1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng mô hình trọng lực trong đo lường thương mại nội ngành hàng chế biến giữa Việt Nam với một số nước thành viên thuộc APEC

10 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 2,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô hình trọng lực (GM - Gravity Model) là mô hình kinh tế lượng - là một công cụ hữu hiệu trong việc giải thích khối lượng và chiều hướng thương mại song phương giữa các nước và sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế. Trong bài viết này tác giả sử dụng mô hình trọng lực để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thương mại nội ngành giữa Việt Nam với một số nước thành viên thuộc APEC trong giai đoạn 2000 - 2010 bằng cách sử dụng các chỉ số GL.

Trang 1

VẬN DỤNG MÔ HÌNH TRỌNG LỰC TRONG ĐO LƯỜNG

THƯƠNG MẠI NỘI NGÀNH HÀNG CHẾ BIẾN GIỮA VIỆT NAM

VỚI MỘT SỐ NƯỚC THÀNH VIÊN THUỘC APEC

Võ Thy Trang *

Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh – ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Mô hình trọng lực (GM - Gravity Model) là mô hình kinh tế lượng - là một công cụ hữu hiệu trong

việc giải thích khối lượng và chiều hướng thương mại song phương giữa các nước và sử dụng rộng

rãi trong thương mại quốc tế Trong bài viết này tác giả sử dụng mô hình trọng lực để phân tích

các yếu tố ảnh hưởng đến thương mại nội ngành giữa Việt Nam với một số nước thành viên thuộc

APEC trong giai đoạn 2000 - 2010 bằng cách sử dụng các chỉ số GL Qua đó bài viết đã đạt được

những thành công nhất định trong việc giải thích được các nguyên nhân ảnh hưởng đến thương

mại nội ngành hàng chế biến là do sự khác biệt về quy mô kinh tế, khoảng cách giữa các quốc gia,

độ mở nền kinh tế, mức độ tập trung thương mại hay quy mô dân số Phân tích sử dụng mô hình

trọng lực cho thấy tác động tích cực tới thương mại nội ngành hàng chế biến của Việt Nam trong

việc gia nhập diễn đàn hợp tác kinh tế APEC

Từ khóa: Mô hình, Trọng lực, Thương mại, thương mại nội ngành, Hàng chế biến

ĐẶT VẤN ĐỀ*

Thương mại nội ngành đang trở thành một bộ

phận quan trọng của nền thương mại thế giới

Thương mại nội ngành tạo ra thêm những cái

lợi từ thương mại quốc tế, lợi thế kinh tế theo

quy mô và sự lựa chọn gia tăng Thông qua

việc tham gia vào thương mại nội ngành, một

nước có thể cùng một lúc giảm bớt số loại sản

phẩm tự mình sản xuất ra và tăng thêm sự đa

dạng của hàng hóa cho người tiêu dùng tại thị

trường nội địa Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng

trong thương mại quốc tế giữa các quốc gia,

thương mại nội ngành ngày càng chiếm phần

lớn trong khối lượng thương mại của thế giới

Thương mại nội ngành (Intra – Industry trade

- IIT) là hoạt động của thương mại quốc tế, là

việc xuất khẩu và nhập khẩu đồng thời các

sản phẩm trong cùng một ngành hàng hay cùng

một ngành sản xuất [6].Để đánh giá các yếu tố

tác động đến thương mại nội ngành, tác giả vận

dụng mô hình trọng lực (Gravity model)

Đo lường thương mại nội ngành

Phương pháp được sử dụng nhiều nhất đo

lường Thương mại nội ngành (IIT) là chỉ số

Grubel và Lloyd (1975) (GL) Chỉ số này

* Tel: 0915 259889

được coi là phương pháp đánh giá thích hợp nhất về cơ cấu thương mại tại một thời kì

Chỉ số này được tính toán theo công thức sau:

) (

1

ijk ijk

ijk ijk

ijk

M X

M X

Trong đó: IIT là chỉ số về thương mại nội ngành; Xi là xuất khẩu và Mi là nhập khẩu, i biểu thị mặt hàng thương mại; j là quốc gia j;

k là quốc gia k Chỉ số IIT mang giá trị từ 0

 1, IIT = 0 thể hiện thương mại giữa quốc gia j và quốc gia k là thương mại liên ngành hoàn toàn; IIT = 1 thể hiện thương mại giữa quốc gia j và quốc gia k là thương mại nội ngành hoàn toàn Giá trị IIT ≥ 0,5 cho thấy thương mại giữa quốc gia j và quốc gia k chủ yếu do thương mại nội ngành gây ra IIT <

0,5 trở xuống chủ yếu do tác động của thương mại liên ngành

MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Phương trình (1) chỉ đo lường thương mại nội ngành giữa quốc gia j và quốc gia k cho từng mặt hàng chứ chưa thể đo lường tổng thương mại nội ngành giữa 2 quốc gia (tổng giá trị tất

cả các mặt hàng mà 2 quốc gia thương mại với nhau) Để tính được thương mại nội ngành giữa

2 quốc gia người ta sử dụng phương pháp bình quân gia quyền theo công thức:

(1) [3]

Trang 2

Hình 1: Mô hình trọng lực trong thương mại nội ngành

) (

1

ijk ijk

n

i

ijk jk

M X

M X

w

IIT

Trong đó: wijk là trọng số và được tính như sau:

n là số mặt hàng mà hai quốc gia thương mại

với nhau

)

ijk ijk

ijk

M X

M X

w

Do đó, công thức đo lường thương mại nội

ngành giữa 2 quốc gia được xác định:

n

i

ijl ijk

n

i

n

ijk ijk ijk

ijk

jk

M X

M X M

X

IIT

1

) (

) (

i

Mô hình các yếu tố tác động đến thương

mại nội ngành

Để phân tích tác động các yếu tố đến thương

mại nội ngành trong sản xuất giữa Việt Nam

với các nước thành viên trong khối APEC, tác

giả sử dụng mô hình trọng lực (gravity model) Đây là mô hình do Tinbergen (1962) khởi xướng và được áp dụng rộng rãi trong các nghiên cứu thực nghiệm nhằm lượng hóa tác động về mặt thương mại của các khối liên kết kinh tế (Bergstrand, 1989; Brada và Mendez, 1983; Carrère, 2006) Mô hình trọng lượng (gravity model) đã đạt được những thành công không thể phủ nhận trong việc giải thích các loại dòng chảy quốc tế và liên khu vực, trong đó có thương mại quốc tế nói chung và thương mại nội ngành nói riêng Mô hình trọng lực nghiên cứu dự đoán về dòng thương mại song phương phụ thuộc vào quy

mô nền kinh tế và khoảng cách giữa các nước

Mô hình lý thuyết cơ bản về thương mại giữa

2 nước có dạng sau:[1]

Fij = G*(MiMj)/Dij Trong đó F là dòng thương mại và M là quy

mô nền kinh tế của mỗi nước Tham số D là khoảng cách giữa 2 nước và tham số G là một hằng số Mô hình trọng lực được mở rộng để phân tích tác động của Việt Nam tham gia

(2)

(4) [2]

(3)

“Khoảng cách”

giữa hai nước

Chính sách trong

XK

Năng lực

sản xuất

của nước

XK

Các yếu tố ảnh hưởng

đến cung

Các yếu tố cản trở/

hấp dẫn

Các yếu tố ảnh hưởng đến

cầu

Các yếu tố ảnh hưởng đến thương mại nội ngành

Chính sách trong

NK

Sức mua

và thị hiếu của nước

NK

Nước nhập khẩu Nước xuất

khẩu

Trang 3

diễn đàn hợp tác kinh tế APEC có làm thay

đổi thương mại giữa các đối tác thương mại

như được giải thích bởi các biến truyền thống

trong mô hình trọng lực Mô hình này được

sử dụng để phân tích thương mại nội ngành

giữa các nước dựa trên các biến số như GDP,

dân số, khoảng cách giữa các nước , thu nhập

bình quân đầu người, khoảng cách thu nhập

giữa các nước, sự tương đồng về ngôn ngữ,

văn hóa ….[4]

sát ché

:

ijt ij ij

jt

it ij

ij jt

it ijt

LANLOCK DIST

POP

POP TO

DPGDP

DGDP GDP

GDP E

Ln

9 8

7

6 5

4

3 2

1 0

ln

ln

ln ln

ln

ln ln

ln 1

Trong đó:

Eijt là giá trị thương mại nội ngành từ quốc gia

i sang quốc gia j tại thời điểm t

GDPit là tổng sản phẩm quốc nội của quốc gia

i tại thời điểm t

GDPjt là tổng sản phẩm quốc nội của quốc gia

j tại thời điểm t

PGDP là thu nhập bình quân đầu người

DPGDP là sự khác biệt trong thu nhập bình

quân đầu người

TO là định hướng thương mại

POPit là dân số của quốc gia i tại thời điểm t

POPjt là dân số của quốc gia j tại thời điểm t

DISTij là khoảng cách giữa quốc gia i và quốc

gia j

LANLOCKj là

)

LANLOCKj = 1 nếu quốc gia j

0 nếu quốc gia j

Giả thuyết

Mối quan hệ giả thuyết giữa thương mại nội ngành và đặc điểm quốc gia được thảo luận rộng rãi trong lý luận Nghiên cứu này dựa trên các nghiên cứu trước đây và nhằm mục đích để kiểm tra các giả thuyết sau đây: (1) Quy mô kinh tế càng lớn, thương mại nội ngành càng được mở rộng

(2) Sự khác biệt về quy mô kinh tế càng lớn, thương mại nội ngành càng bị thu hẹp

(3) Thu nhập bình quân đầu người càng lớn, thương mại nội ngành càng được mở rộng (4) Sự chênh lệch về thu nhập bình quân đầu người càng lớn, thương mại nội ngành càng bị thu hẹp

(5) Định hướng thương mại càng nhiều, thương mại nội ngành càng được mở rộng (6) Khoảng cách địa lý càng lớn, thương mại nội ngành càng bị thu hẹp

Trong bài viết này, tác giả sử dụng số liệu hỗn hợp trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2010 về xuất khẩu và nhập khẩu giữa Việt nam và một số nước thuộc thành viên APEC, ở mức 3 chữ số theo tiêu chuẩn phân loại thương mại quốc tế (SITC) Số liệu

về giá trị xuất nhập khẩu được thu thập từ Niên giám Thống kê Hải quan về hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu Việt Nam và từ IMF-Direction of Trade Statistics (đĩa CD) Số liệu

về GDP, dân số được trích từ World Economic Outlook Database, IMF Số liệu về khoảng cách được thu thập từ địa chỉ

Indo.com

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả thương mại hai chiều giữa Việt Nam và APEC

Giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang các nước thành viên APEC tăng dần qua các năm Tính đến năm 2011, giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang các nước APEC đạt gần 78 tỷ USD Xuất khẩu của Việt Nam vào các nước thành viên APEC chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các khu vực trên thế giới

Trang 4

(Nguồn: Niên giám Thống kê Hải quan về hàng hóa XNK Việt Nam[5])

Trong những năm qua kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam có xu hướng tăng dần, riêng năm 2009

do tác động của khủng hoảng kinh tế nên xuất khẩu có xu hướng giảm xuống Từ 2010 đến nay, mỗi năm tăng trung bình khoảng 12 triệu USD

Nguồn: Niên giám Thống kê Hải quan về hàng hóa XNK Việt Nam[4]

Nguồn: Niên giám Thống kê Hải quan về hàng hóa XNK Việt Nam[5]

Xuất khẩu của Việt Nam sang các nước thành viên APEC

0

10000

20000

30000

40000

50000

60000

70000

80000

90000

Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011

Series1

Tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam vào các nước thành viên APEC

54

56

58

60

62

64

66

68

70

72

74

Năm

1998

Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011

Trang 5

Trong những năm gần đây, tổng kim ngạch

xuất khẩu của Việt Nam, xuất khẩu vào các

nước thành viên APEC chiếm trung bình tới

65%, đặc biệt năm 2005, 2006 chiếm trên

70% giá trị xuất khẩu

Các nước thành viên APEC đã trở thành thị

trường chính của Việt Nam Năm 2011, 08 thị

trường cho hàng xuất khẩu lớn nhất đều là

thành viên của APEC: trong đó lớn nhất là

Hoa Kì (với trị giá XK sang Hoa Kì là

16970.42 triệu USD), tiếp theo là Nhật Bản

11091.71 triệu USD và Trung Quốc là

11613.32 triệu USD Trong danh sách các

nước và vùng lãnh thổ nhập khẩu hàng hóa lớn nhất của Việt Nam đều là thành viên APEC với giá trị nhập khẩu trên 02 tỷ USD Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong năm

2011 có bước nhảy vọt, đạt 96,91 tỷ USD, tăng 34,2% so với năm 2010 Trong đó có 23 nhóm hàng đạt trên 1 tỷ USD, với tổng kim ngạch xuất khẩu của các nhóm hàng trên 1 tỷ USD đạt 85,1 tỷ USD, chiếm 87,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, trong khi đó xuất khẩu sang các nước APEC là trên 64 tỷ USD, chiếm 75% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước

Bảng 01: Các nước thuộc APEC nhập khẩu hàng đầu hàng hóa từ Việt Nam

Đơn vị tính: triệu USD

2 Trung quốc 3646.10 4535.70 4310.06 7742.95 11613.32

(Nguồn: Niên giám Thống kê Hải quan về hàng hóa XNK Việt Nam [5])

(Nguồn: Niên giám Thống kê Hải quan về hàng hóa XNK Việt Nam [5])

Việt Nam nhập khẩu từ các nước thành viên APEC

0

10000

20000

30000

40000

50000

60000

70000

80000

90000

Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011

Series1

Trang 6

Bảng 02: Nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu từ các nước thành viên APEC

Đơn vị tính: triệu USD

2 Trung quốc 12710.00 15652.10 17933.30 20203.64 24866.39

(Nguồn: Niên giám Thống kê Hải quan về hàng hóa XNK Việt Nam [5])

Bảng 03: Thương mại nội ngành hàng chế biến của Việt Nam với một số nước thuộc APEC

1 Canada 0,059 0,066 0,090 0,094 0,088 0,084 0,068 0,123 0,154 0,156 0,135

2 Hàn Quốc 0,219 0,211 0,190 0,167 0,179 0,181 0,219 0,216 0,242 0,227 0,232

3 HongKong 0,372 0,363 0,260 0,303 0,294 0,276 0,341 0,327 0,441 0,342 0,264

4 Malaysia 0,802 0,332 0,296 0,257 0,221 0,310 0,310 0,303 0,344 0,330 0,450

5 Nhật Bản 0,424 0,441 0,415 0,476 0,516 0,514 0,519 0,508 0,544 0,534 0,532

6 Trung Quốc 0,083 0,144 0,166 0,196 0,159 0,158 0,148 0,125 0,157 0,185 0,266

(Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên số liệu của IMF-Direction of Trade Statistics)

Trong năm 2011 nhập khẩu hàng hóa của cả

năm là 106,75 tỷ USD, tăng 25,8% so với

năm 2010, trong đó có 26 nhóm hàng nhập

khẩu đạt trên 1 tỷ USD Tổng kim ngạch nhập

khẩu của nhóm hàng trên 1 tỷ USD đạt 87,35

tỷ USD, chiếm 82% tổng kim ngạch nhập

khẩu của Việt Nam Trong đó nhập khẩu chủ

yếu từ các thành viên APEC được thể hiện

qua bảng 2

Trong các chương trình tự do hóa thương mại

và đầu tư của APEC, hàng hóa Việt Nam gặp

ngày càng ít trở ngại khi sang các thị trường

APEC Các dòng thuế quan của các thành

viên APEC đã giảm xấp xỉ 70% và mức thuế

quan trung bình giảm 16,9% năm 1989 xuống còn 5,5% 2004 Là một nước đang phát triển, Việt Nam có được lợi ích của việc các nước phát triển thực hiện tự do hóa thương mại và đầu tư Thị trường Việt Nam ngày càng thu hút được sự quan tâm từ các nền kinh tế thành viên của APEC

Kết quả thương mại nội ngành giữa Việt Nam với một số nước thành viên thuộc APEC

Nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu từ các nước thành viên APEC (Năm 2011)

Australia China Indonesia Japan Korea Malaysia Singapore Thailand Mỹ

Trang 7

số nước đối tác thuộc nhóm APEC có xu

các năm Năm 2000 chỉ số IIT là 0,424,

nhưng đến 2010 tăng lên

Tiếp sau đó là hai nước đối t

0,359; Trung Quốc đạt 0,162 và HongKong đạt 0,326

Hồng Kông

2000 đạt 0,372, nhưng sau

phẩm chế biến đó là Malaysia và Hàn Quốc

có biến đ

Trong các có

mại nội ngành theo chiều ngang là cao nhất, trung bình đạt mức 0,254/năm Malaysia chỉ ở mức 0,023 năm 2009 nhưng đến năm 2010 tăng vọt lên đứng ở vị trí thứ hai, đạt m

ngành th chiều hướng giảm

mặt hàng có phẩm cấp khác nhau là: Malaysia, Hongkong, Hàn Quốc Theo chiều hướng tăng có: Trung Quốc; Nhật Bản; Canada Theo chiều hướng giảm có: Hàn Quốc, HongKong, Malaysia

Bảng 04: Thương mại nội ngành hàng chế biến theo chiều ngang

Quốc gia 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010

1 Canada 0,032 0,013 0,024 0,020 0,021 0,019 0,018 0,024 0,040 0,027 0,022

2 Hàn Quốc 0,083 0,092 0,077 0,064 0,074 0,074 0,069 0,092 0,125 0,109 0,116

3 HongKong 0,139 0,146 0,144 0,183 0,155 0,155 0,174 0,178 0,253 0,233 0,131

4 Malaysia 0,009 0,009 0,015 0,026 0,023 0,007 0,012 0,017 0,022 0,023 0,212

5 Nhật Bản 0,139 0,184 0,204 0,247 0,238 0,277 0,280 0,301 0,313 0,301 0,307

6 Trung Quốc 0,024 0,048 0,071 0,083 0,076 0,078 0,082 0,075 0,073 0,094 0,131

(Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên số liệu của IMF-Direction of Trade Statistics)

Bảng 05: Thương mại nội ngành hàng chế biến theo chiều dọc

Quốc gia 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010

1 Canada 0,027 0,053 0,066 0,074 0,066 0,064 0,050 0,099 0,114 0,130 0,113

2 Hàn Quốc 0,136 0,12 0,113 0,102 0,105 0,107 0,15 0,123 0,117 0,119 0,116

3 HongKong 0,233 0,217 0,116 0,12 0,139 0,121 0,167 0,149 0,188 0,110 0,133

4 Malaysia 0,792 0,323 0,282 0,231 0,198 0,303 0,298 0,287 0,322 0,306 0,237

5 Nhật Bản 0,000 0,003 0,017 0,011 0,004 0,030 0,050 0,087 0,076 0,027 0,226

6 Trung Quốc 0,059 0,096 0,095 0,113 0,084 0,079 0,066 0,050 0,084 0,087 0,135

(Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên số liệu của IMF-Direction of Trade Statistics)

Trang 8

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm

Bảng 06: Kết quả của mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên

- 0,22 -0,33

-0,04 -1,14 0,079 1,66 Mất cân bằng trong thương mại giữa hai quốc gia -0,052* -2,44

R2: 0.75

Số quan sát: 9560

Ghi chú: * Mức ý nghĩa 0,05; ** Mức ý nghĩa 0,01 ( Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả)

Số liệu tại Bảng 06 cho thấy mô hình Gravity

rất phù hợp với số liệu, giải thích được phần

lớn sự thay đổi trong mức độ thương mại nội

ngành hàng chế biến của Việt nam với một số

nước thuộc thành viên APEC Cụ thể là 75%

sự thay đổi về thương mại nội ngành có thể

được giải thích bằng mô hình.Về cơ bả

số của các biến đều mang giá trị

Hầu hế ố của các biến quan trọng đều có

ý nghĩa thống kê cao Điều này cho thấy kết

ề mặt lý thuyết Mức độ tập trung

thương mại là biến có tác động lớn nhất đến

thương mại nộ ố của biến này

mức 0,01 Điều này cho thấy các quốc gia có

mức độ tập trung thương mại cao sẽ có khả

năng dẫn đến mức độ thương mại nội ngành

cao Biến “GDP bình quân đầu người củ

biến quan trọng thứ ố

mức 0,01 Điều này cho thấy rằng khi thu

nhập bình quân đầu người củ

lên thì mức độ thương mại nội ngành cũng

quốc gia” mang giá trị âm nhưng lại không có

ý nghĩa thống kê Mặc dù vậy, kết quả cũng cho thấy rằng các quốc gia có GDP tương đồng nhau sẽ có mức độ thương mại nộ

ớn hơn Các quố

ề GDP thì mức độ thương mại nộ

của biến “Khoảng cách giữa hai quốc gia”

nhau về mặt địa lý thường sẽ trao đổi buôn bán với nhau ít hơn so với các quốc gia gần nhau hơn về mặt địa lý Do đó, mức độ thương mại nộ ữa các quố

cũng thấ ố của biến “Mất cân bằng trong thương mại giữa hai quốc gia” mang giá

thấy rằng các quốc gia có cán cân thương mại

thì mức độ thương mại nộ ữa các

Trang 9

so với các quốc gia có m

thương

Do đó

KẾT LUẬN

Bài viết này sử dụng mô hình trọng lực để

phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thương

mại nội ngành hàng chế biến giữa Việt Nam

với một số nước thành viên thuộc APEC

trong giai đoạn 2000 - 2010 bằng cách sử

dụng các chỉ số GL Phân tích sử dụng mô

hình trọng lực cho thấy tác động tích cực tới

thương mại của Việt Nam gia nhập diễn đàn

hợp tác kinh tế APEC trong những năm gần

đây Sự tập trung thương mại của nền kinh tế

với tiềm năng sản xuất càng lớn, thương mại

nội ngành càng phát triển; quy mô thị trường lớn hơn sẽ tác động đến quy mô các nền kinh

tế và thu hẹp sự khác biệt trong thu nhập bình quân đầu người, càng có khả năng người tiêu dùng sẽ chia sẻ những sở thích tương tự Một gợi ý chính sách nữa xuất phát từ tác động của biến định hướng thương mại đến thương mại nội ngành là nông sản và các mặt hàng chế tạo sử dụng nhiều lao động là những lĩnh vực được hưởng lợi nhiều nhất từ khu này Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng càng mở cửa nền kinh tế, thì lợi ích thu được

từ thương mại nội ngành càng lớn Một lợi ích quan trọng của tự do hóa thương mại không phân biệt đối xử sẽ là cơ hội để sử dụng hàng nhập khẩu với giá rẻ nhất từ các nguồn tốt nhất và điều này sẽ có thể phân bổ lại nguồn lực để sản xuất hàng nội địa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bergstrand, J H (1989), „The Generalized Gravity Equation, Monopolistic Competition, and the Factor Proportion Theory in International

Trade,‟ The Review of Economics and Statistics 71: 43-153

: Xu hướng và các yếu tố quyết

định, thị trường mới”, Review, 4, 3, 273-286

3 Lancaster, K (1980), “Thương mại nội ngành

trong cạnh tranh hoàn hảo", Tạp chí Kinh tế Quốc

tế 10 (2): 151-175

4 Nguyễn Trần Dũng, (2011), “Tác động của

FATA tới thương mại Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế

và kinh doanh 27, ĐHQGHN: 226 – 227

kê Hải quan

6 Nguyễn Văn Tuấn và Trần Hòe, Giáo trình Thương mại Quốc tế, Nxb ĐH Kinh tế quốc dân,

năm 2008

Trang 10

SUMMARY

USING GRAVITY MODEL IN MEASUREMENT INTRA-INDUSTRY TRADE MANUFACTURES BETWEEN VIETNAM AND OTHER ASIA PACIFIC

ECONOMIC COOPERATION (APEC) COUNTRIES

Vo Thy Trang *

Gravity model (GM) is the econometric model - is a powerful tool in explaining the volume and direction of bilateral trade between countries and widely used in international trade In this article the author uses a gravity model to analyze the factors that affect intra-industry trade between Vietnam and other countries belong to APEC over the period 2000 - 2010 using the GL index Through this article has achieved certain success in explaining the causes affecting internal trade processing sector is due to differences in economic size , distance between countries , the openness economy, trade concentration or population size The analysis uses a gravity model shows effects intra industry trade manufactures of Vietnam in joining the forum Economic Cooperation APEC

Key words: Model, Gravity, Trade, Intra industry trade, Manufactures

Ngày nhận bài:03/12/2013; Ngày phản biện:15/12/2013; Ngày duyệt đăng: 17/3/2014

Phản biện khoa học: TS Phạm Công Toàn – Trường Đại học Kinh tế & Quản trị Kinh doanh - ĐHTN

* Tel:

Ngày đăng: 14/05/2021, 20:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w