1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hồ Chí Minh - Về chính sách xã hội: Phần 1

111 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hồ Chí Minh - Về Chính Sách Xã Hội
Tác giả Tập Thể Cán Bộ Phòng Thông Tin - Tư Liệu - Thư Viện Viện Triết Học
Người hướng dẫn Ban Chủ Nhiệm Chương Trình KX-04
Trường học Trung Tâm Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Quốc Gia
Chuyên ngành Chính Sách Xã Hội
Thể loại Sách
Năm xuất bản 1995
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 5,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu Về chính Tài liệu xã hội gồm những đoạn trích về chính Tài liệu xã hội trong Hồ Chí Mình Toàn tập (xuất bản lần thứ nhất từ 1980 đến 1989) và Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuất bản năm 1989 của Nhà xuất bản Sự thật. Tài liệu sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn quan điểm, tư tưởng của Người về vấn đề này. Tài liệu gồm 2 phần, mời bạn đọc tham khảo phần 1 sau đây.

Trang 5

H ồ CHÍ MINH - VỀ CHÍNH SÁCH XẢ HỘI Cuốn sách được tuyền theo chuyên đề này gồm những đoạn tnch

v ề chính sách xã hội trong Hồ Chí Mình Toàn tập (xuất bản lần thứ nhấl từ 1980 đến 1989) và D i chúc của Chủ tịch H ò Chí Minh, xuất

bàn năm 19S9 của Nhà xuất bản Sự thật.

Sách đưcrc chia thành 3 phần:

- Phần ỉ: Lên án chính sách của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa

đế quốc đối với nhân dân Việt Nam.

- Phần Ẫỉ: Những vấn đề chung v ề xã hội và chính sách xã hội

dưứi chế độ mới.

- Phần l ỉ l : Chính sách xã hội đối với các tầng lóp nhân dân.

Sách do tập thề cán bộ Phòng Lhông tin - tư liệu- thư viện Viện triết học thuôc Trung tâm khoa học xã hội và nhân vãn quốc gỉa tuyền chọn Iheo yêu cầu và đề cưcmg hướng dẫn của Ban chù nhiệm chương ưình KX-04.

Trang 6

De thuận lỉện cho việc tra cửu, mối đoạn ưích đều có ghi tên bài,

thòi gian ra đời của tác phằm, bài viết, bài nói và sau đó là nguồn tư liệu.

Tháng 3 năm Ỉ995

NHÀ X U Ấ T BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

Trang 7

P H Ầ N I

LÊN Á N C H ÍN H SÁCH CỦA CHỦ N G H ĨA THỰC D Â N , CHỦ N G H ĨA Đ Ế Q UỐC

Đ Ố I V Ó I NH ÂN D Â N VIÊT NAM

Các đồng chí đều biết rằng chủ nghỉa đế quốc Pháp

đã vào Dông Dương từ nửa thế kỷ nay: vì lợi ích của

nđ, nd đã dùng lưỡi lê để chinh phục đất nước chúng tôi Từ đó, chúng tôi không những bị áp bức và bđc lột một cá;h nhục nhã, mà còn bị hành hạ và đàu độc một cách tlê thảm Nđi cho rõ hơn, chúng tôi đã bị đầu độc bằng tiuốc phiện, bằng rượu, v,v Trong vài phút, tôi không 'hể vạch được hết những sự tàn bạo mà bọn tư bàn ảr cướp đã gây ra ở Dông Dương Nhà tù nhiều hơn trtờng học và lúc nào cũng chật ních Bất kỳ người bản xứ nào có tư tưởng xã hội chủ nghỉa cũng đều bị bắt và cđ khi bị giết mà không cần xét xử Cái gọi là công 1} Dông Dương là thế đấy! ò xứ đđ, người Việt Nam h phân biệt đói xử, họ không cđ những sự bảo đảm niư người châu Ảu hoặc cđ quốc tịch châu Àu Chúng tôi không cd quyẽn tự do báo chí và tự do ngôn luận, H|ay cả quyền tự do hội họp và lập hội cũng không

cđ Ching tôi không cđ quyền sống hoặc đi du lịch ở nước nỊoài; chúng tôi phải sống trong càĩih ngu dốt tối

Trang 8

tâm vỉ chúng tôi không cđ quyền tự do học tập ỏ Dông Dương, bọn thực dân tỉm mọi cách bắt chúng tôi hút thuốc phiện và uống rượu để đàu độc chúng tôi và làm cho chúng tôi đần độn Người ta đă làm chết và tàn sát hàng nghìn người Việt Nam để bào vệ những lợi ích không phải của chính họ.

L ờ i phát biầu tại Đại hội Tua - 7’ỉ rr 3-4.

Chế độ thực dân, tự bản thân nđ, đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu ròi Bạo lực

đđ, đem ra đối xử với trẻ em và phụ nữ, lại càng bỉ ổi hơn nữa.

Thật là một sự mỉa mai đau đớn khi ta thấy ràng văn minh dưới nhiều hình thức khác nhau, như tự do, công lý, v.v - được tượng trưng bằng hình ảnh một người đàn bà dịu hiền và được một hạng người nổi tiếng

là hào hoa phong nhã ra sức điểm tô - lại đối xử một cách hết sức bỉ ổi với người đàn bà bàng xương bằng thịt và xúc phạm một cách vô liêm sỉ tới phong hđa, trinh tiết và đời sống của họ.

Thđi dâm bạo ở thuộc địa là một hiện tượng phổ biến và tàn ác không thể nào tưởng tượng được.

Phụ nữ và chể độ thực dân Pháp - T l tr,65.

Về thuốc phiện, tôi sẽ xin kể lại với các đồng chí ràng, mỗi nâm Chính phủ Pháp ở Tây phương đă bán cho dân Việt Nam gồm 20 triệu người, trên 400 triệu đôla thuốc phiện Và mặt khác, ngưòi ta đã tính ra ràng 8

Trang 9

cứ 1.000 ty bán rượu và thuốc phiện thì không cđ được lấy 10 trường học Dấy là những sự thật.

Tham luận tại Đại hội lần thứ nhất Quốc tế nông dân - TA, tr 154.

Dù mùa màng cđ xấu đến mức nào đi nữa, nông dân Việt Nam vẫn cứ phải đđng thuế, để đống được thuế, nông dân phải bán mùa màng của mình đi; để khỏi bị

bỏ tù (hễ đóng thuế chậm là họ bị bò tù), họ phải bán non mùa màng của họ, nghĩa là bán trước khi gật; họ bán cho bọn lái buôn theo cách ước lượng bằng mát Bàng cách đđ bọn lái buôn mua được lúa trước khi gặt bằng một giá rất rẻ và sau đó đem bán lại rất đát Như vậy là người nông dân Việt Nam không phải chỉ bị trói vào một chiếc cột như tôi đã trinh bày với các đòng chí, mà họ bị đòng đinh câu rút bởi bốn thế lực liên hợp là; Nhà nước, tên thực dân, Nhà thờ và tên lái buôn.

Thmn hiận tại Đại hội lần thứ nfứíí Qiiốc tế nông dân T l trJ55^ỉ56.

Người Việt Nam ndi c^hung, đều phải è cổ ra Dfïà chịu những công ơn bảo hộ của nước Pháp Ngườĩ nônđ đân Việt Nam nđi riêng, lại càng phải è cổ ra mà chịu sự bảo hộ ấy một cách thảm hại hơn: là ngưòi Việt Nam,

họ bị áp bức; là người nông dân, họ bị người ta ân cáp, cướp bdc, tước đoạt, làm phá sản Chính họ là những người phải làm mọi công việc nặng nhọc, mọi thứ lao dịch Chính họ làm ra cho lũ người ản bám, lũ người lười biếng, lũ người đi khai hóa và những bọn khác

Trang 10

hưởng Mà chính họ thì lại phải sống cùng khổ trong khi những tên đao phủ của họ sống rất thừa thãi; hễ mất mùa thì họ chết đđi Dd là vì họ bị ân cắp» kháp mọi phía, bàng mọi cách, do các quan cai trị, đio bọn phong kiến tân thời và Nhà thờ Xưa kia, dưới c h ế độ Việt Nam, ruộng đất chia thành nhiều hạng tù y theo tốt xấu Thuế đánh theo sự phân hạng ấy Dưới c h ế độ thuộc địa hiện nay, tất cả những cái đó đều thmy đổi Khi càn kiếm tiền, các quan cai trị người Pháp clhỉ việc bát thay đổi hạng ruộng Chỉ một nét bút thần kỳ là

họ biến một đám ruộng xấu thành ruộng tốt T h ế là người dân cày Việt Nam buộc phải nộp thuế nhiều hơn

số họ thu hoạch được trên đám ruộng của

minh-Tìrửi cành nông dân Việt Nam - T,l, ĩr 130

Tôi xin bắt đầu từ nước tôi, Dông Dương, lồi nước tôi biết rõ hơn cả.

Khi Pháp đánh chiếm thuộc địa này, chiến tra n i đã làm cho nông dân phải rời bỏ làng mạc của họ s*ai: đđ, khi họ trở về thì đã thấy ruộng đất của họ bị bọn chủ đòn điền, theo sau quân đội chiến thắng, chiếm uất Thậm chí chúng đã chia nhau cả những đất đai mà nông dân bản xứ đã cày cấy từ bao đời nay Nbư vậy

là nông dân Việt Nam đã biến thành nông nô v à DUỘC phải cày cấy ruộng đất của chính minh cho bon chủ nước ngoài.

Nhiều người trong những người xấu số này vỉ kiông chịu sống trong những điều kiện vô cùng khấc nghiệt

do những kẻ chiếm đoạt đưa ra, nên đâ bỏ ruộng đất 10

Trang 11

của minh và lang thang nay đây mai đd kháp nước; người Pháp gọi họ là ”giặc cướp" và tlm đủ mọi cách truy nâ họ.

Tham luận ve những vấn đe cừìn tộc và vấn đề thuộc địa tại Đợi hội qiiốc tế lan thử năm cita Qiiốc

tế cộng sàn (7-Ỉ924) - TJ, tr 223.

Trước năm 1914, họ chỉ là những tên da đen hèn

hạ, những tên "Annammít" hèn hạ, giỏi lám thì củng chỉ biết kéo xe tay và ãn đòn của các quan cai trị nhà

ta Áy thế mà cuộc chiến tranh vui tươi vừa bùng nổ, thì lập tức họ biến thành những đứa "con yêu", những người ”bạn hiền" của các quan cai trị phụ mảu nhân hậu, thậm chí của cả các quan toàn quyền lớn, toàn quyền bé nữa Dùng một cái, họ (i.hững người bản xứ) được phong cho cái danh hiệu tối cao là "chiến sỉ bảo

vệ công lý và tự do" Nhưng họ đã phải trả bầng một giá khá đát cái vinh dự đột ngột ấy, vì để bảo vệ cho cái cồng lý và tự do mà chính họ không được hưởng iĩiột tí nào, họ đả phải đột ngột xa lìa vợ con, rời bỏ mành ruộng hoặc đàn cừu của họ, để vượt đại dương,

đi phơi thây trên các bãi chiến trường châu Àu.

Bàn ân chế độ thực dân Pháp - T.ỉ, tr 3Ỉ9

Khi đại bác đã ngấy thịt đen, thịt vàng rồi, thì những lời tuyên bó tình tứ của các ngài cầm quyền nhà ta bỗng dưng im bặt như có phép lạ, và cả người "Nêgơrô"^

L Nêgorô Danh từ chi người da đen.

Trang 12

lẫn người "Annammit", mặc nhiên trở lại 'giống ngưc hèn hạ”.

Dể ghi nhớ công lao người lính Việt Nam, chẳn phải người ta đã lột hết tất cả của cải của họ, từ chiê đòng hò, bộ quần áo mới toanh mà họ bò tiền túi r mua, đến các vật kỷ niệm đủ thứ, v.v trước khi đư

họ đến Mácxây xuống tàu về nước, đó sao?

Bản án chế độ thực dân Pháp ~ Tỉ, tr 329.

Để nhồi nhét vãn minh "Đại Pháp" cho người Việ Nam, ngài Xarô, người trùm của sự nghiệp đó đã khôn

từ một thủ đoạn nào, kể cả những thủ đoạn bỉ ổi nhẫ

và những tội ác Dây, một chứng cớ: đđ là bức thư m ngài đã gửi cho những ngưòi thuộc quyền ngài, với t cách là toàn quyền Đông Dương, và nhằm vơ vét ch đày túi tham của bọn kẻ cướp thực dân và cà của ngề nữa:

"Kính gửi ông công sứ,

"Tôi trân trọng yêu cầu ông vui lòng giúp đỡ Qhữn

cố gáng của nha thương chính trong việc đật thêm đạ

lý bán lẻ thuốc phiện và rượu, theo chi thị của ông tổn giám đốc nha thương chính Đông Dương.

"Dể tiến hành việc đó, tôi xin gửi ông một bản dam sách những dại lý cần dặt trong các xã đà kê tên; phầ] lớn các xã này, tới nay, vẫn hoàn toàn chưa cd rượi

và thuốc phiện.

Bàn án chế độ thực dân Pháp - T.ỉ, tr 33ị

Thuế thân tàng từ một hào tư lên hai đòng rưỡi 12

Trang 13

Những thant niên chưa vào sổ đinh, nghỉa là còn dưới

18 tuổi, trưòc kia không phải nộp gì cả, nay phải nộp

ba bào mỗi người, tức là hơn gấp đôi một suất đinh

Dể bù vào chỗ đồng bạc sụt giá, toàn quyền Đume

zhỉ cần làm nột việc đơn giản là táng số đinh lên!

Bán án chế độ thực dân Pháp - TJ, tr 393.

Nếu không bát dân đi tạp dịch thì người ta trưng -ập họ đi phu, giữa hai cách đó chỉ cd một điểm khác ihau là đi tạp dịch thi cđ thời hạn, Còn đi phu thì chông Cả ha: cách đều dùng để giàỉ quyết mọỉ nhu :ầu; nhà đoar muốn chở muối chảng? thi trưng dụng huyền; muốn làm kho chăng? Thi trưng tập thợ và níng dụng lu5n cả vật liệu xây dựng.

Trưng tập đi phu thi quả là một sự phát lưu trá inh vụng về Ngưòi ta xua cả từng làng đến công rường, bất chip công việc đống áng, bất chấp cả những gày hội tôn giáo Số người được trở về rất ít Vả lại, gười ta cd làm gi để giúp cho người dân phu trở về

uỗ quán đâu!

Trôn đường đi lên cao nguyên Lang Biên, đi lên rừng

Trang 14

xanh núi đỏ, nơi mà thần chết đang đợi c\ô từ ng đoàĩ người dân đi tạp dịch hoặc đi phu trưng tập, lương thựí thiếu thốn, cố ngày không cd lấy một hột com vào Ibụng

họ đã bỏ trốn từng đoàn, hoặc nổi dậy 3hiống lạ i, Vĩ

mỗi khi như thế là bị bọn lính áp giải đà;i áp ghêì rợn xác họ rải khắp dọc đường.

N ối chung, người Việt Nam đều phải è ra m à chịx

công ơn bảo hộ của nước Pháp Riêng người n ôn g dâi Việt Nam lại càng phải è ra mà chịu sự bảo hộ ấy mộ cách nhục nhả hơn: là người Việt Nam, họ bị áp bức

là người nông dân, họ bị tước đoạt Chính họ là tthữni người lao khổ, làm để nuôi lũ người ân bám, bọn đ khai hđa và những bọn khác Chính họ phài sống cixTíị

khổ, trong khi bọn đao phủ của họ lại sống phè phỡn

hễ mất mùa là họ chết đđi Họ bị cướp giật từ mọi phía bằng mọi cách, bởi nhà nước, bởi bọn phong kiến tâi thời, bởi giáo hội thiên chúa Xưa kia, dướỉ chế độ phoxi| kĩến Việt Nam, ruộng đất xếp thành đẳng hạng the( tốt xấu Thuế đánh theo sự phân hạng ấy Dưới chế đi

thuộc địa hiện nay, những điều đđ đã thay đổi Khi cầi tiền, nhà nước bảo hộ Pháp chỉ cd việc thay đổi hạĩiị

ruộng Chỉ một nét bút thần kỳ là họ biến một đán ruộng xấu thành ruộng tốt.

Như thế cũng vẫn chưa hết Người ta còn tăng diệi tích ruộng đất lên một cách giả tạo bàng thủ đoạn rú bớt đơn vị đo đạc Bàng cách đó, thuế lập tức tông Ịên nơi thl một phàn ba, nơi thì hai phàn ba Thế mà vẫi chưa đủ thỏa lòng tham khổng đáy của nhà nước bả( 14

Trang 15

hộ» và thuế cứ táng lên măi Thí dụ, từ năm 18*90 đến 1896, thuế đã tảng gấp đôi Từ nâm 18ĩ96 đến âm 1898 lại tăng lên gấp rưởi và cứ như

th ế mà tiế] tục Người Việt Nam cứ chịu để cho người

ta rđc thịt mải, thì các quan lớn bào hộ nhà ta quen

ân bén mù lại càng tiếp tục bóc lột thêm.

Bán án chế độ thực dân Pháp - T.ỉ, tr 404

Dể che ậy sự xấu xa của chế độ boc lột đầy tội ác, chủ nghĩa ư bản thực dân luôn luôn trang điểm cho cái huy chưíng mục nát của nó bằng những châm ngôn

lý tưởng: be ái, bình đẳng, V.V

Cùng làn một việc trong cùng một xưởng, người thợ

da trắng đưíc trả lương cao hơn nhiều so với bạn đồng nghiệp khác màu da.

Trong cá công sở, những người bản xứ dù đã làm việc lâu năn và dù rất thành thạo công việc, cùiíg chỉ được lỉnh nủt khoản tiền lương chết đdi; trái lại một người da tráig mới được đưa vào, làm việc k hơn, thỉ lại lỉnh lươig cao hơn.

Bản án chế độ thực dẩn Pháp - T,l, tr 407

Công lý cược tượng trưng bằng một bà đàm, một tay cầm cân, một tay càm kiếm, đường từ Pháp đến Dông Dương xa quá, xa đến nỗi sang được tới đđ thì cán cân đã năt thâng bàng, đỉa cân đã chảy lỏng ra

và biến thàni những tẩu thuóc phiện hoặc những chai rượu ty, nên bà đầm công lý tội nghiệp chỉ còn lại độc

Trang 16

cái kiếm để chém giết Bà chém giết đến cà người vô tội, và nhất là người vô tội.

Bân án chế độ thực dân Phấp - T ỉ, tr 416.

Thật là một sự mỉa mai đau đớn khi thấy rằng nền văii minh - dưới nhiều hỉnh thức khác nhau như tự do, công lý, V.V., được tượng trưng bằng hình ảnh dịu hiền của một người phụ nữ và được một hạng người tự cho

là phong nhã ra sức điểm tô - lại đối xử một cách hết sức bỉ Ổi với người phụ nữ bàng xương, bằng thịt và xúc phạm tới phong hđa, trinh tiết và đời sống của họ một cách cực kỳ vô liêm sỉ.

Thói dâm bạo thực dân là hiện tượng phổ biến và tàn ác không th ể tưởng tượng được.

Bản án chế độ thực dân Ph¿^ - T.l, tr 44Ỉ.

■ -i

Một người ở thuộc địa kể lại ràng: "Khi bọn lính kéo đến, tất cả dân chúng đều chạy trổn, chỉ còn lại hai cụ già, một thiếu nữ, một thiếu phụ đang cho đứa con tnới

đẻ bú và tay dát một em gái lên tám Bọn lính đòi tiền, rượu và thuốc phiện VI không ai hiểu tiến^ Pháp aên chúng nổi giận, lấy báng súng đánh chết một cụ già Còn cụ già kia thì bị hai tên lính, khi đến đă say mềm, đem thiêu sống trong một đống lửa hàng mổy giô !iền

để làm trò vui với nhau Trong khi đó thỉ những tên khác thay phiên nhau hiếp cô thiếu nữ, người mẹ và đúa con gái nhỏ của bà Xong, chứng vật ngửa cô tliếu

nữ ra, trđi lại, nhét giẻ vào miệng, rồi một tên tầm 16

Trang 17

lưỡi lê đân vào bụng cô, chặt ngón tay cô để lấy chiếc nh.ẫn và cit đầu cô để lột cái vòng cổ.

Bàn án chế độ thực dân Pháp - T l tr 441.

T h á n g II năm 1992, sáu trãm thợ nhuộm ở Chợ lớn (Nam Kỳ) /ì bị bót lương nên đã quyết định bãi công.

C uộc phin c ô n g của bọn chủ liền diễn ra ở kháp nơi,

và khắp nci g ia i cấp công nhân cũng bất đàu giác ngộ

về lực lượrg và giá trị của mình.

N ếu n h ín g c ô n g nhân bản xứ khốn khổ kia, thư ờng

là rất n g o a i n goãn , dễ sai, dễ bảo, kh ông được giáo dục

và tố chức đã đi đến chỗ phải tập hợp nhau lại - do bàn náng tí vệ, nếu cd thể nói như th ế - và đấu tranh

ch ốn g nhữrg đòi hỏi tàn bạo của chủ, thì đố là vì tìn h cảnh của hj quá ư khốn khổ, khốn khổ đến mức mà ở châu À u n p íò i ta không tưởng tiíợng- đượe.'-*

Trang 18

mồ, làm một phụ nữ bị thương nặng, và bắt đufa người ra tòa, chúng kết án người một năm, kề 6 tháiiỂ hay 3 tháng tù ò Sài Gòn, sáu người bị kết án mỗ: người sáu tháng tù vì đã có tên trong danh sáchi bar

Đây "công lý" cùa thực dân Pháp ở Đông D ương

Dó là tất cả công ơn của nền văn minh giả nhân giể nghĩa, nd đâ đẩy người bản xứ vào mọi thứ bê tha cc lợi cho nđ, mà người đời ai cũng phỉ nhổ.

Đây ''công /ý" của thực dân Pháp ờ Đông Dương T2, tr.72

Trong 1.000 làng đã cổ 1.500 đại lý rượu và thuối phiện, mà trường học thỉ vẻn vẹn cđ 100 cái, mỗi năm người ta đầu độc dân bản xứ, cả đàn bà lẫn trẻ con

Trang 19

bàng 23 tới 24 triệu lít rượu và hơn 100.000 kilôgam thuóc phiện!

Đâ}' "công lý " aưỉ thực dân Pháp ở Dông Dương-

T j Ì tr.73.

Nên chú ý rằng lúc đd, trong 1.000 làng đã 1.500 đại lý rượu và thuốc phiện, mà trường học thỉ vẻn vẹn

cd 100 cái; mỗi nám, người ta đàu độc dân bản xứ, cả đàn bà lẫn trẻ con, bàng 23 tới 24 triệu lít rượu và hơn 100.000 kilôgam thuốc phiện! Bán những thứ thuốc độc

ấy mỗi nảm lời gần 130 triệu phơ-rãng.

Cũng trong thời kỳ ấy, người ta chỉ tiêu cho ngành

y tế không đầy 400.000 phơrãng và chỉ có 1 triệu phơrãng cho ngành giáo dục, nghĩa là cho công việc xã hội một phàn trăm số thu nhập của việc đàu độc, thế không phải là một chế độ kỳ diệu lám sao!

Đây "công /ý" a ĩa thực dân Pháp ờ Đống Dương-

t Ị trJ3

Trong cuộc chiến tranh xâm lược lâu dài, dân chúng phải bỏ đất đai đi lánh nạn, chờ cho qua ngày khói lửa Trước hết, người ta mang đất đai của họ nhượng cho

kẻ khác Khi đã yên ổn rồi, những chủ CÛ về làng thì thấy ruộng đất của mình đã bị chiếm mất; muốn về lại chỗ cũ làm ăn, họ phải nhận những điều kiện của người mới đến: cày cấy chính đồng ruộng của mình cho một anh chủ người ngoại quóc.

Nhiều khi người ta nhượng cả những đất đai đã có người ở và cày cấy với cả làng mạc ở đó.

Trang 20

Nhiều nơi, cà làng bị tước đoạt hết đãt đai như vậ' phải trở thành những người mà người ta ígọi là "lì cướp"; thật ra họ chỉ là những người nổi dậy (chống viể cướp đoạt bất công.

Những tên cướp bất công ấy lại được Chính ph thúộc địa nâng đỡ.

Đây "công lý" cùa thực dân Pháp ờ Đông Dươn

■ T2, t r h

Không chỉ người sống mới là nạn nhân của ch

độ thực dân man rợ ấy Biết người Việt Nam rất sùn bái tổ tiên, bọn người Pháp còn cd những hành độn độc ác đối với cả người chết; chúng giày xéo thi th cha mẹ người ta để cho con cái phải đau xót, hoặc hàn'

hạ xác kẻ thù đâ bị thua và đã bị giết chết, để cho h lòng cãm tức và rửa tiếng bất lực không đánh bại đượ người đó khi họ còn sống Như Dội Văn là một nhà yêi nước đã chiến đấu mấy năm trời, chống lại nền cai tĩ Pháp, đã bị chém ở Hà Nội, đầu đem bêu ở Bắc Ninh xác ném xuống sông Hồng.

Đây "công lý” của thực dân Pháp ờ Đông Dương

r i tr£ 7

Bây giờ, tôi phải ndi đến các quan cai trị cd đạo đức Như các bạn biết đấy, để bảo vệ cho một chế độ cướ| bđc, phải có quân ăn cướp Họa hoằn cđ một viên quaĩ cai trị nào lại thật thà và hiểu biết hơn, lập tức viêi

ấy bị đàn lang sđi quan thày hay bè bạn xua đxổì đ ngay Thành thử ra 99 phàn 100 quan cai trị là quâr

2 0

Trang 21

trộm cáp, chl nghỉ đến hóc lột dân bản xứ để làm giàu, chảriig kiêng nể gì tài sản, quyền lợi, tự do đời sống của những người bị cai trị cà.

Đâ\> "công lý" ciĩa thực dân Pháp ở Đông T.2, tĩ91

Dương-Dưới trời náng chang chang, đoàn tù khốn khổ, gày

gò, rách rưới, dậy làm việc từ tờ mờ sáng đến tận đêm khuya, cổ đeo gông, chân xiềng xích, tay còng người nọ vào với người kia, đang ì ạch kéo một quả lăn to tướng trên lớp đá sỏi dày Quan cai trị tới, vô cớ lấy chiếc batoong to tướng của ngài đập thẳng tay, chửi mắng

họ là lười biếng.

Một hôm, vừa mới cự một nhân viên người Pháp xong, chẳng biết trút cơn thịnh nộ lên đầu ai, ngài vớ ngay lấy một cái thước kẻ bàng sát đập gây ngón tay một viên thư ký khốn khổ người Việt Nam.

Đây "công lý" cìia thực dân Pháp ờ Đông

Dương-Người nông dân Việt Nam đdng được một trãni đồng bạc thuế, thì đến bảy mươi đồng bị ngốn ngay vào việc trả lương và kinh phí thuyên chuyển cho viên chức, ấy

là chưa kể các khoản trợ cấp cho quỹ hưu bổng làm cho người dân càng bị hút máu tàn nhẫn thêm nữa.

Đâ\> "cổng /ý" của thực dân Pháp ớ Đông T.2, ir95

Dương-Cách "mộ lính tình nguyện" cường bức ấy không phải

Trang 22

đã làm được trôi chảy không gặp trở ngại gỉ Khi cc lệnh tòng quân, số lính trù bị váng mặt lên tới 30%

số đào ngũ 50% Những cuộc biểu tình, nổi loạn, bạc động nổ ra ở hầu kháp các tỉnh Dương nhiên là nhữiiỄ cuộc đấu tranh ấy đều bị đàn áp không gớm tay Tí đày, bán giết, tàn sát tất cả bộ máy đàn áp đều được huy động Ai chống lại bị xử bắn ngay tại chỗ Nạr nhân kể cđ đến hàng nghìn người.

Khi được giải ngũ, những người "anh hùng" Việt Nair được nước mẹ biết ơn ân càn đối đăi thật là cảm động Trước khi lên tàu về nước, người ta đã lột lại tất cổ của cải của họ: nào tiền để dành được, nào đồ đạc, nàc quần áo mà họ tự sắm lấy Cũng như khi đi, họ lại được xếp xuống hầm tàu tối tăm, ăn những bữa cơtr

thiếu thốn, khố nuốt trôi và bị ngược đãi Người ta SÇ

những người lính này mang về những tư tưởng tiến

và những thói quen thích độc lập tiêm nhiễm được C

nước Pháp, nên người ta đã giao họ cho bọn thực dân đểu giả tàn bạo nhất kiểm soát Bọn này dùng gậy đánh,

đá người vô cớ Về đến nước nhà, những người lính ẳy

đều bị ném ra đường một cách đơn giản thế thôi.

Trước khi đi chiến đấu, người ta hứa trời hứa biển với họ, thì đến nay trở về người ta lại rút bỏ hết mọi quyền lợi mà xưa nay những người Việt Nam đi tòng quân đều được hưởng, như miễn thuế thân, miễn sai dịch, V.V Nhiều người đã phải đi ăn xin từ làng Tiầy

qua làng khác, phải đi bộ hàng tuần lễ để trở về qué hương, nơi mà người ta đâ dùng vũ lực buộc họ phải rứt ra đi.

Đâ}’ "công /ý" của thực dân Pháp ờ Đông

Dương-r i ÎT107-108

22

Trang 23

Người ta thay thế chế độ tạp dịch bằng chế độ trưng tập, và giữa hai chế độ chỉ cđ một điều khác nhau là tạp dịch còn co số ngày hạn định, mà trưng tập thì vô cùng Chế độ trưng tập đả thỏa mãn mọi nhu cầu; nếu nhà đoan càn chuyên chở muối, họ trưng dụng thuyền

bè Cần xây một cái kho ư? Họ bèn trưng tập thợ thuyền

và trưng dụng iuôn cả vật liệu xây dựng.

Chế độ trưng tập trở thành chế độ phát vãng trá hình một cách vụng về Bất chấp việc đồng áng, bất chấp cả những ngày hội hè hay những ngày không cđ nghĩa vụ gỉ cả, người ta trưng tập cả hàng xã, đưa đến công trường, mà rồi trở về chỉ là phần ít Không nên kết tội đất đồng bằng hay rừng nhiệt đới nước độc, mà tội là ở chỗ thiếu thốn cả những nhu cầu đơn giản Người ta trưng tập nhân công Người ta làm đủ thứ cần thiết để rút những người lao động rời khỏi mảnh đất của mỉnh, đưa họ đi xa hàng trảm ngàn kilômét, nhưng chẳng bao giờ tổ chức một tí gì để đưa họ trở

Trang 24

về nghề nghiệp sinh sống của họ, nộp cả thuế khỏng khí mà họ thở nừa.

Đây "công lý " của thực dân Pháp ở Đông T.2, írJ ĩ7

Dưưng-ò n g Mấcxơ, văn sĩ thuộc địa, đã viết câu saư đây lột tả được đúng tư tưởng đang thống trị trong đâu óc của các nhà cai trị của chúng ta: "Chúng ta chỉ cần dạy tiếng Pháp cho người An Nam, dạy cho họ biết đọc, biết tính toán chút ít thôi; biết hơn nữa chỉ là thừa vô ích" Nhưng, ngay cả nền giáo dục sơ đẳng ấy cùng chỉ

được phổ cập một cách quá bủn xỉn và nhỏ giọt Trường học rõ ràng là còn thiếu nhiều, giáo viên thì chưa đù

tư cách để giảng dạy Cao Miên có 2.000.000 dân mà chỉ cđ 60 trường học ỏ Trung Kỳ chỉ có 118 trường cho 6.000.000 dân Trường học lập ra không phải để giáo dục cho thanh niên Việt Nam một nền học vấn tốt đẹp và chân thực, mở mang trí tuệ và phát triển tư tưởng cho họ, mà trái lại càng làm cho họ đàn độn thêm Ngoài mục đích giáo dục để đào tạo tùy phái,

thông ngôn và viên chức nhỏ đủ số cần thiết phục vụ

cho bọn xâm lược - người ta đă gieo rác một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cà sự dốt nát nữa, vỉ một nền giáo dục như vậy chỉ làm hư hỏng mất tính nết của ngưòi đi học, chỉ dạy cho họ một lòng

"trung thực” giả dối, chỉ dạy cho họ biết sùng bái những kẻ mạnh hơn mỉnh, dạy cho thanh niên yêu một

TỔ quốc không phải là Tổ quốc của mình và đang áp bức mỉnh Nền giáo dục ấy dạy cho thanh thỉếu niên khinh rẻ nguồn gốc dòng giống mình Nd làm cho thanh

2 4

Trang 25

thiếu niên tứ nên ngu ngốc Điều gì có thể rèn luyện

được cho học sinh biết suy nghĩ, biết phân tích thl người

ta không dạ^ ở nhà trường Vấn đề nào có liên quan đến chính tĩ, xã hội và có thể làm cho người ta tỉnh ngộ đều bị ta'p méo và xuyên tạc đi.

Đây ''cong lý" ciĩa thực dán Pháp ở Đông Dương

- T2 tr.ỉ26-ĩ27

Ngoài thuỉ' má nặng nề, tảng lên 550% trong khoảng mừời năm, Igười dân bản xứ còn bị khổ sở với trăm nghìn thứ hích sách Tờ báo Khai hóa của người bản

xứ ở Bác Kỳ mới đây có viết: "Biết bao người đâ bị bát trái phép Hẹbị giam cầm hàng tháng trời Lính tráng bát họ đóng iền này tiền kia, ròi còn hành hạ họ nữa

Cd ngưòi bị iánh đập tàn nhản đến nỗi phải vào nhà thương Tóm^ại, nếu người nào vô phúc bị bắt mà nghèo đđi thì đành am phận, còn kẻ hơi khá giả thỉ phải bán

vợ đợ con đểnộp tiền phạt dù cd bị bắt oan cũng vậy".

Đây' "công ỉ\" cìưi thực dân Pháp ở Đông T.2 ìrJ5ỉ

Dương-Tụi tư bải và đế quốc chủ nghĩa no lấy tôn giáo và văn hda làm cho dân ngu, lấy phép luật buộc dân lại,

lấy sức niạnhlàm cho dân sợ, lấy phú quý làm chò dân

thani Nó làri cho dân nghe đến 2 chữ cách mệnh thỉ

sợ rùng mình

Đường cách mệnh - T2, tr 187

Sự Gực Mỉỉ‘ dân cày Việt Nam là:

1- Ruộng Ì Tây choán hết, không đủ mà cày.

Trang 26

2 Gạo bị nd chở hết, không đủ mà ản.

3 Làm nhiều, được ít, thuế nặng.

4 Lại thêm nước lụt, đại hạn, vỡ đê, mất mùa.

5 Dến nỗi chết đói, hoặc bán vợ đợ con, hoặc đem thân làm nô lệ như những người nó chở đi Tân thế giới.

6 Nào là chính trị áp bức (thử hỏi dân cày ta cố quyền chính trị gì?), văn hđa áp bức (dân cày ta được mấy người biết chữ, trong làng được mấy trường học?).

Nểu dân cày Việt Nam muốn thoát khỏi vòng cay đắng ấy, thỉ phải tổ chức nhau để kiếm đường giải phống.

Trang 27

Trẻ em như búp trên cành,

Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan,

Chẳng may vận nước gian nan,

Trẻ em cũng phải lầm than cực lòng.

Học hành, giáo dục đã không,

Nhà nghèo lại phải làm công, cày bừa.

Sức còn yếu, tuổi còn thơ,

Mà đã khố nhọc cũng như người già.

Cđ khi lìa mẹ, lìa cha,

Để làm tôi tớ người ta bên ngoài.

Vỉ ai nên nỗi th ế này?

Vì giặc Nhật, vì giặc Tây bạo tàn!

Khiến ta nước mất, nhà tan,

Trẻ em cũng bị cơ hàn xót xa.

Kêu gọi thiếu nhi - T 3 ir 157

Thành ai đáp, làu ai xây?

Tàu kia ai dóng, than đây ai sàng?

Bao nhiêu của cải kho tàng,

Ai đào bạc, ai luyện vàng mà nên?

Công nhân sức mạnh nghề quen,

Làm ra của cải cho thiên hạ nhờ.

Mà mình quần rách áo xơ,

Tiền công thì bớt mà giò thì thêm.

Lại còn đánh chửi tàn phiền,

Trang 28

Cúp lương tháng trước, phạt tiền hôm qua Càng nghỉ lại càng xdt xa,

Vì ta mất nước, mà ta phải hèn.

Để cho Pháp, Nhật lộng quyền

Thẳng tay bóc lột thợ thuyền nước ta!

Công nhân, Ỉ0-Ĩ94L TJ ír 158

Hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng l;á cờ

tự do, bình đảng, bác ái; đến cướp đất nước ta, áp bức đòng bào ta Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân

ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man Chúng lập

ba chế độ khác nhau ờ Trung, Nam, Bác để ngãn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dâni tộc

ta đoàn kết.

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng thảng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta Chúng tám các cuộc khởi nghỉa của ta trong những bể máu.

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu còn để làm cho' nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng hóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.

28

Trang 29

Chúng cướp không ruộng đất, hằm mỏ, nguyên liệu Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

Chúng đặt hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân

ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng Chúng không cho các nhà tư sản ta ngdc đầu lên Chúng bdc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhản Mùa thu nám 1940, phát xít Nhật đẽn xâm lãng Dông Dương để mở thêm cân cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mỏ cửa nước ta rước Nhật Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp

và Nhật Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn Kết quả là cuối năm ngoái sang đàu năm aay, từ Quảng Trị đến Bác Kỳ, hơn hai triệu đồng bào :a bị chết đdi.

Ticyên ngôn độc lập - T.3 ĩr 383-384.

Trang 30

1 Tự do hội họp 2 Quyền tổ chức các công đoàn

và các cuộc d\nh công 3 Ngày lao động 8 giờ cho người lớn và 6 giờ cho thiếu niên và những người làm việc nặng 4 Bảo vệ những người tiểu nông 5 Cấm làm việc quá giờ trong những xí nghiệp độc hại và cấni sử dụng lao động trẻ em và phụ nữ vào việc làm ban đêm.

6 Hàng nám công nhân được nghỉ hai tuần, đối với phụ nữ làm công việc nặng nhọc thì được nghỉ 8 tuần trước khi đẻ và 8 tuần sau khi đẻ; 6 tuần nghỉ đẻ đói với phụ nữ làm công chức và làm các công việc nhẹ 7 Ban kiểm tra của công nhân 8 Luật bảo hitểm đối với công nhân 9 Nhà nước cđ trách nhiệm giúp đỡ các tổ chức công nhân của những người lao động được học hành.

Phong trào công nhân - T L tr Ỉ63.

Trong khi chờ đợi quyền dân tộc tự qiayết thiêng 30

Trang 31

liêng ấy được công nhận thật sự, dân tộc vương quóc

An Nam CÛ, nay là xứ Đông Dương thuộc Pháp, đề đạt tới các Chính phủ Dồng minh nói chung và nói riêng tới Chính phù Pháp, những yêu càu sau đây:

1 Ân xá toàn thể chính trị phạm Việt Nam.

2 Cải cách nền pháp lý Dông Dương, cho người Việt Nam cũng được bảo đảm về mặt pháp lý như người Àu,

bỏ hản tòa án đặc biệt, công cụ để khủng bố những người Việt Nam lương thiện nhất.

3 Tự do báo chí và tự do tư tưởng.

4 Tự do lập hội và tự do hội họp.

5 Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương.

6 Tự do học tập và mở các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp cho người bản xứ ở khắp các tỉnh.

7 Thay chế độ các sác lệnh bàng chế độ các đạo

luật.

8 Phải có đại biểu thường trực người Việt Nam do người bản xứ bàu ra, ở bên cạnh nghị viện Pháp để trình bày nguyện vọng của người bản xứ.

Đây "công lý " cìia ihực dân Pháp ờ Đông Dương-

Trang 32

b Thu hết sàn nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng, v.v.) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh.

c Thu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công và chia cho dân cày nghèo.

d Miễn thuế cho dân nghèo.

e Mở mang công nghiệp và nông nghiệp.

f Thi hành luật ngày làm tám giờ.

Chánh cương vắn tắt cìiũ Đảng’ T.2 tr295-296.

Từ nay anh chị em chúng ta càn phải gia nhập Đảng, ủng hộ Dàng và đi theo Đảng để:

6 Thực hiện ngày làm 8 giờ.

7 Hủy bỏ mọi thứ quốc trái và thuế thân, miễn các thứ thuế cho nông dân nghèo.

8 Đem lại mọi quyền tự do cho nhân dân.

9 Thực hành giáo dục toàn dân.

10 Thực hiện nam nữ bình quyền.

L ờ i kêu gọi - T2 trJỠ5-306.

Việt Nam độc lập đồng minh

Cd bàn chương trình đánh Nhật, đánh Tây Quyết làm cho nước non này,

Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền;

Làm cho con cháu Rồng, Tiên, Dân ta giữ lẩy lợi quyền của ta.

3 2

Trang 33

Cd mười chính sách bày ra, Một là ích nước, hai là lợi dân.

Bao nhiêu thuế ruộng, thuế thân, Đều đem bỏ hết cho dân khỏi phiền.

Hội hè, tín ngưỡng, báo chương, Họp hành, đi lại cố quyền tự do.

Nông dân có ruộng, có bò,

Đủ ân, đủ mặc, khỏi lo cơ hàn.

Công nhân làm lụng gian nan, Tiẽn lương phải đủ, mỗi ban tám giờ

Gặp khi tai nạn bất ngờ, Thuốc thang Chính phủ bấy giờ giúp cho.

Thương nhân buôn nhỏ bán to, Môn bài thuế ấy bỏ cho phỉ nguyền.

Nào là những kẻ chức viên, Cải lương đãi ngộ cho yên tấm lòng.

Binh lính giữ nước cđ công, Được dân trọng đãi, hết lòng kính yêu.

Thanh niên có trường học nhiều, Chính phủ trỢ cấp trò nghèo, bần nho.

Dàn bà cũng được tự do, Bất phân nam nữ, đều cho bình quyền.

Ngưòi tàn tật, kẻ lâo niên, Dều do Chính phủ cấp tiền ản cho.

Trẻ em, bố mẹ khỏi lo,

Trang 34

Dạy nuôi, Chính phủ giúp cho đù đày.

Muốn làm đạt mục đích này, Chúng ta trước phải ra tay kết đoàn.

Sao cho từ Bắc chí Nam, Việt-minh hội cố muôn vàn hội viên.

Người cd sức, đem sức quyên,

Ta cố tiền của, quyên tiền của ta.

Trên vì nước, dưới vì nhà,

Áy là sự nghiệp, ấy là công danh.

M ư ờ i chính sách của Việt M ình (¡044^ T.3 trJ52453

1 Công nhản. Ngày làm 8 giờ Định tiền lương tối thiểu Công việc làm như nhau nhận tiền lương ngang nhau Cứu tế thất nghiệp Xã hội bảo hiểm Cấiĩi đánh đập, chửi máng Thủ tiêu các giấy giao kèo nô lệ, lập các giấy giao kèo chung của chủ và thợ Công nhân già

Trang 35

hết sức giúp các nhà có vốn tự do kinh doanh Bỏ thuế môn bài và các thứ tạp thuế do đế quốc đặt ra.

7 Vién chức. Hậu đâi viên chức xứng đáng với công học hành của họ.

8 Người già và kẻ tàng tật. Được Chính phủ châm nom và cấp dưỡng.

9 Nhi dòng. Được Chính phủ săn sóc đặc biệt về thể dục và trí dục.

10 Hoa kiều. Được Chính phủ bảô chứng tài sản an toàn: được đối đãi như dân tối huệ quốc.

Chương ữình Việĩ Minh - T3 ĩr.421422.

1 Thi hành luật lao động, ngày làm việc 8 giờ.

2 Giúp đỡ các gia đình đông con,

3 Lập ấu tri viên để chăm nom trẻ con.

4 Lập các n h à chiếu bóng, diễn kịch, câu lạc bộ, thư viện để nâng cao trình độ trí dục cho nhân dân.

5 Lập thêm nhà thương, nhà đỡ đẻ, nhà dưỡng lâo.

Chương trình Việt Minh - T3 tr.422.

Hơn hai triệu đồng bào chúng ta đã chết đdi vỉ chính sách độc ác này Vừa rồi nạn lụt đâ phá hoại tám tỉnh sản xuất lúa gạo Điều đó càng làm cho tình hình tràm trọng hơn Những người thoát chết đdi nay cũng bị đdi Chúng ta phải làm thế nào cho họ sống.

Tôi đề nghị với Chính phủ ià phát động một chiến dịch tảng gia sán xuất.

Trong khi chờ đợi ngô, khoai và những thứ lương

Trang 36

thực phụ khác, phải ba bốn tháng mới có, tôi đề nghị

mở một cuộc lạc quyên Mưòi ngày một làn, tất cả đồn,g bàc chúng ta nhịn ăn một bữa Gạo tiết kiêm được SG góp lại và phát cho người nghèo.

N hĩm g nhiệm Vĩi cấp bách ảưĩ Nhà n ư ớ c Việ\

N am dân chủ cộng hòa (3-9-Ỉ945}- TA, tr.A

Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đó; khổ, chúng ta không khòi động lòng.

Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tòi xir thực hành trước:

Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi thảng nh ịn bc bữa Dem gạo đó (mỗi bữa một bơ) dể cứu dản nghèo.

Như vậy, thì những người nghèo sẽ có bữa rau, bữ£ cháo để chờ mùa lúa nám sau, khỏi đến nỗi chết đdi Tôi chác rằng đồng bào ta ai củng sẵn lòng cứu khổ cứu nạn, mà háng hái hưởng ứng lời đề nghị nđi trên Tôi xin thay mặt dân nghèo mà cảm ơn các đò ng bào

Thư gử i đòng bào toàn quốc gia sức cứĩi đói- TA tĩ27.

Chính phủ ta đã hứa với dân, sẽ gắng Siức làư cho ai nấy đều cd phàn hạnh phúc Trong việc kiến thiếi nước nhà, sửa sang mọi việc, phải làm dần dầiiự khôn^ thể một tháng, một năm mà làm được hết Song mgay tì bước đầu, chúng ta phải theo đứng phương châm.

Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm.

Việc gỉ hại đến dân, ta phải hết sức tránh.

36

Trang 37

Chúng ta phải yêu dân, kính dân, thỉ dân mới yêu

Cái mục đích chúng ta đi đến là 4 điều đd Đi đến

để dân nước ta xứng đáng với tự do độc lập và giúp sức được cho tự do độc lập.

Bái p h á biầii tại aiộc họp dmi tiên a h ù)> tfcm nghiên

á m k ẽ hoạch kiẽn qiiốc (Ỉ0-Ỉ-Ỉ946)- TA rrẴ7-88,

Sau hết chương trỉnh nội chính của Chính phủ và quân dân ta chỉ cd 3 điều mà thồi:

a- Tăng gia sản xuất để làm cho dân ai cũng đủ mặc, đủ ăn.

b- Mở mang giáo dục để cho ai nấy cũng biết đọc biết viết.

c- Thực hành dân chủ để làm cho dân ai củng được hường quyền dân chủ tự do.

Chính sách ngoại giao của Chính phủ thì chỉ một iiều tức là thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên :hế giới để giữ gỉn hòa bỉnh.

Trang 38

Sự thật là rất giàn đơn như thế, mong đồng bào hiểu

rõ, chớ mắc lừa bọn thực dân.

Thư chúc tẽ Ị đòng bào Neun Bộ (ngày 24 ỉháng ỉ năm Ĩ947) - TA, tr.256.

1 Mục đích: Làm cho người nghèo thì đủ ăn.

Người đủ ân thì khá giàu

Người khá giàu thì giàu thêm.

Người nào cũng biết chữ,

Người nào cũng biết đoàn kết, yêu nước.

2 Cách làm: Đem tài dân, sức dân, của dân, làm lợi cho dân.

Thanh Hóa kỉầii mẫu - J.4, tr287.

Làm thế nào cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn Đđ là mục đích đời sống mới.

Đ ờ i sống m ới (20-3-Ĩ947)' TA trJ23.

Muốn có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, đường đi, thì phải làm Từ trước đến giờ, ta vẫn có làm, vẫn cd cơm, áo, nhà, đường sá Nhưng vì làm chưa hợp lý cho nên số đông dân ta án đói, mặc rách, nhà cửa chật hẹp, đường

sá gập ghềnh Người nghèo khổ thì nhiều, người no ấm thì ít Đời sống mới không phải cao xa gì, cũng không phải khd khản gì Nđ không bảo ai phải hy sinh chút

gỉ Nó chỉ sửa đổi những việc rất cần thiết, rất phổ thông, trong đời sống của mọi người, tức là sửa đổi cách

àn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc.

3 8

Trang 39

Sửa đổi được những điều đó thỉ mọi người đều được hưởng hạnh phúc Mà chắc sửa đổi được, vì nó không

cđ ^ là gay go, khố làm.

Đ ời sống m ới (20-3-1947)- T.4, trJ23-324.

Chương trỉnh kiến thiết của Việt Nam bước đầu là làm cho dân khỏi khổ, khỏi dốt Muốn như thế thì chúng tôi phải ra sức tăng gia sản xuất, muốn tăng gia sản xuất rộng rãi và chdng có kết quả, thỉ chúng tôi cần

tư bản, trí thức và lao động Dân Việt Nam rất siêng làm và chịu khó, cho nên chúng tôi đủ sức lao động.

Trà lờ i một nhà báo nước ngoái (ngàv 22 tháng

6 năm Ỉ947)- TA, ĩr384.

Viêc gì cũng càn phải thiết thực; nói được, làm được Việc gì cũng phải từ chỗ nhỏ dần dần đến to, từ dễ dàn dần đến khd, từ thấp dàn dần đến cao Một chương trỉnh nhỏ mà thực hiện được, hẳn hoi, hơn là một trăm chương trỉnh to tát mà làm không được.

Thư gừi các bạn thanh niên (Ỉ7~8'Ỉ947}- TA, tr.403.

Dân chúng rất khôn khéo, rất hãng hái, rất anh hùng.

Vì vậy, chúng ta phải học dân chúng, phải hỏi dân chúng, phải hiểu dân chúng.

Vi vậy, mỗi một khẩu hiệu, mỗi một công tác, mỗi một chính sách của chúng ta, phải dựa vào V kiến và kinh nghiệm của dân chúng, phải nghe theo nguyện vọng của dân chúng.

Trang 40

Nước lấy dân làm gốc.

Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân, vậy tất cả anh chị em các bộ đội, cơ quan Chính phủ và các đoàn thể, trong khi tiếp xúc hoậc sống chung với nhân dân, ai ai củng phải nhớ và thực hành 12 điều sau đây:

6 điầu không nên:

1 Không nên làm điều gì cd thể thiệt đến nương vườn, hoa màu, hoặc làm bẩn, làm hư nhà cửa, đò đạc của dân.

2 Không nên nãn nỉ quá hoặc mượn cho bằng được những đồ vật người ta không muốn bán hoặc cho mượn.

3 Không nên đưa gà còn sống vào nhà đồng bào miền ngược.

4 Không bao giờ sai lời hứa.

5 Không nên xúc phạm đến tín ngưỡng phong tục của dân (như nằm trước bàn thờ, giơ chân lên bếp, đánh

3 Nhân những lúc rảnh, kể cho đòng bào nghe những

Sừa đòi lối làm việc (10-Ỉ947)-TA tr5ỉ5^5ĩ6.

4 0

Ngày đăng: 14/05/2021, 20:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w