Nối tiếp nội dung của phần 1 cuốn giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt (sách dành cho các trường cao đẳng sư phạm), phần 2 giới thiệu tới người đọc các nội dung: Bình diện ngữ pháp của câu tiếng Việt, bình diện ngữ nghĩa của câu tiếng Việt. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1- Chuẩn bi kiến thức, kĩ năng và phương pháp cho việc dạy những vân đê vé cáu ở trường Trung học cơ sỏ, đáp íúĩg một cách thiết thực những yêu cầu giáng dạy cáu nói riêng, và tiếng Việt nói chung ở THCS
KIÊN THỨC CẦN CÓ
Đê học tốt chương này, càn có:
- Nhữìig kiến thức xà kĩ năng đã được trang bị vé câu trong chương trình Ngữ văn ở trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông
- Những kiến thức vờ kĩ năng vê từ loại, về cụm từ tiếng Việt, vé Ngữ pháp đại cương
mà các chìíơììg ỉ, li, HI trong giáo trình này đã đề cập đến Ngoài ra vốn ngoại ngữ đã có
sẽ có tác dụng so sánh đối chiếu với tiếng Việt để nhận rơ lìhữtĩg nét đồng nhất, phổ quát của các ngôn ngữ và những nét riêng biệt trong ngữ pháp tiếng Việt
MỞ ĐẦU
Trong hệ thống các đơn vị ngôn ngữ, nếu nhìn nhận từ cấp độ thấp đến cao thì sau các đơn vị âm vị, hình vị, từ, cụm từ, là đến đơn vị câu Câu thường được xem là đơn vị tối thiểu đế tiến hành hoạt động giao tiếp Nó vừa là phương tiện của hoạt động giao tiếp, vừa
là sản phẩm được tạo ra trong hoạt động giao tiếp
Cũng vì thế, câu là đơn vị có nhiều bình diện Trước khi đi vào bình diện nghĩa (chương 5) và bình diện ngữ dụng (chương 6), chương này tiến hành tìm hiểu về bình diện cấu tạo ngữ pháp của câu
Trang 2I MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT VỀ CÂU
1 C â u và p h á t n g ô n
Câu và phát ngôn không phải là hai đơn vị ngôn ngữ ở các cấp độ khác nhau như ám
vị - hình vị - từ - cụm từ Sự phân biệt câu với phát ngôn cũng tương tự như sự phân biệt âm
vị với âm tố Chúng cùng một cấp độ nhưng xuất phát từ các phương diện nghiên cứu khác
nhau mà người ta phân biệt câu với phái ngôn
- Ở phương diện cấu tạo ngữ pháp, cũng tức là ờ, bậc trừu tượng, khái quát, đơn vị
ngôn ngữ được tạo nên bởi sự kết hợp của các đơn vị nhỏ hơn (từ, ngữ cố định, cụm từ tự
do) theo những quy tắc ngữ pháp nhất định được gọi là cáu
- Ở phương diện sử dụng, mỏi câu luôn gắn với một tình huống cụ thể, nhàm một mục
đích giao tiếp cụ thể, biểu hiện một ý nghĩa cụ thể Càu cụ thể đó được gọi là phát ngôn
Nói rõ hơn, phát ngôn chính là câu trong hoạt động giao tiếp
Ví dụ:
(1) Cái tay trông đẹp nhỉ
(Nam Cao) (2) Thạch Sanh lại thật thà tin ngay
{Thạch Sanh, Truyện cổ tích)
Ở góc độ câu, các ví dụ trên sẽ được phân tích về mặt ngữ pháp:
(1) Cái tay I trông đẹp nhỉ
CN V N
(2) Thạch Sanh I lại thật thà tin ngay
CN V N
Cả (1) và (2) đều là câu đơn hai thành phần, có mô hình CN - V N
Ở góc độ phát ngôn ví dụ (1) và (2) phải được đật trong hoàn cành giao tiếp cụ thể
Để hiểu được nghĩa cùa phát ngôn, cần phải biết ít nhất là: Phát ngón do ai nói ra? Nói trong hoàn cảnh nào? Nhằm mục đích gì?
Với phát n°ôn (1), nếu đó là lời của Chí Phèo nói với Thị Nở trong một đêm trăng ỏ vườn chuối khi khôn" say (rượu) thì đó là lời khen - khen bàn tay đẹp Nhưng nếu đó lại là lời của người mẹ (trong truyện "Bài học quét nhà" của Nam Cao), đang trong tâm trạng bực tức, cáu giận lại nhìn thấy sự lóng ngóng, vụng về cùa đứa con gái mới 6 tuổi - lần đầu tiên cầm chổi
tập quét nhà - thì đó lại là lời mỉa mai, mát mẻ, chê trách với thái độ không hài lòng
Ở bác trừu tượng, khái quát, càu không gắn với tình huống sử dụng mà ở trạng thái cô lập và việc phân tích câu cũng chí tập trung vào mạt cấu tao ngữ pháp
Nhưng n°ày nay, câu cũng như một số đơn vị khác của ngôn ngữ (từ, cụm từ, thành phần cáu) không chỉ được nghiên cứu riêng về mật cấu trúc mà cả mặt sử dụng và mặt
Trang 3nghĩa, đặc biệt là nghĩa trong ngữ cảnh Bởi vậy, khái niệm câu cũng không chỉ bó hẹp
trong phạm vi cáu - cấu trúc nữa Chính xác hơn, nên gọi là câu - phát ngón Nghĩa là, câu
được xét ở cả phương diện cấu trúc lẫn tình huống sử dụng cụ thể Song trong giáo trình này, đê giản tiện, vẫn dùng thuật ngữ câu thay cho thuật ngữ câu - phát ngôn
2 C á c đặc t r ư n g cơ bản của c â u
Người ta thường nhắc đến đặc trưng của câu về các mặt: chức nâng, nội dung và hình thức
2.1 Về chức năng
Lâu nay, vẫn cho rằng thông báo là chức năng của câu Điều đó đúng nhưng chưa đủ
Bởi thông báo chỉ là một trong số các hành vi ngôn ngữ - hành vi được thực hiện bằng ngôn ngữ (còn gọi là hành động nói) Theo Austin - một trong những người khởi xướng và xây dựng lí thuyết hành vi ngôn ngữ: khi chúng ta nói là chúng ta đã hành động - hành động bằng ngôn ngữ
- Quan hệ, thái độ của người nói đối với người nghe và sự đánh giá chủ quan của người nói đối với hiện thực được nói tới trong câu N ộ i dung này chính là một yếu tố tạo nên phần nghĩa tình thái của câu
2.3 Về hình thúc
2.3.1 Hình thức ngữ âm của câu
(Ì Khi nói
Câu có ngữ điệu kết thúc (hạ giọng ở câu trần thuật, cao giọng ở câu hỏi ) Với tiếng
Việt, người nói thường dùng các tiểu từ tình thái cuối câu (à, ừ, nhỉ, nhé, hả, chứ đi, thôi, nào, với, chứ, ) để thể hiện rõ hơn ngữ điệu kết thúc và mục đích của câu
Ngữ điệu kết thúc là một trong những dấu hiệu để phân biệt câu với dơn vị không phải
là câu Ví dụ:
Trang 4(4) Trời! Hôm nay nắng to quá!
(5) Trời hôm nay nắng to quá!
ơ (4), sau trời có ngữ điệu kết thúc (dấu!) nên là câu cảm thán ở (5), sau trời không
có ngữ điệu kết thúc vì trời là thành phần chủ ngữ của câu
b Khi viết
Câu được nhận diện nhờ hình thức:
- Chữ cái đầu của âm tiết đầu câu được viết hoa
- Cuối càu có một trong các dấu:.!?
2.3.2 Hình thức ngữ pháp của câu
Câu là đơn vị ngôn ngữ không có sẵn Để có được nó, người sử dụng phải kết hợp các
đơn vị nhỏ hơn (từ, ngữ cố định, cụm từ tự do) với nhau theo những quy tắc ngữ pháp nhất
định của ngôn ngữ Số lượng các câu cụ thể (tức là phát ngôn) là vô hạn, nó được xây dựng
từ những mô hình cấu trúc cú pháp mang tính trừu tượng, khái quát và hữu hạn Các cấu
trúc cú pháp của câu thường gặp là:
- Cấu trúc câu đơn:
(6) Tôi/ đã trở thành một chàng d ế thanh niên, cường tráng
- Cấu trúc câu đặc biệt:
(9) A! Sông Ngân! Sông Ngân!
(Nguyên Hồng)
3 Khái q u á t v ề ba bình diện của c â u
Nếu trước đáy, câu chỉ được nghiên cứu ở mặt cấu trúc ngữ pháp thì nay, nó được tìm
hiểu ở cả ba bình diện: ngữ pháp - ngữ nghĩa - ngữ dụng Tại sao vậy? Xuất phát từ sự
Trang 5nghiên cứu về tín hiệu, người ta thấy rằng mỗi tín hiệu cần được xem xét trên ba bình diện: kết học, nghĩa học, dụng học Mà ngôn ngữ cũng là một hệ thống túi hiệu và câu là sản phẩm được tạo ra bởi sự kết hợp các tín hiệu ngôn ngữ với nhau theo những quy tắc nhất định nên nó cũng cần được nghiên cứu trên ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng
3.1 Bình diện ngữ pháp
Bình diện ngữ pháp câu nghiên cứu các quy tắc, cách thức liên kết các từ thành cụm từ (gọi là cú pháp cụm từ) và thành câu, các kiểu câu (gọi là cú pháp câu):
- Cú pháp cụm từ nghiên cứu cấu tạo ngữ pháp của các loại cụm từ, đặc biệt là cụm từ
chính phụ Chẳng hạn, cụm từ chính phụ tiêng Việt thường gồm ba phần: phần phụ trước, phần trung tâm, phần phụ sau Phần trung tâm do thực từ (như danh từ, động từ, tính từ, ) đảm nhận
- Cú pháp câu nghiên cứu:
+ Các đặc điểm, chức nâng của các thành phần câu (như chủ ngữ, vị ngữ, các thành
phần phụ của câu)
+ Các kiểu cấu tạo của các loại câu: câu đơn bình thường, câu ghép câu phức, câu đặc biệt
3.2 Bình diện ngữ nghĩa
Bình diện ngữ nghĩa của câu bao gồm hai bộ phận nghĩa: nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái
3.2.1 Nghĩa miêu tả của câu (còn gọi là nghĩa sự việc, nghĩa biểu hiện)
Là phần nghĩa phản ánh sự việc, hiện tượng, sự vật, hoạt động, trạng thái, tính chất, quan hệ ngoài thực tế khách quan N ộ i dung phản ánh hiện thực đó được gọi là sự việc (hay sự thể, sự tình) M ỗ i câu thường ứng với một sự việc
Ví dụ:
(10) Thạch Sanh đã cứu công chúa
( l i ) Cuối cùng, Sơn Tinh đã thắng Thúy Tinh
Câu (10) phản ánh sự tình Thạch Sanh cứu công chúa
Câu ( l i ) phản ánh sự tình Thúy Tinh thắng Sơn Tinh
Các dạng sự tình như trên được chia làm hai thành phần:
- Nội dung của sự tình gồm: hành động (làm gì), trạng thái (ra sao, như thế nào),
phẩm chất (tốt hay xấu), quan hệ (đồng nhất, hơn, kém) Nội dung của các sự tình
thường do các động từ, tính từ hay các từ chỉ quan hệ biểu thị
- Các nhân tố tham gia vào sự tình, gọi là các tham tố (hay tham thể) thường được biểu thị bằng danh từ, cụm danh từ hoặc đại từ
Ví dụ:
(12) Dân trong vùng lập cho trằn tinh một miếu thờ
Trang 6Nghĩa sự vật của câu trên gồm:
+ Hoạt động: lập
+ Chủ thể của hoạt động: dân trong vùng
+ Đ ố i thể của hoạt động: một miếu thờ
+ Tiếp thể (kẻ tiếp nhận): trằn tinh
Như vậy, nghĩa sự việc của câu là sự phản ánh sự việc trong hiện thực
3.2.2 Nghĩa tình thái của câu
Đó là phần nghĩa bao gồm nhiều phương diện Trong giáo trình này tạm thời đề cập đến những phương diện sau đây:
- Thái độ, quan hệ của người nói đối với người nghe
- Sự đánh giá người nói với hiện thực được phản ánh trong câu
Ví dụ:
(13) Đến lượt bố tôi ngây người ra như không tin vào mắt mình:
- Con gái tôi vẽ đây ư!
(Tạ Duy Anh) Nghĩa tình thái của câu in nghiêng ở ví dụ trên được nhận diện qua:
+ Thái độ âu yếm đầy yêu thương, tự hào của người nói đối với con gái - đối tượng
được nhắc đến trong câu (thể hiện qua cách hô gọi: con gái tôi)
+ Sự ngạc nhiên của người bố - tức người nói - trước hiện thực: con gái - vẽ (thể hiện qua tổ hợp: đây ừ)
Ngoài nghĩa sự vật và nghĩa tình thái, câu còn một phần nghĩa liên quan đến tình huống sử dụng Phần nghĩa đó sẽ được nói đến ở bình diện ngữ dụng của câu
3.3 Bình diện ngữ dụng của câu
Bình diện này nghiên cứu mối quan hệ giữa câu với người sử dụng, giữa câu với việc
sử đụng câu trong một tình huống giao tiếp cụ thể nhằm phát hiện những ý nghĩa của câu phát ngôn trong tình huống cụ thể đó (gọi là nghĩa ngữ dụng của câu)
-Nghĩa ngữ dụng của câu trừu tượng, phức tạp, khó xác định hơn nhiều so với nghĩa sự vát của câu Bởi loai ý nghĩa này chỉ xuất hiện qua hoàn cảnh giao tiếp, hoàn cảnh sử dụng câu Mà hoàn cảnh giao tiếp ở đây không đơn thuần là địa điểm, thời gian cụ thể của cuộc giao tiếp bởi ở đó còn có người sử dụng câu (người phát và người nhận câu) Họ không phải là con người trừu tượng, cô lập, chung chung mà là những con người cụ thể bằng xương bằng thịt Ngoài sự hiểu biết chung, mỗi người lại có rất nhiều cái riêng: tuổi tác, nghề nghiệp vị thế xã hội, vốn kinh nghiệm, khả nàng nhận thức, thói quen ứng xử, điều kiên sống trạng thái tâm lí tình cảm, dụng ý phát ngôn khi giao tiếp Các yếu tố, các quan
hê rất riêng và phức tạp đó của mỗi cá nhân đều có liên quan đến sản phẩm họ tạo ra khi
Trang 7giao tiếp: câu - phát ngôn Bởi vậy, đ ố i tượng nghiên cứu của dụng học rất rộng và phức tạp Trong sách này, bình diện ngữ dụng của câu sẽ chỉ đề cập đến một số vấn đề sau:
- Sự hiện thực hóa cấu trúc cú pháp của câu trong phát ngôn (những hiện tượng tỉnh lược, tách câu, lựa chọn trật tự thành phần câu)
- Mục đích nói của câu và những cách sử dụng câu theo l ố i trực tiếp và gián tiếp
- Hành động nói trong câu,
- Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn của câu,
- Cấu trúc tin trong câu
li BÌNH DIỆN NGỮ PHÁP CỦA CÂU
1 C á c t h à n h phần c â u
1.1 Thành phần nòng cốt
Thành phần nòng cốt (thành phần chính) của câu là thành phần đảm bảo cho câu được trọn nghĩa và thực hiện được chức năng giao tiếp, cả trong trường hợp câu tồn tại độc lập, tách biệt với vãn cảnh hoặc hoàn cảnh sử dụng Trong trường hợp bình thường, câu có hai thành phần nòng cốt: chủ ngữ và vị ngữ
1.1.1 Chủ ngữ
a Khái niệm
Chủ ngữ là một trong hai thành phần chính của câu có quan hệ qua lại với thành phần
vị ngữ, nêu lên đối tượng mà đặc trưng hay quan hệ của nó được nói đến ở vị ngữ
Quan hệ giữa chủ ngữ và vị ngữ không phải là quan hệ một chiều như quan hệ chính phụ của cụm danh từ, động từ hay tính từ; cũng không phải là quan hệ đẳng lập như ở cụm
từ đẳng lập Bởi các thành tố trong cụm từ đẳng lập không phụ thuộc vào nhau Chẳng hạn,
để tạo thành cụm từ đẳng lập, từ thông minh không bị quy định phải kết hợp với một từ cụ thể nào độ, nó có thể kết hợp với nhiều từ khác nhau, như: thông minh và chăm chỉ, thông minh và xinh xắn, thông minh nhưng lười, thông minh nhưng cẩu thả Sự kết hợp này là tuy
thuộc vào chủ ý của người nói
Còn quan hệ giữa chủ ngữ và vị ngữ là quan hệ qua lại Nghĩa là thành tố này có
quan hệ với thành tố kia và ngược l ạ i ; m ố i quan hệ đó có tính quy định, ràng buộc nhau Bởi chủ ngữ nêu đ ố i tượng được nói đến trong câu, còn vị ngữ nêu đặc điểm của chính đối tượng ấy, nên ngoài quan hệ ngữ pháp (quan hệ qua lại giữa hai thành phần chính của câu), chúng còn có quan hệ logic sự vật - tức loại logic nằm trong chính bản
thân sự vật có trong hiện thực Chẳng hạn, nếu chủ ngữ của câu nêu đ ố i tượng là cá thì
vị ngữ mới có thể nêu các đặc điểm của cớ như: bơi, lướt, nhảy, hay đớp mồi, cắn cáu chứ không thể là bay, phi, hay hót, nở (trừ những trường hợp nhân hoa hay dùng từ
theo phép chuyển nghĩa)
Trang 8Bởi vậy mới nói mối quan hệ giữa chủ ngữ và vị ngữ có tính quy định ràng buộc Sự quy định ràng buộc đó là do chính logic của đối tượng đòi hỏi chứ không chỉ phụ thuộc vào
ý định chủ quan của người nói
Các vai nghĩa cụ thể mà chủ ngữ biểu hiện sẽ được trình bày ở chương V, mục 1.4.1
b Cấu tạo của chủ ngữ
Chủ ngữ thường được cấu tạo bởi một từ hoặc một cụm từ
(2) Minh Huệ là tác giả của bài thơ "Đêm nay Bác không ngủ"
(3) Chẳng bao lâu, tôi đã trở thành một chàng dế thanh niên, cường tráng
(Tô Hoài) Các thực từ khác như: động từ, tính từ, số từ cũng có thể làm chủ ngữ nhưng ít được sử dụng
(4) Thi đua là yêu nước Lao động là vinh quang
(5) Hiên lành là cha quỷ quái Im lặng là vàng
(6) Mười ba là con số người ta hay kiêng
(7) Đ ố i với chúng mình thì thếlằ sung sướng
(9) Cái màu xanh cần lao ấy gợi bao yêu thương và yên tĩnh trong tâm hồn
(Theo Thúy Lan, báo Người Hà Nội) (10) Một trăm cây bạch dương giống nhau cả trâm
(Tô Hoài)
( l i ) Em gái tôi tên là Kiều Phương
(Tạ Duy Anh)
Trang 9+ Cụm động từ:
Ví dụ:
(12) Thiếu bánh chưng, bánh giầy là thiếu hẳn hương vị ngày Tết
(Bánh chưng, bánh giầy) (13) Luôn dậy sớm, luôn đúng hẹn, giữ lời hứa, luôn đọc sách là thói quen tốt Hút thuốc lá, hay cáu giận, mất trật tự\ằ thói quen xấu
(Theo Băng Sơn, Giao tiếp đời thường) (14) Soi sáng cho cảnh vật vắng lặng chìm đắm lúc bấy giờ là hơi sương bàng bạc (15) Vẽ đi vẽ lại cái tríơig còn là cách luyện mắt cho tinh, luyện tay cho dẻo
(Theo Xuân Yên) + Cụm tính từ: Ví dụ:
(16) Tốt gổ hơn tốt nước sơn
(18) Chỉ tay năm ngón là thói thường của những kẻ có quyền lực
(19) Rán sành ra mỡ là bản tính của người keo kiệt
- Chủ ngữ là kết cấu song hành chỉ khoảng cách không gian
(25) Từ thời con gái đến thời làm mẹ là một khoảng cách không dài của người con gái
Trang 10Trước chủ ngữ thường không có quan hệ từ, trừ những trường hợp chủ ngữ chỉ một khoảng không gian hay thời gian, lúc đó có thể có quan hệ từ trước chủ ngữ (xem ví dụ 25) Đó cũng chính là điểm khác biệt giữa chủ ngữ và một số thành phần khác của câu như trạng ngữ và khởi ngữ - cũng đứng trước nòng cốt câu
Ví dụ về trạng ngữ và khởi ngữ:
(26) Do một sự tình cờ, y biết được tên Tư
(Nam Cao) (27) Đ ố i với gia đình vợ, Thứ vẫn cố ý không thân mật lắm
b Cấu tạo của vị ngữ
Về mặt nghĩa, vị ngữ thường nêu đặc trưng (về hành động, trạng thái, tính chất) của vật, hiện tượng được nói ở chủ ngữ hoặc quan hệ của nó với sự vật khác Do đó, về cấu tạo,
vị ngữ thường là động từ, cụm động từ, tính từ, cụm tính từ Khi vị ngữ là danh từ thì trước
(2) Vào đêm trước ngày khai trường, mẹ không ngủ được
(Theo Thúy Lan) (3) Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hừng dàn tộc
Trang 11(Phạm Văn Đồng)
(8) Bồ các là bác chim ri
Chim ri là dì sáo sậu
(9) Sách là báu vật không thể thiếu đối với mỗi người
(Theo Thành Mỹ) Tuy nhiên, trong ngữ cảnh cụ thể, có thể bỏ là trước danh từ
Trang 12Trong những trường hợp vị ngữ có cấu tạo là động từ, cụm động từ, tính từ, cụm tính
từ, cụm từ đẳng lập, cụm từ chủ vị, cụm từ cố định, thì vị ngữ có ý nghĩa khái quát là biểu
hiện đặc trưng của sự vật nêu ở chủ ngữ (hoạt động, trạng thái, tính chất, đặc điểm )
- Vị ngữ có cấu tạo: từ chỉ quan hệ + danh từ (cụm danh từ)lđộng từ (cụm động từ)
Ví dụ:
(18) Việc ấy tại anh
(19) Anh ấy ngoài vườn
(20) Cái bàn này để học còn cái kia để ăn cơm
(21) Chiếc tủ này bằng gỗ lát đấy
(22) Cái áo này của tôi
Khi vị ngữ có cấu tạo gồm từ chi quan hệ + danh từ (cụm danh từ), động từ (cụm động từ) thì vị ngữ biểu thị quan hệ giữa sự vật nêu ở chủ ngữ với sự vật (hay hành động) được nêu
ở danh từ, cụm danh từ (hay động từ, cụm động từ) đi sau từ chỉ quan hệ Các mối quan hệ
mà vị ngữ biểu thị thường là: quan hệ nguyên nhân (ví dụ 18), quan hệ định vị (ví dụ 19) quan hệ mục đích (ví dụ 20), quan hệ vật liệu (ví dụ 21), quan hệ sở hữu (ví dụ 22)
Khi chủ ngữ và vị ngữ có cấu tạo là các cụm từ chính phụ thì ngoài từ trung tâm, còn
có các thành tố phụ của cụm từ Thành tố phụ của cụm danh từ thường được gọi là định ngữ, thành tố phụ của động từ, tính từ thường được gọi là bổ ngữ Các thành tố phụ này đã được khảo sát ở phần cụm từ (xem chương HI)
(25) Vinh quang thay Tổ quốc chúng ta!
(26) Thật vĩ đại cái trầm lặng đầy tin tưởng của những con người!
(Thép Mới)
Trang 13- Dùng dấu phẩy ngân cách chủ ngữ với vị ngữ:
(Thép Mới) Dấu phẩy thứ hai ở ví dụ (28) và dấu phẩy đầu ở ví dụ (29) về mặt ngữ pháp không cần thiết Chúng được sử dụng nhằm mục đích tu từ: nhấn mạnh vào nội dung thông tin của
vị ngữ (bị bao) chỉ ăn khoai ở ví dụ (28) Và ở ví dụ (29), dấu phẩy tách chủ ngữ với vị ngữ
thứ nhất khiến cho số lượng âm tiết ở mỗi thành phần câu cân đối (kết hợp với cách phối âm
bằng - trắc), tạo cảm nhận về nhíp quay đều đặn nhưng nặng nề, kéo dài của cối xay tre
- Cũng có thể dùng dấu phẩy ngăn cách giữa bộ phận chủ ngữ với vị ngữ khi bộ phận chủ ngữ là một cụm danh từ có định ngữ phát triển dài (định ngữ đó thường là cụm động
từ, tính từ hay cụm c - V)
Ví dụ:
(30) Những ai không quên quá khứ, luôn có một cuộc sống tốt đẹp hơn
(31) Một ông lão đầu tóc bạc phơ, da dẻ hồng hào, khoan thai chống gậy đi lại phía anh
- Dùng các từ: thì, mà để nhấn mạnh chủ ngữ hoặc vị ngữ:
Ví dụ:
(32) Người thì mớ bảy mở ba
Người thì áo rách như là áo tôi
(33) Anh mà cũng nói thế thì tôi biết tin ai
(34) Cô ấy thì cao không tới, thấp không thông
1.2 Các thành phẩn phụ của câu
Các thành phần phụ (và cả các thành phần biệt lập - xem mục 1.3) là các thành phần nằm ngoài nòng cốt của câu Sự có mặt của chúng, nhìn chung, không đóng vai trò quyết định đối với tính trọn vẹn về ý nghĩa và tính tự lập về ngữ pháp của câu Ngoài các thành tố phụ nằm trong các cụm từ chính phụ (định ngữ, bổ ngữ), câu có hai thành phần phụ là trạng ngữ và khởi ngữ (đề ngữ)
1.2.1 Trạng ngữ
ơ Khái niệm: Trạng ngữ là thành phần phụ của câu, biểu thị các ý nghĩa về thời gian, nơi chốn, phương tiện, cách thức, mục đích, nguyên nhân của sự tình được nêu trong
Trang 14câu Trạng ngữ có thể đíơig trước, sau hay chen giữa nòng cốt câu Trong nhiều trường hợp, trước trạng ngữ có dùng quan hệ từ để dẫn nhập, đồng thời trạng ngữ thường được tách biệt với phần nòng cốt cáu bằng một quãng ngắt (khi viết dùng dấu phẩy)
b Các loại trạng ngữ
Tham gia vào cấu trúc nghĩa miêu tả, tức cấu trúc vị từ - tham thể, trạng ngữ thường đảm nhận các vai nghĩa chỉ: thời gian, không gian, tình huống, cách thức - phương tiện, nguyên nhân, mục đích, điều kiện, nhượng bộ Vì vậy, căn cứ vào ý nghĩa của trạng ngữ có thể phân biệt các trạng ngữ sau:
- Trạng ngữ chỉ thời gian: chỉ thời gian xảy ra sự tình nêu trong câu Thời gian đó có thể xác định (hiện tại, quá khứ hay tương lai) cũng có thể là hằng định hay phiếm chỉ Thời gian có thể chỉ một thời điểm hay một thời đoạn
Ví dụ:
(1) Anh không ngờ đời Hạnh tiếp sau đó cho đến ngày lấy chồng đã phải lưu lạc khắp
nơi Bảy giờ Hạnh là bác sĩ và con cái đã lớn
(Nguyễn Minh Châu) (thời điểm - hiện tại)
(2) Y nhớ một lần y ở Hà N ộ i về quê Hồi ấy, vợ chồng y mới ăn riêng
(Nam Cao) (thời điểm - quá khứ)
(3) Sang năm, chúng ta sẽ đem đến cho mỗi gia đình một bộ sưu tập về thuyền và biển
(Nguyễn Minh Châu) (thời điểm - tương lai)
(4) Từ đầu năm đến giờ, chẳng mấy khi cô ấy ở nhà
(Nam Cao) (thời đoạn - xác định)
(5) Thỉnh thoảng, nó không còn sức nén, tiếng khóc bật ra
(Nam Cao) (thời gian - phiếm định)
(6) Một trăm bạc này, chẳng vào đâu thực Hàng ngày, chồng bà có thể thu hơn ngần
ấy lãi
(Nguyễn Công Hoan) (thời gian - hằng định)
- Trạng ngữ chỉ không gian: biểu thị nơi xảy ra sự tình
Không gian mà trạng ngữ biểu thị có thể là không gian cụ thể (rộng hay hẹp), cũng có thể là không gian phiếm chỉ (không cụ thể)
Trang 15(8) Xa xa, tiếng tí tách của một dòng nước chảy uể oải từ kẽ đá
(không gian rộng, không cụ thể)
(9) Ngoài miền Bắc, Thăng nghĩ, chắc là gia đình Phận đã biết Phận gặp Thăng và yêu
Thăng
(Nguyễn Minh Châu) (không gian rộng, cụ thể)
(10) Dưới vành khăn xếp nhiễu tây, cái mặt phèn phạt như rơi xuống sân đình đánh
"huỵch"
(Ngô Tất Tố) (không gian hẹp)
(Ì 1) Đó là cái cổng nhà Lợi Phía trên lối ra vào, nó xây thêm một tầng nữa
(Lê Lựu) (hướng không gian) Nếu một câu có hai trạng ngữ chỉ không gian thì trạng ngữ đầu thường nêu một không gian rộng, trạng ngữ đi sau nêu không gian hẹp hơn, cụ thể hơn
Ví dụ:
(12) Suốt dọc đường, từ ngoài cánh đồng trở về, cô bé và con mèo chỉ đối thoại bằng
mấy tiếng đơn giản
(Nguyễn Minh Châu) Trạng ngữ chỉ không gian có thể có quan hệ từ (ở, tại ) hay các từ chỉ vị trí (trên, dưới, trong, ngoài, trước, sau, ) dẫn nhập
- Trạng ngữ chỉ tình huống: nêu (biểu thị) tình huống diễn ra sự tình
Loại trạng ngữ này thường được cấu tạo bởi tổ hợp: quan hệ từ + danh từ (hoặc cụm danh từ
Ví dụ:
(13) Giữa sống chết, người lính không có gì ngoài tình yêu thương đùm bọc của người
xung quanh
(Lê Lựu)
(14) Trong tấm áo dài màu thiên thanh từ ngày may chưa bao giờ xỏ tay, bà trẻ đẹp
đến nỗi chính ông Phán cũng phải lấy làm ngạc nhiên
(Nguyễn Minh Châu)
(15) Qua hàng nước mắt, tôi nhìn theo mẹ và em trèo lên xe
(Theo Khánh Hoài)
Trong nhiều trường hợp, trạng ngữ chỉ tình huống được cấu tạo là động từ, cụm động
từ, tính từ, cụm tính từ, hay kết cấu chủ - vị (Trường hợp này cũng có thể coi là vị ngữ phụ, đứng trước nòng cốt câu)
Trang 16Ví dụ:
(16) Chưa nghe hết cảu, tôi đã hếch răng lên, xì một hơi rõ dài
(Tô Hoài) (17) Đàng hoàng trong bộ quân phục, tôi như lấy lại được sinh khí, dẫu rằng toàn thân vẫn đau nhừ, đầu óc váng vất
(19) Từng nhát một, cối giã gạo nổi lên tiếng ken két thong thả
(Nguyễn Công Hoan)
(20) Anh muốn làm việc một cách thẳng thắn, tự do
(Nguyễn Công Hoan)
(21) Lại hai nách hai con, chị bế chúng vào ngồi trong chõng
(Ngô Tất Tố)
(22) Bằng sắc mặt ôn hoa và dể dãi, Nghị Quế nhìn vào mắt chị Dậu
(Ngô Tất Tố)
(23) Theo ánh sáng lấp lánh của các ao ruộng, chị Dậu lần đường đi đến nhà hàng
cơm ban trưa, định trú chân đến sáng (Ngô Tất Tố)
(24) Nhờ cái đặc biệt của hai chòm râu, chị Dậu nhận ra ông Phủ
(Ngô Tất Tố)
Trạng ngữ chỉ phương tiện thường được dẫn nhập bằng quan hệ từ bâng, qua, nhờ,
- Trạng ngữ chỉ nguyên nhân: chỉ ra nguyên nhân, lí do dán đến sự tình nêu trong câu
(27) Còn tôi, chỉ vì hai đổng bạc mà phải tuyệt giao với một người yêu
(Nguyễn Công Hoan)
Trang 17(28) Vi hai đứa trẻ mồ côi, họ có thể quên cả thân mình
(Nguyên Hồng) Như các ví dụ đã cho thấy, trạng ngữ chỉ nguyên nhân thường được dẫn nhập bằng
một quan hệ từ: Vỉ, do, bởi, tại, nhờ, bởi vì, tại vì,
- Trạng ngữ chỉ mục đích : nêu lên cái đích mà chủ thể cần đạt được
Ví dụ:
(29) Để có thể sớm trở về cơ quan tiếp tục làm việc, tôi cũng phải tự chữa bệnh cho tôi
(Nguyễn Minh Châu)
(30) Để thưởng mỗi thành tích của nó, quan thầy gắn cho nó một cái mề đay
(Nguyễn Công Hoan)
(31) Các công ti, dể chống trộm, đã trang bị các thiết bị báo động
(Nam Cao)
Trạng ngữ chỉ mục đích thường được dẫn nhập bằng quan hệ từ để, cho, vì
c Cấu tạo của trạng ngữ
Cấu tạo của trạng ngữ khá đa dạng, nó có thể là từ, cụm từ, tổ hợp từ Cụ thể:
(34) Xa xa, tiếng tí tách của một dòng nước chảy uể oải từ kẽ đá
(35) Láu lâu, nó mới dám ngẩng đầu lên nhìn tôi
(Nguyễn Công Hoan)
- Đại từ: chỉ có ở trạng ngữ chỉ thời gian
Ví dụ:
(36) Bây giờ, chị chỉ ăn rồi lại chơi
(Ngô Tất Tố)
Trang 18(40) Chập choạng tối, chúng tôi đến làng Mai (Nam Cao)
(41) Xam chiêu, chúng tôi đến một lèn đá
(Nguyền Minh Châu)
Trang 19V ề mặt cấu trúc, phần in nghiêng trong ví dụ (45) và (46) đều là những cụm chủ vị độc lập, không nằm trong một thành phần câu nào Do đó, nếu chỉ căn cứ vào hình thức của câu thì (45) và (46) đều là câu ghép Nhưng về mặt ngữ nghĩa thì các chủ ngữ trong
mỗi câu (hai tay lão, tay chị) lại có quan hệ bộ phận chỉnh thể với nhau và cụm chủ
-vị chỉ bộ phận thường đứng trước nòng cốt câu, chỉ trạng thái, tư thế của chủ thể khi thực hiện hành động nêu ở vị ngữ nòng cốt Vì vậy, có thể xem phần in nghiêng ở câu (45) và (46) là thành phần trạng ngữ chỉ tình huống, có cấu tạo dạng đặc biệt: cụm chủ - vị Theo
đó, câu (45) và (46) sẽ thuộc kiểu câu phức thành phần trạng ngữ
ả Vị trí của trạng ngữ
Trạng ngữ là thành phần câu có vị trí khá linh hoạt Nó có thể đứng đầu, đứng cuối hay giữa nòng cốt càu
Ví dụ:
- Đứng đầu: Từ sáng đến tối, nó chỉ nhởn nhơ rong chơi (Nguyên Hồng)
- Đứng giữa: Nó, từ sáng đến tối, chỉ nhởn nhơ rong chơi
- Đứng cuối: Nó chỉ nhởn nhơ rong chơi, từ sáng đến tối
Tuy nhiên thực tế sử dụng cho thấy:
- Một số trạng ngữ chỉ thời gian và cách thức thường chỉ đứng đầu hay sau chủ ngữ, nhất là khi chúng được cấu tạo bằng một từ
Ví dụ:
(47) Khuya, bố mới về
(48) Lâu lắm, cháu không được về, con nhớ cháu quá
(Nam Cao)
(49) Hôm nay, ông Nhĩ có vẻ khoe ra nhỉ
(Nguyễn Minh Châu)
(50) Bấy giờ, chị chỉ ăn rồi lại chơi
- Vị trí thường gặp của các loại trạng ngữ là trước nòng cốt câu, bởi:
+ Trạng ngữ biểu thị các ý nghĩa về thời gian, không gian, tình huống, cách thức, phương tiện, nguyên nhản Một cách khái quát, có thể gọi đó là ý nghĩa cảnh huống (hay
bối cảnh) mà sự tình diễn ra M ố i quan hệ giữa trạng ngữ và nòng cốt là mối quan hệ cảnh huống - sự tình, nên cảnh huống được đặt trước sự tình thì cũng là điều tất nhiên, dễ hiểu
Trang 20+ Ngoài chức nàng bổ sung ý nghĩa cho nòng cốt cáu, nhiều trạng ngữ còn đồng thời thực hiện nhiệm vụ liên kết câu chứa nó với câu trước.Vị trí đầu câu rất thuận lợi cho sự liên kết đó
b Các loại khởi ngữ
Về phương diện nghĩa, khởi ngữ có vai trò thê hiện đề tài của câu nói Dựa vào mối quan hệ giữa đề tài mà khởi ngữ biểu thị với các thành phần của câu, có thể chia khởi ngữ thành hai loại sau đây:
- Loại khởi ngữ không có môi tương quan nào về nghĩa biểu hiện với một thành phần khác trong câu (không phải là một tham tố trong sự tình mà nòng cốt câu biểu hiện)
Ví dụ:
(1) Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào
Về kinh tế, chúng bóc lột nhân dân ta đến xương tùy, khiến cho nhân dân ta nghèo nàn
thiếu thốn, nước ta xơ xác tiêu điều
Trang 21- Khới ngữ có mối tương quan về nghĩa biểu hiện với một thành phấn khác trong câu (cùng chỉ một tham tố trong sự tình mà cảu biểu hiện)
Đây là loại khởi ngữ được tạo nên bằng các từ ngữ đồng sở chỉ với một thành phần khác trong câu: chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ
- Khỏi ngữ có quan hệ với chủ ngữ:
Khi có quan hệ với chủ ngữ, giữa khởi ngữ với chủ ngữ có thể có những kiêu quan hệ sau:
+ Quan hệ đồng nhất: khởi ngữ và chủ ngữ cùng biểu hiện một đối tượng
Ví dụ:
(6) ừ, thế như anh thì anh còn thiếu thốn cái gì, khao khát cái gì nữa
(7) Chú thì chú chỉ tiếc vài ba trang giấy
(Nam Cao) (8) M ộ t dân tộc đã gan góc chóng ách nô lệ của P h á p hơn 80 n ă m nay, một dán
tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chông phát xít mảy n ă m nay, dán tộc đó phải
+ Quan hệ bao hờm ịhav quan hệ tập hợp - thành viên): khởi ngữ nêu lên một tập hợp
còn chủ ngữ nêu lên một (một số) thành viên trong tập hợp ấy
(Vũ Trọng Phụng)
+ Quan hệ thành viên - rập hợp: trường hợp này, khởi ngữ thường là một tổ hợp đẳng
lập gồm nhiều thành viên, còn chủ ngữ là tập hợp của các thành viên ấy
Ví dụ:
(14) M ộ t bà nhà cày cấy nhiều, không thể tin vào ai mà giao phó một phần còng việc, một bà buôn bán ngược xuôi được mỗi mụn con cái thì l ạ i quật quẹo luôn, một
Trang 22ông là em họ hai đứa trẻ nhỏ làm cai thầu, ba người ấy đến bây giờ mới rõ mật chúng
mà không hiểu sao lại đối với chúng một cách sốt sắng đến như thế
(17) Bây giờ cơ chế thị trường, mở công ti thì cũng mở được đấy nhưng mở ra có hoạt
động được không mới là quan trọng
(18) Kể đẹp thì cô ta dẹp thật nhưng không thông minh
(19) Học thì nó học được nhưng phải cái lười
(20) Ăn thì tôi ăn được nhưng ngủ thì kém lắm
(21) Nói thì ai chả nói được Khó là làm ấy chứ
- Khỏi ngữ có quan hệ với bổ ngữ của động từ:
Ví dụ:
(22) Cái ý kiến này nảy ra, chính họ cũng không ngờ
(Nguyên Hồng)
(23) Truyện Kiều, tôi thuộc lòng từ hồi cấp một
(24) Điều muốn nói với anh, tôi đành giữ kín trong lòng, không nói nữa
c Cấu tạo của khởi ngữ
Khởi ngữ thường được cấu tạo bởi một từ hoặc một cụm từ
- Khỏi ngữ có cấu tạo là một từ:
Khi khởi ngữ là một từ thì từ đó có thể thuộc các từ loại: danh từ, động từ, tính từ, đại
từ (xem các ví dụ 3, 4, 5, 6, 7, 12, 17, 18, 19, 20,21)
Trang 23Ví dụ: xem thêm ví dụ sau;
(28) Câu thì cá không cắn mồi
(Vũ Trọng Phụng)
- Khởi ngữ có cấu tạo là một cụm từ
+ Khởi ngữ là một cụm từ chính phụ
(xem các ví dụ 8, 9, 10, l i , 13, 14, 26)
Ví dụ: xem thêm ví dụ sau:
(29) Cậu nói thật thà ấy, bà lão dùng giọng đùa mà nói (Nam Cao) + Khỏi ngữ là một cụm từ đắng lập
Xem ví dụ 16 ở trên
+ Khởi ngữ là một cụm chã vị
Xem ví dụ 25 ở trên
Trong một số trường hợp, trước khởi ngữ có thể dùng hư từ về, đối với, còn , (ví dụ
Ì, 2), sau khởi ngữ có thê dùng hư từ thì, là, mà, (xem ví dụ 31, 32 phía dưới)
ả Vị trí của khỏi ngữ
Nếu trạng ngữ có vị trí khá linh động trong câu thì vị trí của khởi ngữ lại ổn định Nó thường đứng trước nòng cốt câu (các ví dụ đã dẫn ở trên) Tuy nhiên, cần chú ý một số trường hợp sau đây:
- Trước khỏi ngữ cố thể có trạng ngữ hay liên ngữ, tình thái ngữ
Ví dụ:
(30) Trước cảnh ấy, bà con xung quanh có người không cầm được nước mắt
- Khởi ngữ đứng chen giữa chủ ngữ và vị ngữ
Ví dụ:
(31) Cô ấy đẹp thì có đẹp (nhưng vô duyên)
(32) Hắn làm thì làm cật lực mà quanh năm vẫn nghèo rớt mồng tơi (Nam Cao)
- Một câu cũng có thể có hai, ba khởi ngữ
Ví dụ:
(33) Tôi cứ nhà tôi tôi ở, việc tôi tôi làm, cơm gạo của tỏi tôi ăn
(Dẫn theo Diệp Quang Ban, 1992)
1.3 Các thành phần biệt lập của câu
Đây là các thành phần càu không tham gia vào việc biểu hiện nghĩa miêu tả của câu (không biểu hiện tham tố nào trong sự tình mà câu biểu hiện), đổng thời thường được tách biệt khỏi phần còn lại của câu bằng ngữ điệu
Trang 241.3.1 Tình thái ngữ
ơ Khới niệm
Nghĩa tình thái là một bộ phận nghĩa quan trọng của câu - phát ngồn (nghĩa tình thái cùng với nghĩa miêu tả tạo nên bình diện nghĩa của câu) Tuy nhiên, so với nghĩa miêu tả thì nghĩa tình thái rộng và phức tạp hơn nhiều Trong phần này, giới hạn ở sự trình bày về
các tình thái ngữ thể hiện hai loại ý nghĩa tình thái:
- Quan hệ giữa người nói và người nghe
- Quan hệ của người nói với nội dung của câu nói
Các phương tiện ngôn ngữ biểu thị chúng cũng rất đa dạng Chỉ xét riêng ở cấp độ câu
- phát ngôn đã có nhiều yếu tố tham gia biểu thị ý nghĩa tình thái như: ngữ điệu, dấu câu, các phụ từ tình thái, động từ tình thái, từ tình thái, quán ngữ tình thái
Như vậy, xét cả về nội dung lẫn phương tiện thê hiện, tình thái ngữ chỉ là một trong các hình thức được dùng để biểu thị ý nghĩa tình thái của câu - phát ngôn
Cũng chính vì sự phức tạp của bản thân đối tượng nén cho đến nay trong giới nghiên cứu vẫn tồn tại những ý kiến khác nhau về thành phần tình thái
Sách này chỉ xem xét các thành phần tình thái thể hiện bằng các yêu tố ngôn ngữ chuyên dùng để biểu thị ý nghĩa tình thái (gọi chung là các biểu thức tình thái), tạm thời chưa xem xét các từ ngữ nằm trong cấu trúc cú pháp cùa cụm từ, của câu, nhưng vẫn mang sắc thái tình thái
Theo tinh thần đó, tình thái ngữ được hiểu là các biểu thức tình thái chuyên biệt, không nằm trong nòng cốt cáu, được dùng để biển thị một số ý nghĩa tình thái của cáu - phát ngôn như ý kiến, sự đánh giá, thái độ, quan hệ cùa người nói với người nghe và với sự tình được phản ánh trong câu
Các ý nghĩa tình thái đó không phải chỉ có ở tình thái ngữ Bởi như đã nói, tình thái ngữ chỉ là một trong số các phương tiện ngôn ngữ được người nói dùng để biểu thị ý nghĩa tình thái của câu - phát ngôn
b Về ý nghĩa
Tinh thái ngữ không biểu thị ý nghĩa miêu tả (nghĩa biểu hiện, nghĩa sự việc) của câu
mà biểu thị nghĩa tình thái Ý nghĩa tình thái, như trên đây đã giới hạn, thường gặp trong
ba trường hóp: tình thái chỉ ý kiến, tình thái chỉ quan hệ thái độ - tình cảm, tình thái hô đáp
- Tình thái chỉ ý kiến: được dùng để biểu thị ý kiến chủ quan của người nói với nội
dung sự tình được phản ánh trong câu
Tinh thái chỉ ý kiến rất phong phú, sau đây là một số kiểu thường gặp:
+ Tình thái khẳng định: thường được biểu thị bằng các biểu thức tình thái: nhất định, chắc chắn, hẳn là, chính, đích thị, thế nào cũng , chỉ có mới , chỉ mới
Trang 25Ví dụ:
(Ì) Chính mắt tôi đã nhìn thấy nó vừa ở đây mà
(2) Nhất định chúng ta sẽ thắng
(3) Thế nào tôi cũng đến
(4) Chỉ có thầy lớn mới biết dạy cho học trò những điều cơ bản nhất
Chỉ có thầy giỏi mới đào tạo được trò giỏi
(Theo Xuân Yên) + Tình thái phủ định (bác bỏ): làm gì có, đàu có, đâu mà, (không) đời nào, bao giờ, thì có, đâu phải
Ví dụ:
(5) Đời nào anh lại chịu làm một viên chức quèn như tôi
(6) Tôi nói thế bao giờ
(7) Đâu phải tôi không tin anh
+ Tình thái biểu thị sự đánh giá:
* Đánh giá về lượng, mức độ: chí ít, ít nhất, ít ra, là cùng, là mấy, bất quá chứ mấy, bất quá là cùng
Ví dụ:
(8) Đọc cuốn tiểu thuyết này, ít ra cũng phải ba tối mới xong
(9) Giải quyết vụ này, bất quá anh chỉ tốn dăm ba triệu chứ mấy
(10) Từ nhà anh đến nhà tôi chỉ 5km là cùng
* Đánh giá vê tính có ỉílvô lí: ai lại, ai đời, lẽ ra, công bằng mà nói, đằng thẳng ra, đáng lẽ
Ví dụ:
( l i ) Cha mẹ ơi, ai đời lại ăn trứng với tỏi
(12) Công bằng mà nói, cô ta cũng xinh
(13) Lẽ ra, việc ấy anh nên nói trước với tôi một câu
* Đánh giá, nhận định vé điều kiện may mắnlkhông may mắn: cũng max, may sao, may ra, họa may, chẳng may, không may
Ví dụ:
(14) Cũng may cháu đã sớm nhận ra sai lầm
(15) May sao bộ đội biên phòng đã kịp đến giúp bà con dân bản
(16) Thật không may, hôm đó trời lại mưa to nên chuyến đi đành hoãn lại
Trang 26* Đánh giá, nén nguyên nhân, lí do: chẳng qua, âu cũng là
Ví dụ:
(17) Nàng bỗng nhớ tới thằng con - thằng Hi Song chẳng qua vì cái ý trong gia đình
mà nàng nghĩ đến con mà thôi Chứ nào phải vì tình mẫu tử
(Nhất Linh)
(18)Thôi, âu cũng là cái duyên số, biết làm sao được
- Tình thái chỉ quan hệ, thái độ, tình cảm:
+ Chỉ thái độ hoài nghi: ngộ nhỡ, hình như, chẳng lẽ, không khéo, tôi e (rằng), tôi đồ (rằng), hay là, chưa biết chừng
Ví dụ:
(19) Tôi e làm như vậy không ổn
(20) Hay là bán quách cái Tý cho cụ ấy (Ngô Tất Tố) (21) Chắc gì nó đã tới đấy
+ Chỉ thái độ ngạc nhiên, bất ngờ: hoa ra, té ra
Ví dụ:
(22) Té ra tôi với anh còn có họ kia đấy
(23) Hoa ra chị biết chuyện rồi à
+ Chỉ thái độ chấp nhận miễn cưỡng: vậy, thôi vậy, đành vậy, âu (cũng) đành
Ví dụ:
(24) Để tôi đi vậy
(25) Thôi vậy, anh về đi, để tôi làm nốt
+ Chỉ thái độ (cách xử sự) lịch sự (còn gọi là phần đưa đẩy hay uyển ngữ): cảm phiên, làm ơn, xin lỗi, nói trộm vía, nói trộm bóng
Ví dụ:
(26) Làm ơn, xem giúp tôi mấy giờ rồi?
(27) Nói trộm vía, cháu bé nom kháu quá
(28) Xin loi, anh có thể không hút thuốc
+ Chỉ thái độ tình cảm vui buồn bất ngờ (còn gọi là phần cảm thán): ôi, a, ối, trời, lạy trời, trời ơi, giời ơi là giời, than ôi, hỡi ơi
Ví dụ:
(29) Ôi, con đã cho bố một bất ngờ quá lớn
(30) Lạy trời, đây chỉ là một giấc mơ Một giấc mơ thôi
Trang 27Khi thành phần cảm thán được tách riêng thành câu thì đó là câu đặc biệt - cảm thán
Ví dụ:
(31) Giời ơi là giời} Sao cái thân tôi lại khổ thế này
- Tình thái hô đáp (còn gọi là hô ngữ):
Là phần các nhân vật tham gia giao tiếp dùng biểu thức ngôn ngữ để gọi hay đáp lã
gọi nhằm thu hút sự chú ý với (lời gọi) hay chứng tỏ sự "cộng tác" của mình với (lời đáp) người đối thoại Các biểu thức này thường mang tính quy ước
+ Biếu thức ngôn ngữ dùng để hô (gọi) thường là: các đại từ xưng hô, danh từ riêng, danh từ chung + ơi/ạ/ thưa/ bẩm
Trước biểu thức hô gọi, có thể thêm: thưa, bẩm, lạy (thể hiện thái độ kính trọng), này,
ê, nè (tỏ thái độ thân tình hay coi thường), hỡi, bớ
+ Biểu thức ngôn ngữ đáp lời thường là: vâng, dạ
Ví dụ:
(32) Chàng ơi, cho thiếp đi cùng
Đói no, thiếp chịu, lạnh lùng, thiếp cam (Ca dao)
(33) Đồng bào ơi] Anh chị em ơi!
Hỡi lương tâm tất cả loài người!
(Tố Hữu)
(34) Bẩm các quan, mời các quan hãy đi xem động đã
(35) Thưa anh, em cũng muốn khôn nhưng khôn không được
Sự phân chia thành phần tình thái thành 3 loại: phần chỉ ý kiến, phần biểu thị quan hệ
- thái độ và phần gọi đáp chỉ mang tính chất tương đối Bởi thực tế, các ý nghĩa tình thái thường đan xen vào nhau Chẳng hạn, các biểu thức tình thái chỉ ý kiến thường có kèm
theo cả thái độ của người nói với sự tình mà mình có ý kiến như: ai lợi, ai đời đáng lẽ, cũng may, may sao Ngược lại , như: tôi e, chắc gì, hay là, không khéo, chưa biết chừng vừa biểu thị thái độ vừa chứa đựng cả ý kiến chủ quan của người nói Còn các
biểu thức hô đáp thì ngoài chức nâng gọi đáp còn là những chỉ dẫn về mối quan hệ - tình cảm giữa những người tham gia giao tiếp
Trang 28c Các phương tiện ngôn ngữ thể hiện tình thái ngữ
Phương tiện ngón ngữ thường được dùng để biểu thị tình thái ngữ khá đa dạng Nó có thể là:
- Một từ: chính, đích thị, quả thật, ôi, a, ối, vảng, dạ
- Tô hợp gôm hai, ba từ tình thái: thôi thì, thôi vậy, bất quá là cùng, bất quá chứ mấy
- Quán ngữ tinh thái: té ra, hoa ra, đẳng thẳng ra, nói cho củng, án cũng là, công bằng mà nói, đời nào ai lại, ai đời
- Kết cấu chủ vị: tôi e (là), tôi đồ (là)
ả Vị trí của tình thái ngữ
Trong càu, vị trí của thành phần tình thái không cố định
- Có nhóm thường đứng trước nòng cốt câu: ai đời thì ra, hoa ra, váng, dạ
- Có nhóm thường đứng cuối câu: thì có, mới chết
- Có nhóm có thể đứng trước nòng cốt câu hoặc giữa chủ ngữ với vị ngữ: nhất định, thế nào, may sao, cũng may, chẳng lẽ, không lẽ, chẳng qua, được cái, phải cái
- Cách thứ nhất: cho đó là thành phần phụ nằm trong câu, đượcdùng để giải thích hay
bổ sung nghĩa cho thành phần câu đứng trước nó và có cùng chức nâng ngữ pháp với bộ phận được chú thích (Hoàng Trọng Phiến)
- Cách thứ hai: cho rằng đây là thành phần có thể cùng chức năng hoặc không đồng
chức năng ngữ pháp với bộ phận được nó chú giải bởi nó không chỉ là thành phần phụ giải thích cho một thành phần hay một bộ phận nào đó của câu mà nó còn được dùno để "lải thích, bổ sung một điều cần chú thích cho toàn câu
Sách này hiểu theo cách thứ hai, cho rằng phụ chú ngữ là bộ phận chêm xen nằm ngoài cấu trúc cú pháp của câu, dùng để chú giải thêm một khía cạnh nào đó có liên quan đến sự tình nêu trong câu, giúp người nghe, người đọc hiểu rõ hơn về nội dung của cảu hay dụng ý của người chú giải
b Ý nghĩa - chức năng
Tuy phụ chú ngữ không nằm trong cấu trúc cú pháp của câu nhưng nội dung ý nghĩa của
nó lại liên quan đến nội dung cùa thành phần câu đứng ngay trước nó hoặc đến nôi dung cùa
Trang 29toàn câu Nó có tác dụng làm sáng tỏ cho phần có liên quan bằng việc giải thích, chứng minh, bổ sung, bình luận, nhấn mạnh, bày tỏ Đó cũng chính là chức năng - thực hiện một hành động nói cụ thể nào đó của phần phụ chú ngữ Sau đây là một số ví dụ minh họa:
- Phụ chú ngữ có chức năng giải thích:
Ví dụ:
(1) Buổi mai hôm ấy, một buổi mơi đấy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay
tôi dẫn đi trên con đường dài và hẹp
(4) Lão làm bộ đấy! Thật ra thì lão chỉ tâm ngẩm thế, nhưng cũng ra phết đấy chứ chả
vừa đâu: lão vừa xin tôi một ít bả chó
(6) Em đi nhanh về chiếc giường, đặt Em Nhỏ quàng tay vào con Vệ Sĩ:
- Em để nó ở lại - giọng em ráo hoảnh - Anh phải hứa với em không bao giờ để chúng
nó ngồi cách xa nhau Anh nhớ chưa?
(Khánh Hoài) (7) Cuộc sống của người lái đò sông Đà quả là một cuộc chiến đấu hàng ngày với
thiên nhiên, một'thứ thiên nhiên Táy Bắc có nhiều lúc trông nó thành ra diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một
(Nguyễn Tuân)
(8) Vị "chúa tỉnh" - mỗi viên công sứ ỏ Đông Dương quả là một vị chúa rỉnh - ra lệnh
cho bọn quan lại dưới quyền: trong một thời hạn nhất định, phải nộp cho đủ một số người nhất định
Trang 30- Phụ chú ngữ có chức năng biểu cảm:
Ví dụ:
(9) Cô gái nhà bên {có ai ngờ)
Cũng vào du kích Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn {thương thương quá đi thôi)
(Giang Nam)
c Vị trí và đặc điểm ngữ điệu
Phụ chú ngữ thường đứng ngay sau phần được chú thích và được ngăn cách với các bộ phận khác của câu bằng một quãng ngắt, khi viết đánh dấu bằng một trong các dấu: dấu phẩy, hai chấm, dấu ngang cách, dấu ngoặc đơn
Ví dụ: xem các ví dụ Ì, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 đã dẫn ở trên
ả Phương tiện ngón ngữ biểu thị phụ chú ngữ
Phụ chú ngữ có thể được tạo nên bởi một từ, một tổ hợp từ, một kết cấu tương đương một câu hay một chuỗi câu
- Phụ chú ngữ là một từ v ề mặt từ loại, hầu hết các từ loại thực từ đều có thể được
dùng làm phụ chú ngữ Dạng cấu tạo là một từ thường hav được dùns trons loại văn bản khoa học
Ví dụ:
(10) Một vương triều phong kiến mới được thành lập, đứng đầu là Hoàng đế Quang
Trung (Nguyễn Huệ)
( l i ) Chiều cao (sân) của bể là lm50
- Phụ chú ngữ là một tổ hợp từ Loại này được sư dụng nhiều uliẵí Tổ họp từ làm phụ
chú ngữ có thể là cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ Đặc biệt, với chức năng chú giải, phụ chú ngữ thường được tạo nên bởi một tổ hợp từ được mở đầu bằng một trong các từ
ngữ có ý n°hĩa Hải thích như: chẳng hạn, tức là, nghĩa lả, ví dụ, nhất là, đặc biệt là
Ví dụ:
(12) Đường Lê Duẩn (tức đường Nam Bộ) chạy qua công viên I enin
(13) Thơ - độc biệt là thơ trữ tình - có sức lay động lòng người nên được nhiều người
Trang 31chữ nước ngoài, nhưng chỉ nên dùng danh từ gì thật cần thiết và tiếng nước ta không có) Chúng ta nên bỏ thói quen dùng chữ nước ngoài thay tiếng Việt Nam theo kiểu dùng chữ:
"kiều l ộ " thay chữ "cầu đường"; "cầu đường" là tiếng Việt Nam dể nghe, dẻ hiểu lại hay,
vì sao không dùng? Ở đây, có nhiều chuyện nói, nhưng chỉ nói đôi câu"
b Chức năng của liên ngữ
* Về mặt ngữ pháp: liên ngữ có chức nâng liên kết (nối kết) các câu, các đoạn, các
phẩn của văn bản có quan hệ với nhau về mặt ý nghĩa
Ghi chú: các trường hợp kết nối từ với từ, cụm từ với cụm từ, vế câu với vế câu không
được coi là liên ngữ Ví dụ:
(3) Từ hôm đó, thầy Mạnh Tử học tập rất chuyên cần Rồi sau thành một bậc đại hiền
Thế chẳng là nhờ có cái công giáo dục quý báu của bà mẹ hay sao
(Ngữ văn ố - tập 1) (4) Có người phạm sai lầm thì chán nản Có kẻ sai lầm rồi thì tiếp tục sai lầm thêm Nhưng có người biết suy nghĩ, rút kinh nghiệm, tìm con đường khác để tiến
(Ngữ vân 7 - tập 2)
(5) Tuy trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi, tiếng người xao xác gọi nhau sang hộ
nhưng xem chừng ai cũng mệt lử cả rồi Ây vậy mà trên trời thời vẫn mưa tầm tã trút
xuống, dưới sông, thời nước cứ cuồn cuộn bốc lên
(Ngữ vân 7 - tập 2) (6) Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý Có khi được trưng bày trong tù kính, trong bình pha lê, rõ ràng, dễ thấy Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong
Trang 32hòm Bổn phận của chúng ta là làm cho những cùa quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước
của tất cả mọi người đêu được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến
(Ngữ vãn 7 -tập 2)
- Nối ý của cáu trước với câu chứa liên ngữ và các câu sau nó:
Ví dụ:
(7) Khi người da trắng chết đi, họ thường dạo chơi các vì sao và quên đi đất nước họ
sinh ra Còn chúng tôi, chúng tối chẳng thể quên được những mảnh đất tươi đẹp này Bởi lẽ
mảnh đất này là bà mẹ của người da đỏ Chúng tôi là một phần cùa mẹ và mẹ cũng là một phần của chúng tôi Những bóng hoa ngát hương là người chị, người em của chúng tôi Những mỏm đá, những vũng nước trên đồng cỏ, hơi ấm của chú ngựa con và của con người, tất cả đều cùng chung một gia đình
(Ngữ văn 6 - tập 2) (8) Và lão kể Lão kể nhỏ nhẹ và dài dòng thật Nhưng đại khái có thể rút vào hai việc Việc thứ nhất: lão thì già, con đi vắng, vả lại nó cũng còn dại lắm ( ); lão viết văn tự cho tôi để không còn ai tơ tưởng nhòm ngó đến ( )• Việc thứ hai: lão già yếu lắm rồi, không
biết sống chét lúc nào ( ); lão còn được hãm nhăm đồng bạc với năm đồng bạc vừa bán
chó được là ba mươi đồng bạc, muốn gửi tỏi, để lỡ có chết thì tôi đưa ra, nói với hàng xóm
giúp, gọi là của lão có tí chút, còn bao nhiêu đành nhờ hàng xóm cả
(Ngữ văn 8 - tập Ì)
- Nối Ý của đoạn chứa nó với các phấn văn bàn trước đó
Ví dụ:
(9) Tóm lại, con người khiêm tốn là con người hoàn toàn biết mình, hiếu người, không
tự mình đề cao vai trò, ca tụng chiến cồng của cá nhân mình cũng như không bao giờ chấp nhận một ý thức chịu thua mang nhiều mạc cảm tự ti đối với mọi người
(Ngữ vân 7 - tập 2) (10) Cuối cùng, ở hậu phương, những người làm kiệt sức Trong các xưởng thuốc súng
ghê tởm, tuy không phải hít hơi ngạt cùa bọn "bô sơ" nhưng lại nhiễm phải những luồng khí độc đỏ ố i cùa người Pháp; đằng nào cũng thê thói ( )
(Ngữ văn 8 - tập 2)
* Về mặt ý nghĩa
Liên ngữ khổng biểu thị ý nghĩa sự vật cùa câu nhưng nó có chức năng tường minh hóa, cụ thể hóa mói quan hệ nghĩa giữa các đơn vị mà nó kết nối Chảng hạn:
- Ý nghĩa nhàn quả: vì, vì vậy, bài thể, cho nên, do đó, do vậy, nhờ có
- Ý nghĩa tương phản: nhưng, song, tuy, tuy vậy, tuy nhiên, ngược lại, vả lại, thế mà
có điền ấy vậy mà, còn, trái lại, trái với
Trang 33- Ý nghĩa tương đồng: ngoài ra, bên cạnh đó, vả lại, hơn nữa một mặt, mặt khác, với lại
Ví dụ:
( l i ) Ý thằng con lão thì nó muốn bán vườn, cố lọ (cưới) cho bằng được Nhiơìg lão không cho bán A i lại bán vườn đi mà lấy vợ? Vả lại, bán vườn đi thì cưới vợ, về ở đâu? Với lại, nói cho cùng nữa, nếu đằng nhà gái họ cứ khăng khăng đòi như vậy thì dẫu có bán
vườn đi cũng không đủ cưới
(Nam Cao)
- Ý nghĩa trình tự: thứ nhất, thứ hai, thoạt tiên, sau đó, cuối cùng
- Ý nghĩa tổng kết, khái quát: tóm lại, nói tóm lại, nói một cách tổng quát, rốt cuộc, kết cục
' [dụ:
(12) Kết cục, anh chàng "hầu cận ông Lí" yếu hơn chị chàng con mọn
(Ngô Tất Tố)
- Ý nghĩa cụ thể hoa: nghĩa là, tức là, cụ thể là, ví dụ, chảng hạn, ví như
Xem ví dụ (6) ở trên, từ nghĩa là
* Về mặt dụng học
Lập luận là một vấn đề quan trọng của dụng học Tham gia vào cấu tạo cùa một lập luận, liên ngữ thường đảm nhận vai trò:
- Liên kết (nối kết) các luận cứ: thứ nhất, thứ hai, thoạt tiên, sau đó, còn, nhưng
- Dần nhập luận cứ: vì, bởi, do, nhờ, bởi lẽ
- Dần nhập kết luận: cho nên, vì vậy, như vậy, do đó, do vậy, tóm lại
- Làm rõ định hướng của lập luận
+ Liên kết các luận cứ có quan hệ đồng hướng: và, rồi, thứ nhất, thứ hơi, thoạt tiên, sau đó, vả lại, với lại, mặt khác, ngoài ra, đồng thời, hơn nữa,
+ Liên kết các luận cứ, luận điểm có quan hệ nghịch hướng: nhưng, mà, còn, thực ra, trái lại, tuy nhiên, song
c Các phương tiện ngôn ngữ được dùng làm liên ngữ
Liên ngữ thường do các phương tiện ngôn ngữ sau thể hiện:
- Quan hệ từ, tổ hợp quan hệ từ: ví, do, nên, bởi, tại, nếu, tuy, nhưng, và, còn, mà, vì thế, do dó, cho nên, bởi vậy, bởi thế (xem các ví dụ 2, 4, 5, 6, 10)
- Các từ ngữ chuyên dùng để nối kết hay chuyển tiếp: tóm lại, vả lại, với lợi thế là, thứ nhất, thứ hai, nghĩa là, ấy vậy mà, thoạt tiên, sau dó, rốt cuộc, cuối cùng, thế chổng là, nhìn chung (xem các ví dụ 1,3, 4, 6, 7, -8, 9, 10)
Trang 34d Vị trí của liên ngữ
Liên ngữ thường đứng ở đầu câu, đầu đoạn (các ví dụ đã dẫn) để nối kết câu hay đoạn chứa nó với câu hay đoạn khác (thường nối kết với câu hay đoạn đi trước)
Ghi chú:
Liên kết, nối kết là chức nàng đặc trưng, chuyên biệt của thành phần liên ngữ (tên
"liên ngữ" cũng là để biểu thị chức năng mà thành phần này đảm nhiệm) Song nó không phải là thành phần duy nhất dùng để nối kết Một số thành phần khác như: trạng ngữ, khởi ngữ, tình thái ngữ trong những ngữ cảnh nhất định, ngoài chức năng chuyên biệt cũng đảm nhận thêm chức năng nối kết
2 C á c ki ể u c ấ u tạ o n g ữ p h á p của c â u
2.1 Tiêu chí và kết quả phân loại
2.1.1 Tiêu chí phân loại
Phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp Ngữ pháp học thường lấy số lượng kết cấu c - V (cụm chủ vị) nòng cốt làm tiêu chí Kết cấu c - V nòng cốt được phân biệt với kết cấu c - V "bị
bao" Cụ thể:
- Kết cấu c - V nòng cốt là một cấu trúc cú pháp - nghĩa độc lập, không "bị bao" trong
một cấu trúc lớn hơn, được coi là hạt nhân để cấu tạo nên câu
- Kết cấu c - V "bị bao" là cấu trúc không độc lập cả về cú pháp lẫn nghĩa Bởi nó chỉ
là một bộ phận của một cấu trúc cú pháp lớn hơn: là bổ ngữ trong cụm động từ hay là định ngữ trong cụm danh từ - hoặc mới chỉ là một thành phần chính của câu - chủ ngữ hay vị ngữ (chi tiết xem phần câu phức thành phần)
Dựa vào số lượng kết cấu c - V nòng cốt, có thể chia câu thành các loại chính: câu
đơn câu ghép, câu phức thành phần Ngoài ra, cũng thuộc kiểu câu theo cấu tạo còn có cảu đặc biệt Tổng hợp lại, có 4 loại câu sau:
- Câu đơn,
- Câu ghép,
Trang 35- Cáu phức thành phần
- Cáu đặc biệt
Trong một tình huống giao tiếp nhất định, một hay một số thành phần cáu có thế tỉnh lược (vắng mặt) mà câu vẫn đứng vững và trọn nghĩa Đó là nhờ mối liên hệ với ngữ cảnh hoặc hoàn cảnh giao tiếp Hiện tượng đó được gọi là hiện tượng tỉnh lược hay rút gọn, và tạo ra biên thể tỉnh lược (hay rút gọn cùa câu - cả câu đơn, câu ghép và câu phức) Những biến thể tỉnh lược đó có thể quy về biến thể đầy đủ của các kiểu câu (đó cũng là điểm để phán biệt hiện tượng rút gọn với kiểu câu đặc biệt) Hiện tượng này sẽ được đề cập đến ở
chương V I , mục ì, Sự hiện thực hóa cấu trúc ngữ pháp của câu trong phát ngôn)
2.2 Miêu tả các kiểu câu theo cấu tạo
2.2.1 Câu đơn (bình thường)
Bình thường, câu đơn dược cấu tạo bằng một két cấn chủ vị (cụm chủ vị) Bời vì với hai
thành phần nòng cốt như thế, câu đơn đáp ứng được nhu cầu tôi thiểu về tư duy và giao tiếp của con người Do đó, kiểu cáu có hai thành phần nòng cốt được gọi là câu đơn bình thường
(Nghiêm Toàn, Việt luận)
(5) Trăng / lên Gió / mơn man dìu dịu Dòng sông trăng / gạn sóng
c V c V c V
(Hà Ánh Minh, Báo Người Hà Nội)
Nếu chỉ có hai thành phần nòng cốt thì đó là câu đơn tố i thiểu Cáu đơn có các thành phần phụ, hoặc thành phần biệt lập, là câu đơn mờ rộng thành phần (với điều kiện: các thành phần câu khổng chứa kết cấu c - V "bị bao")
TTN c V
Trang 36(9) Do đó, trong cuộc đời mỗi người, học ở thầy / là quan trọng nhất
L N TN c V
(Theo Nguyền Thanh Tú)
Các câu được miêu tả ở phần nói về chủ ngữ và vị ngữ trên đây đều là cáu đơn bình thường
2.2.2 Câu ghép
ũ Khái niệm
Câu ghép là câu có từ hai kết cấu chủ - vị nòng cốt trỏ lên nhưng không có kết cấu chủ vị nào bị bao bởi một kết cáu chủ vị khác, mỗi kết cáu là một vẻ cáu, nêu lén một sự việc; các sự việc trong câu ghép có quan hệ nghĩa với nhau và được thê hiện ra bằng một quan hệ ngữ pháp nào đó
b Đặc điểm của câu ghép
- Về cấu tạo: Câu ghép có hai hoặc hơn hai kết cấu c - V nòng cốt
- Về nghĩa: M ỗ i kết cấu c - V thông báo một sự việc, nên về nghĩa, câu ghép có ít nhất
hai sự việc Các sự việc này tạo nên phần nghĩa miêu tả của câu
- Về quan hệ: Các kết cấu c - V (thuộc quan hệ cú pháp) cũng như các sự việc (thuộc
quan hệ nghĩa) trong câu ghép có quan hệ "một đối một" Nghĩa là toàn bộ kết cấu c - V này, sự việc này có quan hệ với toàn bộ kết cấu c - V kia, sự việc kia
- Về phương tiện ngôn ngữ cơ bản: Phương tiện cơ bản được dùng để biểu thị mối quan hệ nghĩa giữa các vế cùa câu ghép là hư từ (quan hệ từ, phụ từ) hay một số đại từ
Ví dụ:
(1) Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị áy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng
(Hồ Chí Minh)
(2) Khó khăn càng nhiều, quyết tâm càng cao
Ngoài ra, phương thức ngữ điệu và phương thức trật tự cũng được sử dụng để biểu thị quan hệ nghĩa giữa các vế của câu ghép
Ví dụ:
- Dùng ngữ điệu:
(3) Nhìn lên non, non cao thăm thẳm
Nhìn xuống đất, đất tối mịt mùng
- Dìm? phương thức trật tự (để biểu thị quan hệ tâng tiến)
(4) N°ười ta sẽ khinh y, vợ V sẽ khinh y, chính y sẽ khinh V
(Nam Cao)
Trang 37(5) Nước ngập ruộng đồng, nước ngập nhà cửa, nước dâng lên lưng đồi, thành Phong
Châu như nổi lềnh bềnh trên một biển nước
(S(ỉỉĩ Tinh Thủy Tinh)
- Dùng phương thức trật tự (để biểu thị quan hệ thời gian):
(6) Tiêng gió nhẹ lan khắp đâu đó, lá khô trên đất tí tách muốn trở mình đón nắng
(7) Đầu đội mũ dạ, mất đeo kính trắng, ỏng bước đi một cách oai vệ
(8) Tay vắt lên trán, ông trầm ngâm suy nghĩ
Về mặt ngữ pháp, các phần in nghiêng của các câu trên đều là các kết cấu c - V độc
lập, không "bị bao", có thể là một vế của câu ghép, nhưng về mặt nghĩa vì các chủ ngữ
trong câu (đầu, mắt - ông và tay - ông) có mối quan hệ đặc biệt: quan hệ chỉnh thể - bộ
phận nên kết cấu c - V có chủ ngữ chỉ bộ phận, về nghĩa, thường biểu thị tư thế - trạng thái
của chủ thể - chỉnh thể và có vị trí linh hoạt trong câu như một trạng ngữ Với các đặc
trưng đó, không nên xếp kiểu câu có quan hệ chỉnh thể - bộ phận vào loại câu ghép Đó là
những câu phức thành phần trạng ngữ (hay câu phức vị ngữ phụ)
- Kiểu câu có: từ chỉ thời gian (khi, lúc, dạo, hồi ), nơi chôn (chỗ chôn, nơi, ) + C- V
Ví dụ:
(9) Khi tôi to tiếng thì ai cũng nhịn
(Tô Hoài - Dế Mèn phiêu lưu kí) (10) Khi Táy bắt đầu tấn công xuống miệt này, ông/ liền cho con trai đi Vệ quốc đoàn
( l i ) Chỗ các anh dang đíũig, người ta sắp xây một câu lạc bộ thể dục thể thao
Phần in nghiêng ở câu (9), (10), ( l i ) là trạng ngữ Chúng đều là các cụm danh từ, có
cấu tạo: danh từ trung tâm (khi, chỗ) + kết cấu c - V "bị bao" Đây là những câu phức
thành phần định ngữ cho các danh từ khi, lúc, nơi, chồ,
- Kiểu câu có một chủ ngữ nhưng nhiêu vị ngữ
Trang 38(13) Nguồn gốc cùa vãn chương // là tình cảm, / là lòng vị tha
c V, V,
(Hoài Thanh) Những câu kiểu này đều là câu đơn có một chủ ngữ, và nhiều vị ngữ đẳng lập
Trong tiếng Việt, hiện tượng ghép yếu tố B bên cạnh yếu tố A theo quan hệ bình đẳng
là một hiện tượng có ở các bậc: hình vị, từ, nhóm từ và câu Các yếu tố được ghép theo quan hệ đó có những đặc điểm sau: A và B phải đồng loại, đồng chức năng, bình đẳng với nhau trong mối quan hệ với yếu tố khác ở bên ngoài chúng, trật tự giữa chúng có thể thay đổi mà ý nghĩa vẫn giữ nguyên (về quan hệ đẳng lập, xem chương ì) Song các đặc điểm đó chỉ hoàn toàn đúng ở các bậc: hình vị và từ Từ bậc nhóm từ trở lên, do quan hệ nghĩa giữa
A và B phức tạp hơn, và còn do sự chi phối của nhiều nhân tố khác (nhịp điệu của câu, cấu trúc nghĩa và cấu trúc tin trong câu, ) nên nhiều trường hợp, các vế tuy có quan hệ đãng lập nhưng vẫn không thay đổi được vị trí
Ví dụ:
(14) A i làm sai, người nấy chịu
(15) M ẹ nói sao, con nghe vậy
Trong những trường hợp này, tuy quan hệ ngữ pháp giữa các vế vẫn là đẳng lập, nhưng quan hệ lập luận là tiền đề và hệ luận nên hai vế không thể thay đổi vị trí
+ Về các phương tiện kết nối các vê câu:
Để liên kết và biểu thị môi quan hê nghĩa giữa các vế, câu ghép đẳng lập sử dụng các
Trang 39Ngoài ra, cáu ghép đẳng lập còn sử dụng:
• Phương thức ngữ điệu (quãng ngắt, dấu phây):
Dựa vào mối quan hệ nghĩa giữa các vế, có thể chia câu ghép đẳng lập thành các loại sau:
+ Cáu ghép có quan hệ thời gian giữa các vế:
• Thời gian đồng thời: giữa các vế có thể không dùng từ nối, có thể dùng cặp từ vừa vừa, vừa thì
Ví dụ:
(18) Từ xưa đến nay, mỗi khi To quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua m ọ i sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước
(Hồ Chí Minh)
• Thời gian kế tiếp: giữa các vế có thể không dùng từ nối, hoặc dùng các từ: rồi, vừa đã,
Ví dụ:
(19) Lúc vào lễ, bài vãn tế được đọc lên, khách khứa ai cũng bụm miệng cười
(Tiếu lâm Việt Nam)
(20) Mưa tạnh, phía đông một mảng trời trong vắt
(21) Thế mà qua một đêm mưa rào, trời bỗng đổi ra gió bấc, rồi cái lạnh ở đâu đến
làm người ta tưởng đang ở giữa mùa đông rét mướt
Trang 40(24) Cũng trên một mảnh vườn, sao lời cây ớt cay, lời cây sung chát lời cây cam ngọt, lời cày móng rồng thơm như mít chín, lời cây chanh chua
(27) Hai cô chị ác nghiệt, kiêu kì, thường hắt hủi Sọ Dừa, còn cô em út hiền lành, tính
hay thương người, đ ố i đãi với Sọ Dừa rất tử tế
(Sọ Dừa)
Có thể không dùng từ nối:
Ví dụ:
(28) Tôi gặng hỏi mãi, Trinh cũng không chịu nói
+ Câu ghép có quan hệ lựa chọn: Câu ghép có nhiều vế, mỗi vế nêu một sự kiện và
một trong các sự kiện đó sẽ được lựa chọn
Có thể chia quan hệ lựa chọn thành 2 loại:
• Lựa chọn chưa có định hưởng: thường dùng các quan hệ từ giữa các vế: hoặc, hoặc
là, hay, hay là
Ví dụ:
(29) Hoặc anh sẽ đến tôi, hoặc tôi sẽ đến anh
(30) Anh đi hay anh ở?
• Lựa chọn có định hướng: thường dùng cặp từ: thà chứ, thà rằng còn hơn
Ví dụ:
(31) Thà rằng chúng ta chờ đợi thêm chứ chúng ta nhất định không chịu thất bại (32) Thà rằng ăn cả chùm sung
Còn hơn ăn nửa trái hồng dở dang
Các sự kiện được nêu ở các vế câu có hàm ý so sánh, sau khi so sánh, bất đắc dĩ phải nhận lấy sự kiện nêu ở vế trước
+ Câu ghép có quan hệ loại bỏ: câu ghép có hai vế, có thể:
• Khan" định sự kiện ỏ vế đầu, phủ định sự kiện vế sau, với mô hình:
c, - VịChứCi- v2