phần 2 cuốn sách Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian việt nam giới thiệu các nội dung chương 3 - việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian trong văn xuôi trung đại. mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.
Trang 1VIỆC VĂN BẢN HÓA TRƯYỂN THUYẾT DÂN GIAN
TRONG VĂN XUÔI TRƯNG ĐẠI
1 Vài nét về tình hình ghi chép truyền thuyết trong văn xuôi trung đại Việt Nam
7 /ẻ ơ/i/ễ chép văn học dân gian - bước đi đầu tiên của văn học viết
Mặc dù được hình thành tương đối muộn nhưng nền văn học trung đại Việt Nam vẫn mang những đặc điểm giống với văn học viết các nước trên thế giới là bắt đầu bằng việc ghi chép văn học dân gian Đây chính là hình thức sớm nhất của văn học trung đại, hay nói như B.L.Riftin, là giai đoạn "hậu cổ đại" hoặc "trung cổ sơ kỳ"1 Tác giả người Nga là N.P.Podơnhepca cũng nói rằng, "văn học dân gian được ghi chép là hình thức quá độ giữa văn học dân gian và văn học thành văn Sáng tác của tác giả dân gian được ghi lại và dần dần sau này, việc sử dụng bản ghi ấy bước vào hệ thống
và thế là đã có điều kiện để bẳt đầu thời kì quá độ từ truyền thống truyền miệng sang truyền thống văn tự Nhận xét trên cũng giải thích luôn cả những hiện tượng được phát hiện trong các di tích của văn học cổ đại phương Đông mang những đặc điểm của sáng tác truyền miệng nhưng ngày nay lại đến với chúng ta trong hình thức của sáng tác có văn tự Hiện tượng này chứng tỏ ràng, những lớp mới liên quan đán những thời kỳ khác nhau cứ dần dần được bổ sung
CHƯƠNG 3
1 B.L.Riítin, Sứ thi lịch sử và truyền thống văn học dân gian Trung Quốc,
Phan Ngọc dịch từ nguyên bản tiếng Nga, Nxb Thuận Hóa - Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đ ôns Tây, 2002.
Trang 2vào cái hạt nhân cơ bản đã thấm trong mình di sản của vãn học truyền miệng dân gian"1 Nghiên cứu thực tế văn học trung đại Việt Nam, tác giả Kiều Thu Hoạch cũng có nhận xét ràng, "quy luật chung cùa nhiều nền văn học viết đều khởi đầu bằng việc ghi chép folklore Các loại hình văn học tự sự trong văn học viết Việt Nam thời trung cận đại cũng không nằm ngoài quy luật đó"2.
Tuy nhiên, bước qua thời trung cổ sơ kỳ, vào thời trung cổ phát triển, văn học viết vẫn có mối quan hệ chặt chẽ với văn học dân gian với tính chất, mức độ và biểu hiện khác nhau Mười thế ki văn học trung đại Việt Nam (X-XIX) cũng đã trải qua những bước phát triển mang tính quy luật như vậy Căn cứ vào đời sổng tác phẩm, văn học trung đại được chia làm 3 thời kỳ: X-XIV, XV-XVIII, XVIII-XIX Từng thời kì đó, văn học trung đại Việt Nam đã có mối quan hệ đặc biệt với văn học dân gian Thế kỉ X-XIV được các nhà nghiên cứu thống nhất là giai đoạn văn xuôi tự sự lấy việc ghi chép truyện dân gian làm nền tảng, với các tác gia tiêu biểu là Lý Tế Xuyên, Trần Thế Pháp và sau đó là Vũ Quỳnh, Kiều Phú Ở thế ki
XV, XVI, xu hướng ghi chép văn học dân gian đã được thay thế bàng xu thế văn học hóa truyện dân gian mà các tác gia tiêu biểu là
Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ Thế kỷ XVII có sự vắng bóng của văn xuôi tự sự Thế kỷ XVIII, XIX là giai đoạn văn xuôi phát triển rực rỡ, bên cạnh những sáng tạo nghệ thuật đích thực vẫn tồn tại những truyện dân gian được ghi chép lại theo quan điểm và phương pháp mới Vì thế, trong phạm vi cuốn sách này, chúng tôi dừng lại khảo sát hai giai đoạn trong tiến trình văn xuôi tự sự trung đại có ghi chép truyền thuyết dân gian, đó là giai đoạn thế ki X-XIV và giai đoạn XVIII, XIX
Văn xuôi tự sự trung đại bao gồm hai bộ phận là văn học chức năng và văn xuôi nghệ thuật, về bộ phận văn học chức năng, ờ
1 N.P.Podơnhepca, "Vấn đề phân chia thời kì những nền văn học cổ đại phương Đông", Tạp chí Các dãn tộc châu Á cháu Phì, M.1962, Bản dịch chép tay, Thư viện Viện Văn học, kí hiệu DL.552, 1962, tr.13.
2 Kiều Thu Hoạch, "Vai trò cùa truyện kể dân gian đối với sự hinh thành các thể loại tự sự trong văn học Việt Nam", in trong sách Văn hóa dân gian, những lĩnh vực nghiên cứu, Nxb Khoa học xã hội, H 1989, tr.93.
202
Trang 3Chuang 3 Việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian
Chương 2, chúng tôi đã khảo sát 2 thể loại tiêu biểu có mối quan hệ chặt chẽ với truyền thuyết dân gian là sử và thần tích Ở chương này, chúng tôi sẽ khảo sát bộ phận văn xuôi nghệ thuật để tiếp tục tìm hiểu diện mạo của truyền thuyết trong quá trình văn bản hóa với dấu ấn của tác giả cũng như sự tác động trở lại của những đặc trưng truyền thuyết với việc coi nó là đổi tượng để ghi chép
1.2 Văn bản hóa và văn học hóa
Việc tiếp nhận văn học dân gian của văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam diễn ra theo hai hướng: văn bản hóa và văn học hóa
Văn bản hóa là việc ghi chép lại truyện lưu hành trong dân gian
theo cách của từng tác giả chứ không hư cấu thêm Ở hựớng này, tác giả văn xuôi trung đại thường lấy cả cốt truyện lẫn các motif để
tổ chức, sắp xếp thành truyện Đóng góp của họ đổi với văn học viết ở đây là việc xâu chuỗi, lắp ghép tổ chức những mẩu kể có tính chất tự sự trong dân gian thành truyện kể tương đối hoàn chỉnh B.L.Riftin cho biết, ở các nước phương Đông, "những thủ pháp kể chuyện truyền miệng ở các dân tộc cũng như những cách ghi các tác phẩm truyền miệng ở giai đoạn đầu rất gần gũi nhau"1 Do đó, không có gì là lạ khi bộ phận văn học này vừa là đổi tượng của văn học viết, vừa là đối tượng của văn học dân gian Tương ứng với giai đoạn đầu của văn học trung đại Việt Nam, từ thế kỉ X đến thế
kỉ XIV, là hai tác phẩm nổi bật mà chúng tôi sẽ chọn để khảo sát là
Việt điện u lỉnh (1329, Lý Tế Xuyên) và Lĩnh Nam chích quái (thế
kỉ XIV, Trần The Pháp)
Văn học hóa là việc lẩy một yếu tố của văn học dân gian (cốt
truyện hoặc motif, đề tài, nhân vật) để sáng tạo nên một truyện kể hoàn toàn mới Hiện tượng này thường được gọi là "sự vay mượn" văn học dân gian (B.L.Riữin) ở Việt Nam, xu hướng này tương ứng với 2 giai đoạn văn học trung đại: XV-XVIII, XVIII-XIX mà nổi bật là hai thể loại truyện ký và truyện truyền kỳ
l ề B.L.Riftin, Sừ thi lịch sử và truyền thống văn học dân gian Trung Quốc,
Phan Ngọc dịch từ nguyên bản tiếng Nga, Nxb.Thuận Hóa - Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, 2002.
Trang 4Khi tìm hiểu những thủ pháp phân tích loại hình để xác định vị trí của một hiện tượng văn học trong quá trình văn học thế giới, B.L.Riữin cho rằng, cần phải làm sáng tỏ 3 tiết diện (3 lớp): lớp tư tưởng, lớp miêu tả và lớp tự sự Trong 3 lớp này, lớp tự sự (cách tổ chức cốt truyện, phong cách riêng của người kể chuyện) được ông coi là "gắn liền với với những hình thức văn học dân gian nguyên thuỷ, chẳng hạn, gắn liền với sự xuất hiện truyện truyền miệng băng văn xuôi ở giai đoạn đầu (đối với Trung Quốc và Cận Đông),
và vượt lên trước sự tiến triển của tư tưởng và sự miêu tả"1 Như vậy, nhìn từ góc độ loại hình, ta có thể thấy lớp tự sự (tức là cách tổ chức cốt truyện và phong cách kể chuyện dân gian) mà B.L.Riíìtin nói ở đây tương ứng với truyện văn xuôi trung đại Việt Nam ở giai đoạn đầu, khi xu hướng văn bản hóa là xu hướng chủ đạo để xây dựng nền móng cho văn xuôi tự sự trung đại Còn lớp miêu tả và tư tưởng (khi các thủ pháp miêu tả hiện thực và những ý tưởng chủ quan của nhà văn về hiện thực được chú trọng) thì tương ứng với giai đoạn sau của văn học trung đại, khi xu hướng văn học hóa phát triển mạnh và văn xuôi trung đại "bứt khỏi lối tự sự dân gian và văn học chức năng"2 để xây dựng cho mình một truyền thống nghệ thuật riêng
Tuy nhiên, sự phân biệt "văn bản hóa" và "văn học hóa" ở đây chỉ là tương đối Bởi vì, như đã nói ở trên, xu hướng văn bản hóa
mà chúng tôi nói đến ở đây khác căn bản với việc sưu tầm, ghi chép truyện dân gian, khi mà người sưu tầm luôn cổ gắng ghi lại ờ mức trung thành nhất lời người kể trong dân gian Còn trong các tác phẩm văn xuôi trung đại ở giai đoạn đầu (thế kỉ X - thế kỉ XIV), các tác giả đã sử dụng truyện dân gian theo sự quy định của thể loại hoặc theo ý đồ của riêng mình Như vậy, việc "văn bản hóa" trong bản thân nó đã là một thao tác mang tính "văn học hóa" rồi Vì thế,
1 B.L.Riftin, Sử thi lịch sừ và truyền thống văn học dân gian Trung Quốc, Phan Ngọc dịch từ nguyên bàn tiếng Nga, Nxb.Thuận Hóa - Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, 2002, tr 117.
2 Nguyễn Đăng Na, "Tự sự lịch sử trong văn học trung đại Việt Nam - những
đặc điểm cùa bước đi ban đầu", Tạp chí Văn học, sô 12, H 1999, tr.21.
2 0 4
Trang 5Chương 3 Việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian
có thể nói, "văn bản hóa" là một cấp độ, một giai đoạn của "văn học hóa" Chính vì vậy, văn xuôi trung đại Việt Nam, có một điều đặc biệt là, ở giai đoạn sau của văn xuôi trung đại (giai đoạn trung đại phát triển) thì xu hướng thứ nhất, xu hướng văn bản hóa truyện kể dân gian vẫn còn tồn tại Nghĩa là trong các tập truyện ký vẫn còn
có rất nhiều truyện kể dân gian được ghi chép lại mà không có sự
hư cấu sáng tạo để trở thành một tác phẩm văn học viết thực sự Xu hướng này chẳng những không mâu thuẫn với xu hướng văn học hóa văn học dân gian, xu hướng phát triển văn xuôi nghệ thuật đích thực mà là những đường nét, những sắc màu làm sinh động bức tranh văn học trung đại Đây cũng chính là một biểu hiện của "sự không thuần chủng về thể loại"1 trong văn học trung đại mà các nhà nghiên cứu thường nói đến
Sự khác nhau của 2 khái niệm này trong chuyên khảo mà chúng tôi muốn nói đến là ở chỗ: khái niệm "văn bản hóa" dùng để chỉ những tác phẩm sử dụng chất liệu văn học dân gian - cụ thể ở đây
là truyền thuyết dân gian, khá trung thành với sự tồn tại của nó trong môi trường dân gian; còn khái niệm "văn học hóa" dùng để chỉ những những tác phẩm mượn chất liệu văn học dân gian (cụ thể
là truyền thuyết dân gian) để thể hiện những vấn đề của đời sống đương đại với một khuynh hướng cảm hứng khác hẳn Ở những tác phẩm "văn bản hóa", có sự tồn tại rõ rệt những hạt nhân đặc trưng
thể loại truyền thuyết dân gian (cảm hứng tôn vinh lịch sử, thời gian lịch sử - cảm giác, không gian lịch sử mang tính thiêng, ám ảnh về phép lạ hiện hữu, những tác động của thế giới siêu hình đến đời sống thường nhật ); còn ở tác phẩm "văn học hóa" các hạt
nhân đặc trưng của thể loại truyền thuyết đã mờ nhạt, có khi thay
đổi hẳn tính chất (thời gian đời thường, nhân vật đời thường, không gian sinh hoạt đời thường, thần thiêng đã bị hạ bệ ).
Nội dung khảo sát cùa Chương 3 là tìm hiểu nhừng mức độ đậm nhạt khác nhau của sự lưu giữ những hạt nhân đặc trưng thể loại truyền thuyết dân gian trong văn xuôi trung đại, từ đó, tìm hiểu
1 Nguyễn Đăng Na, Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, Tập 1, Nxb Giáo dục, H 1999, tr.18.
Trang 6vai trò của truyền thuyết dân gian trong sự hình thành và phát triên của các giai đoạn văn xuôi trung đại Việt Nam Dựa trên cơ sờ những đặc trưng truyền thuyết, cộng với những yếu tổ có trong văn bản như lời của chính tác giả về xuất xứ của truyện, về cách ghi chép, mục đích ghi chép để chọn lọc những truyện dân gian được ghi chép trong những tập ký này làm đối tượng khảo sát Cụ thể, ờ giai
đoạn văn xuôi XIV-XV là Việt điện u lỉnh và Lĩnh Nam chích quái;
ở giai đoạn XVTII-XIX là các tập: Công dư tiệp ký (1755, Vũ Phương Đề), Lan Trì kiến văn lục (cuối thế kỉ XVIII, Vũ Trinh), Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ), Tang thương ngẫu lục (Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án), Hát Đông thư dị (cuối thế kỉ XIX, Nguyễn Thượng Hiền), Vân nang tiểu sử (cuối thế kỉ XIX, Phạm Đình Dục).
Như vậy, khảo sát kho tàng văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam, chúng tôi chỉ tìm hiểu những tác phẩm văn bản hóa truyền thuyết dân gian mà không tìm hiểu những tác phẩm văn học hóa truyền thuyết dân gian Bởi lẽ, căn cứ vào những đặc điểm loại hình của văn học trung đại cũng như tình hình văn xuôi trung đại Việt Nam, truyền thuyết dân gian được giừ lại ở mức cao nhất là những tác phẩm ghi chép văn học dân gian, ở đó, nó tồn tại ở cấp độ truyện dân gian với một sinh mệnh khá trọn vẹn Còn trong những tác phẩm văn học viết lấy văn học dân gian làm chất liệu (mà chúng tôi gọi là xu hướng văn học hóa truyện dân gian), thì truyền thuyết dân gian chỉ còn lại ở cấp độ yếu tố hoặc thủ pháp nghệ thuật mà thôi Những đơn vị nghệ thuật này hoàn toàn phụ thuộc vào cảm hứng sáng tạo và chiều hướng hư cấu của nhà văn
Ví dụ trong truyền thuyết dân gian, motif người kết hợp với thần thường biểu hiện ý chỉ của thánh thần, khát khao của cộng đồng về
sự xuất hiện của người anh hùng để giải quyết nhiệm vụ cấp bách của lịch sử Ý nghĩa thiêng này còn giữ lại được trong sử, thần tích,
và những tập văn xuôi tự sự trung đại giai đoạn đầu như Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái', song đến truyện ký thế kỉ XVIII-XIX
thì m otif này đã được sử dụng để biểu thị một ý đồ khác hẳn Đơn
cử truyện Truyện người giao hợp vói rồng trong tập Truyện ký trích lục (không rõ tên tác giả) Truyện kể rằng: "Bấn Bạch Hạc là nơi
hợp lưu của ba nhánh sông Nhĩ Hà, có một nhà thuyên chài thường
2 0 6
Trang 7Chương 3 Việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian
cắm thuyền ở giữa dòng Hai vợ chồng chưa có con cái, cất vó được ít
cá đem bán sống qua ngày Hàng năm, cứ đến mùa hạ, gió mưa sấm sét nổi lên, thường chịu cảnh sống bên cạnh sóng gió Người chồng nói:
- Tôi nghe nói, loài rồng có tính rất dâm, giao hợp với người thì sinh ra ngựa câu, giao hợp với ngựa thì sinh ra phượng hoàng, giao hợp với lợn thì sinh ra bà long, giao hợp với vượn thì sinh ra voi Mùa hè năm nay thường thấy rồng xuất hiện Nàng nên giao hợp với nó một lần, hoặc sẽ sinh một chú rồng con, ắt là đại quý
Người vợ thuyền chài cười lớn, nói:
- Phú quý tự có số, chàng chỉ nghĩ xằng, xưa nay chưa nghe thấy chuyện ấy bao giờ
Vợ chồng cùng cười phá lên rồi thôi Nhưng rồi một hôm, một dải mây đen xuất hiện, sóng gió ầm ầm xô tới, bồng trong đám mây đen ấy, rủ xuống một dải khí trắng, hình dáng giống đuôi rồng Người chồng bảo vợ mau nằm ngửa bên bến sông Người vợ bất đắc dĩ, thân không một mảnh vải, nằm ngửa ra, không thấy rồng giao hợp chỉ cảm thấy mình như bị một vật gì đè xuống Xong, trở
về thuật lại đầu đuôi cho chồng nghe Người chồng nói:
- May làm sao, sau nhất định sinh ra rồng con rồi!
Chẳng bao lâu, người vợ bồng thấy mình có thai, mọi người rất lấy làm lạ Đúng một năm thì đẻ ra một cái bọc, rạch ra được một
bé trai biết nói ngay, nhưng chỉ biết có mẹ, ngoài ra không còn biết
có ai nữa Năm sáu tuổi, đứa bé đã thích bơi trong nước, coi mặt nước như đất bàng Cậu bé thường lấy những báu vật dưới sông về cho mẹ, gia tư vì thế ngày một giàu có Đến khi mẹ chết, đứa bé cũng lặn xuống nước không thấy trở lại nữa"1
Rõ ràng ở đây, m otif mang tính thiêng đặc trưng của truyền thuyết đã bị thế sự hóa cao độ Sự hòa hợp với thần nhân để tạo ra
1 Trần N ghĩa (chủ biên), Tổng tập tiếu thuyết chữ Hán Việt Nam, Tập 1, Nxb Thế giới, H 1997, tr.277.
Từ đây, các tài liệu vãn xuôi trung đại được ghi nguồn trích dẫn là Tổng tập.
Trang 8motif "ra đời kỳ lạ" không còn là biểu hiện thiêng liêng trọng đại của dân tộc mà chỉ là sự vụ lợi của một cá nhân Đẳng cấp tôn ti trong truyền thuyết đã bị hạ xuống đời thường Biêu tượng truyên thuyết đã bị giải thiêng, để lắp ghép vào một cơ thể mới, mang những nét nghĩa mới, mất hẳn khuôn dạng ban đầu Cân lưu ý ở đây điểm nhìn "cộng đồng" và điểm nhìn "thế sự" trong hệ quy chiếu nội dung thể loại đã nêu ở Chương 1 Chuyển điểm nhìn, các nguyên tắc thể loại đã bị phá vỡ, yếu tố của hệ thống này chuyển sang hệ thống khác, phục vụ một ý đồ nghệ thuật khác Đó là lý do khiến chúng tôi không chọn những tác phẩm văn học hóa truyện dân gian làm cứ liệu để khảo sát.
1.3 Chất dân gian của những truyền thuyết được văn bản hóa
1.3 ỉ Đặc trưng thể loại và việc giới hạn tài liệu khảo sát
Khi khảo sát văn học dân gian qua văn bản, một số nhà nghiên cứu thường có xu hướng chọn các "văn bản chuẩn" Đối với tác giả Phong Châu, Vũ Ngọc Phan đó là văn bản có "tính dân gian nhất" [Phong Châu: 1972/24-34], [Vũ Ngọc Phan: 1975/64-74]' Vậy văn bản có tính dân gian nhất là gì? Các tác giả đều nhất trí đó là những văn bản giữ được nhiều nét đặc trưng thể loại nhất Điều này có nghĩa là, khi sáng tác một tác phẩm văn học dân gian, thể loại, hiểu theo nghĩa là một thái độ đối với thực tế, một cách thể hiện đời sống và tự biểu hiện mình, có một quy định lớn đối với sự phản ánh Mặc dù, trong từng tác phẩm văn học dân gian có thể có sự đan xen thể loại, tuy nhiên, dấu ấn nổi trội (mà một sổ tác già gọi là các lóp thể loại) như là những tín hiệu chính để nhận diện tác phẩm vẫn có thể nhận ra được
Đồng ý với quan điểm này, chúng tôi coi những đặc trưng của thể loại truyền thuyết đã được xác định ở Chương 1 là những dấu hiệu đế nhận diện truyền thuyết được ghi chép trong các tác phâm
1 Phong Châu, "Bàn về vấn đề văn bản truyện cổ dân gian", Tạp chí Văn học
số 6, H 1972, tr.34.
Vũ Ngọc Phan, "Vấn đề viết hay kể truyện cổ dân gian", Tạp chí Văn học
số 2, H 1975, tr.74
2 0 8
Trang 9Chương 3 Việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian.ể
văn học viết Với những tác phẩm văn xuôi sử dụng truyền thuyết như một chất liệu mà không tôn trọng đặc trưng thể loại sẽ không được chọn để khảo sát Ờ phần tiếp theo, chúng tôi sẽ trình bày những căn cứ khảo sát của mình
1.3.2 Truyền thuyết được văn bản hóa, một dạng đặc thù của truyền thuyết dân gian
* Nhìn từ ngôn ngữ truyện kể
Chúng ta biết rằng, truyện kể dân gian tồn tại trong môi trường diễn xướng, mà đơn giản nhất là môi trường kể miệng Ngoài tính chất khẩu ngữ khi kể, ngôn ngữ truyện dân gian được trợ giúp những yếu tố ngoài lời như cách lên giọng, ngắt giọng, động tác, cử chỉ, nét mặt của người kể nên ngôn ngừ kể không cần phải trau chuốt như ngôn ngữ viết mà vẫn có khả năng biểu đạt cao Khi nghe, người nghe được đặt vào một tâm trạng háo hức để nhập thân vào thế giới mà truyện kể tạo nên thông qua sự nhập thân của người kể
Ở đây, ngôn từ không phải là yếu tố quan trọng nhất Tiong môi trường diễn xướng khác như lễ hội, thờ cúng, thì truyện kể dân gian được truyền vào người nghe/xem bằng tính chất thiêng thông qua con đường niềm tin Kênh đặc biệt này có thể thẩm thấu được tất cả
sự huyền diệu, phi thường của truyện dân gian, những yếu tố chắc chắn không diễn ra trong đời thực
Như vậy, ở môi trường diễn xướng nào người nghe/xem cũng đều được đặt vào một tâm thế đặc biệt, tâm thế đón chờ một thế giới kỳ diệu Đó là một điều kiện rất thuận lợi cho việc tiếp nhận truyện dân gian Nhưng khi truyện dân gian được cố định bàng văn bản hóa, do mất đi sự trợ giúp của các yếu tố ngoài ngôn ngữ, và chỉ còn là phương tiện biểu hiện duy nhất là ngôn ngữ thì ngôn ngữ truyện ở đây thường phải trau chuốt hơn, các thủ pháp của văn học (miêu tả, biểu hiện) phải sử dụng nhiều hơn để vừa có tính biểu đạt cao, vừa giữ được cách kể trong dân gian Đó là điều khác nhau rất lớn của truyện kể trong môi trường truyền miệng và truyện được văn bản hóa Truyền thuyết được văn bản hóa có thể nói là một hình ảnh đã bị khúc xạ của truyền thuyết dân gian, mà độ khúc xạ
dễ nhận thấy nhất là ngôn ngữ kể chuyện Tuy nhiên có thể thấy,
Trang 10trong một thời gian rất dài, hình ảnh bị khúc xạ đó là hình anh hiêm hoi mà ta có thể biết được về truyền thuyết dân gian, thậm chí nhiều khi là duy nhất Vì vậy, các thư tịch nhiều khi là con đường duy nhất để khám phá hành trình tinh thần của cha ông được phản ánh trong vãn học dân gian Đó là lý do đê nghiên cứu truyên thuyêt dân gian qua thư tịch.
Tuy nhiên, trong nhiều điều kiện không có môi trường diễn xướng, nhất là tình trạng hiện nay, truyện kể dân gian được đông đảo tiếp nhận qua khâu đọc Để người đọc tiếp nhận, lĩnh hội được
vẻ đẹp đích thực của truyện dân gian, các bản kể cần tiếp tục truyền thống nào, truyền thống dân gian hay truyền thống của loại truyện được văn bản hóa Một vấn đề có liên quan đến việc văn bàn hóa truyền thuyết dân gian được thảo luận gần đây là việc viết hay kể truyện dân gian?
* Cách kế chuyện, hay là vấn đề viết hay kể truyện dán gian
Khi bàn về vấn đề này, một số tác giả cho rằng cần phải viết lại truyện dân gian Tác giả Vũ Ngọc Phan cho rằng: "Ke có nghĩa là viết truyện cho người ta đọc", và "vấn đề rút ra là chúng ta phải viết truyện dân gian thế nào cho hay để cả người lớn và trẻ em đêu nhận thấy là truyện hấp dẫn mà vẫn dân gian" [Vũ Ngọc Phan: 1975/64- 74], Tác giả Lã Duy Lan cho rằng, cách biên soạn truyền thuvết theo kiểu văn nói sẽ làm cho truyền thuyết có cốt truyện đơn giản,
ít chi tiết, nhân vật thì không được khắc họa tâm lý Do đó, Lã Duy Lan chủ trương như sau: "Cách biên soạn truyền thuyết theo hình thức văn nói quả đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết cần được khắc phục Và cách khắc phục đó chẳng có gì khác hom là biên soạn theo hình thức văn viết Có thể đi sâu vào đời sổng tâm lý của nhân vật, bởi vì chỉ có đi sâu vào đời sống tâm lý nhân vật mới khăc phục được tình trạng sơ sài và mâu thuẫn trong hành vi nhân vật, mà ờ cách biên soạn theo hình thức văn nói ít nhiều đều đã vấp phái và không sửa chừa nổi"1 Với quan niệm này, những truyên thuyêt mà
1 Lã Duy Lan (1997), Truyền thuyết Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin H
1997, tr 16-17.
210
Trang 11Lã Duy Lan biên soạn lại đã xa rời đặc trưng thể loại và đánh mất hoàn toàn chất dân gian của chúng.
Một số tác giả khác thì lại cho rằng, cần phải kể truyện dân gian (kể ở đây hiểu theo nghĩa là chép truyện dân gian theo cách kể trong dân chúng) Tác giả Phong Châu cho rằng, truyện dân gian là
để kể, vì vậy, cần phải kể sao cho có chất dân gian nhất Ý kiến này
đã chú trọng đên tính chất truyền miệng của truyện kể dân gian Tuy nhiên, tác giả lại không chủ trương sưu tầm truyện dân gian trong đời sống để ghi lại mà chủ trương chỉnh lý truyện dân gian theo một bản gốc Ỏng cho rằng, truyện dân gian như những viên ngọc cần phải mài mới sáng Như vậy, từ việc đặt truyện kể dân gian trong môi trường diễn xướng, ông lại quay sang tìm những văn bản tĩnh Chính vì vậy, trong khi tìm kiếm một văn bản lý tưởng, ông đã trừu tượng hóa quá trình vận động của truyện dân gian trong lịch sử mà cho rằng, tất cả các văn bản truyện dân gian đều chỉ có ý nghĩa tham khảo đối với người chỉnh lý Thực ra, những văn bàn truyền thuyết có trong các thư tịch không nằm trong vị trí chính phụ mà là những bản kể ở nhiều thời điểm, từ nhiều góc độ mà qua
đó, ta có thể hiểu được sự vận động của truyền thuyết trong thời gian Việc chỉnh lý truyện dân gian lại là một cách văn bản hóa truyền thuyết trong thời đại mới; chúng sẽ bị khúc xạ thêm một lần nữa khi được chỉnh lý, nhào nặn, cắt gọn theo quan điểm của người chỉnh lý
* Văn bản trong mỗi quan hệ với việc nghiên círu văn học dân gian trong tong thể
Tất cả những điều vừa nói ở trên đã nhấn mạnh đến ý nghĩa của việc nghiên cứu truyền thuyết dân gian trong các văn bản Điều đó
có phải đồng nghĩa với việc thuần tuý chú trọng ngôn từ trong truyền thuyết dân gian hay không? Thực tế nghiên cứu cho thấy, các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam đã có ý thức đặt yếu tố ngôn từ trong tính tổng thể folklore
Tác giả nổi bật phải kể đến là Nguyễn Văn Huyên mà những công trình dân tộc học, xã hội học của ông đã đạt tới những mẫu mực về
việc nghiên cứu folklore ngôn từ Đó là các công trình: Hát đổi đáp
Chương 3 Việc vãn bản hóa trnỵển thuyết dân gian
Trang 12của nam nữ thanh niên ở Việt Nam, Góp phần điều tra một vị thành hoàng Việt Nam: Lý Phục Man, Hội Phù Đổng, một trận đánh thán
kỳ trong truyền thuyết Việt Nam, Các tác giả sau ông cũng có
những đóng góp cho hướng nghiên cứu văn học dân gian trong tông thể folklore Thống kê 7 loại tài liệu cần tiến hành sưu tầm khi tìm hiểu văn học dân gian ở nông thôn, các nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh, Nguyễn Đổng Chi và Đặng Nghiêm Vạn đã chú ý tới vai trò của chính bản thân tác phẩm văn học dân gian cùng với nguồn thư tịch trong mối quan hệ với không gian, di tích, tổ chức sinh hoạt, nghệ nhân, phong tục, nghi lễ1 Từ việc khảo sát một tác phẩm cụ thể, một số tác giả đã mô tả các diễn xướng văn nghệ dân gian kèm
theo lời mà họ sưu tầm được như Cao Huy Đỉnh với Ngirời anh hùng làng Dỏng [Cao Huy Đỉnh: 1969], Đặng Văn Lung, Bùi Thiện, Bùi Văn Nợi với cuốn Mo M ường2.
Theo tác giả Nguyễn Thị Hiền, đây cũng là vấn đề thường xuyên được thảo luận trong giới nghiên cứu folklore thế giới [64/79-98] Tác giả cho biết, trong các nhà folklore trên thế giới, một số thì quan niệm folklore là di sản quá khứ nên đã ghi chép lại nhiều văn bản mà bỏ qua các thông tin về văn cảnh, còn sổ khác thì coi folklore
là một quá trình, nó không mất đi, do đó, cần miêu tả nó như nó đang tồn tại trong thực tế Các quan niệm này đã được thể hiện trong những công trình nổi tiếng về việc nghiên cứu qua văn bàn cũng như qua diễn xướng Alan Dundes, nhà nghiên cứu folklore Hoa Kỳ, quan niệm rằng, folklore cần được xác định bằng ba cấp
độ là kết cấu ngôn từ, văn bản và ngữ cảnh Quan niệm này ít nhiều
có sự gặp gỡ với quan niệm của các nhà nghiên cứu Cao Huy Đinh, Nguyễn Đổng Chi và Đặng Nghiêm Vạn đã nêu ở trên Trone ba cấp độ này, văn bản là một cấp độ không thể thiếu và rất cần nghiên cứu trong mối quan hệ tổng thể với môi trường diễn xướng
1 Cao Huy Đỉnh, Nguyễn Đổng Chi và Đặng Nghiêm Vạn, Phương pháp siru tâm văn học dân gian ở nông thôn, Vụ Văn hóa quân chúng xuât bản.
H 1969, tr.42.
2 Đặng Văn Lung, Bùi Thiện, Bùi Văn Nợi, Mo Mưòmg, Nxb Văn hóa dân tộc, H 1996.
212
Trang 13Chương 3 Việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian
Ờ Việt Nam, cần phải thừa nhận là việc nghiên cứu văn học dân gian ở thế kỉ XX tập trung nhiều vào phân tích văn bản mà chưa chú ý nhiều đến bối cảnh diễn xướng (không gian diễn xướng, thời gian diễn xướng, đặc điểm người diễn, người nghe.ễ.) Việc sưu tầm văn học dân gian Việt Nam trong thế ki XX cũng tập trung nhiều vào yếu tổ ngôn từ mà chưa có sự chú ý thích đáng tới việc ghi âm
và quay băng chụp ảnh Chính vì thế, với những giai đoạn mà ta không còn có cách nào phục chế lại môi trường diễn xướng thì việc nghiên cứu qua văn bản là một hướng cần thiết và không có
sự lựa chọn khác Các tác giả Trần Nghĩa [Trần Nghĩa: 1962], Đặng Văn Lung đã thu được kết quả từ hướng nghiên cứu này [Đặng Văn Lung: 1990]
Nểu nhìn từ lý thuyết tiếp nhận, lịch sử văn học viết có thể coi
là lịch sử của những cách đọc thì lịch sử văn học dân gian có thể coi là lịch sử của những cách diễn Với truyền thuyết dân gian, do tính đa dạng của đối tượng và mục đích diễn xướng nên trong nhiều trường hợp, có thể tìm hiểu qua lịch sử của những cách kể Bên cạnh đó, nếu sự vận động của văn học dân gian được coi là sự vận động của các thể loại thì sự vận động của các thể loại có thể được coi là sự vận động của các tác phẩm Văn xuôi trung đại Việt Nam qua nhiều giai đoạn phát triển, bằng việc ghi chép truyền thuyết dân gian, đã phản ánh sự vận động của các tác phẩm truyền thuyết dân gian
2 Việc ghi chép truyền thuyết dân gian trong văn xuôi tự sự thế kỉ X -X IV
Trong phần này, chúng tôi sẽ khảo sát sự vận động của các bản
kể truyền thuyết dân gian trong một số tác phẩm văn xuôi trung đại
để từ lịch sử của những cách kể mà hiểu thêm về một thể loại của văn học dân gian cũng như một bộ phận của văn học viết thời trung
đại Ở đây, hai tác phẩm Việt điện u linh, và Lĩnh Nam chích quái được chọn để khảo sát Là một tập hợp thần tích nhưng Việt điện u linh không được xếp vào phần thần tích ở Chương 2 Bởi vì, về mặt
nehệ thuật tự sự dù mang nhiều yếu tố của thần tích nhưng tính
chất trần thuật của thể loại truyện rất đậm trong Việt điện u linh đã
Trang 14khiến tác phẩm có vai trò quan trọng trong sự phát triển văn xuôi tự
sự trung đại v ề mặt đề tài, Việt điện u linh đặt nền móng cho sự ra
đời và phát triển của thể loại truyện lịch sử, một trong những thể loại của hệ thống văn xuôi trung đại Nhận xét về đề tài của 2 tác phẩm này, tác giả Kiều Thu Hoạch viết: "Có thể nói, do nội dung
như vậy, Việt điện u lỉnh và Lĩnh Nam chích quái là hai tác phâm
đã đặt nền móng đầu tiên cho thể loại truyện ký lịch sử ờ các thời đại sau" [Kiều Thu Hoạch: 1989/77] Nhà thư tịch học Trần Văn Giáp còn cho biết một loạt tác giả thời kỳ sau đã trùng bô, tục biên,
hiệu đính Việt điện u linh như Nguyễn Văn Chất, Lê Tự Chi, Kim
Miện Muội, Lê Hữu Hỉ, Cao Huy Diệu, Ngô Giáp Đậu, Gia Cát Thị1, v ề mặt nghệ thuật, những motif truyện dân gian mà tác giả
Việt điện u linh sử dụng được Nguyễn Đăng Na cho là đã góp phần
đặt nền móng để hình thành hai dòng truyện về nhân vật lịch sử và truyền kỳ của giai đoạn sau [Nguyễn Đăng Na: 1999/23] Khảo về văn học giai đoạn này, Nguyễn Đổng Chi mặc dù nhấn mạnh tính
chất thần tích và sử trong Việt điện u linh nhưng vẫn xếp Việt điện
u linh và Lĩnh Nam chích quái vào mục truyện cổ2, Dương Quảng
Hàm thì xếp vào phần truyện ký3, Đinh Gia Khánh xếp vào mục truyện ký có tính chất sử học và văn học4, Nguyễn Đăng Na xếp
Việt điện u linh vào loại truyện lịch sử tôn giáo còn Lĩnh Nam chích quái vào loại truyện dân gian [Nguyễn Đăng Na: 1999/22].
Như vậy, hầu hết các nhà nghiên cứu đều xếp Việt điện u linh
và Lĩnh Nam chích quái vào phần "truyện văn xuôi trung đại" Vậy, khi nghiên cứu hai tác phẩm này, khái niệm truyện ở đây cần được
hiểu như thế nào? Nguyễn Đăng Na cho rằng, "hai hạt nhân tạo nên
1 Trần Văn Giáp, Tim hiểu kho sách Hán Nôm, Tập 2, Nxb Khoa học xã hội, H 1990, tr 182.
2 Nguyễn Đổng Chi, Sơ thào lịch sừ văn học Việt Nam, Quyến I (Phần ngữ ngôn văn tự và văn học truyền miệng), Nxb Vãn Sử Địa, H ] 957, tr.50.
3 Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yêu, Nxb Tòng họp Đỏng Tháp
1993, tr.25
4 Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương: Văn học Việt Nam thế
ki X - nửa đầu thế ki XVIII, Nxb Giáo dục, H 1998, tr 129.
214
Trang 15Chương 3 Việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian.Ể
truyện là nhân vật và cốt truyện" [Nguyễn Đăng Na: 1999/21]; Nguyễn Huệ Chi thì cho rằng, trong giai đoạn văn học Lý Trần,
truyện là một thể loại trong truyện kể Truyện kể có đặc trưng là
"bắt đầu hình thành một cốt truyện, tình tiết hoặc phong phú, hoặc đơn giản Và xoay quanh cốt truyện là những nhân vật được khắc họa nhiều khi rất sinh sắc"1 Như vậy, đặc trưng của thể loại truyện
là cốt truyện, tình tiết, nhân vật Các yếu tố hạt nhân này sẽ được
dùng đê khảo sát đặc trưng của truyện kê dân gian trong Việt điện u lỉnh, Lĩnh Nam chích quái cũng như truyện dân gian được ghi chép
trong truyện ký thể ki XVIII-XIX
2.1 Truyền thuyết dân gian trong "Việt điện u linh "
Trước khi đi vào tìm hiểu diện mạo của truyền thuyết dân gian
trong Việt điện u linh, thiết tưởng cần nói qua về văn bản Mặc dù
không làm công tác văn bàn học, song việc chọn văn bản nào của
Việt điện u linh lại nảy sinh vấn đề Bản tài liệu chúng tôi sử dụng
là bản dịch của Trịnh Đình Rư (do Đinh Gia Khánh bổ sung trong lần tái bản) từ bản A.7512 Thế nhưng theo Nguyễn Đăng Na thì
trong 8 bản Việt điện u linh có ở Thư viện Viện Hán Nôm, bản
A.751 không phải là bản cổ nhất3 Do đó, các phân tích về nghệ
thuật trần thuật của Việt điện u linh trong chuyên khảo này sẽ giới
hạn ờ việc phân tích tác phẩm này tại văn bản A 751 (Sự phân tích
việc sử dụng truyền thuyết trong các văn bản Việt điện u linh khác
có thể sẽ có những điểm khác so với kết quả phân tích ở đây)
Phải nói ngay là Việt điện u linh đã ghi chép nhiều truyện kể về
tín ngưỡng thờ thần tự nhiên, biểu hiện của quan niệm thần thoại
về thế giới của nhân dân ta Trong 27 truyện được thống kê trong
Việt điện u linh thì có tới 13 truyện (gần 50%) ghi chép về tục thờ
1 N g u y ễ n H u ệ C h i, Thơ văn Lý Trần, Tập 1, N x b K h o a học x ã hội, H
1977, tr 183
2 Lý Te Xuyên, Việt điện u linh, Trịnh Đình Rư dịch, Nxb Văn học, H 1972.
3 N g u y ễ n Đ ăng N a, "Tim hiểu quan điểm biên soạn và phươ ng pháp biên soạn Việt điện u linh tập cùa Lý Tế Xuvên", Tạp chí Văn học, sô 1, H
1986, tri 130-143.
Trang 16nhiên thần: thần sông, thần núi, thần đất, thần cây Chính trong lời tựa, Lý Tế Xuyên cũng đã ý thức rõ rằng, "các vị thần vốn có phâm loại không ngang nhau, có vị là tinh tuý của núi sông, có vị là nhân vật kiệt linh, khí thế rừng rực lúc đương thời, anh linh tòa rộng đến
đời sau" [ Việt điện u linh: tr.31] Tinh tuý của núi sông, đó chính là
thần thoại Tuy nhiên, trong các thần thoại này đều có bóng dáng của các nhân thần truyền thuyết Điều này cho thấy, vào thời điểm này, tục thờ nhiên thần có từ xa xưa vẫn rất phổ biến trong dân dã, đồng thời đã có sự đan xen chồng chất những lớp truyền thuyết vào những thần thoại đó Ở đây sẽ không bàn đến những truyện chép về các quan niệm thần thoại của nhân dân mà chỉ bàn về các truyền thuyết và các lớp truyền thuyết trong đó Tìm hiểu diện mạo truyền
thuyết trong Việt điện u linh, chúng tôi sẽ triển khai trên ba phương
diện: nhân vật, motif và nghệ thuật trần thuật
2.1.1 Hệ thống nhân vật trong "Việt điện u linh"
Việc phân kỳ lịch sử văn học dân gian Việt Nam đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu như Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên, Cao Huy Đỉnh, Đỗ Bình Trị, Nguyễn Xuân Kính, Hoàng Tiến Tựu Dù có một số điểm chưa thống nhất nhưng các nhà nghiên cứu đều cho rằng có một mảng truyền thuyết về thời Bắc thuộc (trong Chương 1 chúng tôi tạm gọi là "thời khuyết sử") Mảng truyền thuyết này vẫn còn nơi bia miệng, còn trong sự thờ cúng, tưởng vọng của người dân ở các đền thờ, lễ hội Xét về mặt văn bản
thì cho đên nay, Việt điện u linh là tài liệu sớm nhất ghi chép sự
tích của các vị anh hùng thời Bắc thuộc
Đó là truyền thuyết về Cao Lỗ, về Trưng Trắc và Trưng Nhị, về
Lý Nam Đế và Triệu Việt Vương, Lý Phục Man, Trương Hống, Trương Hát, về Phùng Hưng Truyền thuyết về những nhân vật
này chiếm 8 trong 13 truyện về các nhân vật trong Việt điện u linh
Căn cứ vào 3 nguồn tài liệu (thư tịch cổ của Việt Nam và Trung Quốc, tự điển về các thần, truyền thuyết dân gian), Lý Tế Xuyên đã xâu chuỗi các chi tiết để xây dựng nên các côt truyện vê nhữn2 vị vua, những trung thần nghĩa sĩ có thật hoặc được tin là có thật đã làm nên những bước ngoặt quan trọng trong lịch sử dân tộc tron2216
Trang 17nghìn năm Bắc thuộc Một thời đại tưởng chìm vào bóng đêm đã được làm sáng lên nhờ những tia sáng được rọi tò các câu chuyện trong các trang viết súc tích của tập sách nói trên của Lý Tế Xuyên qua những mốc sự kiện và các nhân vật đại diện Đây quả là một tài sản quý trong kho tàng tự sự về đề tài lịch sử của văn xuôi trung đại Việt Nam, và cũng chính là những tài liệu quan trọng để Ngô Sĩ
Liên viết phần Ngoại kỷ trong bộ sử chính thức đầu tiên của dân tộc
ta mà tác giả của nó (Lý Tế Xuyên) được Lê Quý Đôn đánh giá là một "tay viết sử có tài"
Trở lại với vấn đề đời sống văn học dân gian, một quan điểm về tiến trình văn học dân gian khá thuyết phục của tác giả Đồ Bình Trị
là coi sự phát triển của văn học dân gian là sự hình thành và phát triển của các thể loại Tác giả còn chỉ ra mối quan hệ khăng khít giữa thể loại, tác phẩm và coi tác phẩm là đơn vị để làm nên các quá trình Ông viết: "Trong việc dựng tiến trình văn học dân gian,
có được cái khung phân kì lịch sử chưa phải là đã có tất cảệ v ấ n đề đặt ra tiếp theo là làm sao "lấp đầy" cái khung ấy bằng các thể loại
và các tác phẩm cụ thể để biến nó thành một tiến trình lịch sử có da thịt, có linh hồn"1 Chính vì vậy, khi chúng ta nói về truyền thuyết
thời Bắc thuộc, Việt điện u linh quả là những tài liệu quý để có thể
từ tác phẩm mà hình dung ra thể loại, từ thể loại mà hình dung ra một giai đoạn văn học dân gian
Ngoài những truyền thuyết về các nhân vật thời Bắc thuộc ra,
Việt điện u linh còn có thêm truyền thuyết về các nhân vật đời Lê
như Phạm Cự Lưỡng, đời Lý như Lê Phụng Hiểu, Mục Thận, Lý Hoảng, Lý Thường Kiệt và các ông vua như Lê Ngọa Triều, Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Trần Thái Tông với rất nhiều chi tiết kì ảo trong cuộc đời các nhân vật lịch sử Từ góc độ sử liệu học, giá trị
của Việt điện u linh đã được khẳng định ở việc các bộ sử chính thức
đã sử dụng các truyền thuyết của bộ sách này Từ góc độ các yếu tố
cấu thành truyện, Việt điện u linh đã có một bước tiến trong việc
Chương 3 Việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian
1 Đ ỗ Bình Trị (1978), Nghiên círu tiến trình cùa văn học dân gicm Việt Nam,
T rư ờ n g Đại học Sư phạm xuất bản, H 1978, tr.41.
Trang 18xây dựng truyện ở việc đặc biệt chú ý tới nhân vật1 Đó chính là giá trị sử học, văn học, văn học dân gian của một tác phẩm trong tình trạng văn sử bất phân thời trung đại.
2.1.2 M o tif truyền thuyết trong "Việt điện u linh"
Phải nói là, với việc sử dụng lối văn sử bút và với quan niệm của nho gia, Lý Tế Xuyên đã hạn chế tối đa các yếu tổ huyền ào trong truyền thuyết dân gianỗ Trong các câu chuyện của mình, Lý
Tế Xuyên chỉ 8 lần sử dụng yếu tố thế truyền thế nhưng chất kỳ
diệu của đôi cánh tưởng tượng của tác giả dân gian vẫn bay vào
trang sách của ông Thống kê các truyện trong Việt điện u linh, có
42 lần yếu tố thần kỳ xuất hiện xen lẫn trong mạch kể sự kiện của các truyện Các yếu tố thần kỳ có thể quy về các motif sau: nằm mộng (15 lần), hiển linh (10 lần), âm phù (9 lần), vật thần (1 lần), chết thần kì (1 lần), phép lạ (3 lần), điềm báo (1 lần), sức khoẻ
phi thường (2 lần) Dù chỉ 8 lần sử dụng yếu tố thế truyền nhưng
nhìn vào bảng thống kê, chúng ta có thể thấy, Lý Te Xuyên đã sử dụng nhiều motif truyện để đưa vào truyện của mình So với những motif quen thuộc của truyền thuyết đã nói ở Chương 1, ở đây, motif
"hiển linh âm phù" và motif "giấc mơ điềm báo" chiếm số lượng nhiều nhất Đây là những motif đặc trưng của thể loại truyền thuyết dân gian Ý nghĩa của chúng là để chỉ tầm quan trọng của việc xuất hiện người anh hùng cũng như sự bất tử của người anh hùng
Điều này đã được Lý Tế Xuyên nói rõ trong lời Tựa (người anh
hùng "khí thế rừng rực lúc đương thời, anh linh tỏa rộng đến đời
sau") Trong Việt điện u linh, nội dung "khí thế rừng rực lúc đương
thời" được Lý Tế Xuyên mô tả bằng "sử bút" cho nên 2 motif đặc trưng của truyền thuyết thể hiện nội dung này là "ra đời kỳ lạ" và
"chiến công phi thường" bị giảm tối đa Trong khi đó, nội dung
"anh linh tỏa rộng đến đời sau" lại được tác giả đã phải mượn đến đôi cánh tưởng tượng của truyền thuyết dân gian với m otif "hiền linh âm phù"
1 N guyễn Phạm H ùng, " v ề cách tiếp cận truỵện thời Lý Trần", Tạp ch í Văn học, sô 1 0 , H Ế 1994, tr 15-19.
2 1 8
Trang 19Trong Việt điện u linh, motif "hiển linh âm phù" được sử dụng
rât dày đặc (19 lần) Như đã nói ở Chương 1, sự hiển linh âm phù của các vị thần được quan niệm là linh hồn bất diệt, một đời sống mới sau khi chết, đó còn là sức mạnh tiếp nối của truyền thống với quan niệm "sau lưng có nhiều thế hệ" (chữ dùng của M Gurevich) Như vậy, lẽ ra, m otif "hiển linh âm phù" phải đi kèm với motif "cái
chết thần kỳ" nhưng tại sao, trong Việt điện u linh, Lý Tế Xuyên lại
hạn chế đến mức tối đa việc sử dụng motif này ("cái chết thần kỳ")
mà lại mở rộng việc sử dụng kia ("hiển linh âm phù") Giải thích điều này có lẽ phải căn cứ vào lối văn sử bút của Lý Tế Xuyên Một mặt, ông đã hạn chế tối đa yếu tố kỳ ảo trong khi kể, mặt khác, ông cố gắng ghi chép trung thực đời sống tín ngưỡng của người dân, nơi đó, người dân tin sự hiện diện của người anh hùng trong đời sống của họ Hơn nữa, một nguyên tắc của việc soạn tự điển là tác giả phải chú ý đến việc đề cao quyền uy của các triều đại bàng việc dùng thần quyền đê phục vụ vương quyền nên người anh hùng của các đời phải quy tụ về phò giúp các triều vua đương thời Đó là
tất cả sự phức tạp khó tách bạch của sắc màu kỳ ảo trong Việt điện
u linh.
Ngoài ra, cũng cần nói thêm về một số nhân vật vắng bóng trong các bộ sử nhưng lại xuất hiện ở đây qua làn sương khói mộng
ảo của việc âm phù Qua sự hiển linh, Trương Hống, Trương Hát,
Lý Phục Man có một cuộc đời được nhìn thấy sau khi chết Trước hết, đó là một cách linh thiêng hóa quá khứ mang đậm xúc cảm tôn vinh Sau nữa, cần nhìn thấy ở đây khuynh hướng "truyền thuyết hóa thần thoại" thường thấy trong truyện kể dân gian Theo lời kể của những nơi có đền thờ Trương Hống, Trương Hát, hai nhân vật này được đồng nhất với thần thoại về tín ngưỡng thuỷ thần và được hình dung bàng hai anh em rắn mà người dân tôn kính gọi là ông
Dài, ông Cộc Sự tích Trương Hống, Trương Hát trong Khước địch thiện him trợ thuận đại vương Uy địch dũng cảm hiên thắng đại vươỉig được Lý Tế Xuyên chú thích là tham khảo từ nguồn tài liệu
Đ ỗ Thiện sử kỷ Như vậy, có thể là khi viết những câu chuyện dã sử
này, Đô Thiện đã thu thập những truyện kê dân gian lưu truyền trone môi trường truyền miệng và tín ngưỡng được người dân
_ _ Chương 3ể Việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian
Trang 20thực hành trong đời sống Trước khi được ghi chép vào văn bản, truyện kể Trương Hống, Trương Hát đã có một độ phổ biến khá rộng (với nhiều nơi thờ ở Bắc Ninh, Bấc Giang) và nhờ vậy mà đã hội tụ được nhiều yếu tố dân gian do quá trình lưu truyền chat lọc
và cải biến Vì thế, xét tính chất dân gian của Việt điện u linh, không thể chỉ căn cứ vào chữ thế truyền, tục truyền trong văn bản
mà phải tìm hiểu chất dân gian ở cả những thư tịch có sẵn mà Lý
Tế Xuyên đã dày công tìm tòi để sử dụng Yếu tố dân gian của những tài liệu đó là những tín hiệu thẩm mỹ bề sâu đã được sự sấp xếp của Lý Tế Xuyên như là cách tổ chức câu chuyện ở bề nổi tạo nên những câu chuyện mới mang giá trị của sức mạnh truyền thống
và hơi thở thời đại Bởi vậy, cũng có thể coi Việt điện u linh là một
cái mốc của sự vận động và phát triển truyền thuyết dân gian
2.1.3 Những yếu tố của nghệ thuật trần thuật trong "Việt điện
Việt điện u linh, ngược lại, cuộc đời của nhân vật được kể theo
nhiều hướng khác nhau Đó chính là sự sinh động của cách kể truyền thuyết trong dân gian mà tác giả chịu ảnh hưởng Đúng như
có tác giả nhận xét rằng, đây là bộ phận phi chức năng lễ nghi có chứa đựng nhiều yếu tố tự sự [Nguyễn Đăng Na: 1986], Đó là lý do
chính khiến chúng tôi nghĩ ràng, Việt điện u linh bên trong cái vỏ
thần tích là những văn bản chứa đựng nhiều yếu tố truyện, mà chất truyện của nó ít nhiều mang bóng dáng của chất truyện được kể trong đời sổng dân gian
220
Trang 21Chương 3 Việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian.
Đặc biệt, Việt điện u linh có khi đã vượt quá tính lược thuật
thường thấy ở thần tích để ghi chép lại những cách kể khá sinh
động trong dân gian Tiêu biểu như truyện Triệu Việt Vương và Lý Nam Đế Kể câu chuyện này, Lý Tế Xuyên đã sử dụng một loạt các
chi tiết vượt khỏi khuôn khổ của công thức thần tích: vật thiêng làm linh khí, kết hôn giảng hòa, bị lừa và bị phản bội, mất nước, cái chết thần kỳ Các chi tiết này làm cho câu chuyện có một kết cấu
mở, có thể triển khai thành nhiều nhánh truyện mới Chúng cũng không chỉ phục vụ việc kể về chiến công của nhân vật trung tâm (như mô hình tự sự của thần tích) mà đề cập đến nhiều tuyến nhân vật; cách kể tuy tóm lược nhưng đã thể hiện được sự phức tạp của các mối quan hệ; việc mô tả nhân vật không chỉ xuất phát từ điểm nhìn cộng đồng để thể hiện sự tôn vinh mà đã thấp thoáng một điểm nhìn từ những biểu hiện của đời sống tâm lý, tình cảm của các nhân vậtỗ Tất cả sự phong phú này đã xuất hiện trong truyện kể về
An Dương Vương trong Lĩnh Nam chích quái khiến các nhà nghiên
cứu phải lưu tâm lý giải, về sự trùng hợp giữa hai truyện, sử gia Ngô Sĩ Liên đặt câu hỏi: "Đến như chuyện Mỵ Châu rắc lông ngỗng chỉ đường thì chưa chắc đã có, nếu có thì chi một lần là phải thế mà sau này con gái Triệu Việt Vương bat chước, là làm sao?"
[Đại Việt sử ký toàn thư] Trong khi đó, các nhà nghiên cứu khác
đã cố gắng giải thích sự giống nhau giữa hai truyền thuyết theo nhiều hướng khác nhau Có tác giả cho rằng đó chính là xu hướng gắn kết các truyện do quá trình vận động của truyện trong không gian1; Tác giả Tạ Chí Đại Trường thì cho rằng đây là sự mô phỏng lắp ghép của người đời sau vì sự trùng lặp hai danh xưng của triều đại họ Triệu (Triệu Vũ Đế và Triệu Việt Vương) [Tạ Chí Đại Trường: 1989/58] Theo chúng tôi, dù bắt nguồn từ lý do gì đi chăng nữa thì
sự tương đồng này đã thể hiện quan niệm của các tác giả về việc sáng tạo nên những câu chuyện mà tính tự sự của chúng đã vượt ra khỏi thể loại "tiền nghệ thuật" (là truyền thuyết dân gian) để đặt
1 Trần Nghĩa, "Truyền thuyết Mị Châu - Trọng Thuỷ phát triển qua các thời đại", Tạp chí Nghiên cim Văn hóa, H 1962, sô 4.
Đặng Văn Lung (1990), Giông bão Loa thành, Nxb Khoa học xã hội,
H 1990.
Trang 22nền móng cho sự phát triển văn xuôi trung đại Từ góc độ văn bản
hóa truyện dân gian, thông qua các truyện kể trong Việt điện u linh,
phần nào có thể thấy sự phát triển của nghệ thuật tự sự của truyện
kể dân gian, chí ít cũng là những mẩu chuyện riêng lẻ có khà năng kết dính cao để trở thành những truyện kể hoàn chỉnh
2.2ề Truyền thuyết dân gian trong "Lĩnh Nam chích quái"
Cũng như Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái là tác phâm
luôn thu hút sự chú ý sự tục biên, trùng bổ theo nhiều hướng Khác nhau của người đời sau Vì vậy, công tác văn bản học luôn đặt ra trước mắt các nhà nghiên cứu khi tiếp cận với văn bản này
Tình hình văn bản Lĩnh Nam chích quái rất phức tạp Các tác
giả sớm nhất của cuốn sách này thường được nhắc đến là Trần Thế Pháp (không rõ năm sinh năm mất), Vũ Quỳnh (1453-1516), Kiều Phú (1447-?) Các nhà nghiên cứu văn học trung đại đã căn cứ vào
lời Tựa (1492) của Vũ Quỳnh và lời Hậu tự của Kiều Phú để tìm hiểu cách biên soạn của hai ông Trong lời Tựa Lĩnh Nam chích quái liệt truyện, Vũ Quỳnh viết: "Hồng Đức, mùa xuân, tháng Hai
năm Nhâm Tý, kẻ ngu này mới chép được truyện cũ, ôm lấy mà đọc, nghĩ không tránh khỏi chữ nọ xọ chữ kia, cho nên quên mình
dốt nát, đem ra hiệu chính, xếp thành hai quyển, đặt tên là Lĩnh Nam chích quái liệt truyện, cất trong nhà để tiện quan lãm Còn
như việc khảo chính, nhuận sẳc, làm sáng tỏ truyện, gọt văn, chấp lời, rũa ý thì chư vị quân tử hiếu cổ há không có ai hay sao?"1
Trong lời Hậu tự (1493), Kiều Phú viết: "Kẻ ngu này tham khảo
sách khác, thêm ý riêng của mình chữa lại cho đúng, biện chính những sai lầm của thủa trước cho khỏi tiếng chê cười của đời sau, lại bớt chỗ rườm rà, theo chỗ giản dị để sách tiện mang cất, coi xem, xin các vị bác nhã quân tử dung thứ cho cái tội mạo muội ấy" Căn cứ vào đây các tác giả đều nhất trí là Vũ Quỳnh khône sừa đổi tác phẩm của Trần Thế Pháp bao nhiêu, còn Kiều Phú thì đã sữa đổi khá nhiều Tác giả Nguyễn Huệ Chi đã lấy 3 chi tiết nehi vấn
1 Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc San dịch, chú thích, giới thiệu, Lĩnh Sam chích quái, Nxb Văn hóa, Viện Vãn học, H 1960, tr 19.
222
Trang 23Chương 3 Việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian
mà Kiều Phú nêu ra làm căn cứ khảo sát trên 8 văn bản Ông đã chia các văn bản thành 3 loại, từ đó tìm ra bản cổ nhất, chính là bản
mà Kiều Phú gọi là Thế Pháp tập gồm 22 truyện (không có truyện
Hai Bà Trưng) Ông đề nghị khi khảo sát nên chọn loại văn bản này bởi đó là văn bản gốc đẻ ra các văn bản khác1
Trong khi đó, khi dịch Lĩnh Nam chích quái, tác giả Đinh Gia
Khánh và Nguyễn Ngọc San đã khảo sát 9 văn bản và lấy căn cứ khảo sát không phải là các chi tiết bị sửa đổi mà là căn cứ vào sổ lượng truyện có trong từng văn bản Hai ông nhận thấy tần số xuất hiện lớn nhất là 23 truyện (ghép từ lời tựa của Vũ Quỳnh và lời tựa của Kiều Phú) Còn 50 truyện khác của nhiều bản khác nhau,gộp lại thì chỉ được chép trong một hoặc hai bản nào đó mà thôi Từ đó
hai ông suy ra rằng, 23 truyện này chính là bản Lĩnh Nam chích quái đã cố định từ thế kỉ XV" [Bản dịch của Lĩnh Nam chích quái
của Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc San, 1960/8], Bản mà hai ông chọn là bản có kí hiệu A.33 Nhưng nếu căn cứ theo sự khảo sát của tác giả Nguyễn Huệ Chi thì bản A.33 là bản loại 2 (tức có sự sửa đổi hai chi tiết theo nghi ngờ của Kiều Phú)Ể
Sơ qua như vậy để thấy tình hình văn bản Lĩnh Nam chích quái cũng phức tạp không kém Việt điện u linh Hiện nay mới chỉ có một bản dịch trọn vẹn Lĩnh Nam chích quái từ bản A.33 (có tham khảo thêm truyện Dạ Thoa Vitơng của bản A.750)ử Chúng tôi sử dụng
bản dịch này, tức là bản dịch của Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc San Chính vì vậy, việc phân tích diện mạo và đặc điểm của truyền
thuyết trong Lĩnh Nam chích quái của cuốn sách này chi dừng lại ờ
văn bản A.33 Tuy nhiên, khi khảo sát, có những phần phụ lục được
chú thích là lấy từ Thế Pháp tập và các chú thích liên quan chúng
tôi cũng cố gắng đưa vào phạm vi khảo sát
Khác với Việt điện u linh, việc ghi chép truyện dân gian trong Lĩnh Nam chích quái đã có sự mờ rộng về đề tài Dựa trên lý thuyết
về "loại hình nội dung" của G.N.Pospelov, có thể thấy rằng, trong
1 Nguyễn Huệ Chi (1977), Thơ văn Lý Trần, Tập 1, Nxb Khoa học xã hội,
H 1977, tr.96
Trang 24Lĩnh Nam chích quái, các câu chuyện đã được triển khai từ các môi
quan hệ thần thoại, mối quan hệ cộng đồng và mối quan hệ thê sự
Như tên gọi, Lĩnh Nam chích quái là lượm lặt những chuyện "quái"
ở cõi Lĩnh Nam Nhưng quái là gì? Tác giả Nguyễn Đãng Na dẫn định nghĩa của Từ nguyên như sau: "quái" có hai nghĩa, nghĩa thứ
nhất là kỳ, là lạ, nghĩa thứ hai là chỉ những nhân cách không bị huý
diệt Và như vậy, theo tác giả, Lĩnh Nam chích quái có nghĩa là lượm
lặt, lựa nhặt những truyện lạ, những truyện về con người có nhân cách không bị huỷ diệt ở cõi Lĩnh Nam1 Như vậy, trong hàm nghĩa
của từ quái đã có sự xuất hiện của thể loại truyền thuyết; và xét
nghĩa của nhan đề tập sách thì có thể thấy, nó đã hàm ý chỉ các thể loại lớn của tự sự dân gian (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích) Theo
khảo sát, trong Lĩnh Nam chích quái có 11/23 truyện là truyền thuyết,
chiếm gần 50% Ở đây, chúng tôi sẽ khảo sát diện mạo của truyền thuyết trên 3 phương diện: đề tài, motif và nghệ thuật trần thuật
2.2.1 Đề tài của truyền thuyết trong "Lĩnh Nam chích quái" Nếu Việt điện u linh, chủ yếu mới chỉ chép truyền thuyết về các nhân vật lịch sử thì đối tượng của truyền thuyết trong Lĩnh Nam chích quái đa dạng hơn nhiều Qua khảo sát, về mặt chủ đề, sơ bộ
có thể chia làm 4 dạng truyền thuyết sau:
- Truyền thuyết về các anh hùng dân tộc
- Truyền thuyết về phong tục
- Truyền thuyết về những mối bang giao
- Truyền thuyết về tôn giáo
Điều đáng nói ở đây là, tuy có sự phân chia sơ bộ như vậy nhưng
thực ra, từng truyện trong Lĩnh Nam chích quái không thuần tuý về
mặt đề tài và thể loại Có truyện cùng một lúc thuộc về cả thần
thoại và truyền thuyết: Truyện Họ Hồng Bàng, Truyện Rùa Vàng; truyền thuyết và cổ tích: Tru)>ện cây cau, Truyện dưa hau Có truyện
1 Nguyễn Đăng Na, S ự phát triển truyện văn xuôi Hán - Việt từ thê ki X đến cuối thế ki X V III đầu thế ki X IX qua một số tác phâm tiêu biêu, Luận án PTS, Thư viện Quốc gia, Kí hiệu L 2102.
224
Trang 25Chương 3 Việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian
vừa phàn ánh đề tài nhân vật lịch sử, vừa giải thích phong tục như
Truyện Họ Hồng Bàng, Truyện bánh chimg; có truyện vừa phản ánh mối bang giao lại vừa là truyền thuyết tôn giáo: Từ Đạo Hạnh
và Nguyễn Minh Không, Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải;
có truyện thể hiện đan xen truyền thuyết về tín ngưỡng bản địa
và truyền thuyết về tôn giáo ngoại lai: Truyện Man Nương Có
những nhân vật có mặt ở nhiều truyện, lúc thuộc thể loại này, lúc
thuộc thể loại khác: Lạc Long Quân Nhìn qua có thể thấy, diện maọ của truyền thuyết trong Lĩnh Nam chích quái có sự đan xen khá
biểu tượng được cô đúc trong Truyện họ Hồng Bàng Phả hệ phức
tạp của các thần linh là tổ tiên huyền thoại của dân tộc Việt Nam chính là để khẳng định quốc thống dài lâu của dân tộc trong sự so sánh với truyền thuyết - huyền thoại Trung Hoa Ý thức khẳng định đối sánh này, về sau, ta đã có thể thấy ở thế kỉ XV trong bài "cáo"
của Nguyễn Trãi (" Trải Triệu Đinh Lý, Trần bao đời xây nền độc lập, Cùng Hán Đường Tông Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương")
hay vào cuối thế kỉ XX trong nghiên cứu của tác giả Bùi Văn Nguyên (khi nghiên cứu những chi tiết huyền thoại thời cổ sử này, giáo sư đã đề nghị tính chiều dài lịch sử Việt Nam tới 7000 năm từ thời Phục Hy Thần Nông)1 Như đã nói ở Chương 1, việc coi các truyền thuyết - huyền thoại này là nguồn sử liệu dẫn đến sự nghi ngờ về tính chính xác của con số trong truyền thuyết (Ngô Thì Sỹ -
Việt sử tiêu án) hay niềm tin máy móc vào tính cụ thể của logic
huyền thoại đều không thỏa đáng Các hình ảnh và biêu tượng này cần được giải mã để thấy thông điệp của người kê chuyện chính là
1 Bùi Văn Nguyên (1999), "Ngược dòng lịch sử, tìm hiểu cội nguồn bản lĩnh bản sắc dân tộc Việt Nam qua thư tịch và truyện cô dân gian", Tạp chí Văn học, H 1999, số 1 tr/ 4-6.
Trang 26ý thức về cội nguồn thông qua sự khẳng định tính dài lâu của lịch
sử và tính thống nhất ở cội nguồn thiêng liêng của dân tộc
Nghiên cứu ý nghĩa của biểu tượng truyền thuyết, tên gọi Lạc Long Quân và Âu Cơ đã định ra một hướng truy tìm những tầng văn hóa ở bề sâu Các tên gọi Lạc Long Quân và Âu Cơ được các nhà nghiên cứu giải thích là có cội nguồn từ tín ngưỡng vật tổ Các
truyền thuyết được văn bản hóa trong Lĩnh Nam chích quái và các
tài liệu điền dã mà đặc biệt các lễ hội cổ trên đất Luy Lâu (cụ thể là
trò đóng lốt ở làng Ngọc Xuyên, tục thờ bạch kê ở làng Đại Bái)1
đã cho thấy rõ hơn tục thờ rồng và thờ chim thời cổ Cuộc hôn phối này được coi là hình ảnh của sự hợp nhất hai bộ lạc lớn thời tiền sử, một nhân tố quan trọng cho việc ra đời nhà nước đầu tiên
Trong khi đó, tên gọi Kinh Dương Vương lại mang dấu ấn của một tầng ký ức khác Trong các thư tịch chép Kinh Dương Vương
là ông vua đầu tiên của nước Việt Nam, các bộ sử chính thống thời phong kiến ca ngợi sự thông minh, phúc hậu của Kinh Dương
Vương, còn Lĩnh Nam chích quái thì thể hiện bản chất huyền thoại của ông qua 2 chi tiết: thứ nhất, trong truyện Họ Hồng Bàng lai lịch
của Kinh Dương Vương là: "Lại phong Lộc Tục là Kinh Dương Vương để trị đất Nam Kinh Dương Vương có tài đi dưới thuỷ
phủ"; thứ hai, trong truyện Mộc tinh nói về việc trị yêu tinh Xương
Cuồng: "Kinh Dương Vương dùng nhạc mà đánh thắng yêu"
Như vậy, trong truyện kể của Lĩnh Nam chích quái, Kinh Dương
Vương là con người của vùng sông nước (có tài đi dưới thuỷ phủ),
và là người có phép lạ (dùng nhạc đánh thắng yêu) Bản chất huyền thoại của Kinh Dương Vương đã được nhà sử học Đào Duy Anh chỉ ra những căn rễ hiện thực của huyền thoại được mã hóa ngay trong tên gọi Đào Duy Anh cho rằng, cái tên này gắn với địa danh châu Kinh và châu Dương ở vùng đầm lầy phía nam hồ Động Đình Ông viết: "Kinh Dương Vương của truyền thuyết rất có thể là cái tên
mà người đời sau dùng để tượng trưng tổ tiên xa xôi của chủne tộc
1 Nguyễn Thị Huế, "Người dân Hà Bắc kể chuyện Lạc Long Quân - Âu Cơ",
Tạp chí Văn học, H số 4.
2 2 6
Trang 27Chương 3 Việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian
từ khi họ còn sinh tụ bằng nghề chài cá của miền châu Kinh và châu Dương và thờ giao long làm vật tổ"1 Có thể nghĩ rằng, truyền thuyết - huyền thoại này đã mô tả những suy ngẫm và tưởng tượng của người dân về tổ tiên mình thành những hình ảnh, biểu tượng và tên gọi; sắp xếp những ký ức xa xôi dường như đã nằm sâu trong tiềm thức đó thành một câu chuyện Giải mã biểu tượng, người đời sau mở ra cánh cửa đang khép chặt để nhìn sâu vào lịch sử dài lâu của dân tộc, không hẳn chỉ nằm trong niềm tự hào của cộng đồng
mà còn chứa đựng những căn rễ sâu xa của hiện thực Đây còn là những cứ liệu quý giá mà nghìn năm Bắc thuộc chưa thể làm phôi pha, mấy chục năm của con binh hỏa tàn khốc do quân Minh gây ra không thê xóa đi và Ngô Sĩ Liên đã mạnh dạn sử dụng chúng để
dựng lên phần Ngoại kỷ trong Đại Việt sử ký toàn thư.
Như vậy, nếu những truyền thuyết được ghi chép trong Việt điện
u linh là sự "lấp đầy" khoảng trống truyền thuyết và lịch sử thời Bắc thuộc thì truyền thuyết - huyền thoại Truyện họ Hồng Bàng
cùng nhóm truyền thuyết về Đổng Thiên Vương, về An Dương Vương đã rọi những tia sáng vào màn sương của lịch sử dân tộc thời tiền sử và sơ sử mà những cứ liệu khảo cổ học đã góp tiếng nói
để khẳng định những bước đi ban đầu này Từ góc nhìn lịch sử, Đào Duy Anh đã nhìn thấy "vận mệnh đặc biệt" của dân tộc Việt Nam trong sự hình thành, phát triển và tan rã của khối Bách Việt như "là đại biểu cuối cùng và duy nhất của Việt tộc"2
Như vậy, việc ghi chép một loạt truyền thuyết có sự đa dạng về
đề tài chứng tỏ các tác giả Lĩnh Nam chích quái đã thâu nhặt, bao
quát được một khối lượng truyền thuyết phong phú trong dân gian Khối lượng truyền thuyết này đã thể hiện một quá trình liên tục của việc khẳng định bản lĩnh dân tộc, của việc dựng nước và giữ nước trong áp lực mạnh mẽ và triền miên của nạn đồng hóa kề bên Sức sổng mãnh liệt đó của một dân tộc đã được cảm hứng tôn vinh lịch
sử thêu dệt thành những biểu tượng của truyền thuyết và được các
1.Đào Duy Anh, Lịch sử cổ đại Việt Nam, Nguồn gốc dân tộc Việt Nam, từ Giao Chi đến Lạc Việt, Tập san Đại học Văn khoa, H 1957.
2 Đào Duy Anh, Nguồn gốc dân tộc Việt Nam, Nxb Thế giới, H 1950, tr.79.
Trang 28văn bản ghi chép lại Do có cảm hứng đặc biệt về lịch sử truyền thuyết dân gian đã có sự gặp gỡ với chủ nghĩa yêu nước trong văn học thế kỉ X-XV bởi vì vận mệnh dân tộc là vấn đề nổi lên hàng đầu, là vấn đề thường trực trong đời sống xã hội cũng như đời sông văn học giai đoạn này Đó là lý do khiến các truyền thuyết dân gian được các nhà nho thời kỳ riày quan tâm ghi chép Và trong quá trình phát triển của văn xuôi tự sự Việt Nam, văn học hóa truyền thuyết là bước đi của giai đoạn ban đầu này Đó là những lí do văn học cũng như đời sống xã hội tạo nên sự gặp gỡ, sự xoan quyện giữa truyền thuyết dân gian và truyện văn xuôi thế kỉ X-XV.
2.2.2 M o tif truyền thuyết trong "Lĩnh Nam chích quái"
Khảo sát những truyền thuyết được ghi chép trong Lĩnh Nam chích quái, chúng tôi nhận thấy có những m otif sau: ra đời kỳ lạ:
2 lần, hóa thân (cái chết thần kỳ): 4 lần, sức mạnh phi thường: 3 lần, hiển linh âm phù: 3 lần, báo mộng: 5 lần, phép lạ: 3 lần
Tần số xuất hiện của các motif này so với các truyền thuyết được
ghi chép trong Việt điện u linh là đồng đều hơn Chẳng hạn, trong Việt điện u linh chỉ có một lần sử dụng motif hóa thân (cái chết thần kỳ) (hoàng tử Bát Lang không bệnh mà mất), còn trong Lĩnh Nam chích quái thì có khá nhiều: Thánh Gióng, An Dương Vương,
Hai Bà Trưng, Man Nương Những chi tiết: cởi áo, cưỡi ngựa mà
bay lên trời ( Truyện Đổng Thiên Vương), hay cầm sừng tê bảy tấc
đi vào lòng biển (Truyện Rùa vàng), lên núi Hy Sơn rồi không biết
đi đâu mất ( Truyện Hai bà Trinh linh phu nhân họ Trimg) thê
hiện không khí hào hùng và lãng mạn trong cảm quan của naười kể đối với thời đại anh hùng, đồng thời thể hiện quan niệm về naười anh hùng bất tử trong lòng nhân dân
Một đặc điểm dễ nhận thấy là các truyền thuyết trong Lĩnh Nam chích quái có sự đan xen chặt chẽ các motif của nhiều thể loạiỗ Có
những motif huyền thoại được sử dụng trong các lớp nghĩa truyền thuyết, ví dụ như: thần sông biểu tượng cho khí thiêng sông núi
(Truyện sông Tô Lịch), rồng - chim đẻ trứng biểu tượng cho cội nguồn dân tộc (Truyện họ Hồng Bàng), tục thờ thần cây và việc chống lại thần cây ( Truyện Mộc tinh), việc trị yêu quái đê định đô, cung cố
228
Trang 29Chương 3 Việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian.
quyền lực của một vương triều mới trên mảnh đất còn in đậm dấu
của thần quyền cũ {Truyện Rùa vàng) Ngoài ra, các truyền thuyết
còn đan xen nhiều motif mang tính chất thế sự-đời tư của truyện cổ
tích (motif "ngọc trai - giếng nước", Truyện Rùa vàng) hay tính
kinh dị của truyện truyền kỳ (xác người chết trôi ngược dòng sông
và dựng đứng lên trước cửa kẻ thù, Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không) Trong xu thế mở rộng quy mô và ý nghĩa của các
motif, chúng tôi sẽ chỉ tìm hiểu những motif mang lớp nghĩa cộng đồng (lý thuyết của G.N.Pospelov), mang ý nghĩa thiêng (lý thuyết của Adré Jolles) của nhu cầu tâm lý - tinh thần về việc diễn đạt các nội dung thiêng (lý thuyết của Kurt Ranke) Ngoài ra, những motif mang cảm hứng về đời tư hay mang màu sắc kinh dị thì sẽ phân tích ở mục nghệ thuật trần thuật cùa truyền thuyết
Các loại m otif thống kê được trong Lĩnh Nam chích q u á i đều đã được phân tích (một cách tổng quát) ở mục nhân vật của Chương 1
Ở đây chỉ xin đi sâu phân tích motif truyền thuyết - huyền thoại là
motif đẻ trímg.
Các thư tịch đều chép chi tiết Âu Cơ sinh bọc trăm trứng, nở ra trăm người con trai là tổ tiên của Bách Việt Chi tiết này đã khiến người tin kẻ ngờ Tuy thái độ tin ngờ có khác nhau song không thể không thẩy chi tiết này bắt nguồn từ Totem thờ rồng và thờ chim thời cổ Trong sự phát triển của đời sống văn học dân gian, motif
"ra đời kỳ lạ" từ việc đẻ trăm trứng - sinh ra trăm người con ở
truyền thuyết Họ Hồng Bàng đã trở thành một mẫu gốc để từ đó có
một hệ thống truyền thuyết sử dụng motif đẻ con trong bọc vừa khẳng định tính cội nguồn vừa nhân lên sức mạnh người anh hùng Niềm tin huyền thoại này được lưu giữ khá bền chặt trong tâm thức người dân Theo thống kê của tác giả Nguyễn Thị Huế, trên đất Luy Lâu xưa có 56 điểm thờ thần Bách Noãn tên gọi thì Hán hóa nhưng
ý nghĩa cộng đồng người Việt chung một cội nguồn thì vẫn được giữ nguyên Ờ làng Ngọ Xá, xã Hoài Thượng còn giữ lại tục bỏ trứng sổng vào niêu đất mới để thả xuống sông, điều này chứng tỏ niềm tin và kí ức về truyền thuyết trăm trúng vẫn sống mãi trong lòng người dân vùng Luy Lâu [Nguyễn Thị Huế: 1980],
Trang 30Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới còn cho ta biết ý nghĩa của
các biểu tượng rồng và quả trứng ở nhiều nước trên thế giới Ờ một
số dân tộc như Trung Hoa, Celtes, Do Thái, vùng Viễn Đông, ý nghĩa của biểu tượng rồng có nhiều nét gần gũi với truyền thuyết Việt Nam Đó là việc rồng tượng trưng cho "sức mạnh thần thánh, sáng
tạo xếp đặt, là biểu tượng của đế vương" Từ điến biểu tượng văn hóa thế giới tổng kết rằng, rồng là một con vật có thể vừa sổng trên
trời, vừa sống dưới nước, nên nó "là biểu tượng của bản nguyên tích cực và sáng tạo, là sức mạnh của sự sống và sự hiển lộ, nó khạc
ra nguồn nước khởi nguyên và quả trứng thể giới" [Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, tr.781]ẵ
Một điều thật thú vị là ý nghĩa của biểu tượng quả trứng trong truyền thuyết Việt Nam không xa lạ gì với ý nghĩa của biểu tượng này trong kho tàng biểu tượng nhân loại Quả trứng trong quan niệm cổ đại của người Hy Lạp, Ai Cập, Tây Tạng, Án Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia, Phần Lan và nhiều dân tộc khác có rất nhiều lớp nghĩa Có khi nó gắn với những lớp nghĩa thần thoại về
sự khai sinh của vũ trụ Có khi nó gắn với truyền thuyết của từng dân tộc về sự hình thành các tộc người, các đẳng cấp trong xã hội
Ở lớp nghĩa rộng nhất, quả trứng tượng trưng cho "một nguyên tẳc sắp xếp đầu tiên" Ở lớp nghĩa hẹp hơn, quả trứng là biểu tượng chứa đựng những "mầm mống", những "hạt giống" của sự sống, tượng
tưng cho sự tái sinh [Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, tr.963-
965] Đây là những lớp nghĩa huyền thoại, biểu thị quan hệ giữa con người với tự nhiên trong một thế giới đang hình thành Tất cả những lớp nghĩa này đều có trong motif quả trứng trong truyền
thuyết Họ Hồng Bàng Tuy nhiên, "nguyên tắc sắp xếp đầu tiên"
của quả trứng trong huyền thoại đã gắn với ý nghĩa về "sự săp xêp đầu tiên" của một dân tộc với nghĩa là chung một giống nòi, một địa vực cư trú và sự hình thành những tập quán buổi sơ khai Với
những ý nghĩa này, truyện Họ Hồng Bàng có thêm các yếu tố nội
dung thể loại truyền thuyết, trong đó, những vấn đề của dân tộc từ buổi đầu tiên được nổi lên
Bằng việc sử dụng những biểu tượng văn hóa có ý nghĩa sâu xa của dân tộc và nhân loại trong các đơn vị cốt truyện, việc ghi chép
2 30
Trang 31Chương 3 Việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian
truyền thuyết trong Lĩnh Nam chích quái đã đạt tới trình độ cao hơn
của nghệ thuật tự sự
2.2.3 Nghệ thuật trần thuật trong "Lĩnh Nam chích quái"
Nghệ thuật trần thuật, nhìn từ cách cấu tạo truyện dân gian là
"cốt truyện và cách kể chuyện", nhìn từ văn học viết là "việc xây dựng cốt truyện" và "nghệ thuật kết cấu" Trong văn học viết, cốt truyện và kết cấu không phải là một, tuy nhiên, trong các câu chuyện dân gian, để đảm bảo tính dễ thuộc, dễ nhớ, đễ sử dụng trong môi trường truyền miệng, cốt truyện truyện dân gian về cơ bản trùng với kết cấu: câu chuyện được kể theo tuần tự thời gian, theo một kết cấu đường thẳng L ĩn h Nam chích q u á i là một tác phẩm văn học viết, tuy nhiên, do việc sử dụng một cách đậm đặc cốt truyện, tình tiết, cách kể chuyện của truyện dân gian nên ở đây, chúng tôi nhìn nhận tập hợp truyện kể này là dạng tồn tại đặc thù của văn học dân gian nên sẽ phân tích nghệ thuật trần thuật từ cách tiếp cận của văn học dân gian: cốt truyện (văn bản) và cách kể chuyện (của người kể/người ghi)
Là một trong 3 yếu tố cấu thành thể loại truyện, song so với
"nhân vật" và "m otif', "cốt truyện" và "cách kể chuyện" là phương diện mang dấu ấn người biên soạn rõ nhất Bởi vì, nhân vật và
m otif là những yếu tố có tính độc lập tương đổi nhưng cốt truyện và cách kể chuyện thì thể hiện rõ nhất quan điểm của người kể: lựa chọn và sắp xếp các chi tiết ra sao (cốt truyện); khai thác loại quan
hệ đặc thù nào để miêu tả, xâu chuỗi các chi tiết theo cảm hứng nào
và để thể hiện thông điệp gì của người kể (cách kể chuyện) Do đó,
tìm hiểu nghệ thuật trần thuật của Lĩnh Nam chích quái là tìm hiểu
cốt truyện và cách kể chuyện, trong đó, cách kể chuyện liên quan nhiều đến các vấn đề lý thuyết đã nêu ("loại hình nội dung", "phạm trù ngừ nghĩa" và "nhu cầu tâm lý - tinh thần" của người kể và người nghe)
Khảo sát cốt truyện và cách kể chuyện của Lĩnh Nam chích quái,
có hai đặc điểm nổi bật của tập họp truyện kể trong tập sách này: đặc điểm thứ nhất là việc tăng tính miêu tả vào giữa các sự kiện;
Trang 32đặc điểm thứ hai là xâu chuỗi, lắp ghép nhiều mảnh truyện dân gian thành một truyện.
Thứ nhất là việc miêu tả Trong Lĩnh Nam chích quái, có thể
bắt gặp nhiều đoạn miêu tả như là những điểm dừng xen giữa các
sự kiện Biểu hiện thứ nhất là việc miêu tả hình ảnh và hành độngế Khi sử dụng một motif quen thuộc của truyền thuyết dân gian là
"giấc mơ điềm báo" thì trong câu chuyện quen thuộc là Truyện Đổng Thiên Vưong, tác giả đã gia tăng yếu tố miêu tả một cách
đáng kể Truyện có đoạn: "Vua nghe lời bèn lập đàn, bày vàng bạc lụa là lên trên, ăn chay, thắp hương cầu đảo ba ngày Trời nổi mưa
to gió lớn, bỗng thấy một cụ già cao hơn chín thước, mặt vàng bụng lớn, mày râu bạc trắng, ngồi ở ngã ba đường mà cười nói ca múa Những người trông thấy biết là kẻ phi thường mới vào tâu vua Vua thân hành ra vái chào, rước vào trong đàn Cụ già không ăn uống, cũng không nói năng Vua nhân hỏi: "Nghe tin quân Bắc sắp sang xâm lược, ta được thua thế nào, ngài có kiến văn xin bảo giúp" Cụ già ngồi im một lúc, rút thẻ ra bói, bảo vua rằng: "Ba năm nữa, giặc Bắc sẽ sang, phải nghiêm chỉnh khí giới, tinh luyện sĩ binh mà giữ nước, lại phải đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ, kẻ nào phá được giặc thì phân phong tước ấp, truyền hưởng lâu dàiỗ Nếu được người giỏi,
có thể dẹp được giặc vậy" Dứt lời bay lên không mà đi, mới biết
đó là Long Quân" [Lĩnh Nam chích quái, tr.32].
Thông thường, motif này được triển khai bằng một chi tiết gồm một hình ảnh và một lời báo mộng, thế nhưng ở đây, tác giả đã dùng một đoạn dài để miêu tả thành một câu chuyện có lớp lang, pha màu sắc truyền kỳ Nhân vật được miêu tả ở hình dáng, trang phục, động tác: "cao hơn chín thước, mặt vàng bụng lớn, mày râu bạc trắng, ngồi ở ngã ba đường mà cười nói ca múa" Truyện còn xen các yếu tố tả và kể khi trong câu chuyện còn thấp thoáng hình ảnh của không gian đời sống ("ngã ba đường", "những người trông thấy", "vào tâu vua", "vua ra vái chào") Bên cạnh đó, truyện còn
để lại ảnh hưởng của quan niệm phong kiến trong cách kể khi chú ý đến bổng lộc trong lời phán truyền của thần nhân ("kẻ nào phá được giặc thì phân phong tước ấp, truyền hưởng lâu dài”)
232
Trang 33Chương 3 Việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian
Tính miêu tả không ,chỉ xen vào những motif quen thuộc mà còn xen vào cả các kiểu truyện cố tính chất công thức Trong kiểu truyện có bố cục "âm phù dương trợ", tác giả đã xen vào đó những đoạn miêu tả hình ảnh thường ít thấy trong các truyện dân gian
truyền miệng Chẳng hạn, trong Truyện Hai bà Trinh linh phu nhân
họ Trưng, tác giả đã rất vắn tất khi kể về lai lịch và chiến công của
hai bà; nhưng khi kể về việc âm phù, tác giả lại xen vào những đoạn miêu tả như: "Thời Lý Anh Tông gặp hạn, vua sai Cảm Tĩnh thiền sư cầu mưa Một hôm mưa xuống, mát lạnh thấu người Vua mừng ra xem, tự nhiên ngủ thiếp đi, mộng thấy hai người con gái, đội mũ phù dung, mặc áo xanh, thắt lưng đỏ, cưỡi ngựa sắt theo gió lướt qua Vua lấy làm lạ bèn hỏi Hai người trà lời rằng: "Chúng ta
là hai chị em họ Trưng vâng mệnh Thượng đế làm ra mưa" Vua
muốn hỏi thêm cặn kẽ, hai người giơ tay ngăn lại" [Lĩnh Nam chích quái, tr.63].
Truyện hai vị thần ở Long Nhãn và Như Nguyệt cũng được kể
theo công thức âm phù dương trợ để biểu hiện "khí thế rừng rực lúc
đương thời, anh linh tỏa rộng đến đời sau" Cũng như Việt điện u linh, truyện về hai vị thần này chỉ được kể phần âm phù, song khác với Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái đã có những dòng miêu
tả thật sinh động Truyện kể ràng: "Đêm ấy, Đại Hành mộng thấy hai thần nhân mặc áo mũ vua ban đến bái tạ Đêm sau lại thấy một người dẫn đoàn quỷ áo trắng từ phía nam sông Bình Giang mà tới, một người dẫn bọn quỷ áo đỏ từ phía bắc sông Như Nguyệt mà lại cùng xông vào trại giặc mà đánh Canh ba đêm 30 tháng 10, trời tối đen, mưa to gió lớn đùng đùng, quân Tống bàng hoàng Thần nhân
tàng hình ở trên không, lớn tiếng ngâm ràng " [Lĩnh Nam chích
quái, tr.7 6 ].
Ta thấy ở đây một bức tranh nhiều màu sắc ("áo trắng", "áo đỏ" của quỷ), hình ảnh động ("mưa to gió lớn"), âm thanh ("đùng đùng"); bên canh đó, còn có cả miêu tả tâm trạng ("quân Tống bàng hoàng") Trong cách kể chuyện của truyện dân gian truyền miệng, các yếu tố này đã bị lược bỏ tối đa Như vậy, tính miêu tả được tăng
cường trong Lĩnh Nam chích quái đã làm cho khuôn khô cốt truyện
Trang 34cũ lung lay, xô lệch, tạo nên một không khí mới cho cốt truyện Tác giả Nguyễn Đăng Na, trong luận án của mình, khi phân tích sự
phát triển của truyện kể này từ Việt điện u linh đến Lĩnh Nam chích quái đã phân tích kỹ phương diện bổ cục của truyện, cách dồn nén
câu chuyện trong một sự kiện, cách tạo dựng không khí và khung cảnh cho nhân vật hoạt động để thấy rõ hơn chất văn học của một văn bản được xây dựng từ chất liệu văn học dân gian1 Điều này cho thấy, tính lược thuật và công thức âm phù dương trợ như một cái khung quá chật không dung chứa nổi sự cách trần thuật có yếu tố miêu tả Đen đây, một cách kể chuyện dân gian mới đã ra đời, và cách kể mang tính văn học này đã có ảnh hưởng tới cách kể dân gianử
Trong Truyện sông Tô Lịch, người biên soạn không chỉ miêu tả
hình ảnh và hành động mà đã miêu tả hình ảnh trong các biến cổ của hoàn cảnh để làm nổi rõ chủ đề của truyệnử Bốn lần Cao Biền gặp thần sông Tô Lịch, mỗi lần là một hình ảnh khác nhau trong những tình huống khác nhau Lần thứ nhất, Cao Biền thấy "một cụ già râu tóc bạc phơ, dung mạo dị kỳ, tắm ở giữa sông, cười nói tự nhiên Biền biết là thần" Lần thứ hai, Cao Biền thấy "một dị nhân đứng trên mặt nước, cao hơn hai trượng, mình mặc áo vàng, đầu đội mũ tím, tay cầm hốt vàng rực rỡ một quãng trời, chập chờn lên xuống trên khoảng không Biền rất kinh dị"ệ Lần thứ ba, Cao Biền
"đêm nằm mộng thấy thần nhân tới nói ràng: chớ yểm ta, ta là tinh
ở Long Đỗ, đứng đầu các địa linh, ông xây thành ở đây, ta chưa được gặp, cho nên tới xem đó thôi, ta có sợ gì bùa phép Biền kinh hãi" Lần thứ tư, khi yểm bùa, Cao Biền thấy "đêm hôm ấy, sấm động ầm ầm, gió mưa dậm dật, đất trời u ám, thần tướng hò reo, kinh thiên động địa Trong khoảnh khắc, kim đồng thiết phù bật ra khỏi đất, biến thành tro, bay tan trên không Biền càng kinh hãi, than rằng: xứ này có thần linh dị, ở lâu tất chuốc lấy tai vạ" Bốn tình huống thể hiện bốn tư thế khác nhau của thần sông Tô Lịch:
1 Nguyễn Đăng Na, S ự phát triển truyện văn xuôi Hán-Việt từ thế ki X đến cuối thế ki X V III đầu thế kỉ X IX qua một số tấc phâm tiêu biêu, Luận án PTS, Thư viện Quốc gia, Kí hiệu L.2102.
234
Trang 35Chương 3 Việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian
lân đâu là một hình ảnh an nhiên của một vị thân có tiên phong, đạo côt; lần thứ hai là một thần nhân có uy lực và quyền phép, vị thần được miêu tả ở hình dáng (cao hơn hai trượng), trang phục rực rỡ sắc màu (áo vàng, mũ tím, hốt vàng), động tác (chập chờn lên xuống); lần thứ ba là một thần nhân hiện lên trong giấc mộng; lần thứ tư là một vị thần có sức mạnh phi thường được miêu tả bằng phương pháp hoán dụ tả thế giới siêu nhiên (tả mưa gió, sấm động, đất trời u ám, tiếng hò reo của âm binh, thần tướng) Thần sông xuất hiện 4 lần trong 4 hình dạng khác nhau, 4 không gian khác nhau và 4 kiểu tác động khác nhau'đến Cao Biền mà càng về sau càng tác động mạnh hơn Để nhấn mạnh sức mạnh siêu nhiên của
vị thần sông, tác giả đã miêu tả nỗi sợ hãi của Cao Biền bằng các tính từ, càng lúc nồi sợ hãi càng tăng Việc miêu tả ở đây đã vượt khỏi truyền thống nghệ thuật của văn học dân gian mà đạt tới trình
độ nhuần nhuyễn của văn học viết, nói như tác giả Nguyễn Đăng
Na là đã đạt tới trình độ một truyện ngắn văn học1 Đến đây có thể thấy, xu thế văn học hóa bắt đầu đan xen vào xu thế văn bản hóa,
và đó là những bước đi đầu tiên của văn học viết
Việc thể hiện các cấp độ miêu tả (hình ảnh, động tác, tác động,
bị tác động) làm cho truyện kể dân gian trở nên hấp dẫn hơn, nhưng
nó cũng chứa đựng nguy cơ phá vỡ đặc trưng thể loại truyện dân gian để bước vào địa hạt văn học viếtể Chúng ta biết, truyện kể dân gian là những truyện lưu truyền bằng miệng Sự mở rộng tính chất miêu tả sẽ gây cản trở cho việc truyền miệng, bởi truyền miệng là một dòng chảy mà các tình tiết bẩt buộc phải ngắn gọn và nối nhau
đi, truyền miệng không biết đến các điểm dừng Các điểm dừng, nếu có, sẽ tạo nên quá nhiều cách kể riêng của từng truyện, đó là điều không phù hợp với tính công thức của văn học dân gian Do
đó, điểm dừng của truyện kể dân gian là những yếu tố khả biến
mà sự tồn tại của nó chỉ được phép nằm trong giới hạn có thể để không vi phạm tính bất biến (tính công thức) của văn học dân gian
1 Nguyễn Đăng Na, S ự phát triển truyện văn xuôi Hán - Việt từ thế ki X đến cuối thế ki X V III đầu thế ki X IX qua một sô tác phâm tiều biêu, Luận án PTS, Thư viện Quốc gia, Kí hiệu L 2102.
Trang 36Chính vì thế, từ những điểm dừng xuất hiện trong Lĩnh Nam chích quái, ta có thể thấy rằng, việc miêu tả đã dần đưa những truyện kể
sử dụng chất liệu văn học dân gian sang địa hạt văn học viết Vì vậy, cái mà ta sử dụng trong những văn bản này, trước hết là những chất liệu dân gian, sau nữa là phải coi những truyền thuyết dân gian được văn bản hóa này là một dạng tồn tại đặc thù của dòng chảy văn học dân gian
Dạng bố cục lắp ghép, xâu chuỗi này có đặc điểm là một truyện được lắp ghép từ nhiều truyện dân gian khác nhau khiến một truyện
có khi bao gồm nhiều mạch truyện, phát triển theo nhiều khuynh hướng mà nhìn qua, rất khó nhìn thấy chất keo dán chìm đã được dùng để quy tụ các mảng về một hướng Tiêu biểu cho xu hướng
này là các truyện: Truyện họ Hồng Bàng, Truyện Rùa Vàng, Truyện Man Nương, Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không, Truyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải Trong số này, các truyện: Man Nưcmg, Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không, Truyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải là những truyện có sự đan
xen truyền thuyết dân gian với truyền thuyết tôn giáo và những chi
tiết lịch sử xác thực Truyện họ Hồng Bàng có sự đan xen giữa truyền thuyết và thần thoại Truyện Rùa Vàng có sự kết hợp nhiều
truyền thuyết dân gian với nhau và có sự đan xen với các motif mang tính thế sự với cảm hứng đời tư của truyện cổ tích Ở đây, xin dừng lại ở hai truyện là Truyện Man Nương và Truyện Rùa Vàng Truyện Man Nương là câu chuyện có sự lồng ghép hai mạch
truyện, đó là truyền thuyết về tín ngưỡng thờ nữ thần và truyền
thuyết về tôn giáo Mạch bề nổi của Truyện Man Nương là truyền
thuyết về quá trình truyền bá một tôn giáo lớn, song mạch chìm có thể thấy đây là sự thẩm thấu của một tôn giáo lớn vào tín ngưởng bản địa, hay thậm chí là sự núp bóng của tín ngưỡng bản địa vào một tôn giáo lớn có thời đã trở thành quốc giáo Như vậy, trong
Truyện Man Nươìĩg có rất nhiều quá trình đan xen thẩm thấu vào
nhau, mồi quá trình đều có những truyền thuyết đi kèm Người kể chuyện đã thể hiện sự thâm nhập sâu vào đời sống văn hóa dân eian nhìn thấy thực trạng đời sổng dân gian thông qua những biểu tượne236
Trang 37Chương 3Ỗ Việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian
của truyền thuyết và đã thâu nhặt rộng rãi các truyện kể truyền miệng Bên cạnh đó, người biên soạn còn thể hiện sự nhuần nhuyễn trong việc gắn kết tài tình các ý tưởng trong một câu chuyện Bối
cành của Truyện Man Nương là thời điểm Phật giáo bắt đầu thâm
nhập vào Việt Nam (khoảng thế kỉ II-III SCN), nhưng toàn bộ câu chuyện lại biểu hiện quá trình thẩm thấu và chuyển hóa Phật giáo vào tín ngưỡng dân gian bản địa và ngược lại, tín ngưỡng dân gian thâm vào một tôn giáo lớn Vì vậy, câu chuyện này có thể xuất hiện sớm nhưng nó phải cần đến hàng trăm năm để hoàn chỉnh và cô đúc các chiêm nghiệm và thông điệp thông qua các biểu tượng của truyền thuyết dân gian
Truyện Rùa Vàng có một cách lắp ghép khác Đây có thể coi là
truyện phức tạp vào bậc nhất trong kho tàng truyền thuyết dân gian Việt Nam Nó là chủ đề của cuộc tranh luận kéo dài 6 số trên Tạp chí Văn học (12/1960-5/1961) Cho đến nay, truyền thuyết này vẫn
là một hiện tượng cần làm sáng rõ trong giảng dạy ở các bậc học Cũng chính vì thế, nó thu hút được sự chú ý lý giải của nhiều nhà nghiên cứu Vào những năm 60 của thế kỉ XX, cuộc tranh luận về truyền thuyết này trên Tạp chí Văn học bắt đầu bằng việc giải quyết vấn đề tưởng đơn giản: chủ đề của truyền thuyết này là gì, nêu cao bài học cảnh giác hay ca ngợi tình yêu chung thuỷ?
Để giải quyết vấn đề trên, các nhà nghiên cứu trong cuộc tranh luận đã đặt ra vấn đề là trước hết phải xác định tài liệuẽ Và từ đó, xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về tư liệu Nhà nghiên cứu Song Bân đã phân biệt truyền thuyết của nhân dân với truyền thuyết của sử gia phong kiến và cho ràng, những truyền thuyết được văn bản hóa là truyền thuyết đã bị xuyên tạc theo quan điểm của sử gia phong kiến Vì quan điểm giai cấp, ông chủ trương chọn truyền thuyết của nhân dân, tức là truyền thuyết dân gian lưu hành trong dân chúng để nghiên cứu1 Lê Phương Anh (Nguyễn Văn Hoàn) lại phân biệt hai loại cốt truyện: cốt truyện ở một địa phương
1 Song Bân, "Nên hiểu truyện Mị Châu thế nào cho đúng?", Tạp chí Nghiên cihi Vàn học, số 1 H 19*61.
Trang 38và cốt truyện có tính chất toàn quốc Ông cho ràng, cốt truyện lưu hành trong dân gian là cốt truyện ở một địa phương, còn cốt truyện
đã được văn bản hóa là cốt truyện đã được nhiều vùng chấp nhận nên có tính chất toàn quốc Từ đó, ông nhìn nhận quá trình hình thành truyền thuyết từ dân gian đến văn bản Ông viết: "Các truyện
cổ được sáng tác và truyền miệng đến một lúc nào đó thì được các nho sĩ phong kiến ghi chép lại Trong việc ghi chép này có phần đã xuyên tạc truyền thuyết của nhân dân, nhưng phần khác - mà phần này thường là phần chính - là đã ghi lại được nội dung truyền miệng của nhân dân thời xưa Việc ghi chép này lại có tác dụng bảo tồn và cổ định được truyện cổ và có tác dụng thống nhất dần dần cốt truyện truyền miệng giữa các địa phương và làm hình thành cốt truyện có tính chất toàn quốc" Từ đó, ông đi đến nhận định, "truyện được ghi chép cũng đáng cho chúng ta quan tâm không kém gì nội dung do các ông già, bà cả trên dưới 100 tuổi ở c ổ Loa hiện nay kể lại"1 [Lê Phương Anh: 1961] Hai ý kiến này xuất phát từ hai điểm nhìn khác nhau về tài liệu truyền thuyết: điểm nhìn thứ nhất từ chủ thể người kể (người dân hay sử gia phong kiến); điểm nhìn thứ hai
là từ phạm vi lưu truyền (địa phương hay toàn quốc) Cách lựa chọn bản kể của hai tác giả là khác nhau (Song Bân đề xuất chọn truyện kể của người dân, Lê Phương Anh đề xuất chọn truyện kể toàn quốc) nhưng việc phân tích các văn bản truyện kể đã chỉ ra tình trạng chỉnh sửa, cắt xén truyện truyền miệng trong khi ghi chép theo quan niệm của người biên soạn Đây có thể là những xuất phát điểm rất tốt để hướng việc nghiên cứu văn học dân gian vào chính bối cảnh sản sinh ra nó với tất cả vẻ tự nhiên, sự phong phú
và sinh động của nó; tuy nhiên, rất tiếc, cuộc tranh luận đã không đi đến giải quyết vẩn đề này
Vì thế, có thể thấy rằng, các tác giả trong cuộc tranh luận trên đều giống nhau ở chỗ là đã nhìn truyền thuyết này như một văn bản
tĩnh và đã phân tích Truyện Rùa Vàng được chép trong Lĩnh Nam chích quái như một tác phúm văn học viết, do đó, tính nhiêu chủ đề
1 Lê Phương Anh, "Góp ý kiến nhận định về truyên thuyết Mv Châu -
238
Trang 39của truyện đã gây nên sự tranh cãi triền miên Khác với các tác giả trước, tác giả Hoàng Tuấn Phổ đã công nhận tính nhiều chủ đề của truyện và phân chia ra các cấp độ: chủ đề chính và chủ đề phụ Ông
cho rằng, tính nhất quán của Truyện Rùa Vàng là việc đề cao vai trò
của An Dương Vương và coi Mỵ Châu - Trọng Thuỷ là phần sau của câu chuyện nhàm thanh minh cho sự thất bại của An Dương Vương cũng chính là để phục vụ chủ đề trung tâm của nửa trên câu chuyện là ca ngợi An Dương Vương Đó là chủ đề thứ nhất Còn chủ đề thứ hai là ca ngợi tình yêu và chủ đề thứ ba là bài học cảnh giác là những chủ đề thuộc "ý nghĩa khách quan của truyện, hoàn toàn ở ngoài tư tưởng chủ quan của nhân dân"1 Tuy chưa phân tích
kỹ các cứ liệu văn bản nhưng ý kiến này đã mơ hồ cảm thấy sự lắp
ghép các mảng truyện trong Truyện Rùa Vàng.
Sau cuộc tranh luận này, tác giả Trần Nghĩa đã có một bài viết quan trọng bằng việc dẫn các thư tịch cổ Việt Nam và Trung Quốc
về truyền thuyết này Việc viện dẫn các tài liệu một cách tuần tự của tác giả Trần Nghĩa đã gợi ra cho chúng ta thấy hai xu hướng trong việc hình thành truyện kể dân gian này là: xu hướng truyền thuyết hóa nhân vật An Dương Vương từ các cứ liệu sử học và xu hướng
cổ tích hóa câu chuyện Mỵ Châu - Trọng Thuỷ từ những cứ liệu dân tộc học để trở thành hình tượng mang tính văn học
Xu hướng truyền thuyết hóa là việc linh thiêng hóa việc xây thành, thần thiêng hóa việc chế tạo vũ khíễ Sự thần kỳ hóa này là một biện pháp nghệ thuật quen thuộc của truyền thuyết dân gian nhằm tôn vinh người anh hùng An Dương Vương Cảm hứng ca ngợi ông vua này còn thấy ở chi tiết "cầm sừng tê bảy tấc đi vào
lòng biển" Xu hướng cổ tích hóa gắn liền với chi tiết ngọc trai - giếng nước với câu chuyện đậm chất thế sự - đời tư là tình yêu Mỵ
Châu - Trọng Thuỷ từng gây nhiều tranh cãi Xét về mặt thư tịch, việc gắn chi tiết thế sự - đời tư này vào truyện về An Dương Vương xuất
hiện lần đầu ở Lĩnh Nam chích quái Mọi rắc rối bắt đầu từ đây
Khi phân tích truyền thuyết An Dương Vương, các nhà nghiên cứu
Chương 3 Việc văn bản hỏa truyền thuyết dân gian.ể.
1 Hoàng Tuấn Phổ (1961), "Mấy ỷ kiến về truyện Mị Châu - Trọng Thuỷ",
Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 3, H 1961.
Trang 40thường căn cứ vào bản kể Truyện Rùa Vàng trong Lĩnh Nam chích quái và bị ám ảnh bởi chi tiết ngọc trai - giếng mrớc để tìm chủ đề truyện Trong khi đó, thực ra, chi tiết ngọc trai - giếng nước là một
sự lắp ghép khá muộn màng vào một truyền thuyết vốn đã được lắp ghép, thẩm thấu từ rất nhiều truyền thuyết khác Chẳng hạn, truyền thuyết về Quy Thành của Trung Quốc (ở các sách đời Tần, đời Đường, đời Tống), Totem rùa và phong tục mặc áo lông neồng của người Tày tương truyền là nơi phát tích của vua Thục (truyền thuyết dân gian người Tày), truyền thuyết về tài làm nỏ của người c ổ
động man ở Nam Việt (sách Việt kiều chí, đời Minh) rồi phong tục rửa ngọc trai ở nước giếng thành Khả Lũ (sách An Nam chí litợc)
và những cái tên khác như Mỵ Châu (ngọc trai đẹp) và Trọng Thuỷ (một trong những nghĩa của thuỷ là nước) Tác giả Đặng Văn Lung, trong một chuyên khảo về Mỵ Châu - Trọng Thuỷ, khi điểm lại một loạt thư tịch về các nhân vật trong truyền thuyết và dẫn thêm một
số truyền thuyết dân gian của người Hà Nhì, người Lào gần gũi với truyền thuyết này đã cho rằng, sự hình thành và phát triển truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thuỷ là từ truyện kể về mối hiểm họa của từng cộng đồng tới truyện kể về việc biến cố chiến tranh ở tầm dân tộc [Đặng Văn Lung: 1990/71], Tuy nhiên, câu chuyện tình yêu ờ đây
có lẽ không chỉ có ý nghĩa tô đậm cảm hứng về các vấn đề trọng đại như dân tộc, cộng đồng Neu chỉ với một mục đích như thế, trong cái chung cục của kẻ thắng người thua của ván cờ chiến tranh, người biên soạn đã không sáng tạo những cái chết đầy ám ảnh đến vậy.Không thể phủ nhận ràng, việc lắp ghép câu chuyện tình Mỵ Châu - Trọng Thủy với tất cả sự giằng xé giữa các mối quan hệ (cha - con, vua - tôi, chồng - vợ, ta - địch) mà nhân vật chi có thể chọn cái chết mới thoát ra khỏi những giằng xé khốc liệt đó Người
biên soạn Truyện Rùa Vàng đã chọn những cái chết rất đẹp cho các
nhân vật, mà mỗi nhân vật thể hiện một triết lý, gửi gắm một thông điệp riêng biệt An Dương Vương rẽ nước đi vào lòng biển, bất tử cùng núi sông Âu Lạc; Mỵ Châu biến thành châu ngọc để dạ trẳng trong của nàng được tỏ cùng trời đất; Trọng Thủy lao đầu xuống giếng để sống trọn với một mối chung tình đã hiển hiện trons biểu tượng ngọc trai - giếng nước
2 4 0