1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình nghiên cứu về các tộc người ở Việt Nam của Bảo tàng dân tộc học Việt Nam - Lưu Hùng

66 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 844,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu Tình hình nghiên cứu về các tộc người ở Việt Nam của Bảo tàng dân tộc học Việt Nam của tác giả Lưu Hùng giới thiệu tới người đọc danh mục các công trình nghiên cứu về các tộc người tại Việt Nam do Bảo tàng dân tộc học Việt Nam thực hiện trong gia đoạn từ 1996 đến 2012. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.

Trang 1

TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC TỘC NGƯỜI Ở VIỆT NAM CỦA BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM (1996 - 2012)

LƯU HÙNG

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Theo Quyết định số 689/TTg ngày 24/10/1995 của Thủ tướng Chính phủ, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (DTHVN) chính thức được thành lập, trực thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) và đặt trong hệ thống bảo tàng quốc gia của Việt Nam Trong quá trình xây dựng

và phát triển, tuy chức năng và nhiệm vụ của Bảo tàng DTHVN đã được chỉnh lý vài lần, nhưng chức năng nghiên cứu về các dân tộc luôn được khẳng định và đặt ở vị trí thứ nhất Hiện nay các chức năng của Bảo tàng DTHVN được quy định như sau: “nghiên cứu khoa học, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, phục chế hiện vật và tư liệu về các dân tộc;

tổ chức trưng bày, trình diễn và những hình thức hoạt động khác, nhằm giới thiệu, phổ biến và giáo dục về những giá trị lịch sử, văn hoá của các dân tộc trong và ngoài nước; cung cấp tư liệu nghiên cứu về các dân tộc cho các ngành; đào tạo cán bộ nghiên cứu, nghiệp vụ, quản lý về nhân học và bảo tàng học” (Quyết định số 1595/QĐ-KHXH ngày 26/11/2010 của Chủ tịch Viện KHXHVN về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo tàng DTHVN)

Là một bảo tàng, nên nếu so với những cơ quan nghiên cứu chuyên ngành như Viện Dân tộc học, việc nghiên cứu về các dân tộc của Bảo tàng DTHVN vừa có những điểm chung, vừa có một số yêu cầu và đặc điểm riêng Có thể khẳng định rằng:

“nghiên cứu là rất cần thiết đối với Bảo tàng DTHVN, để phục vụ từ sưu tầm cho đến trưng bày hay trình diễn Mỗi cuộc trưng bày, trình diễn cũng như mỗi sản phẩm khác của Bảo tàng, muốn thành công đều phải dựa trên nghiên cứu và sử dụng các kết quả nghiên cứu - sưu tầm” (Lưu Hùng, 2011, tr 84) Suốt những năm qua, trong lĩnh vực nghiên cứu đang đề cập ở đây, Bảo tàng DTHVN đã xác định và thực hiện theo một định hướng chung hợp lý như sau: “Nghiên cứu nhân học/dân tộc học trước hết ưu tiên gắn với sưu tầm và phục vụ các cuộc trưng bày hay trình diễn Bên cạnh đó, cũng có những công trình nghiên cứu khác, nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, tuy không gắn trực tiếp với sưu tầm và không phục vụ tức thời cho việc tổ chức trưng bày hay trình diễn, nhưng vẫn được Bảo tàng quan tâm” (Lưu Hùng, 2011, tr 83)

Trong 17 năm kể từ khi Bảo tàng DTHVN được thành lập đến nay, về mặt tổ chức, Bảo tàng luôn có những bộ phận chuyên đảm trách công việc nghiên cứu - sưu tầm Đó là các phòng nghiên cứu - sưu tầm được phân chia theo địa bàn công tác, trước đây gồm 4 phòng: Đồng bằng và ven biển, Miền núi miền Bắc, Trường Sơn - Tây nguyên, Đông Nam Á và khu vực; hiện nay gồm 2 phòng: Việt Nam và nước ngoài Tuy

Trang 2

nhiên, không ít cán bộ thuộc những bộ phận khác cũng tham gia nghiên cứu về các dân tộc Kết quả, đã có nhiều công trình nghiên cứu và ấn phẩm về các dân tộc ở nước ta được tập thể Bảo tàng DTHVN hoặc cá nhân những tác giả công tác tại Bảo tàng thực hiện và công bố Bản danh mục rất dài trong bài viết này1 được tập hợp chỉ trong phạm

vi 17 năm ấy; đối với mỗi tác giả cụ thể, cũng chỉ tính trong khoảng thời gian họ đang

là thành viên của Bảo tàng Trong bản danh mục có bao gồm cả vài công trình tuy tác giả không thuộc Bảo tàng DTHVN, nhưng các công trình đó được thực hiện và xuất bản với sự hợp tác của Bảo tàng DTHVN

Thực ra, bản danh mục nói trên mới chỉ tập hợp được một cách cơ bản, hay nói cách khác, chưa phải là hết tất cả các công trình nghiên cứu và ấn phẩm về các dân tộc nước ta của Bảo tàng DTHVN kể từ năm 1996 tới năm 20122 Mặc dù vậy, qua đó có thể rút ra được một số nhận xét đại quát về thực trạng tình hình nghiên cứu các tộc người ở Việt Nam của Bảo tàng DTHVN, một cơ quan văn hoá và khoa học về các dân tộc Cũng cần nói thêm, tuy đây là bài viết về tình hình nghiên cứu, nhưng chỉ đơn thuần

đề cập trên cơ sở số lượng các công trình và ấn phẩm, hoàn toàn không đi vào nội dung hay xem xét về chất lượng của các nghiên cứu đó

Nếu sắp xếp một cách ước định các công trình nghiên cứu và ấn phẩm (từ đây gọi chung là công trình) dựa trên ba tiêu chí: tộc người, khu vực, vấn đề, thì có thể thấy một bức tranh tổng thể như sau:

1 Nghiên cứu theo tộc người

1.1 Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường

Có 3 dân tộc được nghiên cứu, với 62 công trình, chiếm hơn 26,7% trong tổng số công trình được tập hợp Cụ thể như sau:

- Người Việt: 59 công trình (95,16% tổng số của nhóm ngôn ngữ Việt - Mường)

- Người Mường: 2 công trình (3,22% trong nhóm này)

- Người Thổ: 1 công trình (1,61% trong nhóm này)

1.2 Nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ-me

Có 9 dân tộc được nghiên cứu, với 30 công trình, chiếm 12,93% trong tổng số công trình được tập hợp Cụ thể như sau:

- Người Cơ-tu: 8 công trình (26,66% tổng số của nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ-me)

1

Như đã trình bày trong lời giới thiệu của số chuyên đề, do dung lượng có hạn nên Tạp chí Dân tộc học không thể đăng tải phần Phụ lục của bài viết nhằm thống kê số công trình nghiên cứu của các đơn vị Phụ lục đó sẽ được công bố cùng bài viết này trên website của Viện Dân tộc học

2

Ngoài ra, còn có khá nhiều công trình nữa tham gia các đề tài, chương trình nghiên cứu hoặc hội thảo, và đặc biệt là có rất nhiều bài viết đăng trên các tạp chí như: Dân tộc & Thời đại, Văn nghệ dân tộc & miền núi, Du lịch Việt Nam, Nghiên cứu Phật học, Xưa & nay

Trang 3

- Người Giẻ-Triêng: 6 công trình (20% trong nhóm này)

- Người Mnông: 5 công trình (16,66% trong nhóm này)

- Người Ba-na: 3 công trình (10% trong nhóm này)

- Người Khơ-mú: 3 công trình (10% trong nhóm này)

- Người Bru-Vân Kiều: 2 công trình (6,66% trong nhóm này)

- Người Tà-ôi: 1 công trình (3,33% trong nhóm này)

- Người Co: 1 công trình (3,33% trong nhóm này)

- Người Xơ-đăng: 1 công trình (3,33% trong nhóm này)

1.3 Nhóm ngôn ngữ Tày - Thái

Có 5 dân tộc được nghiên cứu, với 57 công trình, chiếm 24,57% trong tổng số công trình đã được tập hợp Cụ thể như sau:

- Người Thái: 37 công trình (64,91% tổng số của nhóm ngôn ngữ Tày - Thái)

- Người Tày: 11 công trình (gần 19,3% trong nhóm này)

- Người Lào: 5 công trình (8,77% trong nhóm này)

- Người Nùng: 3 công trình (5,26% trong nhóm này)

- Người Giáy: 1 công trình (1,75% trong nhóm này)

1.4 Nhóm ngôn ngữ Kađai

Chỉ có người La Chí được nghiên cứu, với 1 công trình, chiếm 0,43% trong tổng

số công trình đã được tập hợp

1.5 Nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao

Có 3 dân tộc được nghiên cứu, với 47 công trình, chiếm 20,26% trong tổng số công trình đã được tập hợp Cụ thể như sau:

- Người Dao: 25 công trình (53,19% tổng số của nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao)

- Người Hmông: 20 công trình (42,55% trong nhóm này)

- Người Pà Thẻn: 2 công trình (4,25% trong nhóm này)

- Người Dao và Hmông (chung): 1 công trình (2,13% trong nhóm này)

Trang 4

- Người Hà Nhì: 4 công trình (23,5% trong nhóm này)

- Người Si La: 4 công trình (23,5% trong nhóm này)

- Người La Hủ: 3 công trình (17,65% trong nhóm này)

1.7 Nhóm ngôn ng ữ Malayo - Polynesia

Có 4 dân tộc được nghiên cứu, với 18 công trình, chiếm 7,76% trong tổng số công trình được tập hợp Cụ thể như sau:

- Người Gia-rai: 7 công trình (38,89% tổng số của nhóm ngôn ngữ Malayo -

Polynesia)

- Người Chăm: 5 công trình (27,77% trong nhóm này)

- Người Ê-đê: 4 công trình (22,2% trong nhóm này)

- Người Chu-ru: 2 công trình (hơn 11% trong nhóm này)

Như vậy, tổng số có 232 công trình nghiên cứu theo tộc người, đề cập đến 29 dân tộc thuộc 7 nhóm ngôn ngữ Trong số 29 dân tộc đó, có thể phân loại như sau:

- 6 dân tộc thuộc loại có 1 công trình

- 4 dân tộc thuộc loại có 2 công trình

- 4 dân tộc thuộc loại có 3 công trình

- 3 dân tộc thuộc loại có 4 công trình

- 3 dân tộc thuộc loại có 5 công trình

- 2 dân tộc thuộc loại có 6 công trình

- 1 dân tộc thuộc loại có 7 công trình

- 1 dân tộc thuộc loại có 8 công trình

- 1 dân tộc thuộc loại có 11 công trình

- 1 dân tộc thuộc loại có 20 công trình

- 1 dân tộc thuộc loại có 25 công trình

- 1 dân tộc thuộc loại có 37 công trình

- 1 dân tộc thuộc loại có 59 công trình

Nếu coi từ 10 công trình trở lên là những con số thể hiện sự chú trọng nghiên cứu hơn, có 5 dân tộc thuộc loại này: Việt (59 công trình), Thái (37 công trình), Dao (25 công trình), Hmông (20 công trình) và Tày (11 công trình) Nếu lấy mốc tính là trên 5 công trình, có 9 dân tộc: ngoài 5 dân tộc vừa kể, thêm 4 dân tộc nữa là: Cơ-tu (8 công trình), Gia-rai (7 công trình), Phù Lá (6 công trình) và Giẻ-Triêng (6 công trình)

Trang 5

Trong khi đó, nếu coi sự chưa chú trọng nghiên cứu thể hiện ở chỗ chỉ có 1 công trình riêng biệt, thì có 6 dân tộc thuộc loại này: Thổ, Giáy, Tà-ôi, Co và Xơ-đăng

Bên cạnh đó, đặc biệt đáng chú ý là còn tới 25 dân tộc không hề có công trình nghiên cứu riêng biệt nào: Chứt, Lự, Bố Y, Sán Chay, Sán Dìu, Hoa, Ngái, Cống, Lô Lô, Pu Péo,

Cờ Lao, La Ha, Xinh-mun, Kháng, Mảng, Ơ-đu, Hrê, Brâu, Rơ-măm, Mạ, Cơ-ho, Xtiêng, Chơ-ro, Khơ-me, Raglai

Mặc dù ở Việt Nam có 8 nhóm ngôn ngữ - tộc người, nhưng các công trình chỉ

phân bố ở 7 nhóm, còn về các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Hán thì không có một công

trình riêng biệt nào Giữa 7 nhóm ngôn ngữ kia cũng có sự khác nhau về số dân tộc được nghiên cứu, không kể mức độ chú trọng nhiều hay ít Điều này được phản ánh rõ nét qua các số liệu dưới đây:

- Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường: 3/4 dân tộc

- Nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ-me: 9/21 dân tộc

- Nhóm ngôn ngữ Tày - Thái: 5/8 dân tộc

- Nhóm ngôn ngữ Kađai: 1/4 dân tộc

- Nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao: 3/3 dân tộc

- Nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến: 4/6 dân tộc

- Nhóm ngôn ngữ Malayo - Polynesia: 4/5 dân tộc

2 Nghiên cứu theo vùng

Tổng cộng có 233 công trình, nghiên cứu trên cả 5 vùng lãnh thổ

2.1 Vùng đồng bằng Bắc Bộ: Có 35 công trình, chiếm hơn 15% tổng số công trình nghiên cứu của cả 5 vùng Những nghiên cứu ở vùng này đều tập trung vào người Việt

2.2 Vùng miền núi miền Bắc: Có 129 công trình, chiếm 55,36% tổng số công

trình nghiên cứu của cả 5 vùng Những nghiên cứu ở vùng này tập trung vào 16 dân

tộc: Thái (37 công trình), Hmông (20 công trình), Dao (25 công trình), Tày (11 công trình), Phù Lá (6 công trình), Lào (5 công trình), Hà Nhì (4 công trình), Si La (4 công trình), La Hủ (3 công trình), Nùng (3 công trình), Khơ-mú (3 công trình), Mường (3 công trình), Pà Thẻn (2 công trình), Thổ (1 công trình), Giáy (1 công trình), La Chí (1 công trình)

2.3 Vùng ven biển miền Trung: Có 15 công trình, chiếm 6,43% tổng số công

trình nghiên cứu của cả 5 vùng Những nghiên cứu ở vùng này tập trung cả vào hai dân

tộc là Việt và Chăm

Trang 6

2.4 Vùng miền núi Bắc Trung Bộ & Tây Nguyên: Có 49 công trình, chiếm hơn

21% tổng số công trình nghiên cứu của cả 5 vùng Trong đó, 11 công trình đi vào những vấn đề chung trong vùng, còn 37 công trình khác nghiên cứu riêng biệt về 11 dân tộc: Cơ-

tu (6 công trình), Gia-rai (7 công trình), Giẻ-Triêng (6 công trình), Mnông (4 công trình), Ba-na (3 công trình), Bru-Vân Kiều (2 công trình), Ê-đê (2 công trình), Chu-ru (2 công trình), Xơ-đăng (1 công trình), Co (1 công trình), Tà-ôi (1 công trình)

2.5 Vùng đồng bằng Nam Bộ: Có 5 công trình, chiếm 2,15% tổng số công trình nghiên cứu của cả 5 vùng Trong đó, 1 công trình đề cập vấn đề chung trong vùng, còn 4 công trình khác nghiên cứu riêng biệt về 2 dân tộc: Việt (2 công trình) và Chăm (2 công trình)

3 Nghiên cứu theo vấn đề

Có thể phân chia thành hai mảng lớn: 1) Nghiên cứu kiểu truyền thống hay kiểu hàn lâm; và 2) Nghiên cứu phát triển Trong mỗi mảng này lại bao gồm những lĩnh vực, chủ đề khác nhau

3.1 Nghiên cứu kiểu truyền thống

Có 221 công trình thuộc mảng này, chiếm 82,46% tổng số công trình nghiên cứu của cả hai mảng, phân bố trên 5 lĩnh vực sau:

- Về lý thuyết: 1 công trình, chiếm khoảng 0,45%

- Về dân tộc chí, lịch sử và quan hệ tộc người: 39 công trình, chiếm khoảng 17,64%

- Về văn hoá vật chất: 83 công trình, chiếm hơn 37,55%, trong đó:

+ Vấn đề chung: 7 công trình (8,43% số công trình văn hoá vật chất)

+ Trang phục: 13 công trình (15,66% số công trình văn hoá vật chất)

+ Nhà cửa: 22 công trình (25,5% số công trình về văn hoá vật chất)

+ Ẩm thực: 4 công trình (4,82% số công trình về văn hoá vật chất)

+ Hoạt động mưu sinh: 7 công trình (8,43% số công trình về văn hoá vật chất) + Nghề thủ công: 29 công trình (gần 35% số công trình về văn hoá vật chất)

- Về văn hoá xã hội: 28 công trình, 12,67%, trong đó:

+ Phong tục chu kỳ đời người: 13 công trình (46,43% số công trình về văn hoá

Trang 7

+ Tín ngưỡng - tôn giáo: 44 công trình (62,85% số công trình về văn hoá tinh thần) + Tri thức dân gian: 12 công trình (17,14% số công trình về văn hoá tinh thần) + Lễ hội: 6 công trình (8,57% số công trình về văn hoá tinh thần)

+ Trò chơi dân gian: 3 công trình (gần 4,3% số công trình về văn hoá tinh thần) + Nghệ thuật dân gian: 3 công trình (gần 4,3% số công trình về văn hoá tinh thần) + Hoa văn: 1 công trình (1,43% số công trình về văn hoá tinh thần)

3.2 Nghiên cứu phát triển

Có 47 công trình nghiên cứu thuộc mảng này, chiếm khoảng 17,53% tổng số công trình của cả hai mảng, bao gồm 5 vấn đề sau:

- Vấn đề đô thị hoá: 3 công trình (6,38% số công trình nghiên cứu phát triển)

- Vấn đề môi trường & tài nguyên: 5 công trình (10,63% số công trình nghiên

cứu phát triển)

- Vấn đề bảo tồn & biến đổi: 32 công trình (68,08% số công trình nghiên cứu

phát triển)

- Vấn đề dân số, dân cư: 2 công trình (4,25% số công trình nghiên cứu phát triển)

- Vấn đề chính sách & cán bộ: 5 công trình (10,64% số công trình nghiên cứu

phát triển)

Vài nhận xét

- Thứ nhất, số lượng công trình nghiên cứu không đều giữa các tộc người Có 5 tộc người được chú ý nhiều hơn cả (Việt, Thái, Dao, Hmông và Tày), chiếm khoảng 65,5% tổng số công trình theo tộc người Nếu tính từ mức trên 5 công trình thì có 9 tộc người (thêm các tộc Cơ-tu, Gia-rai, Giẻ-Triêng và Phù Lá), chiếm khoảng 77,15% tổng số công trình Trong khi đó, có 10 tộc người chỉ mới được nghiên cứu 1-2 công trình và có

25 tộc người chưa được đề cập với tư cách những công trình riêng biệt Phần lớn các tộc người dân số ít chưa được chú ý tới trong nghiên cứu chuyên sâu

- Thứ hai, số lượng công trình nghiên cứu không đều giữa các vùng miền Phần lớn các nghiên cứu tập trung vào 3 khu vực (miền núi miền Bắc, miền núi Bắc Trung Bộ

& Tây Nguyên, đồng bằng Bắc Bộ), trong khi hai vùng ven biển miền Trung và đồng bằng Nam Bộ rất ít được chú ý tới: cả hai vùng này chỉ chiếm khoảng 8,58% tổng số công trình theo vùng Những cư dân ở vùng xa, vùng hẻo lánh và các tỉnh phía Nam còn

ít được nghiên cứu, thậm chí nhiều vùng rộng lớn vẫn hầu như còn bỏ trống trong nghiên cứu chuyên sâu

- Thứ ba, số lượng công trình nghiên cứu có sự chênh lệch nhiều giữa các lĩnh vực và chủ đề, được thể hiện rõ qua những số liệu thống kê ở các cấp độ được nêu trong các phần

Trang 8

trình bày trên đây Nổi bật là, số công trình kiểu truyền thống hay hàn lâm nhiều gấp 4,7 lần so với số công trình nghiên cứu phát triển Trong mảng nghiên cứu kiểu truyền thống, chiếm phần lớn số công trình là về hai lĩnh vực: văn hoá vật chất (khoảng 37,55%) và văn hoá tinh thần (khoảng 31,7%); lĩnh vực nghiên cứu lý thuyết thì không đáng kể, chỉ có 1 bài tạp chí

Trong văn hoá vật chất, số công trình về nghề thủ công, nhà cửa và trang phục chiếm tỷ lệ lớn Trong văn hoá tinh thần, đa số tập trung vào lĩnh vực tín ngưỡng - tôn giáo (62,85%), tiếp đến là tri thức dân gian (17,14%)

Về nghiên cứu phát triển, sự thiên lệch cũng rõ rệt: có tới hơn 68% số công trình

đề cập đến vấn đề bảo tồn và biến đổi, nhưng các vấn đề dân cư, dân số hay đô thị hoá thì chỉ có 2 - 3 công trình

- Thứ tư, đa số các công trình nghiên cứu là kết quả của việc thực hiện một dự án,

đề tài hay nhiệm vụ ở cấp nào đó, nghĩa là có điều kiện để tiến hành nghiên cứu, đặc biệt

là có sự tài trợ về kinh phí, hoặc được thực hiện gắn với việc làm luận án (hầu hết là luận án trên đại học) Đây là một trong những lý do đã dẫn đến tình trạng “không đều” một cách trầm trọng như đã nêu trong ba nhận xét trên đây

- Thứ năm, việc nghiên cứu còn tuỳ thuộc vào một nhân tố rất quan trọng là có

“chuyên gia” hay không Thực tế cho thấy, đã xuất hiện một số người nghiên cứu theo hướng tập trung vào một tộc người hay một vấn đề nào đó, ở chừng mực nhất định có thể tạm coi họ như những “chuyên gia” Tuy vậy, đội ngũ cán bộ nghiên cứu về các dân tộc

ở Bảo tàng DTHVN đang có nhiều hạn chế, bất cập, vừa thiếu những người chuyên sâu

về từng dân tộc hay từng vùng, vừa thiếu những người chuyên sâu về từng lĩnh vực nghiên cứu trong Dân tộc học

- Cuối cùng, những thực tế trên đây cho thấy việc nghiên cứu về các tộc người của Bảo tàng DTHVN trong 17 năm qua (1996 - 2012) không được tổ chức và thực hiện theo một kế hoạch tổng thể nào cả, mà chủ yếu tuỳ thuộc từng người nghiên cứu hay nhóm nghiên cứu, liên quan đến cơ hội nghiên cứu, mà đó thường là dự án, đề tài, luận án

Tài liệu tham khảo

1 Lưu Hùng (2011), “Một cái nhìn tổng quan về chặng đường nghiên cứu - sưu tầm

của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 15 năm qua (1995 - 2010)”, trong: Các công trình nghiên

cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Tập 7, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

(Tham khảo thêm Phụ lục 2)

Trang 9

PHỤ LỤC 2 DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU & ẤN PHẨM

VỀ CÁC TỘC NGƯỜI Ở VIỆT NAM

CỦA BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM

(1996 - 2012)

Để tiện theo dõi và đáp ứng yêu cầu phân tích trong bản danh mục này, các công trình nghiên cứu hay ấn phẩm được sắp xếp một cách ước định thành ba phần riêng biệt theo ba tiêu chí:

1 "Cư dân mặt nước ở sông Hương (Huế) và đầm phá Tam Giang – Cầu Hai tỉnh

Thừa Thiên – Huế" Đề tài cấp bộ, Lê Duy Đại chủ nhiệm, 2011-2012, 219 trang

2 "Nghiên cứu hội làng và thờ cúng Thành hoàng của người Kinh xuyên quốc gia

giữa Việt Nam và Trung Quốc" Vũ Hồng Thuật, tham gia đề tài cấp bộ (chủ nhiệm:

Nguyễn Chí Bền, Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), 2010-2013

3 "Nghiên cứu so sánh nghi lễ bùa chú của người Kinh hai nước Việt – Trung (lấy người Kinh quận Đồ Sơn, Hải Phòng, Việt Nam và người Kinh trấn Giang Bình, tỉnh

Quảng Tây, Trung Quốc làm đối tượng nghiên cứu chính)" Vũ Hồng Thuật, luận án

tiến sĩ, Viện Dân tộc học, Trường ĐH Vân Nam, Trung Quốc, 2013

4 “Constructing Civil Society on a Demolition Site in Hanoi” [Xây dựng xã hội

công dân qua một dự án đền bù giải tỏa tại Hà Nội] Nguyễn Vũ Hoàng, trong State,

Society and the Market in Contemporary Vietnam: Property, Power and Values [Nhà

nước, xã hội và thị trường của Việt Nam đương đại: Tài sản, quyền lực và giá trị], Tam Ho Tai (chủ biên) & Mark Sidel, Nxb Routledge, New York, 2012, tr 87-102

Hue-5 “Nhân học xuyên quốc gia: Những tiếp cận lý thuyết nhân học về người Việt tại

Hoa Kỳ” Nguyễn Vũ Hoàng, tạp chí Dân tộc học, số 4/2012, tr 60-72

Trang 10

6 "Đặc điểm văn hóa bùa chú của người Việt ở Việt Nam" Vũ Hồng Thuật, tạp

chí Nghiên cứu văn hóa dân tộc Trung Quốc, số 6/2012, tiếng Trung

7 "Lễ hội đình làng của người Việt ở thôn Sơn Tâm, thị trấn Giang Bình, Đông

Hưng, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc và chức năng xã hội của nó" Vũ Hồng Thuật, hội

nghị Thông báo Văn hóa dân gian, Viện nghiên cứu Văn hóa, tháng 12/2012

8 "Thờ cúng Đức Thánh Trần của người Việt ở Trung Quốc – một tín ngưỡng độc

đáo cố kết cộng đồng hải ngoại" Vũ Hồng Thuật, hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ

4, Viện Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức, Hà Nội, 26-28/11/2012

9 "Về cộng đồng người Bồ Lô ở vùng ven biển Hà Tĩnh" Nguyễn Duy Thiệu, tạp

chí Nguồn sáng dân gian, số 4/2011

10 "Bước đầu tìm hiểu các loại hình bùa chú của người Việt" Vũ Hồng Thuật,

trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 7), Nxb

KHXH, H, 2011, tr 403-426

11 "Hợp tác xã thuốc dân tộc Chùa Bộc với việc bảo tồn tri thức y dược học cổ

truyền" Đỗ Thị Thu Hiền, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học

Việt Nam (T 7), Nxb KHXH, H, 2011, tr 439-462

12 Tìm hiểu vai trò của dòng họ người Việt ở một làng Bắc Bộ (Nghiên cứu trường hợp làng Bối Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, TP Hà Nội) Phạm Minh

Phúc, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3/2011

13 "Luận bàn về một số đặc điểm văn hóa bùa chú của người Việt ở đồng bằng Bắc

Bộ, Việt Nam" Vũ Hồng Thuật, kỷ yếu hội thảo quốc tế Lịch sử văn hóa cư dân Bách

Việt trong bối cảnh văn hóa, lịch sử của các cư dân đảo Hải Nam, tại TP Hải Khẩu, tỉnh Hải Nam, Trung Quốc; Nxb Sư phạm Hải Nam, 2011, tr 431-440, tiếng Trung

14 "Thủ sắc đường làng Văn Sơn (Thạch Đỉnh, Thạch Hà, Hà Tĩnh)" Nguyễn

Duy Thiệu, tạp chí Di sản văn hoá, số 3/2010

15 "Nghiên cứu giới thiệu ngôi nhà người Việt trong khu trưng bày ngoài trời của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam" Vũ Thị Thanh Tâm và nhóm nghiên cứu, thuộc nhiệm

vụ cấp Bộ Nghiên cứu giới thiệu ngôi nhà người Việt, Chăm, Êđê trong khu trưng bày

ngoài trời của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, 2009-2010

16 "Nhận diện văn hoá phi vật thể của cộng đồng cư dân phố cổ Hà Nội" Võ Mai

Phương, trong Bảo tàng và nhân học đô thị, Nxb Từ điển bách khoa, H, 2009, tr 286-302

17 "Người Việt (Kinh) vùng ven biển miền Trung hội nhập cùng biển cả: trường

hợp nghiên cứu ở Ninh Thuận và Bình Thuận" Nguyễn Duy Thiệu, tạp chí Nguồn sáng

dân gian, số 3/2009

18 "The Van chai and its role in the hierarchy of fisheries administration in

Vietnam" Nguyễn Duy Thiệu đồng tác giả, trong The Van chai of Vietnam: Managing

Trang 11

nearshore fisheries and fishing communities, International Resources Management

Institute Publication, số 3/2009

19 "The role of flating villages in social life of fishersin South-Central Region"

Nguyễn Duy Thiệu, trong The Van chai of Vietnam: Managing nearshore fisheries and

fishing communities, International Resources Management Institute Publication, số 3/2009

20 Sống trong bí tích – Văn hoá Công giáo đương đại Việt Nam Bảo tàng Dân tộc

học Việt Nam, 2009

21 “Three Goddesses in and out of their Shrine” Vũ Thị Thanh Tâm đồng tác giả,

tạp chí Asian Ethnology, vol 67, số 2/2008, tr 219-236

22 Di cư và chuyển đổi lối sống: Trường hợp cộng đồng người Việt ở Lào

Nguyễn Duy Thiệu chủ biên, 3 ngữ, Nxb Thế giới, H, 2008, 480 trang

23 Cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt Nam – Lào Nguyễn Duy Thiệu đồng tác giả, Nxb KHXH, H, 2008

24 “Vốn xã hội trong đô thị: Một nghiên cứu nhân học về hành động tập thể ở một dự

án phát triển đô thị tại Hà Nội” Nguyễn Vũ Hoàng, tạp chí Dân tộc học, số 5/2008, tr 11-26

25 “Nghề tạc tượng thờ Sơn Đồng” Vũ Thị Thanh Tâm, tạp chí Dân tộc học, số

2/2008, tr 58-70

26 "Đời sống tâm linh của chiếc ván in bùa trấn trạch" Vũ Hồng Thuật, trong Sự

biến đổi của tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay, Lê Hồng Lý & Nguyễn Thị

Phương Châm chủ biên, Nxb Thế giới, H, 2008, tr 227-257

27 "Khẩu dậu cá, nét đặc trưng riêng của làng Việt cổ truyền ở vùng biển đảo:

trường hợp làng Quan Lạn" Nguyễn Duy Thiệu, tạp chí Di sản văn hoá, số 4/2008

28 "Amulets and the Marketplace" Vũ Hồng Thuật, tạp chí Asian Ethnology, vol

67, số 2/2008, tr 237-255

29 "Nghề chạm khắc gỗ ở ấp Long Định, xã Long Điền A, huyện Chợ Mới, An

Giang" Vũ Thị Thanh Tâm, trong Nam Bộ: Đất và Người, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh,

2007, tr 247-256

30 "Cộng đồng người Việt ở Lào, sinh tồn và giữ gìn bản sắc" Nguyễn Duy

Thiệu, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2/2007

31 "Người Việt (Kinh) vùng ven biển miền Trung hội nhập cùng biển cả" Nguyễn

Duy Thiệu, tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 3/2007

32 "Suy ngẫm về văn hoá biển ở Việt Nam" Nguyễn Duy Thiệu, tạp chí Di sản

văn hoá, số 1/2007

33 "Thực trạng nghề làm giấy dó ở Đống Cao, Bắc Ninh" Vũ Hồng Thuật, hội

thảo quốc tế tại Vân Nam - Trung Quốc, tháng 9/2005

Trang 12

34 “Phụ nữ Đại Yên với nghề thuốc nam” Vũ Thị Hà, trong Các công trình nghiên

cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb KHXH, H, 2005, tr 150-165

35 "From Do paper to Dong Ho Folk prints" Vũ Hồng Thuật, trong The

Preservation and Exhibition of East Asean Culture in Relation to Folk Craft Aesthetics,

Tokyo, 2003, tr 61-68 "Từ giấy dó đến tranh Đông Hồ - một hành trình văn hoá", tạp

chí Thông tin khoa học xã hội, số 1/2005, tr 59- 65

36 "Nghề sơn ở làng Ngọ Trang" Vũ Thị Thanh Tâm, trong Các công trình nghiên

cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb KHXH, H, 2005, tr 223-245

37 "Vì sao người dân xã Sơn Kim vẫn tiếp tục vào rừng săn bắt thú" Vũ Hồng

Thuật, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb

KHXH, H, 2005, tr 297-314

38 "Nghề rèn làng Đa Sĩ, xã Kiến Hưng, Hà Đông, Hà Tây" Vũ Thị Thanh Tâm,

đề tài cấp viện, 2004

39 “Nghề sơn mài làng Hạ Thái” Hoàng Thị Tố Quyên, trong Các công trình

nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 4), Nxb KHXH, H, 2004, tr 90-115

40 "Trò Trám Festival and the Veneration of Ngô Thị Thanh in a Vietnamese

Village" Vũ Hồng Thuật, trong The Art of Rice Spirit and Sustenance in Asia, Bảo tàng

Lịch sử - Văn hoá Fowler, Los Angeles, Hoa Kỳ, 2003, tr 218-239

41 "Nghề làm gốm ở Phù Lãng (Bắc Ninh)" Vũ Thị Thanh Tâm, dự án Dạy nghề

gốm Phù Lãng cho trẻ em tại Bảo tàng DTHVN, 2003

42 “Lễ hội cầu ngư ở Mân Thái (Tục thờ cá voi và lễ hội cầu ngư ở phường Mân

Thái, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng)” Nguyễn Anh Ngọc, trong Các công trình nghiên cứu

của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 3), Nxb KHXH, H, 2002, tr 138-157

43 “Tìm hiểu nghề nặn tò he” Vũ Hồng Nhi, trong Các công trình nghiên cứu

của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 3), Nxb KHXH, H, 2002, tr 158-169

44 "Các hình thức đánh bắt cá của người Việt ở xã Sơn Kim, Hương sơn, Hà

Tĩnh" Vũ Hồng Thuật, tạp chí Dân tộc học, số 3/2002, tr 72-75

45 “Phương thức đánh bắt thủy sinh truyền thống ở vùng chiêm trũng huyện Ý

Yên, tỉnh Nam Định” Đỗ Minh Cao, tạp chí Dân tộc học, số 3/2001

46 “Nghề giấy và các làng giấy truyền thống” Nguyễn Tôn Kiểm, trong Các

công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 2), Nxb KHXH, H,

2001, tr 157-176

47 “Một số hình thức đánh bắt hải sản sơ khai ở vùng biển Đông Bắc” Nguyễn

Anh Ngọc, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 2),

Nxb KHXH, H, 2001, tr 117-129

Trang 13

48 "Môi trường của cộng đồng người Việt & Lào ở khu vực Đại Kim, xã Sơn Kim, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh" Vũ Hồng Thuật, tham gia dự án hợp tác nghiên cứu với Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Hoa Kỳ, 2001, 255 trang

49 “Nghề nón làng Chuông” Phạm Minh Phúc, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam

Á, số 1/2001

50 “Vài nét về gia phả và giá trị giáo dục cộng đồng của nó” Phạm Minh Phúc, hội

thảo Gia phả Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại tại Bảo tàng DTHVN, tháng 5/2001

51 "Lễ hội làng Trám" Vũ Hồng Thuật, trong Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt

Nam, Nxb Văn hoá dân tộc, H, 2000, tr 981- 987

52 "Các nghi lễ liên quan đến ngôi nhà người Việt ở Triệu Sơn, Thanh Hoá" Vũ

Hồng Thuật, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 2), Nxb KHXH, H, 2000

53 “Tác động của sự đổi mới đối với đời sống kinh tế - xã hội của Mông Phụ,

Đường Lâm” Bế Viết Đẳng, tạp chí Dân tộc học, số 4/1999

54 "L'Environnement végétal à Duong Lâm" Võ Thị Thường, trong Mong phu,

un village du delta du Fleuve Rouge (Vietnam), Nguyễn Tùng chủ biên, L'Harmattan,

Pari, 1999, tr 227-256 ["Môi trường thực vật ở Đường Lâm", trong Mông Phụ - một

làng ở đồng bằng sông Hồng, Nxb Văn hoá – Thông tin, H, 2003, tr 177-205]

55 “Tìm hiểu diều sáo truyền thống” Nguyễn Tôn Kiểm, trong Các công trình

nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr 217-221

56 “Nông nghiệp Việt, một đối tượng nghiên cứu – sưu tầm cấp bách và hấp dẫn”

Nguyễn Anh Ngọc, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt

Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr 89-105

57 "Đôi điều về nghi lễ thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ" Vũ Hồng

Thuật, tạp chí Dân tộc học, số 2/1999, tr 39-45

58 "Hiện vật cúng Mụ của người Việt trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học Việt

Nam" Vũ Hồng Thuật, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt

Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr 360-383

59 “Đôi nét về văn hoá của người Việt ở quần đảo Lý Sơn” Mai Thanh Sơn (bút

danh Nguyễn Sơn Trà), trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt

Trang 14

1 "Tập tục chữa bệnh bằng ma thuật ở người Cơtu" Lưu Hùng, hội thảo quốc tế

tại Vientiane, tháng 2/2012, 26 trang

2 The Katu Village: An Interpretive Ethnography of the Avuong Katu in Central

Vietnam Kaj Arhem, ĐH Goteborg - Thuỵ Điển, 2010, 337 trang (dự án nghiên cứu dân

tộc học về người Cơtu, hợp tác giữa ĐH Goteborg & Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam)

3 "Tiếp cận đô thị và những chuyển biến trong đời sống của người Cơtu (trường hợp thôn Adhing 3, thị trấn Prao, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam)" Vũ Phương

Nga, trong Bảo tàng và nhân học đô thị, Nxb Từ điển bách khoa, H, 2009, tr 318-331

4 In the Sacred Forest: Landsscape, livelihood and spirit beliefs among the Katu

of Vietnam Nikolas Arhem, ĐH Goteborg - Thuỵ Điển, 2009, 206 trang (dự án nghiên

cứu dân tộc học về người Cơtu, hợp tác giữa ĐH Goteborg & Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam)

5 "Katu women's traditional curative skills" Vũ Phương Nga, tạp chí Vietnamse

Studies, số 1+2/2008, tr 99-122

6 Góp phần tìm hiểu văn hoá Cơtu Lưu Hùng, Nxb KHXH, H, 2006, 290 trang

7 “Săn bắt chim muông và tín ngưỡng liên quan của người Cơtu” Lưu Hùng, tạp

2 “Một số quy cách cổ truyền trong làm và dựng nhà ở của người Triêng tỉnh Kon

Tum” Phạm Văn Lợi, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt

Trang 15

5 “Một vài nhận xét về nghề dệt truyền thống của người Triêng ở Quảng Nam”

Phạm Văn Lợi, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

3 “Vài nét về truyền thống quản lý và bảo vệ rừng của người Mnông (qua tìm hiểu

ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk)” Lưu Hùng, tạp chí Dân tộc học, số 3/2001, tr 6-15

4 “Người Êđê và Mnông ở Đắc Lắc - truyền thống và những biến đổi” Phạm Văn

Lợi, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 5/2000, tr 69-80

5 Hoa văn cổ truyền Đak Lăk Chu Thái Sơn chủ biên, Nxb KHXH, H, 2000

4 Người Bana

1 "Người Bana làng Kon Rbàng" Lưu Hùng, Phạm Văn Lợi & Nguyễn Trường

Giang, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 6), Nxb

KHXH, H, 2008, tr 11-214

2 “Ghi chép điền dã về 4 ngôi nhà rông người Bana ở Kon Tum” Lưu Hùng &

Nguyễn Trường Giang, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt

Nam (T 4), Nxb KHXH, H, 2004, tr 42-69

3 “Tín ngưỡng trong chu kì canh tác nương rẫy của người Bana Rơngao vùng ven

thị xã Kon Tum” Nguyễn Trường Giang, tạp chí Dân tộc học, số 3/2002

5 Người Khơmú

1 "Nghề đan lát của người Khơmú" La Công Ý, Vi Văn An, Võ Mai Phương & Phạm Minh Phúc, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

(T 6), Nxb KHXH, H, 2008, tr 215-359

2 Người Khơmú Vi Văn An & Chu Thái Sơn, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2006

3 “Tìm hiểu nguyên liệu đan lát của người Khơmú” Phạm Minh Phúc, tạp chí

Dân tộc học, số 1/2005

6 Người Bru-Vân Kiều

1 "Land worship ritual and kruong organization among the Bru-Vankieu" Phạm Văn Lợi, tạp chí Vietnamse Studies, số 1+2/2008, tr 123-139

Trang 16

2 “Người Bru-Vân Kiều” Phạm Văn Lợi, báo cáo kết quả nghiên cứu, dự án

nghiên cứu các dân tộc nhóm ngôn ngữ Katuic ở Việt Nam (hợp tác giữa Bảo tàng

DTHVN với GS Kaj Arhem thuộc ĐH Goteborg - Thuỵ Điển), 2005, 120 trang

1 "Ứng phó với biến đổi khí hậu qua kinh nghiệm dân gian của người Thái ở

Nghệ An" Vi Văn An, hội thảo quốc tế Bảo tàng với biến đổi khí hậu toàn cầu , Huế,

6/2012

2 "Tái định cư và sự thay đổi sinh kế của người Thái ở bản Mà, xã Thanh Hương,

huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An" Vi Văn An đồng tác giả, tạp chí Dân tộc học, số

2/2012, tr 33-49

3 "Tập quán xin và nhận con nuôi của người Thái ở xã Xuân Lẹ, huyện Thường

Xuân, tỉnh Thanh Hoá" Vũ Phương Nga, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng

Dân tộc học Việt Nam (T 7), Nxb KHXH, H, 2011, tr 427-438

4 "Góp thêm tư liệu về quan hệ nguồn gốc của các nhóm Thái ở Lào và người

Thái Việt Nam" Vi Văn An, hội thảo quốc tế Nghiên cứu, đào tạo nhân học ở Việt Nam

trong quá trình chuyển đổi và hội nhập quốc tế, H, 20/10/2010

5 "Tri thức dân gian của người Thái trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước" Vi

Văn An, tạp chí Dân tộc học, số 1/2008, tr 15-24

6 "Displaying the Xặng bók Tree of the Thái People" Võ Thị Thường, tạp chí

Asian Ethnology, số 2/2008, tr 287-304

7 “Nghề dệt của người Thái ở Việt Nam” Vi Văn An đồng tác giả, trong Đồ

vải của người Thái ở tiểu vùng sông Mê Công: tiếp nối và biến đổi, Bảo tàng

DTHVN, 2006, tr 75-92

8 “Các giá trị trong văn hoá truyền thống của người Thái Bắc Trung Bộ” Vi Văn

An, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb

KHXH, H, 2005, tr 387-399

Trang 17

9 “Các món ăn của người Thái Đen ở thị xã Sơn La” Nguyễn Thị Hồng Mai,

trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb KHXH,

H, 2005, tr 400-436

10 “Vai trò của phụ nữ Thái trong việc bảo tồn và duy trì giá trị văn hoá tộc

người” Vi Văn An, tạp chí Khoa học và phụ nữ, số 4/2004, tr 21-27

11 “Về mối quan hệ nguồn gốc và những nét tương đồng văn hoá giữa người Thay Đăm, Thay Khao, Thay Đeng với người Thái ở Việt Nam” Vi Văn An, tạp chí

Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1/2004, tr 51-62

12 “Câu chuyện về chiếc ống xem bói của thày bói người Thái ở Nghệ An” Vi

Văn An, tham gia dự án nghiên cứu Đời sống tâm linh hiện vật (hợp tác với TS Lauren

Kendall, Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Hoa Kỳ), 2004, 19 trang

13 “Hành vi, thái độ và tập quán liên quan đến việc sinh đẻ, chăm sóc và nuôi dạy con cái của các dân tộc Tày, Nùng và Hmông (Qua tư liệu khảo sát tại xã Tà Chải, huyện Bắc Hà và hai xã Bản Mế, Cán Cấu, huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai)” Vi Văn An, tham

gia dự án Phát triển toàn diện trẻ em của Trung tâm E&D (Pháp), H, 2003, 30 trang

14 “Rice Harvest Rituals in Two Highland Tai Communities in Vietnam” Vi Văn

An & Eric-Crystal, trong The Art of Rice (Spirit and Sustenance in Asia), Bảo tàng Lịch

sử văn hoá Fowler, Los Angeles, Hoa Kỳ, 2003, tr.119-134

15 “Some features on Municipality Foudation of the Thai people in the west of

Nghe An Province, Vietnam” Vi Văn An, hội nghị quốc tế Thái học lần thứ 8,

Nakhophanom, Thái Lan, tháng 1/2002

16 “Kiến thức bản địa về khai thác, sử dụng, bảo vệ nguồn tài nguyên nước phục

vụ sản xuất nông nghiệp của người Thái Đen tại bản Poọng, xã Hua La, thị xã Sơn La”

Phạm Văn Dương, trong Văn hoá và lịch sử các dân tộc nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam,

Nxb Văn hóa – Thông tin, H, 2002, tr 230-240

17 "Một số tập quán trong sinh đẻ và nuôi con nhỏ của người Thái Trắng ở

Mường So" La Công Ý, trong Văn hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ

Thái Việt Nam, Nxb Văn hoá – Thông tin, H, 2002, tr 449-452

18 "Nghề gốm của người Thái ở Mường Chanh" La Công Ý, tạp chí Dân tộc

học, số 6/2002

19 "Lễ cha chiêng của người Thái Mai Châu, Hoà Bình (Việt Nam)" Võ Thị Thường, trong Văn hóa và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam,

Nxb Văn hoá – Thông tin, H., 2002, tr 583-595

20 "Médecine populaire: Rites et thérapeutie chez les Thai de Mai Châu (Việt Nam)" Thèse de doctorat, soutenue en 2002 à l’Université Paris 10 - Nanterre ["Y học dân gian: nghi lễ và liệu pháp chữa trị ở vùng người Thái Mai Châu, Hòa Bình, Việt

Nam" Võ Thị Thường, luận án tiến sĩ, ĐH Tổng hợp Pari 10 - Nanterre, Pháp, 2002,

450 trang]

Trang 18

21 "Những biến đổi trong các truyền thống xã hội của người Thái ở huyện Quỳ

Châu" Mai Thanh Sơn, trong Văn hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái

ở Việt Nam, Nxb Văn hoá – Thông tin, H, 2002, tr 192-199

22 "Flower tree of the Thai Yo (Thanh Hóa, Việt Nam)" Võ Thị Thường đồng tác

giả, Altars and Shrines of the World, Museum Kunst Palast, Dusseldort, 9/2001-1/2002,

tr 116-119 ["Cây hoa nghi lễ của người Tày Dọ ở Thanh Hóa, Việt Nam", trong catalogue trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật đương đại của Đức, từ 9/2001 đến 1/2002, tiếng Đức]

23 “Tính thống nhất và tính khác biệt về trang phục của phụ nữ Thái ở Việt Nam”

Vi Văn An, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4/2001, tr 74-80

24 “Góp phần tìm hiểu về hai nhóm Thái Đen và Thái Trắng ở miền tây Nghệ

An” Vi Văn An, tạp chí Dân tộc học, số 4/2001, tr 32-36

25 “Nước và kỹ thuật dẫn thuỷ nhập điền của người Thái Đen ở bản Poọng, xã

Hua La, thị xã Sơn La” Phạm Văn Dương, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo

tàng Dân tộc học Việt Nam (T 2), Nxb KHXH, H, 2001, tr 203-222

26 "Mấy suy nghĩ về một số biến đổi trong văn hóa vật chất của người Thái ở Quỳ

Châu" Mai Thanh Sơn đồng tác giả, tạp chí Dân tộc học, số 1/2001

27 “Some thoughts about the name “Red Thai” in Vietnam” Vi Văn An, hội nghị

quốc tế Thái học lần thứ 7, Amsterdam, Hà Lan, tháng 7/1999; “Về tên gọi Thái Đỏ ở

Việt Nam”, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4/2000, tr 49-59

28 “Thai weaving in Nghe An Province, Vietnam: The real situation and

Challenges) Vi Văn An, hội thảo quốc tế về Bảo tồn và phát triển văn hoá tộc người,

trường ĐH Columbia tổ chức tại Côn Minh, Vân Nam - Trung Quốc, 1999

29 "Nghi lễ chữa bệnh của người Thái ở Mai Châu (Hoà Bình, Việt Nam)" Võ

Thị Thường, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T

1), Nxb KHXH, H, 1999, tr 222-261

30 "Ma thuật chữa bệnh ở xã hội Thái cổ truyền" Cầm Trọng, trong Các công

trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr

207-216

31 Luật tục Thái ở Việt Nam Cầm Trọng & Ngô Đức Thịnh, Nxb Văn hoá dân

tộc, H, 1999

32 "Về bộ y phục của phụ nữ Tày Thanh trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học Việt

Nam" Vi Văn An, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Trang 19

phòng chữa bệnh tật của người Thái Mai Châu, Hòa Bình, Việt Nam", báo cáo tại hội

thảo quốc tế ở Chiềng Mai, Thái Lan, 1998]

34 “Về tên gọi và lịch sử cư trú của các nhóm Thái ở miền tây Nghệ An” Vi Văn

An, trong Văn hoá và lịch sử người Thái ở Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, H, 1998, tr

318-331

35 “Về quá trình hình thành các tổ chức mường của người Thái ở miền tây Nghệ

An” Vi Văn An, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2/1998, tr 50-55

36 “Structure of Social organization and land owneship of the Thai people in the Highway N0 7 of Nghe An province” Vi Văn An, hội nghị quốc tế Thái học lần thứ 6,

Chiềng Mai, Thái Lan, tháng 10/1996

37 “Hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Thái ở miền núi Nghệ An” Vi Văn

An, tạp chí Văn hóa dân gian, số 2/1996, tr 61-68

2 Người Tày

1 Đến với người Tày và văn hoá Tày La Công Ý, Nxb KHXH, H, 2010, 415 trang

2 "Đàn tính – The Marvelous and Sacred Musical Instrument of the Tày People"

La Công Ý, tạp chí Asian Ethnology, vol 67, số 2/2008, tr 271-286

3 "Nghệ thuật rối Tày: Hành trình qua thời gian và hành trình của một nhà dân

tộc học trong việc tìm kiếm để giới thiệu về văn hoá người Tày" La Công Ý, trong

Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb KHXH, H,

2005, tr 273-296

4 "The perilous juorney of the then spirit army: A shamanic ritual of the Tay people" La Công Ý, trong Vietnam: Journeys of Body, Mind and Spirit (Nguyễn Văn

Huy & Lauren Kedall chủ biên), Nxb Berkely, ĐH California, Hoa Kỳ, Bảo tàng Lịch

sử tự nhiên Hoa Kỳ và Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, 2003, tr 238-251

5 "Cây đàn tính trong đời sống của người Tày ở Lạng Sơn" La Công Ý & Lê Đức Hùng, trong Văn hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam, Nxb

Văn hoá – Thông tin, H, 2002, tr 692-696

6 "Một số tư liệu về lễ kỳ yên của người Tày ở Bình Gia (Lạng Sơn)" La Công Ý,

trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 3), Nxb

KHXH, H, 2002, tr 170-183

7 "Nhà sàn truyền thống của người Tày ở Định Hoá (Thái Nguyên)" La Công Ý,

tạp chí Kiến trúc Việt Nam, số 6/ 2002, tr 31-35

8 "Chuyện rối Tày làng Thẩm Rộc" La Công Ý, trong Văn hoá và lịch sử các dân

tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam, Nxb Văn hoá – Thông tin, H, 2002, tr 688-691

Trang 20

9 "Một số tư liệu về nhà sàn truyền thống của người Tày ở Định Hoá (Thái

Nguyên)" La Công Ý, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt

Nam (T 2), Nxb KHXH, H, 2001, tr 106-116

10 "Hội lồng tồng của người Tày" La Công Ý, trong Các công trình nghiên cứu

của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr 106-113

11 "Lễ lẩu then của người Tày" La Công Ý, trong Văn hoá và lịch sử người Thái

ở Việt Nam, Nxb Văn hoá dân tộc, H, 1998, tr 229-232

3 Người Lào

1 Trang phục của người Lào ở Tây Bắc Việt Nam Võ Thị Mai Phương, Nxb

Chính trị quốc gia, H, 2012, 288 trang

2 “Tìm hiểu nghề dệt của người Lào qua phương pháp photovoice” Võ Thị Mai

Phương, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5),

4 "Tang ma của người Lào (qua điều tra tại xã Sơn Kim, huyện Hương Sơn,

tỉnh Hà Tĩnh)" Vũ Hồng Thuật, trong Thông báo Văn hoá dân gian, Nxb KHXH, H,

2002, tr 487-495

5 "Môi trường của cộng đồng người Việt & Lào ở khu vực Đại Kim, xã Sơn Kim, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh" Vũ Hồng Thuật, tham gia dự án hợp tác nghiên cứu với Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Hoa Kỳ, 2001, 255 trang

4 Người Nùng

1 "Nghề rèn của người Nùng An ở Phúc Sen" La Công Ý, trong Các công trình

nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 7), Nxb KHXH, H, 2011, tr 361-383

2 “Dân tộc Nùng” Vi Văn An, trong Các dân tộc ở tỉnh Hà Giang, Nxb Thế giới,

H, 2003, tr 145-174

3 “Dân tộc Nùng” Vi Văn An, trong Địa chí huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn,

Huyện uỷ & UBND huyện Tràng Định, Lạng Sơn, 2000

5 Người Giáy

1 "Nghề chế tác bạc của người Giáy ở Bát Xát (Lào Cai)" La Công Ý, trong Văn

hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam, Nxb Văn hoá – Thông

tin, H., 2002, tr 253-255

Trang 21

IV Nhóm ngôn ngữ Kađai

1 Người La Chí

1 “Dân tộc La Chí” Phạm Văn Dương, trong Các dân tộc ở Hà Giang, Nxb Thế

giới, H, 2004, tr 207-227

V Nhóm ngôn ngữ Hmông – Dao

1 "Tìm hiểu trò chơi của trẻ em người Hmông và Dao (qua khảo sát ở hai huyện

Sa Pa và Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai)" Chu Quang Cường, Đàm Thị Hợp, đề tài cấp viện,

2008, 49 trang

1 Người Dao

2 "Về tổ chức không gian sinh hoạt và các mối quan hệ gia đình, xã hội trong ngôi

nhà của người Dao Áo dài tỉnh Hà Giang" Phạm Minh Phúc, tạp chí Di sản văn hoá, số

2 (39)/2012

3 "Nhà ở của người Dao Áo dài ở Vị Xuyên, Hà Giang (kết cấu kỹ thuật và những

yếu tố vật chất liên quan đến việc dựng nhà)" Phạm Minh Phúc, tạp chí Dân tộc học, số

3/2011

4 "Tập tục, tín ngưỡng liên quan đến dựng nhà của người Dao Áo dài tỉnh Hà

Giang" Phạm Minh Phúc, tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 10/2011

5 "Lễ học bói, một hình thức đào tạo shaman giáo trong ngôi nhà của người Dao

Áo dài tỉnh Hà Giang" Phạm Minh Phúc, tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 3/2011

6 "Thầy cúng người Dao Họ ở Lào Cai – Nghiên cứu qua một số trường hợp cụ

thể" Phạm Văn Dương, luận án tiến sĩ, 2010

7 “Vai trò của thầy cúng trong đời sống văn hóa tinh thần và sự phát triển của

người Dao Họ ở Lào Cai” Phạm Văn Dương, tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 74/2009, tr 57-64

73-8 “Thầy shaman người Dao Họ ở Lào Cai (Nghiên cứu trường hợp ông Bàn Văn

Xiêm)” Phạm Văn Dương, tạp chí Dân tộc học, số 4/2009, tr 14-22

9 “Đời sống tín ngưỡng của người Dao Họ ở Lào Cai”, tạp chí Văn hoá nghệ

thuật, số 301, tháng 7/2009, tr 15-20

10 "Nghề rèn của người Dao Đỏ (qua khảo sát ở xã Hồ Thầu, huyện Hoàng Su

Phì, tỉnh Hà Giang)" Vi Văn An, tạp chí Dân tộc học, số 6/2006, tr.14-22

11 Dân tộc Dao Võ Thị Mai Phương đồng tác giả, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh,

2004

12 “Bước đầu tìm hiểu tranh thờ của người Dao Họ” Phạm Văn Dương, trong

Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 4), Nxb KHXH, H,

2003, tr 135-160

Trang 22

13 “Dân tộc Dao” Phạm Minh Phúc, trong Các dân tộc ở Hà Giang, Nxb Thế

giới, H, 2003

14 “Một số tập quán và nghi lễ liên quan đến nhà cửa của người Dao Đỏ ở Sa Pa,

Lào Cai” Võ Thị Mai Phương, trong Các công trình nghiên cứu của bảo tàng Dân tộc

học Việt Nam (T 3), Nxb KHXH, H, 2002, tr 93-99

15 “Nhà nửa sàn nửa đất của người Dao Họ ở huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai”

Phạm Văn Dương, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

18 “Trang phục trong nghi lễ của người Dao Đỏ ở Sa Pa, Lào Cai” Võ Thị Mai

Phương, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 2),

Nxb KHXH, H, 2001, tr 223-229

19 “Sơ bộ khảo sát về nghề thổ cẩm của người Dao ở xã Tả Phìn, huyện Sa Pa,

tỉnh Lào Cai” Võ Thị Mai Phương, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân

tộc học Việt Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr 158-174

20 “Sự biến đổi kinh tế-xã hội và những vấn đề mới nảy sinh của người Dao xã Tân Dân, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh trong 5 năm (1993-1998)” Lê Duy Đại

chủ trì, một nhánh của đề tài cấp nhà nước KHXH 03-06: Quản lý sự phát triển xã hội

trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng, H, 1999

21 “Thử phân loại trang phục hiện nay của người Dao” Chu Thái Sơn đồng tác

giả, trong Sự phát triển văn hoá xã hội của người Dao: hiện tại và tương lai, Trung tâm

KHXH&NVQG, H, 1998, tr 60-67

22 "Về những biến đổi văn hoá - xã hội của người Dao Thanh phán ở Sơn Động,

tỉnh Hà Bắc" La Công Ý, trong Sự phát triển văn hoá - xã hội của người Dao: hiện tại

và tương lai, Trung tâm KHXH & NVQG, H, 1998, tr 243-248

23 “Tục lệ tang ma của người Dao Thanh Phán ở Quảng Ninh” Vi Văn An, trong

Sự phát triển văn hoá xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai, Nxb KHXH, H,

1998, tr 93-111

24 “Phát triển kinh tế và phân hoá giàu nghèo ở người Dao xã Tân Dân, huyện

Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh” Lê Duy Đại, trong Sự phát triển văn hoá xã hội của người

Dao: Hiện tại và tương lai, Nxb KHXH, H, 1998, tr 272-280

25 “Người Dao ở Việt Nam: Những truyền thống trong thời đại hiện tại” Bế Viết

Đẳng, trong Sự phát triển văn hoá xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai, Nxb

KHXH, H, 1998, tr 17-30

Trang 23

2 Người Hmông

1 “Hemp Textiles of the Hmong in Vietnam” Trần Thị Thu Thuỷ, trong Material

choices - Refashioning Bast and Leaf Fibers in Asia and the Pacific, Bảo tàng Lịch sử -

Văn hoá Fowler, Los Angeles, California, Hoa Kỳ, 2007

2 "Tập quán sinh đẻ, chăm sóc và nuôi dạy con của người Hmông Lềnh (khảo sát

tại làng Cán Cấu và Chư sang, xã Cán Cấu, Si Ma Cai, Lào Cai)" Vi Văn An, tạp chí

Khoa học phụ nữ, số 2/2006, tr 37-43

3 "Khai thác cây lấy sợi và cây thuốc nhuộm làm thuốc chữa bệnh của người

Hmông" Trần Thị Thu Thuỷ, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc

học Việt Nam (T 5), Nxb KHXH, H, 2005, tr 187-192

4 "Hmong hemp textile in Vietnam" Trần Thị Thu Thuỷ, hội thảo Dệt và vấn đề

bảo tồn văn hoá, tại Bảo tàng Lịch sử Văn hoá Fowler, trường ĐH California, Los

9 "Dân số, sự phân bố dân cư và lịch sử tộc người" Mai Thanh Sơn, tham gia đề

tài Dân tộc Hmông ở Việt Nam của Viện Dân tộc học (Phạm Quang Hoan chủ nhiệm),

2003

10 "Người Hmông với việc gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống" Mai

Thanh Sơn, tạp chí Dân tộc học, số 6/2004

11 "Dân tộc Hmông" Vi Văn An, trong Các dân tộc ở tỉnh Bắc Kạn, Nxb Thế

giới, H, 2003, tr 191-221

12 “Đặc trưng nhóm tộc người qua sự bố trí bên trong ngôi nhà của nhóm Hmông

Hoa ở huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái” trong Các công trình nghiên cứu của Bảo

tàng Dân tộc học Việt Nam (T 2), Nxb KHXH, H, 2001, tr 130-141

Trang 24

13 “Nhà ở của người Hmông Đen (tư liệu điền dã tại xã Tả Phìn, huyện Sa Pa,

tỉnh Lào Cai)” Mai Thanh Sơn, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc

học Việt Nam (T 2), Nxb KHXH, H, 2001, tr 142-156

14 "Triển vọng khai thác kỹ năng làm thổ cẩm của người phụ nữ Hmông ở San Xả

Hồ" Mai Thanh Sơn, tạp chí Khoa học và phụ nữ, số 3/2001, tr 3-7

15 "Về nhóm Hmông Pùa ở Lào Cai" Mai Thanh Sơn, tạp chí Nghiên cứu Đông

Nam Á, số 3/2001

16 "Một vài yếu tố văn hoá tinh thần liên quan đến nhà ở truyền thống của người

Hmông ở huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái" Trần Thị Thu Thuỷ, trong Các công

trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 2), Nxb KHXH, H, 2001, tr

191-202

17 “Vài suy nghĩ về vai trò của ruộng bậc thang với người Hmông ở Sa Pa - Lào

Cai” Nguyễn Trường Giang, tạp chí Dân tộc học, số 2/1999

18 “Y phục của người Hmông ở Sa Pa - Lào Cai” Mai Thanh Sơn, trong Các

công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 1), Nxb KHXH, H,

1999, tr 114-134

19 “Cây lanh trong đời sống của người Hmông” Bế Viết Đẳng, trong Các công trình

nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr 77-82

20 "Trang phục truyền thống của phụ nữ Hmông trong đời sống xã hội tộc người"

Trần Thị Thu Thuỷ, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt

Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr 175-206

3 Người Pà Thẻn

1 “Dân tộc Pà Thẻn” Võ Thị Mai Phương, trong Các dân tộc ở Hà Giang, Nxb

Thế giới, H, 2003

2 "Đôi nét về tập quán hôn nhân và phong tục cưới xin của người Pà Thẻn" Mai

Thanh Sơn, tạp chí Khoa học và phụ nữ, số 1/1998

VI Nhóm ngôn ngữ Tạng – Miến

1 Người Phù Lá

1 "Cách thức tổ chức bữa ăn cộng đồng của người Phù Lá" Mai Thanh Sơn, trong

Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 4), Nxb KHXH, H,

2004, tr 78-89

2 "Mấy vấn đề về nhóm Lao Va Xơ ở Việt Nam" Mai Thanh Sơn, hội thảo quốc

tế Trống đồng và lịch sử văn hóa dân tộc tại Văn Sơn, Vân Nam, Trung Quốc, tháng 8/2004; in trong Luận văn tập (bản Trung văn, kỷ yếu của hội thảo), Văn Sơn, 2004

3 Văn hóa vật chất người Phù Lá ở Việt Nam Mai Thanh Sơn, Nxb Văn hóa dân

tộc, H, 2002

Trang 25

4 "Mấy vấn đề về lịch sử và quan hệ xã hội của nhóm Phù Lá Hán ở Việt Nam" Mai Thanh Sơn, hội thảo quốc tế lần thứ III về người Di, Vân Nam - Trung Quốc, tháng

9/2000

5 “Trang phục truyền thống của người Xá Phó ở Lào Cai” Võ Thị Mai Phương &

Vi Văn An, tạp chí Văn hóa dân gian, số 1/1997

6 “Một vài nhận xét về nghệ thuật trang trí của trang phục Xá Phó ở Lào Cai” Võ

Thị Mai Phương, tạp chí Dân tộc học, số 1/1997, tr 61-67

2 Người Hà Nhì

1 "Văn hóa người Hà Nhì ở xã Dào San, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Việt

Nam" Vũ Hồng Thuật, trong Người Hà Nhì ở Đông Nam Á, Mã Xung Vĩ chủ biên, dự

kiến xuất bản năm 2013, 80 trang, tiếng Trung

2 "Mấy vấn đề về nguồn gốc và quá trình tộc người của dân tộc Hà Nhì và Cống"

Mai Thanh Sơn, tham gia đề tài cấp bộ Quan hệ giữa dân tộc Hà Nhì và dân tộc Cống ở

Việt Nam của Viện Dân tộc học (Phạm Quang Hoan chủ nhiệm), 2003

3 "Kinh nghiệm sử dụng đất trồng của người Hà Nhì Đen (khảo sát tại thôn Lao Chải,

xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lao Cai)" Mai Thanh Sơn, tạp chí Dân tộc học, số 3/2002

4 "Nhà cửa của người Hà Nhì Đen ở huyện Bát Xát - Lào Cai (cấu trúc kỹ thuật và

mặt bằng sinh hoạt)" Mai Thanh Sơn, tạp chí Dân tộc học, số 4/2001, tr 37-43; "Nhà cửa của người Hà Nhì ở Việt Nam (Đôi nét về kiến trúc và mặt bằng sinh hoạt", trong Các công

trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 3), Nxb KHXH, H, 2002, tr 42-77

3 Người Si La

1 Người Si La Mai Thanh Sơn đồng tác giả, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2005

2 Dân tộc Si La ở Việt Nam Mai Thanh Sơn đồng tác giả, Nxb Văn hóa dân

tộc, H, 2002

3 “Về tập quán ăn uống của người Si La” Mai Thanh Sơn, trong Các công trình

nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 3), Nxb KHXH, H, 2002, tr 205-218

4 “Nhà ở của người Si La” Mai Thanh Sơn, trong Các công trình nghiên cứu của

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 2), Nxb KHXH, H, 2001, tr 270-285

3 "Đôi nét về kinh tế sản xuất của người La Hủ ở huyện Mường Tè, tỉnh Lai

Châu" Mai Thanh Sơn, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2/1998

Trang 26

VII Nhóm ngôn ngữ Malayo – Polynesia

3 “Chiếc gùi trong đời sống của người Giarai Aráp tại huyện Chư Pah tỉnh Gia

Lai” Nguyễn Trường Giang, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc

học Việt Nam (T 3), Nxb KHXH, H, 2002, tr 122-137

4 “Hoa văn trên mái nhà mồ Giarai Aráp trong khu trưng bày ngoài trời của Bảo

tàng Dân tộc học Việt Nam” Phạm Văn Lợi, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo

tàng Dân tộc học Việt Nam (T 3), Nxb KHXH, Hà Nội, 2002, tr 100-121

5 “Ghi chép về bữa ăn bỏ mả của người Giarai nhóm Aráp ở làng Kép, xã Ia

Mnông, huyện Chư Pah, tỉnh Gia Lai” Phạm Văn Lợi, trong Các công trình nghiên cứu

của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 2), Nxb KHXH, H, 2001, tr 177-190

6 “Về một số lớp tượng của ngôi nhà mồ Giarai Aráp trưng bày tại Bảo tàng Dân

tộc học Việt Nam” Nguyễn Trường Giang, tạp chí Dân tộc học, số 2/2000

7 “Về trang trí trên nóc nhà mồ Giarai Aráp” Nguyễn Trường Giang, tạp chí Văn

hóa dân gian, số 3/1999

2 Người Chăm

1 Nhà ở của người Chăm Ninh Thuận - Truyền thống và biến đổi Lê Duy Đại chủ

biên, Nxb KHXH, H, 2011, 263 trang

2 "Hành trình cuối cùng: Đám tang của người Chăm Bàlamôn" Lê Duy Đại, trong

Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb KHXH, H,

2005, tr 329-352

3 "Nghề dệt xàrông tơ của người Chăm tỉnh An Giang" Vũ Hồng Thuật, trong

Thông báo Văn hoá dân gian, Nxb KHXH, H, 2004

4 "Tang ma của người Chăm Islam ở An Giang" Vũ Hồng Thuật, trong Thông

báo Văn hoá dân gian, Nxb KHXH, H, 2003, tr 378 - 386

16 "Tang lễ “Tai phào” ở người Chăm Bàlamôn Ninh Thuận" Vũ Hồng Thuật, trong Thông báo Văn hoá dân gian, Nxb Đại học quốc gia, H, 2001, tr 1104-1113

5 “Về thành phần dân tộc của người Chăm Hroi ở Phú Yên” Chu Thái Sơn (bút

danh Ama Trinh) & Nguyễn Anh Ngọc, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1/1996

Trang 27

3 Người Êđê

1 “Những thay đổi trong tập quán sử dụng nước của người Êđê” Nguyễn Trường

Giang, tạp chí Dân tộc học, số 5/2001

2 “Người Êđê và Mnông ở Đắc Lắc - truyền thống và những biến đổi” Phạm Văn

Lợi, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 5/2000, tr 69-80

3 Hoa văn cổ truyền Đak Lăk Chu Thái Sơn chủ biên, Nxb KHXH, H, 2000

4 Luật tục Êđê Chu Thái Sơn, Nguyễn Hữu Thấu & Ngô Đức Thịnh, Nxb Chính

trị quốc gia, H, 1996

4 Người Churu

1 “Những nghi lễ liên quan đến sản xuất nông nghiệp của người Chu Ru” Phạm

Văn Dương, tạp chí Văn hóa dân gian, số 2/1999

2 “Nghề làm gốm cổ truyền của người Chu Ru” Phạm Văn Dương, tạp chí Văn

hóa dân gian, số 2/1997

B THEO VÙNG

I Đồng bằng Bắc Bộ

1 "Nghiên cứu hội làng và thờ cúng Thành hoàng của người Kinh xuyên quốc gia

giữa Việt Nam và Trung Quốc" Vũ Hồng Thuật, tham gia đề tài cấp bộ (chủ nhiệm đề

tài: Nguyễn Chí Bền, Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật, Bộ Văn hóa, Thể thao và

Du lịch), 2010-2013

2 "Nghiên cứu so sánh nghi lễ bùa chú của người Kinh hai nước Việt – Trung (lấy người Kinh quận Đồ Sơn, Hải Phòng, Việt Nam và người Kinh trấn Giang Bình, tỉnh

Quảng Tây, Trung Quốc làm đối tượng nghiên cứu chính)" Vũ Hồng Thuật, luận án

tiến sĩ, Viện Dân tộc học, Trường ĐH Vân Nam, Trung Quốc, 2013

3 “Constructing Civil Society on a Demolition Site in Hanoi” [Xây dựng xã hội

công dân qua một dự án đền bù giải tỏa tại Hà Nội] Nguyễn Vũ Hoàng, trong State,

Society and the Market in Contemporary Vietnam: Property, Power and Values [Nhà

nước, xã hội và thị trường của Việt Nam đương đại: Tài sản, quyền lực và giá trị], Tam Ho Tai (chủ biên) & Mark Sidel, Nxb Routledge, New York, 2012, tr 87-102

Hue-4 "Đặc điểm văn hóa bùa chú của người Việt ở Việt Nam" Vũ Hồng Thuật, tạp

chí Nghiên cứu văn hóa dân tộc Trung Quốc, số 6/2012, tiếng Trung

5 Tìm hiểu vai trò của dòng họ người Việt ở một làng Bắc Bộ (Nghiên cứu trường hợp làng Bối Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, TP Hà Nội) Phạm Minh Phúc, Tạp

chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3/2011

6 "Bước đầu tìm hiểu các loại hình bùa chú của người Việt" Vũ Hồng Thuật,

trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 7), Nxb

KHXH, H, 2011, tr 403-426

Trang 28

7 "Hợp tác xã thuốc dân tộc Chùa Bộc với việc bảo tồn tri thức y dược học cổ

truyền" Đỗ Thị Thu Hiền, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học

Việt Nam (T 7), Nxb KHXH, H, 2011, tr 439-462

8 "Luận bàn về một số đặc điểm văn hóa bùa chú của người Việt ở đồng bằng Bắc

Bộ, Việt Nam" Vũ Hồng Thuật, kỷ yếu hội thảo quốc tế Lịch sử văn hóa cư dân Bách

Việt trong bối cảnh văn hóa, lịch sử của các cư dân đảo Hải Nam, tại TP Hải Khẩu, tỉnh Hải Nam, Trung Quốc; Nxb Sư phạm Hải Nam, 2011, tr 431-440, tiếng Trung

9 "Nhận diện văn hoá phi vật thể của cộng đồng cư dân phố cổ Hà Nội" Võ Mai

Phương, trong Bảo tàng và nhân học đô thị, Nxb Từ điển bách khoa, H, 2009, tr 286-302

10 Sống trong bí tích – Văn hoá Công giáo đương đại Việt Nam Bảo tàng Dân tộc

học Việt Nam, 2009

11 “Three Goddesses in and out of their Shrine” Vũ Thị Thanh Tâm đồng tác giả,

tạp chí Asian Ethnology, vol 67, số 2/2008, tr 219-236

12 “Vốn xã hội trong đô thị: Một nghiên cứu nhân học về hành động tập thể ở

một dự án phát triển đô thị tại Hà Nội” Nguyễn Vũ Hoàng, tạp chí Dân tộc học, số

5/2008, tr 11-26

13 “Nghề tạc tượng thờ Sơn Đồng” Vũ Thị Thanh Tâm, tạp chí Dân tộc học, số

2/2008, tr 58-70

14 "Đời sống tâm linh của chiếc ván in bùa trấn trạch" Vũ Hồng Thuật, trong Sự

biến đổi của tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay, Lê Hồng Lý & Nguyễn Thị

Phương Châm chủ biên, Nxb Thế giới, H, 2008, tr 227-257

15 "Khẩu dậu cá, nét đặc trưng riêng của làng Việt cổ truyền ở vùng biển đảo:

trường hợp làng Quan Lạn" Nguyễn Duy Thiệu, tạp chí Di sản văn hoá, số 4/2008

16 "Amulets and the Marketplace" Vũ Hồng Thuật, tạp chí Asian Ethnology, vol

67, số 2/2008, tr 237-255

17 "Thực trạng nghề làm giấy dó ở Đống Cao, Bắc Ninh" Vũ Hồng Thuật, hội

thảo quốc tế tại Vân Nam - Trung Quốc, tháng 9/2005

18 “Phụ nữ Đại Yên với nghề thuốc nam” Vũ Thị Hà, trong Các công trình nghiên

cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb KHXH, H, 2005, tr 150-165

19 "From Do paper to Dong Ho Folk prints" Vũ Hồng Thuật, trong The

Preservation and Exhibition of East Asean Culture in Relation to Folk Craft Aesthetics,

Tokyo, 2003, tr 61-68 "Từ giấy dó đến tranh Đông Hồ - một hành trình văn hoá", tạp

chí Thông tin khoa học xã hội, số 1/2005, tr 59- 65

20 "Nghề sơn ở làng Ngọ Trang" Vũ Thị Thanh Tâm, trong Các công trình nghiên

cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb KHXH, H, 2005, tr 223-245

Trang 29

21 "Nghề rèn làng Đa Sĩ, xã Kiến Hưng, Hà Đông, Hà Tây" Vũ Thị Thanh Tâm,

đề tài cấp viện, 2004

22 “Nghề sơn mài làng Hạ Thái” Hoàng Thị Tố Quyên, trong Các công trình

nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 4), Nxb KHXH, H, 2004, tr 90-115

23 "Trò Trám Festival and the Veneration of Ngô Thị Thanh in a Vietnamese

Village" Vũ Hồng Thuật, trong The Art of Rice Spirit and Sustenance in Asia, Bảo tàng

Lịch sử - Văn hoá Fowler, Los Angeles, Hoa Kỳ, 2003, tr 218-239

24 "Nghề làm gốm ở Phù Lãng (Bắc Ninh)" Vũ Thị Thanh Tâm, dự án Dạy nghề

gốm Phù Lãng cho trẻ em tại Bảo tàng DTHVN, 2003

25 “Tìm hiểu nghề nặn tò he” Vũ Hồng Nhi, trong Các công trình nghiên cứu

của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 3), Nxb KHXH, H, 2002, tr 158-169

26 “Phương thức đánh bắt thủy sinh truyền thống ở vùng chiêm trũng huyện Ý

Yên, tỉnh Nam Định” Đỗ Minh Cao, tạp chí Dân tộc học, số 3/2001

27 “Nghề giấy và các làng giấy truyền thống” Nguyễn Tôn Kiểm, trong Các

công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 2), Nxb KHXH, H,

2001, tr 157-176

28 “Một số hình thức đánh bắt hải sản sơ khai ở vùng biển Đông Bắc” Nguyễn

Anh Ngọc, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 2),

Nxb KHXH, H, 2001, tr 117-129

29 “Nghề nón làng Chuông” Phạm Minh Phúc, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam

Á, số 1/2001

30 "Lễ hội làng Trám" Vũ Hồng Thuật, trong Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt

Nam, Nxb Văn hoá dân tộc, H, 2000, tr 981-987

31 “Tác động của sự đổi mới đối với đời sống kinh tế - xã hội của Mông Phụ,

Đường Lâm” Bế Viết Đẳng, tạp chí Dân tộc học, số 4/1999

32 "L'Environnement végétal à Duong Lâm" Võ Thị Thường, trong Mong phu,

un village du delta du Fleuve Rouge (Vietnam), Nguyễn Tùng chủ biên, L'Harmattan,

Pari, 1999, tr 227-256 ["Môi trường thực vật ở Đường Lâm", trong Mông Phụ - một

làng ở đồng bằng sông Hồng, Nxb Văn hoá – Thông tin, H, 2003, tr 177-205]

33 “Tìm hiểu diều sáo truyền thống” Nguyễn Tôn Kiểm, trong Các công trình

nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr 217-221

34 "Đôi điều về nghi lễ thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ" Vũ Hồng

Thuật, tạp chí Dân tộc học, số 2/1999, tr 39-45

35 "Hiện vật cúng Mụ của người Việt trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học Việt

Nam" Vũ Hồng Thuật, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt

Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr 360-383

Trang 30

II Miền núi miền Bắc

1 "Giao tiếp văn hoá giữa các tộc người ở Tây Bắc Việt Nam" La Công Ý, trong

Viet Nam’s Cultural Diversity: Approaches to Preservation, UNESCO xuất bản, 2001

(Trong Tính đa dạng của văn hoá Việt Nam: Những tiếp cận về sự bảo tồn, Trung tâm

KHXH & NVQG xuất bản, H, 2002, tr 121-128)

2 "Tìm hiểu trò chơi của trẻ em người Hmông và Dao (qua khảo sát ở hai huyện

Sa Pa và Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai)" Chu Quang Cường, Đàm Thị Hợp, đề tài cấp viện,

7 Người Khơmú Vi Văn An & Chu Thái Sơn, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2006

8 “Tìm hiểu nguyên liệu đan lát của người Khơmú” Phạm Minh Phúc, tạp chí

Dân tộc học, số 1/2005

4 Người Nùng

9 "Nghề rèn của người Nùng An ở Phúc Sen" La Công Ý, trong Các công trình

nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 7), Nxb KHXH, H, 2011, tr 361-383

10 “Dân tộc Nùng” Vi Văn An, trong Các dân tộc ở tỉnh Hà Giang, Nxb Thế

giới, H, 2003, tr 145-174

11 “Dân tộc Nùng” Vi Văn An, trong Địa chí huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn,

Huyện uỷ & UBND huyện Tràng Định, Lạng Sơn, 2000

5 Người Thái

12 "Ứng phó với biến đổi khí hậu qua kinh nghiệm dân gian của người Thái ở

Nghệ An" Vi Văn An, hội thảo quốc tế Bảo tàng và di sản văn hoá với biến đổi khí

hậu toàn cầu, Huế, 6/2012

Trang 31

13 "Tái định cư và sự thay đổi sinh kế của người Thái ở bản Mà, xã Thanh

Hương, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An" Vi Văn An đồng tác giả, tạp chí Dân tộc

học, số 2/2012, tr 33-49

14 "Tập quán xin và nhận con nuôi của người Thái ở xã Xuân Lẹ, huyện Thường

Xuân, tỉnh Thanh Hoá" Vũ Phương Nga, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng

Dân tộc học Việt Nam (T 7), Nxb KHXH, H, 2011, tr 427-438

15 "Góp thêm tư liệu về quan hệ nguồn gốc của các nhóm Thái ở Lào và người

Thái Việt Nam" Vi Văn An, hội thảo quốc tế Nghiên cứu, đào tạo nhân học ở Việt Nam

trong quá trình chuyển đổi và hội nhập quốc tế, H, 20/10/2010

16 "Tri thức dân gian của người Thái trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước"

Vi Văn An, tạp chí Dân tộc học, số 1/2008, tr 15-24

17 "Displaying the Xặng bók Tree of the Thái People" Võ Thị Thường, tạp chí

Asian Ethnology, số 2/2008, tr 287-304

18 “Nghề dệt của người Thái ở Việt Nam” Vi Văn An đồng tác giả, trong Đồ vải

của người Thái ở tiểu vùng sông Mê Công: tiếp nối và biến đổi, Bảo tàng DTHVN,

2006, tr 75-92

19 “Các giá trị trong văn hoá truyền thống của người Thái Bắc Trung Bộ” Vi Văn

An, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb

KHXH, H, 2005, tr 387-399

20 “Các món ăn của người Thái Đen ở thị xã Sơn La” Nguyễn Thị Hồng Mai,

trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb KHXH,

H, 2005, tr 400-436

21 “Vai trò của phụ nữ Thái trong việc bảo tồn và duy trì giá trị văn hoá tộc

người” Vi Văn An, tạp chí Khoa học và phụ nữ, số 4/2004, tr 21-27

22 “Về mối quan hệ nguồn gốc và những nét tương đồng văn hoá giữa người Thay Đăm, Thay Khao, Thay Đeng với người Thái ở Việt Nam” Vi Văn An, tạp chí

Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1/2004, tr 51-62

23 “Câu chuyện về chiếc ống xem bói của thày bói người Thái ở Nghệ An” Vi

Văn An, tham gia dự án nghiên cứu Đời sống tâm linh hiện vật (hợp tác với TS Lauren

Kendall, Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Hoa Kỳ), 2004, 19 trang

24 “Hành vi, thái độ và tập quán liên quan đến việc sinh đẻ, chăm sóc và nuôi dạy con cái của các dân tộc Tày, Nùng và Hmông (Qua tư liệu khảo sát tại xã Tà Chải, huyện Bắc Hà và hai xã Bản Mế, Cán Cấu, huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai)” Vi Văn

An, tham gia dự án Phát triển toàn diện trẻ em của Trung tâm E&D (Pháp), H, 2003,

30 trang

Trang 32

25 “Rice Harvest Rituals in Two Highland Tai Communities in Vietnam” Vi Văn

An & Eric-Crystal, trong The Art of Rice (Spirit and Sustenance in Asia), Bảo tàng Lịch

sử văn hoá Fowler, Los Angeles, Hoa Kỳ, 2003, tr.119-134

26 “Some features on Municipality Foudation of the Thai people in the west of

Nghe An Province, Vietnam” Vi Văn An, hội nghị quốc tế Thái học lần thứ 8,

Nakhophanom, Thái Lan, tháng 1/2002

27 “Kiến thức bản địa về khai thác, sử dụng, bảo vệ nguồn tài nguyên nước phục

vụ sản xuất nông nghiệp của người Thái Đen tại bản Poọng, xã Hua La, thị xã Sơn La”,

trong Văn hoá và lịch sử các dân tộc nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam, Nxb Văn hóa –

Thông tin, H, 2002, tr 230-240

28 "Một số tập quán trong sinh đẻ và nuôi con nhỏ của người Thái Trắng ở

Mường So" La Công Ý, trong Văn hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ

Thái Việt Nam, Nxb Văn hoá – Thông tin, H, 2002, tr 449-452

29 "Nghề gốm của người Thái ở Mường Chanh" La Công Ý, tạp chí Dân tộc

học, số 6/2002

30 "Lễ cha chiêng của người Thái Mai Châu, Hoà Bình (Việt Nam)" Võ Thị Thường, trong Văn hóa và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam,

Nxb Văn hoá – Thông tin, H., 2002, tr 583-595

31 "Médecine populaire: Rites et thérapeutie chez les Thai de Mai Châu (Việt Nam)" Thèse de doctorat, soutenue en 2002 à l’Université Paris 10 - Nanterre ["Y học dân gian: nghi lễ và liệu pháp chữa trị ở vùng người Thái Mai Châu, Hòa Bình, Việt

Nam" Võ Thị Thường, luận án tiến sĩ, ĐH Tổng hợp Pari 10 - Nanterre, Pháp, 2002,

450 trang]

32 "Những biến đổi trong các truyền thống xã hội của người Thái ở huyện Quỳ

Châu" Mai Thanh Sơn, trong Văn hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái

ở Việt Nam, Nxb Văn hoá – Thông tin, H, 2002, tr 192-199

33 "Flower tree of the Thai Yo (Thanh Hóa, Việt Nam)" Võ Thị Thường đồng tác

giả, Altars and Shrines of the World, Museum Kunst Palast, Dusseldort, 9/2001-1/2002,

tr 116-119 ["Cây hoa nghi lễ của người Tày Dọ ở Thanh Hóa, Việt Nam", trong catalogue trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật đương đại của Đức, từ 9/2001 đến 1/2002, tiếng Đức]

34 “Tính thống nhất và tính khác biệt về trang phục của phụ nữ Thái ở Việt Nam”

Vi Văn An, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4/2001, tr 74-80

35 “Góp phần tìm hiểu về hai nhóm Thái Đen và Thái Trắng ở miền tây Nghệ

An” Vi Văn An, tạp chí Dân tộc học, số 4/2001, tr 32-36

36 “Nước và kỹ thuật dẫn thuỷ nhập điền của người Thái Đen ở bản Poọng, xã

Hua La, thị xã Sơn La” Phạm Văn Dương, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo

tàng Dân tộc học Việt Nam (T 2), Nxb KHXH, H, 2001, tr 203-222

Trang 33

37 "Mấy suy nghĩ về một số biến đổi trong văn hóa vật chất của người Thái ở Quỳ

Châu" Mai Thanh Sơn đồng tác giả, tạp chí Dân tộc học, số 1/2001

38 “Some thoughts about the name “Red Thai” in Vietnam” Vi Văn An, hội nghị

quốc tế Thái học lần thứ 7, Amsterdam, Hà Lan, tháng 7/1999; “Về tên gọi Thái Đỏ ở

Việt Nam”, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4/2000, tr 49-59

39 “Thai weaving in Nghe An Province, Vietnam: The real situation and

Challenges) Vi Văn An, hội thảo quốc tế về Bảo tồn và phát triển văn hoá tộc người,

trường ĐH Columbia tổ chức tại Côn Minh, Vân Nam - Trung Quốc, 1999

40 "Nghi lễ chữa bệnh của người Thái ở Mai Châu (Hoà Bình, Việt Nam)"

Võ Thị Thường, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

(T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr 222-261

41 "Ma thuật chữa bệnh ở xã hội Thái cổ truyền" Cầm Trọng, trong Các công

trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr

207-216

42 Luật tục Thái ở Việt Nam Cầm Trọng & Ngô Đức Thịnh, Nxb Văn hoá dân

tộc, H, 1999

43 "Về bộ y phục của phụ nữ Tày Thanh trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học Việt

Nam" Vi Văn An, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

(T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr 83-88

44 "Local knowledge for treating maladies among the Thai in Mai Châu (Hòa Bình, Việt Nam)" Võ Thị Thường, Vietnamese - Thai collaborative workshop on the

Ethnic communites in changing environment, 9-15/12/1998 ["Tri thức dân gian trong

phòng chữa bệnh tật của người Thái Mai Châu, Hòa Bình, Việt Nam", báo cáo tại hội

thảo quốc tế ở Chiềng Mai, Thái Lan, 1998]

45 “Về tên gọi và lịch sử cư trú của các nhóm Thái ở miền tây Nghệ An” Vi

Văn An, trong Văn hoá và lịch sử người Thái ở Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, H,

1998, tr 318-331

46 “Về quá trình hình thành các tổ chức mường của người Thái ở miền tây Nghệ

An” Vi Văn An, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2/1998, tr 50-55

47 “Structure of Social organization and land owneship of the Thai people in the Highway N0 7 of Nghe An province” Vi Văn An, hội nghị quốc tế Thái học lần thứ 6,

Chiềng Mai, Thái Lan, tháng 10/1996

48 “Hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Thái ở miền núi Nghệ An” Vi Văn

An, tạp chí Văn hóa dân gian, số 2/1996, tr 61-68

6 Người Lào

49 Trang phục của người Lào ở Tây Bắc Việt Nam Võ Thị Mai Phương, Nxb

Chính trị quốc gia, H, 2012, 288 trang

Ngày đăng: 14/05/2021, 20:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w