ảnh thiêng của thời gian mở hội ý thức chung

của dân làng đã trở thành ý thức xã hội- tức ý thức đó đã tồn tại khách quan: Ngày

tổ chức lễ hội là ngày thiêng

Ngoài ra, trong các ngày lễ hội, ý thức về giờ thiêng cũng được dân làng thể

hiện khá rõ trong cách chọn giờ để thực hiện những nghi lễ chính (tế lễ, rước nước,

rước thần), đặc biệt là giờ để người ta tiến hành những tục hèm (Có thể nói , đối với

những làng có tục hèm thì giờ diễn ra tục hèm mang tính cổ truyền, bất di bất dịch

và rất thiêng)

Như vậy, ý thức về cái thiêng được hình thành là do những tác động khách

quan và cả chủ quan đến tâm lý, đến phần ý thức lẫn vô thức của con người Chúng

tôi sẽ trình bày kỹ hơn về vấn đè này ở mục tiếp theo (2.1.3.)

Đối tượng mà chúng tôi chọn để phân tích tâm lý ở đây không phải là tất cả

những người đến dự hội (mà có người gọi là công chúng hội) mà là một đối tượng

hữu hạn và xác định hơn: Toàn bộ dân của làng có lễ hội

Như ở mục 1.1 chúng tôi đã nói, dù một lễ hội truyền thống nào đó được tổ

chức ở quy mô cấp vùng hay cấp quốc gia đi chăng nữa thì trên thực tế nó cũng vẫn

là một lễ hội làng Dân làng có lễ hội vẫn đóng vai trò chủ thể, chủ đạo, là hạt nhân

của lễ hội ấy

Khi một làng mở lễ hội- ý là khi dân làng bộc lộ một cách thăng hoa tất cả

những gì họ đã tích luỹ, dồn chứa trong nhiều phương diện khác nhau của cuộc sống

Trang 18

thường nhật Chỉ riêng ở phương diện tâm lý thôi ta cũng thấy đó là một cấu trúc rất

phức tạp, nhiều chiều cạnh: Một con người cụ thể dĩ nhiên họ phải có những chiều

kích của tâm lý chủ quan cá thể, có những ẩn chứa sâu kín vô thức, nhưng mỗi một

con người đấy lại là một thành viên trong một nhóm xã hội nhất định (gia đình, họ

tộc, phe giáp, đồng niên, đồng học, giới tính…) và trên hết họ lại là thành viên của

cộng đồng làng Để phân tích cấu trúc tâm lý của họ, ít nhất chúng ta cần phải

Nhờ có một nền văn hoá chung cùng với khả năng trao đổi và truyền thụ lại

mà con người hình thành được ý thức chung về những giá trị của cộng đồng- những

giá trị không chỉ của những những người đang sống mà còn của những thế hệ đã qua

ý thức tập thể đó như là di sản mà cộng đồng để lại cho những thế hệ còn chưa ra

đời

ý thức và tâm lý tập thể rất đặc trưng của người Việt là ý thức và tâm lý “làng

ta” Ngàn đời tụ cư thành làng, ngay ở trong cuộc sống đời thường, người Việt

đã hình thành và phát triển ý thức và tâm lý tập thể về cái làng của mình: “Làng ta”

bao giờ cũng được người dân đánh giá một cách khá chủ quan là “nhất” ý thức và

tâm lý tập thể đó luôn được thể hiện trong lời ăn tiếng nói, trong hành vi đời thường

của họ Thật vậy, chúng ta hiếm khi thấy một người nông dân Việt nào đó khi tiếp

xúc với người ngoài làng lại nói không tốt về người làng mình, về làng mình; Trong

hành vi, ta cũng hiếm thấy một người nào đó lại thờ ơ khi địa giới hay những chốn

linh thiêng của làng mình bị người làng khác đe doạ; hoặc tâm lý tập thể này được

thể hiện rất rõ trong một cuộc tranh đua , thi đua nào đấy (Ví dụ, trong một trận đấu

thể thao giữa hai làng chẳng hạn, người làng nào sẽ cổ vũ cho đội làng ấy, họ vui

mừng nếu đội làng họ thắng, ngược lại họ sẽ rất buồn, thậm chí cay cú khi đội của

làng họ bị thua Hay như ngày nay, trong phong trào thi đua xây dựng làng văn hoá,

không làng nào muốn làng mình lại không được nhận danh hiệu ấy, vì thế phong

trào này được sự ủng hộ một cách rất tự giác của nhân dân)

Tâm lý và ý thức tập thể này được biểu lộ đặc biệt rõ ở trong các lễ hội truyền

thống:

Trang 19

- Có một ý thức chung về tính độc lập của làng mình Câu thành ngữ “ Trốnglàng nào làng ấy đánh, Thánh làng nào làng ấy thờ” là minh chứng về ý thức này Từ

đó, ý thức và tâm lý chung về sự hiện diện một cách đáng tự hào về cái làng củamình- mà hiện thân tinh thần là vị thánh của làng- dược củng cố và phát triển Thời

kỳ nhà nước phong kiến Việt nam đã phát triển, nhiều thành hoàng làng do “lý lịchkém” không được nhà vua ban cho sắc phong, dân các làng ấy đã tìm mọi cách đểhợp thức hoá vị thánh của làng mình ( ví dụ họ dán cho các vị đó những cái nhãn lànhững vị nhân thần có công với nước10), hoặc ngày nay nhiều làng không thừa nhậnviẹc thánh làng mình lại có nguồn gốc hà tiện như thần gắp phân hay dâm thần, (đặcbiệt họ cảm thấy mình bị xúc phạm nếu ai đó nói về vị thánh của họ như vậy)

- Có ý thức chung về sự linh thiêng của vị thánh được tôn thờ ý thức này luôn

được bồi đắp bởi những khuôn mẫu văn hoá vật thể và phi vật thể như kiến trúc vàtrang trí nơi thờ tự, các truyền thuyết linh thiêng về vị thánh, các phong tục kiêng,

10 Trường hợp lễ hội làng Tích Sơn- Vĩnh Phúc có thể xem là một ví dụ điển hình Trong các sách cũ nhất viết về lễ hội này thì các vị thần được thờ ở đây là những người trộm cướp, nhưng theo tài liệu ghi chép gần

đây thì những vị thần ở đây đều là những người có công trong viẹec giúp nhà Trần đánh giặc cứu nước [ Xem tư liệu của Viện nghiên cứu văn hoá nghệ thuật- Lễ hội Tích Sơn]

Trang 20

hèm của dân làng11… Đã là người làng, dù thân phận thế nào cũng không một ai

11 Ví dụ: Toan ánh đã mô tả khá kỹ về những phong tục kiêng kỵ trong ngày lễ hội như sau: “Làng vào đám tức là có việc vui mừng của cả làng đây là thời gian kỷ niệm thần nhân Dân làng trong lúc này, ai nấy đều phải cố giữ để vui chung cả làng được chọn vẹn cả để đức thần linh được hài lòng.

Chính vì đây là một dịp vui, nên những người đang đau buồn, tang tóc không được dự đám chia vui với dân làng Cả những người tàn tật cũng vậy.

Trong thời gian làng vào đám, phải tránh tiếng khóc đau đớn, do đó nếu gia đình nào rủi có người qua

đời, việc tang ma phải tụng niệm kín đáo, người nhà không được khóc lóc và đám ma không được có kèn trống.

Nếu con cháu muốn làm ma lớn cho người chết, phải quàn sát một nơi, chờ sau ngày rã đám mới được

cử hành tang lễ.

Thờ phụng thần linh, không ai được nhắc tới tên ngài Trong đời sống hàng ngày nếu tiếng nào trùng với tên thần phải gọi sang tiếng khác.

Thí dụ: Hoàng phải nói chạch sang Huỳnh.

Đang phải nói chạch sang đương.

Vàng hương phải nói chạch sang vàng nhang.

ở chung quanh nơi thờ tự những cây cối mọc khi có hoa quả không ai được hái Vườn tược không ai

được phá hoại.

Khi lễ bái y phục phải trang nghiêm và cử chỉ phải đường hoàng.

Đi qua một nơi thờ tự không được trò chuyện ầm ĩ, phải lặng lẽ để tỏ vẻ tôn kính.

Không khiêng một xác chết qua nơi thờ tự Khi có một đám ma bắt buộc phải đi qua trước mặt một ngôi đình, một ngôi đền kèn trống phải ngừng bặt và con cháu không được khóc lóc.

Mỗi mùa hoa quả mới, dân chúng phải chờ thắp hương cúng tại đình, đền mới được mua về cúng gia tiên.

Trong lúc hành lễ, hoặc khi có mặt tại nơi thờ tự, ngay cả ở các từ thờ tổ tiên, phải tránh không được quay lưng về bàn thờ, quay lưng về phía bàn thờ là bất kính.

Đồ lễ dùng trong việc sự thần: Việc thờ cúng ở sự tôn kính, sự tôn kính phải được thể hiện không những riêng qua các nghi thức tế lễ mà còn phải do tự tâm Ta đã nói tâm động quỉ thần tri, khi lòng nghĩ đến

sự cúng bái, quỉ thần đã biết Bởi vậy trong việc sự thần cần phải tâm thành từ khi sửa đồ lễ tới khi cúng lễ.

Đồ lễ không cần nhiều hoặc sang, nhưng cần phải thanh khiết và phải do lòng thành của từng người dâng lễ.

Không được ăn trước các đồ lễ nếu chưa cúng Và phải hết sức tránh mọi sự có thể làm ô uế đồ lễ Không được đựng đồ lễ bằng những thức đựng đã đựng những vật ô uế như quần áo đàn bà chẳng hạn

Đồ lễ cúng Thần, người ta không được dùng đồ ăn cắp dâng lễ, và cũng không ai được tìm cách đánh cắp đồ lễ trước khi cúng.

Khi giết gà vịt để cúng lễ, phải dùng gà chân vàng, nếu dùng gà chân đồng là thất kính.

Hoa dâng lễ phải tuyệt đối tinh khiết, nghĩa là không ai được ngửi bông hoa dùng làm lễ vật Và cũng không được cúng nhài tượng trưng cho sự lằng lơ.

Trong đồ ngũ cốc, gạo phải cúng loại gạo tốt, gạo thơm và không dùng gạo ba trăng Cũng không ai cúng lễ bằng ngô, kê và khoai lang Tục truyền rằng ba thứ này gốc ở nước Tàu đã được mang sang nước ta

Trang 21

dám tỏ thái độ bất kính với thần linh.

- Có ý thức chung về sự ganh đua giữa làng mình với làng khác (không hơn

được làng khác thì chí ít làng mình cũng phải bằng họ).Trong lễ hội truyền thống

điều này được thể hiện ở tinh thần đóng góp vật chất, tinh thần đua tranh trong các

trò chơi hay cuộc thi đấu thể thao, trong sự khoản đãi về vật chất (lễ vật phải đàng

hoàng, đồ ăn thức uống phải nhiều hơn, ngon hơn) cũng như tinh thần (như thuê

những đội chèo, tuồng hay rối nước về biểu diễn sao cho hay hơn…)

- Có ý thức chung về sự bình đẳng về nghĩa vụ cũng như quyền lợi của mình

trước vị thánh Mặc dù, lễ hội truyền thống của người Việt phát triển trong môi

trường xã hội có giai cấp, nhưng tính bình đẳng công xã lại là nguyên tắc hàng đầu

trong văn hoá ứng xử ở đây: Sự đóng góp được bổ theo xuất đinh, không phân biệt

giàu ngèo, cũng như thế ai cũng nhận được sự bảo trợ của thánh, thần như nhau (thể

hiện ở việc thụ lộc thánh hoặc quyền cầu xin thánh phù hộ của mỗi người dân trong

Làng là một xã hội thu nhỏ, được hình thành bằng cấu trúc của những nhóm

xã hội như nhóm thân tộc, nhóm lứa tuổi, nhóm địa vực, nhóm thể chế tính và nhóm

văn hoá (xem thêm DVC, Xã hội học văn hoá, tr.265- 302) Các nhóm xã hội thường

được thiết lập một cách có ý thức vì những mục đích cụ thể Nếu như xã hội làng

vận hành được là do sự vận hành của nội bộ từng nhóm và tác động qua lại của các

nhóm với nhau thì trong sinh hoạt lễ hội của làng người ta cũng thấy khá rõ điều đó

Gần như là một sự phân công truyền thống (không cần biết tại sao, chỉ biết rằng nó

là như thế), mỗi một nhóm xã hội ấy lại có một vai trò, một nhiệm vụ nhất định và

một cách thiếu chính đáng và đã bị ô uế Nguyên trước đây người Tàu cấm mang sang nước ta ba thứ trên.

Sau đó một vị quan ta đi sứ mang được những thứ này về bằng cách giấu trong chỗ hiểm những hạt ngô và hạt

kê, còn dây khoai lang vị quan quấn quanh mình làm thắt lưng.

Không bao giờ dùng thịt chó làm đỗ lễ, và khi vào lễ người ta cũng phải kiêng ăn thịt chó và ăn tỏi,

chó ăn dơ, thịt không tinh khiết, còn mùi tỏi quá hăng sẽ cũng thiếu tinh khiết.” (Toan ánh: Phong tục Việt

Nam (Thờ cúng tổ tiên) Nxb KHXH 1991 trang 187 - 193)

Trang 22

mỗi một con người trong cộng đồng làng- do cả cuộc đời gắn với cái làng mình vànăm nào cũng được tham gia lễ hội- dều lần lượt được đóng vai trong những nhómxã hội khác nhau- Ví dụ khi trẻ anh ta ở trong nhóm thanh niên, trong lễ hội anh ta ởnhóm khiêng kiệu hoặc người mang chấp kích, hoặc đóng vai người dẹp đám, ngườimúa cờ… khi trung niên lại đóng vai các chủ đám, chủ các gia đình, gia tộc; khi vềgià có thể đóng vai các cụ trong ban khánh tiết… Đó chính là quá trình xã hội hoá.Nhờ đó, hoạt động giữa các nhóm luôn có sự khớp nối rất trơn tru và lễ hội có thểdiễn ra một cách suôi sẻ mà không cần đến một vị tổng đạo diễn nào cả Chính điều

đó quy định ý thức và tâm lý của từng nhóm xã hội: Luôn ý thức về cái mình (nhómcủa mình) trong mối quan hệ với cái ta (làng ta) Nói chung, từ nhóm gia đình, địavực cho đến nhóm bạn, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp ý thức nhóm trong hoạt

động lễ hội đều mang tính tích cực: nhóm mình phải cố gắng tối đa nhất để khỏimang tiếng là kém cỏi so với các nhóm khác Vì thế, trong lễ hội làng, người takhông thấy những trường hợp bị cưỡng chế về nhiệm vụ của từng nhóm haysự tỵnạnh về sự đóng góp của từng nhóm… Ngược lại, ngay từ lúc lễ hội chưa diễn ra,tuỳ theo nhiệm vụ mà nhóm được phân công mà các thành viên của nhóm đã có ýthức chuẩn bị cả về vật chất và tinh thần cho việc hoàn thành tốt nhất những nhiệm

vụ mà nhóm mình được giao Dường như, niềm tự hào vì đã được đóng góp sức lực

và tinh thần của mình vào lễ hội là đặc điểm tâm lý chủ đạo của các nhóm Dĩ nhiên,mỗi một nhóm lại có nét riêng trong đời sống tâm lý lễ hội: Ví dụ, các cụ ban khánhtiết chẳng hạn, họ trông chờ vào những lúc cả làng nhìn vào mình trong những bộ lễphục uy nghiêm ở buổi đại tế và vào bữa cỗ tại sân đình (một bữa cỗ không có giá trịvật chất là bao mà chủ yếu chứa đựng những giá trị đạo đức, tinh thần: Chúng tôi lànhững người đáng kính trọng nhất trong làng này) Nhóm thanh niên thì lại khác, họkhông chỉ trông đợi vào những vai diễn mà họ đóng trong đám rước, họ còn đợi chờnhững cuộc vui khác thường, những bữa nhậu khác thường… mà lễ hội cho phép.Tuy nhiên, đặc điểm tâm lý này đôi khi dẫn đến những quá khích, tức là dẫn

đến sự chơi trội của một hay một vài nhóm- đó là tâm lý “con gà tức nhau tiếnggáy” Nhất là ngày nay, khi nền kinh tế thị trường đã thâm nhập vào đời sống vănhoá của các làng quê, các giá trị xã hội cổ truyền không phải lúc nào cũng chiếm ưuthế, nhiều khi nó bị lấn át bởi những hành vi thương mại hoá (chẳng hạn, lòng thành

Trang 23

tâm, kính thánh, thần lại được đo bằng mức độ to hay nhỏ, đắt tiền hay không của

Trong đời sống xã hội ở bất cứ trình độ nào, lễ hội là những biểu thị một trạng

thái tâm lý khác thường Chúng đem lại cho mỗi người cũng như mỗi nhóm, mỗi

cộng đồng một khoảng thời gian, vài ba hoặc mươi lăm ngày, tuỳ mỗi lễ hội, sống

phong phú hơn, rộng rãi hơn và thoải mái hơn ngày thường- một khoảng thời gian

sống đặc biệt Điều này càng có ý nghĩa đối với người nông dân Việt Nam khi mà sự

lao động của họ gắn chặt, phụ thuộc vào tự nhiên thì thời gian này là khoảng thời

gian đặc biệt để đền bù những kham khổ thiếu thốn kéo dài trong suốt một năm

Tất cả những gì khác thường của lễ hội đều giội hưởng đến các thành viên

cộng đồng làng để tạo nên một trạng thái tâm lý đặc biệt Nếu như ở các thành phần

lễ thuần tuý (lễ tế, rước), thì các cá nhân vẫn phải đóng vai trò của một nhóm xã hội

nào đấy, tức là cũng vẫn là sự thực hành bổn phận đối với cái linh thiêng, thì ở

những thành tố khác (như ăn uống cộng cảm, vui chơi công cộng) các cá nhân mới

thực sự được sống những khoảnh khắc đặc biệt cho chính họ và với chính họ

Thử tưởng tượng trong một cuộc lễ được tổ chức rất trọng thể, nhưng không có

thành phần ngoài lễ là sự ăn uống và sự chơi vui thì chắc chắn nó chẳng có

mấy tác dụng “tái xác định mối liên hệ đã gắn bó các nhóm lại với nhau”

Thiếu chúng là thiếu bước hoàn tất sự khách thể hoá, trần tục hoá cái ý tưởng

(đvc,văn hoá học, tr )

Trong các ngày lễ hội, và cũng chỉ trong những ngày ấy, nông dân mới ăn

những bữa ăn khác thường, cũng có thể nói là quý hiếm: quý hiếm về chất liệu về

cách nấu nướng, pha chế, và cách bầy biện lên mâm Sau đó, nông dân lại phải trở

lại với bữa cơm đạm bạc, qua quýt cho qua ngày, trọn tháng

Rõ ràng là, sự sống của mỗi thành viên trong khoảng thời gian khác thường ấy

đã vượt trên khuôn khổ của sống hàng ngày; một sự rộng rãi nào đó được thực thi

trên nhiều bình diện, kể cả với người vốn chặt chẽ, mực thước, khắc khổ; chi tiêu

nhiều, cỗ bàn, chè chén, cho tặng quà, tô điểm môi trường và chính mình, chào mời

thân thiết, cởi mở và trang trọng, tụ hội vui chơi hồ hởi thành thật, rộng lượng và

Trang 24

thậm chí người ta có thể quá chén say sưa, ăn to nói lớn ở một số lễ hội, còn có

những tục lệ phồn thực cho phép nam nữ được “thoải mái” trong một khoảng thời

gian hạn định (như lễ hội Dã La, Hà Tây, lễ hội thị trấn Xuân Hoà, Lập Thạch, Vĩnh

Phúc) Như thế, người ta sống trong khung cảnh có thể gọi là vô trật tự, là thái quá,

một thứ vô trật tự hay thái quá được tổ chức và được phép

Các nhà tâm lý học xã hội đã nhận xét đúng rằng cái vô trật tự, cái thái quá ấy

đáp ứng sự vận động duy trì thăng bằng tâm lý mà dường như khó có một hình

thức nào khác của văn hoá có thể làm được như vậy Người ta tính đếm đến

một chức năng khác của lễ hội là : Giải phóng nhưng xung cảm bị kìm hãm

trong đời sống đơn điệu hàng ngày, và cũng bằng đích cái vô trật tự, cái thái

quá ấy, lễ hội nhắc nhở người ta sự trật tự, sự mực thước hàng ngày Nhờ đó, lễ

hội là điều kiện cho sự tái sáng tạo của mỗi người trong lĩnh vực hoạt động của

Có thể nói: trong xã hội nông nghiệp, mỗi lễ hội là một dịp để người ta vươn

lên tạo nên một đời sống có văn hoá cao Như thế lễ hội là một hình ảnh văn

hoá kết tinh của cư dân nông nghiệp; hay nói lễ hội có thể được xem như một

động lực của văn hoá nông nghiệp Điều này cũng cho thấy chừng mực nào

một xã hội còn là nông nghiệp thủ công thì lễ hội ở đó còn được thực hành với

tư cách là sự thoả mãn một nhu cầu văn hoá toàn diện (Văn hoá học 132-138)

Sở dĩ như vậy là do: Lễ hội là một hiện tượng văn hoá nguyên hợp, nói

cách khác, nó là một kết cấu hài hoà giữa những yếu tố văn hoá vật thể và những

yếu tố văn hoá phi vật thể.12Trong phần này, chúng tôi trình bày cấu trúc văn hoá

của lễ hội- tức là sự liên kết của các hình thái biểu trưng, các tín hiệu- theo hai

phương diện cơ bản trên

12 Xem khái niệm văn hoá vật thể và phi vật thể của Bùi Quang Thắng trong bài”Khái niệm văn hoá: (tạp chí

thông báo khoa học, Viện nghiên cứu văn hoá nghệ thuật, số 4, 2002)

Trang 25

Trước hết phải kể đến kiến trúc nơi thờ tự như là yếu tố văn hoá vật thể

quan trọng nhất của lễ hội truyền thống Trong mục cấu trúc không gian của chương

này chúng tôi đã đề cập đến thành tố này

1.4.1.1 Hệ thống nghi vật , nghi trượng

Tiếp đến phải kể đến hệ thống các nghi vật –nghi trượng Các nghi vật,

nghi trượng này chủ yếu được dùng bày trong không gian thiêng để tỏ rõ tính thiêng

liêng, uy vũ của vị thánh, thần được tôn thờ, đồng thời được dùng vào các cuộc tế lễ

và đám rước trong ngày lễ hội Đa phần, các nghi vật, nghi trượng này đều được

trang trí bằng những biểu tượng tứ linh hoặc tứ quý Có thể nói rằng, tính biểu tượng

của hệ thống này được bộc lộ một cách rõ nghĩa nhất và chặt chẽ nhất Sở dĩ như vậy

là do đại bộ phận chúng là những biểu tượng của xã hội toàn bộ chứ không phải là

những biểu tượng mang tính cục bộ, địa phương Ví dụ, dù là người ở tầng lớp trên

hay tầng lớp dưới, dù là nông dân làm ruộng hay dân chài, dù người gìa hay trẻ, nam

hay nữ khi thấy tứ linh đều tri giác được những giá trị xã hội sau:

- Long là biểu tượng cho uy vũ và quyền lực thiêng liêng, tối cao

- Lân là biểu tượng cho sự tốt lành, mưa thuận gió hoà

- Quy (ở ta thường đi liền với Hạc) biểu tượng cho sự bền vững

- Phượng biểu tượng cho sự thịnh vượng, hạnh phúc

Hệ thống nghi vật, nghi trượng chủ chốt của một lễ hội truyền thống của

người Việt bao gồm:

a.

a.

Thần phả là cuốn sách của làng ghi lại sự tích thần kỳ của vị thánh Trong đó

chủ yếu đề cập đến công trạng của vị thánh làng mình Cách viết mang màu sắc

huyền thoại của thần phả là một nhân tố quan trọng trong việc thiêng hoá đối tượng

được tôn thờ

Trong lễ hội dân làng thường dựa vào thần tích để tổ chức lễ hội của làng

mình Các cụ ta xưa đã có câu:”Có tích mới dịch nên trò” chính là ý này Thường là,

các tích huyền thoại trong thần phả hay được gắn với một số chứng tích vật thể

Chính điều đó làm cho cái thiêng liêng trở nên gần gũi hơn, đáng tin cậy hơn

Những chi tiết trong huyền thoại Phù Đổng Thiên Vương (ngựa sắt hý ra lửa- cây tre

Trang 26

đằng ngà; bay về trời- núi Sóc Sơn…) hay những viên xá lỵ mà người ta truyền rằng

là của chính Trần Nhân Tông và cột đá thề ở chùa Minh Khánh (Thanh Hà- Hải

Dương) là những ví dụ tiêu biểu của phương pháp biểu hiện này

Cũng có khi, những vật liệu trong tích của các vị thánh lại được thể hiện

trong các hình thái văn hoá phi vật thể, ví dụ người ta có thể nhận thấy chi tiết “bảy

nong cơm ba nong cà” (truyền thuyết ghi rằng: Gióng ăn rất khoẻ, hết bảy nong cơm

ba nong cà) ở đám rước cỗ chay ngày 7/ 4 từ đền Mẫu đến đền Thượng (DVC,VăN

HOá HÄC.Tr.152), hoặc đặc biệt rõ trong các tục hèm (lễ mật) ở khá nhiều lễ hội cổ

truyền của người Việt Bắc Bộ

b Sắc phong được làm bằng giấy mầu vàng được phủ nhũ, nội dung

sắc phong nghi nhận công lao đóng góp của vị Thánh đối với làng với nước Sắc

phong được các triều đình phong kiến phong tặng Nó thể hiện uy nghiêm của vị

Thánh nên thường được dân làng coi như một nghi vật quí giá và được cất giữ rất

cẩn thận Về phương diện xã hội học, điều này thể hiện sự thừa nhận (thể chế hoá)

của giai cấp thống trị (đại diện cho xã hội toàn bộ) đối với các giá trị cục bộ của các

cộng đồng làng Có những làng, do lý do nào đấy mà thành hoàng của họ không

được nhà nước phong kiến công nhận, họ đã phải tìm nhiều cách để khai man “lý

lịch”vị thần để được nhà nước thừa nhận, có nơi còn phải đi trộm sắc phong của làng

khác để thờ tại làng mình… Điều đó lại càng chứng tỏ sắc phong quan trọng đến thế

nào trong đời sống xã hội của cộng đồng làng

c.

c.

Văn tế: là lời lẽ của cộng đồng dùng trong khi đối thoại với thần linh ở các

cuộc lễ tế

Đối với các tộc người thiểu số khác, lời đối thoại ấy mộc mạc, bình đẳng

bao nhiêu13 thì ở người Việt (do sự phát triển kinh tế- xã hội cao hơn kéo theo sự

13 Trong bài vùng văn hoá Tây Nguyên (Đinh Gia Khánh, Cù Huy Cận chủ biên, NXBVăn Học, H 1995)

GS Tô Ngọc Thanh đã viết về mối quan hệ bình đẳng giữa người và thần ở những tộc người tây Nguyên như

sau:”Con người muốn cảm ơn, trả ơn, chia phần thu hoạch cho những lực lượng vô hìnhđã phù hộ cho họ một

năm mưa thuận gió hoà, người yên vật thịnh; đồng thời họ cũng nhắc nhở chúng, rằng họ không quên công

lao của chúng, rằng vì thế chúng có nhiệm vụ phải tiếp tục giúp đỡ họ vào năm tới Sở dĩ có chuyện “giao

nhiệm vụ” như thế là vì mối quan hệ giữa người và các thần linh khá bình đẳng Nó phản ánh tinh thần dân

chủ thời bộ lạc vẫn còn được bảo lưu và phát triển trong cộng đồng công xã các dân tộc Tây Nguyên Như

một công thức không thể thiếu, trong các bài khấn thần linh thường có đoạn:

ơi, hỡi các thần…(kể tên từng vì)

chúng tôi muốn…(kể yêu cầu của con người)

chúng tôi đã cho các vị… (kể các vật hiến tế)

mong các vị giúp chúng tôi đạt ý muốn

Trang 27

phân chia giai cấp, đẳng cấp) lời đối thoại này cầu kỳ, văn hoa và mang tính đẳng

thứ rõ nét hơn.Văn tế của người Việt được dùng để giao cảm và chủ yếu là để cầu

xin thần linh ban phước lành cho dân làng Trong lễ hội cổ truyền của người Việt,

văn tế được viết bằng chữ Hán Nay, nhiều làng đã viết chữ quốc ngữ thay vì viết

bằng chữ Hán

d Hoành phi- Câu đối : là khuôn mẫu trang trí của tầng lớp quý tộc

thời phong kiến Nó biểu thị truyền thống cao quý của các danh gia vọng tộc

e Nhang án được làm bằng gỗ có bốn chân, không có mái Nhang án

dùng để bát hương và hoa quả cúng lễ Trong lễ hội nhang án cũng có mặt trong

đám rước, thông thường nhang án rước bát hương và hoa quả và đi đầu trong đoàn

Trước hết lá cờ tiết và cờ mao Cờ tiết là cờ vua trao để làm tin, tượng trưng

cho sự chỉ huy Cờ mao (ở đầu có ngà tết bằng đuôi trâu rừng (mao ngưu) tương

trưng mệnh lệnh của vua, cả hai thứ cờ này biểu hiện uy đức thần linh

Năm lá cờ ngũ hành (vuông hoặc đuôi nheo), mỗi cờ một mầu, tượng trưng

cho một thứ vật chất: kim (trắng), mộc (xanh); thuỷ (đen); hoả (đỏ); thổ (vàng) Có

làng dùng bốn cờ tức là cờ tứ phương, cũng tương ứng với bốn mầu: đông (xanh),

tây (trắng), nam (đỏ), bắc (đen) (Nếu năm cờ tượng trưng cho năm phương thì

phương thứ năm là trung ương, hoặc chính tâm (vàng))

Bốn lá cờ tứ linh (bốn con linh thêu trên cờ) long (rồng), ly (lân, sử tử), quy

(rùa), phượng (chim phượng hoàng); hoặc cờ bát quái (tám lá tượng trưng tám quẻ:

Kiềm (càn), khôn, chấn, tốn, khảm, ly, cấn, đoài (Cờ thêu chữ Hán, hoặc thêu bằng

oqr một vài nơi còn có đoạn “giao hẹn”:

Nừu các vị không giúp chúng tôi

Sang năm chúng tôi sẽ không cúng các vị nữa

Như vậy, trong các nghi lễ và thái độ ứng xử với thiên nhiên, siêu nhiên (đã được nhân hoá) người Tây

Nguyên đi tìm đồng minh, đi tìm bạn, chứ không đi tìm các vị thánh, càng không đi tìm Đức Chúa Cảm ơn

và chia sẻ với bạn bè là “đạo lý” của đồng bào.”(tr.161- 162)

Trang 28

hình vẽ mỗi quẻ Bát quái tượng trưng các thành phần cấu tạo nên vũ trụ, môi sinh,cũng đồng thời là bốn phương, bốn hướng.14

Cờ Lệnh bằng lụa nhuộm màu đỏ vàng, rộng 0,35m dài 9 vuông gọi là lá cờlệnh15

y Tàn lọng:

Tàn tán lọng có hình tròn có tua rủ xuống, ở giữa có cắm cán dài khoảng 2,5mét Tàn, tán, lọng được làm bằng gấm, vóc, lụa, trên có thêu hình long, ly, quy,phượng Tàn, tán, lọng dùng để che kiệu thành hoàng khi rước kiệu

k Quạt, đây là quạt thần dùng để che cho long kiệu, long đình hoặc che cho bàn

hương án trong khi rước thần Quạt được làm bằng lụa, gấm vóc, được thêu kimtuyến với hình long, ly, quy, phượng

l Trống- chiêng:

Trống trong lễ hội có hai loại trống đại (trống cái) và trống khẩu (trống con).Trống được dùng để khai hội, làm hiệu lệnh để điều hành nghi lễ, nghi thức, cáchoạt động do ban tổ chức, hay ban khánh tiết tiến hành như đấu vật, khai quân vàthu quân trong quá trình các diễn xướng ở lễ hội, nếu thiếu trống các hoạt động sẽmất phương hướng và khí thế Trong đám rước trống cái được dùng làm hiệu lệnhcho đám rước, trống cái do hai người khiêng bằng dóng, một hiệu trống tay cầm dùitrống (trống, dùi, dóng đều sơn son thếp vàng) đánh để giữ nhịp

14 +Kiềm (càn, trời) = Tây bắc + Khảm (nước)= Bắc

+Khốn (đất) =Tây Nam + Ly (lửa) =Nam

+Chấn (sấm) = Đông + Cấn (núi) = Đông Bắc

+Tốn (gió) = Đông Nam + Đoài (đầm) = Tây.

15 Trong những ngày lễ hội Gióng, đầu tháng 4 âm lịch, người ta chọn ngày lành để mời người viết tốt chữ lệnh lên lá cờ Viết xong, tra cán, buộc tua, cuốn lại và lồng vào bao đỏ hình chữ nhật có thêu rồng phượng ở cuối bao có rải tua thêu, trong bao nhét đầy giấy trắng cắt hình bướm và những mẩu gỗ trầm nhỏ bằng đồng xu, tất cả bao cờ và những thứ đó gọi chung làmiều Cũng hôm đó, người ta rước miều từ đền

Thượng đến đền Mẫu (thờ mẹ Dóng) ở xóm Ban (Phù Dực) (Cao Huy Đỉnh Người anh hùng làng Dóng trang 60).

Trang 29

Chiêng được làm bằng đồng hình tròn được treo trên giá đỡ, được dùng khi hội

hè Trong đam rước hiệu chiêng có nhiệm vụ đánh điểm nhịp từng tiếng một, cùngvới tiếng trống làm hiệu lệnh của đoàn rước

m Voi, ngựa:

Tuỳ làng, có nơi có ngựa hồng, ngựa bạch hoặc đôi voi Ngựa, voi bằng gỗ, tonhư thật, đều trang trí đẹp, yếm thêu, quả nhạc, dây cương, yên Ngựa, voi thường

được đặt trên bệ gỗ, có bốn bánh xe kéo, lúc thường để trong gian thờ, khi lễ hội

được kéo theo đám rước Mỗi con có hai người kéo ở hai bên Voi ngựa có tàn lọngche và có người vác dao đi hộ vệ (như ở lễ hội làng Phù Đổng, lễ hội Đền Đô- BắcNinh, lễ hội làng La Vân- Thái Bình…)

o Chấp kích:

Chấp kích lên vác đồ lễ bộ (gồm hai biển tĩnh túc và hồi ty Biển hồi ty, biểntĩnh túc 16, hai phủ việt, (rìu và búa lớn), hai gươm trường, hai tay văn, võ (tay vănnắm tay cầm bút, cán dài Tay võ nắm tay nắm chặt nắm đấm, sức mạnh, võ Hai tayvăn võ đi với nhau, biểu hiện tài năng kiệm toàn (văn võ) của thần linh Đồng thờicũng muốn nêu rằng bộ hạ của ngài gồm đủ văn võ Các loại đồ thờ này có thể bằng

đồng thau, hoặc bằng gỗ (sơn son thếp vàng))

P Bát bửu

Gồm tám đồ thờ quý, bằng gỗ, sơn son thếp vàng Vốn là tượng trưng đồ dùng củatầng lớp quý tộc xưa: đàn sáo, lẵng hoa, sách, kiếm, bầu rượu, túi thơ, quạt Ngàynay, rất hiếm nơi còn đủ những đồ thờ này

q Bát âm:

Bát âm là phường nhạc gồm tám nhạc cụ cấu tạo bằng tám chất liệu: bào(vỏ quả bầu), thổ (đất sét nung chín), cách (da thuộc), mộc (gỗ), thạch (đá), kim(kim loại), ti (tơ kén), trúc (họ tre), êm ái, góp một âm thanh chính quy làm nền hội.Tuy nhiên, trong vài chục năm gần đây, không còn phường bát âm theo đúng nghĩanhư vậy nữa Trong lễ hội người ta cũng có phường nhạc, nhưng nhạc cụ chủ yếu

16 Hồi ty: tránh đi Tục kiêng xưa khi đoàn quân lên đường, những người có tang hoặc tàn tật (bị coi

là rủi ro) phải tránh xa để việc quân được may mắn; Tĩnh túc: yên lặng, cung kính Thấy đám rước mọi người phải yên lặng, tỏ lòng cung kính đối với thần Đây là hai biển giữ an ninh, trật tự cho

đám rước Tất cả các biển, cờ trong hội đều viết bằng chữ Hán

Ngày đăng: 14/05/2021, 21:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w