1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lí hoạt động truyền thông đến người học tại trường đại học sư phạm kỹ thuật thành phố hồ chí minh luận văn thạc sị khoa học giáo dục chuyên ngành quản lý giáo dục

136 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lí hoạt động truyền thông đến người học tại trường đại học sư phạm kỹ thuật thành phố hồ chí minh
Tác giả Lê Việt Tiên
Người hướng dẫn TS. Phạm Thị Lan Phượng
Trường học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý Giáo dục
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành được luận văn “Quản lí hoạt động truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh” và đi đến chặng đường ngày hôm nay, tôi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Lê Việt Tiên

QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG ĐẾN NGƯỜI HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Lê Việt Tiên

QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG ĐẾN NGƯỜI HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Quản lý Giáo dục

Mã số : 8140114

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHẠM THỊ LAN PHƯỢNG

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Quản lí hoạt động truyền thông đến người

học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh” là sản phẩm

khoa học của riêng tôi, đảm bảo tính trung thực, khách quan và chưa từng được công

bố trong một công trình khoa học nào khác

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn “Quản lí hoạt động truyền thông đến người học

tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh” và đi đến chặng

đường ngày hôm nay, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:

Ban Giám hiệu nhà trường, Phòng Sau Đại học và tập thể giảng viên Khoa Khoa học Giáo dục - Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi hoàn thành chương trình học tập tại trường và thực hiện đề tài này;

Tập thể Ban Chủ nhiệm, giảng viên và sinh viên các Khoa đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ và giúp đỡ nhiệt tình cho tôi trong quá trình thu thập dữ liệu phục vụ cho đề tài;

Đặc biệt hơn hết, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến với

TS PHẠM THỊ LAN PHƯỢNG – người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tận tình

cho tôi từ những ngày mới bắt đầu đến khi hoàn thành luận văn này

Mặc dù bản thân tôi đã nỗ lực hết sức để hoàn thiện luận văn trong phạm vi khả năng nhưng chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của Quí Thầy cô

TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 11 năm 2020 TÁC GIẢ

LÊ VIỆT TIÊN

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục bảng biểu

Danh mục biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG ĐẾN NGƯỜI HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC 7

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Ngoài nước 7

1.1.2 Trong nước 9

1.2 Hệ thống hoá các khái niệm liên quan 12

1.2.1 Hoạt động truyền thông đến người học 12

1.2.2 Quản lí hoạt động truyền thông đến người học 15

1.3 Hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học 16

1.3.1 Vai trò hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học 16

1.3.2 Mục tiêu hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học 21

1.3.3 Nội dung hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học 22

1.3.4 Hình thức hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học 23

1.3.5 Điều kiện thực hiện hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học 27

1.3.6 Đánh giá thực hiện hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học 30

Trang 6

1.4 Quản lí hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học 31

1.4.1 Phân cấp quản lí hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học 31

1.4.2 Lập kế hoạch truyền thông đến người học trong trường đại học 32

1.4.3 Tổ chức thực hiện kế hoạch truyền thông đến người học trong trường đại học 34

1.4.4 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch truyền thông đến người học trong trường đại học 35

1.4.5 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch truyền thông đến người học trong trường đại học 36

1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học 37

1.5.1 Yếu tố ngoài nhà trường 37

1.5.2 Yếu tố trong nhà trường 38

Kết luận chương 1 41

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG ĐẾN NGƯỜI HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 42

2.1 Tổng quan về trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 42

2.2 Khái quát về tổ chức khảo sát thực trạng 43

2.2.1 Mẫu khảo sát 43

2.2.2 Phương pháp khảo sát 43

2.3 Thực trạng về hoạt động truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 45

2.3.1 Thực trạng nhận thức về hoạt động truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 45

2.3.2 Nội dung hoạt động truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 51

Trang 7

2.3.3 Hình thức hoạt động truyền thông đến người học tại Trường Đại học

Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 54

2.4 Thực trạng quản lí hoạt động truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 57

2.4.1 Lập kế hoạch truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 57

2.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 60

2.4.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 62

2.4.4 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 64

2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 66

2.6 Đánh giá chung về quản lí hoạt động truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 71

2.6.1 Điểm mạnh 71

2.6.2 Điểm yếu 72

2.6.3 Nguyên nhân hạn chế 72

Tiểu kết chương 2 73

Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG ĐẾN NGƯỜI HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 74

3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 74

3.1.1 Cơ sở pháp lí 74

3.1.2 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn 74

3.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 75

3.2.1 Đảm bảo tính hệ thống, tính đồng bộ 75

3.2.2 Đảm bảo tính cần thiết 75

Trang 8

3.2.3 Đảm bảo tính khả thi 76

3.3 Hệ thống các biện pháp quản lí hoạt động truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 76

3.3.1 Đổi mới quan điểm, tư duy, cách thức quản lí truyền thông đến người học phù hợp với xu thế 4.0 76

3.3.2 Xây dựng kế hoạch truyền thông đến người học với tầm nhìn dài hạn phù hợp thực tiễn 78

3.3.3 Nâng cao số lượng và chất lượng nhân sự của bộ máy tổ chức phòng Truyền thông 81

3.3.4 Nâng cao vai trò chỉ đạo, giám sát thực hiện kế hoạch truyền thông đến người học tại các đơn vị 83

3.3.5 Tăng cường kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch truyền thông đến người học đảm bảo tính khách quan, linh hoạt 86

3.3.6 Tăng cường đầu tư nguồn lực về cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính thực hiện kế hoạch truyền thông đến người học 88

3.3.7 Nâng cao nhận thức về hoạt động truyền thông cho sinh viên, giảng viên và CBQL truyền thông của nhà trường 90

3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 93

3.5 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi về biện pháp quản lí hoạt động truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 95

3.5.1 Tổ chức khảo nghiệm 95

3.5.2 Kết quả khảo nghiệm 97

Kết luận chương 3 102

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CBQL : Cán bộ quản lí ĐLC : Độ lệch chuẩn ĐTB : Điểm trung bình

GV : Giảng viên SPKT : Sư phạm Kỹ thuật

SV : Sinh viên

TH : Thứ hạng TPHCM : Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Số liệu đối tượng nghiên cứu 43

Bảng 2.2 Bảng qui ước xử lý số liệu 45

Bảng 2.3 Nhận thức về vai trò hoạt động truyền thông đến người học 45

Bảng 2.4 Nhận thức về mục tiêu hoạt động truyền thông đến người học 49

Bảng 2.5 Mức độ thực hiện nội dung truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 51

Bảng 2.6 Mức độ thực hiện hình thức truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 54

Bảng 2.7 Đánh giá của CBQL về lập kế hoạch truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 57

Bảng 2.8 Đánh giá của CBQL về tổ chức thực hiện kế hoạch truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 60

Bảng 2.9 Đánh giá của CBQL về chỉ đạo thực hiện kế hoạch truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh 62

Bảng 2.10 Đánh giá của CBQL về kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 64

Bảng 2.11 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 66

Bảng 3.1 Số liệu đối tượng khảo nghiệm 96

Bảng 3.2 Đánh giá giảng viên về mức độ cần thiết và mức độ khả thi của biện pháp quản lí hoạt động truyền thông tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 97

Bảng 3.3 Đánh giá CBQL về mức độ cần thiết và mức độ khả thi của biện pháp quản lí hoạt động truyền thông tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 99

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Mức độ tiếp cận nội dung truyền thông của người học 52 Biểu đồ 2.2 Nội dung đáp ứng nhu cầu người học 53 Biểu đồ 2.3 Mức độ tiếp cận người học của các hình thức truyền thông 56

Trang 12

xã hội nguồn nhân lực dồi dào, có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của quốc gia, thương hiệu và uy tín của giáo dục đại học và giáo dục Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế Tuy nhiên, nếu so sánh trên phạm vi thế giới, uy tín và thương hiệu của giáo dục đại học Việt Nam vẫn còn khá

mờ nhạt so với các quốc gia khác Để tồn tại phát triển trong sự cạnh tranh mạnh mẽ hiện nay, nhà trường phải đẩy mạnh công tác xây dựng và phát triển hình ảnh, thương hiệu nhà trường bằng những hoạt động truyền thông đến người học để khẳng định hình ảnh và vị thế của nhà trường cũng như thu hút đối tượng có nhu cầu học tập tìm đến và góp phần khẳng định uy tín của nhà trường

Bên cạnh đó, chủ trương, chính sách về hội nhập giáo dục của Nhà nước mở đường cho các trường đại học “giong thuyền ra biển lớn” Điều này đặt ra yêu cầu cho giới truyền thông không ngừng thông tin tuyên truyền về sự phát triển về mặt chất lượng, uy tín và thương hiệu cũng như giới thiệu, quảng bá các “sản phẩm thương hiệu” của giáo dục đại học Việt Nam, cổ vũ, vinh danh các trường đại học với những đóng góp to lớn vào thành tựu phát triển giáo dục nước nhà

Trang 13

Mặt khác, những đặc điểm và tính năng của truyền thông trong thời đại công nghệ số đã giúp cho các tổ chức cũng như những người sử dụng phương tiện truyền thông có thể tiếp cận thông tin một cách dễ dàng hơn Tuy nhiên, chính những đặc điểm đó lại khiến tin tức giả ngày càng được phát tán một cách rộng rãi hơn, nhanh chóng hơn Trong lĩnh vực giáo dục, việc có nhiều nguồn tin không chính thống, tin kém chất lượng được truyền tải rộng rãi, nhanh chóng sẽ dẫn đến việc suy giảm niềm tin của người học vào nhà trường và suy giảm uy tín, thương hiệu của nhà trường vì người học không xác định được đâu là những nguồn tin đáng tin cậy để tiếp nhận Qua đó, cho thấy được vai trò quan trọng của hoạt động truyền thông đối với nhà trường đại học trong giai đoạn hiện này Từ đó, đặt ra vấn đề cho các nhà trường đại học Việt Nam phải thay đổi nhận thức và tư duy quản lí hoạt động truyền thông đến người học, đến xã hội nhằm định hướng được nhận thức của xã hội, quảng bá và khẳng định uy tín, thương hiệu của nhà trường Thực tế cho thấy những năm qua, giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng, chỉ chú tâm đến hoạt động nâng cao chất lượng, ít quan tâm đến hoạt động truyền thông hình ảnh và uy tín của cơ sở, chưa phát huy được sức mạnh của hoạt động truyền thông trong việc nâng cao uy tín, thương hiệu của nhà trường trên thị trường giáo dục Việt Nam và thế giới và công tác quản lí hoạt động truyền thông tại các trường vẫn còn lỏng lẽo, chưa thực sự khoa học và đạt được hiệu quả

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập từ năm 1962, trải qua hơn 50 năm hoạt động Nhà trường đã khẳng định được uy tín của mình trong lĩnh vực đào tạo kỹ sư công nghệ và các ngành lĩnh vực kỹ thuật Trước tình hình chung của toàn xã hội, sự thay đổi của ngành nghề, của nhu cầu người học, người tuyển dụng trong thời đại mới, sự cạnh tranh gay gắt trong hệ thống giáo dục toàn quốc mà cả trường công lẫn trường tư đều phải quan tâm, công tác truyền thông đến người học của nhà trường đã được quan tâm và đầu tư mạnh mẽ Tuy nhiên, hoạt động truyền thông nội bộ nói chung và hoạt động truyền thông đến người học nói riêng, chưa thực sự được chú trọng dẫn đến bộc lộ những điểm hạn chế và kém hiệu quả như: người học chưa nắm bắt đầy đủ thông tin từ nhà trường, người học có những ngôn ngữ, hành vi chưa phù hợp trên một số trang mạng xã hội, người học chưa hiểu chính xác những hoạt động của trường

Trang 14

Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lí hoạt

động truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn tốt nghiệp với mục đích khảo sát, đánh giá thực

trạng quản lí hoạt động truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất được các biện pháp quản lí hoạt động truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh nhằm góp phần nâng cao chất lượng hoạt động truyền thông đến người học cho giáo dục đại học nói chung và cho Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng trong giai đoạn hiện nay

3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lí hoạt động truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh

4 Giả thuyết nghiên cứu

Quản lí hoạt động truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh được thực hiện theo đúng qui trình khoa học quản lí,

từ việc lập kế hoạch truyền thông đến người học, cho đến tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch truyền thông đến người học và kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện Tuy nhiên, công tác quản lí hoạt động truyền thông đến người học tại Trường Đại học

Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn một số hạn chế ở các chức năng quản lí Nếu đề ra được các biện pháp quản lỉ phù hợp cho hoạt động truyền thông

Trang 15

đến người học, thì chất lượng hoạt động truyền thông đến người học sẽ được

nâng lên

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở lí luận của quản lí hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học;

Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lí hoạt động truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh;

Đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu trong học kỳ 2 năm học

2019 – 2020

Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề quản lí của CBQL Phòng Truyền thông đối với hoạt động truyền thông đến người học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh

Phạm vi khảo sát: Sinh viên, giảng viên và CBQL các Khoa đào tạo

7 Phương pháp luận nghiên cứu

7.1 Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu

7.1.1 Quan điểm hệ thống- cấu trúc

Theo quan điểm hệ thống - cấu trúc: mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại dưới dạng một hệ thống với các yếu tố hợp thành có liên hệ với nhau Hệ thống không tồn tại độc lập mà có liên hệ với các hệ thống khác

Vận dụng quan điểm hệ thống – cấu trúc, luận văn sẽ nghiên cứu nội dung quản

lí hoạt động truyền thông đến người học một cách toàn diện, trên nhiều mặt Đối với

vấn đề “Quản lí hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học” ta sẽ

thấy chúng có mối quan hệ tương tác, hữu cơ với các hoạt động khác trong nhà trường, bao gồm: hoạt động đào tạo; hoạt động đoàn thể; hoạt động trải nghiệm, vui chơi; hoạt động phối hợp giữa nhà trường và các tổ chức, đơn vị Do đó, đối với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu chúng trong mối quan hệ hữu cơ với những hoạt động vừa nêu

Trang 16

7.1.2 Quan điểm lịch sử

Quan điểm lịch sử chính là việc thực hiện quá trình nghiên cứu đối tượng bằng phương pháp lịch sử, tức là tìm hiểu, phát hiện sự nảy sinh, phát triển của giáo dục trong những khoảng thời gian và không gian cụ thể, với những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể

Vận dụng quan điểm này vào luận văn, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử nghiên cứu tổng quan về những công trình nghiên cứu về quản lí hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học ở trong và ngoài nước, để từ

đó những sự thay đổi trong hoạt động truyền thông đến người học và cũng nhưng là

sự thay đổi trong quản lí hoạt động truyền thông đến người học từ xưa đến nay

7.1.3 Quan điểm thực tiễn

Quan điểm này đòi hỏi nghiên cứu phải bám sát thực tiễn, phục vụ cho sự nghiệp giáo dục của nhà trường, đất nước

Vận dụng quan điểm này, chúng tôi đã nghiên cứu những vấn đề nổi cộm và mang tính cấp thiết trong giáo dục hiện nay để tiến hành chọn ra vấn đề nghiên cứu

Và chúng tôi nhận thấy những đặc điểm và tính năng của truyền thông trong thời đại công nghệ số đã giúp cho các tổ chức cũng như những người sử dụng phương tiện truyền thông có thể tiếp cận thông tin một cách dễ dàng hơn Tuy nhiên, chính những đặc điểm đó lại khiến tin tức giả ngày càng được phát tán một cách rộng rãi hơn, nhanh chóng hơn

Trong lĩnh vực giáo dục, việc có nhiều nguồn tin không chính thống, tin kém chất lượng được truyền tải rộng rãi, nhanh chóng sẽ dẫn đến việc suy giảm niềm tin của người học vào nhà trường và suy giảm uy tín, thương hiệu của nhà trường vì người học không xác định được đâu là những nguồn tin đáng tin cậy để tiếp nhận

Từ những vấn đề trên, chúng tôi nhận thấy vấn đề này là một vấn đề mang tính cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn đối với giáo dục Nên chúng tôi quyết định chọn nội dung này để nghiên cứu

Trang 17

7.2 Phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa những tài liệu lí thuyết từ các nguồn như sách, giáo trình, báo, tạp chí khoa học hay các công trình nghiên cứu trong

và ngoài nước có liên quan đến việc quản lí hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài

7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

1) Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Phương pháp này nhằm khảo sát, thu thập thông tin, đánh giá thực trạng quản lí hoạt động truyền thông đến người học ở Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành

7.2.3 Phương pháp thống kê toán học

Phương pháp này nhằm tổng hợp, xử lí số liệu thu thập được từ phương pháp điều tra bảng hỏi

8 Nội dung nghiên cứu

Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động truyền thông đến người học tại

Trang 18

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG

TRUYỀN THÔNG ĐẾN NGƯỜI HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Ngoài nước

Truyền thông là một hiện tượng xã hội xuất hiện và phát triển cùng với quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người, là sản phẩm của xã hội loài người, ra đời nhằm phục vụ nhu cầu giao lưu, chia sẻ thông tin của con người Điều này cho thấy hoạt động truyền thông đã xuất hiện từ rất lâu đời, bởi lẽ hoạt động truyền thông

từ những ngày đầu chủ yếu được thông qua truyền miệng, đồng nghĩa với việc hoạt động truyền thông xuất hiện cùng với sự ra đời của lời nói và ngôn ngữ

Mặc dù các phương tiện truyền thông được phát minh từ rất lâu đời như truyền thông bằng tranh vẽ trong hang đá trong thời tiền sử, Bồ Câu đưa thư trong thời La

Mã cổ đại, Cáp điện tín, báo chí trong thời đại Victoria, truyền thông bằng Đài phát thanh từ 1930, truyền thông bằng tạp chí từ năm 1950, truyền thông bằng tivi màu từ

1960, truyền thông bằng vệ tinh truyền tinh từ 1980, World Wide Web từ 1990,…Nhưng mãi đến những năm 30 – 40 của thế kỷ XX, truyền thông trở thành một ngành khoa học xã hội độc lập có đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, hệ thống khái niệm, phạm trù, lý thuyết khoa học như ngày nay và bắt đầu có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về lĩnh vực khoa học này

Tiêu biểu trong lĩnh vực nghiên cứu truyền thông từ những ngày đầu tiên có thể

kể đến Marshall McLuhan, Len Ang, Stuart Hall và Jean Baudrillard Đánh dấu sự

mở đầu của việc nghiên cứu truyền thông là bài viết The work of Art in the Age of

Mechanical Reproduction của Walter Benjamin vào năm 1936, bài viết đã trình bày

mối quan hệ giữa các phương tiện truyền thông hiện đại và văn hoá (Bùi Quang Thắng, 2008)

Vào những năm 1960 tại Anh, nghiên cứu truyền thông được đưa vào hoạt động giảng dạy ở bậc cao đẳng hay các trường kỹ thuật, chứ chưa được giảng dạy đại trà ở bậc đại học như hiện nay (Bùi Quang Thắng, 2008)

Đến năm 1970, mối quan hệ giữa truyền thông và quyền lực được Trung tâm Nghiên cứu Văn hoá đương đại, Đại học Birmingham nghiên cứu, dưới sự lãnh đạo

Trang 19

của Stuart Hall Trong một vài thập kỷ sau đó, định hướng nghiên cứu về hiệu quả truyền thông được các nhà nghiên cứu truyền thông quan tâm và nghiên cứu Tiêu biểu cho định hướng nghiên cứu hiệu quả truyền thông, vào năm 1998 tác giả David Gauntlett đã nêu ra những vấn đề sai lầm mà các nhà nghiên cứu trước ông đã mắc

phải trong tác phẩm “Ten things wrong with the media effects model” Trong bài viết

này, tác giả David Gauntlett đã nêu ra mười sai lầm với mô hình hiệu quả truyền thông (Bùi Quang Thắng, 2008)

Hiểu được vai trò của hoạt động truyền thông trong giáo dục, các quốc gia phát triển trên thế giới đã xây dựng nhiều mô hình truyền thông trong giáo dục Năm 1935

tại Nhật Bản, Chương trình phát thanh trường học ra đời, là cơ sở để phát triển thành

Chương trình truyền hình trường học vào năm 1953 Đến năm 1959 với sự ra đời của

Kênh truyền hình giáo dục NHK – kênh truyền hình chuyên về giáo dục đầu tiên trên thế giới, thế giới đã chứng kiến bước tiến mới trong việc cung ứng giáo dục thông qua các phương tiện truyền thông tại Nhật (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016)

Vào năm 2000, Chính phủ Hàn Quốc cũng đã ban hành Luật Truyền hình Giáo dục và xây dựng Tổng cục Truyền hình Giáo dục quốc gia, xây dựng kênh Truyền hình quốc gia EBS phát sóng những nội dung giáo dục bao gồm Giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, ôn thi đại học, giáo dục kĩ năng sống

và sáng tạo, giáo dục cho người Hàn Quốc ở nước ngoài (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016)

Tương tự Nhật Bản, Hàn Quốc, tại nhiều quốc gia khác trên thế giới, các phương tiện truyền thông, đặc biệt là phát thanh và truyền hình, đã trở thành những công cụ truyền tải nội dung và thông điệp giáo dục một cách hiệu quả, đắc lực Tại Ấn Độ, Brazil truyền thông trong giáo dục thông qua phát sóng các bộ phim truyền hình dài tập mang tính chất giáo dục đến người dân (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016)

Bên cạnh đó, Hiệp hội các trường đại học của Ấn Độ đã thành lập hẳn một Hội đồng truyền thông và quan hệ công chúng chuyên giúp đỡ và tập huấn các cán bộ phụ trách công việc quảng bá hình ảnh cho các trường đại học của nước này (Trần Hữu Quang, 2009)

Trang 20

1.1.2 Trong nước

Hoà nhập với xu thế phát triển của thế giới, trong những năm qua Chính phủ Việt Nam rất quan tâm đến vai trò của truyền thông trong giáo dục, đã tạo điều kiện thuận lợi cho ra sự ra đời của nhiều chuyên mục, chương trình phát thanh, truyền hình, báo chí,… về giáo dục như: Phổ biến kiến thức trên VOV1, Dạy ngoại ngữ cho lái xe taxi trên kênh VOV giao thông, Hướng dẫn ôn tập và luyện thi đại học và Chương trình dạy tiếng Anh trên VTV2, Dạy tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài trên VTV4, Kĩ năng sống trên VTV3, các chương trình Chào buổi sáng, đời sống thường ngày trên VTV đã giúp cho người dân học được kiến thức về chăn nuôi, trồng trọt, thực hiện pháp luật, bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe người dân,… (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016)

Ngày 20/11/2015, VTV7 - kênh Truyền hình Giáo dục quốc gia đầu tiên của Việt Nam đã lên sóng Với mục tiêu "Vì một xã hội học tập", kênh Truyền hình Giáo dục quốc gia VTV7 được kì vọng sẽ truyền cảm hứng cho nhiều đối tượng khán giả

vì đây chính là cách học thu hút nhất, nhanh nhất và hiệu quả nhất

Tại Việt Nam, lý thuyết về truyền thông cũng được nhiều tài liệu đề cập đến bởi nhiều tác giả khác nhau, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả xin đề cập đến một số tài liệu viết về lý thuyết truyền thông, cụ thể:

Năm 2001, tác giả Tạ Ngọc Tấn đã nghiên cứu và xây dựng hệ thống lý luận cung cấp những hiểu biết cơ bản, hệ thống về các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại, các nguyên tắc, phương pháp chính nhằm quản lý, điều hành, phát huy tốt vai trò, sức mạnh của các loại hình, phương tiện truyền thông đại chúng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước…Những nội dung này được thể hiện đầy đủ

trong quyển sách “Truyền thông đại chúng” xuất bản vào năm 2001 (Tạ Ngọc Tấn, 2001)

Năm 2012, tác giả Nguyễn Văn Dững đã viết giáo trình “Truyền thông – Lý

thuyết và kỹ năng cơ bản” Trong giáo trình, tác giả đã nghiên cứu, xây dựng hệ thống

lý thuyết về truyền thông, cụ thể cung cấp những kiến thức lý thuyết và kỹ năng truyền thông cơ bản: khái niệm, mô hình, môi trường, lịch sử truyền thông; các lý thuyết truyền thông trực tiếp, truyền thông cá nhân, truyền thông nhóm và truyền

Trang 21

thông đại chúng; chu trình truyền thông, kế hoạch truyền thông,… (Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng, 2018)

Năm 2016, tác giả Trương Đình Chiến đã biên soạn giáo trình “Truyền thông

Marketing tích hợp” Nội dung giáo trình vừa đảm bảo đầy đủ các kiến thức học thuật

vừa gắn với thực tiễn hoạt động truyền thông, vừa đảm bảo tính chiến lược, chiến thuật và các kỹ năng cụ thể Nội dung cuốn sách đã bao quát các vấn đề, các khía cạnh khác nhau của lĩnh vực truyền thông markeitng, đảm bảo tính cơ bản, hiện đại

và phù hợp với bối cảnh Việt Nam (Trương Đình Chiến, 2016)

Năm 2018, tác giả Trần Thị Minh Ngọc đã cho xuất bản giáo trình mang tên

“Giáo trình Truyền thông” Giáo trình được biên soạn theo khung chương trình qui

định cho học phần truyền thông và chính trị, nội dung quyển giáo trình được tác giả trình bày một cách khoa học, logic về những kiến thức truyền thông từ cơ bản đến chuyên sâu, cụ thể: Lý luận chung về truyền thông và truyền thông đại chúng; Các phương tiện truyền thông đại chúng;Chu trình truyền thông; Lập kế hoạch truyền thông; Những vấn đề về truyền thông đại chúng trong xã hội hiện đại; Sử dụng truyền thông trong hoạt động chính trị (Trần Thị Minh Ngọc, 2018)

Về lĩnh vực nghiên cứu truyền thông, hầu hết các nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung nghiên cứu vấn đề hoạt động truyền thông để quảng bá cho cơ sở giáo dục, điển hình như các đề tài nghiên cứu sau đây:

Năm 2011, tác giả Đỗ Đình Thái đã nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu một số tác

động của các yếu tố đến điểm tuyển sinh ĐH, Viện đảm bảo chất lương Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chính Minh” (Đỗ Đình Thái, 2011) Trong nghiên cứu, tác giả đã

tìm ra các tác động trực tiếp của các yếu tố đến điểm tuyển sinh đại học như thành tích học tập ở bậc trung học phổ thông, động cơ thi vào đại học, sự đầu tư cố gắng của cá nhân, môi trường cá nhân Mục đích của nghiên cứu chủ yếu dành cho các trường đại học trong công tác quảng bá thương hiệu và tuyển sinh, chưa nghiên cứu sâu về hoạt động truyền thông

Năm 2012, tác Nguyễn Thị Hồng nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp nhằm

thu hút học viên theo học tại trường ĐH sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh”

Trong bài nghiên cứu, tác giả dựa trên việc tìm hiểu lý thuyết marketing giáo dục và

Trang 22

phân tích hoạt động marketing tại trường đã đưa ra được các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút học viên: Môi trường vĩ mô gồm môi trường kinh tế, môi trường chính trị - pháp luật, môi trường văn hóa xã hội, môi trường dân số, môi trường công nghệ; Môi trường vị mô gồm đối thủ cạnh trong trong ngành, đối thủ tiềm ẩn, nhà cung cấp, người học/nhà phân phối, sản phẩm thay thế; Môi trường nội bộ gồm nguồn nhân lực, tài chính, hệ thống thông tin quản lý, văn hóa tổ chức Đề tài, đã chủ yếu đề cập đến các vấn đề giúp cho các trường đại học trong công tác quảng bá thương hiệu và tuyển sinh; và cũng phần nào đề cập được đến lý thuyết truyền thông, nhưng tác giả cũng chưa đi sâu vào nghiên cứu các nội dung của hoạt động truyền thông (Nguyễn Thị Hồng, 2012)

Về nghiên cứu trong quản lí hoạt động truyền thông tại các cơ sở giáo dục tại Việt Nam, còn khá là mới mẻ và chưa được nhiều người nghiên cứu Tại Việt Nam,

có một số nghiên cứu như sau:

Năm 2016, tác giả Nguyễn Lê Hà với đề tài nghiên cứu “ Quản lí đào tạo dựa

trên công nghệ thông tin và truyền thông ở các Trường Đại học Tư thục miền Trung Việt Nam” (Nguyễn Sỹ Nam, 2016) Trong bài nghiên cứu của mình, tác giải đã đề

xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lí đào tạo, góp phần phát triển cơ sở

lí luận quản lí đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông tại trường đại học

Năm 2016, tác giả Nguyễn Sỹ Nam đã chọn đề tài “Quản lí hoạt động truyền

thông trong các trường trung học cơ sở trên địa bàn Quận Hà Đông, Hà Nội” để làm

đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lí Giáo dục Trong bài nghiên cứu của mình, tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu vai trò, nội dung, hình thức truyền thông trong trường học, và đưa ra được hệ thống lí luận về quản lí hoạt động truyền thông trong trường trung học cơ sở thông qua các chức năng cơ bản trong quản lí: xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện hoạt động truyền thông tại trường trung học cơ sở (Nguyễn Sỹ Nam, 2016)

Năm 2018, tác giả Trương Ngọc Nam với đề tài “Quản lí truyền thông trong

bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0” Trong đề tài này, tác giả đã tập trung nghiên

cứu và phát triển lí luận về quản lí truyền thông tại Việt Nam, tác giả đã nêu lên những

Trang 23

cơ hội, thách thức và tác động của cuộc cách mạng 4.0 đến công tác quản lí truyền thông, từ đó tác giả đã hệ thống những vấn đề đặt ra đối với quản lí truyền thông tại Việt Nam (Trương Ngọc Nam, 2018)

Năm 2019, tác giả Vũ Huy Toản đã nghiên cứu đề tài “Quản lí hoạt động truyền

thông tại các cơ sở giáo dục thành viên Đại học Thái Nguyên” Trong nghiên cứu

của mình, tác giả đã đưa ra được hệ thống khái niệm liên quan đến quản lí hoạt động truyền thông, đưa ra tầm quan trọng, mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung hoạt động truyền thông qua website và cách thức, qui trình quản lí hoạt động truyền thông qua website tại các cơ sở giáo dục đại học (Vũ Huy Toản, 2019)

Trong phạm vi nội dung nghiên cứu của đề tại, cũng có nhiều nhà nghiên cứu, tài liệu nói về hoạt động truyền thông, tuy nhiên việc nghiên cứu những đề tài liên quan đến quản lí hoạt động truyền thông trong trường đại học đáp ứng hội nhập xu thế toàn cầu, cách mạng 4.0 như hiện nay thì còn rất ít người nghiên cứu

1.2 Hệ thống hoá các khái niệm liên quan

1.2.1 Hoạt động truyền thông đến người học

1) Truyền thông

Có thể nói rằng loài người tồn tại trong cộng đồng với những mối quan hệ đa dạng và phức tạp Để duy trì và phát triển các mối quan hệ này, đòi hỏi giữa người với người, giữa người với cộng đồng, giữa cộng đồng với cộng đồng, phải diễn ra hoạt động giao tiếp, trong đó chủ yếu là trao đổi thông tin với nhau Bởi lẽ, hoạt động giao tiếp sẽ giúp con người thêm gắn kết, thêm hiểu biết lẫn nhau, chia sẻ kinh nghiệm cho nhau, liên kết và hợp tác với nhau trong lao động sản xuất, trong chinh phục thiên

nhiên và đấu tranh xã hội Hoạt động giao tiếp này chính là truyền thông Như vậy,

truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong

xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau (Tạ Ngọc Tấn, 2001)

Theo John R.Hober (1954), truyền thông là quá trình trao đổi tư duy hoặc ý

tưởng bằng lời (Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng, 2018)

Martin P.Adelsm thì cho rằng, truyền thông là quá trình liên tục, qua đó chúng

ta hiểu được người khác và làm cho người khác hiểu được chúng ta Đó là một quá trình luôn thay đổi, biến chuyển và ứng phó với tình huống

Trang 24

Theo quan niệm của Dean C.Barnlund (1964), truyền thông là quá trình liên tục

nhằm làm giảm độ không rõ ràng để có thể có hành vi hiệu quả hơn (Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng, 2018)

Theo Gerald Miler (1966), truyền thông quan tâm nhất đến tình huống hành vi, trong đó nguồn thông tin truyền nội dung đến người nhận với mục đích tác động đến hành vi của họ (Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng, 2018)

Truyền thông thường được mô tả như việc truyền ý nghĩ, thông tin, ý tưởng, ý kiến hoặc kiến thức từ một người/ một nhóm người sang một người/ một nhóm người khác bằng lời nói, hình ảnh, văn bản hoặc tín hiệu khác

Truyền thông bắt nguồn từ một từ Latinh (conmunicare) có nghĩa là “chung”,

là một quá trình liên tục chia sẻ thông tin, kiến thức, thái độ, tình cảm và kỹ năng nhằm tạo sự đồng cảm, hiểu biết lẫn nhau giữa bên truyền và bên nhận để dẫn tới sự thay đổi nhận thức và hành vi (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2010)

Truyền thông còn được xác định là hoạt động chuyển tải và chia sẻ thông tin Quá trình này diễn ra liên tục, trong đó tri thức, tình cảm, kỹ năng liên kết với nhau, đây là một quá trình phức tạp, qua nhiều mắt khâu, các mắt khâu đó chuyển đổi tương đối linh hoạt để hướng tới sự thay đổi nhận thức và hành vi của các cá nhân và các nhóm (Nguyễn Sỹ Nam, 2016)

Nhìn chung, khái niệm truyền thông được nhiều tác giả định nghĩa dưới nhiều gốc độ, quan niệm tiếp cận khác nhau Từ những quan niệm trên, có thể đưa ra quan niệm về truyền thông như sau: Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, kiến thức, tư tưởng, tình cảm, kỹ năng, kinh nghiệm giữa bên truyền và bên nhận nhằm tạo sự đồng cảm, hiểu biết lẫn nhau, hướng tới thay đổi nhận thức, thái độ và điều chỉnh hành vi của đối tượng tiếp nhận thông tin

2) Thông điệp

Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận (Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng, 2018)

Trang 25

3) Kênh truyền thông

Theo tác giả Tạ Ngọc Tấn, kênh truyền thông là sự thống nhất của phương tiện, con đường, cách thức chuyển tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận (Tạ Ngọc Tấn, 2001)

Bên cạnh đó, kênh truyền thông còn được hiểu là các phương tiện, con đường, cách thức chuyển tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận (Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng, 2018)

Như vậy, kênh truyền thông là các phương tiện, con đường, cách thức chuyển tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận

Căn cứ vào tính chất, đặc điểm cụ thể, người ta chia kênh truyền thông thành các loại hình khác nhau như: truyền thông cá nhân, truyền thông nhóm, truyền thông đại chúng, truyền thông trực tiếp, truyền thông gián tiếp, truyền thông đa phương tiện (Tạ Ngọc Tấn, 2001) (Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng, 2018)

4) Người nhận

Đối tượng tiếp nhận hay người nhận là các cá thể hay tập thể người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông Cũng có thể nói, đối tượng tiếp nhận là đối tượng tác động của hoạt động truyền thông (Tạ Ngọc Tấn, 2001)

Người nhận là cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp (Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng, 2018)

Từ những cách tiếp cận trên, có thể đưa ra khái niệm người nhận là các cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông

5) Hoạt động truyền thông đến người học

Hoạt động truyền thông đến người học là quá trình liên tục trao đổi thông tin, kiến thức, tư tưởng, tình cảm, kỹ năng, kinh nghiệm giữa nhà trường và người học nhằm tạo sự đồng cảm, hiểu biết lẫn nhau, hướng tới thay đổi nhận thức, thái độ và điều chỉnh hành vi của người học phù hợp với nhu cầu phát triển của người học và nhà trường

Trang 26

1.2.2 Quản lí hoạt động truyền thông đến người học

1) Quản lí

C Mác cho rằng: Quản lí là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động Henry Fayol (1841 - 1925), cha đẻ của lý thuyết quản lí hành chính cho rằng: “Quản lí là một tiến trình gồm tất cả các khâu lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra các nổ lực của các thành viên trong tổ chức nhằm đạt mục tiêu đã định trước” (Nguyễn Hữu Hải, 2014)

Theo Jame Stoner và Stephen Robbins, thì khái niệm quản lí được hiểu như sau: Quản lí là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác nhau của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra

Theo Frederick Winslow Taylor (1856-1915) người được xem là “Cha đẻ” của phương pháp quản lí khoa học, “Quản lí là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và

rẻ nhất” và đó cũng là tư tưởng của ông về quản lí (Nguyễn Đức Quang, 2013) Theo Harold Koonntz, người được coi là cha đẻ của lý luận quản lí hiện đại xác định “Quản lí là một hoạt động thiết yếu; nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi cá thể có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” (Nguyễn Thanh Hải, 2017)

Từ những khái niệm trên, có thể đưa ra khái niệm quản lí như sau: Quản lí là sự tác động một cách có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí đến khách thể quản

lí nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt mục tiêu mong muốn thông qua các chức năng

kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra

Trang 27

cả các mắc xích của hệ thống giáo dục (từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất là cơ sở giáo dục) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục Đối với cấp độ vi mô, quản lí giáo dục là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường (Trần Kiểm, 2008)

Theo tác giả Bùi Minh Hiền, quản lí giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lí nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát…một cách hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) để phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội (Bùi Minh Hiền, Vũ Trọng Hải, Đặng Quốc Bảo, 2006)

Tóm lại, quản lí giáo dục là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lí giáo dục đến đến tất

cả các mắc xích của hệ thống giáo dục nhằm đạt mục tiêu giáo dục đề ra

3) Quản lí nhà trường

Quản lí nhà trường chính lá quản lí giáo dục ở cấp vi mô, là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lí đến các hoạt động và các nguồn lực của nhà trường nhằm đạt được mục tiêu giáo dục

4) Quản lí hoạt động truyền thông đến người học

Quản lí hoạt động truyền thông đến người học là hệ những tác động có định hướng của chủ thể quản lí nhà trường đến hoạt động truyền thông đến người học nhằm đạt được mục tiêu truyền thông đến người học

1.3 Hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học

1.3.1 Vai trò hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học

1) Đối với nhà trường

a Giúp nhà trường có thể truyền tải thông điệp, quảng bá thương hiệu đến người học, xã hội

Trang 28

Nhân tố quan trọng quyết định sự thành công và uy tín thương hiệu của trường đại học là chất lượng đào tạo, giáo dục sinh viên Tuy nhiên, việc xây dựng và quảng

bá thương hiệu không thể thiếu vai trò của hoạt động truyền thông Với sự tác động nhiều chiều và hiệu ứng mạnh mẽ, hoạt động truyền thông giúp nhà trường xây dựng

và định vị thương hiệu, uy tín của trường trong nền giáo dục đại Việt Nam, cùng những hình ảnh đẹp trong lòng công chúng, khách hàng

Ngày nay, những phương thức truyền thông mang tính xã hội giúp nhà trường tăng cường tiếp cận một cách nhanh chóng, chính xác đến người học Qua những phương tiện truyền thông này, doanh nghiệp truyền đi những thông điệp về hoạt động của đơn vị, có thể là giới thiệu dịch vụ, ngành đào tạo, khoá học mới, đổi mới trang thiết bị hay tin về lễ đón nhận giải thưởng, danh hiệu cao quý mà Đảng, Nhà nước, các tổ chức uy tín trao tặng

Bên cạnh đó, hoạt động truyền thông còn giúp nhà trường truyền tải thông điệp, thông tin chính thống từ phía nhà trường tới toàn thể cán bộ, nhân viên, sinh viên trong nội bộ nhằm xây dựng mối quan hệ gắn bó, gắn kết từng cá nhân vào bức tranh

chung của nhà trường

b Giúp nhà trường nhận được sự tương tác, phản hồi từ người học để phát hiện, xử lý những vấn đề phát sinh, góp phần xây dựng, hoàn thiện uy tín, thương hiệu của nhà trường

Phản hồi là một trong những yếu tố của quá trình truyền thông, là thông tin ngược, là dòng chảy của thông điệp từ công chúng/ nhóm đối tượng tác động trở về

nguồn phát (Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng, 2018) Do đó, trong các hoạt

động truyền thông nói chung, hoạt động truyền thông đến người học nói riêng, việc xuất hiện yếu tố phản hồi, tương tác của người học trong quá trình truyền thông là một đều tất yếu, khách quan

Tóm lại, thông qua quá trình truyền thông đến người học, nhà trường sự nhận được sự tương tác, phản hồi ngược từ người học về cho nhà trường, là cách thức tuyệt vời cho nhà trường xác định điểm mạnh và điểm yếu của dịch vụ nhà trường cung cấp Những phản hồi nhận được sẽ trở thành kim chỉ nam cho các chương trình đào tạo tương lai cũng như các chiến lược phát triển thương hiệu nhà trường

Trang 29

c Giúp nhà trường định hướng được nhận thức, thay đổi hành vi người học

Theo nghiên cứu của William Young và các cộng sự (2017), việc tương tác truyền thông xã hội có thể ảnh hưởng đến hành vi (Lê Thuỳ Hương, 2020) Thời gian gần đây thuật ngữ cách mạng công nghiệp 4.0 ngày càng được phổ biến rộng rãi và đang trở thành xu thế hiện thực khách quan đối với nhiều quốc gia và trong nhiều lĩnh vực, trong đó có Việt Nam và lĩnh vực giáo dục Ảnh hưởng của cách mạng 4.0 đã làm xuất hiện nhiều công cụ truyền thông số Nhờ những công cụ truyền thông này, nhà trường có thể truyền đi những thông điệp giáo dục có khả năng tiếp cận nhiều

người học

Lý thuyết là những vấn đề chung nhất, khái quát nhất được đúc kết từ thực tiễn

và có vai trò chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động thực tiễn, từ nhận thức, thái độ cho đến hành vi xã hội của con người và cộng đồng Trong hoạt động truyền thông, các nhà khoa học đã tổng kết và nêu ra nhiều lý thuyết truyền thông có tác dụng điều chỉnh nhận thức và hành vi của con người Cụ thể, lý thuyết truyền bá cái mới cho rằng truyền bá, phổ biến cái mới luôn thể hiện trong hoạt động truyền thông, trong đó những sản phẩm, cách làm hoặc ý tưởng mới được nhân rộng, truyền bá rộng rãi cho các nhóm đối tượng khác Điều này sẽ làm tác động đến nhận thức những đối tượng nhận thông điệp theo chiều hướng tích cực, thay đổi thái độ và hướng đến thay đổi hành vi (Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng, 2018) Thêm vào đó, lý thuyết truyền thông can thiệp xã hội cho rằng hoạt động truyền thông cung cấp thông tin, kiến thức

đa chiều và tạo diễn đàn rộng rãi, nhiều chiều để sức lực, trí tuệ và cảm xúc của công chúng – xã hội trong việc chia sẻ kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm, trên cơ sở đó, giúp công chúng xã hội mở rộng hiểu biết, thay đổi nhận thức Từ đó, hoạt động truyền thống góp phần làm thay đổi, điều chỉnh thái độ và hành vi xã hội của công chúng và cộng đồng xã hội nói chung theo mục đích truyền thông đặt ra (Nguyễn Văn Dững, 2013) Mặt khác, theo lý thuyết thuyết phục cho rằng hành vi của đối tượng sau khi đã biến đổi, nhưng nếu không được củng cố, nhất là không được dư luận xã hội hỗ trợ, củng cố thì nó chỉ thay đổi vài lần rồi dừng lại Truyền thông trong giai đoạn này hướng vào việc khẳng định tính đúng đắn của hành vi, nêu kết quả tích cực, các mô hình, điển hình có thực hiện các hành vi mong muốn thay đổi, từ đó tác động

Trang 30

đến đối tượng nhận thông điệp, giúp cho họ thường xuyên duy trì và củng cố hành vi,

là cơ sở cho sự biến đổi hành vi có tính bền vững

Tóm lại, từ những lý thuyết trên cho thấy hoạt động truyền thông đến người học nói riêng, hoạt động truyền thông nói chung có vai trò cung cấp thông tin, kiến thức

đa chiều, tạo diễn đàn rộng rãi để chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm Từ đó, giúp người học mở mang được hiểu biết và thay đổi nhận thức người học, tiến tới điều chỉnh thái

độ và hành vi của người học

2) Đối với người học

a) Giúp người học cập nhật liên tục và kịp thời những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình học tập trong nhà trường

Ảnh hưởng của cách mạng 4.0 đã làm xuất hiện nhiều công cụ truyền thông số Nhờ những công cụ truyền thông này, nhà trường có thể truyền đi những thông điệp

giáo dục có khả năng tiếp cận nhiều người học Thông qua các phương tiện truyền

thông số này, nhà trường sẽ dễ dàng chuyển tải kiến thức và thông điệp học thuật, xã hội, pháp luật một cách tự nhiên và dễ đi vào lòng người Từ đó giúp cho người học

sẽ dễ dàng tiếp cận, cập nhật, bổ sung kịp thời những thông tin cần thiết

b) Giúp người học nâng cao trình độ hiểu biết, khẳng định và phát huy những giá trị văn hoá tốt đẹp, hình thành và hoàn thiện lối sống tích cực

Truyền thông là một phần của đời sống văn hoá xã hội hiện đại Bản thân nó có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nền văn hoá xã hội Đó cũng là chức năng văn hoá của hoạt động truyền thông Cụ thể, hoạt động truyền thông sẽ trang bị những tri thức phổ thông có hệ thống, xã hội hoá những kinh nghiệm sống, truyền bá những tri thức về các nền văn hoá của các dân tộc đến việc phổ biến những kiến thức phổ thông về khoa học, về pháp luật, chính trị - xã…Khi xã hội càng phát triển thì yêu cầu của người dân về học tập, nâng cao trình độ hiểu biết càng cao và càng phong phú Nhà trường không thể đáp ứng hết nhu cầu này vì chức năng chủ yếu của nhà trường là trang bị hệ thống kiến thức phổ thông và đào tạo nghề nghiệp ban đầu cho người học Trong khi đó, đời sống văn hoá xã hội, khoa học, kinh tế, … vận động không ngừng, đòi hỏi con người phải thường xuyên cập nhật, bổ sung và hoàn thiện vốn hiểu biết của mình Truyền thông chính là phương tiện, công cụ lý

Trang 31

tưởng để thực hiện công việc này thông qua những hình thức đa dạng, hấp dẫn, dễ dàng tiếp cận

Mặt khác, một công việc mà bất kỳ xã hội nào, bất kỳ giai đoạn nào trong sự phát triển của xã hội cũng phải thường xuyên thực hiện đó là khẳng định và phát huy những văn hoá tốt đẹp, hình thành và hoàn thiện lối sống tích cực cho người dân Bởi

lẽ, các thế hệ mới trưởng thành luôn có nhu cầu tiếp nhận sự giáo dục để hình thành lối sống thích hợp Thêm vào đó, bản thân cuộc sống với những điều kiện vật chất, tinh thần luôn luôn vận động và ảnh hưởng, qui định một phần quan trọng đến lối sống con người trong xã hội Do đó, truyền thông sẽ giúp truyền tải lượng thông tin khổng lồ, vô cùng phong phú, đa dạng và tác động hàng ngày, hàng giờ vào đời sống

xã hội, giáo dục, hướng dẫn nhân dân về lối sống

Tóm lại, hoạt động truyền thông giúp nâng cao trình độ hiểu biết chung của nhân dân, khẳng định và phát huy những giá trị văn hoá tốt đẹp, hình thành và không ngừng hoàn thiện lối sống tích cực trong xã hội Tương tự thế, hoạt động truyền thông đến người học sẽ giúp cho người học nâng cao hiểu biết bản thân, khẳng định và phát huy những giá trị văn hoá tốt đẹp, hình thành và hoàn thiện lối sống tích cực cho người học

c) Giúp cho người học tương tác, phản hồi thông tin, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người học

Trong truyền thông, phản hồi có thể được hiểu là dòng thông tin phản hồi trở lại từ công chúng/ nhóm đối tượng chịu tác động của truyền thông đến chủ thể sau khi nhận được thông điệp, là một trong những yếu tố của quá trình truyền thông Trong kỷ nguyên công nghệ số như hiện nay, hoạt động truyền thông được diễn ra với nhiều hình thức khác nhau, qua nhiều kênh truyền thông khác nhau Giúp cho quá trình phản hồi, tương tác của cộng đồng trở nên tiện lợi, nhanh chóng và dễ dàng, giúp người học được nêu ra những ý kiến của người học về sản phẩm, dịch vụ của nhà trường, nêu ra những mong muốn, những yêu cầu về quyền lợi chính đáng của bản thân Từ đó, giúp nhà trường có thể cải thiện chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu người học

Trang 32

1.3.2 Mục tiêu hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học

1) Truyền thông chính thống, đầy đủ, rõ ràng nhất các thông tin đời sống, pháp luật và thông tin hoạt động của nhà trường đến người học

Những đặc điểm và tính năng của truyền thông trong thời đại công nghệ số đã giúp cho các tổ chức cũng như những người sử dụng phương tiện truyền thông có thể tiếp cận thông tin một cách dễ dàng hơn Tuy nhiên, chính những đặc điểm đó lại khiến tin tức giả ngày càng được phát tán một cách rộng rãi hơn, nhanh chóng hơn Trong lĩnh vực giáo dục, việc có nhiều nguồn tin không chính thống, tin kém chất lượng được truyền tải rộng rãi, nhanh chóng sẽ dẫn đến việc suy giảm niềm tin của người học vào nhà trường và suy giảm uy tín, thương hiệu của nhà trường vì người học không xác định được đâu là những nguồn tin đáng tin cậy để tiếp nhận

Do đó, hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học, bên cạnh việc cung cấp thông tin về chủ trương, đề án, giải pháp giáo dục và đào tạo trong nhà trường một cách nhanh chóng, kịp thời thì mục tiêu của việc truyền thông còn nhằm truyền thông một cách chính thống, đầy đủ, rõ ràng nhất về những thông tin liên quan đến hoạt động của nhà trường, kịp thời ngăn chặn và đối phó với các nguồn tin giả, không chính thống, tránh ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu của nhà trường

Việc cung cấp kịp thời thông tin chính xác, khách quan và chân thực không những là nhiệm vụ của nhà trường mà còn là sự đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi tự thân của người học Xã hội càng văn minh càng cần đến thông tin chính xác, chân thực và nhân văn; đó chính là thế mạnh của việc truyền thông chính thống

2) Tạo sự đồng cảm, sự hiểu biết và gắn kết chặt chẽ giữa người học và nhà trường

Ngày nay, hoạt động truyền thông có rất nhiều lợi ích hỗ trợ con người phát triển Truyền thông có sức mạnh vô cùng lớn, nó lan tỏa trong cộng đồng rất nhanh chóng Ngành truyền thông ảnh hưởng lên mọi mặt của đời sống Từ khái niệm truyền thông cho thấy rằng chính nhờ truyền thông mà con người được gắn kết với nhau, tất

cả mọi người trên thế giới thông qua các công cụ truyền thông hiện đại có thể gắn kết với nhau và tạo ra một vòng kết nối bền chặt và sâu rộng

Trang 33

Tương tự như thế, việc hoạt động truyền truyền đến người học trong trường đại học nhằm mục tiêu tăng cường sự lắng nghe, trao đổi, chia sẻ và rút ngắn khoảng cách tiếp xúc, nâng cao hiểu biết, sự thông hiểu giữa nhà trường và người học Từ đó

tạo sự tương đồng, kết nối hiệu quả giữa nhà trường và người học

3) Định hướng được nhận thức, thay đổi hành vi người học

Trong hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học, mục tiêu cuối cùng và quan trọng nhất đó chính là truyền bá, phổ biến thông tin mới, kiến thức mới một cách đa chiều, giúp người học mở rộng hiểu biết, thay đổi nhận thức, tiến đến điều chỉnh thái độ và hành vi người học theo mục đích truyền thông đặt ra Mặt khác, theo lý thuyết thuyết phục cho rằng hành vi của đối tượng sau khi đã biến đổi, nhưng nếu không được củng cố, nhất là không được dư luận xã hội hỗ trợ, củng cố thì nó chỉ thay đổi vài lần rồi dừng lại Truyền thông trong giai đoạn này hướng vào việc khẳng định tính đúng đắn của hành vi, nêu kết quả tích cực, các mô hình, điển hình có thực hiện các hành vi mong muốn thay đổi, từ đó tác động đến người học, giúp cho họ thường xuyên duy trì và củng cố hành vi, là cơ sở cho sự biến đổi hành

vi có tính bền vững

Tóm lại, từ những lý thuyết trên cho thấy hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học nhằm mục tiêu giúp người học mở mang được hiểu biết và thay đổi nhận thức người học, tiến tới điều chỉnh thái độ và hành vi của người học

1.3.3 Nội dung hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học

1) Chủ trương, chỉ đạo của ngành giáo dục

Phổ biến Luật Giáo dục Đại học bổ sung và sửa đổi; Quán triệt các nhiệm vụ trọng tâm của Ngành trong năm học; Phổ biến quan điểm chỉ đạo, yêu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, kết quả, kinh nghiệm của đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, đào tạo và dạy nghề trên cả nước; Qui hoạch, sắp xếp hệ thống giáo dục đại học; Những đổi mới trong chương trình và phương pháp dạy và học; hình thức và phương pháp tuyển sinh, thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục và đào tạo, giáo dục nghề nghiệp; Truyền thông khung trình độ quốc gia Việt Nam giai đoạn 2020-2025; Truyền thông Đề án của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp

Trang 34

2) Tin tức, các chương trình hoạt động, sự kiện của ngành, của nhà trường

Truyền thông theo sự kiện, hoạt động thường xuyên và đột xuất của Bộ, ngành; Biểu dương các cá nhân, tổ chức điển hình có nhiều thành tích trong hoạt động đổi mới giáo dục, đào tạo và dạy nghề; Truyền thông những thông tin liên đến hoạt động đào tạo của nhà trường

3) Thông tin về hoạt động vui chơi giải trí, các cuộc thi cho sinh viên

Trong bất kỳ một nhà trường đại học nào, cũng có một lực lượng giáo dục quan trọng không thể thiếu, gắn bó chặt chẽ với nhà trường, hỗ trợ đắc lực cho nhà trường trong việc chăm lo, giáo dục, phát triển nhân cách, kỹ năng cho người học, đó chính

là các tổ chức đoàn thể trong trường học Các tổ chức đoàn thể có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí nhằm giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng, truyền thống, lịch sử dân tộc, văn hóa, lối sống, ý thức chấp hành pháp luật cho thanh niên, SV Để tiếp cận, thu hút được sự quan tâm, sự tham gia tích cực của SV thì nhà trường phải truyền thông nội dung của những hoạt động này đến người học

4) Thông tin về hoạt động giáo dục

Truyền thông về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống, xây dựng văn hoá ứng xử trong trường học; đảm bảo an ninh và an toàn trường học, phòng chống bạo lực học đường và tai nạn thương tích trong trường học; Tuyên truyền tấm gương tấm gương nhà giáo tiêu biểu của quá trình đổi mới giáo dục và tấm gương

sinh viên tiêu biểu trong quá trình học tập, nghiên cứu và khởi nghiệp

5) Thông tin xã hội có liên quan khác

Truyền thông những nội dung đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi chính đáng và cấp bách của người học; Truyền thông định hướng dư luận, phản bác lại những quan điểm sai trái, những thông tin không đúng với Bộ, ngành, nhà trường

1.3.4 Hình thức hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học

1) Truyền thông thông qua ấn phẩm

Ấn phẩm truyền thông là phương tiện thể hiện hình ảnh, sản phẩm, thông điệp của nhà trường đến người học, giúp nhà trường quảng bá sản phẩm, dịch vụ, sự kiện, xây dựng hình ảnh thương hiệu trước người học, tạo nên những nhận thức quen thuộc giúp duy trì sự tin cậy của người học, tiếp cận người học một cách tự nhiên, gần gũi

Trang 35

và nâng tầm giá trị thương hiệu nhà trường Có hai loại ấn phẩm được dùng trong hoạt động truyền thông đến người học đó là:

Ấn phẩm in: Là loại sản phẩm truyền thông được thiết kế và in ấn để tiếp người học mà không cần dùng mạng Internet, thường được dùng để truyền thông các sự kiện, hoạt động của nhà trường Ấn phẩm in bao gồm băng-rôn, poster (flyer), standee (panel), biển bảng quảng cáo, brochure (tờ rơi) … Các ấn phẩm sau khi thiết kế sẽ được in ấn và thi công, lắp đặt tại khu vực tổ chức sự kiện để tuyên truyền cho sự kiện, hoạt động đó

Ấn phẩm trực tuyến: Là những hình ảnh, video, logo, website được thiết kế nhằm truyền thông những sự kiện, hoạt động của nhà trường thông qua mạng Internet Với xu hướng hiện nay, hầu hết các hoạt động đều có kênh truyền thông trực tuyến

để làm tăng hiệu ứng tuyên truyền, do đó việc sử dụng các ấn phẩm trực tuyến thật

ấn tượng để quảng bá cũng rất hiệu quả Các ấn phẩm online cũng khá đa dạng như website, logo, video, banner…

2) Truyền thông thông qua kênh truyền hình

Quảng cáo trên truyền hình là một loại hình quảng cáo khá phổ biến xuất hiện

từ những năm 50 của thế kỉ XX Bằng cách xen kẽ vào các chương trình truyền hình như gameshows, phim ảnh, bản tin, thời sự, quảng cáo trên truyền hình là cách khiến cho người xem tiếp nhận quảng cáo một cách thụ động mà hiệu quả Loại hình quảng cáo hiệu quả này ngày càng phát triển

Truyền thông thông qua truyền hình sẽ đảm bảo tính phổ biến trong công chúng, được nhiều đối tượng quan tâm nên hình ảnh nhà trường dễ dàng được nhận biết và cảm nhận được Vì nó cho phép người xem kết hợp tốt giữa âm thanh, màu sắc, hình ảnh nên dễ tạo sự liên tưởng

3) Truyền thông qua kênh website, mạng xã hội nhà trường

Website, mạng xã hội là kênh thông tin điện tử rất quan trọng của mỗi trường,

nó vừa cung cấp lượng thông tin kịp thời, tin cậy cho đối tượng mong muốn tìm hiểu

và vừa cung cấp tài nguyên số phục vụ nghiên cứu khoa học và học tập như:

Kênh tuyển sinh, giới thiệu ngành nghề các khoa, các phòng ban nhà trường; Kênh xem kết quả học tập của mỗi sinh viên Nên tận dụng kênh này để liên kết với

Trang 36

phụ huynh, người thân qua đó họ có thể xem quá trình học tập của con em mình và đôi khi sẽ tìm hiểu thêm một số thông tin khác

Ngoài ra, đây cũng là kênh thông tin việc làm đến sinh viên hiện tại Đặc biết rất hữu ích đối với các cựu sinh viên chưa có việc, họ sẽ truy cập website tìm hiểu việc làm và là cơ hội để nhà trường thông tin các khóa học liên thông, chứng chỉ,

và thu hút một số đối tác tham gia tuyển dụng

Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, internet bao phủ toàn cầu, sự xuất hiện của các trang mạng xã hội, blog, các diễn đàn sự giao tiếp giữa người với người trở nên nhanh chóng và gần hơn bao giờ hết Tại Việt Nam, nhiều trường đại học, cao đẳng hiện nay đã tận dụng được lợi thế phát triển của mạng xã hội để xây dựng cho mình những phương thức truyền thông thích hợp Qua đó, quảng bá hình ảnh nhà trường, cung cấp thông tin tuyển sinh cho cộng đồng với một số công cụ phổ biến như: Social Networks (Mạng xã hội): Facebook, Zing Me, Yume; Personal Publishing (Xuất bản mang tính cá nhân): Với các hình thức blog, Yahoo 360 Plus, Multiply, Twitter; Instant Message (Tin nhắn nhanh): Yahoo Messenger, Skype, Google Talk; Other Social Media (Các trang truyền thông xã hội khác): Đề cập đến những trang chia sẻ clip: Youtube, Clip.vn, chia sẻ hình ảnh: Flickr, Photobucket, chia sẻ tài liệu: Slideshare, Scribd, , chia sẻ, hỏi đáp: Wikipedia, Yahoo Answer,

4) Truyền thông thông qua truyền miệng

Là hình thức truyền thông có sự tác động tích cực lẫn tiêu cực Với các chủ thể tham gia: sinh viên đang theo học, người thân, bạn bè, đội ngũ cán bộ giảng viên nhà trường và các đối tác Những thông điệp truyền đi có thể là: chất lượng đào tạo, chất lượng đội ngũ giảng viên, môi trường học tập, cơ hội việc làm, Nếu hoạt động đào tạo và môi trường giảng dạy của nhà trường đạt chất lượng tốt thì thông tin truyền đạt đến với mọi đối tượng xung quanh sẽ tốt theo Ngược lại thì đây là vấn đề sẽ gây rất nhiều khó khăn trong việc thu hút người học và sẽ được thông tin từ năm này sang năm khác, nếu nhà trường không tìm ra được nguyên nhân và giải pháp thích hợp

Trang 37

5) Truyền thông thông qua hoạt động quan hệ công chúng (PR)

Quan hệ công chúng (Public Relations - PR) là chương trình được thiết kế nhằm

đề cao và bảo vệ hình ảnh của cơ sở đào tạo thông qua việc giới thiệu với công chúng

về hình ảnh, cơ cấu ngành nghề, mục tiêu, nội dung chương trình, hình thức đào tạo, chất lượng đào tạo của cơ sở Và nó luôn đồng hành với hoạt động quảng cáo với các công cụ PR như: Mở các buổi hội thảo về chương trình đào tạo, qua đó mời học sinh, sinh viên, phụ huynh đến tham dự để giới thiệu về các chương trình đào tạo, các hình thức đào tạo; Tham gia hội chợ việc làm, các cuộc triển lãm về giáo dục: Thực hiện hoạt động trưng bày, giới thiệu các chương trình đào tạo tại các hội chợ việc làm, các cuộc triển lãm về giáo dục nhằm tăng hình ảnh của trường học trong nhận thức của

người học,

phụ huynh và xã hội; Marketing sự kiện và tài trợ: Tham gia, tổ chức hoặc tài trợ cho các hoạt động như sự kiện thể thao, nghệ thuật, giải trí và các hoạt động xã hội khác; Tham gia thực hiện các hoạt động nhân đạo, công tác xã hội: Hỗ trợ phần quà cho các học sinh nghèo vượt khó, gia đình chính sách, học sinh giỏi tại các trường phổ thông trung học hay tại chính ngôi trường họ tham gia học tập Qua đó, tạo sự thân thiện, gần gũi đối với công chúng, tạo hiệu ứng tích cực cho nhà trường

6) Truyền thông thông qua hoạt động khuyến mãi

Truyền thông thông qua hoạt động khuyến mãi (Sales promotion) trong giáo dục là những biện pháp khuyến khích mang tính ngắn hạn như thực hiện các chương trình miễn, giảm học phí, cấp học bổng, kiểm tra phân loại trình độ người học, nhằm kích thích người học tham gia các chương trình đào tạo của nhà trường

7) Truyền thông thông qua hoạt động viễn thông, thư điện tử

Truyền thông qua hoạt động viễn thông, thư điện tử là việc sử dụng điện thoại, thư điện tử để giao tiếp và truyền tải thông điệp từ nhà trường đến những đối tượng riêng biệt hoặc tiềm năng Hình thức này đạt hiệu quả về kinh tế, thông tin được truyền tải trực tiếp đến người học, phụ huynh Cách thức này có thể lựa chọn nhiều đối tượng khách hàng tiềm năng tốt hơn và được cá nhân hóa, khách hàng hóa Ngoài

ra, nó có thể xây dựng những quan hệ liên tục với mỗi khách hàng, đánh giá được

Trang 38

hiệu quả vì có thể đo lường phản ứng của khách hàng Với các công cụ chủ yếu: Truyền thông qua catolog, qua thư trực tiếp, qua điện thoại

1.3.5 Điều kiện thực hiện hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học

1) Sự lãnh đạo và tạo điều kiện của người đứng đầu

Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, tình hình kinh tế - xã hội đã có nhiều cải thiện tích cực, nhưng cũng đang đứng trước không ít khó khăn, thách thức

về nhiều mặt Nhu cầu tiếp cận thông tin của người học ngày càng phát triển, đa dạng, phong phú hơn Những nhiệm vụ đặt ra cho hoạt động truyền thông của trường đại học trong giai đoạn mới là rất to lớn Trong tình hình, điều kiện ấy, việc tăng cường

sự quan tâm của lãnh đạo đối với truyền thông đến người học là một điều kiện cấp thiết, có ý nghĩa vô cùng quan trọng

Cơ cấu tổ chức bộ phận truyền thông phải được xây dựng khoa học, hợp lý, từng bước hoàn thiện về cơ chế vận hành; tạo điều kiện cho hoạt động của truyền thông

Song song đó, chủ thể quản lí cần hoàn thiện hệ thống các quy định của đơn vị

và các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực truyền thông, làm rõ hơn vai trò, trách nhiệm, cơ chế phối hợp giữa các đơn vị, cá nhân có liên quan

2) Nhân lực

Xu thế thị trường hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và quốc tế hóa trong tạo lập, sử dụng và truyền bá thông tin có thể giúp xã hội có điều kiện trở nên minh bạch hơn, nhờ đó năng suất lao động gia tăng, tiện nghi cuộc sống nâng cao và mở rộng Hoạt động truyền thông trở nên thuận tiện và hiệu quả hơn Nhân lực thực hiện hoạt động truyền thông buộc phải có sự điều chỉnh thích ứng theo hướng hội tụ kỹ năng, nâng cao năng lực tự nhận thức, định hướng và giải quyết công việc sáng tạo trong khi vẫn bảo đảm những chuẩn mực và kỹ năng nghề nghiệp truyền thống Lĩnh vực truyền thông đến người học trong trường đại học cũng không nằm ngoài sự chi phối, tác động và ảnh hưởng từ các nhân tố này Thực tiễn vài năm gần đây đã cho thấy sự phát triển của hoạt động truyền thông đến người học trong trường đại học cơ bản là tích cực nhờ nỗ lực theo sát sự phát triển của công nghệ và những chính sách hỗ trợ của

Trang 39

các cấp trên, đồng thời cũng chịu sức ép ngày một lớn trong việc đổi mới để đáp ứng được các điều kiện môi trường biến đổi không ngừng

Chiến lược phát triển hệ thống báo chí, truyền thông Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030

Theo định hướng “Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí đến năm 2025”, việc phát triển báo chí truyền thông phải phù hợp với xu thế phát triển khoa học - công nghệ và xu thế phát triển thông tin, truyền thông trên thế giới Kết hợp chặt chẽ các loại hình báo chí, đồng thời phát huy lợi thế của các phương tiện, dịch vụ trên mạng in-tơ-nét nhằm chủ động cung cấp thông tin chính thống, có định hướng, tăng diện bao phủ trong nước và quốc tế; hạn chế ảnh hưởng tiêu cực và bảo đảm an toàn, an ninh thông tin mạng Trong những năm tới, việc triển khai quy hoạch hệ thống báo chí truyền thông cả nước, theo hướng sắp xếp hệ thống báo chí gắn liền với đổi mới

mô hình, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý báo chí để phát triển hệ thống báo chí theo hướng chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu thông tin đa dạng của nhân dân, phù hợp với từng đối tượng, vùng, miền Xây dựng một số cơ quan báo chí chủ lực, đa phương tiện làm nòng cốt, có vai trò định hướng thông tin báo chí, thông tin trên in-tơ-nét Xuyên suốt quá trình này, vai trò đào tạo, đào tạo lại đội ngũ nhân lực trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực truyền thông là hết sức cần thiết

Căn cứ định hướng Đề án quốc gia “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh

về công nghệ thông tin và truyền thông” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 22-9-2010; trong đó tầm nhìn đến năm 2020: công nghệ thông tin sẽ làm nòng cốt để Việt Nam chuyển đổi cơ cấu kinh tế - xã hội, trở thành nước có trình độ tiên tiến về phát triển kinh tế tri thức và xã hội thông tin Để triển khai mục tiêu này, từ nay đến

2020 yêu cầu trọng tâm được đặt ra là phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin

và truyền thông đạt tiêu chuẩn quốc tế Ngoài ra, thực tiễn triển khai Đề án trong thời gian qua đã khẳng định vai trò hết sức quan trọng của công tác nghiên cứu và đào tạo nhân lực một cách cơ bản, toàn diện và có chiều sâu Chất lượng, hiệu quả hoạt động của báo chí, truyền thông gắn chặt với kết quả đào tạo nhân lực, chất lượng cơ sở đào tạo, cơ sở vật chất kỹ thuật, đội ngũ giảng viên, nội dung giáo trình chương trình

Trang 40

giảng dạy, ngành và chuyên ngành đào tạo cần phải bảo đảm được xu hướng phát triển của hệ thống báo chí, truyền thông

3) Công nghệ

Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, với tri thức đã và đang trở thành nguồn lực quan trọng và quyết định (vượt qua các nguồn lực truyền thống, như vốn, tài nguyên, lao động) thì công nghệ và quản trị là nhân tố nội lực đóng vai trò quan trọng

để bảo đảm tồn tại và hiện thực hóa được các mục tiêu ngắn hạn cũng như dài hạn đối với hầu hết các chủ thể tham gia Ở đây, công nghệ được coi là là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng

để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm và quản trị là thiết kế và duy trì một môi trường

mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định

Sự phát triển nhanh chóng của các thành tựu khoa học - kỹ thuật, đặc biệt là các công nghệ truyền thông mới:

Sự phát triển vũ bão của công nghệ thông tin truyền thông, đặc trưng bởi những công nghệ cho phép cá nhân hóa, di động hóa, kết nối vạn vật, tương tác tức thời, cùng với nhu cầu được tiếp nhận thông tin, được tương tác và được tham gia vào quá trình tạo lập thông tin của người dân, của các nhóm xã hội ngày càng đa dạng, phong phú và dần trở thành tự nhiên, mặc định, tạo cơ hội đồng thời cũng là thách thức to lớn cho tất cả các cơ quan, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực báo chí nói chung và truyền hình nói riêng

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông mới trên nền tảng in-tơ-nét và các thiết bị di động, từ năm 1997, Việt Nam nhanh chóng tiếp cận với các hệ thống này Thông tin điện tử thực hiện trên mạng máy tính và các ứng dụng truyền thông trên nền tảng điện thoại thông minh ngày càng phát triển và chi phối sâu rộng đến đời sống xã hội

Công nghệ mới, đặc biệt là mạng in-tơ-nét đang tạo ra những dịch vụ truyền thông mới Sự phát triển nhanh chóng của truyền thông mới góp phần làm phong phú thêm các kênh giao tiếp giữa của con người với mạng in-tơ-nét trên toàn thế giới Ví

dụ như blog, website, các trang cho phép người dùng tự “sản xuất” ra nội dung (tiếng

Ngày đăng: 14/05/2021, 21:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w