phần 1 cuốn sách Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian việt nam do trần thị an biên soạn cung cấp cho người đọc các kiến thức: truyền thuyết với tư cách là một thể loại văn học dân gian, văn bản hóa truyền thuyết dân gian trong sử và thần tích.
Trang 1C K 0000067155
TRẦN THỊ A N
Đ Ặ C TRƯNG THỂ LOẠI
V Ấ VIỆC V Ă N BẢN H Ó A TRUYỀN* THUYẾT D Â N G IA N
VIỆT N A M
N H À XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ V Ệ C VĂN BẢN HÓA• • •
TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN VIỆT NAM
Trang 3Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trần Thị An
Đặc trưng thể loại và văn bản hoá truyền thuyết dân gian Việt Nam / Trần Thị An - H : Khoa học xã hội, 2014 - 360tr : bảng ; 24cm
Phụ lục: tr 275-339 - Thư mục: tr 340-359
1 Văn học dân gian 2 Truyền thuyết 3 Đặc trưng thể loại
4 Văn bản hoá 5 Việt Nam
398.209597 - dc23
KXF0053p-CIP
Trang 4TRẦN THỊ AN
TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN VIỆT NAM
N H À XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 6Trang
Chương I TRUYỀN THUYÉT VỚI TƯ CÁCH
l ẳ Truyền thuyết trong hệ thống thể loại văn học dân gian 11
1.1 Nghiên cứu truyền thuyết - một cái nhìn toàn cảnh 111.1.1 Tình hình sưu tầm, nghiên cứu truyền thuyết trên
1.2.2 Phân chia thể loại trong nghiên cứu truyền thuyết
1.3 Nhận diện bản chất thể loại truyền thuyết - những vấn
1.3.1 Tiêu chí "nội dung lịch sử" và sự vay mượn hình
thức nghệ thuật của thần thoại và truyện cổ tích 401.3.2 Mối quan hệ giữa đơn vị truyện và thể loại 441.3.3 Các bộ sưu tập truyền thuyết 46
2.1 Khung phân tích và các vấn đề hữu qưan 48
Trang 7ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ VIỆC VĂN BẢN HÓA ề,
2.1.1 Khung phân tích: Loại hình nội dung, phạm trù
ngữ nghĩa và nhu câu tâm lý - tinh thần củangười kể/người nghe truyền thuyết 482.1.2 Mối quan hệ giữa đề tài và thông điệp của người
(hay "bí ẩn của thế giói tâm linh") trong truyền
2.3.3 "Truyền thuyết - tin đồn": sự tương đồng trong
việc kể/nghe và lan truyền truyền thuyết của thế
3.1 Thời gian lịch sử - cảm giác trong truyền thuyết 773.1.1 Thời gian - lịch sử trong cảm giác 793.1.2 Tính phi thời gian trong miêu tả 883.2 Không gian thiêng trong truyền thuyết 913.2.1 Núi - nơi trú ngụ của thần linh 933.2.2 Đá - sự sống trong trạng thái tĩnh 973.2.3 Cây - sự sống trong trạng thái động 1013.2.4 Sông và sóng nước - sức mạnh của cả khối 1073.2.5 Mây mù - công cụ của sự hiển thánh, linh cảm về
3.3.1 Motif "Ra đời kỳ lạ" 112
Trang 8Mục lục
3.3.2 Motif "Chiến công phi thường" 1143.3.3 Motif "Hóa thân" (hay "cái chết thần kỳ") 118
Chương 2 VÃN BẢN HÓA TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN
1 Truyền thuyết trong sử - niềm tin vào sự huyền diệu có thật 123
1.1 Sử hóa truyền thuỵết - tinh thần dân tộc và phương
1.2 Truyền thuyết trong bình sử - hai bờ hư thực của
1.2.1 Hai bờ hư thực của truyền thuyết 1421.2.2 Người kể chuyện và sử gia - chủ thể kép của
truyền thuyết dân gian trong các bộ sử 147
2 Truyền thuyết trong thần tích - niềm tin vào sự thiêng liêng 152
2.1.1 Thành hoàng và thành hoàng làng 152
2.3 Mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và thần tích:
nghiên cứu trường hợp các ngôi đền thờ thần núi ở
2.3.1 Thừ tìm hiểu sự ảnh hưởng qua lại giữa thần tích và
truyền dàn gian qua nguồn tài liệu của một địa phương 174
Chưong 3 VIỆC VĂN BẢN HÓA TRUYÈN THUYÉT DÂN GIAN
1 Vài nét về tình hình ghi chép truyền thuyết trong văn xuôi
1.1 Ghi chép văn học dân gian - bước đi đầu tiên của văn
Trang 9DẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ VIỆC VÃN BẢN HÓA.
1.3 Chất dân gian của những truyền thuyết được văn bản hóa 2081.3.1 Đặc trưng thể loại và việc giới hạn tài liệu khảo sát 2081.3.2 Truyền thuyết được văn bản hóa, một dạng đậc
thù của truyền thuyết dân gian 209
2Ề Việc ghi chép truyền thuyết dân gian trong văn xuôi tự
2.1 Truyền thuyết dân gian trong "Việt điện u linh" 2152.1.1 Hệ thống nhân vật trong "Việt điện u linh" 2162.1.2 Motif truyền thuyết trong "Việt điện u linh" 2182.1.3 Những yếu tố của nghệ thuật trần thuật trong
2.2 Truyền thuyết dân gian trong "Lĩnh Nam chích quái" 222 2Ễ2.1 Đề tài của truyền thuyết trong "Lĩnh Nam chích quái" 2242.2.2 Motif truyền thuyết trong "Lĩnh Nam chích quái" 2282.2.3 Nghệ thuật trần thuật trong "Lĩnh Nam chích quái" 231
3 Việc ghi chép truyền thuyết dân gian trong văn xuôi thế
8
Trang 10LỜI NÓI ĐẨU
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, truyền thuyết là một thể loại được công nhận muộn hơn các thể loại tự sự dân gian khác
Có nhiều lý do gây nên hiện tượng này: thứ nhất, do tính chất đặc
biệt của nội dung, thể loại này gắn với lịch sử hoặc dã sử nên tính hư
cấu được cho là giảm thiểu tối đa; thứ hai, do cảm hứng đặc biệt của
người kể chuyện nên những câu chuyện được kể trong truyền thuyết thường gắn với tín ngưỡng và do vậy, gắn với diễn xướng nhiều hơn
là đọc hoặc kể; thứ ba, do tính tự sự của các câu chuyện được kể
không thật đa dạng, thể loại truyền thuyết nằm trong sự giao thoa
khó tách bạch với thần thoại và truyện cổ tích; thứ tư, truyền thuyết
dân gian sớm được biên soạn theo các "công thức" của thần tích hay được ghi chép và trở thành một bộ phận của văn xuôi và các thư tịch khác thời trung đại
Phải đến cuối thế kỉ XX, khi có nhiều tài liệu sưu tầm truyền thuyết được công bố, giới nghiên cứu văn học dân gian mới công nhận sự tồn tại độc lập của thể loại truyền thuyết Tuy nhiên, từ các truyền thuyết được sưu tầm trong dân gian, người đọc đã chứng kiến
sự rời rạc của kết cấu, sự trùng lặp của cốt truyện, sự khô khan của cách kể các câu chuyện truyền thuyết, vì vậy, việc xác định đặc trưng thể loại truyền thuyết với tư cách là một thể loại văn học dân gian lại gặp không ít trở ngại Nhưng cũng có một đặc điểm quan trọng là, hơn bất cứ một thể loại văn học dân gian nào khác, truyền thuyết có sự gắn bó chặt chẽ với văn hóa dân gian; và như vậy, nghiên cứu truyền thuyết không thể không nghiên cứu văn hóa dân gian, hay nói cách khác, nghiên cứu tín ngưỡng, lễ hội dân gian, không thể không đề cập tới phương diện ngôn từ của niềm tin, đó là truyền thuyết
Trang 11ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ VIỆC VĂN BẢN HÓA
Cuốn sách này được hoàn thành dựa trên kết quả nghiên cửu truyền thuyết từ góc độ văn học dân gian (với việc nghiên cứu truyên thuyết trên văn bản) từ trước đến năm 2000 và từ góc độ văn hóa học, nhân học (với việc nghiên cứu truyền thuyết, thực hành tín ngưỡng qua
tư liệu điền dã) của những năm tiếp theo
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu truyền thuyết
từ góc độ ngôn từ (khảo sát ở phương diện thể loại) và từ góc độ văn hóa dân gian, nhân học văn hóa nhưng cuốn sách này chắc chắn cần phải hoàn thiện thêm trong quá trình hiểu sâu hơn về thể loại truyền thuyết với tư cách là một thể loại văn học dân gian và với tư cách là phần lời của tín ngưỡng, lễ hội dân gian đang bùng phát ở nước ta vài thập niên gần đây
Rất mong nhận được sự góp ý của bạn đọc gần xa
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
r w i r _ •
Tác giả
10
Trang 12CHƯƠNG 1
TRƯYỂN THUYẾT VỚI T ư CÁCH
LÀ MỘT THỂ LOẠI VĂN HỌC DÂN GIAN• • •
1 Truyền thuyết trong hệ thống thể loại văn học dân gian
1.1 Nghiên cửu truyền thuyết - một cái nhìn toàn cảnh
Theo lối duy danh tên gọi của thuật ngừ truyền thuyết trong văn
học dân gian các nước đều mang nghĩa rất rộng Thuật ngữ legend
được dùng để chỉ truyền thuyết trong các nước Anh, Hoa Kỳ, Nga, Pháp đều xuất phát từ chữ Latinh có nghĩa là "những cái dùng để đọc"1 Ở Nhật Bản, truyền thuyết có nghĩa gốc là "những điều khó quên"; còn ở Trung Quốc, từ thòi cổ đại, truyền thuyết có những nét nghĩa gần với "truyền văn" và "truyền ngoa" Gọi là "truyền văn", tức là chỉ những sự việc không phải chính tai mình nghe thấy, chính mắt mình trông thấy Gọi là "truyền ngoa" tức là chỉ vào những sự việc, những mẩu chuyện hoang đường kì quái lưu truyền trong dân gian"2ễ Ở Việt Nam, một số định nghĩa về truyền thuyết như: "truyền thuyết vốn là những điều được truyền lại từ đời trước qua cửa miệng các thể hệ"3, hay "truyền thuyết là tất cả những câu chuyện lưu hành trong dân gian có thật xảy ra không thì không có gì bảo
đảm"4 gần với lối định nghĩa giải thích từ của Từ điển Hán Việt:
1 William - Legend, Microsoft (R) Encarta (R) 97 Encyclopedia (C) 1993-1996
Trang 13ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VẢ VIỆC VĂN BẢN HÓA.
truyền thuyết là "lời nói được kể lại từ đời này qua đời khác"1 đã làm cho việc nhận diện đặc điểm nội dung và nghệ thuật tự sự của thể loại truyền thuyết gặp không ít khó khăn Để hiểu rõ hơn về thuật ngữ này, cần đặt nó trong việc nghiên cứu thể loại văn học dân gian trên thế giới
1.1.1 Tinh hình sưu tầm, nghiên cứu truyền thuyết trẽn thế giới
Trong folklore học thế giới, truyền thuyết là một thuật ngừ chỉ một bộ phận ngôn từ đặc biệt của folklore, sớm được chú ý với tư cách là một thể loại Lịch sử nghiên cứu folklore đã chứng kiến nhiều cách tiếp cận của các trường phái khác nhau, trong đó, tiếp cận từ thể loại là một cách tiếp cận xuất hiện gần như đồng thời với
sự hình thành chuyên ngành nghiên cứu văn học dân gian Việc lấy thể loại làm tiêu chí để phân loại folklore là một ý tưởng xuất phát
từ các học giả châu Âu mà người có công đầu là Jacob Ludwig Karl Grimm (1785-1863) và Wilhelm Karl Grimm (1786-1859) Sự phân biệt bước đầu ba thể loại thần thoại, truyền thuyết, cổ tích được coi
là ba thể loại chính của tự sự dân gian trong bộ sưu tập của anh em
Grimm trong Thần thoại Đức (1835) đã được các nhà nghiên cứu
ngữ văn dân gian coi như có tính chất hướng đạo trong một thời gian dài Trong cuốn sách này, Grimm đã phân biệt thần thoại và cổ tích như sau: "Thông thường, tất cả những truyện cổ tích đều là những vết tích của một tín ngưỡng thời tối cổ và được thể hiện trong những khái niệm tu từ về những gì siêu cảm giác Những yếu
tố thần thoại là những mảnh vụn của một chuỗi ngọc bị vờ ra nàm trên đất, bị phủ kín bởi hoa cỏ và chỉ có những đôi mắt tinh tường mới nhận ra được Ý nghĩa của yếu tố huyền thoại này đã bị tản mát, tuy nhiên, có thể tìm thấy chúng trong truyện cổ tích, đồng thời làm thỏa mãn tình cảm tự nhiên trong những điều huyền diệu Chúng chắc chắn không phải là vật trang trí cho những trí tưởng tượng lười biếng"2 Và đây là sự phân biệt giữa cổ tích và truyền thuyết: "Có nhiều lý do thích đáng để phân biệt truyện cổ tích với
1 Nguyễn Tôn Nhan, Từ điển Hán - Việt, Nxb Từ điển Bách khoa, H 2003, tr.767.
2 Jacob Grimm, Thần thoại Đức {Germanic Mythology), S cott-T ounsend xuất bản, W ashington, D.C., 1997, tr.3.
Trang 14truyền thuyết dân gian mặc dù chúng luân phiên kết nối với nhau Lỏng lẻo hơn và ít bị giới hạn hơn truyền thuyết, truyện cổ tích thiếu đi tính địa phương vốn đóng khung truyền thuyết và làm chc truyền thuyết chất phác hơn Truyện cổ tích thì bay, truyền thuyết thì đi và gõ vào cửa từng nhà Một bên thì có thể nối thẳng với sự phong phú của thi ca, còn bên kia thì lại gần như có uy quyền với lịch sử" [Jacob Grimm: 1835/3] Sự phân biệt này có ý nghĩa hình thành những khái niệm cơ bản, để từ đó, các nhà nghiên cứu đi sau triển khai cụ thể hơn.
Cuối thế kỉ XIX, các nhà nghiên cứu thuộc trường phái địa lý - lịch sử Phần Lan (Historic-geographic Method) là Julius Leopold Fredrik Krohn (1835-1888), Kaarle Krohn (1863-1933), Antti Amatus Aame (1867-1925) đã đi sâu nghiên cứu truyện cổ tích bằng việc tập hợp nhiều dị bản truyện cổ tích của châu Âu và sắp xếp chúng theo các đơn vị type và motif Phương pháp này được áp dụng và phát triển bởi nhà cổ tích học Hoa Kỳ Stith Thompson (1885-1976); ông đã sưu tầm, tập hợp, lập bảng tra type và motif truyện cổ tích trên toàn thế giới1 Các công trình của ông lần lượt từ việc dịch và
mở rộng bảng tra type truyện cổ tích do A.Aarne xác lập đến Bảng
tra m otif văn học dân gian2 và Truyện cồ tích3 là sự kiên trì ứng dụng
phương pháp địa lý - lịch sử Phần Lan vào việc nghiên cứu truyện
Chương 1 Truyền thuyết vói tư cách là một thể loạịỆ
1 Stith Thompson, The Type o f the Folkltale - A Classification and Bibliography, Antti A a rn e ’s Verzeichnis der Màrchentypen (FF CommuỉúcatioììSS no 3) Translated and Enlarged by Stith Thompson (Kiểu truyện cổ tích Bàng phân loại và thư mục Danh mục truyện cô tích của Antti Aarne công bố trên Thông báo của các nhà folklore số 3 được Stith Thom pson dịch và
mở rộng) Xuất bản các năm 1928, 1946, 1964, 1981 tại Helsinki và Hoa Kỳ.
2 Stith Thompson, Motif-index o f Folk-Literatiire, A Classification o f narrative elements in folk-tale, ballads, myths, fables, medieval romances, local legends (Bàng tra m o tif văn học dân gian Bàng phân loại các yếu tổ tự sự trong truyện cô tích, ballad, huyên thoại, truyện ngụ ngôn, văn học trung đại, tiểu thuyết lãng mạn, tiếu thuyết e.xempìa, truyện thơ tiếu lâm, truyện cười và truyền thuyết địa phương), Bloomington, Indiana, USA. (Xuất bản
từ 1932 đến 1936)
3 Stith Thom pson, The Folktale (Truyện cổ tích, xuất bàn ờ Hoa Kỳ vào các năm 1946, 1951, 1977).
Trang 15ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ VIỆC VĂN BẢN HÓA.
cô tích nói chung, văn học dân gian nói riêng Phương pháp này ban đầu chỉ tập trung vào truyện cổ tích nhưng về sau, s Thompson đã
mở rộng ra nhiều thể loại khác và kết quả nghiên cứu chung của Aame và Thompson (được gọi là từ điên A-T) đã được áp dụng đê sẳp xếp nhiều thể loại truyện cổ dân gian vào các ô type và motif, trong đó có truyền thuyết1
Việc sưu tầm truyền thuyết ở châu Âu được bắt đầu vào đầu thế
kỉ XIX nhưng việc nghiên cứu nó như một đối tượng độc lập chỉ mới bắt đầu vào nửa sau thế kỉ XX Trong công trình tổng thuật lịch sử nghiên cứu truyền thuyết của châu Âu và châu Mỹ, nhà truyền thuyết học người Hoa Kỳ Wayland D Hand2 cho biết, việc sưu tầm và nghiên cứu chuyên sâu về truyền thuyết trên thế giới được bắt đầu từ thể kỉ XIX bởi các học giả người Đức (bộ sưu tập truyền thuyết được sưu tầm và biên soạn bởi hai anh em Grimm
Truyền thuyết Đức (.Deutsche Sagen, 1816-1818) và đầu thế kỉ XX
ở cuốn Những truyền thuyết (Die sage, 1908) của Karl W ehrhan (1871-1939) Công trình Những truyền thuyết của Karl Wehrhan
được coi là đã truyền cảm hứng cho các nhà nghiên cứu đi sau, trong đó, nổi bật nhất là Friedrich Ranke (1882-1950) Tuy nhiên, ờ châu Âu, bộ phận folklore ngôn từ này không được nghiên cứu trong một thời gian khá dài và chỉ thực sự được quan tâm khi có một số bộ sưu tập truyền thuyết được công bổ3 Nó trở thành chủ đề
của nhiều cuộc hội thảo quốc tế của của Hội nghiên círu tự sự dãn
gian quốc tế (The International Society for Folk - Narrative Research -
ISFNR)4, và theo Wayland D.Hand thì hội thảo này là "một mối
1 Reidar Th.Christiansen (1958), The Migratory Legends, FF Communication,
N o 175, Helsinki: A cadem ia Scientiarum Fenica; V iện K hoa học xã hội Trung Quốc (1992), Trung Quốc truyền thuyết co sự đại từ điển, Bắc Kinh.
2 W ayland D Hand (1965), Status o f European & American Legend Study,
In "Current Anthropology", Volume 6, No 4, Oct 1965, page 439-466.
3 Reidar Th Christiansen (1958), The Migratory Legends, sđd
4 Hội N ghiên cứu tự sự dân gian quốc tế (The International Society for Folk
N arrative Research) là một tổ chức quốc tế gồm các học giả nghiên cứu lĩnh vực tự sự dân gian, folklore và những lĩnh vực liên quan Hội được hình thành từ năm 1959 tại Hội thảo quốc tế các nhà nghiên cứu tự sự dân
14
Trang 16Chương 1 Truyền thuyết với tư cách là một thể loại.
quan tâm mới thức tỉnh", "gõ vào sự thờ ơ đối với truyền thuyết dân
gian hơn một thế ki rưỡi qua" (tính từ khi bộ Truyền thuyết Đức
được công bố từ đầu thế kỉ XIX)
Ở Hoa Kỳ, việc nghiên cứu chuyên sâu thể loại truyền thuyết được bắt đầu muộn hơn so với thần thoại và truyện cổ tích; đồng thời, thể loại này cũng ít được chú ý hơn Richard Merce Dorson đã viết: "Không giống như balad, tục ngừ hoặc các thể loại folkore khác, truyền thuyết nhận được rất ít sự khảo sát tường tận từ những nhà folklore Hoa Kỳ, mặc dầu mọi người khi nói chuyện đều nói về truyền thuyết"1 Theo ông, tập tài liệu sưu tầm truyền thuyết đầu
tiên của Hoa Kỳ được công bố năm 1884 của Drake (.A Book o f
New England Folklore) tập họp các mẩu chuyện ngẩn được lấy từ
sách báo trong thư viện và lời kể của người địa phương về phù thủy, bóng ma, cướp biển ; và cách thức này được tiếp tục bởi một số nhà sưu tập khác trong suốt thế kỉ XX Do xuất xứ của các truyền thuyết này vừa từ nguồn các sách báo, vừa từ các câu chuyện truyền miệng, lại được phổ biến rộng rãi nên R.M.Dorson đã gọi
chúng bằng các khái niệm truyền thuyết dân gian ựolkl legend),
truyền thuyết đại chúng {popular legend) hay truyền thuyết thành văn (literary legend).
Vào đầu thế kỉ XX, một hướng quan tâm khác về thể loại truyện dân gian được thực hiện bởi nhà nhân học nổi tiếng Hoa Kỳ Franz Boas (1858-1942) Điểm khác biệt của nhà nhân học F.Boas so với nhà cổ tích học s.Thompson (hay Drake với bộ sưu tập truyền thuyết được cắt ra từ các văn bản trong thư viện nói trên) là: trong khi s.Thompson chỉ tập hợp các văn bản truyện cổ đã được công bố thì F.Boas và các học trò của ông vừa tiến hành sưu tầm các thể loại folklore ngôn từ của người da đỏ; F.Boas chủ trương vừa sưu
gian ờ Kiel và Copenhagen, chính thức thành lập năm 1962 trong cuộc họp ờ A ntw erp (Bi), có mục đích phát triển mạng lưới và khuyến khích sự trao đổi kết quả nghiên cứu cùa các nhà khoa học nghiên cứu tự sự dân gian Trona 55 năm hoạt động cùa mình (1959-2014), Hội đã tiến hành 16 Hội thảo quốc tế ờ các châu lục khác nhau.
1 Richard M erce Dorson (1971), American Folklore and the Historian,
University o f Chicago Press, tr.14.
Trang 17ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ VIỆC VĂN BẢN HÓA.
tập truyện kể vừa chú ý đến việc thực hành chúng trong các môi trường cụ thể Từ thực tế việc lưu truyền và diễn xướng truyện kể, ông đã phân biệt hai loại truyện dân gian như sau: "Luôn luôn tồn tại sự phân biệt rõ ràng hai loại truyện cổ Một nhóm liên quan đến những sự kiện xảy ra vào thời gian mà thế giới chưa có hình dạng như bây giờ và loài người chưa sở hữu những phong tục hay nghệ thuật như chúng ta ngày nay Nhóm kia thì bao gồm những truyện
kể của thời đại chúng ta Nói cách khác, truyện kể của nhóm thứ nhất được gọi là thần thoại, còn truyện kể của nhóm thứ hai thì được gọi là lịch sử"1 Tuy xác định một nhóm là "truyện lịch sử" nhưng trong công trình của mình, ông cũng chưa gọi tên thể loại là truyền thuyết mà chỉ đặt vấn đề nghiên cứu thần thoại và truyện cổ tích [Franz Boas: 1940]
Một lý thuyết gia lừng danh khác chuyên nghiên cứu thần thoại
là Bronislav Malinowski (1884-1942) Ông không lý giải các "tàn dư" quá khứ như cách làm của các nhà tiến hóa luận mà tập trung nghiên cứu sự sống sót của các nhóm xã hội một cách tổng thể Mỗi thành tố văn hóa, thể loại là một ví dụ, đều là một nhân tố có chức năng duy trì và tiếp tục sự tồn tại của nhóm xã hội đó Chẳng hạn, "thần thoại thể hiện, củng cổ, mã hóa những tín ngưỡng; nó bảo vệ và cưỡng chế đạo đức; nó bảo đảm tính hiệu lực của nghi lễ
và chứa đựng những quy định thực hành có tính hướng đạo cho con người Thần thoại, vì vậy, là một thành tổ của văn minh nhân loại;
nó không phải là những câu chuyện vu vơ, thiếu căn cứ mà là một lực lượng hoạt động tích cực; nó không phải là một sự giải thích thông thái hay một tưởng tượng mang tính nghệ thuật, mà là một nghị định thực tế của niềm tin sơ khởi và một sự trải nghiệm có ý nghĩa đạo đức"2 Vì vậy, trong quan niệm của B.Malinowski, thể loại có mục đích thỏa mãn những nhu cầu tinh thần và xã hội của
] Franz Boas (1940), Mythology and Folk - tales o f the North American Indians (Than thoại và truyện cổ tích của người da đỏ Bắc Mỹ), N ew York: M acmillan.
2 Bronilav M alinowski (1948), Magic, Science and Religion and Other Essays (Ma thuật, khoa học, tôn giáo và một số tiếu luận khác), Illinois: The Free Press, tr.79.
16
Trang 18Chương 1 Truyền thuyết với tư cách là một thể loại
con người, chúng có chức năng duy trì xã hội theo từng loại chuẩn mực mà mỗi thể loại định ra, vì vậy, nghiên cứu thể loại folklore là nghiên cứu chức năng của chúng Hơn nữa, chức năng có tính toàn cầu, vì vậy, theo B.Malinowski, nghiên cứu hệ thổng thể loại cần nghiên cứu chức năng mang tính toàn cầu của chúng và sơ đồ thể loại cần phải có tầm bao quát tư liệu văn học truyền miệng trên phạm
vi toàn thế giới Tuy nhiên, sự khảo sát bổi cảnh của từng nền văn học dân gian cụ thể cho thấy, chức tìăng thể loại là rất đa dạng, chúng không giống nhau trong những cộng đồng khác nhau, thậm chí, chủng không giống nhau trong quan niệm của các thành viên trong cùng một cộng đồng
Chịu ảnh hưởng sâu sắc lý thuyết chức năng của B.Malinowski, William Bascom (1912-1981) đã chủ trương nghiên cứu thể loại folklore dựa trên chức năng của chúng, về các thể loại ngôn từ tự
sự dân gian, ông đề nghị như sau: "Thần thoại, truyền thuyết và truyện cổ tích không được xếp vào những bảng phân loại mang tính chất toàn cầu nhưng những khái niệm mang tính phân tích của chúng lại được ứng dụng rộng rãi xuyên văn hóa ngay cả đối với những bảng phân loại địa phương mang tính vùng đậm đặc Chúng được các nhà nghiên cứu folklore châu Âu phân chia thành ba thể loại, phản ánh những bảng phân loại bản địa của folklore châu Ầu; nhưng chúng cũng dễ dàng rút gọn lại thành bảng phân chia hai thể loại trong những xã hội ấy, như chúng ta sẽ thấy, nhóm thần thoại
và truyền thuyết được xếp vào cùng một bảng thần thoại - truyền thuyết và chúng được phân biệt với cổ tích là những truyện hư cấu"1.Tuy nhiên, việc coi truyền thuyết như một đổi tượng của nghiên cứu chuyên ngành, hay nói cách khác, bộ môn truyền thuyết học Hoa Kỳ chỉ thực sự được bắt đầu vào thập niên 60 của thế kỉ XX, gắn với tên tuổi của Linda Dégh (1920-2014), người chỉ mới từ Hungary đến Mỹ vào khoảng những năm 1960 Như vậy là, việc triển khai nghiên cứu chuyên sâu truyền thuyết dân gian ở Hoa Kỳ gần như đồng thời với châu Âu (mà chúng tôi nói ở trên) nhưng
1 William Bascom (1965): Folklore Form: Oral Narrath’e (Hình thirc folklore:
Tự sự truyền miệng), Journal of American Folklore, No 78, p 3-20.
Trang 19ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ VIỆC VAN bản h ó a
ngay từ đầu, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã chọn một lối đi khác hẳn Với những kinh nghiệm từ chuyên môn dân tộc học và từ việc nghiên cứu truyền thuyết Hungary, Linda Dégh đã nhanh chóng băt nhịp với những yêu cầu đặt ra từ thực tế tư liệu folklore Hoa Kỳ và tạo nên một trường phái mới trong nghiên cứu truyền thuyêt thê giới (còn được gọi là trường phái Indiana) về một bộ phận truyên thuyết không phải của nông dân mà của dân thành thị, không phải của người già mà hầu hết là của lớp trẻ, không phải là truyền thống
mà hoàn toàn mới mẻ, thậm chí đang trong giai đoạn thành hình
Bộ phận truyền thuyết này được gọi là truyền thuyết đương đại - contemporary legend, hoặc truyền thuyết đô thị - urban legend Nói một cách ngắn gọn, truyền thuyết đương đại là mẩu kê rời rạc có mục đích chia sẻ của một người với cộng đồng về sự hiện hữu của phép lạ mà người kể chuyện được can dự hay biết chắc đã xảy ra; những câu chuyện này có màu sắc nửa hư nửa thực Nhóm truyền thuyết này chưa tồn tại dưới dạng những truyện độc lập xét từ góc
độ trần thuật, mà chỉ tồn tại dưới dạng các tin đồn Và điều đặc biệt của dạng truyền thuyết này là sự ám ảnh, lan tỏa và thu hút sự quan tâm lớn của cộng đồng, là việc tạo nên một loại "diễn đàn" cho sự chia sẻ của các thành viên trong cộng đồng Trong khi các truyền thuyết về lịch sử trong quá khứ dường như đã hoàn tất và người đương thời ứng xử với nó theo những mô thức đã được cộng đồng chấp nhận thì truyền thuyết đương đại là một hệ thống mở, mời gọi mọi người cùng suy ngẫm về những vấn đề đang xảy ra bàng cách chia sẻ trải nghiệm của mình Có một điểm chung ở nhiều quốc gia
là, có những khoảng thời gian khá dài, xã hội ở trong tình trạng biến chuyển chậm, một số giá trị được định hình, vì thế, con người sổng trong các giai đoạn đó tuân theo các công thức ứng xử chung của cộng đồng Tuy nhiên, ở những giai đoạn xã hội thay đổi với tốc độ nhanh, các hệ giá trị thay đổi, con người bị rơi vào một trạng thái ít nhiều chơi vơi thiếu điểm tựa; vì vậy, có nhu câu mãnh liệt
về sự chia sẻ những trải nghiệm của bản thân với cộng đông cũne như nhận sự sẻ chia của người khác Tình trạng này đặc biệt điên hình cho bối cảnh đương đại, không riêng bất cứ quôc gia nào C ác
nhà nghiên cứu truyền thuyết H o a K ỳ đ ã mau chóng năm b a t n h u
cầu của con người trong những giai đoạn xã hội nhiêu đôi th a y và18
Trang 20từ đó, họ nhận ra và thu thập được những câu chuyện lan truyền trong các cộng đồng dân cư.
Với hướng đi này, có thể nói, những tìm tòi của các nhà nghiên cứu truyền thuyết Hoa Kỳ là sự cố gắng bứt phá, thoát ra khỏi ảnh hưởng của truyền thống nghiên cứu truyền thuyết châu Ầu, từ bóng trùm rợp của hai anh em Grimm để bắt nhịp được với những chuyển biến nhanh của đời sống Với các bộ sưu tập công phu về vô số các bản kể truyền thuyết đương đại, với các công trình nghiên cứu kỹ lưỡng, với hội thảo đột phá vào năm 1969, các tên tuổi Linda Dégh, Jan Harold Brunvand, Wayland D Hand đã được thế giới biết đến như phát hiện của nước Mỹ về những khám phá mới mè, những sáng tạo không ngừng trong việc tìm kiếm sự bí ẩn không cùng của đời sống tâm linh con người Có thể kể tên một số công trình tiêu
biểu như: Wayland D.Hand, 1971: Truyền thuyết dân gian Mỹ: Kỷ
yếu Hội thảo; Jan H.Brunvand, 1981: Ngiĩời khách quá giang; Linda
Degh, 2001: Truyền thuyết và niềm tin - Phép biện chứng của một thể
loại folklore; Jan Harold Brunvand, 2001: Bách khoa thư về trưyền thuyết đô th ị
Sự tìm tòi của các nhà nghiên cứu truyền thuyết Hoa Kỷ đã gây một hiệu ứng mạnh mẽ tới các nhà nghiên cứu truyền thuyết châu
Âu Năm 1982, tại Trường Đại học Sheffield của nước Anh, một hội nghị quốc tế về truyền thuyết đương đại được tổ chức Tại hội nghị này, các nhà khoa học châu Âu và Hoa Kỳ đã cùng bàn bạc sâu về truyền thuyết đương đại Kỷ yếu hội nghị được xuất bản sau
đó hai năm, năm 1984 Từ sau hội nghị này, truyền thuyết đương đại nhận được sự quqn tâm rộng rãi và đó là tiền đề cho sự ra đời của Hội Nghiên cứu truyền thuyết đương đại quốc tế (International Society for Contemporary Legend Research)1 vào cuối thập niên 80 thế ki XX và cơ quan ngôn luận của nó, tờ Truyền thuyết đương đại (Contemporary Legend) (mà số lượng các nhà khoa học Hoa Kỳ
1 Hội Nghiên cứu Truyền thuyết đương đại quốc tế (International Society for Contem porary Legend Research - ISCLR) được thành lập năm 1988 với mục đích không chi nghiên cứu truyền thuyết đương đại hay truyền thuyết
đô thị mà mở rộng phạm vi nghiên cứu các truyền thuyết đang được kể lại, được lưu truyền trong cộng đồng (any legend that circulates actively).
Chương 1 Truyền thuyết với tư cách là một thể loại
Trang 21ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ VIỆC VĂN BẢN HÓA
trong Ban biên tập là 5/12), ra số 1 vào năm 1991 Có thể nói, kết quả nghiên cứu truyên thuyêt đương đại là những đóng góp đặc săc của các nhà nghiên cứu folklore Hoa Kỳ - nó thể hiện lối làm việc độc lập và khả năng nắm bắt nhanh nhạy những vấn đê mới này sinh trong đời sống đương đại
Theo nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch, ở Trung Quốc, "truyền thuyết" không phải là một khái niệm đã có từ xa xưa mà nó chi mới được chuyển dịch từ thuật ngữ "truyền thuyết học" của người Đức (volksagenkunde) vào những nấm 80 của the ki XX,
dù rằng, việc sưu tầm và văn bản hóa truyền thuyết đã có từ hàng ngàn năm trước Tuy nhiên, dù được hình thành muộn nhưng bộ môn nghiên cứu này ở Trung Quốc có những bước tiến rất nhanh chóng Vào thập niên 80, 90 của thế kỉ XX, một loạt bộ sưu tập
truyền thuyết được công bố: Truyền thuyết H àng Châu (1980),
Truyền thuyết Tô Châu (1982), Truyền thuyết tho sản, đặc sản Trung Quốc (1982), Từ điển thần thoại, truyền thuyết Trung Quốc (1982) và đặc biệt là công trình đồ sộ hơn 900 trang Đ ại từ điển truyền thuyết, cổ tích Trang Quốc ( Trung Quốc truyền thuyết cổ sự đại từ điển) do Sở Nghiên cứu Văn học thuộc Viện
Khoa học xã hội Trung Quốc biên soạn đã được công b ố 1 Cũng theo tác giả Kiều Thu Hoạch, Nhật Bản quan tâm đến việc nghiên cứu truyền thuyết sớm hơn rất nhiều Ngay từ năm 1935, Hội Nghiên cứu truyền thuyết dân gian Nhật Bản đã được thành lập
và ngay sau đó, các công trình quan trọng về lý thuyết thể loại
như Truyền thuyết, Danh vựng truyền thuyết N hật Bản, Từ điển
truyền thuyết Nhật Bản đã được công bố Việc nghiên cứu truyền
thuyết đã bắt đầu được chú ý đầu thế kỉ XX Các vấn đề như sử dụng tư liệu truyền thuyết trong văn bản hay truyền thuyết truyền miệng, đặc trưng của thể loại truyền thuyết, ranh giới siừa truyền thuyết và các thể loại truyện dân gian khác, việc mở rộng giới hạn thể loại truyền thuyết, phân loại truyền thuyết đã đ ư ợ c
đưa ra bàn luận
1 Kiều Thu Hoạch, "Thể loại truyền thuyết dưới mắt các nhà nghiên cứu folklore N hật Bản và Trung Quốc", Tạp chí Văn học, số 1, 2000.
20
Trang 22Chương 1 Truyền thuyết với tư cách là một thể loại.
/ 1.2 Tinh hình sưu tầm, nghiên cứu truyền thuyết ở Việt Nam
Ở Việt Nam, việc sưu tầm truyền thuyết được bắt đầu khá sớm nhưng việc nghiên cứu truyền thuyết với tư cách là một thể loại văn học dân gian lại muộn hon nhiều so với việc nghiên cứu thể loại truyện cổ tích Các nhà nghiên cứu truyện dân gian Việt Nam đều
khá thống nhất ở nhận định rằng, trong các tài liệu hiện còn, Việt
điện u lỉnh (1329) và Lĩnh Nam chích quái (đầu thế kỉ XIV) là hai
tập sách ghi chép nhiều truyền thuyết dân gian có niên đại sớm hơn
cả Hai tập sách này đã được nhiều người chép lại, bổ sung thêm phần truyện kể và phần lời bình Ờ cac phần lời tựa, lời bạt của chuỗi văn bản này, người biên soạn đã trình bày quan niệm của mình về nội dung và cách thức biên soạn tập sách, mà qua đó, người đọc đời sau có thể hiểu phần nào về quan niệm của tiền nhân về đặc điểm của những nội dung được chọn lọc để đưa vào tập sách; và đương nhiên là, vấn đề truyền thuyết với tư cách là một thể loại của văn học dân gian vẫn chưa được đặt ra lúc bấy giờ
Vào rửitmg năm cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ X X , việc nghiên
cứu truyền thuyết ở Việt Nam vẫn chưa được bắt đầu Những công
trình sưu tầm, biên soạn như Truyện đời xica (Trương Vĩnh Ký, xuất bản lần đầu vào năm 1866), Chuyện giải buồn (Huỳnh Tịnh Của, xuất bản lần đầu vào năm 1885), Truyện co mrớc Nam (Nguyễn
Văn Ngọc, xuất bản lần đầu vào năm 1932) đều chưa có một ý thức
rõ rệt về các thể loại tự sự dân gian Trong công trình nghiên cứu
Việt Nam văn học sử yếu (1941) của Dương Quảng Hàm, chương Văn chương bình dân (thuộc thiên Văn chươìĩg truyền khẩu) chỉ đề
cập tới ca dao, tục ngữ, thành ngữ, phương ngôn, câu ví Phải đến
năm 1942, với sự ra đời của Việt Nam cổ văn học sử1 của Nguyễn
Đổng Chi thì việc nhận diện thể loại truyền thuyết mới được manh nha Trong công trình này, Nguyễn Đổng Chi đã chia truyện đời xưa thành 3 loại: thần thoại, chuyện thần quái, chuyện vặt Qua những phân tích của ông, có thể thấy bóng dáng của truyền thuyết ở loại chuyện thần quái, tuy nhiên, thuật ngữ truyền thuyết vẫn chưa được đặt tên cho một thể loại Cũng vào nửa đầu thế ki XX, các bài viết
1 Nguyễn Đổna Chi, Việt Nam cổ vãi học sử, Hàn Thuyên xuất bản cục, H 1942.
Trang 23ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ VIỆC VĂN BẢN HÓA.
của tác giả Phục Ba [1930: 486-492], Nhàn Vân Đình [1928: 31-
34] trên Tạp chí Nam Phong chưa nhắc đến thuật ngữ truyền thuyết
mà chỉ mới kể lại một số câu chuyện về các nhân vật lịch sử như Lê Phụng Hiểu, Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lê Lợi Ẻ và trong khi kể, các tác giả này đã gọt hết yếu tố thần kỳ của truyện, chỉ chú trọng đến yếu tố lịch sử
Có thể nói, người đầu tiên sử dụng thuật ngữ "truyền thuyết" là
Đào Duy Anh Trên Tạp chí Tri tân, ông viết: "Sách xưa của người
Trung Quốc không chép việc Triệu Đà đánh An Dương Vương để chiếm Tượng Quận, nhưng cứ truyền thuyết ấy, nếu ta bỏ đi những yếu tố hoang đường thì cũng còn lại cái kỷ niệm của một cuộc chiến tranh hẳn cóMlế Cũng trong năm 1942, tuy không sử dụng thuật ngữ "truyền thuyết" nhưng tác giả Hoa Bằng, trong khi đổi chiếu truyền ngôn với sử đã cho những người quan tâm đến mối liên hệ giữa sử và truyền thuyết một thông tin lý thú: "Theo thần tích làng Lâu Thượng, huyện Bạch Hạc, tỉnh Phú Thọ có nói nhà bà làm nghề chăn tằm, quen gọi cái kén dày là kén chắc, kén mòng là kén nhì nên khi Hai Bà Trưng sinh ra, nhà bèn ứng dụng ngay hai tiếng thuật ngữ ấy mà đặt tên cho chị là Chắc, em là Nhì Sau đó,
sử tàu chép không có chữ Chắc, mới chép thành Trắc, không có chữ Nhì, mới chép thành Nhị"2
Trong những năm 30 - 40 của thế kỉ XX, nhà nghiên cứu Nguyễn
Văn Huyên đã có một loạt chuyên khảo về truyền thuyết, như Góp
phần nghiên cứu một vị thành hoàng Việt Nam: Lý Phục Man (1938), Hội Phù Đổng (một trận đánh thần kỳ trong truyền thuyết Việt Nam
(1938), Tục thờ củng thần tiên ở Việt Nam (1944) Bằng cách tiếp
cận dân tộc học/nhân học, tác giả Nguyễn Văn Huyên đã sử dụng phương pháp phân tích từ nhiều góc độ trên cơ sở phân tích các nguồn tư liệu truyền thuyết trong thư tịch và truyền thuyết truyền miệng trong mối liên hệ với di tích, phong tục, tín ngưỡng Được
1 Đào Duy Anh, "Những truyền thuyết đời thượng cổ nước ta", Tri tán, số
30, ra ngày 7/1/1942, tr.4.
2 Hoa Bằng, "Tại sao từ nay nên viết là Trưng Chắc, Trưng N hì?", Tri tán,
số 41, tháng 4/1942, tr.15.
22
Trang 24Chương 1 Truyền thuyết với tư cách là một thể
loại-triển khai bằng các phương pháp và thao tác nghiên cứu khoa học chuyên ngành và liên ngành bài bản, các kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Huyên có giá trị sâu sắc đối với nhiều ngành nghiên cứuỗ Những công trình này đều viết bàng tiếng Pháp và đến năm 1995 mới đến được với đông đảo các nhà nghiên cứu Việt Nam trong ấn bản tiếng Việt
Phải đến những năm 50 của thế kỉ XX, việc nghiên cứu văn học dân gian mới được đưa lên một bước mới Trong một loạt công trình
nghiên cứu liên tiếp ra đời như: Truyện cổ tích Việt Nam (1957, Vũ Ngọc Phan), Lược khảo về thần thoại Việt Nam (1959, Nguyễn
Đổng Chi), Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (1957, nhóm Lê
Quý Đôn), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (1957, Nguyễn Đổng
Chi, Văn Tân, Hồng Phong) thuật ngữ "truyền thuyết" đã xuất hiện
và được bàn đến ở những mức độ khác nhau
Ở chương Chuyện đời xưa, trong cuốn Lược thảo lịch sử văn
học Việt Nam, các tác giả nhóm Lê Quý Đôn đã để "truyền thuyết"
vào cùng nhóm với "truyện cổ tích" Tác giả viết: "Truyền thuyết là tất cả những chuyện lưu hành trong dân gian có thật xảy ra không thì không có gì bảo đảm Như vậy, có những truyền thuyết lịch sử,
mà cũng có những truyền thuyết khác hoặc dính dáng về một đặc
điểm địa lý (Chuyện nàng Tô Thị, Chuyện Núi Vọng phu ) hoặc kể lại gốc tích một sự vật gì (Chuyện Bánh chimg bảnh giầy, Chuyện
Trầu cau.,.), hoặc giải thích những phong tục tập quán, hoặc nói về
sự tích các nghề nghiệp và tất cả những chuyện kỳ lạ khác"1 Trong
khi đó, ở phần Truyện truyền miệng (do tác giả Nguyễn Đổng Chi viết) trong Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, truyền thuyết đã được
nghiên cứu với tư cách là một thể loạiễ tác giả Nguyễn Đổng Chi đã
từ những truyền thuyết cụ thể để nhận định về những đặc trưng quan trọng nhất của thể loại truyền thuyết ở các phương diện: đặc điểm nội dung, thời đại hình thành và sự thay đôi của bộ mặt truyền thuyết qua việc ghi chép ở nhiều thời đại Ông viết: "Xét về đề tài truyền thuyết, có thể phỏng đoán ràng, truyền thuyết đã xuất hiện sau thần thoại Truyền thuyết là những truyện lịch sử, và truyện lịch
1 Lược thảo lịch sư văn học Việt Nam, Nxb Xây dựng, H 1957.
Trang 25ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ VIỆC VAN b ả n h ó a ể
sử chỉ có thể có khi con người đã có ý thức về lịch sử của mình, về đất đai và xứ sở của mình1 So với sự trống vắng của lý luận thể
loại trước đó, thành tựu của hai công trình Lược thảo lịch sử văn
học Việt Nam và Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam có thể coi là
những đột phá quan trọng trong việc nghiên cứu truyện dân gian ở góc độ thể loại Đặc biệt, có thể coi những nhận xét ngắn mà nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi rút ra từ việc phân tích một sổ truyền thuyết cụ thể là những viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho bước tiếp theo trong lĩnh vực nghiên cứu truyền thuyết dân gian Việt Nam; trong đó, nhận định "truyền thuyết là những truyện lịch sử"
có sức ảnh hưởng khá sâu sắc đến các nhà nghiên cứu thể hệ sau.Trong những năm đầu thập niên 60 của thế kỉ XX, truyền thuyết thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Trước hết, phải kể đến cuộc tranh luận về truyện Mị Châu - Trọng Thuỷ trên
Tạp chỉ Văn học diễn ra từ tháng 12/1960 và tuyên bố kết thúc vào
tháng 5/1961 nhưng sau đó vẫn còn một số bài lẻ tẻ Cuộc tranh luận xuất phát từ mục đích cải biên truyền thuyết Mị Châu - Trọng Thuỷ với vấn đề đặt ra là chủ đề nào của truyện là chính: ca ngợi tình yêu chung thuỷ hay đề cao bài học cảnh giác? Từ xuất phát điểm đó, các tác giả Thanh Việt2, Song Bân3, Sĩ Tiến, Hoài Anh4 Ngọc Anh, Đào Lâm Tùng5, Hoàng Tuấn Phổ6, Lê Phương Anh7,
1 Nguyễn Đổng Chi, Sơ thào lịch sừ văn học Việt Nam, Quyển I (Phần ngữ ngôn văn tự và văn học truyền miệng), Nxb Văn Sử Địa, H 1957, tr.81.
2 Thanh Việt, "Nên khai thác và đánh giá truyện MỊ Châu - T rọng Thuỷ thế nào cho đúng?", Tạp chỉ Nghiên cứu Văn hóa, H 1960, sổ 12.
3 Song Bân, "Nên hiểu truyện Mị Châu thế nào cho đúng?", Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa, sổ 1, H 1961.
4 Sĩ Tiến - Hoài Anh, "Mị Châu - Trọng Thuỷ: bài thơ trữ tình ca ngợi tình yêu
và lòng nhân đạo", Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa, sổ 2, H 1961.
5 Ngọc Anh - Đào Lâm Tùng, "Nên khai thác đánh giá truyện Mị C hâu - Trọng Thuỷ như thế nào?", Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa, số 2, H 1961.
6 Hoàng Tuấn Phổ, "Mấy ý kiến về truyện Mị Châu - Trọng Thuý", Tạp chi Nghiên cínt Văn hóa, số 3, H 1961.
7 Lê Phương Anh, "Góp ý kiến nhận định về truyền thuyết Mị Châu - Trọng Thuỷ", Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa, số 4, H 1961.
24
Trang 26Chương 1 Truyền thuyết với tư cách là một thể loại
Đồ Hữu T ấn1, Phan Nhân2, Trần Nghĩa3, Trần Quốc Vượng4 đã
mờ rộng phạm vi nội dung của tranh luận và vì vậy, đụng chạm đến rất nhiều vấn đề lý thuyết thể loại Chẳng hạn, mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và truyền thuyết được ghi chép (các tác giả Song Bân, Lê Phương Anh, Trần Nghĩa), giá trị của các yếu tố sử trong truyền thuyết (các tác giả Ngọc Anh, Đào Lâm Tùng ) Tuy chưa phải là những bài báo khoa học bàn trực tiếp
về vấn đề lý thuyết thể loại truyền thuyết nhưng các ý kiến trong cuộc tranh luận nói trên đã thực sự xới lên những vấn đề của thể loại như đặc điểm nội dung, đặc điểm nghệ thuật và môi trường diễn xướng
Ở những năm tiếp theo, có hai công trình quan trọng bàn trực diện về vẩn đề thể loại truyền thuyết, đó là hai cuốn giáo trình của Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Tổng hợp Hà Nội Trong khi cuốn của Đại học Sư phạm Hà Nội5 thừa nhận có thể loại truyền thuyết dân gian (phần truyền thuyết do tác giả Đồ Bình Trị viết) thì cuốn giáo trình của Đại học Tổng họp6 không thừa nhận có thể loại truyền thuyết dân gian mà đề nghị coi đó là thuật ngữ của sử học (tác giả Đinh Gia Khánh viết) Trong cuốn giáo trình của Đại học
Sư phạm Hà Nội, phần viết cùa tác giả Đồ Bình Trị đã xếp chung thần thoại và truyền thuyết vào một chương, những nét đặc trưng thể loại chưa nói được bao nhiêu
1 Đỗ Hữu Tấn, "Nên khai thác và đánh giá truyện Mị Châu - Trọng Thuỷ như thế nào?" Tạp chỉ Nghiên cini Văn hóa, số 5, H 1961.
2 Phan Nhân, "M ấy ý kiến về vấn đề khai thác truyện dân gian và cải biên truyền thuyết Mị Châu - Trọng Thuỷ", Tạp chí Nghiên cíni Văn hóa, số 9,
Trang 27ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ VIỆC v a n bản h ó a
Ý thức về thể loại truyền thuyết sâu sắc hơn nhiều vào một vài
năm sau đó, trên Tạp chí Văn học năm 1967 và được tập hợp lại cùng một số bài viết dài hơn và sâu sắc hơn trong cuốn Truyên
thống anh hùng trong loại hình tự sự dân gian Việt N am 1 Trong
cuốn sách này, hai tác giả Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc Côn
vẫn dùng thuật ngữ cổ tích lịch sử để chỉ bộ phận truyện kê dân
gian về các anh hùng nông dân khởi nghĩa mà các nhà nghiên cứu xếp vào thể loại truyền thuyết Ba tác giả khác là Tầm Vu, Phan Trần, Kiều Thu Hoạch đã có những đóng góp mới vào việc xây dựng lý thuyết thể loại truyền thuyết Tác giả Tầm Vu (Trần Văn Giàu) tìm hiểu tư tưởng yêu nước thương nòi trong truyện dân gian trên cơ sở đặt vấn đề phân biệt thần thoại và truyền thuyết, phân biệt truyên thuyết thật giả và chọn ra 5 truyện đứng đầu trong kho tàng thần
thoại, truyền thuyết Việt Nam là: Họ Hồng Bàng, Thần Tản Viên,
Thảnh Gióng, Thần Kim Qưy, Hai Bà Trưng Để nghiên cứu tinh thần
dân tộc qua các truyền thuyết lịch sử, các tác giả Phan Trần (Phan
Kế Hoành, Trần Quốc Vượng) đã nêu những nhận xét sơ bộ về sự phân biệt thần thoại và truyền thuyết (thần thoại: phản ánh tự nhiên, truyền thuyết: phản ánh lịch sử) và xác định nguồn truyền thuyết (trong thần thoại vầ thần tích)
Công trình Truyền thuyết anh hùng trong thời kỳ phong kiến
của tác giả Kiều Thu Hoạch có thể nói là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về truyền thuyết với tư cách là một thể loại văn học dân gian Trong bài viết này, tác giả đã nêu lên những vấn đề có tính chất gợi mở quan trọng về bản chất lịch sử cũng như về đặc trưng nghệ thuật của thể loại truyền thuyết
Năm 1969, nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh xuất bản công trình
Người anh hùng làng Dóng Để thực hiện công trình này, tác giả đã
có sự khảo sát tường tận vùng Phù Đổng là nơi có đền thờ Thánh Gióng, nơi tương truyền Thánh Gióng được sinh ra và các dâu tích của cuộc hoài thai và sinh nở vẫn còn (dấu chân ông Không Lô, vườn cà, liềm đá, chõng đá, thống đá) và các làng, các ngọn núi,
1 N hiều tác giả, Truyền thống anh hùng trong loại hình tự sự dán gian Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, H 1971.
26
Trang 28Chương 1 Truyền thuyết với tư cách là một thể
loại-dòng sông, đầm hồ, rặng tre ở Bắc Ninh, Gia Lâm, Hà Nội liên quan đến các chi tiết trong truyền thuyết Thánh Gióng Công trình này có ý nghĩa phương pháp quan trọng đó là đã nghiên cứu một truyền thuyết từ cách tiếp cận tổng thể folklore: điều tra, điền dã các di tích, những nơi hình thành truyền thuyết, những người kể, lưu truyền và diễn xướng truyền thuyết; thông qua đó, công trình gợi mở các vấn đề của thể loại như quá trình hình thành và lưu truyền truyền thuyết, vấn đề trung tâm và lan tỏa, mối quan hệ giữa
truyền thuyết và lịch sử So với công trình Hội Phù Đổng (một trận
đánh thần kỳ trong truyền thuyết Việt Nam) của tác giả Nguyễn
Văn Huyên tập trung miêu tả lễ hội Phù Đổng, công trình của nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh đã mở rộng các giới hạn mà truyền thuyết liên quan, từ đó cho thấy đời sống phong phú, sinh động của một truyền thuyết và nhu cầu tinh thần của người dân về việc sáng tạo
ra các biểu tượng của lịch sử dân tộc, sống với các biểu tượng đó trong các thời đại
Trong những năm cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70 của thế
kỉ XX, có một sinh hoạt học thuật có ý nghĩa quan trọng là Hội nghị Nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương, được tổ chức 4 lần vào các năm 1968, 1969, 1970, 1971 mà các báo cáo khoa học đã được tập
hợp trong bộ kỷ yếu Hùng Virovg dimg nư ớ c\ Hội nghị đã quy tụ
được 169 tham luận trong đó có 15 tham luận bàn trực diện về truyền thuyết vua Hùng Các nhà nghiên cứu tên tuổi: Đinh Gia Khánh, Bùi Văn Nguyên, Trần Quổc Vượng, Cao Huy Đinh, Hoàng Hưng, Nguyễn Đức Tâm, Nguyễn Khắc Xương đã bàn về truyền thuyết Hùng Vương từ nhiều góc độ song chung quy vẫn tập trung vào giá trị lịch sử của truyền thuyết Hướng nghiên cứu này vẫn được tiếp
tục trong mạch nghiên cứu về truyền thuyết trên Tạp chí Văn Sử Địa
và sau này là Tạp chỉ Nghiên cíni Lịch sử Do tập trung sự chú ý đến
việc khai thác giá trị lịch sử, nên các bài nghiên cứu này chưa chú ý đúng mức đến việc phân tích các đặc điểm văn học dân gian của truyền thuyết
1 Hùng Vươỉig dinig nước (4 tập) Nxb Khoa học xã hội, H 1970, 1972
1973, 1977.
Trang 29ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ VIỆC VĂN BẢN HÓA
Năm 1974, tác giả Cao Huy Đỉnh cho ra đời cuốn Tim hiểu tiến
trình văn học dân gian Việt Nam1, trong đó có chương: Dòng tự sự lịch sử với nền độc lập nước nhà và những gương công đức tài trí
từ An Dương Vương đến đầu Lê Nét nổi bật của chương sách này
là sự khảo sát truyền thuyết trên một diện rộng (tư liệu điền dã, các sách cổ và sử ca dân gian) để khắc họa dòng tâm thức dân gian mà theo ông "lắm khi còn giàu có, sinh động hơn sử sách rất nhiêu" Tuy nhiên, ông vẫn chưa gọi đó là thể loại truyền thuyết mà chi gọi tên là "dòng lịch sử" và "chuyện lịch sử" Những nét đặc trưng nghệ thuật do vậy chưa được chú ý đúng mức
Năm 1978, tác giả Đồ Bình Trị, cho ra mắt cuốn Nghiên cứu
tiên trình của văn học dân gian Việt Nam2 Trong khi bàn vê sự
phát triển của văn học dân gian Việt Nam, tác giả đã 3 lân nhăc đên thuật ngữ "truyền thuyết lịch sử" ở 3 giai đoạn: 10 năm Bắc thuộc, quốc gia phong kiến tự chủ và khởi nghĩa nông dân, nhưng do tính chất cuốn sách tập trung nghiên cứu "tiến trình" nên chưa dừng lại bàn sâu về đặc trưng thể loại truyền thuyết Cũng trong những năm
70 của thế kỉ XX, có một số bài viết công bố các mảng tư liệu truyền thuyết vùng của các tác giả Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Đình Bưu,
Vũ Tố Hảo, Trần Đức Các
Những năm 80 của thế kỉ XX không có cuổn sách nào viết về thể loại truyền thuyết mà chỉ có một số bài viết đăng trên các tạp chí: Văn học, Văn hóa dân gian, Văn hóa nghệ thuật, Khảo cổ học trong số đó, phải kể đến các bài viết chuyên về thể loại này của tác giả Bùi Quang Thanh3 Các bài viết này bên cạnh việc nhẩn mạnh giá trị lịch sử của truyền thuyết đã chú ý đến phương diện nghệ thuật
1 Cao Huy Đỉnh, Tim hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, H 1974.
2 Đỗ Bình Trị, Nghiên círu tiến trình của văn học dãn gian Việt Xam,
Trường Đại học Sư phạm xuất bản, Hà Nội, 1978.
3 " v ề một thể loại văn học dân gian", Tạp chí Văn học, số 4-1979; "Truyền thuyết dân gian và tâm lý cộng đồng người Việt", Tạp chí Văn học. số 2- 1981; "Tìm hiểu kết cấu dạng truyền thuyết anh hùng", Tạp chi Vãn học,
số 3-1982; "Truyền thuyết và lịch sử", Thông bảo Dân tộc học - \ iện Dãn tộc học, tập 2, 1982.
Trang 30Chương 1 Truyền thuyết với tư cách là một thể loạịễệ
của thể loại, tuy vẫn chưa giải quyết thấu đáo các vấn đề bản chất
và đặc trưng thể loại
Đến năm 1990, việc nghiên cứu truyền thuyết từ góc độ bản chất thể loại có những khởi sắc mới Trước hết phải kể đến công
trình Giông bão Loa thành của tác giả Đặng Văn Lung1 Từ sự khảo
sát công phu các bản ghi chép, các dị bản truyền thuyết An Dương Vương, tác giả đề cập đến nhiều vấn đề lý thuyết thể loại truyền thuyết như: bản chất sử trong truyền thuyết, mối quan hệ giữa sử với chủ đề và kết cấu truyền thuyết, vấn đề motif, nhân vật Mặc dù
tư liệu mà tác giả khảo sát ở đây chỉ thu hẹp trong phạm vi các dị bản truyền thuyết An Dương Vương, nhưng công trình này đã có những gợi ý rất tốt cho sự triển khai khảo sát*trên diện tư liệu rộng hon Sau các chuyên khảo của tác giả Nguyễn Văn Huyên về Lý Phục Man, của nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh về Thánh Gióng, đây
là chuyên khảo tiếp theo về xu hướng khảo cứu, phân tích một truyền thuyết qua tất cả những nguồn tư liệu có chứa đựng truyền thuyết ấy (thư tịch cổ, truyền thuyết truyền miệng ) - một hướng cần thiết để đi sâu nghiên cứu đặc trưng thể loại truyền thuyết
Năm 1990 còn là năm đánh dấu việc viết lại 2 bộ giáo trình
Lịch sử văn học dân gian của Trường Đại học Sư phạm và Đại học
Tổng hợp Trong khi giáo trình của Đại học Sư phạm2 (phần truyền thuyết do tác giả Hoàng Tiến Tựu viết) không có thay đổi gì đáng
kể so với phần tác giả Đồ Bình Trị viết trước đây thì giáo trình của Đại học Tổng hợp3 đã có sự thay đổi lớn Khác với tác giả Đinh Gia Khánh, không thừa nhận sự tồn tại của truyền thuyết mà gạt hết sang sử học, hoặc cổ tích lịch sử; tác giả Lê Chí Quế đã thừa nhận
sự tồn tại độc lập của thể loại truyền thuyết trong kho tàng tự sự dân gian bởi sự phong phú của các tư liệu tác phẩm truyền thuyết
1 Đặng Văn Lung, Giông bão Loa thành, Nxb Khoa học xã hội, H 1990.
2 Văn học dận gian, 2 tập, 1990-1991 (Tập 1: Đỗ Bình Trị biên soạn, Tập 2: Hoàng Tiến Tựu biên soạn).
3 Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ, Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H 1990, (Nxb Đại học Quốc gia in lại các năm 1996, 1998, 2001, 2004).
Trang 31ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ VIỆC VĂN BẢN HÓA.
được sưu tầm và những kết quả nghiên cứu về lý thuyết thê loại của giới nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam được công bố Năm
1992, tác giả Chiêng Xom An đặt vấn đề trở lại về việc nghiên cứu
đặc trưng thể loại truyền thuyết trong bài viết Bàn thêm vê thê loại
truyền thuyết' ề Các luận án của tác giả Lê Kỳ2, Nguyễn Quang Lê3
trong thời gian này cũng đã nghiên cứu nhiều góc độ khác nhau của luận án như mối quan hệ giữa truyền thuyết với lễ hội, góc độ sử liệu học và cũng không đặt mục đích nghiên cứu đặc trưng thể loại.Cũng vào thời gian này, chúng tôi đã có một số bài nghiên cứu
đi sâu tìm hiểu bản chất thể loại truyền thuyết, cụ thể như sau:
"Sự vận động của truyền thuyết về Mau từ Liễu Hạnh công chúa
đến Nàng Mựịưc của người Chăm", Tạp chí Văn hóa, số 5/1992, trệ 44-49; "Nghiên cứu truyền thuyết - những vấn đề đặt ra", Tạp chí
Văn hóa, H 7/1994, tr.34-37;
"Ca trù qua một số truyền thuyết", Tạp chí Văn hóa dán gian,
số 1/1999, tr.38-44; "Truyện kể địa danh - từ góc nhìn thể loại",
Tạp chí Văn hóa, sổ 3/1999, tr.50-60; "Những biểu tượng không
gian thiêng trong truyền thuyết dân gian người Việt", in trong cuốn
Những vấn đề lí luận và lịch sử văn học, Viện Văn học, 1999,
trệ732-759; "Truyền thuyết vùng Luy Lâu trên tiến trình hình thành dân tộc", Báo cáo khoa học tại Hội nghị Văn hóa Luy lâu và Kinh
Dương Vương, Bắc Ninh, 1999 (đã được in ở Tạp chỉ Văn hóa dân
gian số 6/2001, trử24-30); "Yếu tố thời gian trong truyền thuyết dân
gian", Tạp chí Văn học, số 5/2000, tr.65-73.
Các bài viết của chúng tôi đã phân tích truyền thuyết dân gian
từ các góc độ: tổng quan hoặc khảo sát một số chùm truyền thuyết
cụ thể (truyền thuyết về Liễu Hạnh công chúa) theo đề tài (truyền thuyết địa danh, truyền thuyết về ca trù), theo phạm vi lan truyền
1 Chiêng Xom An, "Bàn thêm về thể loại truyền thuyết", Tạp chí Văn hóa dân gian, số 2, H 1992.
2 Lê Kỳ, Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về cúc anh anh hùng, Nxb Khoa học xã hội, H 1997.
3 Nguyễn Q uang Lê, Le hội cổ truyền: Nội dung lịch sừ và phưcmg pháp khai thác sử liệu, Luận án PTS, Thư viện Quốc gia, kí hiệu L.5087.
30
Trang 32Chương 1 Truyền thuyết với tư cách là một thể loại
trong không gian (truyền thuyết vùng Luy Lâu), phân tích một khía cạnh thi pháp thể loại (không gian, thời gian) Đây là những khởi động cần thiết để đạt tới các kết quả bước đầu cho việc thực hiện
Luận án tiến sĩ Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền
thuyết dân gian Việt Nam, công trình thể hiện một cách tập trung
kết quả nghiên cứu của tác giả ở thời điểm năm 2000 và là kết quả chủ yếu của cuốn sách này1
Sau đó, chúng tôi đã có một số bài viết về truyền thuyết được
công bổ: "Suy nghĩ mới về bản chất thể loại truyền thuyết", Thông
bảo Văn hỏa dân gian, 2001; "Quan niệm về thần và việc văn hóa
truyền thuyết trong văn xuôi trung đại", Tạp chí Văn học, số
3/2003; "Mối quan hệ tương hỗ giữa truyền thuyết dân gian, tục thờ cúng và thần tích: Nghiên cứu trường hợp Trương Hống, Trương
Hát", Thông báo Văn hóa dân gian, 2004"; "Lễ hội đền Vua Bà ở làng Diềm, In trong sách "Giá trị và tính đa dạng của folklore châu
Á trong quả trình hội nhập", 2006; "Sức ám ảnh của tín ngưỡng
dân gian trong tiểu thuyết Mầu Thượng Ngàn", Tạp chí Nghiên cứu
Văn học, Hà Nội, số 6/2007, tr.27-47; "Tìm hiểu sự hình thành
truyền thuyết Tứ vị Thánh Nương", Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số
2/2009; "Truyền thuyết Mầu Tây Thiên qua những lớp đắp bồi thời
gian", In trong sách: Quốc Mau Tây Thiên Vĩnh Phúc trong Đạo
Mầu Việt Nam, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc, 2010;
"Hiển thần và tăng quyền - một khảo sát về tục thờ nừ thần biển ở
Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ", Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt Nam học
lần thứ IV; "Truyền thuyết, di tích và việc thờ cúng Mai Hắc Đế
trong dòng thời gian", Tạp chí Văn hóa học, số 2 (6)/2013; "Thờ nữ
thần ở Phú Quốc: từ tín ngưỡng thờ bà Thủy đến tín ngưỡng thờ
Thánh Mau", Tạp chí Nghiên ciru Tôn giảo, số 1/2014.
1 Phần viết của chúng tôi "Tinh hình sưu tầm, nghiên cícu truyền thuyết ờ Việt Nam" trong chuyên khảo này về cơ bản, được hoàn thành năm 2000 trong Luận án Tiến sĩ (bản Luận án nộp Thư viện Quốc gia tháng 11/2000) N ếu độc giả nhận thấy đoạn viết này trùng với một công trình nào khác, xin hãy tham khảo Luận án của chúng tôi vào năm 2000 Trước khi Luận án của chúng tôi được bảo vệ vào tháng 11/2000, chưa có công trình nào tổng thuật vấn đề này.
Trang 33ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ VIỆC VĂN BẢN HÓA.
Các bài báo khoa học này vẫn tiếp nối mạch nghiên cứu truyên thuyết và tiếp tục giải quyết những vấn đề đặt ra trong công trình năm 2000, nhưng đã mở rộng việc nghiên cứu truyên thuyêt tren văn bản sang nghiên cứu truyền thuyết trong bối cảnh của nhiêu mối quan hệ: truyền thuyết trong các văn bản, truyên thuyêt trên văn bản và truyền thuyết truyền miệng, truyền thuyết và di tích, truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian Trong cuốn sách này, chúng tôi đưa vào một số kết quả nghiên cứu mới sau năm 2000
ở một sổ phân tích dẫn chứng về mối quan hệ giữa truyền thuyêt với tín ngưỡng dân gian (trường hợp truyền thuyết Tứ vị Thánh Nương, truyền thuyết về bà Hải, bà Đe và truyền thuyết về Mai Thúc Loan)
1.2 Định vị thể loại truyền thuyết trong bộ phận tự sự dân gian
Từ góc độ nghiên cứu folklore ở phương diện ngôn từ, việc phân chia thể loại văn học dân gian được coi là một vấn đề lý thuyết quan trọng Trong phạm vi tư liệu tham khảo còn hạn hẹp, xin điểm qua cách phân loại truyền thuyết trong nghiên cứu văn học dân gian
sự hình thành và phát triển của nó có những nét tương đồng tương đối lớn giữa các quốc gia, dân tộc Đó là lý do khiến V.Guxev cho rằng, dù cho những khó khăn về thực tiễn, về phương pháp tư duy,
l ẵ E M M êlêtinski, "N guồn gốc của sử thi anh hùng", Tạp chí Văn học, số 1/1974.
Trang 34Chương 1 Truyền thuyết với tư cách là một thể
loại-về rào chắn ngôn ngữ là có thật, nhưng "cũng không thể căn cứ vào những điều này để thôi không tìm kiếm những tên gọi khoa học, các thể loại folklore có thể thống nhất được những hình thức dân tộc giống nhau về phương diện loại hình học Thiết nghĩ, trong phân loại folklore chung quốc tế chỉ cần dùng những thuật ngữ như vậy, đành rằng làm như vậy có thể có một số thể loại riêng, đặc thù cho nhiều dân tộc sẽ không có chỗ trong mục lụcMlỂ
Xuất phát từ sự phong phú, bề bộn và đa dạng về tư liệu, trước khi phân chia thể loại, các nhà nghiên cứu đã tiến hành phân chia thành nhóm Richard M.Dorson cho rằng, folklore bao gồm bốn nhóm: văn học truyền miệng, văn hóa vật chất, phong tục dân gian
và nghệ thuật biểu diễn2 Elliott Oring cũng cho rằng, folklore bao gồm nhiều nhóm, trong mồi nhóm lại có các thể loại Các nhóm ông đưa ra gồm: dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, trẻ em, tự sự dân gian, ballad và dân ca, tục ngừ và câu đố3
Trong nhóm folklore truyền miệng (hoặc folklore ngôn từ), có một nhóm được tập trung nghiên cứu là tự sự dân gian (folk narrative)
vì sự phong phú của chúng, vì ảnh hưởng của chúng tới văn học thành văn Các nhà folklore học trên thế giới thường sử dụng tiêu chí thái độ của người kể, người nghe để chia nhóm này thành hai loại: văn xuôi cổ tích và văn xuôi phi cổ tích Đây là một tiêu chí rất dễ được chấp nhận vì nó xuất phát từ căn cứ diễn xướng là môi trường người kể, người nghe Họ cho rằng, trong loại văn xuôi cổ tích, người kể và người nghe biết chắc đó là thế giới hư cấu và họ
không tin vào những điều được nghe Còn trong loại văn xuôi phi
cổ tích, người kể, người nghe tin rằng đó là những điều có thực
V.Ia.Propp viết: "Truyện cổ tích là một hư cấu nghệ thuật có
1 V Guxev, M ỹ học folklore, Hoàng Ngọc Hiến dịch, Nxb Đà Nang, 1999,
590 tr , tr.2 0 1.
2 Richard M Dorson (1972), Folklore and Folklife: An Introduction (Folklore và đời sống dân gian: nghiên cíni nhập môn), The University of Chicago Press.
3 Elliott O rin s (1986), Folk Groups and folklore genres: An introduction (Nhóm dán gian và thế loại folklore: Nghiên cíni nhập môn), Utah State University Press.
Trang 35ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ VIỆC VĂN BẢN HÓA
dụng ý Nó không bao giờ được coi là hiện thực cả Tục ngữ có câu:
"Truyện cổ tích là điều huyền hoặc, còn bài hát là điều có thật" Sau khi kể xong câu chuyện, người ta thường nói: "thế là hết chuyện, không thể bịa thêm được nữa" Trong ngôn ngữ hiện đại, chừ "truyện
cổ tích" (xkazka) đồng nghĩa với chữ "không có thật"1 Từ góc độ tiếp nhận của người nghe, V.Ia.Propp viết: "Quan hệ đối với hiện thực trong sử thi khác với trong truyện cô tích Ca sĩ không thê chấp nhận được rằng, những sự kiện anh hùng, vĩ đại hoặc thậm chí chỉ có tính kịch được diễn tả trong tráng sĩ ca lại là điều dối trá như anh ta chấp nhận điều đó trong truyện cổ tích"2 N.V.Pomerantxeva trong luận án tiến sĩ của mình đã phát biểu: "Hành động trong sử thi anh hùng là có thực còn trong cổ tích thì nó không bắt buộc phải
có thực"3
Như vậy, việc phân chia các tác phẩm tự sự dân gian thành nhóm
văn xuôi cổ tích và phi cổ tích đã đụng chạm đến vấn đề niêm tin -
một tiêu chí được các nhà nghiên cứu folklore Hoa Kỳ nhấn mạnh khi nghiên cứu truyền thuyết Wayland D.Hand cho biết: "Thuật ngữ "truyện niềm tin" (belief stories) hay "câu chuyện niềm tin" (belief tales) hiện tại đang được sử dụng rộng rãi ở H oa Kỳ"
[Wayland D.Hand: 1965] Trong chuyên khảo Truyền thưyết và
niềm tin (.Legends and Belief), Linda Dégh và Andrew Vazronyi
đã bày tỏ sự chia sẻ quan điểm về vấn đề này của một số nhà nghiên cứu folklore trên thế giới đồng thời trình bày quan điểm của mình Linda Dégh và Andrew Vazronyi viết: "Niềm tin là một vấn đề có tính nguyên tắc của truyền thuyết, là thành phần không thể thiếu được của truyền thuyết Những khía cạnh phong phú của niềm tin về những điều có thực hay tưởng tượng được trình bày trong truyền thuyết là chìa khóa để các nhà nghiên cứu
1 V.Ia.Propp, "Folklore và thực tại", Tạp chí Văn học Nga, số 3/1963, Bản dịch chép tay, Thư viện Viện Văn học.
2 V.Ia.Propp, "Folklore và thực tại", Tạp chí Văn học Nga, số 3/1963 Bản dịch chép tay, Thư viện Viện Văn học, Ký hiệu DL/70.
3 K.C.Đavletov: Sáng tác dân gian - một loại hình nghệ thuật, Nxb Khoa học, M 1966, Hoàng Lộc dịch, Tài liệu đánh máy, Thư viện Viện Vãn học
Ký hiệu D/74.
34
Trang 36hiểu được thể loại này"1 Richard Merce Dorson thì cho rằng: "Các nhà nghiên cứu đêu nhât trí truyền thuyết là một thê loại truyện kê dân gian được lưu truyền bằng miệng, nó rất khó tin nhưng lại được tôn trọ n g ế Trong một làng chỉ có 1 hoặc 2 người hát balad còn ai cũng kể được truyền thuyết Họ không ngần ngại nhắc đến truyền thuyết địa phương và có ý nói rằng, chuyện này tất cả mọi người đều biết" (R.M.Dorson: 1971/160) Friedrich Ranke viết: "Truyền thuyết trong bản chất của nó đòi hỏi niềm tin ở người kể cũng như người nghe, rằng nó liên quan tới sự thực, rằng nó đã từng xảy ra" (dẫn theo Linda Dégh: 1976/94) Theo V.Guxev, các nhà nghiên cứu Thuỵ Điển (M.Luiti), Tiệp Khắc (O.Xừovatka), Hoa Kỳ (R.X.Bôggx, Ư.Bêxkon) [V.Guxev: 209-210] cũng đồng tình với sự phân chia này, lấy đó làm bước đệm để phân chia thể loại, tuy rằng quan niệm
về sự khác biệt giữa văn xuôi cổ tích và phi cổ tích thì có khác nhau
ít nhiều
Do tính đặc biệt của nhóm truyện "phi cổ tích" mà vào năm 2009, một nhóm các nhà nghiên cứu thuộc Hội Nghiên cứu Tự sự dân gian quốc tế quan tâm đến các truyện kể dân gian thể hiện niềm tin của người kể/người nghe đã lập thêm một nhóm riêng lấy tên là "Mạng lưới truyện kể niềm tin" (The Belief Narrative Network - BNN).Trong hai nhóm trên, hai thể loại thường được đưa ra để so sánh là truyền thuyết và truyện cổ tích Trong sự so sánh này, truyện cổ tích là một thể loại có tính toàn cầu cao, thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu trên thế giới hàng mấy trăm năm, trong khi
đó, truyền thuyết là một thể loại mang tính vùng cao nên phạm vi lan truyền và các nghiên cứu vẫn nằm trong giới hạn của từng vùng, từng quốc gia Bởi vậy, không có gì lạ khi truyền thuyết trở thành một chủ đề trung tâm của nhiều hội thảo của Hội Nghiên cứu
Tự sự dân gian quốc tế (ISFNR) Như đã nói ở trên, Hội Nghiên cứu
Tự sự dân gian quốc tể được hình thành từ năm 1959 và chính thức thành lập năm 1962 (trong cuộc họp ở Antwerp, Bỉ) Tuy nhiên, vấn đề truyền thuyết đã được đặt ra trong các hội thảo về tự sự dân
Chương 1 Truyền thuyết với tư cách là một thể loại
1 Linda Dégh & Andrew Váronyi (1976), Legends and Belief, (Folklore Genres)
Edited by Dan Ben - Amos, The American Society, tr.94.
Trang 37ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ VIỆC VĂN BẢN HÓA.
gian (Hội thảo thứ nhất được tổ chức ở Vandres (Na Uy) vào tháng 8/1961; Hội thảo thứ hai được tổ chức ở Berlin (Đức) vào tháng 11/1961) Cho đến khi Hội Nghiên cứu Tự sự dân gian quốc tế được chính thức thành lập, có hai hội thảo chuyên đề về truyền thuyết được tổ chức (một ở Antwerp (Bỉ) năm 1962 và một ở Budapest (Hungary) vào năm 1963) K ế t quả của 2 hội thảo này là việc thành lập Hội Nghiên cứu Truyền thuyết dân gian quốc tế (International Society for Folk Legend Research - ISFLR) Hội thảo đầu tiên của Hội được tổ chức tại Athens (Hy Lạp) vào tháng 9 năm 1964
Wayland D.Hand cho biết, tại hội thảo của các nhà ngữ văn lần thứ 25 ở Antwerp, tháng 4 năm 1963, phân loại truyền thuyết là một phần quan trọng trong chương trình [Wayland D Hand: 1965] Trong phiên họp này, Ban Văn xuôi phi cổ tích đã đưa ra Bảng phân loại truyền thuyết dân gian quốc tế (thử nghiệm) như sau:
I Truyền thuyết sáng thế và truyền thuyết mạt thế (Aetiological and Eschatological Legends)
IIế Truyền thuyết lịch sử và truyền thuyết về lịch sử các nền văn minh (Historical Legends and Legends of the Civilization)
A Nguồn gốc địa danh và các vật chất liên quan đến các nền văn minh (Origins o f Places and Goods Relating to Civilization)
Bử Truyền thuyết địa phương (Legends Concerning Localities)
c Truyền thuyết thời tiền sử và sơ sử (Legends Concerning Prehistory and Early History)
D Chiến tranh và thảm họa (Wars and Catastrophers)
E Những nhân vật kiệt xuất (Outstanding Personalities)
F Sự phá vỡ trật tự (Infraction of an Oder)
III.Các đấng siêu nhiên và các lực lượng siêu nhiên/Truyền thuyết huyền thoại (Supernatural Beings and Forces/Mythic Legends):
A Số phận (Fate)
B Cái chết và những người chết (Death and the Dead)
c Những địa danh bị ám và hồn ma (Haunted Places and Ghostly Appariations)
36
Trang 38D Đám rước và những trận chiến với ma (Processions and Battles
o f Ghosts)
E Lưu lại ở thế giới khác (Sojourn in the Other World)
F Các linh hồn tự nhiên (Natural Spirits)
G Hồn ma của những địa danh liên quan đến các nền văn minh (Ghosts o f Places Relating to Civilization)
H Các bản thể biến hình (Transformed Beings)
I Quỷ (Devil)
J Quỷ mang bệnh và bệnh tật (Demons of Illness and Illnesses)
K Con người với khả năng và thế lực siêu nhiên/ma thuật (Persons with Supernatural (Magic) Gifts and Forces)
L Động vật và thực vật huyền thoại (Mythic Animals and Plants)
M Các kho báu (Treasures)
IV Truyền thuyết tôn giáo/Huyền thoại về các vị thần và các anh hùng (Religious Legends/Mythos o f Gods and Heroes)1
Qua bảng phân loại khá chi tiết này, ta vẫn thấy lẫn vào đó khá nhiều thần thoại Bảng phân loại này đã có ít nhiều ảnh hưởng đến việc phân loại truyền thuyết của Nhật Bản, Trung Quốc khi các nhà nghiên cứu hai nước này tiến hành phân loại truyền thuyết và tổ chức biên soạn các cuốn từ điển về truyền thuyết của nước mình [Kiều
Thu Hoạch: 2000] Trong các bộ đại từ điển: Đại từ điển truyền
thuyết, truyền kỳ Nhật Bản (Kadokawash Oten xuất bản, 1986), Đại
từ điển thần thoại, truyền thuyết Trung Quốc (Thượng Hải, 1982), Đại từ điển truyền thuyết, cổ tích Trung Quốc (Bẳc Kinh, 1992) ề
đã tập hợp một khối lượng lớn truyện kể dân gian nhưng sự tách bạch giữa ba thể loại thần thoại, truyền thuyết và -truyện cổ tích chưa thật rõ ràng
Sự lẫn lộn này chắc chắn là khó tránh khỏi bởi ranh giới giữa các thể loại tự sự dân gian, đặc biệt là thần thoại và truyền thuyết là
Chương 1 Truyền thuyết với tư cách là một thể loại.ẵễ
1 W ayland D Hand (1965), Status o f European & American Legend Study (Tinh trạng nghiên cínt truyền thuyết Hoa Kỳ và châu Âu), In "Current Anthropology", Volume 6, No 4, Oct 1965, page 439-466.
Trang 39ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ VIỆC VĂN BẢN HÓA.
rất mờ nhạt Các nhà nghiên cứu văn học dân gian đã ý thức rất rõ điều này Hai nhà nghiên cứu V.M.Gaxac và K.C.Davletov cho ràng, "sự giải thích về mối liên hệ giữa thần thoại và sử thi cho đên bây giờ vẫn gây ra nhiều khó khăn Điều đó được giải quyết rất dê dàng đối với những nhà bác học cho rằng: nguồn gốc của sử thi là thần thoại và xóa nhòa ranh giới giữa chúng"1, về mặt lý thuyết, tác giả B.N.Putilov đã đưa ra một khái quát: "Dĩ nhiên, giữa các hệ thống là không có bức tường kín Trước hết, chúng ta không được quên ràng, tất cả các hệ thống này là phân hệ của một hệ thống lớn của folklore dân tộc, và chỉ một điều đó đang định trước khả năng tác động tương hỗ và tính cộng đồng rõ rệt của chúng" Từ đó ông nêu lên một thực tế là "không thể tồn tại độ thuần khiết, hoàn hảo của một thể loại"2 Nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam Đỗ Bình Trị cũng có ý kiến về vấn đề này như sau: "Không nên và không thể tìm cho văn học dân gian một bảng phân loại cũng rành mạch, cân đối và đẹp như bảng phân loại các loại thể văn học, mà phải chú ý đến tính phức tạp tự nhiên của nó, chú ý đến tình hình chưa có sự phân hóa rành mạch của một số hình thức của nó và tình hình có sự chuyển hóa lẫn nhau, thâm nhập vào nhau của các hình thức ấy"3
1.2.2 Phân chia thể loại trong nghiên cím truyền thuyết ở Việt Nam
Ở Việt Nam, tranh luận về nhận diện bản chất thể loại truyền thuyết và vị trí của thể loại trong kho tàng tự sự dân gian diễn ra trong một thời gian dài
Người có ý thức phân loại truyện dân gian đầu tiên ở nước ta
là tác giả Nguyễn Văn Ngọc (1891-1942)4 Sau những bước dò dẫm
1 K.C.Davletov và M Gaxac, "về nguồn gốc sử thi anh hùng ca dân gian",
Tạp chí Văn học Nga, số 2/1962, Lê Sơn dịch, Tài liệu đánh máy, Thư viện Viện Văn học.
2 B.N.Pulitov, "Loại hinh học của phương pháp lịch sử folklore”, in trona cuôn Loại hình sử thi dân gian, Nxb Khoa học, M 1975, Bản dịch chép tay của Lê Xuân Tâm, Tư liệu Thư viện Viện Văn học.
3 Đồ Bình Trị, Nghiên cícu tiến trình cùa văn học dân gian Việt Nam, Trườn e Đại học Sư phạm xuất bản, Hà Nội, 1978.
4 Nguyễn Văn Ngọc, Truyện cổ mrớc Nam, Vĩnh Hưng Long thư quán, H 1932.
38
Trang 40Chương 1 Truyền thuyết với tư cách là một thể
loại-mở đường sưu tầm truyện cổ bàng chừ quốc ngữ của các tác giả
Huỳnh Tịnh Của (Chuyện giải buồn 1882)1, Trương Vĩnh Ký
(Chuyện đời xưa 1866)2 thì bộ sưu tập tràn đầy chất dân gian của
tác giả Nguyễn Văn Ngọc (Truyện cổ nước Nam 1932) là bộ sách
có giá trị đột phá quan trọng Với 234 truyện dân gian còn giữ được hơi thở đồng quê, Nguyễn Văn Ngọc đã phân chia thành 5 loại như sau:
1 Những truyện thuộc về lối cổ tích hoặc dã sử, cha mẹ hay ông bà tối thường kể cho con cháu nghe
2Ế Những truyện mà kết cục đã thành câu phương ngôn, lí ngừ, hoặc trái lại xuất xứ từ những câu lí ngừ, phương ngôn ấy ra
3 Những truyện thuần về văn chương trong đó có những câu
ca, bài hát nôm na mà vui thú, giản dị mà tự nhiên, xưa kia đâu đó vẫn thường truyền tụng
4 Những truyện trong đó ngụ một ý cao xa thuộc về triết lí may
ra so bì được với Bách tử bên Trung Quốc, và sau này có thể đem vào môn học cổ điển của nước nhà
5 Những truyện vui chơi, cười đùa có lí thú để tiêu sầu khiển muộn nhưng chưa quá thuộc về cái thể gọi là tiếu lâm mà các nhà
đạo đức nghiệt ngọng vẫn quen chê là nhảm nhí ( Truyện cồ nước
Nam, tr.10).
Dễ dàng nhận thấy ờ bảng phân loại này sự thiếu rõ ràng về tiêu chí, tuy nhiên, nó đã đánh dấu sự phát triển nhận thức khoa học về việc phân loại đối tượng nghiên cứu
Tiếp theo tác giả Nguyễn Văn Ngọc, nhà nghiên cứu Nguyễn
Đổng Chi đã có một cách phân loại mạch lạc hơn Trong Việt Nam
cổ văn học sử (1942), tác già đã chia truyện đời xưa thành ba loại:
Thần thoại, Chuyện thần quái, Chuyện vặt [Nguyễn Đổng Chi: 1942/68] Mặc dù phần giải thích quan niệm thể loại của ông còn
sơ sài nhưng người đọc có thể thấy tính rành mạch của sự phân
1 Huỳnh Tịnh Của, Chuyện giải buồn, Sài Gòn, 1882.
2 Trương V ĩnh Ký, Chuyện đời xưa, Sài Gòn, 1866.