1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thực trạng khả năng sinh sản, ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái redsindhy nuôi tại nông trường hữu nghị việt nam mông cổ, ba vì

95 580 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn thực trạng khả năng sinh sản, ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái Redsindhy nuôi tại nông trường hữu nghị Việt Nam Mông Cổ, Ba Vì
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Chăn nuôi Thú một cách tổng hợp
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 781,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

1 Mở đầu 1.1 Đặt vấn đề

Với mục tiêu phấn đấu đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính và chiếm vị trí cao trong ngành sản xuất Nông nghiệp của đất nước, trong những năm qua, ngành chăn nuôi luôn được sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, vì vậy đã đạt được những thành tựu đáng kể, trong đó chăn nuôi đại gia súc có một vị trí rất quan trọng do phải đảm đương việc đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của đất nước về thịt và sữa Theo thống kê của Bộ nông nghiệp và PTNT cho đến tháng 6/ 2005 nước ta đã có gần 200.000 con bò sữa và trên 3 triệu con bò thịt được nuôi phân tán ở các vùng nông thôn với phương thức nuôi nhốt hoàn toàn hoặc bán chăn thả

Song song với các biện pháp mang tính chiến lược như ưu tiên đầu tư cho công tác giống và dinh dưỡng, việc áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp để nâng cao khả năng sinh sản của đàn bò cái là rất quan trọng Tỷ lệ sinh sản và khả năng sinh sản của đàn cái không những ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ gia tăng của đàn gia súc mà còn ảnh hưởng tới tốc độ cải tạo đàn, gây ảnh hưởng

đến hiệu quả kinh tế cho ngành chăn nuôi

Trong điều kiện chăn nuôi phân tán ở các nông hộ và các trang trại nhỏ với mô hình từ 5 - 15 con, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng có sự khác nhau nên dẫn đến các chỉ tiêu sản xuất của đàn bò cũng khác nhau, các chỉ tiêu sinh sản thường không ổn định đặc biệt hiện tượng rối loạn sinh sản xảy ra trên đàn cái do nhiều nguyên nhân gây ra như do gen chậm sinh, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, khai thác và quản lý đàn, dị tật và các quá trình bệnh lý ở cơ quan sinh dục và đặc biệt là do rối loạn nội tiết, đã làm cho tỉ lệ đẻ toàn đàn thấp, tỷ lệ thụ thai thấp, hệ số phối giống cao và khoảng cách lứa đẻ kéo dài

Đàn bò cái Redsindhy là đàn bò kiêm dụng thịt và sữa đã được nhập nội và nuôi tại nông trường hữu nghị Việt Nam-Mông Cổ từ những năm 1985 cho tới nay.Về khả năng sinh sản của đàn cái thuần Redsindhy, cho đến nay

Trang 2

chưa có một công trình nào đề cập đến một cách đầy đủ và có hệ thống trên phạm vi một đàn bò nhập nội được nuôi ở một vùng sinh thái cố định trong nhiều năm

Việc rút ngắn tuổi động dục lần đầu, rút ngắn khoảng cách giữa hai lứa đẻ, tăng tỷ lệ sinh sản của đàn bò giống thịt Redsindhy ngoài ý nghĩa tăng năng xuất của cá thể gia súc cái, còn có nghĩa tăng nhanh số lượng đàn giống, góp phần "Zebu hoá" nhanh hơn đàn bò thịt của Việt Nam

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, chúng tôi tiến hành đề tài:

"Thực trạng khả năng sinh sản và hiện tượng rối loạn sinh sản, ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản ở đàn bò cái Redsindhy nuôi tại nông trường hữu nghị Việt Nam - Mông

Cổ, Ba Vì - Hà Tây"

1.2 Mục đích nghiên cứu

1.2.1 Đánh giá thực trạng một số chỉ tiêu sinh sản của đàn bò cái Redsindhy 1.2.2 Xác định thực trạng khả năng sinh sản và hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái Redsindhy

1.2.3 ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái Redsindhy

Trang 3

2 Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học của đề tài

2.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu khả năng sinh sản

2.1.1 Đặc điểm cấu tạo và chức năng cơ quan sinh dục bò cái

Sinh sản là chức năng vô cùng quan trọng vì nó đóng vai trò quyết định trong duy trì, phát triển và bảo tồn giống nòi

Trong chăn nuôi gia súc, biết tác động và đầu tư đúng vào sinh sản thì

đó là con đường nhanh nhất, tốt nhất và kinh tế nhất để góp phần nâng cao năng suất vật nuôi

Trong sinh sản, rất nhiều vấn đề được các nhà khoa học, các nhà chăn nuôi đã và đang đầu tư nghiên cứu, tìm hiểu và giải quyết

Cơ quan sinh dục bò cái cũng mang đặc tính chung của các loài gia súc khác, nó được chia thành bộ phận sinh dục bên trong (âm đạo, tử cung, buồng trứng, ống dẫn trứng) và các cơ quan sinh dục bên ngoài (âm môn, âm vật, tiền đình) Tuy nhiên, các loài gia súc khác nhau thì cấu tạo cơ quan sinh dục cũng có những khác nhau

Âm đạo của bò dài khoảng 30 - 40 cm (Sipilop 1967) [38] , âm đạo của

bò Việt Nam dài khoảng 22 - 25cm (Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương, 1997) [11] ;(Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh, 2002) [8], âm đạo là cơ quan giao cấu nơi tinh dịch được phóng ra đọng lại ở đó và chuyển tiếp vào tử cung qua các đại phân tử của các cột nhầy ở cổ tử cung,

Trang 4

tinh thanh không được chuyển vào cổ tử cung, phần lớn chúng được thải ra ngoài và hấp thụ qua âm đạo

Ngoài ra âm đạo còn là bộ phận cho phép thai đi ra ngoài khi sinh đẻ và

là ống thải các chất dịch cổ tử cung và nội mạc tử cung

2.1.1.2 Tử cung (Uterus)

Tử cung bò thuộc nhóm tử cung hai sừng (Uterus bicorius), nó có hình sừng cừu gồm một thân tử cung ngắn, hai sừng tử cung dài và cùng một cổ tử cung ở bò cái tơ toàn bộ tử cung nằm trong xoang chậu, khi đã đẻ nhiều lần thì tử cung nằm trong xoang bụng, tử cung là nơi làm tổ của hợp tử, ở đây hợp

tử (sau này là thai) phát triển được là nhờ chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ thông qua lớp niêm mạc tử cung cung cấp Giai đoạn đầu hợp tử sống được một phần nhờ vào noãn hoàng, một phần dựa vào sữa mẹ thông qua cơ chế thẩm thấu Sau này giữa mẹ và thai hình thành hệ thống nhau thai Niêm mạc tử cung và dịch tử cung giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong sinh sản như vận chuyển tinh trùng và trứng, tham gia điều hoà chức năng của thể vàng, đảm nhận sự làm

tổ, mang thai và đẻ Tử cung của bò có 3 phần từ ngoài vào trong là: Cổ tử cung, thân tử cung và sừng tử cung

a) Cổ tử cung: Là phần ngoài cùng của tử cung, cổ tử cung bò hình tròn

thông với âm đạo, dài khoảng 6 - 10 cm, đường kính từ 3 - 6 cm Cổ tử cung luôn luôn đóng, chỉ mở khi nào hưng phấn cao độ hoặc khi sinh đẻ hoặc khi bị bệnh lý

Niêm mạc cổ tử cung gấp nếp nhiều lần làm cho thành cổ tử cung không đồng đều tạo thành những thuỳ gọi là thuỳ hoa nở, có từ 3 - 5 lần hoa

nở Thuỳ ngoài cùng nhô vào âm đạo khoảng 0,5 - 1,0cm nhìn bên ngoài tựa như hoa cúc đại Có sự khác biệt về cổ tử cung giữa bò già và bò trẻ, giữa bò

đẻ ít và bò đẻ nhiều, giữa các giống bò, giữa bò đẻ bình thường và bò đẻ không bình thường

Trang 5

b/ Thân tử cung: ở bò thân tử cung rất ngắn, chỉ khoảng từ 2- 4cm, thân

tử cung nối giữa cổ tử cung với sừng tử cung

c/ Sừng tử cung: Bò cái có 2 sừng tử cung gồm sừng trái và sừng phải,

độ dài của sừng khoảng 25 - 20cm đường kính phần dưới sừng tử cung 3 - 4

cm phần ngọn chỉ khoảng 0,5 - 0,8cm Hai sừng tử cung của bò cái phần gắn với thân tử cung dính lại với nhau tạo thành một lõm hình lòng máng phía trên của tử cung gọi là rãnh giữa tử cung, dài 3 - 5cm, rãnh này dễ dàng nhận thấy khi khám qua trực tràng để chẩn đoán gia súc có thai và bệnh lý ở tử cung 2.1.1.3 Buồng trứng (ovarium)

Buồng trứng của bò gồm một đôi treo ở cạnh trước dây chằng rộng, gần mút sừng tử cung và nằm trong xoang chậu, hình dáng buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có hình bầu dục hoặc ô van dẹt, không có lõm rụng, khi mới sinh buồng trứng có khối lượng khoảng 0,3gram, khi trưởng thành có khối lượng 10 – 20 gram, kích thước dài 1 – 2 cm, rộng 1 - 1,5cm (Nguyễn Tấn Anh, 1995) [2] Buồng trứng của gia súc có chức năng sinh ra trứng và tiết dịch nội tiết Cấu tạo của buồng trứng gồm lớp trong và lớp vỏ được bao bọc bởi lớp biểu mô mầm Lớp trong có nhiều mạch máu, tổ chức liên kết Trên buồng trứng có từ 70.000 - 100.000 noãn bào ở các giai đoạn phát triển khác nhau, tầng ngoài là những noãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong

là những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bào chín nổi lên trên bề mặt buồng trứng Noãn bào sơ cấp có trứng ở giữa, xung quanh là tế bào noãn bào, tế bào noãn bào lúc đầu hình dẹt, sau thành hình khối và hình trụ Noãn bào thứ cấp do tế bào noãn bào tăng sinh thành nhiều và hình thành xoang noãn bào ép trứng về một phía, khi noãn bào chín là quá trình sinh trưởng đã hoàn thành, dịch + noãn bào, noãn bào nổi lên trên bề mặt buồng trứng đến một giai đoạn xác định, noãn bào vỡ ra, tế bào trứng theo dịch noãn bào đi vào loa kèn và đi vào ống dẫn trứng Nơi noãn bào vỡ sẽ hình thành thể vàng Do

sự nở to và sự lutein hoá của các tế bào kết hạt được bắt đầu từ đó Mô lutein lớn lên chủ yếu do sự nở to của các tế bào lutein

Trang 6

Tế bào thể vàng tiết ra progesterone, khối lượng thể vàng và hàm lượng progesterone tăng nhanh từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 8 và giữ tương đối ổn

định cho đến ngày thứ 15, sự thoái hoá thể vàng ở bò bắt đầu từ ngày thứ 17 -

18 và chuyển thành thể bạch nếu trứng không thụ tinh

2.1.1.4 ống dẫn trứng

ống dẫn trứng còn gọi là vòi fallop, nằm ở màng treo buồng trứng Chức năng của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo chiều ngược nhau và đồng thời một lúc Cấu tạo của ống dẫn trứng thích hợp tốt với chức năng phức tạp đó Một đầu của ống dẫn trứng thông với xoang bụng gần sát buồng trứng và có hình loa kèn, loa kèn là màng mỏng tạo thành một cái tán rộng, vành tán có các tua điểm lô nhô không đều ôm lấy buồng trứng Đối với bò diện tích của loa kèn thường rộng 20 - 40 mm2 và phủ toàn

bộ buồng trứng (Hoàng Kim Giao, 1997) [11] Bộ phận nhỏ mà điểm vận chuyển trứng rụng từ bề mặt buồng trứng tới phễu Trứng được chuyển qua lớp nhầy đi đến lòng ống dẫn trứng nơi xảy ra sự thụ tinh và phân chia sớm của phôi Phôi được lưu lại trong ống dẫn trứng vài ngày trước khi về tử cung, dịch ống dẫn trứng cung cấp điều kiện thích hợp cho sự thụ tinh và phân chia của phôi bao gồm chất dinh dưỡng và bảo vệ cho tinh trùng, noãn bào và hợp tử sau đó niêm mạc ống dẫn trứng và tử cung còn tiết ra men Hyaluronidaza tham gia vào quá trình thụ tinh (A.A.Xưxoep,1975 [36], V S Sipilop, 1967 [37])

Thời gian tế bào trứng di chuyển trong ống dẫn trứng từ 3 - 10 ngày Trên đường di hành trong ống dẫn trứng tế bào trứng có thể bị đứng lại ở các

đoạn khác nhau do những chỗ hẹp của ống dẫn trứng Có thể chia ống dẫn trứng thành 4 đoạn chức năng: Đoạn tua điểm - phễu - phồng ống dẫn trứng và

đoạn co của ống dẫn trứng (Nguyễn Tấn Anh, 1992 [1] )

Trang 7

2.1.2 Hoạt động sinh dục của bò cái

2.1.2.1 Sự thành thục về tính và tuổi phối giống lần đầu

Khi cơ quan sinh dục của gia súc cái phát triển đến mức độ hoàn thiện, buồng trứng có noãn bào chín, có trứng rụng và trứng có khả năng thụ thai, tử cung cũng biến đổi theo và đủ điều kiện cho thai phát triển trong tử cung Những dấu hiệu động dục xuất hiện đối với gia súc ở tuổi như vậy gọi là thành thục về tính Trong thực tế, thành thục về tính thường đến sớm hơn thành thục

về thể vóc Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, gia súc, ngoại cảnh và mức độ nuôi dưỡng Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt thì sự sinh trưởng được thúc đẩy và thành thục về tính sẽ đến sớm hơn Bò sữa thành thục tính dục khi thể trọng đạt từ 30 – 40% thể trọng lúc trưởng thành, còn bò thịt với mức độ cao hơn 45 – 50% Theo L.Holly (1970) [59]: Bò sữa thành thục tính vào 4-14 tháng tuổi , bò Zebu thành thục tính muộn hơn bò có nguồn gốc châu Âu từ 6-12 tháng

Bò cái nếu nuôi dưỡng tốt thì thành thục lúc 12 tháng tuổi, còn tầm vóc để bảo đảm cho sự phối giống phải từ 18 tháng tuổi trở lên (Theo Sipilop, 1967 [38]) Đối với bò lang trắng đen Hà Lan cho ăn đầy đủ chăm sóc tốt thì thành thục lúc 10 – 12 tháng tuổi, chăm sóc kém có thể kéo dài tới 16 – 18 tháng tuổi

Trong điều kiện nước ta do ảnh hưởng của khí hậu và chế độ dinh dưỡng không thích hợp cho nên tuổi đẻ lứa đầu thường là cao: Bò vàng Việt Nam đẻ lứa đầu từ 33 – 48 tháng tuổi (Nguyễn Văn Thưởng, Trần Doãn Hối,

1990 [28] ) Bò sữa Hà - ấn F2 (75% máu bò Hà Lan) 46 ữ 48 ± 1,84 tháng (Nguyễn Kim Ninh, 1990) [22]

Trang 8

dục cũng có chu kỳ, 1 chu kỳ động dục của bò và lợn thông thường là 21 ngày (dao động 17 – 24 ngày), của trâu là 25 ngày (tính trung bình) (Theo Cole and Cupps, 1959; PriByl, 1963) [59], những gia súc cái có chu kỳ động dục ngắn hơn 17 ngày hoặc dài hơn 24 ngày thường có tỷ lệ thụ thai thấp Quá trình trứng phát triển chín và rụng đều chịu sự điều hòa chặt chẽ của hormone Trên cơ sở đó nhiều tác giả đã phân chia chu kỳ động dục thành 2 pha:

- Pha Folliculin: Gồm toàn bộ biểu hiện trước khi trứng rụng

- Pha Lutein: Là những biểu hiện sau khi trứng rụng và hình thành thể vàng Trong chu kỳ động dục của bò nhiều tác giả đã đề cập đến các đợt sóng nang (Follicular wave)

Sóng nang là sự phát triển đồng loạt của một số bao noãn ở cùng một thời gian Các công trình nghiên cứu, theo dõi sự phát triển của buồng trứng Invivo bằng phương pháp nội soi và siêu âm được nhiều tác giả công bố Các tác giả cho thấy ở bò trong một chu kỳ thường có 2 – 3 đợt sóng nang phát triển (một số ít có 4 đợt) Đợt 1 bắt đầu diễn ra sau khi rụng trứng, vào ngày thứ 3 – 9 của chu kỳ Đợt 2 vào ngày 11 – 17 và đợt 3 vào ngày 18 – 0 Mỗi

đợt sóng nang có thể huy động tới 15 nang kích thước từ 5 – 7mm phát triển Sau này có 1 số nang phát triển mạnh hơn gọi là nang trội (nang khống chế), kích thước của nang khống chế ở đợt 1, 2, 3 có thể đạt tới 12 – 15mm và các kích thước nang tương ứng quan sát thấy vào các ngày 6, 13, 21

Đặc điểm quan trọng trong các đợt phát triển nang là sự phát triển có tính tự điều khiển và cạnh tranh giữa các nang Một đợt có 1 – 2 nang trội, vài nang lớn phát triển và sự phát triển của các nang còn lại bị kìm hãm Tuy vậy khi thể vàng còn tồn tại, nang khống chế và nang lớn sẽ bị thoái hóa, chỉ có

đợt cuối cùng khi thể vàng không còn thì nang khống chế mới phát triển tới chín và rụng trứng xảy ra Do đặc điểm này các đợt phát triển nang gọi là sóng phát triển Trong mỗi đợt sóng như vậy sự tồn tại của các nang không phải nang khống chế dao động 5 – 6 ngày (Ireland, 1987; Fortune và Cs, 1988)

Trang 9

Riêng nang khống chế có thể phát triển nhanh sau ngày 18 của chu kỳ, tốc độ phát triển của nang khống chế ở thời điểm này có thể đạt 1,6mm/ngày (Fortune và Cs 1988; Savio và Cs, 1988) (Trích Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương, 1997 [11])

ở bò chu kỳ động dục thường kéo dài 21 ngày, thời gian động dục thường kéo dài 25 – 36 giờ (Sipilop, 1967 [38] ), chu kỳ động dục ở gia súc mang tính đặc trưng theo loài

Chu kỳ động dục của bò được chia làm 4 giai đoạn:

- Giai đoạn trước động dục (Pre-oestrus)

- Giai đoạn động dục (Oestrus)

- Giai đoạn sau động dục (Post-oestrus)

- Giai đoạn cân bằng sinh học (An, Di-oestrus)

Đặc điểm của từng giai đoạn được thể hiện ở bảng 2.1

Trang 10

Bảng 2.1 Các giai đoạn của chu kỳ động dục ở bò cái

Biểu hiện

bên ngoài

dáng vẻ

Băn khoăn, ngơ ngác, không yên, đi lại,

đái rắt - kêu (không kêu, nhảy con khác không cho con khác nhảy, bỏ đi rong

Tìm đực hoặc đến gần con khác, chịu cho nhảy, mê ì

Còn chịu cho nhảy và phối giống (một thời gian ngắn)

Bình thường

Ăn uống Kém ăn, gặm cỏ lơ là Ăn ít hoặc không ăn Ăn ít Ăn uống bình thường

Âm hộ Sưng, xung huyết, đỏ, hơi phù bóng

trong buồng

chứng

Cơ quan trứng phát triển

Nang trứng nhỏ, căng ở bò rụng trứng quãng 12

- 14 giờ sau kết thúc chịu

1 - 2 cm)

Mở rộng, niêm dịch đặc dính có màu nửa trong kéo dài 7 - 10cm

Hẹp dần, niêm dịch đặc, giảm độ keo dính, màu

đục bã đậu dễ dứt

Khép kín bình thường, không có niêm dịch

đoạn này PGF2α tăng dần đạt đỉnh cao trước chịu đực 5 ngày, kéo dài 3 - 4 ngày rồi giảm

Oestradiol 17β đỉnh cao

LH đạt đỉnh cao ở ngày chịu

đực rồi tụt xuống đột ngột PGF2α ở mức thấp nhất

Oestradiol giảm đột ngột sau đó tăng dần để tạo một

đỉnh thấp vào ngày thứ 5 - 6 của chu kỳ sau

Progesterone tăng dần đến ngày thứ 9 - 10 đạt đỉnh cao quãng 5 - 6 ngày

LH thấp nhất cho đến ngày chịu đực của chu kỳ sau PGF2α bắt đầu tăng Đến ngày 14 đạt đỉnh cao trong

3 - 4 ngày trước khi bắt đầu chu kỳ mới

Trang 11

2.1.2.3 Sự điều hòa nội tiết trong chu kỳ sinh dục

Chu kỳ động dục được điều hòa bởi các hormone vùng dưới đồi, các gonadotropin và các steroid của buồng trứng tiết ra Việc điều hòa tiết gonadotropin hormone của tuyến yên đòi hỏi một sự cân bằng giữa các mối tác động tương hỗ hormone

Yếu tố giải phóng của Hypothalamus gồm: FSH – RH và LH – RH có tác động kích thích thùy trước tuyến yến tiết nhiều FSH, LH, kích thích sự tăng trưởng của tử cung Sau khi rụng trứng, thể vàng được hình thành và tiết progesterone Thời kỳ hoạt động của thể vàng được gọi là Pha lutein, kéo dài

16 – 17 ngày ở bò Sự thoái hóa của thể vàng do hoạt động của nhân tố phân giải lutein đó là: Prostaglandin F2 alpha (PGF2α) Prostaglandin được tiết ra từ mô tử cung loài động vật có vú (Nguyễn Tấn Anh, 1995) [2]

2.1.2.4 Sự thụ tinh

Sự thụ tinh không phải là sự kết hợp đơn giản giữa tinh trùng và tế bào trứng mà là một quá trình đồng hóa và dị hóa lẫn nhau một cách phức tạp giữa hai tế bào sinh dục Kết quả của sự thụ tinh là sinh ra một tế bào mới gọi là hợp

tử, sau này là phôi và phát triển thành một cơ thể mới khác với bố mẹ nhưng mang đặc điểm di truyền của bố, mẹ cùng với đặc điểm di truyền của loài

Người ta thường phân chia quá trình thụ tinh của động vật có vú ra 4 giai đoạn nhỏ: Sự chuẩn bị của tế bào trứng, tinh trùng vào tế bào trứng, sự hình thành tiền hạch đực và tiền hạch cái, sự kết hợp giữa hai tiền hạch

a) Sự chuẩn bị của tế bào trứng

Tế bào trứng của gia súc và động vật có vú thoát khỏi nang Graf đều có vành tế bào nang bao quanh, vành tế bào này gọi là vành phóng xạ Vành phóng xạ có tác dụng bảo vệ tế bào trứng nhưng lại làm trở ngại cho tinh trùng tiếp xúc với trứng Ngay khi được loa kèn hút vào ống dẫn trứng, tế bào trứng tiết ra chất gọi là Fertilizin, chất này kích thích hoạt động của tinh trùng và hướng tinh trùng vào phía mình Tinh trùng gặp trứng, bao vây xung quanh trứng Acroxom của tinh trùng tiết men Hyaluronidaza,men này hòa tan và

Trang 12

phân giải chất keo giữa các tế bào nang vành phóng xạ làm chúng tách rời ra,

tế bào trứng được lộ ra ngoài, khi số lượng tinh trùng quá ít, men Hyaluronidaza không đủ để phá vành phóng xạ, quá trình thụ tinh sẽ không diễn ra Ngược lại khi số tinh trùng quá nhiều, men Hyaluronidaza không những phá vỡ lớp tế bào nang vành phóng xạ mà còn phá vỡ cả tế bào trứng Cơ chế này cho biết: Tại sao cần có một số lượng nhất định tinh trùng mới

đảm bảo được sự thụ tinh, tạo lượng tinh trùng quá nhiều hoặc quá ít lại làm giảm tỷ lệ thụ tinh Acroxom của tinh trùng dễ bị tổn thương khi có tác nhân ngoài tác động, tinh trùng bị tổn thương Acroxom mất tác dụng trong quá trình thụ tinh Ngày nay người ta có thể đánh giá chất lượng tinh dịch thông qua Acroxom của tinh trùng Men Hyaluronidaza không mang đặc trưng cho các loài gia súc Men này của một loại gia súc nào đó có thể phân giải và phá

vỡ được tất cả vành phóng xạ của tế bào trứng của các loại gia súc khác Đây cũng là cơ sở cho việc hỗn hợp tinh dịch trong thụ tinh nhân tạo Thời gian cho việc tinh trùng bao vây, phong tỏa và làm tan vỡ vành phóng xạ kéo dài ở

bò khoảng 2 – 3 giờ, cừu 3 – 4 giờ, ở lợn 1 giờ

b) Tinh trùng chui vào tế bào trứng

Sau khi phá vỡ vành phóng xạ, tinh trùng tiếp xúc với màng trong suốt của tế bào trứng, phản ứng Acroxom tiếp tục xảy ra, giúp tinh trùng chui vào trong màng trong suốt Việc chui qua màng trong suốt mang tính đặc trưng cho loài nhờ có men zonalizine trong màng trong suốt nên tinh trùng của loài nào chỉ chui vào màng trong suốt của trứng loài đó Sau khi chui vào màng trong suốt tinh trùng nằm ở khoảng không giữa màng trong suốt và màng noãn hoàng Dưới kính hiển vi điện tử người ta cũng đã thấy được nhiều tinh trùng (có khi tới hàng trăm) chui vào bên trong màng trong suốt Chúng chui vào bất

kỳ chỗ nào của màng trong suốt

Trong số tinh trùng chui vào màng trong suốt chỉ có một tinh trùng chui

được vào trong màng noãn hoàng Những tinh trùng còn lại về sau đều được nguyên sinh chất đồng hóa

Trang 13

Trong quá trình tinh trùng tiếp xúc và xâm nhập vào bên trong tế bào trứng, tế bào trứng đang ở các thời kỳ phân chia giảm phân lần 2 Chính tinh trùng đã kích thích quá trình này nhanh hoàn thiện và hoạt hóa sự thành thục của trứng Quá trình thụ tinh chỉ thực sự xảy ra sau khi đã hoàn thành giảm phân trong tế bào trứng

c) Sự hình thành tiền hạch đực và tiền hạch cái

Sau khi tinh trùng chui vào màng noãn hoàng, đầu tinh trùng tự tách khỏi cổ, thân và đuôi Nhân ở đầu tinh trùng chuyển động sâu vào trong trứng, hướng tới trung tâm của trứng, trên đường đi nhân trương nở phồng lên dần và biến thành một cái nhân đặc trưng gọi là tiền hạch đực (nhân non đực) Tế bào trứng sau khi được tinh trùng hoạt hóa, quá trình giảm phân lần 2 được hoàn thiện Nhân đơn bội của trứng cũng có những biến đổi như nhân tinh trùng, nó chuyển động sâu vào trong trứng, hướng tới trung tâm của trứng Trên đường

đi nó trương nở, lớn lên về kích thước và trở thành một nhân đặc biệt gọi là tiền hạch cái (nhân con cái)

d) Sự kết hợp tiền hạch

Tiền hạch đực, tiền hạch cái tiến vào trung tâm của trứng và tiến sát vào nhau, sau đó hòa hợp lẫn nhau Sự kết hợp các hạch đánh dấu sự bắt đầu của một quá trình biến đổi mới về chất, đây là quá trình hình thành và phát triển của hợp tử Thời kỳ này có thể gọi là cao điểm của toàn bộ quá trình sinh sản hữu tính Ngay sau khi hình thành, hợp tử đã bước vào thời kỳ phân chia Quá trình phân chia được diễn ra trong suốt thời gian di chuyển xuống tử cung, niêm mạc tử cung đã được chuẩn bị cho sự cư trú làm tổ của hợp tử

2.1.2.5 Quá trình mang thai

Sự phát triển của thai là hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể, nó được bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến khi đẻ xong Trong thực tế sự có thai của bò được tính ngay từ ngày phối giống cuối cùng cho đến ngày đẻ Thời gian mang thai phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như: Tuổi của mẹ, điều kiện nuôi dưỡng, chế độ khai thác và sử dụng, số lượng thai, đôi khi còn phụ thuộc vào lứa đẻ hoặc tính biệt của thai Thời gian mang thai của bò dao động trong khoảng 278 – 290 ngày

Trang 14

Theo Paplop, 1976 [37] cho biết thời gian mang thai trung bình của bò

từ 280 – 285 ngày

Theo nghiên cứu của Lương Văn Lãng và Võ Văn Sự (1970 – 1979) (Trích Trần Trọng Thêm, 1986 [26]) trên đàn bò Holstein Friesian tại Trung tâm giống bò sữa Hà Lan Sao Đỏ thì thời gian có chửa là 279,87 ngày Thời gian chửa của bò Sind đỏ Philipin: 280 (252 – 299) ngày, ở Pakistan: 285 (257 – 328) ngày Theo tiến sỹ AA Rubenkop (1975) thời gian chửa ở bò lang trắng đen (LTĐ) F2 3/ 4 (LTĐ), F3 7/ 8 LTĐ tương ứng là: 276,5 ; 275,5; 276,0 ngày trên các nhóm bò lai có 3/4 và 5/8 máu HF của nông trường Ba Vì

là 278,3 và 280,1 ngày (Nguyễn Văn Thưởng, Nguyễn Kim Ninh và Lê Trọng Lạp, 1982) (Trích Trần Trọng Thêm, 1986 [26])

2.1.2.6 Khoảng cách giữa hai lứa đẻ

Khoảng cách giữa hai lứa đẻ là thước đo khả năng sinh sản một cách rõ rệt của gia súc ở bò một năm một lứa là khoảng cách lý tưởng Khoảng cách lứa đẻ dài ảnh hưởng đến toàn bộ thời gian cho sản phẩm, tới tổng sản lượng sữa và số bê con được sinh ra trong một đời bò mẹ, dẫn đến hạn chế việc nâng cao tiến bộ di truyền Khoảng cách lứa đẻ phụ thuộc vào chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, đặc điểm sinh vật của giống, thời gian động dục lại sau khi đẻ, kỹ thuật phối giống, vắt sữa và cạn sữa… gia súc càng mắn đẻ thì hệ số tái sản xuất (Kt) càng cao Lauhiuna (Liên Xô cũ) đã đưa ra công thức tính hệ số tái sản xuất của bò (Kt):

T

Kt =

V - 2

Trong đó:

T: Số bê do bò cái đẻ ra , V: Tuổi bò cái (năm)

Kt càng cao hiệu quả kinh tế càng lớn Sadal đưa ra chỉ tiêu đánh giá năng suất bò cái bằng khoảng cách lứa

đẻ Bò có khoảng cách lứa đẻ K = 410 ngày là bò rất tốt, K = 411 – 460 ngày

là tốt, K = 461 ngày trở lên là bò không tốt (Theo Nguyễn Kim Ninh, 1994 [24] )

Trang 15

ở Việt Nam trong điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng chưa đầy đủ nên khoảng cách giữa 2 lứa đẻ là 18 – 20 tháng (Nguyễn Văn Thưởng, 1982 [27] )

Bò lai Sind: 417 ngày (Trần Doãn Hối, 1971), ở bò lai F1 (Holstein Friz x lai sind ) : 398,6 ngày (Nguyễn Văn Đức, 1982), 378 ngày (nuôi dưỡng tốt) và

424 ngày (nuôi dưỡng kém) (Trần Doãn Hối và Cs, 1967 – 1968) , 540 ngày (Nguyễn Kim Ninh và Lê Trọng Lạp, 1992), 473 ngày [dt 26]

2.1.2.7 Thời gian hồi phục tử cung sau khi đẻ

Khi đẻ tử cung co bóp để đẩy thai ra ngoài Sau đó tử cung co lại (hầu như trở lại kích thước ban đầu) Quá trình đó gọi là hồi phục tử cung sau khi

đẻ Đó là giai đoạn sinh lý có ảnh hưởng rất lớn đến khoảng cách giữa hai lứa

đẻ Đối với bò, từ lâu người ta đã cho rằng thời gian để bộ máy sinh dục hồi phục hoàn toàn sau khi đẻ là 3 tuần Những kết quả nghiên cứu sau này chứng minh rằng thời gian này dài hơn chút ít Thời gian tử cung hồi phục hoàn toàn

ở bò đẻ lứa đầu là 42 ngày ở bò đã đẻ nhiều lần là 50 ngày Bằng phương pháp khám qua trực tràng cho biết: 3 - 4 ngày sau khi đẻ thể tích tử cung giảm

đi 1/2 và vào khoảng ngày thứ 15 – 17 sau khi đẻ, tử cung hồi phục gần như hoàn toàn Trong thời gian sau khi đẻ sự phá hoại của mô nội mạc tử cung kèm theo sự có mặt của số lượng lớn bạch cầu cùng với việc giảm thấp lòng mạch nội mạc tử cung Các tế bào cổ tử cung giảm về số lượng và kích thước Những biến đổi nhanh chóng và không cân đối có thể là một nguyên nhân làm cho tỷ lệ thụ thai sau khi đẻ bị giảm thấp Các mô máu bị tróc và rụng khỏi dạ con 12 ngày sau khi đẻ Sự tái sinh của bề mặt biểu mô ở các núm xuất hiện bằng cách lớn lên từ mô bao bọc xung quanh và được hoàn tất sau khi đẻ 30 ngày (Nguyễn Tấn Anh, 1995 [2]) tử cung co lại bình thường Theo Nguyễn Trọng Tiến (1991) [31] cho biết khoảng 60 ngày sau khi đẻ có 75% số bò cái

có cơ quan sinh dục được hồi phục, sau 75% ngày có 87% Đối với bò đẻ khó, sót nhau thời gian này là 4 tháng Tác giả cũng cho biết ở đàn bò cái sự hồi phục tử cung khi không mang thai là 11,4 ngày Sự co dạ con còn phụ thuộc vào cơ thể, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, quá trình đẻ và sự hộ lý chăm sóc sau khi đẻ

Trang 16

2.1.3 Sự điều hòa hoạt động sinh dục của tuyến nội tiết

Hoạt động sinh dục chịu sự điều tiết của hệ thần kinh thể dịch Hệ thần kinh thông qua các thụ quan nhạy cảm là nơi tiếp nhận tất cả các xung động của ngoại cảnh vào cơ thể, đầu tiên là đại não và vỏ não mà trực tiếp là Hypothalamus tiết ra các chất kích thích (yếu tố giải phóng) GnRF kích thích thùy trước tuyến yên tiết FSH, LH, các hormone đó theo máu tác động tới buồng trứng làm nang trứng phát triển đến mức độ chín và tiết ra oestrogene

Trong quá trình sinh lý bình thường, gia súc đến tuổi trưởng thành, buồng trứng đã có nang trứng phát triển ở các giai đoạn khác nhau, trong cơ thể con vật đã có sẵn một lượng nhất định về oestrogene, chính oestrogene tác

động lên trung khu vỏ đại não và ảnh hưởng đến Hypothalamus tạo điều kiện cho

sự xuất hiện và lan truyền các xung động thần kinh gây tiết GnRH chu kỳ (Gonadotropin Releasing Hormone hay là hormone giải phóng – FRH và LRH)

FRH (Folliculin Releasing Hormone) – PRH (Prolactin Releasing Hormone)

LRH (Lutein Releasing Hormone)

(FRH và LRH gọi chung là GnRH)

FRH kích thích thùy trước tuyến yên tiết Follicle Stimulating Hormone (FSH) kích tố này kích thích sự phát triển noãn nang của buồng trứng, noãn nang phát triển trứng chín, lượng oestrogene tiết ra nhiều hơn oestrogene tác

động vào các bộ phận sinh dục thứ cấp đồng thời tác động lên trung tâm Hypothalamus, vỏ đại não gây nên hiện tượng động dục LRH kích thích thùy trước tuyến yên tiết ra hormone kích thích sinh hoàng thể tố (Luteinizing Hormone) LH, LH tác động vào buồng trứng, làm trứng chín Kết hợp với FSH làm noãn bào vỡ ra và gây nên hiện tượng thải trứng, hình thành thể vàng

và FRH kích thích thùy trước tuyến yên phân tiết LTH (Luteo tropic Hormone) LTH tác động vào buồng trứng duy trì sự tồn tại của thể vàng kích thích thể vàng phân tiết progesterone

Trang 17

Progesterone tác động lên tuyến yên ức chế tuyến yên phân tiết FSH,

LH Quá trình động dục chấm dứt

Progesterone tác động vào tử cung làm cho tử cung dày lên tạo cơ sở tốt cho việc làm tổ của hợp tử – phôi lúc ban đầu (tạo sữa tử cung), nên con vật có chửa thể vàng tồn tại suốt thời gian mang thai, có nghĩa là lượng progesterone

được duy trì với nồng độ cao trong máu Nếu không có chửa thể vàng tồn tại

đến ngày thứ 15 – 17 của chu kỳ sau đó teo dần cũng có nghĩa là hàm lượng progesterone cũng giảm dần, giảm đến một mức độ nhất định nó lại cùng với một số nhân tố khác kích thích vỏ đại não, Hypothalamus, tuyến yên, lúc này tuyến yên ngừng phân tiết LTH, tăng cường phân tiết FSH, LH Chu kỳ sinh dục mới lại hình thành

Sự liên hệ giữa Hypothalamus, tuyến yên và tuyến sinh dục để điều hòa hoạt động sinh dục của gia súc cái không chỉ theo chiều thuận mà còn theo cơ chế điều hòa ngược Cơ chế điều hòa ngược đóng vai trò quan trọng trong việc giữ vững “Cân bằng nội tiết”

Lợi dụng cơ chế điều hòa ngược này mà người ta sử dụng một lượng progesterone đưa vào để điều khiển chu kỳ tính ở gia súc cái

Khi đưa một lượng progesterone vào cơ thể làm cho hàm lượng progesterone trong máu tăng lên Theo cơ chế điều hòa ngược trung khu điều khiển sinh dục ở hypothalamus bị ức chế, kìm hãm sự tiết các kích tố của tuyến yên, làm cho các bao noãn tạm thời ngừng phát triển, do đó làm cho chu

kỳ động dục tạm thời ngưng lại Sau khi kết thúc sử dụng progesterone, hàm lượng homone này trong máu sẽ giảm xuống đột ngột, sự kìm hãm được giải tỏa, trung khu điều khiển sinh dục được kích thích, kích tố FSH lại được bài tiết sẽ kích thích sự phát triển của noãn nang làm cho chu kỳ tính động dục của tất cả bò cái được xử lý trở lại hoạt động cùng một lúc Hiệu quả tác động sẽ cao hơn nếu có

sự kết hợp của một số loại hormone khác : HTNC, Oestradiol Benzoat, LH

Trang 18

2.1.3.1 Kích dục tố tuyến yên và vai trò của chúng trong sinh sản

Thuỳ trước tuyến yên tiết ra hai loại hormone đó là FSH và LH FSH (Follicle Stimulating Hormone) được tiết ra do FRH kích thích thùy trước tuyến yên, nó có tác dụng thúc đẩy noãn bao phát triển, trưởng thành và chín trong buồng trứng

LH (Luteinizing Hormone) được tiết ra do LRH kích thích thùy trước tuyến yên, LH có tác dụng thúc đẩy quá trình rụng trứng và hình thành thể vàng trong buồng trứng Ngoài ra LH còn tăng cường hoạt tính của enzime tham gia vào quá trình trao đổi gluxit, protit, LH làm giảm hàm lượng axit ascobic trong buồng trứng LH tăng cường quá trình hút glucose của tổ chức buồng trứng và tăng hàm lượng axit lactic trong chúng, làm giảm lượng Cholesterol trong buồng trứng và gây ảnh hưởng đối với hoạt tính của tổ chức

kẽ, LH đảm bảo sự tổng hợp hormone steroid trong nang trứng đã có cấu tạo phát triển (AA Xưxoep, 1975 [36] )

Các tác giả cho rằng: Sự phát triển của nang trứng và sự rụng trứng phụ thuộc vào tác động hỗn hợp FSH và LH Để duy trì tác dụng của FSH cần có mặt một lượng nhỏ LH, chính xác hơn là một lượng nhỏ oestrogene hình thành dưới ảnh hưởng của LH, thiếu oestrogene, FSH không thấm vào các tế bào hạt của noãn bao và không có khả năng kích thích noãn bao phát triển LH hoạt hóa các enzyme của quá trình tạo steroid Để đảm bảo tốt cho quá trình chín và rụng trứng thì hàm lượng hai loại hormone này phải đạt một tỷ lệ nhất

định và tỷ lệ đó theo đa số các nhà khoa học là 3 : 1 (Lê Văn Thọ, Lê Xuân Cương, 1979 [29] )

Prolactin: Có tác dụng kích thích tuyến vú và tuyến sữa phát triển, ngoài

ra trong giai đoạn đầu có thai nó giúp cho thể vàng tồn tại trong buồng trứng Một số ý kiến khác cho rằng sự tiết ra prolactin của tuyến yên thực hiện được nhờ kích thích thần kinh vùng dưới đồi thị và các phản xạ có điều kiện ở tử cung đã có thai Ngược lại nếu tử cung không có thai thì tuyến yên không tiết

ra prolactin

Trang 19

Oxytocin là loại hormone do thùy sau tuyến yên tiết ra, có tác dụng đặc biệt là kích thích sự co bóp của cơ tử cung, có thể tăng cường sự co bóp cơ tuyến sữa, cơ trơn bàng quang và cơ trơn ruột Nó còn kích thích những phản xạ khác nhau trong thời gian giao phối như tăng cường sự co bóp của đường sinh dục, đặc biệt nhất là kích thích sự chuyển động của tinh trùng

2.1.3.2 Kích tố buồng trứng, nhau thai và prostaglandin

Buồng trứng của gia súc cái ngoài chức năng tạo trứng còn tiết ra một số loại hormone như: oestrogene, progesterone

a) Oestrogene

Nơi chủ yếu tạo ra hormone oestrogene là buồng trứng, trong buồng trứng các hormone được tạo ra bởi toàn bộ các tế bào nang trứng và tổ chức

kẽ, ở động vật có chửa oestrogene được tổng hợp bởi nhau thai

Oestrogene chính là chất gây động dục, nó có ba tiểu phần chính: oestron, oestradiol và oestriol, chúng có tính chất giống nhau đều là steroid nhưng mức độ hoạt tính sinh lý khác nhau, trong 3 loại thì oestradiol có tác dụng mạnh nhất và tác dụng yếu nhất là oestriol oestradiol tồn tại dưới hai dạng đồng phân αvà β chúng khác nhau về tính chất hóa học và hoạt tính sinh học Hoạt tính sinh học lớn nhất là 17β - oestradiol, hoạt tính của nó lớn gấp

40 lần so với 17α - oestradiol và gấp 8 - 10 lần so với oestron

Công dụng của oestrogene là kích thích cơ quan sinh dục cái phát triển, làm cho tử cung tăng sinh, âm đạo phát triển và tăng tiết dịch Kích thích mở

cổ tử cung cho tinh trùng xâm nhập, làm biểu mô âm đạo tích lũy glycogen,

do đó làm tăng sức chống vi khuẩn của âm đạo Ngoài ra nó còn kích thích các tế bào tuyến vú, các ống dẫn sữa phát triển Đồng thời oestrogene còn kích thích tuyến yên tiết LH và prolactin Oestrogene được tiết ra theo chu kỳ do tác dụng điều hòa của GnRH tuyến yên

Trang 20

b) Progesterone

Sau khi bao noãn chín, tế bào trứng (noãn) cùng khối tế bào bùng nhùng

và dịch nang thoát ra ngoài, nang trứng xẹp xuống Khi nang trứng rách, có hiện tượng chảy máu, có nhiều hạt máu đọng lại trong xoang được gọi là thể xuất huyết (corpus Hemorrhagium) Thể xuất huyết được thay thế bởi thể vàng (Corpus Luteum – CL) Thể vàng được hình thành nhanh chóng do sự tăng sinh của lớp tế bào vỏ ngoài, lớp vỏ trong và lớp tế bào hạt Thể vàng có chức năng sinh sản progesterone và các progestin khác Tế bào hạt chịu trách nhiệm sinh sản progesterone trong thể vàng Thể vàng khi thành thục có

đường kính 20 - 25mm và đạt kích thước tối đa sau 10 ngày

Trong trường hợp trứng rụng mà không được thụ thai thì thể vàng bắt

đầu thoái hóa sau khi rụng trứng 14 – 15 ngày dưới tác dụng của PGF2α(được sản xuất từ vách tử cung) làm phân hủy thể vàng đồng thời ngừng tiết progesterone, bò động dục trở lại khoảng 21 ngày sau chu kỳ động dục trước, (Hoàng Kim Giao, Lưu Công Khánh, Đỗ Kim Tuyên và Cs, 1997 [11]) Nếu trứng được thụ tinh thì thể vàng tồn tại gần hết thời gian có chửa và tiếp tục tiết progesterone, ngoài ra hormone này còn được tiết ra bởi nhau thai

Progesterone là một steoid hormone có công thức cấu tạo gồm 21 carbon theo Nguyễn Xuân Tịnh và Cs [32]

Progesterone kích thích sự phát triển hơn nữa của niêm mạc tử cung, âm

đạo tích lũy nhiều glycogen ở các niêm mạc đó làm phát triển lưới mao mạch

tử cung Progesterone làm giảm tính mẫn cảm co bóp của nội mạc tử cung, tham gia vào sự chuẩn bị của nội mạc tử cung cho sự làm tổ của hợp tử, nó cũng làm tăng sinh và phát triển các bao tuyến trong tuyến vú Mặt khác progesterone còn có tác dụng ngăn chặn co bóp cơ trơn tử cung, ức chế noãn bao phát triển làm con cái không động dục và không thải trứng, ức chế tuyến yên tiết LH, progesterone là một hormone trợ thai quan trọng nhất, làm nhau thai phát triển và duy trì sự phát triển của thai

Trang 21

- Prolan A: Có tác dụng tương tự FSH và oestrogene

- Prolan B: Có tác dụng tương tự LH và progesterone

ở ngựa có chửa, nhau thai tiết khá nhiều Prolan A và một ít Prolan B hoạt tính sinh học gần giống FSH

ở phụ nữ mang thai, nhau thai tiết ra HCG (Human Chorionic gonado tropin) là một glycoprotein, hoạt tính sinh học của HCG cơ bản giống LH

d) Prostaglandin

Lần đầu tiên prostaglandin được Eiber phát hiện vào năm 1935 trong tinh dịch người, lúc đó người ta giả thiết rằng nguồn gốc của nó là từ tuyến tiền liệt (Prostata glándula) do đó mà có tên là prostaglandin, sau này nó còn

được tìm thấy ở tử cung, buồng trứng, nhau thai, nước ối, phổi, não, ruột, thận Vì vậy những năm gần đây cái tên ban đầu gần như không còn hàm nghĩa nhưng do thói quen, thuật ngữ ban đầu vẫn được sử dụng, prostaglandin là sản phẩm của các axit béo chưa no có 20 gốc carbone, công thức hóa học của prostaglandin là C20H34O5 Tùy theo cách sắp xếp khác nhau của các nguyên

tử, cách kết hợp của hai nhóm Hidroxyl và Axeton để tạo ra các prostaglandin nhóm A, B, E, F, trong các nhóm trên chỉ có PG ở nhóm E và nhóm F, đặc biệt là PGF2α có tác dụng mạnh đến hoạt động sinh dục Tác dụng chính của PGF2α là làm thoái hóa thể vàng, giảm hàm lượng progesterone trong máu, kích thích tiết gonadotropin, kích thích phát triển nang trứng gây động dục và rụng trứng PGF2αkhông có hiệu lực khi dùng cho gia súc không có thể vàng

Do đó nó ít được dùng cho gia súc nuôi con vì phần lớn những gia súc này không có khả năng động dục trước ngày thứ 50 sau khi đẻ

Trang 22

Ngày nay PGF2α và các chất đồng dạng của nó được xem là chất có tác dụng trong quá trình thoái hóa của thể vàng Chúng được dùng rộng rãi và phổ biến trong việc gây động dục đồng loạt và kế hoạch hóa trong phối giống gia súc Sử dụng PGF2α để điều chỉnh sinh sản đã được dùng rộng rãi và tổng kết bởi các tác giả như Gnaves và Cs, 1974 [47], Henrick và Cs, 1986 [48], Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương, 1997 [11]

e) Huyết thanh ngựa chửa (PMSG-Pregnant Mare Serum gonadotropin)

Huyết thanh ngựa chửa được phát hiện từ năm 1930 bởi M Cole và G Hart Khi ngựa cái mang thai, ở tế bào hình chén của nội mạc tử cung tiết dịch từ ngày chửa 45 – 90 Các tế bào này tăng dần về kích thước bao bọc thai như một lớp màng đệm Lớp màng nổi rõ lên, trong chứa dịch, đến kích thước nhất định tế bào hình chén vỡ ra, thoái hoá, tiêu biến dần đi giải phóng ra dịch dính hấp thụ vào máu Thời gian HTNC có hoạt tính từ ngày thứ 40 – 60 ở ngựa chửa, cao nhất khi ngựa có chửa 90 – 120 ngày Hoạt tính của HTNC tăng dần đến cực đại từ 80 – 280 đơn vị chuột/ ml thuyết thanh trong khoảng

từ 60 – 100 ngày có chửa sau đó giảm dần (có trường hợp mất hẳn ở 150 ngày

có chửa) Huyết thanh ngựa chửa là một glycoprotein trong đó có các hexose, hexosamin, axit xacilic với tổng số gluxit là 41,4 gluxit/100 gram glucoprotein cao hơn tổng số gluxit của FSH và LH/100 gram glucoprotein tương ứng khoảng 25,4 và 24,2 Các tác giả đã chứng minh được hoạt tính hai mặt của HTNC vừa giống FSH vừa giống LH, cả hai hoạt tính này đều do tiểu

đơn vị β của HTNC đảm nhận Mặt khác do HTNC có đời sống bán phân (Half life) dài, trên 6 ngày, dài hơn kích dục tố tuyến yên và kích dục tố nhau thai nên nó được ứng dụng rộng rãi để kích thích chức năng sinh sản của gia súc cái như FSH kích thích sinh trưởng và phát triển của bao noãn, gây rụng trứng và hình thành thể vàng, HTNC làm tăng nhanh sự sinh trưởng và chín của tế bào trứng và gây rụng trứng, làm tăng biểu hiện động dục tạo điều kiện cho sự thụ tinh – HTNC có tác dụng nhất đối với trâu bò cái bị nhược năng buồng trứng, mất tính dục, có chu kỳ động dục nhưng không rụng trứng

Trang 23

Sơ đồ Hypothalamus điều khiển hoạt động hệ nội tiết:

(1): Sự điều khiển ngược vòng dài (Long feedback) (2): Sự điều khiển ngược vòng ngắn (Short feedback) (3): Sự điều khiển ngược cực ngắn (Ultra – Short feedback)

2.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản

2.1.4.1 Di truyền (nhân tố bên trong)

Các tính trạng sinh sản thường có hệ số di truyền (h2) rất thấp ở bò hệ

số di truyền về khoảng cách giữa 2 lứa đẻ có h2 = 0,05 – 0,10 , khả năng đẻ sinh đôi = 0,08 – 0,10 và độ dài thời gian sử dụng bò có h2 = 0,15 – 0,2 Các phát hiện này giúp cho ngành chăn nuôi không đầu tư vào những khâu ít sinh lợi Hầu hết các biến đổi quan trọng quan sát thấy về khả năng sinh sản đều do

ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh Nhìn chung những nghiên cứu về gen

ảnh hưởng đến sinh sản chưa được đề cập đến nhiều, mặc dù gen ảnh hưởng

đến sinh sản bằng 3 con đường:

- Có thể những gen gây chết, nửa gây chết, làm trứng không thụ tinh rồi chết

Trang 24

- Do rối loạn nội tiết di truyền làm ảnh hưởng đến các hormone hướng sinh dục, từ đó gây ảnh hưởng đến sinh sản

- Các gen hoạt động chi phối đến sinh sản có những chênh lệch khác nhau (do tác động của môi trường) Sự chênh lệch cộng gộp đó có thể làm kém sinh sản hoặc gây chết

đã tiến hành thí nghiệm ở bò Holstein Friesian với mức dinh dưỡng 140% và 60% so với tiêu chuẩn Tuổi động dục lần đầu tương ứng là 8,5 và 16,6 tháng

Bò trưởng thành được nuôi với mức dinh dưỡng cao có thể dẫn tới sự tích mỡ trong cơ thể, mỡ bao bọc buồng trứng và cố định hormone cũng dẫn đến sinh sản thấp Trong trường hợp nuôi dưỡng bò ở mức dinh dưỡng thấp, chức năng sinh sản bị kìm hãm Như vậy cần xác định mức dinh dưỡng phù hợp và điều chỉnh sao cho khẩu phần được cân đối về protein, các axit amin, đường, khoáng và vitamin cho gia súc trong từng giai đoạn cụ thể Khẩu phần ăn thiếu khoáng hoặc vi lượng cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của trứng, gây rối loạn sinh sản và ức chế động dục, nhất là thiếu phốt pho Bò cái thường thiếu phốt pho do việc cung cấp cho nhu cầu tiết sữa Buồng trứng những con này nhỏ lại, sau khi đẻ thường chỉ động dục một lần, nếu không phối kịp thời thì sau cai sữa mới động dục lại

Kẽm (Zn) tham gia kích thích sự chuyển hóa caroten thành vitamin A,

sự thiếu hụt kẽm diễn ra cùng với sự thiếu hụt vitamin A trong cơ thể, niêm mạc mắt, niêm mạc ruột và niêm mạc đường sinh dục có hiện tượng sừng hóa, hợp tử khó làm tổ, khó bám ở sừng tử cung, kẽm và phốt pho có ảnh hưởng

đến sự sản sinh hormone sinh dục Khi thiếu những nguyên tố này buồng trứng thường nhỏ lại Một lượng kẽm đầy đủ sẽ làm tăng độ mắn đẻ và làm giảm tỷ lệ chết của phôi (Nguyễn Trọng Tiến và Cs, 1991 [31] )

Trang 25

Số lượng những nguyên tố khác nhau tham gia vào thành phần cơ thể

động vật dao động trong phạm vi rộng Những loại có mặt trong cơ thể bằng

10 – 20% được gọi nguyên tố đa lượng, dưới 10 – 5% là các nguyên tố vi lượng, ít hơn 10 – 15% là các nguyên tố siêu vi lượng Người ta cũng nghiên cứu vai trò của magiê, sắt, đồng, coban, mangan, iod cũng như canxi, photpho, natri, kali và một số nguyên tố khác trong các quá trình sinh sản ở động vật Magiê tham gia vào quá trình co bóp của cơ trơn, cơ vân Thiếu magiê nội bào làm giảm hoạt tính bắp thịt, từ đó làm kéo dài quá trình đẻ của gia súc, nhau chậm ra, sinh viêm tử cung dẫn đến chậm sinh

Đồng và sắt trong cơ thể nằm ở những liên kết chức năng Đồng giúp hấp thụ sắt và sinh tổng hợp hemoglobin tham gia vào chuyển hóa sắc tố điều tiết chức phận lông, da Những hợp nhất của đồng kích thích trung tâm sinh dục bằng cách thay đổi hoạt lực oxytocin máu và bảo đảm một biểu hiện động dục hoàn chỉnh

Khi thiếu mangan, sự thành thục về tính dục bò chậm, có những chu kỳ không rụng trứng Do đó ở động vật chửa có thể chết thai trong bụng, đẻ con chết hoặc thai sinh ra sức sống kém (Nguyễn Trọng Tiến và Cs, 1991 [31] )

b) Thời tiết khí hậu

Những yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến chức năng sinh sản của động vật là độ dài thời gian chiếu sáng, nhiệt độ không khí và độ ẩm không khí Thí nghiệm thời gian chiếu sáng kéo dài trong ngày bằng phương pháp nhân tạo

có tác dụng kích thích rõ rệt chức năng sinh sản và làm thay đổi mùa sinh dục

ở thú cho lông và đẻ trứng ở gia cầm Sinh sản theo mùa thể hiện rõ rệt ở động vật hoang dã và một số loài gia súc như cừu, trâu, ngựa Đó là quãng thời gian trong năm đưa lại nhiều điều kiện thuận lợi cho đời sống sinh sản Đối với bò, nếu được nuôi dưỡng phù hợp, đảm bảo thức ăn đủ số lượng, chất lượng, chu

kỳ động dục xuất hiện bất kỳ thời gian nào trong năm Ngoài những yếu tố kể trên, các rối loạn chức năng sinh sản và bệnh sản khoa ở bò cái cũng dẫn đến năng suất sinh sản giảm thấp Vào những năm 1952 – 1953 các công trình

Trang 26

nghiên cứu đầu tiên về vấn đề vô sinh ở bò đã được thực hiện trên 20.000 con

ở ấn Độ Kết quả nghiên cứu cho biết các trường hợp vô sinh ở bò nhiều hơn ở trâu Toàn bộ những gia súc được theo dõi chuẩn đoán vô sinh gồm 711 bò cái, 280 bò tơ, 242 trâu cái và 58 trâu tơ các trường hợp vô sinh theo các nhóm khác nhau cho thấy: Các cơ quan sinh dục không phát triển chiếm 13,79% ở trâu cái tơ và 19,64% ở bò tơ Trong số những con cái trưởng thành khoảng cách dài từ khi đẻ đến khi động dục lại là yếu tố chính trong vô sinh, 38% ở trâu cái trưởng thành và 44% bò cái trưởng thành có buồng trứng không phát triển đủ chức năng Viêm cổ tử cung ở trâu 9% , ở bò 16%

c) Tổ chức phối giống

Là một khâu quan trọng có ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai và đẻ của gia súc cái Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng: Sau khi giao phối hoặc thụ tinh nhân tạo từ 3 – 4 giờ tinh trùng trong đường sinh dục của bò cái đã di chuyển đến ống dẫn trứng và giữ khả năng thụ tinh trong vòng 20 – 30 giờ ( Xưxoep A.A, 1975 [36] )

Theo Paplop V.A (1976) [37], Sipilop V.S (1967) [38] cho rằng thời gian di chuyển của trứng từ khi rụng đến vị trí thụ tinh trong khoảng vài giờ Thời điểm rụng trứng của bò cái nằm trong khoảng 10 – 15 giờ sau khi kết thúc động dục Nên cần chọn thời gian phối phù hợp để đạt tỷ lệ thụ thai cao

2.2 Hiện tượng rối loạn sinh sản, các phương pháp khắc phục hiện tượng rối loạn sinh sản ở gia súc cái theo các tác giả trong và ngoài nước

2.2.1 Nguyên nhân gây ra hiện tượng rối loạn sinh sản

Gia súc cái đến tuổi sinh sản và sau khi đẻ xong đến thời kỳ hưng phấn

và động dục nhưng không thấy xuất hiện chu kỳ động dục hoặc xuất hiện các trạng thái bệnh lý trong quá trình sinh lý sinh dục được gọi là hiện tượng rối loạn sinh sản Đây là một nguyên nhân chủ yếu làm giảm tỷ lệ sinh đẻ ở đàn gia súc, hạn chế tốc độ gia tăng đàn gia súc, gây tổn thất về kinh tế trong chăn nuôi Có nhiều quan điểm khác nhau về hiện tượng rối loạn sinh sản Nhìn

Trang 27

chung, các tác giả chia hiện tượng rối loạn sinh sản ở trâu, bò cái ra thành 3 loại sau:

- Trâu, bò cái chậm sinh: Là những trâu bò cái tơ từ 18 - 24 tháng tuổi chưa động dục, trâu, bò cái sau khi đẻ từ 4 - 6 tháng không động dục, trâu bò cái phối giống từ 2 - 3 chu kỳ không thụ thai

- Trâu, bò cái vô sinh tạm thời: Là những trâu, bò cái tơ quá 24 tháng tuổi chưa động dục, trâu, bò cái phối giống trên 4 chu kỳ không thụ thai, sở dĩ gọi là tạm thời vì nếu được tác động thì chúng có thể trở lại sinh sản bình thường

- Trâu, bò cái vô sinh tuyệt đối hay còn gọi là tuyệt sinh, là những trâu,

bò cái vô sinh tạm thời sau khi đã được tác động lại chúng vẫn không trở lại sinh sản được, ngoài ra có thể là do những rối loạn bẩm sinh hoặc do di truyền

mà dẫn tới tuyệt sinh

Biểu hiện của hiện tượng chậm sinh, vô sinh ở trâu, bò cái thường là chậm thành thục tính, chậm động dục lại sau đẻ, phối giống nhiều lần không thụ thai hay là động dục liên tục, mất chu kỳ sinh dục

Theo A.I Tazaxevit nguyên nhân gây ra hiện tượng rối loạn sinh sản bao gồm:

+ Các yếu tố liên quan đến độ tuổi, hệ nội tiết, hệ thần kinh hoạt động tuyến sữa, các bệnh ký sinh trùng và truyền nhiễm

+ Các trường hợp rối loạn chức năng, thoái hóa các bộ phận của cơ quan sinh dục đặc biệt ở buồng trứng, tồn lưu thể vàng, rối loạn chu kỳ sinh dục, những dị tật về tử cung và các bộ phận sinh dục khác

+ Các trường hợp do thức ăn, dinh dưỡng, điều kiện chăm sóc, các trường hợp này chủ yếu gây rối loạn trao đổi chất đặc biệt là vitamin, khoáng

đa lượng và vi lượng

Nguyên nhân gây hiện tượng rối loạn sinh sản ở gia súc được A.P Studenxop chia thành 7 dạng:

Trang 28

+ Các bệnh bẩm sinh (các dị tật về cơ quan sinh dục cái và đực)

+ Các bệnh gây thoái hóa và nhược năng cơ quan sinh dục

+ Bệnh do dinh dưỡng, thức ăn, do suy nhược cơ thể quá béo, quá gầy, khẩu phần thức ăn không đủ chất lượng

+ Do phương pháp khai thác, sử dụng gia súc không hợp lý

+ Do điều kiện thời tiết khí hậu

+ Do đực giống

+ Do các yếu tố nhân tạo, không đảm bảo đúng nguyên tắc kỹ thuật theo các khâu xử lý, bảo quản, chuyên chở, sử dụng tinh dịch và phương pháp tiến hành thụ tinh nhân tạo

2.2.2.Các phương pháp khắc phục hiện tượng rối loạn sinh sản:

Có nhiều phương pháp để khắc phục hiện tượng rối loạn sinh sản, nguyên tắc điều trị của bất kỳ phương pháp nào cũng đảm bảo 2 yêu cầu:

- Hồi phục khả năng sinh sản cho gia súc

- Bảo toàn đàn gia súc về khả năng khắc phục và sử dụng chúng

Để đảm bảo việc điều trị có kết quả khâu chẩn đoán phải chính xác, can thiệp kịp thời cũng như việc lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp có ý nghĩa quan trọng Có thể dùng các biện pháp sau để khắc phục hiện tượng rối loạn sinh sản:

* Tổ chức liệu pháp: Được áp dụng khá rộng rãi để điều trị các bệnh sinh sản gia súc, đặc biệt đối với các trường hợp rối loạn hoạt động của tử cung sau khi đẻ, nhược năng tử cung, rối loạn chức năng buồng trứng

* Auto sang liệu pháp: Là phương pháp sử dụng máu tự thân tiêm dưới

da hoặc tiêm bắp, cơ chế tác dụng và các chỉ định của Auto sang liệu pháp tương tự như tổ chức liệu pháp

* Icthyol liệu pháp:

Ichthyol có tác dụng gây co mạch, chống viêm, giảm đau, thúc đẩy quá trình hồi phục tổ chức, thường dùng Ichthyol dưới dạng 7 - 10%tiêm bắp hoặc pha nồng độ 2- 4% để thụt rửa đường sinh dục

Trang 29

Theo Gontratrov thì Ichthyol liệu pháp sử dụng điều trị các chứng viêm tử cung kích thích quá trình hồi phục tử cung sau thời kỳ hậu sản có hiệu quả cao

* Vitamin liệu pháp: Kích thích các phản ứng miễn dịch của cơ thể, thúc đẩy quá trình tái sinh, hồi phục tử cung, buồng trứng Các vitamin thường dùng là vitamin thuộc nhóm A, D, E

* Novocain liệu pháp là liệu pháp sinh bệnh học có tác dụng rất rõ rệt trong điều trị các chứng viêm cấp, các trường hợp rối loạn trương lực cơ của các

bộ phận cơ quan sinh dục, nó kích thích các phản ứng tự vệ thích nghi, cải thiện tuần hoàn máu cục bộ, tăng cường trao đổi chất, thúc đẩy quá trình tái sinh hồi phục và điều hòa chức năng nội tiết Tùy theo từng trường hợp bệnh lý trên cơ quan sinh dục, ta có thể áp dụng nhiều phương pháp Novocain liệu pháp

+ Trong trường hợp sát nhau, mất trương lực tử cung, các chứng viêm tử cung thường tiến hành phong bế Novocain cạnh thân

+ Phong bế đốt hông khum chỉ định trong các trường hợp để giảm co thắt dạ con, tạo giãn nở khum chậu, giãn nở cổ tử cung

* Nguyên nhân liệu pháp:

Là tập hợp các phương pháp điều trị bệnh đường sinh dục theo cơ chế

điều trị nguyên nhân gây bệnh Trong nguyên nhân liệu pháp thường sử dụng các loại kháng sinh, các chế phẩm hóa trị liệu, các loại thuốc sát trùng Các dạng thuốc này có tác dụng ức chế tiêu diệt vi khuẩn gây quá trình viêm nhiễm các bộ phận của cơ quan sinh dục dẫn đến chậm sinh, vô sinh

* Phương pháp điều trị ngoại khoa:

Có thể dùng một số thủ thuật ngoại khoa để phá vỡ thể vàng, phá vỡ hoặc chọc dò u nang buồng trứng, cắt bỏ hoàn toàn hoặc một phần đối với trường hợp u nang buồng trứng

* Hormone liệu pháp:

Là biện pháp sử dụng các chế phẩm hormone tự nhiên hay tổng hợp Cơ chế tác dụng của hormone liệu pháp dựa trên cơ sở thay thế kích thích và triệu chứng liệu pháp Nhiều hormone có thể sử dụng để khắc phục hiện tượng rối loạn sinh sản như những chế phẩm hormone thuộc nhóm oestrogene (Syoestrol, Folicullin, Estrograndon, Estroginol ) Các chế phẩm thuộc thuỳ

Trang 30

sau tuyến yên như oxytoxin, Gipotoxin Các chế phẩm oestrogene dùng điều trị các bệnh sát nhau, xơ hóa tử cung, giảm hoặc mất trương lực cơ tử cung và một

số trường hợp thiểu năng buồng trứng

a) Khắc phục hiện lượng rối loạn sinh sản bằng hormone GnRH (Gonadotropin Releasing Hormone = Hormone giải phóng kích dục tố)

Đây là chế phẩm tổng hợp tương tự như hormone do trung khu Hypothalamus tiết ra, có tác dụng kích thích thùy trước tuyến yên tiết FSH và

LH Trong một số trường hợp, do một số nguyên nhân nào đó lượng GnRH tiết không đủ, chức năng của tuyến yên hoạt động không bình thường nên rất cần được bổ sung hormone này GnRH thường được sử dụng trong một số trường hợp sau ở bò:

+ Đối với bò có buồng trứng kém phát triển và u nang buồng trứng

Ngày

GnRH PGF2α GnRH Phối giống

Ngày 0 chính là ngày đầu tiên tiêm GnRH

+ Đối với bò động dục thầm lặng, không rõ hoặc động dục nhưng phối giống nhiều lần không chửa

Ngày động dục GnRH Động dục phối giống

Theo Thatcher và cộng sự (1993), khi tiêm GnRH 12 – 14 ngày sau đẻ

có thể giảm nguy cơ u nang buồng trứng và giảm khoảng cách từ lúc đẻ đến lúc có chửa

Theo các tác giả Tăng Xuân Lưu, Phan Văn Kiểm, Trần Thị Loan, Ngô

Đình Tân, 2003 [21] đối với bò động dục không rõ hoặc động dục không rụng trứng dùng GnRH tiêm liều 100 mg/con theo sơ đồ:

Trang 31

5 7 10 18 19 21

Thụt lugol 0,1 - 0,2% 100mg GnRH

Tiêm oxytoxin 40 UI/lần

Cho tỷ lệ động dục 100% và tỷ lệ có chửa qua hai kỳ phối giống đạt 78,5%

b) Khắc phục hiện tượng rối loạn sinh sản bằng chế phẩm gonadotropin: Dựa trên nguyên lý kích thích trực tiếp đến hoạt động của buồng trứng cũng như kích thích gián tiếp thông qua hoạt động tiết gonadotropin của tuyến yên các chế phẩm gonadotropin được sử dụng rộng rãi để khắc phục vô sinh ở trâu, bò cái Các chế phẩm thường dùng là HTNC, Gravohormone, HCG… HTNC do H Cole và G.Hart phát hiện ra vào năm 1930 trong huyết thanh của ngựa cái có chửa, nó được tiết ra bởi các tế bào hình chén (Trophoblast) của nội mạc tử cung ngựa cái

Đặc điểm: HTNC là loại dung dịch trong màu vàng nhạt, trong một số trường hợp có màu hơi đỏ có khi hơi lắng cặn do sự kết tủa của các protein khi lắc tạo hỗn dịch màu vàng nhạt

Hoạt tính: Được tính theo đơn vị chuột, mỗi đơn vị chuột được xác định bởi số lượng huyết thanh tiêm dưới da cho chuột bạch ở độ tuổi chưa thành thục (20 – 28 ngày trọng lượng 6 – 8 gr) gây hiện tượng phát phì dạ con, cổ tử cung mở, âm đạo có những phản ứng của động dục với tỷ lệ 50%

Tác dụng: Nhờ có hai loại hormone FSH và LH, chủ yếu là FSH sẽ kích thích sinh trưởng và phát triển bao noãn, gây rụng trứng và hình thành thể vàng HTNC làm tăng nhanh sự sinh trưởng, chín của tế bào trứng và rụng trứng, làm tăng biểu hiện động dục, tạo điều kiện cho sự thụ tinh, HTNC có hiệu quả nhất đối với trâu, bò cái bị nhược năng buồng trứng, mất tính dục, có chu kỳ động dục nhưng không rụng trứng

Trang 32

HTNC dùng trên trâu bò cái với liều từ 10 – 15 đvc/kg thể trọng, tiêm dưới da Có thể tiêm cho gia súc hai lần nhưng lần hai không được sớm hơn 21 ngày sau khi tiêm lần một Trước khi tiêm lần hai từ 1 – 2 giờ thì tiêm 1 – 2

ml sau đó mới tiêm nốt liều còn lại để tránh phản ứng quá mẫn

Để tránh phản ứng quá mẫn người ta tinh chế HTNC thành Gravohormone, loại bỏ các protein không cần thiết trong HTNC Tác động sinh

lý của Gravohormone giống như HTNC nhưng tránh được phản ứng quá mẫn

- HCG: Kích tố nhau thai người (Human Chorionic Gonadotropin): Chế phẩm này được thu từ nước tiểu của phụ nữ có thai HCG được sinh

ra từ tế bào Langerhans của màng đệm nhau thai Bắt đầu từ ngày chửa 40 –

70 tế bào Langerhans tiết dịch và được bài tiết qua nước tiểu Do tỷ lệ LH trong kích tố này cao hơn FSH và nó có tác dụng như LH ở thùy trước tuyến yên do đó thúc đẩy sự rụng trứng và phát triển thể vàng

HCG được sử dụng trong trường hợp nhược năng buồng trứng, u nang buồng trứng, động dục liên tục ở trâu bò Kích thích rụng trứng, tăng sinh sản HCG được sản xuất dưới dạng đông khô hoặc bột kết tinh màu trắng nhạt, ở nước ta chế phẩm HCG được viện quân y 103 sản xuất ở dạng đông khô chứa

5000 – 10.000 UI/ lọ Công ty nuôi trồng thủy sản TƯ cũng sản xuất HCG dưới dạng đông khô chứa từ 2000 – 20.000 UI/lọ

Đã có nhiều tác giả nghiên cứu sử dụng HTNC và HCG trên đàn trâu,

bò cái chậm sinh

Lê Xuân Cương, Lê Văn Thọ [29] đã nghiên cứu sử dụng HTNC và HCG trên đàn bò chậm sinh sản ở nông trường Phù Đổng HTNC được tiêm với liều 15 đvc/kg thể trọng Một số bò cái khác được tiêm thêm HCG với liều

1500 UI/ con, kết quả là nhóm bò cái cơ bản có tỷ lệ động dục 88,1% , thụ thai 67,5% Bò cái tơ động dục 86,6% và thụ thai 61,1% ở số bò được tiêm kết hợp HTNC với HCG cho kết quả cao hơn, tỷ lệ động dục từ 89 – 95% , tỷ

lệ thụ thai đạt 70,7 – 77,7% Các tác giả cho biết chu kỳ sinh dục của bò được

Trang 33

tiêm HTNC và HCG thể hiện như sinh lý bình thường, thời gian bắt đầu động dục sau khi xử lý trung bình là 5,1 ngày (dao động từ 2 – 10 ngày)

Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Văn Thiện (1995) [2] đã sử dụng huyết thanh ngựa chửa cho bò sữa sinh sản và bò tơ đạt tỷ lệ động dục tương ứng là 76,75% , 72,94% , tỷ lệ thụ thai là 76,05% và 73,38% Lavadopxki (1944) sử dụng HTNC tiêm vào ngày 16 – 18 của chu kỳ động dục gây được bò đẻ sinh

đôi, ông đã thu được 135 bê/200 bò cái, tỷ lệ sinh đôi là 26%, sinh ba là 5% Kostor (1982) sử dụng HTNC kết hợp với PGF2α ,thu được tỷ lệ sinh đôi là 34% Các nhà chăn nuôi Bắc Ai Len (Trexenkov, 1987) đã dùng HTNC kết hợp PGF2α tiêm cho bò thu được tỷ lệ bò sinh đôi là 40% (dt Hoàng Kim Giao – Nguyễn Thanh Dương, 1997 [11] )

c) Khắc phục hiện tượng rối loạn sinh sản bằng progesterone phối hợp chế phẩm gonadotropin, progesterone là hormone thể vàng Chế phẩm hormone tự nhiên ở dạng bột kết tinh màu trắng, không tan trong nước, chỉ tan trong rượu, ether, clorofor, tan ít trong dầu Sản xuất ở dạng dung dịch dầu nồng độ 1 và 2,5% (10 và 25 mg/ ml, 1 mg = 1 UI)

Nguyên lý của phương pháp là khi tiêm progesterone sẽ làm teo nhỏ thể vàng, kích thích tuyến yên tiết FSH, làm phát triển bao noãn Sau khi progeste rone hết tác dụng, tuyến yên sẽ tiết gonadotropin với số lượng lớn Kết hợp với việc tiêm chế phẩm gonadotropin bổ sung sẽ làm bao noãn chín và rụng trứng, con vật sẽ động dục và thụ thai Phương pháp này rất hiệu quả khi điều trị thể vàng tồn lưu, u nang buồng trứng, nhược năng buồng trứng

Perez Garcia (1994) đã tiêm 3 lần progesterone cho 40 bò cái hướng thịt vào các ngày 1 – 4 – 7 mỗi lần 100 mg, ngày thứ 9 tiêm HTNC 1500 UI/con Kết quả sau khi tiêm 4 ngày có 90% số bò động dục (36 con), tỷ lệ thụ thai sau 2 kỳ phối giống là 80%

Sử dụng progesterone gây động dục ở bò có nhiều phác đồ điều trị và liều lượng khác nhau Có thể dùng riêng biệt hoặc kết hợp với HTNC và HCG

Trang 34

Hoàng Kim Giao và Nguyễn Thanh Dương, 1997 [11] đã sử dụng các phác đồ sau đạt hiệu quả cao:

-Tiêm cho bò progesterone vào các ngày 1 - 3 và 5 với liều tương ứng là

30 mg, 50 mg, 75 mg Ngày thứ 7 tiêm HTNC 1500 – 1800 đvc/con, ngày 9 -

10 bò động dục và phối giống

-Tiêm progesterone vào các ngày 1 - 4 và 7 với liều tương ứng là 30 mg,

60 mg, 90 mg, ngày thứ 9 tiêm HTNC liều 1500 – 1800 đvc/con, ngày thứ 11 – 12 bò động dục và phối giống

Có thể dùng progesterone với HCG, sự phối hợp của hai hormone này

có kết quả tốt nhất khi điều trị u nang buồng trứng

Các chế phẩm có thể dùng ở nhiều dạng khác nhau của progesterone như dạng nước để tiêm, dạng bột trộn vào thức ăn cho bò ăn hàng ngày hoặc tẩm vào bọt biển rồi đặt vào âm đạo 10 – 12 ngày, ngày cuối cùng lấy ra tiêm HTNC cũng gây cho bò động dục hàng loạt Nhưng cũng có thể sử dụng các dụng cụ đặt vào âm đạo để bổ sung progesterone Các dụng cụ đặt âm đạo có thể là:

- PRID (Progesterone Releasing Intravaginal Device)

- CIDR (Controlled Internal Drug Released)

- Crestar (Norguestomet + Oestradiol)

* PRID là dụng cụ đặt âm đạo có cấu tạo bằng chất dẻo Silicone dạng vòng xoắn, có chứa hai loại hormone là progesterone và Oestradiol Benzoat Trong mỗi vòng xoắn chứa 1,55 gr progesterone và 10 mg Oestradiol Benzoat Sau khi đặt PRID vào âm đạo, hai hormone này sẽ được tiết ra và thấm dần qua niêm mạc của âm đạo vào hệ thống tuần hoàn Tác dụng của nó tương tự thể vàng, điều hòa chu kỳ sinh dục của con vật, nếu lấy dụng cụ ra 12 ngày sau khi đặt thì gia súc cái sẽ động dục sau 48 giờ Theo tác giả Valheim (1996) [56] Khi đặt PRID cho 120 bò cái, sau 12 ngày lấy PRID ra, có tới 118 con bò cái động dục đạt tỷ lệ 98,3% và 75 con thụ thai sau 1 - 2 lần thụ tinh

đạt 63,6%

Trang 35

Theo Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương, 1997 [11] đặt PRID trong vòng 12 ngày khi rút có tiêm hoặc không tiêm thêm 250 - 600 UI PMSG

đạt tỷ lệ thụ thai là 55 - 65% tương ứng với động dục tự nhiên qua thụ tinh nhân tạo ở chu kỳ đầu là 60 - 65%

Trịnh Quang Phong, 1996 [25] cho biết tỷ lệ bò động dục sau khi sử dụng Prid là 82% , tỷ lệ có thai là 75%

+ CIDR: Là dụng cụ đặt trong âm đạo được làm bằng hỗn hợp cao su và silicone có dạng chữ Y hoặc chữ T Trong mỗi dụng cụ chứa 1,9 gr progesterone tự nhiên, có thể dùng riêng CIRD hoặc kết hợp với PMSG, PGf2α hoặc Cidirol, Oestradiol Benzoat) để kích thích động dục cho bò, được dùng trong việc điều khiển chu kỳ động dục của bò nói chung và của bò nhận phôi nói riêng

Theo Tăng Xuân Lưu, Cù Xuân Dần và cs, 2001 [20] dùng CIDR đặt cho 2 nhóm bò:

- Bò cái sinh sản sau khi đẻ chậm động dục

- Bò cái tơ đã đến tuổi sinh sản mà vẫn chưa động dục đã thu được kết quả sau:

Đối với nhóm bò cái sinh sản: Tỷ lệ động dục đạt 82,14% , tỷ lệ phối giống có chửa là 65,21% Đối với nhóm bò cái tơ, tỷ lệ động dục đạt 75%, tỷ

lệ phối giống có chửa là 61,9%

Thời gian động dục tập trung vào 48 – 72 giờ sau khi rút dụng cụ đặt, các tác giả cho biết tỷ lệ động dục ở bò cái sinh sản cao hơn bò tơ là 19,48%,

tỷ lệ thụ thai ở bò cái sinh sản cao hơn bò tơ là 26,14% Theo Công ty nghiên cứu bò sữa của Newzealand (DRC) khi đặt CIDR cho bò đã sinh sản đạt tỷ lệ

động dục từ 1 – 14 ngày sau khi rút dụng cụ đặt âm đạo là 95% (1994) và 89% (1995) và kết quả có chửa sau lần đầu phối giống là 48 – 47%

*Sử dụng CRESTAR: Là một dụng cụ cấy dưới da tai thành phần của

nó có chứa 3mg Norguestomet và 5 mg Oestradiol Valerate CRESTAR đưa hormone vào cơ thể giải phóng progesterone một cách từ từ (Norguestomet)

Trang 36

kết hợp với tiêm một liều 50 UI PMSG để tăng đột ngột hàm lượng progesterone và oestrogene trong máu ngay từ đầu

Theo Nguyễn Xuân Trạch, 1996 [33] khi dùng CRESTAR cho 104 bò thịt giống Angus tại Australia thì thu được kết quả như sau: Tỷ lệ bò động dục

đạt 52,6% , tỷ lệ có chửa/số lần động dục đạt 54,8% Theo Anderson và cộng

sự, (1996) khi điều trị bằng cấy dưới da Norguestomet sẽ gây 75% bò cái tơ

10 tháng tuổi thành thục tính trong vòng 10 ngày sau khi loại bỏ Norguestomet Một số công trình nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng oestrogene

có vai trò quan trọng trong việc gây thành thục về tính

d) Khắc phục hiện tượng rối loạn sinh sản bằng các chế phẩm PGF2αProstaglandin có tác dụng phân hủy thể vàng kích thích sinh trưởng phát triển bao noãn, kích thích tiết GnRH, FSH, LH gây rụng trứng vì vậy các chế phẩm PGF2α được sử dụng rộng rãi trong điều trị vô sinh và chậm sinh do thể vàng tồn lưu, điều trị u nang buồng trứng, động dục ngầm, phối giống nhiều lần không chửa

Do PGF2α tự nhiên bị phân hủy rất nhanh và giá thành sản xuất cao cho nên các nhà sản xuất đã làm ra các chế phẩm có tác dụng tương tự PGF2α tự nhiên nhưng có tác dụng mạnh hơn, thời gian phân hủy lâu hơn PGF2α tự nhiên

Có rất nhiều chế phẩm PGF2α tổng hợp, các chế phẩm PGF2α hay dùng

là Oestrophan, Enzaprost , Estrumate Sau khi xử lý bằng chế phẩm PGF2α thì thể vàng chức năng nhanh chóng bị phân hủy dẫn tới hàm lượng progestorone trong máu giảm nhanh so với trong điều kiện tự nhiên (Hàm lượng progesterone trong điều kiện tự nhiên bắt đầu giảm sau khi prostaglandin được phân tiết từ 3 - 6 giờ và thể vàng bị phân hủy hoàn toàn trong vòng từ 24 - 48 giờ) Nồng độ progesterone trong máu giảm đi làm trung tâm điều khiển sinh dục ở Hypothalamus được giải phóng sẽ tiết GnRH, hormone này kích thích tuyến yên phân tiết gonadotropin (FSH, LH) làm bao noãn chín và rụng trứng Nếu cùng lúc xử lý trên nhiều gia súc cái, chúng sẽ

động dục đồng loạt

Trang 37

Sử dụng prostaglandin điều khiển sinh sản đã được ứng dụng rộng rãi và

được tổng kết bởi các tác giả Gnaves, 1974 [47], Henricks, 1978 [48] , Louis,

1972 [51] Liều lượng của PGF2α và cách sử dụng theo các tác giả trên, phụ thuộc vào bản chất hóa học của PGF2α, trạng thái sinh lý của gia súc cái và giai đoạn của chu kỳ động dục Theo Tervit (1973) [55], khi tiêm PGF2α vào ngày 1 – 4 của chu kỳ động dục không ảnh hưởng gì đến thể vàng Nhưng tiêm vào giai đoạn từ 5 – 17 ngày của chu kỳ sinh dục đều có tác dụng tốt cho việc thoái hóa thể vàng Tác giả nhận xét rằng ở hầu hết các thí nghiệm, gia súc đều động dục sau khi tiêm PGF2α 3 ngày

Agarwal,1978 [39] nghiên cứu trên bò lai cho biết: Sau khi tiêm PGF2α

bò động dục 100% Thời gian từ khi tiêm đến khi xuất hiện động dục là 48 –

96 giờ, kể cả tiêm 1 lần hay 2 lần cách nhau 11 ngày Tác giả cho rằng phương pháp này gây động dục đồng loạt phù hợp cho việc chủ động thực hiện kế hoạch phối giống Tương tự như vậy, Busse.T, 1995 [42] dùng chất tương đương PGF2α tiêm cho bò từ hai lần cách nhau 11 ngày, sau khi tiêm lần thứ hai 60 giờ đã có 87,2% bò động dục

Cooper,1987 [44] cho biết gây động dục đồng loạt cho bò tơ bằng PGF2αtiêm hai lần khoảng cách 12 ngày (ở giai đoạn từ 5 ngày đến 17 ngày của chu kỳ sinh dục) , bò động dục sau khi tiêm lần hai từ 48 – 96 giờ

Đối với bò cái tơ, Bor ,1986 [40] cho biết chỉ cần tiêm một liều PGF2α

đối với bò cái tơ đã có kết quả rất tốt về động dục với khoảng cách từ khi tiêm

đến khi động dục là 48 – 72 giờ và tỷ lệ có chửa đạt 70% Kết quả tương tự như vậy đã được các tác giả Dhoble và Gupta,1987 [45 ] khẳng định Các tác giả này cho biết sử dụng PGF2α và các chất đồng dạng của nó có tác dụng rất tốt trong gây động dục đồng loạt, gây rụng trứng, làm giảm khoảng cách lứa

đẻ và nâng cao hiệu quả sinh sản ở bò cái

Theo Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương,1997 [11] đối với những

bò sinh sản bình thường có thể rút ngắn khoảng cách lứa đẻ bằng cách tiêm

Trang 38

PGF2α Nhiều tác giả đã sử dụng PGF2α tiêm cho bò cái có thể vàng bệnh lý tồn lưu Nguyến Tấn Anh, Nguyễn Thiện,1995 [2] đã sử dụng PGF2α cho bò lai Sind chậm sinh đạt tỷ lệ động dục 85,8% tỷ lệ thụ thai đạt 65,21% Tăng Xuân Lưuvà Cs , 2001 [20] cho biết khi tiêm cho 68 bò của hai giống bò F1 và

F2 có thể vàng bệnh lý tồn lưu đã có 59 con động dục trở lại đạt 85,71% ở nhóm F1 và 87,5% ở nhóm F2 Tỷ lệ phối giống có chửa tương ứng là 70,83%

ở nhóm F1 và 68,57% ở nhóm F2 Nguyễn Kim Ninh,1994 [24] tiêm PGF2α cho bò lai hướng sữa F1 cho tỷ lệ động dục 81,5% và phối có chửa là 77,4% Theo Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương,1997 [11] đối với những bò

động dục yếu, rụng trứng kém, sau khi động dục 5 – 10 ngày có thể tiêm PGF2α, bò sẽ động dục sớm hơn, phối giống đạt hiệu quả cao hơn Những bò

động dục thầm lặng cũng có thể tiêm PGF2α kích thích để biểu hiện động dục rõ, mạnh hơn

Tăng Xuân Lưu, Phan Văn Kiểm, Trần Thị Loan, Ngô Đình Tân, 2003 [21] cho biết: Khi dùng PGF2α điều trị 45 bò cái có u thể vàng kéo dài đã thu

được tỷ lệ động dục là 88,9% và tỷ lệ thụ thai là 65% sau hai lần phối giống

Cũng có thể dùng PGF2α điều trị viêm tử cung nhờ tác dụng tăng co bóp tử cung, tống chất bẩn trong tử cung ra ngoài đồng thời giúp cho sự bình thường hóa hoạt động của bộ máy sinh dục của PGF2α Nhìn chung tỷ lệ khỏi viêm đạt 70 - 90% Nhiều tác giả đã kết hợp việc sử dụng PGF2α với Lugol hoặc Iodine để điều trị viêm tử cung đạt hiệu quả cao Theo Moberg (1961);

MC Donald, Thompson (1961) và các cộng sự thì việc bổ sung Iode hay Thyreoprotein vào cơ thể sẽ làm tăng khả năng sinh sản vì vậy việc bổ sung Iode vào cơ thể qua thức ăn hoặc vào tử cung là một biện pháp hữu hiệu Việc hấp thụ Iode của tử cung bò cái từ dung dịch Lugol và Iodine nhanh và hoàn toàn hơn so với ăn uống, lợi ích của phương pháp này không chỉ trong điều trị viêm tử cung mà còn trong một số trường hợp chậm sinh (L Ekman, O.Hobeng, I.setergreen và C.B Thorell,1965 [46] )

Trang 39

Franz Benesh,1968 [58] cho biết điều trị viêm tử cung bằng cách kết hợp sử dụng dung dịch Lugol với phân giải thể vàng mang lại hiệu quả cao

Các tác giả trong nước sử dụng PGF2α kết hợp Lugol đối với bò viêm nội mạc tử cung, viêm âm đạo ở bò cái sinh sản cho biết tỷ lệ động dục là 80% và tỷ lệ thụ thai là 60% (Nguyễn Thanh Dương, Hoàng Kim Giao, 1995 [13] , Tăng Xuân Lưu, Phan Văn Kiểm, Trần Thị Loan , Ngô Đình Tân, 2003 [21] kết hợp PGF2α, Iodine và Oxytoxin điều trị bò có u thể vàng đã thu được

tỷ lệ động dục là 100%, tỷ lệ thụ thai sau hai lần phối giống là 79,41%, cao hơn so với chỉ dùng PGF2α (đạt tỷ lệ động dục 88,9% và tỷ lệ thụ thai 65% sau hai lần phối giống)

PGF2αcòn được sử dụng để gây sẩy thai theo ý muốn, hiệu quả sử dụng thuốc và thời gian xuất hiện hiện tượng sẩy thai phụ thuộc vào tuổi của thai

Bò cái có thai ở giai đoạn 50 - 100 ngày sau khi tiêm PGF2α, 97,5%, bò sẩy thai trong vòng từ 2 - 3 ngày, có thai ở giai đoạn 100 - 150 ngày hiện tượng xảy thai là 73% với thời gian 2 – 3 ngày sau khi tiêm, những bò có thai từ 150 – 260 ngày sau khi tiêm PGF2α có tới 92% số bò sẩy thai ở ngày thứ 5 Theo Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương, (1997)[11] tiêm 1 liều PGF2α cho

bò có chửa 260 – 270 ngày, bò sẽ đẻ trong vòng từ 1 dến 6 ngày sau đó, thường là từ 2 – 3 ngày cần lưu ý, việc gây đẻ sớm thường bị sát nhau, bầu vú kém phát triển Vì thế dùng PGF2α cần thận trọng và chỉ sử dụng đối với bò chửa kéo dài, thai đã bị chết, bị khô hoặc có bọc mủ

Trang 40

3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên đàn bò cái Redsindhy và đàn bò cái lai hướng sữa F1 Hà - ấn (50% máu bò Redsindhy và 50% máu bò Holstein Friesian) của nông trường hữu nghị Việt Nam – Mông Cổ Cả hai đàn bò được nông trường giao khoán cho các hộ công nhân và nông trường viên nuôi tại các trang trại nhỏ và tại các hộ gia đình với mô hình hộ từ 2 - 5, 10 - 20 con Trong đó qui mô hộ từ 2 - 5 con là chủ yếu

Về phương thức nuôi rất đa dạng, các hộ với mô hình từ 2 – 5 con chủ yếu là chăn nuôi theo phương thức bán chăn thả còn ở các hộ có số bò lớn hơn, từ 5 con trở lên được nuôi nhốt hoàn toàn, bò được cho ăn tại chuồng với nguồn thức ăn xanh là cỏ trồng (cỏ voi, cỏ pangola, cỏ ghinea, ruzi và các loại

cỏ tạp khác), bò được bổ sung thêm thức ăn tinh là cám tổng hợp do gia đình

tự phối hợp, bã bia, rơm, cỏ khô và củ, quả mùa đông Nhìn chung đàn bò F1

Hà - ấn được các gia đình mua của nông trường về nuôi dưỡng nhằm mục

đích khai thác sữa, đàn bò này được nuôi nhốt hoàn toàn và được chăm sóc chu đáo cẩn thận hơn đàn bò Redsindhy của nông trường

Đàn bò Redsindhy của nông trường được giao khoán cho các hộ nuôi dưỡng để sản xuất con giống phục vụ cho chương trình sind hóa đàn bò vàng Việt Nam, theo cơ chế giao khoán do nông trường quy định, mỗi con bò được giao kèm theo 1000m2 đất trồng cỏ và được hưởng sự chăm sóc về kỹ thuật của các cán bộ kỹ thuật nông trường Hàng năm, nông trường tiến hành cân kiểm kê định kỳ 2 lần, thông qua kiểm kê, các hộ nhận khoán được thanh toán trọng lượng bê sơ sinh và các đàn loại khác tương ứng với trọng lượng và phẩm chất con giống, đàn bò Redsindhy được các hộ nuôi bán chăn thả hoặc nuôi nhốt hoàn toàn, thức ăn chính là cỏ trồng, rơm, cỏ khô và củ, quả mùa

đông Đối với bê 0 - 6 tháng tuổi và những bò cái sinh sản được đưa vào vắt sữa, có được bổ sung thức ăn tinh do các hộ tự phối hợp, bã bia và củ, quả Vì vậy phương thức chăn nuôi đang thực hiện tại nông trường Việt – Mông có

ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng sinh sản của đàn bò Redsindhy

Ngày đăng: 04/12/2013, 23:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Nguyễn Quốc Đạt (1998), Khả năng lai tạo giống bò lai giữa Holstein và Redsinhy tại miền Nam Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Khoa học Nông nghiệp, tr−ờng Đại học Nông nghiệp I Hà Nôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng lai tạo giống bò lai giữa Holstein và Redsinhy tại miền Nam Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quốc Đạt
Năm: 1998
11. Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh D−ơng (1997), Công nghệ sinh sản trong chăn nuôi bò, NXB Nông nghiệp Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ sinh sản trong chăn nuôi bò
Tác giả: Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh D−ơng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà nội
Năm: 1997
12. Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh D−ơng , Đỗ Kim Tuyên , Nguyễn Văn Lý (1994), Cấy Truyền phôi một phương pháp lưu giữ quĩ gen, NX B Nông nghiệp Hà Nội, tr.146 -153 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấy Truyền phôi một ph−ơng pháp l−u giữ quĩ gen
Tác giả: Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh D−ơng , Đỗ Kim Tuyên , Nguyễn Văn Lý
Năm: 1994
14. Nguyễn Minh Hoàn, Hoàng Mạnh Quân, Nguyễn Văn Duệ, Đỗ Văn Lộc (1994), “Một số đặc điểm sinh sản của nhóm bò lai hướng sữa nuôi tại hợp tác xã Thanh Lộc Đàn, Thành phố Đà Nẵng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm sinh sản của nhóm bò lai hướng sữa nuôi tại hợp tác xã Thanh Lộc Đàn, Thành phố Đà Nẵng
Tác giả: Nguyễn Minh Hoàn, Hoàng Mạnh Quân, Nguyễn Văn Duệ, Đỗ Văn Lộc
Năm: 1994
15. Lưu Công Khánh (1995), Nghiên cứu gây động dục đồng pha cho bò cái nhận phôi , luận văn thạc sĩ Khoa học nông nghiệp, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu gây động dục đồng pha cho bò cái nhận phôi
Tác giả: Lưu Công Khánh
Năm: 1995
16. Phan Văn Kiểm (1998),”Kết quả nghiên cứu động thái Luteinizing hormone tiền rụng trứng ở bò lai h−ớng sữa F 1 và ứng dụng trong thụ tinh nhân tạo nhằm đạt tỷ lệ thụ thai cao”,Viện Chăn nuôi , tr. 41- 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện Chăn nuôi
Tác giả: Phan Văn Kiểm
Năm: 1998
19. Tăng Xuân Lưu (1999), Đánh giá một số đặc điểm sinh sản của đàn bò lai h−ớng sữa tại Ba Vì - Hà Tây và biện pháp nâng cao khả năng sinh sản của chúng, Luận văn thạc sĩ Khoa học nông nghiệp, tr−ờng Đại học Nông nghiệp I - Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá một số đặc điểm sinh sản của đàn bò lai h−ớng sữa tại Ba Vì - Hà Tây và biện pháp nâng cao khả năng sinh sản của chúng
Tác giả: Tăng Xuân Lưu
Năm: 1999
20. Tăng Xuân Lưu, Cù Xuân Dần, Hoàng Kim Giao, Nguyễn Kim Ninh, Lưu Công Khánh (2001),” Một số biện pháp kỹ thuật nâng cao khả năng sinh sản của đàn bò lai hướng sữa tại Ba Vì - Hà Tây”, Tạp chí chăn nuôi, Hội chăn nuôi Việt nam, (2): tr. 4- 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí chăn nuôi, Hội chăn nuôi Việt nam
Tác giả: Tăng Xuân Lưu, Cù Xuân Dần, Hoàng Kim Giao, Nguyễn Kim Ninh, Lưu Công Khánh
Năm: 2001
21. Tăng Xuân Lưu, Phan Văn Kiểm, Trần Thị Loan, Ngô Đình Tân (2003), “ứng dụng kết quả định l−ợng progesterone kết hợp chẩn đoán lâm sàngđể điều trị pha thể vàng kéo dài , động dục không rõ ở bò sữa”, Viện Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: ứng dụng kết quả định l−ợng progesterone kết hợp chẩn đoán lâm sàng để điều trị pha thể vàng kéo dài , động dục không rõ ở bò sữa”
Tác giả: Tăng Xuân Lưu, Phan Văn Kiểm, Trần Thị Loan, Ngô Đình Tân
Năm: 2003
23.Nguyễn Kim Ninh, Lê Trọng Lạp (1992), “Nghiên cứu mô hình chăn nuôi bò sữa ở hộ gia đình và hiệu quả của nó”, kết quả nghiên cứu khoa học Viện chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mô hình chăn nuôi bò sữa ở hộ gia đình và hiệu quả của nó”
Tác giả: Nguyễn Kim Ninh, Lê Trọng Lạp
Năm: 1992
26. Trần Trọng Thêm (1986), một số đặc điểm về khả năng sản xuất của các nhóm bò lai Sind với bò sữa gốc Hà Lan, luận án PTS khoa học Nông nghiệp Việt nam , Viện khoa học nông nghiệp Việt nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: một số đặc điểm về khả năng sản xuất của các nhóm bò lai Sind với bò sữa gốc Hà Lan
Tác giả: Trần Trọng Thêm
Năm: 1986
27. Nguyễn Văn Th−ởng (1984), “Kết quả nghiên cứu cải tạo giống bò nội theo h−ớng khai thác sữa”, Kết quả nghiên cứu khoa học Viện chăn nuôi (1969-1984) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu cải tạo giống bò nội theo h−ớng khai thác sữa
Tác giả: Nguyễn Văn Th−ởng
Nhà XB: Kết quả nghiên cứu khoa học Viện chăn nuôi (1969-1984)
Năm: 1984
28. Nguyễn Văn Th−ởng, Trần Doãn Hối (1992 ), Đặc điểm di truyền bò lai h−ớng sữa Việt Nam, Kết quả nghiên cứu Khoa học, Viện Chăn nuôi (1985-1990), NXB nông nghiệp Hà nội, tr: 88-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm di truyền bò lai h−ớng sữa Việt Nam
Nhà XB: NXB nông nghiệp Hà nội
29. Lê Văn Thọ, Lê Xuân C−ơng (1979), Kích dục tố ứng dụng trong chăn nuôi, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kích dục tố ứng dụng trong chăn nuôi
Tác giả: Lê Văn Thọ, Lê Xuân C−ơng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1979
30. Hoàng Văn Tiến (1986), Hormone về vấn đề sinh sản gia súc, NXB Khoa học Kỹ thuật , Hà Nội,Tài liệu dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hormone về vấn đề sinh sản gia súc
Tác giả: Hoàng Văn Tiến
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1986
31. Nguyễn Trọng Tiến, Mai Thị Thơm, Nguyễn Xuân Trạch, Lê Văn Ban (1991), Giáo trình chăn nuôi trâu bò, tr−ờng Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi trâu bò
Tác giả: Nguyễn Trọng Tiến, Mai Thị Thơm, Nguyễn Xuân Trạch, Lê Văn Ban
Năm: 1991
32. Ngô Xuân Tịnh, Tiết Hồng Ngân, Nguyễn Bá Mùi, Lê Hồng Long (1996), Sinh lý học gia súc, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học gia súc
Tác giả: Ngô Xuân Tịnh, Tiết Hồng Ngân, Nguyễn Bá Mùi, Lê Hồng Long
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
33. Nguyễn Xuân Trạch (1996), “ảnh hưởng của liều lượng PMSG đến hiệu quả điều khiển động dục và rụng trứng ở bò sau khi đẻ ”, Hội thảo Quốc gia về phát triển chăn nuôi đến năm 2000, 26-28/11/1996, tr.190-192 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ảnh hưởng của liều lượng PMSG đến hiệu quả điều khiển động dục và rụng trứng ở bò sau khi đẻ
Tác giả: Nguyễn Xuân Trạch
Nhà XB: Hội thảo Quốc gia về phát triển chăn nuôi đến năm 2000
Năm: 1996
34. Nguyễn Tiến Vởn (1992), Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học Tr−ờng Đại học Nông nghiệp Huế 1992, NXB Nông nghiệp Hà nội, tr 146 - 149.II. Tài liệu tiếng Nga Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học Tr−ờng Đại học Nông nghiệp Huế 1992
Tác giả: Nguyễn Tiến Vởn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà nội
Năm: 1992
39. Agawal, S.K, Shanker U, Dhoble R.I Gupta, S.K (1987),” Syncronisation of oestrus cycle and fertility whit PGF 2 alpha in crossbred cattle”, Indian J.Anim Sci, 54(4): 292-293 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indian J.Anim Sci
Tác giả: Agawal, S.K, Shanker U, Dhoble R.I Gupta, S.K
Năm: 1987

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Các giai đoạn của chu kỳ động dục ở bò cái - Luận văn thực trạng khả năng sinh sản, ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái redsindhy nuôi tại nông trường hữu nghị việt nam mông cổ, ba vì
Bảng 2.1. Các giai đoạn của chu kỳ động dục ở bò cái (Trang 10)
Sơ đồ Hypothalamus điều khiển hoạt động hệ nội tiết: - Luận văn thực trạng khả năng sinh sản, ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái redsindhy nuôi tại nông trường hữu nghị việt nam mông cổ, ba vì
ypothalamus điều khiển hoạt động hệ nội tiết: (Trang 23)
Bảng 4.2. Tỷ lệ đẻ toàn đàn  và một số bệnh sinh sản trên đàn bò cái - Luận văn thực trạng khả năng sinh sản, ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái redsindhy nuôi tại nông trường hữu nghị việt nam mông cổ, ba vì
Bảng 4.2. Tỷ lệ đẻ toàn đàn và một số bệnh sinh sản trên đàn bò cái (Trang 50)
Bảng 4.3. Tuổi thành thục tính của hai đàn bò cái - Luận văn thực trạng khả năng sinh sản, ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái redsindhy nuôi tại nông trường hữu nghị việt nam mông cổ, ba vì
Bảng 4.3. Tuổi thành thục tính của hai đàn bò cái (Trang 52)
Bảng 4.4. Tuổi phối giống lần đầu và tuổi đẻ - Luận văn thực trạng khả năng sinh sản, ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái redsindhy nuôi tại nông trường hữu nghị việt nam mông cổ, ba vì
Bảng 4.4. Tuổi phối giống lần đầu và tuổi đẻ (Trang 53)
Bảng 4.5. Thời gian động dục lại sau đẻ - Luận văn thực trạng khả năng sinh sản, ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái redsindhy nuôi tại nông trường hữu nghị việt nam mông cổ, ba vì
Bảng 4.5. Thời gian động dục lại sau đẻ (Trang 55)
Bảng 4.6. Hệ số phối giống và tỷ lệ thụ thai - Luận văn thực trạng khả năng sinh sản, ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái redsindhy nuôi tại nông trường hữu nghị việt nam mông cổ, ba vì
Bảng 4.6. Hệ số phối giống và tỷ lệ thụ thai (Trang 57)
Bảng 4.8 thể hiện thời gian mang thai của hai đàn bò cái của nông trường Việt-Mông - Luận văn thực trạng khả năng sinh sản, ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái redsindhy nuôi tại nông trường hữu nghị việt nam mông cổ, ba vì
Bảng 4.8 thể hiện thời gian mang thai của hai đàn bò cái của nông trường Việt-Mông (Trang 61)
Bảng 4.10. Kết quả thăm khám sản khoa trên đàn bò cái Redsindhy - Luận văn thực trạng khả năng sinh sản, ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái redsindhy nuôi tại nông trường hữu nghị việt nam mông cổ, ba vì
Bảng 4.10. Kết quả thăm khám sản khoa trên đàn bò cái Redsindhy (Trang 63)
Bảng 4.11. Kết quả định l−ợng Progesterone - Luận văn thực trạng khả năng sinh sản, ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái redsindhy nuôi tại nông trường hữu nghị việt nam mông cổ, ba vì
Bảng 4.11. Kết quả định l−ợng Progesterone (Trang 67)
Đồ thị 4.1 Hàm l−ợng Progesterone - Luận văn thực trạng khả năng sinh sản, ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái redsindhy nuôi tại nông trường hữu nghị việt nam mông cổ, ba vì
th ị 4.1 Hàm l−ợng Progesterone (Trang 68)
Bảng 4. 13. Kết quả điều trị thể vàng tồn lưu bệnh lý trên đàn bò cái Redsindhy và F 1  Hà - ấn - Luận văn thực trạng khả năng sinh sản, ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái redsindhy nuôi tại nông trường hữu nghị việt nam mông cổ, ba vì
Bảng 4. 13. Kết quả điều trị thể vàng tồn lưu bệnh lý trên đàn bò cái Redsindhy và F 1 Hà - ấn (Trang 72)
Bảng 4.14. Khả năng gây động dục của PG F 2 α  hai liều cách nhau 11 ngày - Luận văn thực trạng khả năng sinh sản, ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái redsindhy nuôi tại nông trường hữu nghị việt nam mông cổ, ba vì
Bảng 4.14. Khả năng gây động dục của PG F 2 α hai liều cách nhau 11 ngày (Trang 74)
Bảng 4.16. Kết quả sử dụng HCG trên bò động dục không rụng trứng - Luận văn thực trạng khả năng sinh sản, ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái redsindhy nuôi tại nông trường hữu nghị việt nam mông cổ, ba vì
Bảng 4.16. Kết quả sử dụng HCG trên bò động dục không rụng trứng (Trang 79)
Bảng 4.17. Kết quả điều trị viêm tử cung - âm đạo trên đàn bò cái - Luận văn thực trạng khả năng sinh sản, ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái redsindhy nuôi tại nông trường hữu nghị việt nam mông cổ, ba vì
Bảng 4.17. Kết quả điều trị viêm tử cung - âm đạo trên đàn bò cái (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm