1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tiếng Việt 3 - Từ vựng Tiếng Việt ở bậc Tiểu học: Phần 1 - Hoàng Tất Thắng

66 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 534,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếng Việt 3 - Từ vựng Tiếng Việt ở bậc Tiểu học: Phần 1 do Hoàng Tất Thắng biên soạn có nội dung giới thiệu đến người học các kiến thức về từ và đặc điểm từ của Tiếng Việt, hệ thống vốn từ của Tiếng Việt được trình bày qua 2 chương 1&2. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 2

2

MỤC LỤC

Chương 1 TỪ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ TIẾNG VIỆT trang

1.1 Từ và từ vựng 4

1.1.1 Từ là gì? 4

1.1.2 Từ vựng là gì? 4

1.2 Phương pháp nghiên cứu từ vựng 5

1.3 Từ tiếng Việt 6

1.3.1 Khái niệm từ tiếng Việt 6

1.3.2 Đặc điểm của từ tiếng Việt 9

Chương 2 HỆ THỐNG VỐN TỪ TIẾNG VIỆT 2.1 Nhận xét chung 17

2.2 Các lớp từ xét về nguồn gốc 18

2.2.1 Lớp từ thuần Việt 18

2.2.2 Lớp từ vay mượn 21

2.3 Các lớp từ xét về phạm vi sử dụng 26

2.3.1 Lớp từ toàn dân 26

2.3.2 Lớp từ địa phương 27

2.3.3 Lớp từ nghề nghiệp 31

2.3.4 Lớp từ chuyên môn – thuật ngữ 33

2.4 Các lớp từ xét về cấu tạo 38

2.4.1 Đơn vị cấu tạo từ và phương thức cấu tạo từ tiếng Việt 38

2.4.2 Từ đơn 41

2.4.3 Từ ghép 41

2.4.4 Từ láy âm 44

2.5 Ngữ cố định 48

Trang 3

3

2.5.1 Khái niệm ngữ cố định 48

2.5.2 Phân loại ngữ cố định 49

2.5.3 Giá trị ngữ nghĩa của ngữ cố định 50

Chương 3 NGHĨA CỦA TỪ VÀ HỆ THỐNG Ý NGHĨA CỦA TỪ 3.1 Nghĩa của từ 67

3.1.1 Nghĩa, ý nghĩa là gì? 67

3.1.2 Nghĩa của từ 69

3.1.3 Các thành phần nghĩa của từ 70

3.2 Hệ thống ý nghĩa của từ 78

3.2.1 Hiện tượng biến đổi nghĩa của từ 78

3.2.2 Các lớp từ xét về mối quan hệ ý nghĩa 86

3.3 Trường nghĩa 105

Chương 4 TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC

4.1 Vị trí, vai trò của tri thức từ vựng tiếng Việt ở tiểu học 119

4.2 Những nội dung lí thuyết về từ vựng tiếng Việt ở tiểu học 120 4.2.1 Môn tiếng Việt và chương trình dạy từ ngữ ở tiểu học 120

4.2.2 Các nội dung lí thuyết về từ vựng ở tiểu học 121

4.3 Một số vấn đề về dạy học từ vựng tiếng Việt ở tiểu học 125

4.3.1 Nhiệm vụ của dạy từ ngữ ở tiểu học 125

4.3.2 Một số nguyên tắc dạy học từ ngữ ở tiểu học 126

4.3.3 Tổ chức dạy lí thuyết về từ ở tiểu học 129

4.3.4 Tổ chức dạy thực hành về từ ở tiểu học 130

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 145

Trang 4

Như vậy, cái đơn vị được trực tiếp tạo nên từ các hình vị (tiếng) và là đơn vị trực tiếp cấu tạo nên câu, theo truyền thống ngôn ngữ học gọi là TỪ Chẳng hạn

trong tiếng Việt có các đơn vị: Chúng ta, hòa bình, yêu, … Trong đó, chúng ta

do hai hình vị chúng và ta tạo thành; yêu do một hình vị yêu tạo thành, hòa bình

do hai hình vị hòa và bình tạo thành Đến lượt các đơn vị ấy kết hợp lại theo quy tắc ngữ pháp tiếng Việt sẽ tạo thành câu: Chúng ta yêu hòa bình Các đơn vị nói trên được gọi là từ

Theo ngôn ngữ học đại cương, từ có các đặc điểm sau đây: a) Có hình thức ngữ âm và có ý nghĩa

b) Tính sẵn có, cố định, bắt buộc

c) Là những đơn vị thực tại, hiển nhiên của ngôn ngữ

Từ chứa đựng rất nhiều loại thông tin Có những thông tin trong ngôn ngữ như thông tin về hình thái, kết cấu, về nguồn gốc, về hoạt động…Có những thông tin ngoài ngôn ngữ như thông tin về sự vật, hiện tượng thực tế, thông tin về hoàn cảnh xã hội, về văn hóa, về thời đại,…

1.1.2 Từ vựng là gì?

Trong ngôn ngữ, bên cạnh từ, còn có những tập hợp từ có những đặc điểm

giống như từ (có tính có sẵn, cố định, bắt buộc) Ví dụ: Lên thác xuống ghềnh,

Trang 5

5

mặt trái xoan, lông mày lá liễu, con rồng cháu tiên,… Đó là các cụm từ cố định

hay là ngữ cố định Ngữ cố định là những đơn vị từ vựng tương đương với từ

Tập hợp các từ và ngữ cố định được gọi là TỪ VỰNG của ngôn ngữ Từ vựng không phải là một tập hợp đơn giản, hỗn độn các từ và ngữ cố định mà là một hệ thống có tổ chức bao gồm hàng chục vạn đơn vị với các mối quan hệ chằng chịt bên trong Đó là hệ thống từ vựng Trong hệ thống từ vựng bao gồm nhiều lớp

từ và ngữ cố dịnh được sắp xếp theo những tiêu chí khác nhau Chẳng hạn, theo tiêu chí nguồn gốc, tồn tại các lớp từ thuần và từ vay mượn; theo tiêu chí phạm

vi sử dụng, tồn tại các lớp từ toàn dân và từ địa phương; theo tiêu chí phong cách, tồn tại các lớp từ đa phong cách và đơn phong cách;…Mỗi lớp từ lại tạo thành một hệ thống nhỏ với những mối quan hệ có tính chất trật tự, cân đối, ràng buộc bên trong

Từ vựng học là bộ môn của ngôn ngữ học nghiên cứu hệ thống vốn từ và ngữ cố

định của ngôn ngữ Nói cách khác, từ vựng học là bộ môn khoa học nghiên cứu đặc điểm của các lớp từ trong một ngôn ngữ xét về mặt từ vựng – ngữ nghĩa

1.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TỪ VỰNG

Như trên đã nói, từ vựng của một ngôn ngữ là một hệ thống có tổ chức, giữa các đơn vị hợp thành (tức các từ và các đơn vị tương đương từ) tồn tại những mối quan hệ vừa có tính chất trật tự, cân đối, đều đặn, vừa có tính chất ràng buộc, níu giữ, chi phối lẫn nhau Do đó, để xác định được đặc tính của một đơn

vị nào đấy phải tìm ra những quan hệ giữa đơn vị đó với những đơn vị khác Đặc điểm đích thực của một đơn vị chỉ đựơc phát hiện khi chúng ta đối lập nó với các đơn vị khác trong một hệ thống Chẳng hạn, để xác định được nghĩa và

cách dùng của từ mang, chúng ta phải đối lập nó với các từ cùng nhóm quan hệ dọc (trong một hệ thống nhỏ) như vác, đeo, khiêng, cáng, gùi,… Đồng thời đặt

nó trong trong quan hệ ngang với các từ vai, túi xách, Ta có thể nói: Vai mang

túi xách, chứ không thể nói: Vai gùi túi xách

Từ vựng là một hệ thống cực lớn của một ngôn ngữ, nó gồm hàng chục vạn với nhiều hệ thống nhỏ hơn Các hệ thống nhỏ này lại tồn tại bên trong những hệ thống con Giữa các hệ thống con trong lòng từ vựng có sự giao chéo nhau Có

Trang 6

6

những đơn vị từ vựng vừa thuộc hệ thống con này, vừa thuộc hệ thống con kia

Ví dụ: từ mang nằm trong hai hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa khác nhau Hệ thống thứ nhất mang nghĩa cụ thể, cùng với các từ vác, đeo, khiêng, cáng, gùi, Hệ thống thứ hai mang nghĩa trừu tượng, cùng các từ đem, kèm, đưa, bới,

So sánh:

- Hai người mang theo một bao tải lớn - Không được mang theo trẻ em

- Hai người vác theo một báo tải lớn - Không được kèm theo trẻ em

- Hai người khiêng theo một bao tải lớn - Không được đem theo trẻ em

Khác với các hệ thống khác của ngôn ngữ (hệ thống ngữ âm, hệ thống hình thái, hệ thống cú pháp), hệ thống từ vựng là một hệ thống mở Xã hội loài người luôn luôn vận động phát triển Nhiều sự vật, hiện tượng cũ mất đi, nhiều sự vật, hiện tượng mới nảy sinh Ngôn ngữ luôn luôn phản ánh một cách trực tiếp và tức thì những biến đổi trong xã hội Do đó, có nhiều từ cũ mất đi, nhiều từ mới nảy sinh Xã hội phát triển có nghĩa là tư duy con người phát triển, nhận thức của con người ngàycàng phát triển Hiểu biết của con người về các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan cũng phát triển, theo đó, nghĩa của từ cũng luôn luôn vận động và phát triển Vì vậy, nghĩa của các từ luôn luôn biến đổi theo hai quy luật: thu hẹp nghĩa và mở rộng nghĩa Ví dụ: những năm đầu thế kỉ XX, các

từ Hán Việt không phận và hải phận là những từ biểu thị các khái niệm về

“đường biên giới trên không và trên biển” trong khi đó các tổ hợp thuần Việt

vùng trời và vùng biển là những cụm từ chỉ biểu thị các ý nghĩa “một phạm vi

hẹp về không gian ở trên không và trên biển” Nhưng đến khoảng nửa sau thế kỉ

XX thì các cụm từ vùng trời và vùng biển đã trở thành từ và đã đủ sức biểu thị

các khái niệm về “đường biên giới trên không và trên biển” Do đó, khi nghiên cứu từ và nghĩa của từ, cần phải gắn với bối cảnh xã hội, với từng giai đoạn lịch

sử nhất định

1.3 TỪ TIẾNG VIỆT

1.3.1 Khái niệm “từ” tiếng Việt

Như đã phân tích ở trên, xét về mặt cấp độ, từ là đơn vị được cấu tạo trực tiếp

từ các hình vị và là đơn vị trực tiếp cấu tạo câu Từ là đơn vị có sẵn, hiển nhiên,

Trang 7

7

cố định, bắt buộc, có đặc điểm về hình thức và nội dung Trong các ngôn ngữ

khác nhau, các đặc điểm về hình thức và nội dung của từ cũng khác nhau Vì vậy, việc đưa ra một định nghĩa cụ thể về từ áp dụng cho tất cả các ngôn ngữ (kể

cả tiếng Việt) là điều không thể Ngay cả các định nghĩa về từ tiếng Việt trong các nhà Việt ngữ học cũng không hoàn toàn giống nhau

Giáo trình này không đi sâu thảo luận vấn đề nhận diện từ tiếng Việt mà chỉ nêu

ra một định nghĩa về từ tiếng Việt được coi là thỏa đáng: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, năm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định” [3, tr.16] Định nghĩa này đã chỉ ra khá đầy đủ các đặc trưng cơ bản của TỪ trong ngôn ngữ học đại cương nói chung, trong tiếng Việt nói riêng:

- Là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến Vì vậy trong tiếng Việt vừa có

từ đơn tiết (như nhà, chạy, ăn, sông, lúa…), vừa có từ đa tiết (như giang sơn,

nhỏ nhắn, đủng đỉnh, cổ sinh vật, xã hội chủ nghĩa, )

- Mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định Mỗi đơn vị từ luôn luôn mang

những đặc điểm ngữ pháp như khả năng kết hợp với những từ đứng trước hoặc

đứng sau nó Chẳng hạn, từ nhà có thể kết hợp với từ đứng trước “cái nhà”, với

từ đứng sau “nhà này” Từ xanh có thể kết hợp với từ đứng trước “ rất (hơi) xanh”, với từ đứng sau “xanh lắm (quá).Từ đọc có thể kết hợp với từ đứng trước

“đã (đang, sẽ, sắp) đọc”, với từ đứng sau “đọc xong (rồi)… Các loại đơn vị dưới

từ (hình vị) và trên từ (mệnh đề, câu) đều không có đặc điểm này Mỗi đơn vị từ

có khả năng (thực từ) hoặc không có khả năng (hư từ) đảm nhận các chức vụ cú

pháp ở trong câu như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ,…

- Nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định Tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc

loại hình đơn lập Do đó, từ trong tiếng Việt vừa có cấu tạo đơn (một hình vị),

vừa có cấu tạo ghép (hai hình vị trở lên) Ví dụ: nhà, núi, sông ngòi, xã hội,

công nghiệp hóa, cổ sinh vật học,…Đối với các từ có cấu tạo ghép, nếu giữa các

từ có mối quan hệ về âm thanh thì được gọi là từ ghép âm (láy âm) Ví dụ: Xanh

xanh, đo đỏ, long lanh, lạnh lẽo, rực rỡ, đủng đỉnh,… Nếu giữa các từ có mối

quan hệ về ý nghĩa thì được gọi là từ ghép nghĩa (láy nghĩa) Ví dụ: sông ngòi,

nhà cửa, ruộng vườn, độc lập, thuyền câu, áo dài, hoa hồng,…

Trang 8

8

- Ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định Khác với các đơn vị cao hơn từ (câu, mệnh đề) và thấp hơn từ (tiếng, hình vị), từ có chức năng định danh (gọi tên sự

vật hiện tượng) và biểu thị khái niệm Vì vậy, mỗi từ là một đơn vị thống nhất

về ý nghĩa Ý nghĩa của từ biểu thị các mối quan hệ giữa từ, người sử dụng và hiện thực khách quan Nói cách khác, ý nghĩa của từ là phần phản ánh nội dung hiện thực vào nhận thức con người thông qua hình thức biểu thị là âm thanh của ngôn ngữ (vấn đề này sẽ được đề cập cụ thể ở chương 3) Vì vậy, mỗi từ ứng với một kiểu nội dung phản ánh (định danh) nhất định Có những từ nội dung phản

ánh là biểu thị sự vật (nhà, cửa, lúa, sông, núi,…); có những từ nội dung phản ánh là biểu thị hành động (học, ăn, chạy, đếm, nói,…); có những từ nội dung phản ánh là biểu thị tính chất (xanh, tốt, đỏ, thông minh, tươi tỉnh,…); có những

từ nội dung phản ánh biểu thị quan hệ giữa các sự vật, hành động, tính

chất, (và, thì, rồi, do đó, vì vậy, nên,…)

Cũng cần lưu ý rằng bốn tiêu chí nhận diện từ tiếng Việt nói trên (ngữ âm, ngữ pháp, cấu tạo và ý nghĩa) không độc lập đối với nhau mà tạo thành một chỉnh thể thống nhất Nếu tách riêng bất cứ thành phần nào cũng không thể đủ sức để xác định là từ Đặc biệt, một mình thành phần ngữ âm cũng không thể cho ta biết nó có phải là từ hay không Chẳng hạn, hình thức ngữ âm “đỉnh1” trong

đủng đinh và “đỉnh2” trong đỉnh núi hoàn toàn khác nhau; hình thức ngữ âm

“xao1” trong xôn xao và “xao2” trong xao lòng cũng khác nhau “Đỉnh1” và

“xao1” không phải là từ Vì vậy khi một thành phần nào đó thay đổi cho dù thành phần ngữ âm vân giữ nguyên thi vẫn có thể xác định sự tồn tại của nhiều

từ khác nhau

Mặt khác, các thành phần của từ - ngoài thành phần ngữ âm – không phải là của riêng của mỗi từ Các thành phần cấu tạo, ngữ pháp và ý nghiã xuât hiện trong từ này nhưng cũng có thể có mặt trong một số từ khác Thành phần ngữ

âm của từ mang tính riêng biệt nhưng các thành phần cấu tạo, ngữ pháp và ý nghĩa luôn luôn mang tính đồng loạt

Chẳng hạn, xét về thành phần cấu tạo, từ xe máy có cấu tạo chung giống với các

từ khác như xe đạp, xe lôi, xe khách, xe tải,… Xét về thành phần ngữ pháp, từ xe

có đặc điểm ngữ pháp giống với các từ tàu, máy bay, thuyền, ca nô,… Xét về

Trang 9

9

thành phần ý nghĩa, các từ nói trên đều mang ý nghĩa chung là “phương tiện giao thông”

Nhờ tính đồng loạt của các thành phần nói trên mà khi gặp một hình thức ngữ

âm nào đó, chúng ta có thể hiểu và kết luận rằng từ đó thuộc từ loại gì và sử

dụng nó như thế nào? Chẳng hạn, khi ta gặp hình thức ngữ âm sơn, dựa vào thành phần ngữ pháp và ý nghĩa chung mà ta có thể kết luận sơn thuộc từ loại

danh từ hay động từ Nếu thành phần ngữ pháp và ý nghĩa chung giống với các

từ mực, vôi, phấn,…thì sơn là một danh từ chỉ “chất liệu có màu” Nếu thành phần ngữ pháp và ý nghĩa chung giống với các từ quét, tô, bôi, nhuộm,…thì sơn

là một động từ chi “hành động dùng tay có phương tiện làm cho sơn dính vào

gỗ, đá, tường, giấy, vải,…

1.3.2 Đặc điểm của từ tiếng Việt

Như đã nói, từ là đơn vị khác với hình vị (đơn vị thấp hơn từ) và câu (đơn vị

cao hơn từ) ở hai bình diện: âm thanh và ngữ pháp Vì vậy, đặc điểm của từ tiếng Việt cũng được thể hiện rõ ở hai phương diện ấy

1.3.2.1 Đặc điểm ngữ âm

Đặc điểm ngữ âm của từ tiếng Việt có nguồn gốc từ đặc điểm loại hình ngôn ngữ Tiếng Việt là một ngôn ngữ (có thể xem là điển hình) thuộc loại hình đơn lập, do đó, từ được tạo thành từ cơ sở đơn tiết, không biến đổi hình thức âm

thanh Nói cách khác, từ trong tiếng Việt là những hình thức âm thanh cố định,

bất biến So với các từ của tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Đức,…hình thức âm

thanh của từ tiếng Việt cố định, bất biến ở mọi vị trí, mọi quan hệ và chức năng trong câu

Trong các ngôn ngữ Ấn – âu, việc nhận diện từ chủ yếu dựa vào hình thức ngữ pháp (dạng thức ngữ pháp) Ở tiếng Nga, khi tiếp nhận các hình thức

knhiga, knhigi, knhigu, knhige,…thì người ta đều quy về cùng một từ knhiga

Nhưng trong tiếng Việt, việc nhận diện từ trước hết dựa vào hình thức âm thanh (âm tiết) Một người Việt Nam bình thường nào cũng dễ dàng phân biệt các hình

thức âm thanh khác nhau – sách, sạch và sáng – là các từ khác nhau, cho dù

chúng xuất hiện ở vị trí nào, tồn tại trong các quan hệ nào và đảm nhận chức vụ

gi trong câu

Trang 10

10

Tính cố định, bất biến của từ tiếng Việt có quan hệ mật thiết với tính độc lập

tương đối cao đối với câu, với ngôn bản Trong tiếng Nga, khi tiếp nhận hình

thức âm thanh knhiga, đồng thời với việc nhận thức về ý nghĩa là nhận thức về

vai trò chủ ngữ của nó ở trong câu Nhưng trong tiếng Việt, khi tiếp nhận hình

thức âm thanh sách thì ngoài việc nhận thức về ý nghĩa của nó, ta không thể

nhận thức về các quan hệ, các chức năng cú pháp thể hiện ngay trong hình thức

âm thanh ấy Điều đó chỉ có thể nhận thức được khi có sự tồn tại của các từ xung quanh

Một số nhà nghiên cứu thường nhấn mạnh đến khả năng miêu tả của âm thanh của từ tiếng Việt Khả năng miêu tả của âm thanh của từ thể hiện ở hai phương diện: miêu tả âm thanh (dựa vào thính giác) và miêu tả sự vật, hiện tượng (dựa vào thị giác) Đối với khả năng miêu tả âm thanh, tiếng Việt cũng như tất cả các ngôn ngữ có không ít những từ mà hình thức âm thanh gợi tả cái mà nó biểu thị:

đó là các từ tượng thanh, những từ mà hình thức âm thanh của nó mô phỏng âm

thanh của tự nhiên Ví dụ: ầm ầm, róc rách, lộp độp, đùng đùng, meo meo, gâu

gâu,…Những từ này “tượng thanh” được là vì “thể chất vật chất của ngôn ngữ

(tức thể chất âm học – thính giác) trùng làm một với toàn bộ hoặc một bộ phận thể chất vật chất của cái được biểu thị (âm thanh tự nhiên) (…) điều kiện để cho một từ có thể “gợi tả”, mô phỏng sự vật, hiện tượng là thể chất vật chất của từ phải trùng hợp với thể chất vật chất (toàn bộ hay bộ phận) của sự vật hiện tượng” [3, tr.19]

Đối với khả năng miêu tả sự vật, hiện tượng, có những từ mà âm thanh của nó trực tiếp gợi ra những hình ảnh thị giác, những hình ảnh vận động hoặc những cảm giác về cường độ Những từ này người tiếp nhận nhận thức dựa vào mối quan hệ giữa hai thành phần trong từ là thành phần âm thanh và thành phần ý

nghĩa Ví dụ, các từ úp, chụp, ngụp, hụp, núp,…gợi tả về “hành động thấp xuống một cách đột ngột”; các từ phất phơ, ngất ngơ, dật dờ, vật vờ,…gợi tả về “trạng

thái không đứng yên của sự vật, hiện tượng”

Do những khả năng miêu tả nói trên của từ tiếng Việt mà trong sáng tác thơ văn, các nhà văn, nhà thơ đã lợi dụng một cách có ý thức các đặc trưng âm thanh

Trang 11

11

của từ ngữ cũng như nhịp điệu của câu để tăng hiệu quả miêu tả trong sáng tác của mình Những câu thơ như:

Tài cao phận thấp chí khí uất

Giang hồ mê chơi quên quê hương… (Tản Đà)

Lá vàng đang đỏ ngọn cây

Sếu giang mang lạnh đang bay ngang trời… (Tố Hữu)

Sương nương theo trăng ngừng lưng trời

Tương tư nâng lòng lên chơi vơi… (Xuân Diệu)

là những sự vận dụng tài tình những hiệu quả âm học tiềm tàng trong võ ngữ

âm của các từ để tạo nên những cảm giác tinh tế, gợi cảm cụ thể cho ý thơ Tuy nhiên, việc khai thác các đặc trưng ngữ âm của từ trong văn bản chỉ có tác dụng khi có điều kiện ngữ nghĩa thích hợp, nghĩa là phải đặt trong một văn cảnh, ngữ cảnh cụ thể Bởi vì, có thể hai câu giống hệt nhau về cấu trúc thanh điệu, về cấu trúc ngữ âm, nhưng được vận dụng ở trong hai văn cảnh và ngữ cảnh khác nhau thì hiệu quả ngữ nghĩa của thanh, của âm cũng sẽ khác nhau

1.3.2.2 Đặc điểm ngữ pháp

Đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt có liên quan trực tiếp đến đặc điểm ngữ

âm và cùng bắt nguồn từ đặc điểm loại hình ngôn ngữ đơn lập Tuy nhiên đặc điểm ngữ pháp của từ không mang tính cá biệt mà mang tính đồng loạt Mỗi từ khác nhau đều có những đặc điểm ngữ pháp khác nhau, nhưng nhưng đặc điểm ngữ pháp ấy lại không phải là của riêng của một từ mà là chung của một số từ

Chẳng hạn, từ nhà trong tiếng Việt là một từ biểu thị ý nghĩa sự vật (thuộc từ loại danh từ), có khả năng kết hợp với các từ biểu thị ý nghĩa đơn vị trước nó như cái, ngôi, tòa,… và kết hợp được với các từ biểu thị ý nghĩa chỉ định đứng sau nó như này, kia, ấy, đó, Đặc điểm này cung có mặt trong các từ núi, sông,

lúa, gạo, đất, đá,… Nhờ tính chất chung, tính đồng loạt của các đặc điểm ngữ

pháp mà hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ mới được xác định và phân chia thành các từ loại

Đối với tiếng Việt, xuất phát từ một ngôn ngữ thuộc lọai hình đơn lập, có tính đơn tiết Do đó, từ luôn luôn có hình thức ngữ âm cố định, bất biến, không chứa đựng nhưng dấu hiệu chỉ ro đặc điểm ngữ pháp của chúng Nếu như trong tiếng

Trang 12

12

Nga, những từ có hình thức ngữ âm cuối từ là các phụ âm như knhiga, aknô, ka

ranđáts, đôm, là từ lọai danh từ; trong tiếng Đức, những từ có hình thức ngữ âm

cuối từ là en như gehen, waschen, schreiben, holen, lesen, là từ loại động từ, thì trong tiếng Việt, các từ như bàn, quạt, cày, tổ chức, lãnh đạo, hình thức ngữ

âm của chúng không biểu thị một đặc điểm ngữ pháp nào, đo đó không thể nhận diện chúng thuộc từ loại nào Thậm chí, cùng một hình thức ngữ âm có thể thuộc

về nhiều từ loại khác nhau

Như vậy, ở tiếng Việt, đặc điểm ngữ pháp của từ không biểu hiện trong nội từ

mà biểu hiện chủ yếu ở ngoài từ, trong mối quan hệ giữa nó với các từ khác ở trong câu

Để miêu tả đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt, các nhà Việt ngữ học thường căn cứ vào các tiêu chí sau đây:

- Khả năng biểu đạt ý nghĩa khái quát (ý nghĩa từ loại) của từ Đặc điểm này

thể hiện rõ trong một số nhóm từ Là người Việt khi nhắc đến các từ như nhà,

vườn, cây, núi, sông, …đều nhận biết chúng luôn luôn biểu thị ý nghĩa sự vật;

các từ như chạy, học, ngủ, ăn, bơi, tắm, luôn luôn biểu thị ý nghĩa hành động; các từ như rất, hơi, lắm, quá, luôn luôn biểu thị ý nghĩa mức độ…

Tuy nhiên, không phải bất kì từ nào trong tiếng Việt cũng luôn luôn thể hiện

rõ đặc điểm này khi tồn tại độc lập, đứng ngoài văn cảnh Vì vậy đặc điểm ngữ pháp thứ hai của từ tiếng Việt thể hiện nổi bật là khả năng kết hợp của nó với các từ xung quanh, đứng trước hoặc sau chúng(từ nhân chứng) Từ nhân chứng

“là những từ có ý nghĩa khái quát, những ý nghĩa quan hệ hay tình thái, thường chỉ kết hợp với những từ thuộc một loại nhất định”[3, tr.22] Chẳng hạn, đối với

các từ biểu thị ý nghĩa sự vật như nhà, sinh viên, cây, thuyền, từ nhân chứng là những từ đứng trước như vài, những, các, mọi, mỗi, và đứng sau như này, kia,

ấy, đó,… Đối với các từ biểu thị ý nghĩa đặc điểm, tính chất như đẹp, hiền, nặng, xanh, lạnh, nóng, từ nhân chứng là các từ như rất, hơi, lắm, quá,…Đối với các

từ chỉ hành động như chạy, học, ngủ, ăn, bơi, tắm, từ nhân chứng là các từ đứng trước như đã, đang, sẽ, sắp, và các từ đứng sau như xong, rồi,

Trang 13

13

Sự kết hợp của một từ với các từ nhân chứng có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp

Chẳng hạn, đối với các từ biểu thị ý nghĩa sự vật như nhà, sinh viên, cây,

thuyền, có thể kết hợp trực tiếp với các từ nhân chứng:

Những sinh viên Mỗi sinh viên

Những cây Mỗi cây

Những nhà Mỗi nhà

Nhưng cũng có thể kết hợp gián tiếp thông qua các từ chi đơn vị hay chỉ loại: Những anh sinh viên Mỗi người sinh viên

Những loại cây Mỗi nhóm cây

Những ngôi nhà Mỗi tòa nhà

Dựa vào các từ nhân chứng, các nhà nghiên cứu sẽ xác định được các loại từ khác nhau trong hệ thống từ vựng của ngôn ngữ

- Đặc điểm ngữ pháp thứ ba của từ tiếng Việt là có hay không có khả năng đảm nhận chức năng làm thành phần câu Có những loại từ có khả năng làm thành phần câu như làm chủ ngữ, vị ngữ, Trong tiếng Việt, khả năng làm vị ngữ trực tiếp hay làm vị ngữ gián tiếp với từ nối “là” cũng thường được dùng như tiêu chí chủ yếu phân biệt các từ loại

Ví dụ: Vận động viên chạy Vị này là bác sĩ

Học sinh học Người này là học sinh

Gia đình hòa thuận Đây là sách

Cuốn sách đẹp Kia là tòa soạn

Qua các ví dụ trên ta thấy, các từ chạy, học, hòa thuận, đẹp, làm vị ngữ trực tiếp còn các từ bác sĩ, học sinh, sách, tòa soạn cũng làm vị ngữ song gián tiếp,

thông qua từ nối “là” Như vậy, chúng lập thành hai nhóm từ loại khác nhau

Đến lượt trong nhóm từ chạy, học, hòa thuận, đẹp có thể tách thành hai nhóm

nhỏ hơn dựa vào từ nhân chứng “rất”

Ta có thể nói: Gia đình rất hòa thuận

Trang 14

14

- Đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt còn thể hiện ở khả năng chi phối các thành phần phụ trong cụm từ, trong câu Đặc điểm này thường được dùng phối hợp với các đặc điểm trên để phân tách các từ loại lớn thành các tiểu loại Chẳng hạn, để phân xuất các loại động từ thành động từ ngoại động và động từ nội động, chúng ta xem xét có hay không bổ ngữ danh từ chỉ đối tượng chịu tác động trực tiếp do động từ biểu thị

Ví dụ: Sinh viên đọc sách Vận động viên bơi lội

Kĩ sư sửa chữa máy Cái bát vỡ

Dược si điều chế thuốc Hoa nở

Các động từ đọc, sửa chữa, điều chế có các danh từ bổ ngữ trực tiếp sách, máy, thuốc, vì vậy đây là nhóm động từ ngoại động Các động từ bơi lội, vỡ, nở

không thể có bổ ngữ trực tiếp, vì vậy đây là nhóm động từ nội động

Cũng cần lưu ý rằng, đặc điểm ngữ pháp của từ không hoàn toàn tách rời, độc lập với ý nghĩa của từ mà luôn luôn nằm trong mối quan hệ có tính chất tiền đề - kết quả Ý nghĩa của từ là cơ sở của các đặc điểm ngữ pháp Ngược lại, đặc điểm ngữ pháp là cái khuôn hình thức để định hình một ý nghĩa Chỉ có điều, trong các ngôn ngữ khác nhau, cách thức định hình ý nghĩa cũng khác nhau Trong tiếng Việt, các đặc điểm ngữ pháp thường là căn cứ khách quan để xác định các

ý nghĩa khác nhau của một hình thức ngữ âm nào đó

Ví dụ: - Lá cờ màu đỏ

- Tay cờ này gặp vận đỏ

- Ngày ba lần đỏ lửa

Dựa vào các đặc điểm ngữ pháp khác nhau của âm tiết “đỏ” ở ba văn cảnh trên

mà ta biết được ba ý nghĩa khác nhau của “đỏ” Ý nghĩa thứ nhât chỉ đặc điểm màu sắc, ý nghĩa thứ hai chỉ tính chất may mắn, ý nghĩa thứ ba chỉ hành động đốt, nhen, nhóm, làm xuất hiện ngọn lửa

Các đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt nói trên là tiền đề, cơ sở rất quan trọng để xác định từ cũng như xác định các từ loại, tiểu loại và phân tích ý nghĩa của từ

Trang 15

15

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 So sánh sự giống nhau và khác nhau về định nghĩa TỪ trong ngôn ngữ học đại cương và trong tiếng Việt

2 Phân tích đặc điểm ngữ âm của từ tiếng Việt Cho ví dụ minh họa

3 Phân tích đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt Cho ví dụ minh họa

BÀI TẬP THỰC HÀNH

1 Cho đoạn văn sau đây:

“Nghệ thuật ẩm thực Việt Nam được nhiều du khách quốc tế biết đến và trở thành một nét đặc trưng không thể thiếu Hiện nay có nhiều lớp học dạy nấu món ăn Việt Nam được tổ chức tại các nhà hàng, khách sạn Và cũng có nhiều bài báo viết về phở, nem, bún, chả, nước mắm Việt Nam Việt Nam, một nhà báo nước ngoài viết, đang trở thành đất nước mà người ta thích đến đó để thưởng thức những món ăn tuyệt vời”

(Theo Báo Nhân Dân, tháng 6 năm 2005)

a Đoạn văn trên có bao nhiêu từ? Giải thích tại sao?

b Các từ có gạch dưới thuộc từ loại nào? Vì sao?

2 Phân tích đặc điểm ngữ pháp của các từ có gạch dưới trong đoạn văn sau: “Ngôn ngữ thơ đường rất hàm súc, cô động, ít lời nhiều ý Cái hay của thơ Đường là tác giả đã dựng lên hàng loạt những mối quan hệ bản chất giữa các hiện tượng miêu tả Từ những mối quan hệ giữa những câu trong một bài thơ, giữa những chữ trong một câu thơ, người đọc ngẫm nghĩ tự tìm ra những kết luận; tác giả không làm thay người đọc việc ấy”

(SGV, Văn học 10, tập 2, nxb GD 1998)

Trang 16

Em đi với chiếc thuyền không

Khi mô vô bến rời dòng dâm ô

Trời ơi em biết khi mô

Thân em hết nhục dày vò năm canh

Tình ôi gian dối là tình

Thuyền em rách nát còn lành được không? “

(Tiếng hát sông Hương – Tố Hữu)

Trang 17

17

Chương 2: HỆ THỐNG VỐN TỪ TIẾNG VIỆT

2.1 NHẬN XÉT CHUNG

Như đã trình bày ở chương 1, vốn từ tiếng Việt hiện đại có đến hàng chục vạn

từ, không phải tồn tại hỗn độn, rời rạc mà tồn tại theo từng hệ thống từ lớn đến nhỏ, theo từng lớp lang với nhưng mối quan hệ vừa có tính chất trật tự, cân đối, đều đặn, vừa có tính chất ràng buộc, níu giữ, chi phối lẫn nhau

Mỗi lớp từ, nhóm từ là một tập hợp gồm hàng trăm, hàng ngàn, thậm chí hàng

vạn từ cụ thể có cùng đặc điểm chung nào đó Chẳng hạn, lớp từ vay mượn là

những từ do người Việt vay mượn từ các ngôn ngữ khác từ nguyên nhân tiếp

xúc về lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ; lớp từ toàn dân là những từ được sử dụng rộng rãi trong phạm vi cả nước; lớp từ đa phong cách là nhưng từ được vận

dụng trong tất cả các phong cách ngôn ngữ,…

Về mặt lịch sử, mỗi lớp từ, nhóm từ trong hệ thống vốn từ tiếng Việt được hình thành theo những giai đoạn lịch sử khác nhau Chẳng hạn, lớp từ thuần Việt được hình thành sớm hơn lớp từ vay mượn; lớp từ địa phương có thể hình thành sớm hơn lớp từ toàn dân,…

Mỗi lớp từ, nhóm từ có những đặc điểm riêng về số lượng, cấu tạo, sắc thái ý nghĩa, chức năng, tác dụng và cả cách sử dụng Người sử dụng ngôn ngữ có nắm vững những đặc điểm trên của các lớp từ thì mới có thể vận dụng và phát huy được hiệu quả cao trong giao tiếp

Các nhà từ vựng học tiếng Việt đã phân chia hệ thống vốn từ tiếng Việt thành các lớp từ theo những tiêu chí sau đây:

a) Theo tiêu chí nguồn gốc, vốn từ tiếng Việt có thể được phân chia thành các lớp: - Từ thuần Việt

Trang 18

Trong hệ thống vốn từ tiếng Việt, ngoài những từ có thể xác định chắc chắn

là tiếp nhận từ tiếng Hán và các ngôn ngữ Ấn – Âu, tất cả các từ còn lại thường được gọi là từ thuần Việt Những từ được gọi là thuần Việt phần lớn thường trùng với bộ phận từ vựng gốc của tiếng Việt (lớp từ thường dùng hàng ngày), chúng biểu thị những sự vật, hiện tượng phổ biến và cơ bản nhất (cây cỏ, thời tiết, đồ vật, loài vật, bộ phận cơ thể, thiên nhiên, xưng hô trong gia đình và ngoài

xã hội, hoạt động, tính chất, trạng thái, tình cảm, tâm lý của con người,…) Ví

dụ các từ như sông, núi, chân, tay, nhà, cửa, ruộng, vườn, ao, hồ, sông, suối, tốt,

xấu, trắng, đen, cha mẹ, anh, em, trời, đất, mưa, nắng,…

Từ thuần Việt là những từ được hình thành từ rất lâu đời Nếu so sánh bộ phận từ vựng thuần Việt với các từ tương ứng trong tiếng Mường, các tiếng Tày Thái và Môn – Khơme, người ta nhận thấy rằng nhiều từ thuần Việt có sự giống nhau nhất định về ngữ âm và ngữ nghĩa.Về nguồn gốc, các nhà Việt ngữ học đã đưa ra nhiều giải thuyết khác nhau Trên đại thể có ba khuynh hướng chính [3, tr.237]:

a) Khuynh hướng thứ nhất cho tiếng Việt bắt nguồn từ các ngôn ngữ khơme (Nam Á) A.G Haudricourt đã chứng minh một cách khoa học, tỉ mỉ rằng tiếng Việt cổ không có thanh điệu giống như phần lớn các ngôn ngữ Nam Á, chuyển biến thành tiếng Việt hiện đại có thanh điệu như ngày nay

Trang 19

cơ bản giống nhau giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ Tày-Thái, vào cơ cấu cấu tạo

từ và thanh điệu giữa chúng, ông cho rằng tiếng Việt không có phụ tố giống như các ngôn ngữ Thái Trong khi đó, các ngôn ngữ Môn-Khơme lại có nhiều phụ

tố, Nhất là tiền tố và trung tố Maspéro cũng chứng minh rằng hệ thống thanh điệu của tiếng Việt hợp với hệ thống thanh điệu của tiếng Thái cổ, trong khi đó các ngôn ngữ môn-Khơme không có thanh điệu

c) Khuynh hướng thứ ba lại cho rằng tiếng Việt sinh ra do sự hỗn hợp của ngôn ngữ Nam Á và Tày-Thái Khuynh hướng này đã được G Coedès nêu ra từ năm

1949 và sau đó Hà Văn Tấn và Phạm Đức Dương cũng đi theo quan điểm này Theo các tác giả, có 6 nhóm từ được coi là thuần Việt có sự tương ứng với các ngôn ngữ sau đây:

- Nhóm từ có sự tương ứng với tiếng Mường:

Ví dụ: đuôi, khoáy, móng, mồm, sừng, cô gái, đàn ông, đàn bà, ông, chồng, vợ, cây, củ, cọc, cối, cột, cam, chày, chum, bướm, cáo, cầy, chuột, chum,…

- Nhóm từ có sự tương ứng với các ngôn ngữ Tày – Thái:

Ví dụ: bánh, bắt, bóc, buộc, đường, gọt, neo, méo, ngắt, ngắm, ngại, ngọn, rẫy, vắng,

- Nhóm từ có sự tương ứng với các ngôn ngữ Việt-Mường và Tày-Thái:

Ví dụ: bão, bát, bể, cày, dao, đen, gạo, giặt, may, ngà voi, phân, sống, than, trùm,…

- Nhóm từ có sự tương ứng với nhóm Việt- Mường và nhóm Bru ở miền tây Quảng Bình:

Ví dụ: bụng, bốc, bớt, củi, cồng, đêm, hòn, hột, kéo, khô, mặt trời, mặt trăng,

núi, ngày, rắn, ruột,…

Trang 20

20

- Nhóm từ có sự tương ứng với nhóm Việt-Mường và nhóm Môn-Khơme ở Tây Nguyên:

Ví dụ: dốc, đèo, đồng bằng, khói, mây, mưa, sấm sét, bàn chân, da, đầu gối,

mỡ, bếp, búa, bụi, cày, bịt, bóp, bôi, bú, buộc, lắc, lăn, lặn, lấp, mặc, mò,…

- Nhóm từ có sự tương ứng với nhóm Việt Mường và các ngôn ngữ Khơme:

Ví dụ: một, hai, ba, bốn, năm, con, cháu, đất, đá, gió, lửa, năm, ngày, cằm, chân, cổ, đít, lưng, lưỡi, mắt, mặt, mũi,…

Từ thuần Việt có một số đặc điểm cơ bản:

- Về hình thức, từ thuần Việt chủ yếu là từ đơn tiết các từ đa tiết (từ ghép, từ láy) cũng được cấu tạo trên cơ sở từ đơn tiết, nghĩa là trong các từ đa tiết, tối

thiểu phải có một âm tiết có nghĩa, trừ một số ngoại lệ như long lanh, đủng đỉnh,

lao xao,…

- Về ý nghĩa, từ thuần Việt chủ yếu mang sắc thái nghĩa cụ thể, sinh động, hài

hước và dí dỏm

Ví dụ: khi muốn biểu thị các loại vườn cụ thể, người Việt thường sử dụng các

từ thuần Việt như vườn hoa, vườn thú, vườn cảnh, vườn ươm, vườn trẻ,…Nhưng

khi biểu thị một loại vườn tổng hợp, vừa có hoa lá, cây cảnh, mương thú, vừa có vui chơi giải trí thì không thể dùng từ thuần Việt (vườn chung, vườn chơi) mà

phải dùng từ Hán Việt – từ công viên

Trong giao tiếp nói chung cũng như trong sáng tác văn học nói riêng, khi muốn cho tên gọi hoặc bí danh của mình có tính chất hài hước, dí dỏm, người ta

cũng lựa chọn và sử dụng từ thuần Việt Ví dụ: Tư Râu, Vân Mập, Tú Xương, Tú

Mỡ, Bút Tre,… Các từ Râu, Mập, Xương, Mỡ, Tre, đều là từ thuần Việt

Ngay cả trong lớp từ thuần Việt cũng có những từ mang sắc thái nghĩa trừu tượng, khái quát, nhưng khi muốn cho nội dung hiện thực được nói tới mang sắc thái cụ thể, sinh động, gợi hình, gợi cảm, người ta lại sử dụng các từ gần nghĩa

hoặc đồng nghĩa thuần Việt Ví dụ: từ bắt là một từ có sắc thái nghĩa trừu tượng, khái quát Nếu ta nói bắt cá, bắt tép, bắt chim, bắt chuột, thì người nghe không hình dung được cụ thể phương tiện, dụng cụ, cách thức bắt như thế nào Nhưng nếu ta nói úp cá, đơm tép, bẫy chim, đào ổ chuột, thì bất lì người việt nào khi

Trang 21

21

nghe đều có thể hình dung được Những từ úp,đơm, bẫy, đào đều là từ thuần

Việt

2.2.2 Lớp từ vay mượn

2.2.2.1 Hiện tượng vay mượn từ vựng trong tiếng Việt

Hiện tượng vay mượn từ vựng là một hiện tượng mang tính phổ quát trong tất

cả các ngôn ngữ Trên thế giới không có một ngôn ngữ nào lại không vay mượn đơn vị từ vựng từ một ngôn ngữ khác Hiện tượng vay mượn từ vựng có nguyên nhân chủ yếu do sự tiếp xúc về địa lý, lịch sử và văn hóa giữa các dân tộc

Lịch sử Việt Nam đã chứng minh rằng dân tộc Việt Nam đã trải qua hơn một nghìn năm đô hộ của phong kiến phương bắc, gần một trăm năm thuộc địa của thực dân Pháp và hơn hai mươi năm xâm lược của đế quốc Mỹ Đặc điểm lịch

sử ấy là một trong những tiền đề cho việc hình thành từ vay mượn trong tiếng Việt

Tuy nhiên không phải bất kì sự xâm nhập từ nước ngoài nào vào trong hệ

thống từ vựng tiếng Việt đều được coi là từ vay mượn Chỉ được coi là từ vay

mượn khi đã được cải tạo lại, được “Việt hóa” phù hợp với các đặc điểm về ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa tiếng Việt Sự biến đổi về ngữ nghĩa của các từ

vay mượn cũng là điều thường thấy Chẳng hạn, “từ tét trong biệt ngữ của những người ưa thích môn bóng đá vốn là danh từ tête với nghĩa “cái đầu” của tiếng

Pháp Vào tiếng Việt, nó đã được phát âm theo kiểu Việt Nam và có ý nghĩa của

động từ (đánh đầu, chuyền bóng bằng đầu) Hoặc như từ tử tế là một từ phức

Hán với nghĩa “tỉ mỉ, kỹ càng” Sang tiếng Việt nó chỉ “cách đối xử giữa người với người đúng mức, không khinh rẻ, không hắt hủi”…” [3, tr.270]

Tiếng Việt chỉ mới tiếp xúc với các ngôn ngữ Ấn Âu trong thời gian vài thế kỉ lại đây, sau khi đã tiếp nhận một cách có hệ thống rất nhiều từ gốc Hán Vì vậy, những từ tiếng Việt vay mượn từ các ngôn ngữ Ấn Âu chỉ có tính chất le tẻ, không thành hệ thống như các từ vay mượn của tiếng Hán Trong khi đó, tiếng Việt tiếp xúc với tiếng Hán cách đây hàng chục thế kỉ, từ khi nhà Hán của Trung Quốc bắt đầu xâm chiếm nước ta, biến nước ta thành các quận, huyện của chúng

Trang 22

22

Tiếng Việt và tiếng Hán đều cùng ngôn ngữ đơn lập Vì vậy, các từ vay mượn của tiếng Hán dễ dàng nhập hệ hơn các từ vay mượn của các tiếng Ấn – Âu Vì vậy có nhiều trường hợp tiéng Việt không vay mượn trực tiếp từ các ngôn ngữ Ấn-Âu mà vay mượn gián tiếp qua tiếng Hán (các từ vay mượn kiểu này được

xếp vào từ Hán Việt) như câu lạc bộ (tiếng Hán dịch âm từ club của tiếng Anh),

Mạc Tư khoa (tiếng Hán dịch âm từ Mockva của tiếng Nga) Những từ ngữ vay

mượn tồn tại trong hệ thống từ vựng tiếng Việt sớm nhất, có quá trình lâu dài nhất, với số lượng cao nhất là những từ ngữ vay mượn từ trong tiếng Hán (ngày nay là gọi là từ Hán Việt) Từ Hán Việt sẽ được trình bày một mục riêng

Theo các nhà nghiên cứu, từ vay mượn trong tiếng Việt được hình thành từ những cách thức sau:

a) Về cơ bản giữ nguyên dạng âm thanh của từ nước ngoài, chỉ âm tiết hóa

hoặc rút gọn theo cách phát âm của tiếng Việt Ví dụ: xà phòng, len, dạ, xích,

líp, ghi đông, bôn sê vích, Pa ri, ban công, đăng ten, phanh, van, kíp,…

b) Dịch ý, nghĩa là cách dùng các hình vị thuần Việt hay Hán Việt để dịch

nghĩa của các hình vị trong các từ nước ngoài Ví dụ: từ ngôi sao với nghĩa chi

“người đẹp, diễn viên xuất sắc” là từ được dịch ý từ star của tiếng Anh; từ máy

kéo là dịch ý từ tracteur tiếng Pháp;…

c) Bên cạnh cách thức tiếp nhận về hình thức âm thanh lẫn nội dung ý nghĩa như trên, còn có cách thức sao phỏng, nghĩa là tiếp nhận bằng cách dịch từng

yếu tố có tính chất hình thái học của các từ nước ngoại Ví dụ: các từ chắn bùn,

chắn xích, chiến tranh lạnh, giết thời gian,… là sao phỏng từ garde bou, garde chaine, guerre froide, tuer le temps v.v… của tiếng Pháp

Hai cách vay mượn (b) và (c) là cách vay mượn không hoàn toàn

2.2.2.2 Lớp từ Hán - Việt

Từ Hán – Việt thuộc bộ phận từ ngữ vay mượn có nguồn gốc từ tiếng Hán Tiếng Việt và tiếng Hán đều là những ngôn ngữ có lịch sử lâu đời Sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ này bắt đầu từ khi nhà Hán của Trung Quốc xâm chiếm nước

ta, biến nước ta thành những quận, huyện của chúng Trong quá trình tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ, tiếng Việt đã tiếp nhận một khối lượng từ ngữ rất lớn của tiếng Hán để làm giàu thêm kho từ ngữ của mình Hiện tượng tiếp nhận này diễn

Trang 23

23

ra không giống nhau trong các thời kì Nếu ở giai đoạn đầu, việc tiếp nhận chỉ

có tính chất lẻ tẻ, rời rạc, chủ yếu bằng con đường khẩu ngữ qua sự tiếp xúc trực tiếp giữa người Việt với người Hán thì đến đời Đường, việc tiếp nhận từ ngữ Hán đã diễn ra một cách có hệ thống bằng con đường sách vở

Không phải tiếng Việt mượn tất cả các chữ Hán đọc theo âm Hán – Việt được dạy ở Việt Nam đời Đường cũng như thời các triều đại phong kiến tiếp theo Hiện tượng chữ Hán được dùng nhiều ở Việt Nam trước đây và sự tồn tại của cách đọc Hán – Việt cho đến ngày nay chỉ là nguyên nhân khiến cho tiếng Việt

đã tiếp nhận hàng loạt từ ngữ tiếng Hán một cách có hệ thống và từ đời Đường đến nay, tất cả các từ tiếng Việt tiếp nhận của tiếng Hán bằng con đường sách

vở đều được đọc theo cách đọc Hán Việt Cách đọc Hán – Việt “là cách đọc chữ Hán ở Việt Nam của người Việt Nam Cách đọc đó phản ánh dạng ngữ âm của chữ Hán thời Đường được dạy và học ở Việt Nam lúc bấy giờ Tất nhiên, so với dạng ngữ âm của chữ Hán thời nhà Đường thì cách đọc Hán – Việt cũng đã được Việt hóa ít nhiều cho phù hợp với hệ thống ngữ âm của tiếng Việt thời đó”[7, tr.242]

Như vậy, chỉ được coi là từ Hán - Việt những từ Hán nào thực sự nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ nghĩa

và ngữ pháp tiếng Việt Theo các nhà nghiên cứu, từ Hán Việt có hai bộ phận: a) Các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán - Việt

Đây là bộ phận chủ yếu trong hệ thống từ vay mượn của từ vựng tiếng Việt Xét về con đường hình thành, lớp từ này cũng bao gồm hai bộ phận nhỏ:

- Những từ ngữ Hán – Việt được tiếp nhận từ đời Đường cho đến ngày nay Do

có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp một cách lâu dài với tiếng Hán nên tiếng Việt

đã tiếp nhận một cách có hệ thống một khối lượng lớn các từ ngữ về mọi lĩnh vực Ví dụ:

- Chính trị: chủ nghĩa, cách mạng, dân chủ, thượng thư, thượng đế, hoàng thượng, bá quyền, xã hội chủ nghĩa, cộng sản, tư bản,cộng hòa, độc lập,

- Kinh tế: xuất khẩu, nhập khẩu, nông nghiệp, ngư nghiệp, hàng hóa, thương mại, nội thương, ngoại thương,…

Trang 24

24

- Văn hóa giáo dục: văn minh, văn hiến, cử nhân, thạc sĩ, tú tài, học đường, giáo viên, giáo sư, thủ khoa, trạng nguyên,…

- Y tế: lương y, từ mẫu, điều trị, bệnh nhân, bệnh viện, lâm sàng, chẩn trị,…

- Quân sự: chiến tranh, chiến trường, thao trường, vũ khí, quân đội, chỉ huy, tác chiến, trinh sát,…

- Những từ ngữ Hán – Việt được cấu tạo ở Việt Nam

Đó là những từ Hán - Việt được tiếp nhận vào Việt Nam từ lâu, đã trỏ thành một bộ phận hữu cơ của từ vựng tiếng Việt Người Việt đã sử dụng những từ gốc Hán đó làm chất liệu để cấu tạo nên những đơn vị từ vựng mới theo cách

của Việt Nam Ví dụ: náo động, thiếu tá, tiểu đoàn, binh lính, cướp đoạt, đói

khổ, kẻ địch, súng trường, tàu hỏa, tàu thủy,…

b) Các từ ngữ gốc Hán không đọc theo âm Hán - Việt

Ngoài hệ thống từ Hán – Việt nói trên, trong từ vựng tiếng Việt còn có một bộ phận nhỏ từ Hán – Việt nhưng không đọc theo âm Hán – Việt Bộ phậ này cũng bao gồm hai loại:

- Những từ Hán cổ: là những từ gốc Hán được tiếp nhận vào tiếng Việt trước đời Đường Những từ này có cách đọc theo âm Hán cổ chứ không đọc theo cách đọc Hán - Việt Đến đời Đường, những từ ấy lại được tiếp nhận vào Việt Nam một lần nữa, nhưng lại đọc theo cách đọc Hán – Việt Vì vậy, trong tiếng Việt tồn tại những cặp từ gốc Hán cùng nghĩa nhưng có cách đọc khác nhau

Trang 25

25

Do những từ Hán cổ không đọc theo cách đọc Hán - Việt nên hiện nay đa số người Việt không nhận ra nguồn gốc ngoại lai của chúng và cho rằng đó là các

từ thuần Việt

- Những từ Hán – Việt đã được Việt hóa

Các từ Hán - Việt khi nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt đã chịu sự tác động của quy luật biến đổi ngữ âm của tiếng Việt vì vậy, một số từ đã thay đổi diện mạo ngữ âm của mình, không giống với dạng ngữ âm Hán – Việt ban đầu nữa Nhưng cũng có những từ Hán - Việt vừa biến đổi diện mạo ngữ âm, vừa tồn tại dạng ngữ âm Hán – Việt, tạo nên những cặp từ cùng nghĩa song song Ví dụ:

Âm Hán – Việt Âm Việt hóa Âm Hán – Việt Âm Việt hóa

Một trong những đặc điểm chung của từ Hán - Việt so với từ thuần Việt về

mặt ngữ nghĩa là đa số các từ Hán – Việt mang sắc thái nghĩa trừu tượng, khái

quát, trang trọng, nghiêm túc, cổ kính và lịch sử Vì vậy, khi sử dụng từ vựng

tiếng Việt trong các phong cách ngôn ngữ, từ Hán - Việt được vận dụng với tần

số cao nhất trong các phong cách hành chính – pháp lý và phong cách chính luận Trong khi ở phong cách nghệ thuật, lớp từ thuần Việt lại được sử dụng với tần số cao hơn so với lớp từ Hán Việt Tuy nhiên, trong phong cách nghệ thuật, khi muốn miêu tả bức tranh hiện thực của tâm tưởng, của ý niệm, chứ không phải bức tranh sinh động của hiện thực khách quan, các nhà thơ, nhà văn lại phải

Trang 26

Gác mái ngư ông về viễn phố

Gõ sừng mục tử lại cô thôn”

Ở đoạn thơ này, tác giả cũng miêu tả bức tranh hiện thực của cuộc sống: có

ngư ông (ông lão đánh cá), có viễn phố (phố xa), có mục tử (chú bé chăn trâu) và

cũng có cô thôn (làng quê hoang vắng) Nhưng trước mắt người đọc lại không

có ông lão đánh cá, không có phố xa, không có chú bé chăn trâu, không có làng

quê hoang vắng, mà chỉ có ngư ông, viễn phố, mục tử, cô thôn

Đặc điểm ngữ nghĩa của từ Hán – Việt còn được thể hiện rõ trong những trường hợp khi người Việt đặt tên gọi khai sinh, đặt tên các tổ chức, cơ quan, công ty, doanh nghiệp, cửa hàng, biển hiệu,… chủ yếu là lựa chọn từ Hán - Việt, rất ít khi dùng từ thuần Việt, vì sắc thái trang trọng, trang nhã của chúng

2.3 CÁC LỚP TỪ XÉT VỀ MẶT PHẠM VI SỬ DỤNG

2.3.1 Lớp từ toàn dân

Từ toàn dân là lớp từ được phân chia về phạm vi sử dụng, nghĩa là lớp từ được

sử dụng rộng rãi trong tất cả các thành viên của cộng đồng Nó là vốn từ chung cho tất cả những người nói tiếng Việt, thuộc các địa phương khác nhau, các từng lớp xã hội khác nhau Đây chính là lớp từ vựng cơ bản, lớp từ vựng quan trọng nhất trong mỗi ngôn ngữ Có thể xem lớp từ toàn dân là lớp từ vựng hạt nhân, là

cơ sở cho sự thống nhất ngôn ngữ

Về nguồn gốc, lớp từ toàn dân của tiếng Việt bao gồm cả từ thuần Việt và từ

vay mượn: gồm những từ có nguồn gốc từ các tiếng Môn – Khơme như sông,

bắn, lớp mũi, ; những từ có nguồn gốc từ tiếng Hán như ngực, vai, bè, gà, đầu gan, gác, buồng, sơn, thủy, tiền, hậu,… Cả những từ mới vay mượn sau này như

Sơ mi, ôtô, xe đạp, vô tuyến, hợp tác xã, chủ tịch, thư kí,…cũng mau chóng

được dùng rộng rãi và đã trở thành lớp từ vựng toàn dân

Trang 27

27

Về nội dung ý nghĩa, lớp từ vựng toàn dân biểu thị những sự vật, hiện tượng, hành động, trạng thái, tính chất hoặc những khái niệm quan trọng và phổ biến trong cuộc sống của cộng đồng Ví dụ:

- Những từ chỉ hiện tượng thiên nhiên: mưa, nắng, núi, sông, ruộng, vườn, sấm,

chớp, xuân, hạ, thu, đông, cây, trái, trời, đất,…

- Những từ chỉ những hoạt động thông thường của con người: đi, đứng, ăn, ngủ,

khóc, cười, chạy, nhảy, sống, chết,…

- Những từ chỉ bộ phận cơ thể con người: đầu, mắt, mũi, chân, tay, lưng, bụng,

- Những từ chỉ các sự, vật, hiện tượng phổ biến, gắn liền với đời sống sinh hoạt

của con người: cuốc, cày, kim, chỉ, nhà, cửa, quần, áo, bàn, ghế, sách, vở,…

- Những từ chỉ các tính chất phổ biến của sự vật: trắng, đen, tốt, xấu, cứng,

mềm, dài, ngắn,…

- Những từ biểu thị tên gọi các loài gia súc, gia cầm, muông thú: gà, vịt, trâu,

bò, chim, cá, ngựa, dê, voi, hổ, gấu, lợn,

Về phong cách, đại đa số từ vựng toàn dân là những từ đa phong cách, nghĩa là chúng có thể dược dùng trong tất cả các phong cách ngôn ngữ

Từ vựng toàn dân cũng là lớp từ vựng nòng cốt của từ vựng văn học (từ vựng phổ thông) Nó là cơ sở cho sự tồn tại của một ngôn ngữ thống nhất (tiếng Việt) Không có nó, ngôn ngữ không thể có được và do đó cũng không thể có sự trao đổi giao tiếp giữa mọi người Từ vựng toàn dân cũng là cơ sở để cấu tạo các từ mới, làm giàu cho từ vựng tiếng Việt nói chung

2.3.2 Lớp từ địa phương

Về phạm vi sử dụng, từ địa phương là những từ chỉ được sử dụng trong phạm

vi một hoặc một vài địa phương nào đó Theo các nhà nghiên cứu, từ địa phương

bao gồm hai loại:

a) Từ địa phương không có sự đối lập với từ vựng toàn dân Đó là những từ

ngữ biểu thị các sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất,…đặc biệt chỉ có ở địa phương nào đó chứ không phổ biến như từ vựng toàn dân; do đó không có từ song song trong ngôn ngữ toàn dân

Ví dụ: cối ở Hải Hưng (đơn vị đong thóc bằng 1/3 thưng)

thưng ở Hải Hưng (đơn vị đong thóc bằng 13 kg)

Trang 28

28

chéo ở Nghệ Tĩnh (nước chấm gồm vừng giã nhỏ trộn với mật hoặc

đường và nước mắm)

nhút ở Nghệ Tĩnh (dưa muối bằng cây đậu đen, quả mít xanh, cà vàng

thái nhỏ trộn với nhau

chôm chôm ở Nam Bộ (loài cây có quả nhỏ, tròn, vỏ có nhiều gai mềm

và dài

ngoẻn ở Bình Trị Thiên (ăn hết sạch một cách nhanh chóng)

b) Từ địa phương có sự đối lập với từ tòan dân Lớp từ vựng này có quan hệ

khác biệt với từ toàn dân về âm thanh hoặc ý nghĩa Vì vậy, người ta cũng phân chia thành hai loại:

- Những từ có hình thức âm thanh giống nhau nhưng khác nhau về ý nghĩa

Ví dụ:

cậu Em trai của mẹ Hải Hưng: Anh trai của mẹ

chén Đồ dùng để uống bằng sành,

sứ, tương đối nhỏ và thon

Trung bộ và Nam Bộ: đồ dùng để ăn cơm (bát)

hay chủ nhật để đựng quần áo

Trung bộ: cái quan tài để chôn người chết

Trang 29

trước đây là từ chung của toàn dân Ví dụ: trôốc (đầu), cấu (gạo), con gấy (con

Trang 30

30

gái),… Theo thời gian, những từ này chỉ được giữ lại ở một vùng nào đó và trở thành các từ địa phương

Ngược lại, có nhiều từ địa phương đã mở rộng phạm vi sử dụng của mình và

đã trở thành từ toàn dân Ví dụ: các từ địa phương Nam bộ như măng cụt, sầu

riêng, lê ki ma, cá lóc, chôm chôm,…

Như vậy, giữa lớp từ toàn dân và lớp từ địa phương rõ ràng có mối quan hệ qua lại lẫn nhau Ranh giới giữa hai lớp từ này luôn luôn linh hoạt, thay đổi phụ thuộc vào thời gian, không gian và người sử dụng chúng Nhưng cũng phải nhận thấy rằng, lớp từ vựng địa phương là nguồn bổ sung phong phú cho từ vựng toàn dân, đặc biệt là ngôn ngữ văn học

Từ địa phương chủ yếu thuộc lớp từ vựng khẩu ngữ, là ngôn ngữ nói của những người trong một địa phương nào đó (một vùng đất, một tỉnh, một huyện, thậm chí một xã hoặc một thôn nào đó) Từ địa phương không được sử dụng trong các phong cách chuẩn mực nhưng trong các phong cách lệch chuẩn (đặc biệt là phong cách ngôn ngữ nghệ thuật), từ địa phương được các nhà thơ, nhà văn khai thác nhằm đạt được những giá trị tu từ biểu cảm sâu sắc

Việc khai thác và vận dụng từ địa phương trong tác phẩm văn học nhằm đạt những mục đích sau đây:

- Tạo sắc thái địa phương cho tác phẩm Mỗi tác phẩm văn học được định vị ở

một khoảng không gian và thời gian cụ thể, gắn liền với một vùng đất cụ thể ở

đó, những tên đất, tên người và cả lời ăn tiếng nói hàng ngày luôn luôn mang đậm dấu ấn đặc trưng của vùng đất ấy

- Khắc họa tính cách địa phương của nhân vật Mỗi con người cụ thể đều sinh

ra và lớn lên từ một vùng đất cụ thể Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, xã hội, lịch sử của vùng đất ấy đã ăn sâu vào trong máu thịt và hình thành tính cách địa phương của từng con người cụ thể Tất cả những tính chất ấy đều được thể hiện qua lời nói Lời ăn tiếng nói của người miền Bắc khác với lời ăn tiếng nói của người miền Trung, khác với lời ăn tiếng nói của người miền Nam và điều đó thể hiện tính cách của mỗi miền

Việc sử dụng từ địa phương trong tác phẩm văn học thể hiện ở cả ngôn ngữ tác giả lẫn ngôn ngữ nhân vật, nhưng sử dụng từ địa phương trong ngôn ngữ

Trang 31

31

nhân vật thì giá trị tu từ biểu cảm sẽ cao hơn Những tác phầm văn học như Con

trâu của Nguyễn Văn Bổng, Nhớ của Hồng Nguyên, Nước non ngàn dặm của

Tố Hữu, Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư,…đã chứng minh điều đó

Tuy nhiên, nếu lạm dụng từ địa phương, sử dụng thiếu chọn lọc, không đúng chỗ thì sẽ làm giảm sút hiệu quả tu từ, phản tác dụng nghệ thuật Nhà lí luận Mác xít Gorki đã kịch liệt lên án hiện tượng dùng từ địa phương một cách lạm dụng “ Dùng từ mà chỉ nhân dân một vùng hiểu là một sai lầm nghiêm trọng, là phản nghệ thuật” [dẫn theo 7, tr.261]

2.3.3 Lớp từ nghề nghiệp

Hiểu một cách phổ thông thì từ nghề nghiệp là những từ biểu thị những công

cụ, cách thức, phương tiện, quá trình, động tác, sản phẩm, của một nghề nào đó trong xã hội Những từ ngữ này chủ yếu được những người cùng trong ngành nghề đó biết và sử dụng Người ngoài ngành nghề có thể biết ít nhiều hoặc không hiểu ý nghĩa của các từ nghề nghiệp Vì vậy, từ nghề nghiệp cũng là lớp

từ được dùg hạn chế về mặt xã hội Ví dụ:

- Từ ngữ nghề làm nón: lá, móc vành, guột, riệp, nức, khuôn, chằm, khâu, bát,

- Từ ngữ nghề dệt: xa, ống, suốt, thoi, cử, go, trục, guồng cửi, hồ sợi đánh suốt,

- Từ ngữ nghề sơn mài: đá mài, hom, bó, thí, vét, phủ, tô cồn, mài tranh,

- Từ ngữ nghề thợ nề: bay, bê, tô, hom, kẻ chỉ, thợ kép, phụ hồ, vuốt, trám

mạch,

- Từ ngữ nghề nông: cày vỡ, cày lật, bón lót, bón thúc, gieo vại, tắc, rì, họ,

- Từ ngữ nghề mộc: mộng, xẻ, rọc, xén, soi, lùa, bào, bào cóc, bào lượn, đục, bạt,

Ở Việt Nam, các ngành nghề truyền thống rất phong phú và đa dạng, do đó hệ thống từ ngữ nghề nghiệp cũng rất phong phú và đa dạng Nếu đi sâu khảo sát, nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp của mỗi nghề mới thấy hết tính phong phú và đa dạng của nó Ví dụ, nghề làm giấy có các nhóm từ như [dẫn theo 7, tr267]:

- Tên gọi các nguyên liệu dùng làm giấy như bìa, bò cánh, do chuột, dướng, gỗ

mò, lề ta, lề tây, mận,

- Tên gọi các sản phẩm của nghề giấy như dưới manh, dóm men, giấy lệnh,

giấy nên, giấy bổi, giấy pháo, giấy quạt, giấy quỳ, giấy rượu, răm,…

Trang 32

32

- Tên gọi các công cụ sản xuất như bin, bồi vạc, cây ép cuốn, cối dạp lề, dòn

cách, dòn kéo, gáo thang, khuôn, kích ép, tàu seo, trục liền,…

- Tên gọi các thao tác lao động như nấu dó, nhặt bìa, đạp bìa, thạng nước, kéo

tàu, kéo trơn, kéo ráp, tháo tàu, ép uốn, bôi tàu, theo liềm trúc,…

- Tên gọi các sự cố trong quá trình sản xuất như tàu, cúp, tàu dầm, tàu nở, tàu

ráp, uốn chảy, uốn nứt, vỡ tay so,

Từ ngữ nghề nghiệp có một số đặc điểm khác với các lớp từ xét về mặt phạm

vi sử dụng:

- Từ ngữ nghề nghiệp có quan hệ với lớp từ toàn dân vì có nhiều từ ngữ trong các nghề truyền thống đã được mọi người trong cộng đồng hiểu và cùng sử dụng, do đó đã trở thành từ ngữ toàn dân

- Từ nghề nghiệp cũng có quan hệ với lớp từ địa phương vì có trường hợp cùng một sản phẩm, động tác hay nguyên liệu của một nghề nào đó nhưng ở các địa phương khác nhau có thể gọi bằng những tên gọi khác nhau

- Từ nghề nghiệp cũng có quan hệ với thuật ngữ vì, cũng như các thuật ngữ khoa học, các từ nghề nghiệp có đặc tính cơ bản là ý nghĩa biểu vật trùng với sự vật hiện tượng thực có trong ngành nghề và ý nghĩa biểu niệm đồng nhất với các khái niệm về sự vật, hiện tượng đó Có khá nhiều từ nghề nghiệp vốn lưu hành trong những ngành nghề thủ công, khi ngành nghề đó được công nghiệp hóa, hiện đại hóa thi các từ nghề nghiệp đó được chuyển thẳng lên thành thuật ngữ Tuy nhiên, do gắn trực tiếp với hoạt động sản xuất hoặc hành nghề cụ thể nên từ vựng nghề nghiệp có tính cụ thể, gợi hình cao, tính khái quát của ý nghĩa biểu niệm thấp so với thuật ngữ khoa học

- Từ nghề nghiệp cũng có quan hệ với từ lóng, biệt ngữ xã hội, vì xét về phạm

vi sử dụng, từ nghề nghiệp có phạm vi sử dụng hẹp, đồng thời chỉ có những người trong cùng một nghề thì mới có thể hiểu và cùng sử dụng

Có thể nói, từ nghề nghiệp là lớp từ nằm trung tâm giao điểm giữa các lớp từ toàn dân, từ địa phương, thuật ngữ và biệt ngữ xã hội

Nghiên cứu cách đặt tên, gọi tên trong hệ thống từ nghề nghiệp sẽ giúp chúng

ta hiểu rõ thêm đặc trưng của tiếng Việt, tính độc đáo trong cách nhìn, nếp nghĩ cũng như những đặc điểm về tâm lý, văn hóa của người Việt Có thể nhận thấy

Trang 33

33

một số đặc điểm trong cách gọi tên các sự vật, hiện tượng, hành động, trạng thái , tính chất trong hệ thống từ nghề nghiệp như sau (ví dụ lấy từ nghề làm giấy): a) Đa số các từ nghề nghiệp đều có nguồn gốc thuần Việt, vì các nghề nghiệp truyền thống ở Việt Nam hầu hết được hình thành từ lâu đời và được lưu giữ cho

đến tận ngày nay: hoặc là dùng ngay những đơn vị từ vựng có sẵn như bào,

khuôn, phên, rá,…hoặc tạo ra những đơn vị từ vựng mới trên cơ sở những từ có

sẵn như cây ép uốn, cối giã bìe, liềm lót, que lò,…

b) Về cấu tạo, từ ngữ nghề nghiệp vừa có từ đơn tiết, vừa có từ đa tiết, nhưng chủ yếu là từ đa tiêt

c) Hầu hết các từ ngữ nghề nghiệp đều gọi tên trực tiếp sự vật, hiện tượng, hành động, tính chất,…Chúng chỉ ra đặc trưng cụ thể của sự vật, hiện tượng d) Xét về bản chất của tên gọi, hầu hết các từ nghề nghiệp đều có lí do rõ ràng Trong số các tên gọi có lí do, theo giáo sư Nguyễn Thiện Giáp: “ Tên các sản phẩm của nghề giấy thường được đặt căn cứ vào công dụng của sản phẩm đó Ví

dụ: loại giấy tốt dùng để in sắc chỉ của nhà vua gọi là giấy sắc, giấy để làm ngòi pháo gọi là giấy ngòi pháo,… Đặt tên cho các công cụ sản xuất trong nghề giấy ,

người ta thường căn cứ vào hình dáng, chức năng của công cụ đó Ví dụ: dụng

cụ giống như cái đòn để kéo tàu gọi là đòn kéo, hòn đá dùng đè phên trong tàu seo gọi là hòn đè,…”[7, tr.269]

Những tên gọi võ đoán chiếm tỉ lệ thấp, tập trung chủ yếu ở những tên gọi đơn tiết

e) Đa số từ ngữ nghề nghiệp đều có ý nghĩa cụ thể, sinh động, gợi hình

Khác với các từ lóng, biệt ngữ xã hội, từ ngữ nghề nghiệp tuy là lớp từ vựng hạn chế về mặt xã hội nhưng là những tên gọi duy nhất của hiện tượng thực tế, không có từ đồng nghĩa trong từ vựng toàn dân Vì vậy, từ nghề nghiệp dễ dàng trở thành từ vựng toàn dân khi những khái niệm riêng của nghề nào đó trở thành phổ biến rộng rãi trong toàn xã hội

2.3.4 Lớp từ chuyên môn – thuật ngữ

2.3.4.1 Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ, là những từ hoặc

cụm từ cố định gọi tên các khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người Ví dụ các thuật ngữ:

Ngày đăng: 14/05/2021, 21:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w