1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các vị tổ nghề trong nghề thủ công truyền thống Việt Nam: Phần 1

91 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 49,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu Các vị tổ nghề trong nghề thủ công truyền thống Việt Nam: Phần 1 giới thiệu đến bạn một số nội dung về: Một số vấn đề về các ngành nghề - làng nghề - phố nghề truyền thống Việt Nam, nghề thủ công truyền thống việt nam và các vị tổ nghề, nghề đồng,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.

Trang 1

l l l l l l Ì E DÂN GIAN VIỆT NẠM

rRÀN QUÓC VƯỢNG - ĐỎ THỊ HẢO

Trang 2

NGHÈ THỦ CÔNG

TRUYỀN THÓNG

VIỆT NAM VÀ CÁC VỊ

TỎ NGHỀ

Trang 3

HỘI VĂN NGHỆ DÂN GIAN VIỆT NAM■ • •

TRÀN QUỐC VƯỢNG - ĐỎ THỊ HẢO

NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM

VÀ CÁC VỊ TỔ NGHÊ

NHÀ XUÁT BẢN VĂN HÓA THÔNG TIN

Trang 4

D ự ÁN CỘNG BỐ, PHỎ BIÉN TÀI SẢN VĂN HÓA, VĂN NGHỆ DÂN GIAN

VIỆT NAM

(E l, Ngõ 29, Tạ Quang Bửu - Bách Khoa - Hà Nội

Điện thoại: (04) 3627 6439; Fax: (04) 3627 6440

Email: duandangian@gmail.com)

BAN CHỈ ĐAO•

1 GS TSKH TÔ NGOC THANH• Trưởng ban

2 ThS HUỲNH VĨNH ÁI Phó Trưởng ban

3 GS.TS NGUYÊN XUÂN KÍNH Phó Trưởng ban

4 TS TRÀN HỮU SƠN ủ y viên

5 Ông NGUYÊN KIỂM ủ y viên

6 Nhà văn ĐỎ KIM CUÔNG ủy viên

7 ThS VŨ CÔNG HỘI ủy viên

8 Nhà giáo NGUYÊN NGỌC QUANG ủy viên

9 ThS ĐOÀN THANH NÔ ủy viên

10 Ông TRƯƠNG THANH HÙNG ủy viên

GIÁM ĐỐC VĂN PHÒNG D ự ÁN#

ThS ĐOÀN THANH NÔ

Trang 5

Chịu trách nhiệm nội dung:

GS.TSKH TÔ NGỌC THANH

Thẩm định nội dung:

HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH BẢN THẢO

Trang 6

LỜI GIỚI THIỆU■

Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (VNDGVN) là một

tô chức chính trị xã hội nghề nghiệp, nằm trong khối Liên Hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam

Quyết định số 82/NV, ngày 01/03/1967 của Bộ Nội vụ thay mặt Chính phủ đã cho phép Hội Văn nghệ dân gian thành lập và hoạt động trên phạm vi toàn quốc và có mối liên hệ nghề nghiệp với các tổ chức khác ở trong nước và nước ngoài

Tôn chỉ mục đích của Hội là “S ư u tầm , n g h iê n cứuy

p h ổ b iến và tru y ề n dạy vốn văn h ó a - văn n g h ệ dân

g ia n c á c tộ c người Việt N a m ”. T rên c ơ sở th à n h q u ả

của các công việc trên, Hội là một trong những đội quân chủ lực góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa - văn nghệ mang đậm bản sắc dân tộc đã được ông cha ta sáng tạo và giữ gìn trong suốt mấy nghìn năm của lich sử dân tôc.• »

Những giá trị sáng tạo đó thể hiện mối quan hệ của các tộc người Việt Nam với thiên nhiên thông qua các tri thức sản xuất nồng nghiệp; với xã hội thông qua phong tục tập quán, hội xuân; với nhân sinh quan thông qua các íighi lễ vòng đời người; với vũ trụ và thế giới tự nhiên đã được siêu nhiên hóa thông qua các loại hình tín ngưỡng tôn giáo; với lý tưởng thâm mỹ thông qua các sáng tạo văn học nghệ thuật

9

Trang 7

Ở mỗi tộc người Việt Nam, những lĩnh vực và hình thái

văn hóa - văn nghệ này lại được thề hiện trong một săc thái

riêng Chính kho tàng văn hóa đa dạng đó là nội dung, là đổi tượng hoạt động của hội viên Hội VNDGVN.

Sau hơn bốn mươi năm hoạt động, được sự lãnh đạo của Đảng và sự chăm sóc của Nhà nước, Hội VNDGVN đã lớn mạnh với gần 1200 hội viên, số công trình do hội viên của Hội đã hoàn thành lên đến gần 5.000 công trình, hiện đang được lưu trữ và bảo vệ tạỉ Văn phòng Hội.

Nay, được sự quan tâm của Ban Bí thư và Thủ tướng Chính phủ, Dự án “Công bố và phổ biến tài sản văn hóa

- vãn nghệ dân gian các dân tộc Việt Nam” đã được phê duyệt Trong thời gian 10 năm, Dự án sẽ chọn lọc khoảng

2000 công trình trong số bản thảo Hội lưu trữ của hội viên

và xuất bản dưới dạng các cuốn sách nghiên cứu, sưu tầm Trước mắt trong giai đoạn đầu (2008 - 2012) chúng tôi dự định sẽ chọn xuất bản 1.000 công trình.

Hy vọng, các xuất bản phẩm của Dự án sẽ cung cấp cho bạn đọc trong và ngoài nước một bộ sách mang tính chất bách khoa thư về các sắc màu văn hóa của các tộc ngườỉ Việt Nam, phục vụ thiết thực vào việc tra cứu, mở rộng hiểu biết của bạn đọc về truyền thống văn hóa giàu có và độc đáo đó; góp phần xây dựng nền “Văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Dự án mong nhận được ý kỉến chỉ bảo kịp thời của bạn đọc gần xa.

Xin chân thành cảm ơn.

Trưởng Ban Chỉ đạo thực hiện Dự án

GS.TSKH Tô Ngọc Thanh

10

Trang 8

THAY LỜI M Ở ĐẦU VÈ THỦ CÔNG NGHIỆP

VIỆT NAM

Đâu năm 1994, tôi cùng bà Ling Nga Niê K ’Đăm đi thăm hỏi nhân học - dân tộc học ở vùng ngoại vi thành phố Buôn - Ama - Y Thuột Tại Palăm, buôn của bố nuôi ngài bác sĩ Y Ngông Niê K’Đầm, nay là Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt• 9 t C / • ữ •

Nam tôi nhặt được vài viên đá cuội có gia công (galet amé nagé) có vẻ thuộc thời đá cũ vạn ngàn năm trước (năm sau 1995), phó tiến sĩ Phạm Đức Mạnh cũng thu lượm được 1

số viên đá cuội có gia công như thế và sau khi cho tôi xem

và hỏi ý kiến, ồng đã công bố việc phát hiện thời đá cũ ở Tây Nguyên trên tạp chí chuyên môn Khảo cỗ học Cũng

ờ đây, ven thềm cổ gần con suối chi lưu Ea H ’leo của sông Sơ-nê-pôk, tôi cũng lượm được ít mảnh gốm thô và một cụ già làng bà con của bà Ling Nga tặng tôi một chiếc rìu đá

có vai mài nhẵn vừa đào được ở vườn nhà khi trồng cây Kết hợp với những phát hiện trước của Viện khảo cổ học

ở quanh hồ Lak có nguồn gốc núi lửa, chúng tôi khẳng quyết Tây Nguyên có sự tồn tại của con người từ thời đại

11

Trang 9

đá, cũng như ở xứ Lạng, xứ Nghệ, xứ Đoài, xử Thanh tại miền Bắc.

Đầu năm 1996, tôi cùng Giáo sư tiến sĩ Brian Hayden đi thăm hỏi dân tộc - khảo cổ học ở vùng Tà Rụt của người Tà

Ôi Quảng Trị Các già làng Tà Ôi đưa chúng tôi xem nhiều rìu đá tìm thấy ở ven các suối khi đi đãi vàng, về Huế, ông bạn Mai Khắc ứ n g đưa cho hai chúng tôi xem một viên cuội có gia công tìm được ở trang trại của ông trên vùng đồi ven suối Long Hồ, dưới chân núi Kim Phụng Giáo

sư Tiến sĩ Brian Hayden - chuyên gia lớn về đồ đá ở đại học Simon Frager nhận ra ngay đó là một chopper (công

cụ chặt thô) thời đá cũ tuổi vạn năm trở lên và mở tiệc bia• • / 9 •mừng phát hiện quan trọng của ông Mai Khắc ứng

Thê là cả Việt Nam, Băc - Trung - Nam, ở vùng núi đôi đều có thời đại đá cũ mấy vạn năm về trước Việt Nam và các vùng Đông Nam Á khác, có lẽ như Charles Darwin đã

dự kiến đúng, là một trong những cái nôi của loài người, cùng với Đông Phi.

Có con người là có thủ công (Handicralft) Vì con người, vừa là một cá nhân vừa là một sinh vật mang tính xã hội cao nhất (lời F.Engels), có ý thức, có tư duy, có ngôn ngữ,

có mô hình hành động do mình tự do lựa chọn và chịu trách nhiệm (theo nhà xã hội học Fichte), đã biết chế tạo công cụ lao động (Homofaber, Homosapiens, theo lời B.Franklin)

và cải biến công cụ, dụng cụ, máy móc, qua diễn trình lịch

sử loài người

12

Trang 10

Theo các nhà khảo cổ học và các nhà mác xít, con người

sở dĩ trở thành con người vì do một hoàn cảnh tự nhiên nào

đó họ đã ở dưới đất

Đội trời, đạp đất, ở đời.

Do vậy, hai chi dưới (“chân”) đã đi ngấy càng thẳng (Homoerectus) và vì thế hai chi trên (“tay”) được giải phóng (vẫn theo lời của F.Engels) và “Bắt tay vào lao động”, “vào việc chế tạo công cụ” Thật ra? việc chế tạo công cụ hay bất

cứ việc làm gì khác của con người đều cần huy động năng lượng Năng lượng của toàn thể người như quan niệm “chủ toàn”, “cầu tính” (spheric) của tư tưởng phương Đông cổ truyền mà đã từng có một thời, tư tưởng phương Tây theo tuyến tính (linear) thích “phân tích” và đã chia ra nào là:

- Năng lượng thần kinh

- Năng lượng cơ bắp (người và thú)

- Năng lượng trí não

Riêng ông Giáo sư Marcel Mauss ở đại học Paris từ thập kỷ 50 - 60 đã có một luận đề nổi tiếng

(Mọi việc nhân vỏn đều là sự kiện tổng thể)

(Tout fait humain est fait to tal)

Thủ công (và thủ công nghiệp) cũng vậy Nó không thể chỉ được định nghĩa là việc làm (nghề) bằng tay (thủ là tay) Handiéraíìt mà là hand là tay và craft là nghề, là việc làm, cũng như Métier manuel (artisanat) của tiếng Pháp,

13

Trang 11

công (I) là việc làm, như chữ Anh người làm nghề thủ công không chỉ làm bằng tay (chân chạy đi chạy lại đi tìm nguyên liệu, đồ dùng chẳng hạn) mà cả bằng TRI L ự c , TRÍ TUỆ, bằng cả cái TÂM (tâm lực, tâm t r í ) bằng cả TÁM LÒNG của mình nữa chứ!

Tôi chưa bao giờ phản đối việc cấp bằng chứng nhận bàn tay vàng” cho các nghệ nhân, nghệ sĩ thủ công nghiệp dân gian (đã bị dừng lại vài chục năm nay) cũng như tôi rất tán thành với các cố họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Văn

Y và lãnh đạo Bộ Văn hóa khi định danh, định tính cho ngôi nhà 66 phố Nguyễri Thái Học là Viện bảo tàng Mỹ thuật - Mỹ nghệ.

Thời thuộc Pháp, người Tây đã tách chia hai trường:

- Trường Mỹ thuật (Ecole des Beaux arts)

- Trường Kỹ nghệ thực hành (Ecole des arts appliqués)

Âu đó cũng là một thời thuộc địa Rồi sau ngày giải phóng thủ đồ (10/10/1954), ta gọi một trường (ở phố Yết

Kiêu) là cao đẳng (rồi Đại học) Mỹ thuật và (một trường ở

ven đê La thành) là trung cấp rồi cao đẳng rồi Đại học Mỹ thuật công nghiệp.

• 9

Tôi được hân hạnh quen và “đánh bạn” với nhiều giảng

sư học sinh ở trường Mỳ thuật công nghiệp mà tôi và

dư luận Hà Nội coi là những NGHỆ s ĩ đầy tài năng như Nguyễn Trọng Kiệm, như Nguyễn Hải, như Nguyễn Công Thành, như Trần Khánh Chương, Trần Tuy, Nguyễn Tấn

Cứ V V

14

Trang 12

Hội Văn hóa - văn nghệ dân gian Việt Nam mà Giáo sư Tiến sĩ Tô Ngọc Thanh con trưởng nhà danh họa Tô Ngọc Vân là tổng thư kí từ 1989 đến năm 2000 và tôi là cấp phó

đã “dang cả hai tay” đón các cụ nghệ nhân, nghệ sĩ, kể cả bà/cô nghệ sĩ làm “hoa giả” (“hoa lụa”, “hoa giấy” ) MAI HẠNH hay trước đó ít lâu cụ “Thợ thêu” tài danh SONG

HỶ, rồi thì là cụ thợ thủy tinh “Anh hùng lao động, HTX dân chủ” làm hội viên hội văn nghệ dân gian HàNội - Việt Nam Thủ công nghiệp như UNESCO thừa nhận

là một thành tổ của văn hỏa dân gian, vớỉ các bí quyết (know-how), quy trình công nghệ và các sản phẩm hữu thể của các nghề thủ công, hợp thành di sản văn hóa dân tộc

- dân gian mà như nghị quyết giữa nhiệm kỳ Đại hội của đảng cộng sản Việt Nam đã viết là phải “Nghiên cứu, phục hồi các nghề thủ công truyền thống coi như một hưởng công nghiệp hỏa của Việt Nam”

Như vậy, thủ công nghiệp đã có truyền thống tự lâu đời Đầu tiên là nghề đẽo đá (cuội gia công) Theo nhiều nhà khảo cổ học, ở thời ĐÁ c ũ (vài triệu năm đến khoảng

01 vạn năm cách ngày nay), con người đã làm ra các sản phẩm thủ công với khoảng 12 loại nguyên liệu (đá, gỗ, tre, vỏ sò, vỏ ốc, đất, vỏ cây, dây leo, xương, sừng, ngà, da ) Nhưng khi đó thủ công chưa phải là n h ữ n g nghề chuyên n g h iệp , nó chỉ phục vụ cho việc hái lượm, săn bắt (bắn) của loài người

15

Trang 13

Từ thời đại ĐỒ ĐÁ MỚI (01 vạn - 6000 năm cách ngày

nay), nghề nông (trồng trọt, chăn nuôi) ra đời và THƯ CÔNG NGHIỆP dần dà tách khỏi nông nghiệp và theo hướng chuyên môn hóa. Xã hội loài người được phân hóa

và dần dần hình thành, bên cạnh NÔNG DÂN, một tầng lớp THỢ THỦ CỒNG Thời đá mới, ta có thợ gốm, thợ dệt Thời sơ kỳ kim khí, ta có thợ ĐÚC ĐỒNG, THỢ RÈN, SẮT, THỢ MỘC, THỢ N Ề rồi nào là thợ KIM HOÀN, THỢ THEƯ, t h ợ n h u ộ m , t h ợ m â y t r e đ a n , t h ợ

SON SON THẾP (THIẾP) VÀNG v.v

Khéo tay hay làm là một bản sắc văn hóa thủ công truyền thống Việt Nam Tôi nhớ, từ cuối thế kỷ trước, đã

có nhà nghiên cứu từ phương Tây viết rằng thợ thủ công

“An Nam” (Việt Nam) nhất là thợ đan, thợ gốm khéo tay

nhất thế giới (! ?)

Thủ công nghiệp cũng như các ngành văn hóa, văn nghệ dân gian khác và văn hóa nói chung bao giờ bên các nhân tố, thành tổ NỘI SINH cũng có các nhân tổ - thành tố NGOẠI SINH, do kết quả của những sự giao lư, tiếp xúc, giao thoa, hội nhập văn hóa, là quá trình cải biến, bản địa hóa, dân tộc hóa, Việt Nam hóa Đấy là QUY LUẬT.

Không có gì ngạc nhiên, khi trên trường kỳ lịch sử giao lưu văn hỏa kinh tế - xã hội với Trung Quốc, nhiều người Hoa đã sang đất Việt mở xưởng, mở lò hay và nhiều người Việt đã sang Trung H oa do vậy người Việt đã học được của người Hoa nhiều nghề như: nghề làm GIÂY,

16

Trang 14

nghề IN MỘC BẢN, nghề dệt GẤM VÓC cài hoa kết hoa, nghề chế tạo đồ s ứ với nhiều men mầu, hoa văn khác nhau v.v Cũng vậy, nhiều địa phương ở miền Bắc và miền Trung đã học được từ người Ẩn, người Chàm cách xây THÁP đất nung, điêu khắc đá, làm thủy tinh, dệt lụ a

Do “uống nước nhớ nguồn”, trong danh mục Bách nghệ

tổ sư của Vỉệt Nam cỏ nhiều vị gốc Hoa, gốc Chàm hay là những vị sứ giả người Việt đã từng sang Trung Hoa (như Bùi - Trần Quốc Khái, Lê Công Hành tồ nghề thêu), như thám hoa Lương Nhữ Hộc (tổ nghề in mộc bản) như Trạng Bùng - Phùng Khắc Khoan, tổ nghề dệt “lượt bùng ”, trồng NGỎ, KHOAI, ĐẬU, VỪNG v.v Thủ công mới cũng được du nhập từ Pháp, từ phương Tây vào Việt Nam, như nghề thêu “đăng ten”, “bô đê”, may quần áo âu phục, đan len, sơn dầu v.v

Từ thế kỉ XIX đến nay, đã có nhiều sách viết về nghề Song cũng nên chú ý (tôi không muốn dùng chữ “cảnh giác” - nặng nề quá) đến đôi ba điều mà một số học giả trong, ngoài nước đã lưu tâm - lưu ý

1 Có xu hướng “vọng ngoại”,'“sùng ngoại” hay nói như giáo sư Tsu (Từ Tùng Thạch, Đại học Princeton) là

xu hướng “Nam nhân Bắc hướng” Nghề MỘC ở đất Việt chẳng hạn có từ thời đại Đá nhưng cứ hỏi nhiều bác thợ mộc và nhiều phường mộc về tổ nghề LÕ BAN ở tít Bắc Trung Hoa!

17

Trang 15

2 Cũng như nghề NỒNG và việc thờ các vị “Tiền khai

canh, hậu khai khẩn” (hay tiền khai cơ, hậu khai canh tùy từng địa phương ờ miền Trung thì:

a) Có vị là tiền tổ sư (nghề đúc đồng có từ thời Phùng Nguyên Đông Sơn mấy ngàn năm trước, “tổ sư thời vua

Hùng ai còn nhớ được ?)”

b) Cỏ vị là hậu tổ sư; phục hồi hay cải tiến một nghề nào đó Dân đúc đồng ở Ngũ Xá (Hà Nội) chảng hạn và nhiều làng nghề, phổ nghề khác thờ “Tổ sư nghề đồng” là thiền sư Minh Không - Không Lộ - Không Lồ thời Lý và

“gán” cho vị (hậu) tổ sư này đã đúc “An Nam tứ đại khí”.

- Vạc Phổ Minh (xứ Nam Hà)

- Chuông Qui Điền (Thăng Long Hà Nội)

- Tượng Phật Quỳnh Lâm (xứ Đông Hải Hưng)

- Tháp Báo Thiên (bên bờ hồ Gươm, chỗ nhà thờ Lớn

Hà Nội bây giờ, đỉnh tháp bằng đồng).v.v

c) Nghề thủ công Việt Nam là đa dạng và từng nghề cũng có các làng nghề đa dạng, thí dụ có Gốm Bát Tràng, nhưng cũng có gốm Hương Canh, Phù Lãng (xứ Bắc), lại

có gốm Móng Cái (Quảng Ninh ), gốm Quế Quyển xứ Nam, gốm “Mỹ tích của Quảng Trị Thừa Thiên, gốm Thanh Hà của Hội An xứ Quảng, gốm Biên Hòa, sông Bé của miền Đông Nam Bộ, gốm Mnoong ở Buồn Hồ, gốm Tà ôi ở vel (làng) T m uôi v.v ”.

18

Trang 16

Có làng nghề đúc đồng ờ Hè Nôm lại cũng có làng nghề

gò đồng ở Đại Bái (Bưởi Nồi), ở Vó (Quảng Bố), ở Thiệu

Lý Thanh Hóa, ở Phường Đúc xứ Huế, có nghề rèn sắt thép

Đa Sĩ (Hà Tây) rèn Canh Diễn, phố Lò Rèn Hà Nội, lại cỏ nghề rèn của người H ’Mông (Mèo ), của người B ’Ru, Tà

Ỏi, K T u v.v đa dạng về bí quyết - quy trình công nghệ,

về chất liệu, về các mặt hàng v.v

Cho nên cũng không lấy gì làm lạ là MỘT NGHÈ mà

có thể có nhiều TỐ SƯ, tùy làng, tùy địa phương

v ề chi tiết, xin bạn đọc cố gắng xem ở phần lược sử thủ công nghệp Việt Nam và phần tổ sư cóc nghề[

Người xưa - Người nay đều nói: “Cái ngu dốt là cái không có bến bờ nào Còn cái hiểu biết thì luôn luôn có hạn”

Hiểu biết của Câu lạc bộ Nghề truyền thống và ban chủ

nhiệm đề tài “N ghề thủ công Việt N am ” của hội văn hóa -

văn nghệ dân gian Việt Nam chúng tôi là luôn luôn hữu hạn

Lại vì khuôn khổ cuốn sách và sự hạn chế về tài chính• « # nên hãy chỉ xin trình làng cuốn sách nhỏ bé này rất mong được sự góp ý bổ sung

Xin trân trọng cảm ơn!

Trần Quốc Vượng

19

Trang 17

MỘT SÓ VÁN ĐỀ VỀ CÁC NGÀNH NGHÊ - LÀNG NGHÊ - PHỐ NGHÈ

TRUYÈN THỐNG VIỆT NAM

I ĐÔI LỜI NHẬP ĐẺ

01

1.1 Trung tâm văn hóa Việt Nam của Đại học Quốc gia Hà Nội, hội văn nghệ dân gian Việt Nam và câu lạc bộ nghề truyền thống Việt Nam từ các Hội thảo khoa học

và Triển lãm “Hội nghề truyền thống” hàng năm đã nhất trí

về định hướng nghiên cứu, phục hồi - phát triển các ngành nghề - làng nghề - phố nghề truyền thống Việt Nam.

1.2 Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam từ Đại hội lần thứ I (1986 -1989) đã nghiên cứu và in ấn một số sách về làng nghề cổ truyền như Bát Tràng (gốm sứ), Bưởi, Vó (đúc đồng) và về tổ sư bách nghệ Việt Nam (Năm nay (1996), Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam lại đầu tư nghiệp

vụ nghiên cứu về “Thủ công và các vị tổ nghề truyền thống Việt Nam” Sách này phát hành vào dịp giải phóng thủ đô

và 30 năm thành lập hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội (10/10/1966 đến 10/10/1996).

21

Trang 18

Từ sau đại hội II (1989 - 1995) và đại hội III (1995

- 2000), Hội chúng tôi đã có một trương trinh tổng quát nghiên cứu các nghề thủ công cổ truyền Chúng tôi tiếp tục liên kết với các địa phương (thông qua Sở Văn hóa - thông tin và hội - Chi hội văn nghệ dân gian các tỉnh, thành) sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn, in ấn về các nghề - làng nghề

- phố nghề ở thủ đô Hà Nội và các xử Đông (Hải Hưng), Đoài (Hà Tây), Nam (Nam Hà), Bắc (Hà Bắc), Thanh Hoa, Nghệ Tĩnh (nay là Nghệ An và Hà Tĩnh), Bình Trị Thiên (nay là Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế), Quảng Nam, Khánh Hòa, Đồng Nai, Sông Bé, đồng bằng sông Cửu Long

1.3 Sau triển lãm và hội thảo “hội nghề truyền thống 95” tại trung tâm triển lãm Văn Hóa Van Hồ - Hà Nội, được phép của ban tổ chức - cán bộ chính phủ, Bộ Văn hóa - thông tin đã có quyết định thành lập “Câu lạc bộ nghề truyền thống”, chính thức dựng bàn thờ tổ sư bách nghệ Việt Nam, tôn vinh những làng nghề truyền thống, những

nghệ nhân lão th àn h có đôi bàn tay vàng v à k h u y ế n k hích

những tài năng trẻ sáng tạo

*

1.4 Tháng 10 tới đây, cùng với hội văn nghệ dân gian

Hà Nội, Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội, nhân dịp kỷ niệm ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 đến 10/10/1996), và kỷ niệm 30 năm ngày thành lập, Hội liên

hiệp V ăn học n g h ệ th u ậ t H à N ộ i, H ội V ăn n g h ệ d ân g ian

Việt Nam và Câu lạc bộ Nghề truyền thống tổ chức triển lãm tranh - tượng, ảnh nghệ thuật và các sản phẩm mỹ

22

m x ii

Trang 19

nghệ của một số làng nghề - phố nghề ở Hà Nội và các

vùng xung quanh Chúng tôi cũng chính thức tổ chức Đại hội thành lập câu lạc bộ (Hội) Nghề truyền thống Việt Nam và Hội thảo khoa học về Lịch sử - Hiện trạng và những định hướng mới về Phát triển thủ công nghiệp Việt Nam Chúng tồi đề nghị Đảng - Chính phù, các địa phương cả nước, Bộ Công nghiệp, liên minh các Hợp tác

xã toàn quốc, các nhà doanh nghiệp vừa và nhỏ ủng hộ và tài trợ cho Triển lãm và Hội thảo khoa học này Làm như vậy, theo chúng tôi là vì: Việc bảo tồn văn hóa dân tộc - dân gian bao gồm việc bảo tồn truyền thống thủ công Việt Nam có tầm quan trọng hàng đầu đối với thế hệ tương lai của Việt Nam Cũng theo chúng tôi, đấy là lời giải đúng của phép biện chứng qua lại giữa:

TRUYỀN THỐNG _ HIỆN ĐẠI

Theo chúng tôi hiểu, đấy là một trong những cách triển khai Nghị quyết Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam giữa nhiệm kì VII và nghị quyết Đại hội VIII (6 - 7/96) của Đảng về việc Nghiên cứu và Phục hồi các làng nghề Thủ công truyền thống, coi đó là một trong các hướng CỒNG

23

Trang 20

NGHIỆP HÓA và HIỆN ĐẠI HÓA : “Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp, các loại hình dịch

vụ phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân”

Chủ trương mang tính chiến lược ở tàm vĩ mô này trong cả nước đáp ứng lòng mong mỏi bấy lâu nay và làm nức lòng giới nghệ nhân - nghệ sĩ dân gian - già/trẻ, gái/ trai, đã/đang/sẽ có tác dụng “vừa lợi nhà vừa ích nước”,

để họ được hòa cùng các tầng lớp lao động - kinh doanh trí - nông - cồng - thương khác góp phần xây dựng một quốc gia - đa dân tộc Việt Nam đạt lý tưởng “Dân giàu, nước mạnh, Xã hội công bằng, văn minh” trên tảng nền Dân chủ và với định hướng xã hội chủ nghĩa UNESCO giờ đây cũng coi Thủ công nghiệp là Công nghiệp truyền thống (traditional Industy)

Đã từng có nhiều thời - thời đô hộ - thực dân - thuộc địa - do tâm lý tự ti, sùng ngoại, khát khao công nghiệp và mong mỏi “sánh vai Trung Hoa”,“đuổi kịp Tây phương”, nhiều tầng lớp, nhiều thế hệ, nhiều người Việt Nam có phức cảm tự ti (complexe d’infériorité) với các mặt hàng

“nội”- nội địa - nội hóa - Những người ấy phần lớn thuộc tầng lớp “vua - quan” hay “giới thượng lưu”, “thị dân Kẻ Chợ” Ưa thích và khoe khoang biết dùng “trà Tàu”, “đồ

sứ Tàu” - triều đình Lê - Trịnh - Nguyễn chẳng hạn, dù biết

24

Trang 21

phác họa mẫu mã (model) Việt Nam song lại “ký hiểu” -

nhờ các lò sứ Trung Hoa sản xuất - cái mà một thời người

ta có thói quen là “đồ sứ pháp lam” - hay Tây dịch là “bleu

de Hue” Hoặc người ta khát vọng “ăn cơm Tàu, ở nhà Tây ” Hoặc người ta thấy “đôi đũa” là tầm thường, hình như ăn với “cùi dìa” (cuiller) phóng x(s)ết (fourchette) là

có vẻ “văn minh” hơn, “Âu hóa” hơn

0.3.

Có lẽ chúng ta cũng không cần / nên “đổ tội”,“đổ lỗi” hoàn toàn do chế độ đô hộ - thực dân, mà cỏ lẽ cũng nên / cần tính đến trình độ DÂN TRÍ - CÔNG NGHỆ của người mình khi ấy - và cả đến bây giờ nữa.

3.1 Có thể có vấn đề nguyên liệu: Sét “cao lanh” của

“ta” không thật tốt bằng “cao lĩnh sơn địa” của Giang Tây Trung Quốc, chẳng hạn thế Xương gốm - sứ Bát Tràng thuở trước làm bằng đất nâu đỏ Dâu Canh Ghè một mảnh

“sứ Bát Tràng” thế kỷ XVIII ở Hội An - chúng tôi vừa từ đó

về Hà Nội sau ba mùa diền dã 93 - 95 ta sẽ thấy “bên ngoài”

và “bên trong” là “men ngà” (men trâu) song “xương gốm” vẫn là màu đỏ nâu của sét - phù sa Nhị Thủy

3.2 Có thể có vấn đề công nghệ (technology) hay “Quy trình công nghệ”:

Làng Bưởi nồi (Đại Bái) xưa thích gò - giát đồng mà không hẳn thiên về “đúc” đồng, như tổ tiên Đông Sơn trống đồng ngày trước, hay Quảng Bố (Vố) - Ngũ Xã tràng (gốc

Hè Nôm - Văn Lâm và chung quanh vùng đó) ngày sau

25

Trang 22

Gỉới “thượng lưu” Hoa Hạ có tư duy viên mãn (esprit

de plénitude) nên rất trọng sự tinh tế, hoàn thiện, với “quy hoạch”, “cấu trúc” định sẵn, hễ sai “quy cách” là “đập bỏ”,

là “trừng phạt” nghệ nhân - công tượng ở các lò “quan dao” (diêu) chẳng hạn Còn nghệ nhân - nghệ sĩ dân gian Việt Nam làm theo “tùy hứng” nhiều hơn - ngày từ thời Đông Sơn “sơ sử” nữa kia - không có (hay không cần có?) bản vẽ thiết kế “có sẵn”, cứ tùy nghi mà làm rồi “muốn

ra sao thì ra’Y‘lành làm gáo, vỡ làm muôi”, nồi méo cũng dùng, nồi tròn càng tốt, cái gì cũng có “giá” của nó! Đôi khi méo mó một chút - do cái mà người Pháp gọi là “faux

de four” (lỗi do lò) - lại có cái hay riêng của nó, thì đã sao nào? “Dễ làm, khó bỏ” là thói quen Việt một thời Sự “tùy tiện” không còn thích hợp với thời đại Công nghiệp hóa, hiên đai hóa.• #

Hay lấy ví dụ khác, nghề trồng dâu - chăm tằm - ươm

tơ - can h cửi.

Quay tơ vào mắc ra mành,(I) Mắc thì mắc cửi, cỏn mành dàn ngang

Mốt son anh để đầu hàngf2) Mốt cục đem bản cho nàng Kẻ Đơ.

(1) Mắc: sợi to nhỏ nhất, mành: sợi tơ to hơn.• «

(2) Mốt son: sợi tơ sần nhưng không có cục, thường màu son hồng, để dệt làm “biên ” hai bên rìa tẩm “Lĩnh Bưởi ”, Mot cục: sợi tơ sần có những nốt cục, dùng để dệt sồi, dệt thao

26

Trang 23

Nái - Sồi - Lụa - Là - Sa - The - Gấm - Vóc tuy đều là

các mặt hàng to dệt, song lại khác nhau về sắc thái / chất

lượng Thị trường phương Tây, Đông Á và Đông Nam Á

thế kỷ XVII - XVIII rất thích lụa Việt Nam nhưng thường

“chê” vải lụa của ta không có nhiều màu và in hoa thích

hợp Nào có khác gì giấy bổi/ giấy bản, giấy dó lụa, giấy

lệnh, giấy hội, giấy sác rồng Hồi ấy người Việt Nam lại

chưa quen với việc giao dịch, tiếp thị (cũng do kém ngoại

ngữ nữa) với người nước ngoài, thường phải qua trung

gian Hoa kiều, Nhật kiều

3.3 Có thể có vấn đề thói quen, kiểu người phương Tây cắt vỏ khoai hướng vào lòng còn người Việt cắt hướng ra

khỏi lòng (“nhỡ quá tay dao bập vào lồng ngực thì sao”?);

hay một giám định viên gốm sứ cổ chỉ bảo cho tôi: Hai

đĩa sứ này nhìn có vẻ giống nhau, lật đáy lên, nhìn các vết

xoáy theo chiều kim đồng hồ là sứ Việt - Lê, ngược chiều

kim đồng hồ là sứ Hoa - Minh cái đó tùy theo cách đạp

bàn xoay theo hướng nào chẳng hạn (tôi chưa nghĩ hẳn là

đúng, song vẫn cần ghi lại ý kiến này như một “giả thiết”

khoa học kỹ thuật).

04.

Như Karl Marx và nhiều bậc tiền khu, hậu bối của ông

đã nhận xét: Đô hộ - thực dân xét theo ý thức và nhìn tổng

thể là vô cùng có hại cho nhân dân lao động và các dân

tộc bị áp bức, do vậy phải “vùng lên hỡi các nô lệ ở Thế

gian” Tuy nhiên, như Karl Marx viết trong tác phẩm Sự

27

Trang 24

thống trị của Anh ở Ấn và nhiều tác phẩm khác, chế độ thống trị đô hộ thực dân lại còn là “công cụ vô thức của lịch sử”(instum ent inconscient de rhistoire) đẩy các dân tộc bị áp bức - bóc lột vào quỹ đạo của “Văn minh - cận hiện đại”.• ■

Không phải tự nhiên mà trong sách Bách nghệ tổ sự hay trong truyền thuyết - “vô thức tập thể” theo cách nói của Karl Gustav Jung - “tổ sư” nhiều nghề của đất Việt, phương Nam được “gán” cho là từ phương Bắc, do các

vị “sứ giả” Đại Việt “đi sứ Bắc quốc” đem bí quyết nhiều nghề về, như (Bùi) Lê Công Hành, tổ sư nghề thêu Quất Động (và cả nghề lọng) hay như Lương Nhữ Hộc được coi

là tổ nghề khắc ván in mộc bản ở Liễu Chàng (Gia Lộc, Hải Hưng) hoặc “xưa hơn” ba anh em họ Trần, tổ nghề kim ngân, kim hoàn Định Công (Thanh Trì Hà Nội) từ thời Lý Nam Đế (thế kỷ VI) hay muộn hơn chút ít (đầu thế kỉ VII) Mười ông “hậu tổ” nghề dệt the la - là từ Trung Hoa đến, khi nhà Minh thảm bại trước nhà Thanh (1642) Đó cũng

là thời Phật giáo Lâm tế (đời 32 trở đi) có các vị sư Trung Hoa tới Đàng trong truyền bá Phật Giáo Đồ sứ Trung Hoa

- Quảng Đông, Phúc Kiến Được phổ biến và ảnh hưởng mạnh ở đàng trong (Xem Lê Quý Đôn - Phủ biên tạp lục)

Dù đúng hay sai lịch sử, đấy vẫn là hiện thực dân gian,

mà nói như học giả Pháp (xem A.Varagnac hay J.Poirier )

(chủ giải: Jean Poirier (chủ biên) Ethnologie régionale 1,2 (dân tộc học các vùng địa phương), Encyclopédie de

la Pléiade, pari, 1972-1973) dân gian ấy có thể “thực mà

28

Trang 25

không thật”(vrai, mais non réel!) Nghề thêu “bô đê”, nghề trồng hoa “ dơ n” (g laieu l), “xu hào” (chou rave), “xúp lơ” (chou fleur) ờ ta, kể cả việc “chấn hưng” nghề thủ công và mang hàng mỹ nghệ thủ công Việt Nam đi dự “đấu xảo” ở

Hà Nội, ở Paris, Marseille Đâu có tách rời 80 năm thuộc Pháp, kể cả sơn dầu hiện đại với trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1925 - 1945) và trường kỹ nghệ thực hành (Ecole des ats appliqués) ở Hà Nội.

II LỊCH SỬ VÀ HIỆN TRẠNG

Cái hằng số lịch sử là, cho đến nay, nước ta vẫn là nước thuộc phạm trù văn minh nông nghiệp (nói rõ hơn: xã hội trồng lúa - Rice growing Society).

Nhìn theo kinh tế, bây giờ người ta khá dễ dàng thống nhất về diễn trình lịch sử nhân loại qua bốn chặng:

1 Thu lượm

đ

2 Nông nghiệp (trồng trọt + chăn nuồi).

3 Công nghiệp (ở phương Tây từ thế kỷ XVII - XVIII).

4 Hậu công nghiệp - hay có những cách gọi khác (công nghiệp mới, tin học ) (ở phương Tây và một số nước - lãnh thổ phương Đông như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore, Đài Loan ).

Việt Nam đang ở chặng 2 và đang muốn vươn lên - sau vài chục năm công nghiệp hóa, hiện đại hóa - theo kịp các nước tiên tiến ở chặng 4 (dự kiến khoảng 2020 Việt Nam

29

Trang 26

sẽ là một nước công nghiệp) Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn luôn nhắc nhở chúng ta về “nguy cơ tụt hậu”.

- ĐÁ - ĐẢT (thổ hoàng )

- TRE - MÂY - SONG

- GÕ các loại, kể cà vỏ cây, gáo dừa

Trang 27

cho đến nguyên liệu tổng hợp (như plastic, cao phân tử ) hiện nay.

F Engels và sau đó là nhiều nhà khảo cồ như Gordon Childe coi sự xuất hiện NGHỀ NÔNG - kèm theo NGHỀ GỐM (10.000 đến 6.000 năm cách ngày nay) là một

cuộc cách mạng: cách mạng ĐÁ MỚI hay ĐÁ NÔNG

(agrolithique).

2.3 Đến thời đại sơ kỳ kim khí (đồng - đồng thau - sắt 6.000 đến 3 - 4.000 năm cách ngày nay) lại là một cuộc cách mạng khác: Cách mạng kim loại, cách mạng chữ viết, cách mạng nhà nước

REngels nói: “Khi người ta nấu chảy cả đồng thì cũng

là nấu chảy luôn cả xã hội cộng đồng nguyên thủy! ” (Xem

Chổng Đu rỉnh).

F.Engels và nhiều học giả trước/sau cũng cho đó là thời hạn chuyên biệt hóa (specialisation, diferentiation) nghề thủ công với nghề nồng rồi sự ra đời của đô thị (“cách mạng đô thị”) với sự chuyên biệt hóa nghề THƯƠNG

Sĩ - NÔNG - CÔNG - THƯƠNG là “tứ dân” của xã hội nông nghiệp cổ truyền Á Đông trong đó có xã hội quân chủ Việt Nam.m

2.4 Làng Việt Nam chủ yếu là làng của tiểu nông mà sau đó hay gần như đồng thời với nó cũng có sự chuyên biệt thành:

- Làng ruộng

- Làng vườn (như ở Nam Bộ, xem vân minh miệt vườn

của Sơn Nam).

31

Trang 28

- Làng nghề (Bát Tràng, Triều Khúc, Kim Bồng, Làng

Vân )

- Làng buôn (như Đồng Kỵ, Đa Ngưu, Đình Bảng, Phú

Thị )

- Làng chài (các vạn chài ven sông, ven biển)

2.5 Ta hãy thử đưa ra một định nghĩa về LÀNG NGHÈ Theo chúng tôi hiểu, gọi là một LÀNG NGHỀ (như làng

gốm Bát tràng, Thổ Hà, Phù Lãng, Hương Canh , làng

đồng (Bưởi, Vó, Hè Nôm, Thiệu Lý, Phước Kiều ), làng

giấy vùng Bưởi, Dương Ó làng rèn sắt Canh Diễn, Phù

Dực, Đa Hội ) là làng ấy, tuy vẫn có trồng trọt theo lối

tiểu nông và chăn nuôi nhỏ (lợn, gà ) cũng có một số nghề

phụ khác (đan lát, làm tương, làm đậu phụ ) song đã nổi

trội một nghề cổ truyền, tinh xảo, với một tàng lớp thợ thủ

công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường

(cơ cấu tổ chức ), có ông trùm, ông phó cả Cùng với

một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy ừình công

nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ” “nhất nghệ tinh,

nhất thân vinh”, sống chủ yếu được bằng các nghề đó và

sản xuất ra những mặt hàng thủ công; những mặt hàng này

đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và

có quan hệ tiếp thị (marketing) với một thị trường là vùng

rộng xung quanh và với thị trường đô thị, thủ đô (Kẻ Chợ,

Huế, Sài G òn ) và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi cỏ thể

xuất khẩu ra nước ngoài (theo thống kê khảo cổ học, hiện

có 23 địa điểm ở Đông Nam Á tìm thấy đồ gốm sứ Việt

Nam, chưa kể Nhật Bản

32

Trang 29

Những làng nghề ấy ít nhiêu đã nổi danh từ lâu (cổ một

quá khứ trăm, ngàn năm) “dân biết mặt, nước biết tên”, tên

làng đã đi vào lịch sử, vào ca dao, tục ngữ trở thành di

sản văn hóa dân gian.

0.3.

Có làng, có quan hệ liên làng (qua chợ tổng, chợ bến,

chợ huyện, chợ tỉnh, có lễ hội chung thờ Thần - Thánh, tổ

sư nghề nghiệp của nhiều làng ) và cũng có những quan

hệ siêu làng gán cá nhân - họ hàng - làng xóm ấy với vùng

miền và đất nước (Ngã Bẩy ở thành phố Hồ Chí Minh với

nghề dệt gốc Duy Xuyên ớ xứ Quảng Nam).

04.

Khi Đô thị - Kẻ chợ - Kinh đô - Thủ đô và các càng thị

(giang cảng (phố Hiến), hải cảng (Vân Đồn, Hải Phòng,

Bến Thủy, Hội An, cù lao Phố, Sài Gòn, cần Giờ, Vũng

Tàu ) xuất hiện thì sẽ là nơi hội tụ người tài, nghề hay,

nghề giỏi, với vành đai làng nghề, làng rau, hoa quà.

4.1 Hà Nội có các “làng nghề” ven đô như “the La”,

“lĩnh Bưởi”, “Sù Gạ thì giỏi chăn tằm”, gốm Bát Tràng (sử

biên niên ghi từ thế kỷ XIV), giấy Yên Hòa, Bưởi (sử ghi

từ thế kỷ XI)

Vùng Huế có các phường đúc (Long Thọ) và nón “Bài

thơ”, làng sơn, làng tranh dân gian, làng khảm gỗ với các

chợ Sòng, Sãi, Sịa, Sình

33

Trang 30

Vùng Hội An có làng Mộc Kim Bồng, làng rau Trà Quế, làng gốm Thanh Hà, làng /tổng Yến Sào Thanh Châu

Vùng Sài Gòn cỏ làng gốm Cây Mai, làng chạm gỗ c ầ n Đước, gốm Biên Hòa, gốm Sông Bé

4.2 Có hội tụ và có lan truyền

Có cái nội sinh và cỏ cái ngoại sinh được hội nhập vào văn hóa Việt Nam Để tạo nên truyền thống “Khéo tay hay nghề, đất lề Kẻ Chợ’Y6ngát thơm hoa sói hoa nhài, khôn khéo thợ thầy Kẻ Chợ ” *

4.3 Hội văn nghệ dân gian Hà Nội chẳng hạn đã tách cái tổng thể “một là ba”,“ba là một” ra thành ba bước nghiên cứu Cũng về cơ bản là ba thời kỳ lịch đại (diacronic) là:

Ả i về Đ ô n g Tỉnh H uê c ầ u

Đông Tỉnh bán thuốc, Huê cầu nhuộm thâm.

Rồi nào là phố Lò Rèn gốc Canh Diễn, phố Hàng Sơn rồi phố Chả Cá Lã Vọng gốc Hải Dương, phố Hàng Mành

34

Trang 31

gốc “rừng Mành Tam Tào” (Hà Bắc), phố Hàng Quạt gổc

Đào Quạt - Thiện Phiến Hưng Yên, Ngũ Xã đúc đồng gốc

Hè Nôm (Văn Lâm, Hải Hưng ):

Đồng nát lại về cầu Nôm Con gái nỏ mồm về ờ với Cha

V.V VỒ V.V

4.4 Vậy, về mặt lịch sử:

Các phố nghề (thường có chữ đầu tên “hàng” (= sản phẩm, thương phẩm) là sự chuyển đi một bộ phận các làng nghề ở vùng KẺ QUẾ ra KẺ CHỢ Ở đây có sự ganh đua,

sự cạnh tranh để sinh tồn và phát triển, tạo nên một/nhiều yếu tố kích thích, để thợ thủ công cải tiến tay nghề, thay đổi/ đổi mới mẫu mã, khôn khéo “chào hàng”(tiếp thị), mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài Từ

đó có sự phân biệt (tách lập) giữa “thợ thầy Kẻ Chợ” với

“thợ vườn kẻ quê”.

4.5 Có PHỐ NGHÊ (vừa sản xuất vừa bán các mặt hàng thủ công mỹ nghệ) nhưng ở mỗi đô thị - thủ phủ vùng (Huế, Sài Gòn ) hay ở Thủ đô đều có một vành đai các làng RAU - HOA - QUẢ và các làng nghề thủ công để cung ứog các nhu cầu cấp thiết của thị dân phường phố Tây Hồ, Vạn Phúc chẳng hạn dệt lụa song cần đem ra phố Hàng Đào bán hay nhuộm điều (và các màu khác) Hoa - rau Đà Lạt tràn ngập thị trường Sài Gòn, Hà Nội Thợ thủ công Huế, Hội An, Hà Nội từ sau thời đổi mới và

cơ chế thị trường hội tụ về thành phố Hồ Chí Minh ngày

35

Trang 32

càng nhiều Và Huế chẳng hạn đã rung chuông báo động

“chảy máu nghệ nhân”,“bàn tay vàng” Đô thị là nơi hội tụ, hội nhân, hội thủy bộ, hội các mặt hàng đem bày bán ở các chợ và các PHÓ (gốm sứ Biên Hòa, gốm sứ, sơn mài THU DẦU MỘT - sông Bé )

ký ngày 19/01/1993, điều 3: “Đầu tư 100% cho việc sưu tầm, chỉnh lý, biên soạn, bảo quản lâu đài, phổ biến các sản phẩm văn hóa tinh thần gìn giữ các nghề thủ công truyền thống”, đến các nghị quyết của Đại hội VII Đảng Cộng sản Việt Nam như báo cáo giữa nhiệm kỳ đã phản ánh, hay nghị quyết 6 về các vấn đề văn hóa, văn nghệ theo nghĩa rộng rãi của các khái niệm này và mới nhất là Báo cáo chính trị - kinh tế, Nghị quyết Đại hội VIII Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 6 -7/1996)

06.

Các chủ trương chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam cũng phù hợp với chủ trương của tổ chức UNESCO - mà Việt Nam

36

Trang 33

là một thành viên - về việc “bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc”, “bảo tồn và phát ừiển di sản văn hóa hữu thể và vô thể”, trong đó có cả một “Đề án khôi phục các làng nghề thủ công” (3/1994).

07.

Bộ Văn hóa thông tin, được Chính phủ và Quốc hội góp

ý thông qua có cả một chương trình “Chống xuống cấp và tôn tạo di tích” 94 - 95.m

Có nghĩa là chúng ta và cùng chúng ta UNESCO thừa nhận việc suy thoái của NGHÊ - Làng nghề - Phố nghề

(chủ thích: theo tìm hiểu của hội văn hóa - văn nghệ dân gian Hà Nội, dường như trong “Khu phố cổ ” chỉ còn dăm

ba phố nghề với những mặt hàng thủ công đủng nghĩa như: Phố Hàng Đồng, phố Hàng Mã, phố Hàng Bạc Rất nhiều người lo ngại rằng nếu “Khu phố cổ ” Hà Nội mất đi các mặt hàng cổ truyền và kiến trúc truyền thống ( “Nhà hình ống”) thì sẽ bị suy giảm khả năng hấp dẫn khách du lịch, nhất là các ngành du lịch văn hóa (Cultural Tourism)

với nhiều nguyên nhân như sự biến đồi cơ cấu kinh tế xã hội, biến động về chính trị kinh tế, tôn giáo, biến đổi môi trường, sự “thờ ơ” của một số bộ phận giới trẻ với di sản truyền thống của tổ tiên, việc quá chạy theo đòng tiền và kinh tế thị trường rồi “quên mất” mặt mỹ học của sản phẩm thủ công, tâm lý vọng ngoại (đã nói ở trên), nguy cơ đứt gãy truyền thống khi các lão nghệ nhân - nghệ sĩ dân gian

đã và đang ra đi với nhiều “bí quyết” (know - how) nghề nghiệp: men rạn, mộng gỗ đóng bén và

37

Trang 34

III MẤY KHUYẾN NGHỊ

Hội văn nghệ dân gian Việt Nam chia sẻ trách nhiệm với Bộ công nghiệp, Bộ Văn hóa thông tin và Hội đông Trung ương liên minh các Hợp tác xã cùng các nhà doanh nghiệp vừa và nhỏ về việc thực hiện đường lối nghiên cứu

và phục hồi các ngành nghề - làng nghề - phố nghề thủ công của Đảng Cộng sản Việt Nam

Hội văn nghệ dân gian Việt Nam vô cùng hào hứng được thấy trong/sau “Hội nghề truyền thống 95” là sự khen thưởng - cả tinh thần và vật chất - các sản phẩm có giá trị của từng làng nghề ; kết thúc trỉển lãm (19/5) “một Câu lạc

bộ nghề Việt Nam” được thành lập (3/1996) để tiến tới ra mắt một “Hội nghề truyền thống Việt Nam”

Hội văn nghệ dân gian Việt Nam và nhiều vị hội viên đã

tự nguyện làm thành viên tập thể và cá nhân của Câu lạc bộ

N ghề V iệt N am rồi H ội nghề tru y ền th ố n g V iệt Nam

Chúng tôi đã và đang có những khuyến nghị cụ thể, xin tóm tát như sau:

Tổ chức những trung tâm tư liệu, sưu tầm, lưu giữ rồi nghiên cứu các tư liệu hữu thể và vô thể (chủ giải: có người gọi là “vật thể”và “phi vật thể”(từ ngữ của UNESCO là

tangible và intangible). (đã được hữu thể hóa bằng ghi âm, bằng hình ) về ngành nghề - làng nghề - phố nghề thủ

38

Trang 35

công và tiến tởi khuyến khích việc xây dựng các bảo tàng mini về thủ công ở từng làng - vùng thủ công truyền thống hay/và bảo tàng thủ công cho cả nước Ở đó sẽ thường xũyên có những triển lãm khác nhau về việc bảo tồn và phát triển các sàn phẩm thù công độc đáo Việt Nam Tôi đã thấy ở Australia, ở Mỹ, ở Pháp người ta bảo tàng từng cái

“đó”, cái “lờ”, cái “lưới dệt” của thổ dân Liệu chúng ta có làm nổi việc đó với thổ cẩm Tày Cao Bằng, phà Thái Tây Bắc, cạp váy Mường, khố váy Tây Nguyên, sà tích, bình vôi quả đào chạm bạc, lệnh - cồng - chiêng Bưởi - Vó (Hà Bắc), lư đỉnh đồng Huế, Phước Kiều (Quảng Nam) gốm -

sứ Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng, Hương Canh, Thanh Hà, Biên Hòa, sông Bé ?

Chúng tôi sắp tổ chức (11/1996) triển lãm Trang phục Việt Nam, bát đầu từ trang phục nhà trường đến trang phục dân gian - quỹ tộc cung đình Chúng tôi sẽ triển lãm Đàn

- sáo - bộ gõ Việt Nam của Đại học quốc gia Hà Nội, đã cùng các học giả địa phương Quảng Trị phát hiện một bãi

di tích với hàng ngàn bình vôi các loại, gắn liền với tục lệ

và nghi thức trầu cau vượt trội ở vùng Đông Nam Á và chúng tôi đã đề nghị Bảo tàng Quảng Trị hãy có riêng một gian Bảo tàng bình vôi độc đáo nhất nước (được Đại sứ Nhật rất quan tâm) Và, như ông Giám đốc triển lãm Văn hóa nghệ thuật Bộ Văn hóa thông tin Lưu Duy Dần đã định

vị, triển lãm “Hội nghề truyền thống 95” (rất gần đây tôi được biết Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, với sự tài trợ của Musée de L ’Homme (Paris Pháp) đã thu thập được

39

Trang 36

nhiều di sản hữu thể của các tộc người trên toàn lãnh thồ Việt Nam và sẽ chỉnh thức khai trương vào tháng 8/1997)

là “triển lãm độc đáo” (xem báo Hà Nội mới số ra ngày thứ hai 08/05/95) báo Nhân dân số ra ngày thứ bảy 06/06/95) Hội văn nghệ dân gian Hà Nội đã tổ chức nghiên cứu và nghiệm thu đề tài “Các món ăn đặc sản Hà Nội”, “Ngày Văn hóa Hà Nội” sẽ được tổ chức tại trung tâm miềrTNam (thành phố Hồ Chí Minh) và trên cả nước

03.

Tiếp theo các hội chợ, triển lãm khoa học, chúng ta nên

tổ chức trong khuôn khổ “CLB nghề” hay/và “Hội nghề thủ công truyền thống” (nay UNESCO gọi thủ công nghiệp là Công nghiệp truyền thống (Traditional Industry)các cuộc hội thảo - đối thoại tay đôi - nghệ nhân - nghệ sĩ dân gian/ nhà nghiên cửu hay tay ba (thêm các nhà doanh nghĩệp, quản lý - quản trị - lãnh đạo)

Khi Hội văn nghệ dân gian Hà Nội đoạt giải nhất về

đề tài Ngành nghề - làng nghề - phố nghề và Sở Văn hóa Thông tin và Hội Văn nghệ Hà Tây đoạt giải ba về Hà Tây Làng nghề - Làng Văn, khi nghiệm thu về đề tài này, giáo sư Vũ Khiêu - Chủ tịch Hội đồng và nhiều học giả thành viên khác đã tỏ ý tiếc về sự khiếm diện của các nhà quản trị kinh doanh để chúng ta cùng bàn bạc với nhau về những “lối ra” (issues) của ngành nghề - làng nghề - phố nghề cùng với các sản phẩm thủ công truyền thống để sao cho cái “mất đi” và cái được “khôi phục lại” sẽ là một sự HÀI HÒA

40

Trang 37

04.

Cần tổ chức thường xuyên Đấu xảo lói mới, thi tay nghề

như trong nhiều lễ hội xưa tổ tiên ta tổ chức thổi cơm thi, dệt thi giữa cù lao, ao hồ và phải/cần đặt các giải thưởng hàng năm hay/và 5 - 3 năm cho các nghệ nhân - nghệ sĩ dân

gian truyền thống Dân gian ta có truyền thống thờ cúng - sùng bái tổ tiên trong đó có Bách nghệ tổ sư, như các Bà Chúa Lụa Hà Tây, Bà Chúa Sành Hà Bắc, các ông tổ nghề thêu, nghề lọng Hà Tây, nghề in mộc bản xứ Đông, nghề dệt chiếu cói xứ Nam cùng các Ỏng tổ nghề đồng, nghề kim hoàn Đó là những nhân vật lịch sử và đó cũng là những nhân vật biểu tượng phong phú và đa dạng Nhớ ơn và Thờ cúng Tổ tiên là một nét bản sắc Văn hóa Việt Nam.

05.

Chúng ta cũng cần tồ chức các lớp huấn luyện ngắn hạn

- trung hạn - hay dài hạn để truyền nghề cho lớp trẻ (chú thích: cố nhiên là vẫn có một khó khăn là nhiều cụ nghệ nhân vẫn muốn giữ “bỉ quyết nghề nghiệp” và chỉ truyền dạy chúng cho CON - CHÁư trong NHÀ Với giới hạn lịch

sử, thì điều đó cũng “tốt thôivà nên thông cảm, khích lệ.) làm hồi sinh lại và nâng cao vị thế và tác dụng của trường dạy nghề, trường PTTH vừa học vừa làm ở địa phương, ở Trung ương.

Thế giới đã làm vậy, Việt Nam với chủ trương chiến lược “đổi mới”, “mở cửa”, “muốn làm bạn với các nước” cũng đã/đang và sẽ cần lăm như vậy.

41

Trang 38

Chúng ta đã/sẽ tổng kiểm kê và đưa ra các Catalouge(s)

về kho báu quốc gia sống động (living natinal treasures - khái niệm của UNESCO) - các nghệ nhân nghệ sĩ dân gian lão thành để qua sự giúp đỡ của nhà nước và các tổ chức

“phi chính phủ”(NGO) trong và ngoài nước, các đấng bậc

đó có thể truyền đạt yếu/bí quyết (know - how) cho các thế

hệ sau Giáo sư tiến sĩ, Giám đốc Sở khoa học Công nghệ

và Môi trường Hà Nội đã và vẫn quyết định sang năm 1997

- tài trợ cho Hội văn nghệ dân gian Hà Nội tổng kiểm kê các ngành nghề và làng nghề của “vành đai Hà Nội”

07

Với chính sách “đổi mới”,“mở cửa”, “làm bạn với tất cả các nước” của Nhà nước ta thì cần có những thể chế (institutions) thể lệ, quy ché (regulations) cụ thể cho ngành nghề - làng nghề thủ công, ví dụ như “vùng nguyên liệu”(cây sơn, cây dầu rái ) thiết bị thủ công mới (nhập nội) - thuế sản phẩm - cửa hàng - tiếp thị trong ngoài nước (khuyến khích xuất khẩu), thu nhập của nghệ nhân - ai có tài phải có thu nhập cao “là thường tình” (mà có lúc ta

bị rơi vào “chủ nghĩa bình quân” thời bao cấp chưa xa lắm ) Nhiều học giả nước ngoài nhận xét: thợ thủ công Việt Nam rất khéo tay song các thiết bị - công cụ hành nghề thủ công (kể cả các lò gốm sứ, đồng, rèn, rèn sắt ) thì còn quá thô sơ!

06.

42

Trang 39

Cần phát triển ngành du lịch văn hóa cao đến những làng nghề - vùng nghề truyền thống của cả nước Du lịch văn hóa và sinh thái là thế mạnh của ngành du lịch Việt Nam.

Như vậy là: phục hồi các hoạt động thủ công truyền thống còn cần hơn là phục hồi các làng nghề, phố nghề Không những đấy là sự giữ gìn Và phát huy di sản văn hóa dân tộc - dân gian mà còn tạo được việc làm cho hàng vạn lao động trẻ ở nông thôn và đô thị.

Vậy có cần có cách tiếp cận liên ngành (Interdiscliplinary Approach) và cần có sự liên kết của các cơ quan Nhà nước

và các tổ chức ngoài chính phủ về việc nghiên cứu phục hồi ngành nghề - làng nghề thủ công Việt Nam).

08.

43

Trang 40

Làm được như vậy là, qua ngành nghề - làng nghề - phốnghề mà chúng ta thực hiện được chiến lược xây dựng một nền hỏa Việt Nam tiên tiến mà vẫn mang đậm đà bản sắc dân tộc - dân gian, chiến lược công nghiệp hỏa, hiện đại hóa Việt Nam.

Hội văn nghệ dân gian Việt Nam và Hà Nội cùng Câu lạc bộ nghề truyền thống Việt Nam mong mỏi và phấn đấu trở thành một trong những địa chỉ đáng tin cậy của Hệ giả trị Văn hóa Việt Nam. Khu triển lãm văn hóa - nghệ thuật Vân Hồ sẽ là một trong những noi thực thi các dự định khả thi của chúng tôi

Kính mong các nghệ nhân - nghệ sĩ dân gian và các quý

vị lãnh đạo, quản lý, kinh doanh, quý vị học giả ở trung ương và địa phương góp thêm nhiều ý kiến quý báu

Xin trân trọng cảm ơn!

10.

44

Ngày đăng: 14/05/2021, 20:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w