Luận văn
Trang 11 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi lợn chiếm vị trí hàng đầu trong việc cung cấp thực phẩm cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu Trong những năm qua ngành chăn nuôi nói chung,chăn nuôi lợn nói riêng đã đạt được những thành tựu
đáng kể về công tác giống, thức ăn và kỹ thuật nuôi dưỡng Năm 1990 tổng
đàn lợn cả nước 12,26 triệu con, năm 2002 đạt 23,17 triệu con và đến năm
2004 đạt 26,14 triệu con Sản lượng thịt hơi các loại năm 1990 là 1007,9 nghìn tấn trong đó thịt lợn là 729 nghìn tấn chiếm 72,3%; năm 2002 sản lượng thịt hơi các loại đạt 2146,3 nghìn tấn trong đó thịt lợn hơi 1653,6 nghìn tấn chiếm 77% và đến năm 2004 sản lượng thịt hơi các loại đạt 2505,7 nghìn tấn trong đó thịt lợn 2012 nghìn tấn chiếm 80,3% tổng thịt hơi các loại [1], [16] Như vậy thịt lợn sản phẩm chủ yếu chiếm ưu thế cao nhất so với các loại thịt khác
Tuy vậy năng suất và chất lượng đàn lợn của Việt Nam vẫn còn ở mức thấp so với nhiều nước trên thế giới Sản lượng thịt hơi/nái/năm của Việt Nam
480 - 600 kg, trong khi đó ở các nước có nền chăn nuôi lợn tiên tiến, một nái
có thể sản xuất 1800 - 2000 kg thịt hơi / nái/ năm cao hơn 3 lần so với lợn nái Việt Nam
Để tăng hiệu quả sản xuất của lợn nái trong những năm gần đây, thường người ta áp dụng biện pháp cai sữa sớm cho lợn con, hiện nay lợn con thường
được cai sữa ở ngày 21 hoặc 28 Nhưng sau khi cai sữa lợn con phải chuyển thức ăn một cách đột ngột từ sữa mẹ (một loại thức ăn lỏng giàu chất dinh dưỡng, dễ tiêu hóa và hấp thu) sang thức ăn khô (dạng bột khô hoặc dạng viên) khó tiêu hóa và dễ tiêu chảy, ảnh hưởng không tốt đến khả năng sinh trưởng của lợn Chính vì vậy, thức ăn hỗn hợp cho lợn cai sữa ở tuổi này đòi
Trang 2hỏi phải có đầy đủ các chất dinh dưỡng, có khả năng tiêu hóa thấp thu tốt,
đảm bảo cho lợn con khỏe mạnh không ỉa chảy, sinh trưởng bình thường
Việc xây dựng các công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con cai sữa trở nên bức thiết, một mặt giúp cho việc nuôi dưỡng đàn lợn con tốt hơn, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi ở nước ta, một mặt tạo điều kiện cho các xí nghiệp thức ăn trong nước có khả năng cạnh tranh với các xí nghiệp thức ăn nước ngoài trong việc sản xuất loại thức ăn này
Để góp phần giải quyết vấn đề trên chúng tôi thực hiện đề tài:
"Xây dựng công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con giống ngoại sau cai sữa"
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Xây dựng tiêu chuẩn chất lượng nguyên liệu thức ăn trong công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con cai sữa
- Xây dựng công thức thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho lợn con sau cai sữa, đảm bảo lợn con tăng trọng 370 - 390 g/ngày, hiệu quả chuyển hoá thức
ăn 1,8 - 1,9 kg/kg tăng trọng
Trang 32 Tổng quan tài liệu
2.1 Đặc điểm sinh lý sinh trưởng của lợn con
2.1.1 Đặc điểm sinh trưởng phát dục và tiềm năng di truyền của lợn con
Lợn con có tốc độ sinh trưởng nhanh Qua nghiên cứu và thực tế sản xuất người ta thấy rằng so với khối lượng ban đầu (khối lượng sơ sinh) thì sau
10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, 20 ngày tuổi tăng gấp 5 lần, 30 ngày tuổi tăng gấp 6 lần, 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, 50 ngày tuổi tăng gấp 9 - 10 lần, 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 16 lần (Lê Hồng Mận, Bùi Hữu Lũng, 2002)[12]
Về mặt lý thuyết người ta tính rằng lợn mới đẻ có thể trọng là 1,5 kg/con ở tuổi cai sữa 21 ngày tuổi có thể đạt khối lượng 15 kg và đến 60 ngày tuổi có thể đạt 30 kg Nhưng trong thực tế sản xuất thường ở tuổi cai sữa 27 ngày, lợn có 8 kg (tăng trọng 250 g/ngày) và phải 70 ngày mới đạt khối lượng
30 kg
Lợn con bú sữa có tốc độ sinh trưởng phát dục nhanh nhưng không đều qua các giai đoạn Tốc độ nhanh nhất là 21 ngày tuổi đầu, sau 21 ngày tốc độ giảm xuống, có sự giảm này do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do sản lượng sữa của mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu lợn con
bị giảm
Thời gian giảm tốc độ phát triển thường kéo dài 2 tuần và gọi là giai
đoạn khủng hoảng của lợn con Chúng ta có thể hạn chế giai đoạn khủng hoảng này bằng cách tập ăn sớm để bổ sung thức ăn sớm cho chúng
Do lợn con sinh trưởng và phát dục nhanh nên khả năng đồng hoá và trao đổi chất rất mạnh đòi hỏi tích luỹ chất dinh dưỡng cao ở 20 ngày tuổi, một ngày lợn con tích lũy được 8 - 1 4g protein/1 kg khối lượng, trong khi đó lợn trưởng thành mỗi ngày chỉ tích luỹ được 0,3 - 0,4g protein/1 kg khối lượng
Trang 4(Trần Cừ, Nguyễn Khắc Khôi, cơ sở sinh học và biện pháp nâng cao năng suất lợn, 1996)[3] Ngược lại để tăng 1 kg khối lượng cơ thể lợn con cần ít năng lượng hơn, nghĩa là tiêu tốn ít thức ăn hơn lợn lớn Vì tăng trọng của lợn con chủ yếu là tăng nạc, mà để sản xuất 1 kg nạc thì cần ít năng lượng hơn để sản xuất ra 1 kg thịt mỡ
2.1.2 Một số biện pháp để phát huy tiềm năng sinh trưởng của lợn con
Để phát huy tối đa tiềm năng sinh trưởng của lợn, đặc biệt là lợn con chúng ta phải hiểu rõ đặc điểm sinh lý và sự phát triển của chúng từ đó có biện pháp tác động một cách hợp lý và đồng bộ, trong đó cần quan tâm một số
điểm sau:
2.1.2.1 Chọn giống và lai giống
Giống là yếu tố quan trọng quyết định khả năng sinh trưởng của lợn con Muốn có lợn sinh trưởng nhanh phải có giống tốt, giống tốt phải được chọn lọc hoặc lai tạo những giống cao sản Hiện nay có một số giống cao sản
được nuôi rộng rãi ở nước ta như: Yorkshire, Landrace, Duroc, Pietrain, con lai Landrace x Yorskire,…
+ Đàn bố mẹ của chúng phải thuộc giống cao sản, có khả năng sinh sản tốt, cho đàn con đồng đều, cho sữa tốt, tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn ít
+ Đàn con phải đồng đều, khối lượng sinh toàn ổ trên 17 kg va khối lượng sơ sinh trung bình/con từ 1,3 kg trở lên
2.1.2.2 Dinh dưỡng thức ăn
Là yếu tố quan trọng quyết định năng suất lợn Muốn cho lợn sinh trưởng tốt phải có thức ăn tốt trong khẩu phần cân đối các chất dinh dưỡng như protein, năng lượng, xơ, chất béo, canxi, photpho, vi lượng, khoáng, vitamin và nhất là cân đối các axit amin không thay thế Khẩu phần phải phù hợp và đáp ứng với nhu cầu của từng loại lợn, từng giai đoạn phát triển của chúng
Trang 5Có hai giai đoạn nuôi dưỡng lợn con:
+ Cho lợn con bú sữa đầu sớm và đẩy đủ
+ Cho ăn sớm: Mục đích là để thúc đẩy sự phát triển bôn máy tiêu hoá, tăng thu nhận thức ăn giai đoạn sau
Lượng thức ăn không có ý nghĩa đối với sinh trưởng vì lượng thức ăn thu nhận rất ít, 4 tuần đầu chỉ tiêu thụ 50-100 g/ngày/con(10-20 g CK/Kg TT)
ở giai đoạn này việc lựa chọn nguyên liệu và đưa vào hỗn hợp một hàm lượng hợp lý có ý nghĩa quan trọng hơn là nồng độ dinh dưỡng(Vũ Duy Giảng, 2001)[4] Chú ý dùng các nguyên liệu sau:
Trang 6Whittemore (1991)[28] đã ước tính lượng thu nhận thức ăn tự do (VFI:
Voluntary Feed Intake) của lợn con như sau:
VFI (kg/ngày) = 0,013.w/(1 - tỷ lệ tiêu hoá)
W: thể trọng (Kg)
Để tăng thu nhận phải lựa chọn thức ăn sao cho phủ hợp với choc năng
sinh lý và cấu tạo bộ máy tiêu hoá và phải chế biến thức ăn
Lựa chọn thức ăn nào để phủ hợp với chức năng và cấu tạo bộ máy tiêu
hoá và để có tỷ lệ tiêu hoá cao là một thách thức đối với người chăn nuôi lợn
- Thức ăn khác nhau có ảnh hưởng đến cấu trúc giải phẫu của ống tiêu
hoá từ đó ảnh hưởng đến khả năng tiêu hoá các chất dinh dưỡng của thức ăn
- Chế biến thức ăn có ý nghĩa rất quan trọng đối với tỷ lệ tiêu hoá thức
ăn: nghiền mịn tốt hơn ngiền thô, chất lượng viên kém làm giảm tỷ lệ tiêu hoá,
ép đùn, bung nổ hạt đều làm tăng tỷ lệ tiêu hoá
Trang 7Pha 2: có thể chỉ sử dụng một số nguồn protein (khô dầu đỗ tương) hay
một số nguồn ngũ cốc khác Không cần thiết sử dụng nhiều nguyên liệu đắt tiền như bột cá, bột sữa
- Dinh dưỡng lợn mẹ: ngoài ảnh hưởng của giống và lai giống, việc chăm sóc nuôi dưỡng lợn mẹ cũng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn con đặc biệt là giai đoạn bào thai và bú sữa từ đó ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến khả năng sinh trưởng của lợn ở các giai
đoạn sau
Nuôi dưỡng tốt lợn mẹ ở giai đoạn chửa sẽ giảm tối đa lợn con chết/lứa, tăng khối lượng sơ sinh và độ động đều của lợn con, giảm thời gian chờ phối
ở giai đoạn nay cần đảm bảo năng lượng duy trì cho lợn mẹ là 105ME kcal/kg
W0,75 ở nhiệt độ trung hoà 18- 20oC đối với lợn nái nhốt riêng và 14oC đối với lợn nái nhốt chung
Năng lượng tích luỹ 60 kcal ME/ngày ở giai đoạn 40- 70 ngày chửa và
450 - 500 kcal ME/ ngày ở 110 ngày chửa
Năng lượng cho sinh trưởng lợn mẹ 4800 kcal ME/ ngày
Nuôi dưỡng lợn nái cần đảm bảo mức dinh dưỡng sau
Trang 8Bảng 3.2: Mức dinh dưỡng cho lợn mẹ (Nguyễn Khắc Tích,2002)[14]
Chời phối 2,5 – 3 2800 – 2900 13 – 14
Chửa kỳ I 1,8 – 2 2800 – 3000 13 – 14
Chửa kỳ II 2,2 – 2,4 2800 – 3000 13 – 14
Nuôi con 2,5 + 0,4 kg/lợn con 2800 – 3000 15 – 16
2.1.2.3 Chuồng trại và môi trường chăn nuôi
Chăn nuôi lợn cũng như gia súc, gia cầm khác, có thức ăn tốt, đầy đủ
đòi hỏi có môi trường sống tốt mới đảm bảo năng suất cao, ít bệnh tật
Chuồng thông thoáng mát mẻ, rộng rãi lợn sống thoải mái, lợn sẽ mau lớn,
khoẻ mạnh Chuồng nuôi có nhiệt độ độ ẩm cao, ánh sáng thiếu thì quá
trình chuyển hoá khoáng, vitamin… bị ngừng trệ, ảnh hưởng đến sức sản
xuất của lợn Chuồng nuôi không đúng kiểu cách và vệ sinh chuồng trại
kém sẽ làm tăng độ ẩm dẫn đến không khí thiếu các ion nhẹ, tăng các ion
nặng Từ đó trong chuồng tỷ lệ bụi tăng, trong không khí tăng khí amoniac
(NH3), cácbonic (CO2), sulfuahydro (H2S) Các yếu tố đó ảnh hưởng đến
sức khoẻ và làm giảm năng suất của lợn Chuồng trại phải được xây dựng
đúng kiểu cách, đảm bảo thông thoáng, vệ sinh sạch sẽ không có phân,
nước tiểu ứ đọng
Trang 9Bảng 4.2: Nhiệt độ, độ ẩm chuồng nuôi lợn (Lê Hồng Mận, Bùi Đức
Lũng, 2002)[12]
Nhiệt độ (oC) Loại lợn
Vừa phải Tối thiểu Tối đa
Độ ẩm tương đối (%)
2.1.2.4 Vệ sinh thú y: cần triệt để thực hiện một số biện pháp sau
• Lợn mới mua về nhất thiết phải nhốt riêng 5 - 7 ngày đảm bảo khoẻ mạnh mới thả vào đàn
• Lợn nghi mắc bệnh phải nhốt cách ly để theo dõi chữa trị hoặc loại thải nếu không bị bệnh hoặc đã chữa khỏi mới thả chúng lại vào đàn
• Tiêu độc chuồng trại giữa các đợt xuất và nhập lợn bằng dung dịch thuốc sát trùng để diệt ký sinh trùng, vi khuẩn, làm mất mùi hôi thối, không làm hỏng dụng cụ Chuồng lợn bị bệnh phải tẩy rửa chuồng bằng xút (NaOH) hay formol diệt được vi khuẩn và virus, nhưng phải rất cẩn thận
• Diệt trừ chuột, ký sinh trùng, có hố sát trùng ở cổng, ở cửa chuồng
• Định kỳ tiêm phòng vacxin
Trang 102.2 Đặc điểm sinh lý tiêu hoá của lợn con
Các vật chất dinh dưỡng của thức ăn, mà động vật nói chung, lợn nói riêng ăn vào, muốn được cơ thể sử dụng với mục đích duy trì sự sống, sinh trưởng, phát triển, sinh sản trước tiên phải qua đường tiêu hoá và ở đó chúng
được phân giải thành những chất đơn giản và được hấp thu qua niêm mạc ruột
đi vào máu cung cấp cho các mô tế bào của cơ thể
2.2.1 Đặc điểm cấu tạo của bộ máy tiêu hoá
Bộ máy tiêu hoá của lợn gồm có ba bộ phận chính: miệng, dạ dày và ruột
- Miệng của lợn ngoài chức năng lấy thức ăn còn có vai trò nghiền thức
ăn (răng) và thấm ướt (nước bọt)
- Dạ dầy lợn là một túi rỗng có hai đường cong, đường cong nhỏ và
đường cong lớn và chia làm 3 vùng: vùng thượng vị, thân vị và hạ vị Vùng thượng vị (giáp đoạn cuối của thực quản) có tế bào phụ tiết ra niêm dịch (dịch nhày) bảo vệ niêm mạc dạ dày Vùng thân vị có đủ ba loại tế bào: tế bào chủ tiết ra men tiêu hoá, tế bào vách tiết ra axit chlohydric (HCl) và tế bào phụ tiết
ra niêm dịch Vùng hạ vị (nối liền với đầu ruột non) có hai loại tế bào là tế bào chủ và tế bào vách
- Ruột lợn được chia làm hai phần chính là ruột non và ruột già Ruột non được chia thành tá tràng, không tràng và hồi tràng Ruột già được chia ra làm manh tràng, kết tràng và trực tràng Từng bộ phận này đều có chức năng riêng biệt
Ngoài các bộ phận trên cơ quan tiêu hoá còn có các bộ phận khác tham gia vào hoạt động tiêu hoá đó là mật và tuỵ Các cơ quan này tiết ra các dịch tiêu hoá giúp cho quá trình tiêu hoá thức ăn được hoàn thiện
2.2.2 Đặc điểm phát triển của bộ máy tiêu hoá
Cơ quan tiêu hoá của lợn con trong những ngày đầu sau sơ sinh chỉ thích hợp với việc tiếp nhận và tiêu hoá sữa Sữa như một nguồn dinh dưỡng
Trang 11duy nhất, mặc dù chức năng tiêu hoá chưa hoàn thiện nhưng về kích thước và dung tích thì phát triển rất nhanh
+ Dung tích dạ dày của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và 60 ngày tuổi gấp 60 lần (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít)[7]
+ Dung tích ruột nọn lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, 20 ngày tuổi gấp 6 lần và 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,01 lít)[7]
+ Dung tích ruột già của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, 20 ngày tuổi gấp 2,5 lần, 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít)[7]
2.2.3 Hoạt động của men tiêu hoá
Cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh về kích thước và dung tích nhưng chức năng vẫn chưa hoàn chỉnh do một số men chưa có hoạt tính mạnh nhất là ở 3 tuần đầu sau khi sinh
Với lợn con dưới 3 tuần tuổi chỉ có một số men có hoạt tính mạnh như men: Trypsin, catepsine, lactaza, lipaza, kimozine
+ Men trypsin: là men tiêu hoá protein của thức ăn ở thai lợn hai tháng trong chất chiết đã có men trypsin Khi lợn con mới sinh ra, hoạt tính của men này rất cao để bù đắp lại khả năng tiêu hoá kém của men pepsin dạ dày
+ Men catepsin: là men tiêu hoá protein trong sữa, đối với lợn con ở ba tuần tuổi men này có hoạt tính mạnh và sau đó hoạt tính giảm dần
+ Men lactaza: là men tiêu hoá đường lactoz trong sữa, men lactaza có hoạt tính mạnh ngay từ khi lợn con mới sinh và tăng cao nhất ở tuần tuổi thứ hai sau đó hoạt tính giảm dần
+ Men pepsin: khoảng 25 ngày tuổi men pepsin trong dạ dày lợn con
Trang 12chưa có khả năng tiêu hoá protein của thức ăn, vì trong dịch vị chưa có HCl ở dạng tự do, nên men pepsinogen chưa được hoạt hoá Sau 25 ngày tuổi trong dịch vị lợn con mới có HCl tự do và 5 tuần tuổi men này mới có hoạt tính mạnh Như vậy hoạt tính của men pepsin tăng lên theo tuổi: ở 9 ngày tuổi tiêu hoá 30 mg fibrin trong 19 giờ, 28 ngày tuổi chỉ cần 2 - 3 giờ, 50 ngày tuổi chỉ cần 1 giờ để tiêu hoá fibrin (Nguyễn Xuân Tịnh, Tiết Hồng Ngân, Nguyễn Bá Mùi, 1996)[15]
Do thiếu HCl ở dạng tự do nên lợn con dưới 25 ngày tuổi rất dễ bị vi khuẩn có hại xâm nhập vào đường tiêu hoá Chúng ta có thể hạn chế sự xâm nhập của vi khuẩn có hại bằng cách kích thích tế bào vách dạ dày lợn con tiết
ra HCl ở dạng tự do sớm hơn Để dạ dày lợn con tiết HCl ở dạng tự do cần phải bổ sung thức ăn sớm cho lợn con, nên tập cho lợn con ăn sớm khi lợn con
được 7 - 10 ngày tuổi thì HCl tự do có thể tiết ra từ 14 ngày tuổi
- Men amilaza và maltaza: hai men này có ở trong nước bọt và trong dịch tuỵ từ khi lợn con mới sinh ra, nhưng dưới 3 tuần tuổi hoạt tính còn thấp,
do đó khả năng tiêu hoá tinh bột còn kém, chỉ tiêu hoá được khoảng 50% lượng tinh bột ăn vào, đối với tinh bột sống lợn con tiêu hoá càng kém Sau 3 tuần tuổi men amilaza và maltaza mới có hoạt tính mạnh, nên khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con tốt hơn (Kitss - 1956)
Theo Kitss, Bailey và Wood (1956), Hays, Baker (1961)[24] trong mô tuyến tuỵ của lợn con lúc sơ sinh hoàn toàn không có men amilaza, hoạt tính của men amilaza và maltaza tăng chậm, hoạt tính của hai men này tăng nhanh khi lợn con được 35 - 40 ngày tuổi
Theo Trương Lăng (2003)[11], men maltaza có hoạt tính thấp khi lợn con được 2 tuần tuổi sau đó tăng lên đạt tối đa ở 4 - 5 tuần tuổi
- Men sacaraza: hoạt tính men sacaraza còn thấp khi lợn con ở hai tuần tuổi, nếu cho lợn con ăn đường sacaraza thì rất dễ bị ỉa chảy
Trang 132.2.4 Sự tiêu hóa các chất dinh dưỡng ở lợn
Mỡ trong đương tiêu hoá sẽ được tiêu hoá dễ dàng nếu chúng ở trạng thái bị phân chia thành những hạt rất nhỏ giống như mỡ sữa của lợn mẹ Mỡ sữa lợn mẹ có những giọt nhỏ với đường kính 0.1 đến 10 à Khả năng tiêu hoá
mỡ còn phụ thuộc vào nguồn mỡ có trong khẩu phần ăn Lợn con có khả năng
sử dụng tốt mỡ sữa sau đó đến mỡ lợn,dầu ô lưu và cuối cùng là tinh dầu ngô
Lợn có tỷ lệ tiêu hoá protein sữa rất cao( kể cả sữa lợn và sữa bò ),từ
95-99 % Ngoài ra khả năng tiêu hoá protein có nguồn gốc từ các động vật khác nhau tăng lên theo lứa tuổi
Sự tiêu hoá các chất dinh dưỡng của lợn con phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố:
- Phương pháp chế biến thức ăn:Việc chế biến thức ăn khác nhau có ảnh hương rõ rệt tới hoạt động tiết dịch tiêu hoá và hoạt tính của enzym Khi cho lợn ăn thức ăn tinh nấu chín, dịch tiêu hoá giảm nhiêu so với khi cho thức ăn sống Đối với lợn trong vòng một tháng tuổi bộ máy tiêu hoá chưa phát triển hoàn chỉnh nên việc cho lợn con tập ăn thức ăn nấu chín , hấp chín hay rang chín đều làm tăng sự tiêu hoá các chất dinh dưỡng trong khẩu phần Nhưng
đối với lợn lớn nấu chín sẽ làm giảm tỷ lệ tiêu hoá protein cũng như các chất dinh dương khác ( E.M.Fedi,1967 )
Nhiều tác giả cho rằng lợn con cai sữa sớm lúc 25 - 30 ngày tuổi thì tiêu hoá protein thực vật trong thức ăn có nhiều khó khăn Hàm lượng vật chất khô trong dịch tuỵ càng nhiều, hoạt tính của men tiêu hoá càng cao Lợn lớn dịch tuỵ chứa 1,2 – 1,4% vật chất khô, còn lợn con một tháng tuổi chứa tới 1,6-1,7% vật chất khô
Việc cai sữa sớm cho lợn con trước hai tuần tuổi thường gặp khó khăn
do lợn con lúc này chưa tiêu hóa được hoặc tiêu hóa rất ít tinh bột Maltaza của dịch tụy trong hai tuần đầu hoạt tính rất thấp và đạt mức tối đa ở tuần lễ
Trang 14thứ năm Đối với đường sacharose thì chỉ sau hai tuần tuổi, lợn con mới có thể tiêu thụ được (Manners và Kidar, 1961), vì trước hai tuần trong dịch tụy không có enzym sacharaza hoặc là hoạt tính cả enzym này thấp
Theo Hintenze (1975) tiêu hóa thức ăn trong đường dạ dày, ruột của lợn con chủ yếu là tiêu hóa enzym, bởi vậy bất kỳ một thay đổi nào về thức ăn và phương thức nuôi dưỡng đều dẫn đến những thay đổi tương ứng đối với hệ thống enzym tiêu hóa
Việc nuôi dưỡng lợn con trong giai đoạn bú sữa là để chuẩn bị cho lợn con có một điều kiện tốt nhất trước khi bước vào cai sữa Khoảng thời gian xung quanh ngày cai sữa (trước và sau cai sữa) là một thời kỳ lợn con bị nhiều stress nhất trong cuộc đời của chúng
Những công trình nghiên cứu của Cranwell (1985) cho biết lợn con
được nuôi dưỡng bằng thức ăn đặc từ 12 ngày tuổi trở đi và được cai sữa ở 21 ngày tuổi, lượng axit chlohydric và men pepsin được sản xuất nhiều hơn đáng
kể so với những lợn con không được tập ăn trước khi cai sữa
- ảnh hưởng của tình trạng vật lý của khẩu phần:
Thức ăn cho lợn con cai sữa thường ở dạng bột khô hoặc dạng viên khô Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng thức ăn ở dạng lỏng sệt thường
có lợi hơn so với thức ăn ở dạng khô, vì thức ăn ở dạng lỏng làm giảm số lượng E.coli trong ruột non (Decuypere an Van de Hyde, 1972), cải thiện hiệu quả chuyển hóa thức ăn (E.Fird, 1982) Bởi vậy sự chuyển tiếp trạng thái vật
lý từ thức ăn ở dạng lỏng sang dạng đặc có thể dẫn đến ỉa chảy sau cai sữa Lawrence (1983) thông báo rằng cho thức ăn ướt làm giảm pH dạ dày do đó duy trì được bức rào chắn đối với sự xâm nhập của mầm bệnh tốt hơn, đồng thời ảnh hưởng đến tính chất của dưỡng chất và tốc độ vận động của chúng trong đường dạ dày ruột
Byme và Hall (1984) thông báo rằng việc chuyển trạng thái vật lý từ
Trang 15thức ăn lỏng sang thức ăn ở dạng đặc làm giảm chiều cao của lông nhung và làm tăng chiều sâu của các hốc crypt
- Nguồn protein của khẩu phần cho lợn con cai sữa cũng rất được quan tâm, những sản phẩm có tỷ lệ tiêu hóa cao như sữa bột khử bơ, sữa bột chiết suất casein là nguồn được quan tâm nhiều hơn cả
- Tỷ lệ xơ trong khẩu phần lợn con cai sữa
Có một số thông báo cho biết rằng sự mẫn cảm đối với bệnh ỉa chảy sau cai sữa có thể giảm bớt việc thêm một tỷ lệ xơ nhất định trong khẩu phần (Richards và Fraser, 1961) Tuy nhiên, Rivera và cộng sự (1978) cho thấy rằng: không có kết quả tốt (cả về sinh trưởng và hạn chế ỉa chảy) khi bổ sung thêm một lượng xơ đại mạch trong khẩu phần English (1981)[20] thông báo rằng: hiện tượng ỉa chảy sau cai sữa ít hơn ở lơn con ăn khẩu phần có tỷ lệ xơ thấp (0,8%) và tỷ lệ tiêu hóa cao so với nhóm lợn ăn khẩu phần có tỷ lệ xơ cao (3%)
- Số lượng thức ăn ăn vào và số lần cho ăn trong ngày
Có những ý kiến cho rằng thông thường năng suất lợn con thấp ngay trong giai đoạn sau cai sữa là sự phản ánh của mức quá thấp thức ăn thu nhận hàng ngày Cho ăn một số lượng nhỏ với khoảng cách đều đặn đã nâng cao
được năng suất của lợn con Vì với phương pháp nuôi dưỡng này có thể khắc phục được hai vấn đề, một lá tránh tồn được thức ăn lâu dài trong máng, tránh rơi vãi thức ăn và hai là làm tăng được khả năng tiêu hóa, hấp thu của lợn con
Ball và Aherne (1982) cho rằng: những lợn con được ăn một bữa trong ngày bị ỉa chảy nhiều hơn so với nhóm lợn được ăn tự do, trái lại với những lợn con cho ăn hạn chế năng suất lại khá nhất Sự ăn quá nhiều có thể sẽ dẫn
đến sự ứ máu trong đường dạ dày ruột (Rukebuch và Buneo, 1976) Việc cho
ăn hạn chế trong thời gian sau cai sữa có hiệu quả rõ rệt đối với việc phòng tránh bệnh ỉa chảy (Palm và Hulland, 1965; Smith và Halls, 1968)
Trang 16Người ta cũng nhận thấy rằng tốc độ thủy phân tinh bột của dịch vị ở lợn con rất khác nhau và phụ thuộc rất nhiều vào nguồn gốc của tinh bột (Aumaintre, 1972) Một số phương pháp chế biến thức ăn hạt như cán, nổ bỏng hoặc xử lý vi sóng (Lawrence, 1975 và Aumaintre, 1976) đã tăng được khả năng thủy phân tinh bột của các enzym tiêu hóa
2.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết nhiệt
Lúc mới sinh thân nhiệt lợn con là 38,5 - 39ảC, nhiệt độ trung hoà là
33 - 35ảC
Ra khỏi cơ thể mẹ tạm thời tụt xuống, tuỳ thuộc vào nhiệt độ chuồng nuôi ở giai đoạn này năng lực điều hoà nhiệt rất yếu, nhiệt độ trực tràng giảm
2ảC trong chuông nuôi 18ảC, nhưng sẽ giảm 5ảC khi nhiệt độ chuồng nuôi là
11ảC (trong 20 phút) Thân nhiệt trở lại bình thường sau 24 giờ, nhưng càng chậm khi nhiệt độ thấp đối với lợn nhẹ cân và lợn tiêu thụ sữa đầu ít
Nhiệt độ trực tràng trở lại bình thường sau 24 - 48 giờ khi nhiệt độ chuồng nuôi là 25 - 30ảC, còn nếu nhiệt độ chuồng nuôi dưới 15ảC phải mất
3 tuần nhiệt độ trực tràng mới trở lại bình thường Nhiệt nhược sẽ không hồi phục được dẫn đến chết khi thân nhiệt xuống dưới 32 - 33ảC
Chuồng lạnh là nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp (mệ đè con chết) của tỷ
lệ tử vong của lợn nuôi đến cai sữa Lợn chết trong 48 giờ là 12,1% khi nhiệt độ chuồng nuôi là 20 - 25ảC so với 7,7% khi nhiệt độ chuông nuôi >25ảC
Tốc độ sinh trưởng của lợn cũng sẽ tốt hơn khi chuồng ấm(lợn con trong tuần đầu sau khi sinh có tăng trọng 169 g/ngày nếu nhiệt độ chuồng nuôi là 20,5ảC, nhưng chỉ đạt 135 g/ngày nếu ở chuồng 13,5ảC)
Nhiệt độ tối ưu đối với lợn con là 18 - 20ảC ở chuồng nuôi, riêng góc
ấm của lợn con phải đạt 32 - 35ảC
Lợn con dự trữ năng lượng rất thấp, lúc mới sinh có 80% nước và chỉ có
Trang 172% lipit (ở 3 tuần có 65% nước và 12% lipit) ngoài chất dự trữ là lipit còn có glycogen Tổng năng lượng dự trữ (mỡ + glucogen) khoảng 1000 - 1200 kcal chỉ tương đương 1 lít sữa ở nhiệt độ trung hoà, năng lượng này chỉ đủ cho 2 ngày Sống trong chuồng lạnh năng lượng tiêu hao còn nhanh hơn, và nhanh chóng cạn kiệt Lợn con mất 9,5 kcal/giờ ở nhiệt độ 30oC, mất 15,7 kcal/giờ ở nhiệt độ 20oC Lượng đường huyết 10 ngày đầu cao(trung bình 110 - 140 mg/ml) sau giảm nhanh nhất là khi phải sống ở nhiệt độ thấp hoặc không được
được nuôi trong chuồng có nhiệt độ 16 - 21°C thì sau 30 giây thân nhiệt bị giảm khoảng 1,6°C Nhưng những lợn con có khối lượng sơ sinh trung bình là 2,4 kg, nuôi ở chuồng có nhiệt độ - 4°C thì thân nhiệt giảm tới 16,6°C [8]
2.4 nhu cầu dinh dưỡng lợn con
2.4.1 Nhu cầu protein
Protein là nguyên liệu cấu tạo tế bào Cơ lợn chiếm 35 - 40% protein, lợn con có tốc độ phát triển mạnh về hệ cơ, khả năng tích luỹ protein lớn do
đó đòi hỏi số lượng và chất lượng protein cao Cần cung cấp 26 - 23% protein thô trong khẩu phần và tỷ lệ lysin/năng lượng phải đảm bảo từ /kcalME
Trang 18Trong protein có hai loai axit amin: loại thay thế được và không thay thế được Loại không thay thế được, cơ thể lợn không thể tự tổng hợp được mà phải cung cấp từ thức ăn
Giá trị sinh vật học của protein phụ thuộc vào thành phần của các axít amin thiết yếu, khi thiếu 1 trong các axit amin thiết yếu đều dẫn đến giảm giá trị sinh vật protein (Leonard và ctv, 1979)[25] Sự tổng hợp protein ở lợn đòi hỏi có nhiều axit amin khác nhau trong đó có 10 axit amin quan trọng không thay thế là: acginin, histidin, isoleucin, leucin Lysin, , methionin, phenylanin, threonin, tryptophan, valin, (Crampton và ctv, 1995)[19]
Bảng 5.2: Nhu cầu protein thô, ME và một số axit amin cho lợn con
đã mô tả và cho thấy mối quan hệ này bị ảnh hưởng bởi từng giai đoạn sinh
Trang 19trưởng của lợn, trong đó sự cân đối tỷ lệ Lyzin/năng lượng trao đổi (ME) có nghĩa hàng đầu
Kết quả nghiên cứu của Hoàng Toàn Thắng và ctv [13] cho thấy việc sử dụng tỷ lệ 3,88g lyzin/1000kcal ME để nuôi lợn con sau cai sữa từ 25-56 ngày tuổi có hiệu quả kinh tế hợp lý nhất so với các tỷ lệ lyzin/ME khác Hàm lượng protein cho lợn con cai sữa sớm thường ở mức 18 – 20% nhưng hàm lượng lyzin được chú ý đặc biệt ARC (1981)[17] và NRC (1998)[27] đề nghị dùng mức 0,99g lyzine/MJ DE cho lợn 21-56 ngày tuổi
Theo Kaji và Furuya (1987)[22] nhu cầu lyzin cần cho 1kg tăng trọng ở lợn con và lợn sinh trưởng là 20g
Nghiên cứu của Kev willams, Danny singh và John Kopin, (1995) [23] về nhu cầu axit amin cho lợn nuôi theo hướng nạc cho thấy nếu coi lyzin là 100 các axit amin khác là: Methinin + cystin là 55, phenylanin + tryrosin là 120, tryptophan là 17, treonin là 67, leucin là 110, iso leucin là
ăn, hiệu quả sử dụng Protein sẽ giảm khi mức protein trong khẩu phần tăng (Zintzen và ctv, 1975) [29]
Thức ăn cho lợn con thường thiếu hai axit amin, đó là lysin và methionin Lyzin đóng vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp các nucleotit và hemoglobin, giúp tổng hợp thịt nạc, nếu thiếu lyzin lợn con lười ăn, da khô, tăng trọng kém
Trang 20Metionin tham gia vào tổng hợp anbumin, bởi có nhóm metyl cần cho quá trình tổng hợp các enzym, hoạt động của tuyến giáp, khử các chất độc xâm nhập vào cơ thể, thiếu metionin trong khẩu phần sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng, số trao đổi chất bị rối loạn
Theo Admina 1985 trong protein thô của khẩu phần lợn con bú sữa cần
có 5 - 6,5% lyzin, 3 - 3,2% met, 1,4 - 1,5% trytophan
2.4.2 Nhu cầu năng lượng
Nhu cầu năng lượng của lợn tăng theo tuổi nhưng nhu cầu năng lượng
tính cho 1 kg thể trọng thì giảm theo tuổi (bảng 6.2)
Bảng 6.2: Mức năng lượng cho lợn con
(Trương Lăng - 2003)[11]
NL cung cấp từ Tuần
tuổi
KL lợn
(kg)
Tăng trọng 1 ngày đêm (g)
Nhu cầu NL 1 ngày đêm (Kcal) Sữa mẹ (Kcal) Thức ăn (Kcal)
Sự cung cấp tính theo sữa
Trang 21Trong bào thai nguồn dinh dưỡng chuyển qua nhờ hệ tuần hoàn nhau thai, khi đẻ nguồn dinh dưỡng đó mất đột ngột, vì vậy trong vòng 30 phút đầu thân nhiệt lợn con giảm đột ngột từ 38,9 - 39,1°C xuống còn 36,7 - 37,1°C sau
60 phút là 36,8 - 37,2°C, 120 phút là 37,1 - 37,9°C Sau đẻ một giờ nếu lợn con được bú sữa đầu thì 8 - 12 giờ sau thân nhiệt ổn định
Nếu 4 giờ mới được bú sữa đầu thì đến 18 - 24 giờ sau thân nhiệt mới
đạt mức bình thường
Khi đẻ ra đến 21 ngày tuổi nguồn dinh dưỡng chủ yếu của lợn con là sữa mẹ Nên số lượng, chất lượng sữa của lợn mẹ ở giai đoạn này có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển lợn con
Theo Hovorka (1983) thì lợn con cứ nhận 1 kg sữa mẹ thì tăng khoảng 250g khối lượng cơ thể Sau 21 ngày sữa lợn mẹ bắt đầu giảm cả về số lượng
và chất lượng do đó không đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của lợn con
2.4.3 Nhu cầu lipit
ở lợn năng lượng do lipit cung cấp chỉ chiếm 10 - 15%, phần lớn được
dự trữ dưới da, quanh nội tạng, lipit được hấp thu ở ruột non Lợn con tiêu hoá lipit cao hơn lợn lớn, vì lipit của lợn con bú sữa chủ yếu ở dạng nhũ hoá, lipit nhiều lợn con dễ bị ỉa chảy Trong 2 tuần đầu sau cai sữa, lượng chất béo bổ sung nên hạn chế ở mức 2 - 3% khẩu phần là đủ, sau 3 - 4 tuần kể từ khi cai sữa tỷ lệ chất béo trong khẩu phần thức ăn có thể tăng từ 4 - 5% (Nguyễn Văn Hiền, 2003) [8] Nếu gluxit và lipit không cân bằng xảy ra các thể xetôn trong quá trình ôxi hoá Bình thường xetôn trong máu đạt 1 - 2 mg%, nhưng khi dùng mỡ là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu thể xetôn tăng lên 200 - 300 mg% gây hiện tượng xetôn huyết, xetôn niệu, cơ thể lợn bị toan huyết, lợn con chết trong trạng thái hôn mê, vì vậy trừ sữa mẹ ra thức ăn bổ sung cần có hàm lượng mỡ thấp
Trang 222.4.4 Nhu cầu các loại khoáng
Khoáng chiếm từ 4 - 5% khối lượng cơ thể, mà khối lượng cơ thể động vật không tự tổng hợp được các chất khoáng đặc biệt là canxi, phospho, sắt,
đồng mà chức năng của các khoáng chất này cực kỳ đa dạng, chúng bao gồm
từ chức năng cấu tạo một số tế bào cho tới hàng loạt các chức năng điều hoà các tế bào khác
Canxi phospho giữ vai trò chính trong việc duy trì và phát triển bộ xương Canxi có 99% nằm ở trong xương và răng Trong sữa canxi dưới dạng Cazeinat Ca, trong huyết tương Ca chiếm 9 - 11 mg%, khi nồng độ Ca trong máu giảm sẽ gây hiện tượng co giật mềm xương
Phospho nằm ở dạng phosphat, tham gia quá trình trao đổi chất, tỷ lệ Ca/P ở lợn con là 1,6 - 2,1 Nếu Ca, P thấp cao gây hiện tượng mềm xương co giật, đầu sụn phình to, viêm khớp, yếu ớt
Lợn con cần được cung cấp 0,8 - 0,9% Ca, và 0,35 - 0,45% P trên một
kg VCK của khẩu phần
Fe cần như một thành phần của hemoglobin trong hồng cầu, sắt có trong mioglobin ở cơ, trong transferrin của huyết thanh, trong lactoezin trong sữa, hemosiderin của gan (Zimmerman, 1980, Ducsay và CTV, 1984) Sắt cũng giữ vai trò quan trọng trong cơ thể như một thành phần của các enzym
đồng hoá Thức ăn thiếu sắt sẽ giảm hàm lượng hemoglobin trong máu, hạn chế sản xuất kháng thể, hạn chế sản xuất HCL, thiếu sắt da lợn con có màu trắng xanh, chậm lớn, có hiện tượng ỉa chảy
Lợn con lúc mới sinh dự trữ sắt rất ít (60 - 70 mgFe ở gan), nhu cầu tới
6 -11 mg/ngày trong khi sắt ở sữa lại không đáng kể (1 - 2 mg/ngày/con), điều
đó cho thấy lợn con dễ thiếu máu do thiếu sắt nhất là sau khi cai sữa(khủng hoảng 3 tuần) Để phòng thiếu sắt người ta tiêm Dextran-Fe (Feri-Dextran) cho lợn con ở tuần tuổi đầu tiên (tiêm Dextran-Fe, tăng thêm 2 - 3 kg ở lúc 6 tuần)
Trang 23Cùng với sắt, đồng (Cu) tham gia vào quá trình tạo máu Đồng cần thiết cho sự chuyển biến sắt thành dạng kết hợp hữu cơ và đóng vai trò quan trọng trong sự tổng hợp hemoglobin Lợn con thiếu đồng cũng sẽ dẫn đến thiếu máu, giảm hemoglobin trong máu và giảm tăng trọng Đối với lợn con sau cai sữa có thể bổ sung đồng dưới dạng CuSO4 vào thức ăn hỗn hợp với mức 10 mg/kg thức ăn (G Bolstedt,1951)
Khi bổ sung Fe/Cu cần phải đảm bảo theo tỷ lệ 10 - 12/1 Đây là hai nguyên tố hạn chế trong quá trình tạo sữa phải bổ sung trực tiếp cho lợn con
2.4.5 Nhu cầu vitamin
Vitamin là một trong các loại dinh dưỡng cần thiết cho các chức năng trao đổi chất, tham gia cấu tạo màng tế bào, mặc dù lượng vitamin cần vô cùng nhỏ nhưng lại có tác dụng lớn cho sinh trưởng phát dục của lợn con
+ Vitamin A: vitamin A tham gia vào quá trình sống của động vật, nhờ
có vitamin A mà các mô bảo vệ như da, niêm mạc, giác mạc mắt phát triển bình thường, ngoài ra vitamin A còn có tác dụng kích thích sinh trưởng của gia súc non nếu thiếu vitamin A lợn con sẽ bị khô mắt, viêm da, viêm phổi, lợn chậm lớn Hàng ngày lợn con cần 200 - 300 UI/kg thể trọng, nếu dùng caroten thì cần 55 - 60 mg/1 kg VCK của khẩu phần
+ Vitamin D, gồm D2 và D3 có tác dụng duy trì sự cân bằng tỷ lệ giữa Ca/P: 1/1 - 2/1, hàng ngày nhu cầu lợn con đòi hỏi 12 - 15 UI/kg thể trọng
+ Vitamin nhóm B:
Vitamin B1 tham gia vào quá trình trao đổi chất, chống viêm dây thần kinh, khử cacboxin của axit pyruvic, thiếu vitamin B1 lợn con bị phù, viêm dây thần kinh, suy tim, giảm tính thèm ăn, chậm lớn
Vitamin B2 tham gia oxy hoá hoàn nguyên, oxy hoá đường, axit amin, axit lactic, tham gia sự hô hấp của mô bào, tham gia vào sự hình thành axit HCl của dịch vị và muối mật, thiếu vitamin B2 lợn con sẽ rụng lông, các khớp xương mất tính di động, lợn con hay nôn mửa, ỉa chảy, sinh trưởng kém, nhu cầu lợn con cần 0,8 - 1,2 mg/kg VCK
Trang 242.4.6 Nhu cầu nước
Nước không phải là nguồn cung cấp năng lượng hay vật liệu xây dựng cơ thể nhưng lại rất cần thiết cho sự sống Nước trong cơ thể động vật vừa là dung môi, vừa là phương tiện vận chuyển Trong cơ thể lợn nước chiếm khoảng 50 - 60% trọng lượng cơ thể Trong máu, sữa nước chiếm tới 80 - 90%, cơ thể mất 10% sẽ gây rối loạn chức năng trao đổi chất, mất 20% nước lợn con dẫn đến tử vong Tất cả quá trình sống đều liên quan đến nước Phải cho lợn con uống nước tự do nhưng không nên cho lợn con uống nước lạnh dưới 15°C và đảm bảo nước luôn luôn sạch (không có ký sinh trùng, vi trùng
và không nhiễm các kim loại nặng…)
2.5 Những yêu cầu về nguyên liệu thức ăn
Nguyên liệu thức ăn chăn nuôi là tất cả những đơn chất, hợp chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp được dùng để chế biến thành thức ăn chăn nuôi
2.5.1 Yêu cầu về lựa chọn nguyên liệu
- Trong việc sản xuất thức ăn hỗn hợp phải lựa chọn những nguyên liệu phù hợp với đặc điểm sinh lý của từng lứa tuổi, từng loại lợn nhất là đối với lợn con đang bú sữa và lợn con cai sữa Việc lựa chọn nguyên liệu và đưa vào hỗn hợp một hàm lượng hợp lý có ý nghĩa hơn là nồng độ dinh dưỡng (Vũ Duy Giảng, 2001)[4]
- Các nguyên liệu đơn hoặc hỗn hợp trước khi đưa vào sản xuất hay sử dụng cần được kiểm tra chất lượng để có biện pháp xử lý đúng mực và đem lại hiệu quả
* Phương pháp kiểm tra chất lượng nguyên liệu
a) Phương pháp thử cảm quan : Đây là phương pháp dùng các giác quan của con người để kiểm tra chất lượng thức ăn
Trang 25+ Dùng mắt: qua quan sát bằng mắt ta có thể đánh giá phẩm chất bên ngoài của thức ăn qua các điểm
Màu sắc phải phù hợp với màu sắc của nguyên liệu đơn tiêu chuẩn (nguyên liệu tốt, mới) Nếu thức ăn hỗn hợp kích thước hạt nghiền phải phù hợp với từng loại lợn Theo tiêu chuẩn Việt Nam đối với lợn con đường kính hạt 2 mm còn lợn lớn 3 - 4mm [2]
Thức ăn bị mốc, thường làm mất màu đặc trưng của các nguyên liệu hoặc thức ăn hỗn hợp, thể hiện bị mốc xanh, vàng lẫn tạp chất, theo tiêu chuẩn Việt Nam 2003 tỷ lệ lẫn tạp chất cát sạn của bột cá < 3%, mảnh kim loại sắc nhọn và tạp chất khác không được phép có, đen, vón cục, ướt Nếu nguyên liệu có đặc điểm trên là nguyên liệu kém chất lượng nên loại bỏ hoặc dùng ở mức hạn chế
+ Dùng mũi: khi ngửi thức ăn, nếu mất mùi, mùi hôi, mốc, thối là thức
ăn bị ôxy hoá Mùi hôi mốc là do thức ăn bị nhiễm nấm mốc nặng
Thức ăn tốt là thức ăn có mùi thơm đặc trưng của các nguyên liệu đơn tốt, mới Đó là mùi thơm của ngô nghiền, mùi thơm của khô dầu qua ép nhiệt, bột cá, mùi thơm đặc trưng của vitamin B1…
+ Dùng lưỡi: trước khi thử thức ăn, ta súc miệng bằng nước lã sạch sau
đó lấy một nhúm nhỏ (1 - 2g) thức ăn đã nghiền vào đầu lưỡi qua đó ta có thể cảm nhận được thức ăn có vị gì không đạt tiêu chuẩn Thức ăn có vị ngon của nguyên liệu, độ mặn vừa phải, không bị cay, đắng là thức ăn tốt, ngược lại là thức ăn kém phẩm chất
+ Xúc giác (dùng tay) khi sờ vào thức ăn rải mỏng (0,5cm) trên bàn tay
ta phát hiện được độ mịn của thức ăn (nghiền to hay nghiền nhỏ); độ ẩm, nhiễm vật ngoại lai (đá, sỏi, ấu trùng, mọt, sâu), độ mát của thức ăn
b) Phương pháp phân tích thành phần hoá học
Muốn đánh giá thực chất chất lượng thức ăn chính xác, phải áp dụng
Trang 26phương pháp phân tích các thành phần dinh dưỡng, thậm chí các chất có hoạt tính sinh học, các enzyme và độc tố… có trong thức ăn đó Tối thiểu cần phải phân tích hàm lượng các chất sau: protein thô, mỡ thô, xơ thô, khoáng tổng số, canxi, phospho, lysin, methionin, muối ăn, độ nhiễm vi sinh vật có hại, độc tố aflatoxin… Các phương pháp phân tích các chỉ tiêu trên đã được quốc tế hoặc nhà nước ta tiêu chuẩn hoá
2.5.2 Một số nguyên liệu thức ăn sử dụng trong chăn nuôi lợn con
2.5.2.1 Hạt cốc và phụ phẩm chế biến hạt cốc(thức ăn giàu tinh bột)
Hạt ngũ cốc có thành phần chính là tinh bột, chiếm 50 - 70% Protein trong hạt cốc biến động từ 7 - 10% nhưng ở lúa mỳ tỷ lệ protein cao hơn có thể tới 14% Hạt cốc thường thiếu các axit amin cần thiết như lysin, metionin, treonin, còn ở lứa mạch hàm lượng lysin có cao hơn so với các loại hạt cốc khác Hạt cốc có hàm lượng chất béo thấp chỉ từ 2 - 5%, hàm lượng chất xơ từ
7 - 14%, hạt cốc thường nghèo chất khoáng, canxi chỉ khoảng 0,15%, phos pho 0,3 - 0,5% nhưng phospho thường ở dạng phytic khó tiêu hoá Hạt cốc cũng nghèo vitamin A, D, B2, riêng ngô vàng giàu caroten Phụ phẩm chế biến từ hạt cốc có cám gạo giàu vitamin E, B1 Hạt cốc và phụ phẩm của hạt cốc cung cấp tới 90% năng lượng trong thức ăn hỗn hợp
- Ngô: hiện nay có nhiều giống ngô đang được trồng ở nước ta, các giống này cho hạt với màu sắc khác nhau như màu vàng, trắng, đỏ Ngô vàng chứa nhiều caroten và các sắc tố khác, do đó làm cho lòng đỏ trứng vàng hơn
Trang 27cũng như làm cho sữa và mỡ của gia súc có màu đặc trưng được người tiêu dùng ưa chuộng Ngô chứa khoảng 720 - 800 g tinh bột/kg chất khô và hàm lượng xơ rất thấp, giá trị năng lượng trao đổi cao 3200 - 3300 kcal/kg
Hàm lượng protein thô trong ngô biến động lớn từ 80 - 120 g/kg phụ thuộc vào giống Tỷ lệ chất béo trong hạt ngô tương đối cao (4 - 6%) chủ yếu tập trung trong mầm ngô Bột ngô bảo quản khó hơn hạt vì chất béo dễ bị oxy hoá Gia súc, gia cầm tiêu hoá tốt các chất dinh dưỡng trong hạt ngô (tỷ lệ tiêu hoá xấp xỉ 90%) Trong protein ngô thiếu lysin và tryptophan Ngô tương đối nghèo các nguyên tố khoáng như canxi (0,03%); kali (0,45%); mangan (7,3 mg/kg); đồng (5,4 mg/kg) vì vậy cần phối chế hợp lý tỷ lệ ngô trong khẩu phần
-Thóc: là nguồn lương thực chủ yếu cho con người ở các nước nhiệt đới, nhưng cũng được sử dụng một phần làm thức ăn gia súc Lượng protein, chất béo, giá trị năng lượng trao đổi của thóc thấp hơn ngô, còn xơ lại cao hơn Tỷ
lệ protein trung bình của thóc là 78 - 87 g/kg và xơ từ 90 - 120 g/kg
Thóc tách trấu có giá trị dinh dưỡng cao hơn, gia súc tiêu hoá hấp thụ tốt hơn Trấu chiếm khoảng 20% trọng lượng hạt thóc Trấu rất giàu silic (trên 210 g/kg CK) các mảnh trấu sắc, nhọn dễ làm tổn thương thành ruột
Do đó khi dùng thóc làm thức ăn gia súc gia cầm phải loại bỏ trấu Gạo có hàm lượng xơ 40 - 80 g/kg và protein là 70 - 87 g/kg Hàm lượng lizin, acginin, tryptophan trong protein của gạo cao hơn ngô Nhưng hàm lượng các nguyên tố khoáng đa lượng, vi lượng ở gạo lại rất thấp so với nhu cầu của gia súc, gia cầm
- Cám gạo là sản phẩm phụ của công nghiệp xay xát Cám gạo được hình thành từ lớp vỏ nội nhũ, mầm phôi của hạt, cũng như một phần từ tấm
Do đó hàm lượng protein trong cám gạo cao: 120 - 140 g/kg CK Hàm lượng
mỡ trong cám gạo cũng rất cao: 110 - 180 g/kg CK Chất béo trong cám gạo rất dễ bị oxy hoá, không nên dự trữ lâu
Trang 282.5.2.2 Thức ăn giàu protein có nguồn gốc thực vật
Hạt cây bộ đậu giàu protein và các axitamin không thay thế cho gia súc, gia cầm Giá trị sinh học của protein đậu đỗ cao hơn protein hạt hoà thảo, trung bình đạt 72 - 75% Protein đậu đỗ giàu lysin sau khi xử lý nhiệt thì dễ tiêu hoá và hấp thu Các nguyên tố khoáng như Ca, Mg, Zn, Mn, Cu trong đậu
đỗ cao hơn so với hạt hoà thảo, nhưng chúng lại nghèo phốt pho và kali hơn
Phần lớn hạt đậu đỗ chứa độc tố hoặc các chất ức chế men tiêu hoá protein Thức ăn hạt đậu ở vùng nhiệt đới là đỗ tương, lạc, đậu côve, đậu hồng
đáo… thành phần hoá học của các loại đậu này rất khác nhau
- Đậu tương: là nguồn thức ăn thực vật giàu protein (370 - 380 g/kg), chất béo (160 - 180 g/kg) và năng lượng trao đổi (3300 - 3900 kcal/kg) Giá trị sinh học của protein đỗ tương gần với protein động vật Đậu tương giàu axit amin không thay thế nhất là lysin là axit amin thường bị thiếu trong thức ăn có nguồn gốc thực vật
Nếu sử dụng hạt đỗ tương làm thức ăn gia súc nhất thiết phải xử lý nhiệt
để phân huỷ và làm mất hiệu lực của các như chất kháng dinh dưỡng Trong công nghiệp, đỗ tương được sử dụng để ép dầu, những sản phẩm phụ là khô dầu đỗ tương được coi là nguồn thức ăn giàu protein có giá trị cao Khi ép dầu
đỗ tương đã được xử lý nhiệt, nên hầu hết các chất kháng dinh dưỡng đã bị phân huỷ hoặc bị mất hiệu lực do đó làm tăng khả năng tiêu hoá và hấp thụ protein của gia súc Khô dầu đỗ tương sản xuất theo phương pháp chiết ly thường có hàm lượng protein cao hơn và có hàm lượng chất béo thấp hơn so với khô đỗ tương sản xuất theo phương pháp ép cơ học
- Lạc: là cây bộ đậu phổ biến ở vùng nhiệt đới Hạt lạc có hàm lượng chất béo rất cao 48 - 50%, còn trong củ lạc cả vỏ hàm lượng chất béo đạt 38 - 40%, trong chăn nuôi thường sử dụng lạc ở dạng khô dầu Tỷ lệ protein trong khô dầu lạc nhân là 45 - 50%; trong khô dầu ép cả vỏ là 30 - 32%, tỷ lệ xơ
Trang 29tương ứng là 5,7% và 27,2% trong chất khô Tỷ lệ chất béo trong khô dầu lạc biến động từ 7 - 12% tuỳ thuộc vào kỹ thuật ép Nhưng khô dầu lạc nghèo lizin (3,9% trong protein), do đó khẩu phần có khô dầu lạc cần được bổ sung thêm đỗ tương, bột cá hoặc lizin trong khẩu phần
ở nước ta do độ ẩm không khí và nhiệt độ cao nên khi bảo quản rất dễ
bị nhiễm nấm mốc khô dầu chứa mycotoxin có hại cho gia súc, gia cầm nhất
là đối với vịt và gia súc non
2.5.2.3 Thức ăn giàu protein có nguồn gốc động vật
Gồm tất cả các sản phẩm chế biến từ nguyên liệu động vật như bột cá, bột đầu tôm, bột thịt xương, bột nhộng tằm, bột máu… Hầu hết thức ăn động vật đều giàu protein có chất lượng cao, có đủ axit amin không thay thế, các nguyên tố khoáng cần thiết và một số vitamin quan trọng như B12, D, E… Tỷ
lệ tiêu hoá và hấp thụ các chất dinh dưỡng trong thức ăn động vật rất cao
- Bột cá: là thức ăn động vật có chất lượng dinh dưỡng cao, được chế biến từ cá tươi hoặc từ sản phẩm phụ công nghiệp chế biến cá hộp Trong protein bột cá có đầy đủ axit amin không thay thế: lyzin 7,5%; methionin 3%; izolơxin 4,8%…
Protein trong bột cá sản xuất ở nước ta biến động từ 35 - 60%, khoáng tổng số biến động từ 19,6% - 34,5% trong đó muối: 0,5 - 10%, canxi 5,5 - 8,9%; phốt pho 3,5 - 4,8%, các chất hữu cơ trong bột cá được gia súc, gia cầm tiêu hoá và hấp thu với tỷ lệ cao 85 - 90%
- Bột thịt xương: chế biến từ các gia súc, gia cầm không dùng làm thực phẩm cho con người hoặc từ các phụ phẩm của lò mổ Thành phần dinh dưỡng của bột thịt xương thường không ổn định, phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu chế biến Tỷ lệ protein bột thịt xương từ 30 - 50%, khoáng 12 - 35%, mỡ 8 - 15% Giá trị sinh học của protein trong bột thịt xương cũng biến động và phụ thuộc vào tỷ lệ các mô liên kết trong nguyên liệu Tỷ lệ mô liên kết càng nhiều, giá trị sinh học của protein càng thấp
Trang 30- Bột đầu tôm: chế biến từ đầu, càng, vỏ tôm là nguồn protein động vật tốt cho gia súc Giá trị dinh dưỡng của bột đầu tôm thấp hơn so với bột cá và bột máu Bột đầu tôm có 33 - 34% protein, trong protein có 4 - 5% lizin, 2,7% methionin Ngoài ra bột đầu tôm giàu canxi (5,3%); phôt pho (0,9%) và các nguyên tố vi lượng khác
- Bột máu: bột máu là sản phẩm chế biến từ phụ phẩm máu thu thập từ các lò mổ Bột máu có hàm lượng protein rất cao (80%) và rất nhiều lyzin nhưng methionin thấp Nên khi bổ sung bột máu vào khẩu phần phải xem tỷ lệ methionin để bổ sung thêm methionin tổng hợp Bột máu có nhiều loại tuỳ thuộc vào cách chế biến Bột huyết tương là máu được thu thập vào các bồn lạnh và chống đông bằng citrat natri, ly tâm để tách huyết tương khỏi huyết cầu rồi bảo quản ở 25°F cho đến khi được phun sấy khô Bột máu cũng chế biến tương tự nhưng không tách huyết cầu ra
- Bột sữa gầy (sữa khử bơ): bột sữa gầy là sản phẩm từ sữa tách bơ Bột sữa gầy chỉ còn 1% chất béo, protein khoảng 25% Bột sữa gầy là loại nguyên liệu được dùng nhiều trong thức ăn cho lợn, đặc biệt là thức ăn cho lợn con
2.5.3 Thức ăn bổ sung (Feed additves)
Định nghĩa về thức ăn bổ sung của European Parliament and Council of Agricultaral Ministers 2003: "Thức ăn bổ sung là những chất chứ không phải
là nguyên liệu hay premix, được thêm vào thức ăn hay nước uống để thực hiện một hay nhiều chức năng (ở điều 5) những chức năng này gồm có (điều 5);
- Những tác động thuận lợi đến tính chất của thức ăn, sản phẩm động vật, màu của cá và chim hay môi trường chăn nuôi
- Thoả mãn nhu cầu động vật
- Những tác động thuận lợi đến chăn nuôi, tính năng sản xuất và sức khoẻ động vật, đặc biệt ảnh hưởng đến đường tiêu hoá hay tỷ lệ tiêu hoá thức ăn
Trang 31* Xu hướng sử dụng thức ăn bổ sung hiện nay
+ Tăng nồng độ năng lượng lysin trong khẩu phần: bằng việc bổ sung
mỡ động vật hay dầu thực vật và bổ sung lysin tổng hợp (đồng thời tăng các axit amin thiết yếu khác) Yanne Boloh 2004 thí nghiệm trên lợn: cứ mỗi kg thức ăn tăng thêm 1 MJ năng lượng DE bằng mỡ ( = 11,4g mỡ động vật) và 1g lysine, lợn tăng trọng thêm 40g/ngày Chỉ chi phí thêm 80 đồng thu thêm
800 đồng
+ Nâng cao khả năng tiêu hoá, hấp thu thức ăn: sử dụng enzym thức ăn (enzym ngoại sinh) Hiện nay ở những nước có nền công nghệ sinh học cao như Mỹ, Pháp, Nhật, Anh, Nga, Trung Quốc đã nuôi cấy và tách lọc được một
số enzym tiêu hoá hydracacbon, protein từ nhiều loại vi sinh vật, nấm men
• β-mannase: phân cắt polymer mannan
• α-galactosidase giải phóng galactose khỏi đường 5,4 và 3c, tăng năng lượng, tránh được khi sản sinh trong ruột
• Phytase: giải phóng P và các chất khác như kim loại (Cu, Zn…), protein, axit amin, đường khỏi muối của axit phytic Axit phytic có nhiều trong đậu đỗ (đậu đỗ chín 13,9 - 18,2 g/kg), hạt ngũ cốc và phụ phẩm ngũ cốc (ngô, thóc gạo, lúa mì, tấm cám…)
Tác dụng của enzym phytase: giảm lượng phospho khẩu phần, giảm phospho thải ra ở phân, tăng tỷ lệ tiêu hoá protein, axit amin, tăng năng lượng trao đổi, tăng độ lợi dụng khoáng
+ Bổ sung axit hữu cơ
Trang 32Lợn con cai sữa sớm, axit chlohydric (HCl) dạ dày ít nên khả năng hoạt hoá enzym pepsinogen thành pepsin kém dẫn đến khả năng tiêu hoá protein thức ăn kém Phần protein không tiêu hoá xuống ruột già → lên men thối, gây nên tiêu chảy Mặt khác do axit chlohydric dạ dày sản sinh ra ít nên pH dạ dày lợn con cao (pH = 4,5-7) chưa có khả năng diệt khuẩn, pH thích hợp cho các
vi khuẩn có hại hoạt động là E.coli (4,3), Samonella (4,0) và Staphylococcus (4,2) do đó gây nên bệnh tiêu chảy ở lợn con
• Biện pháp khắc phục: bổ sung axit hữu cơ cho lợn con và lợn thịt
• Tác dụng của việc bổ sung axit hữu cơ: hạn chế sự phát triển của các
vi khuẩn gram (-), (vi khuẩn có hại) như E.coli, Samonella và Clostridia có lợi cho sự phát triển của vi khuẩn gram (+) như Lactobacilli, Bifidobacter, Streptococcus và entercocci
• Kích hoạt men pepsinogen trong dạ dày lợn con
Pepsinogen _H+ Pepsin (dang hoạt động)
• Tăng cường trao đổi và hấp thu chất khoáng
• Tăng tính ngon miệng, tăng lượng thức ăn ăn vào và cải thiện tăng trọng
+ Sử dụng khoáng hữu cơ
Khoáng hữu cơ là những phức của kim loại với protein hoặc axit amin những phức này gọi là chelat gồm hai phần: ion kim loại và vật mang kim loại (gọi là ligandum)
* Vai trò của các nguyên tố vi khoáng
• Thành phần của nhiều enzym: metaloenzym (enzym chứa kim loại) và các hoạt chất sinh học của tế bào: vitamin (có trong vitamin B12), hocmon (I trong thyroxin)
Người ta đã bổ sung nhiều loại vi khoáng vào khẩu phần của động vật nuôi (Fe, Cu, Co, Mn, Zn, Se, I, Cr….)
Trang 33• Hạn chế của việc bổ sung các nguyên tố khoáng ở dạng muối vô cơ: muối khoáng tạo ra nhiều ion tự do nó sẽ kết hợp với những phân tử khác của khẩu phần tạo thành phức khó hấp thu dẫn đến độ lợi dụng sinh học nguyên tố khoáng bị giảm có thể khắc phục vấn đề trên bằng việc bổ sung vào khẩu phần các loại khoáng hữu cơ
* Ưu điểm của khoáng hữu cơ: trên bề mặt của phân tử chê lat có axit amin mang điện tích âm → dễ dàng liên kết với ion kim loại mang điện tích dương Người ta thường tạo ra những chelat đồng - lysine, kẽm - methionin, sắt - methionine, selen - methionine, mangan - methionine…
• Các kim loại trong phức chelat dễ chuyển nhưởng cho các tế bào của niêm mạc ruột (dễ hấp thu) và chuyển nhượng cho các chelat khác trong máu
để đi đến nơi cần thiết trong cơ thể động vật
Chính nhờ đặc điểm này mà kim loại trong chelat có độ lợi dụng sinh học cao liều dùng các kim loại trong chelat để bổ sung vi khoáng cho động vật nuôi thấp hơn nhiều so với liều dùng của kim loại trong các muối vô cơ
Theo A.Bruce Johnson et.al, 1998, kết quả thực nghiệm bổ sung Zn cho lợn con ở dạng oxit kẽm thì phải dùng liều 2000 - 3000 ppm Bổ sung Zn ở dạng Zn - methionin thì chỉ cần 250 ppm Zn đã có thể làm cho lợn cai sữa sớm có tăng trọng và chuyển hoá thức ăn cao, đặc biệt là tỷ lệ tử vong của lợn trong giai đoạn 0 - 21 ngày tuổi thấp hơn nhiều so với lợn được bổ sung oxy kẽm (4% so với 16%)
+ Hỗ trợ hệ thống miễn dịch: người ta bổ sung thức ăn chứa immunoglobulin cho con vật trong những thời kỳ khủng hoảng như thời kỳ cai sữa ở lợn Những thức ăn này gồm huyết thanh lợn, ruột non lợn thuỷ phân, lòng đỏ trứng
+ Sử dụng các chất kháng khuẩn thảo mộc Các chất kháng khuẩn thảo mộc có tỏi, hồi, quế, hạt tiêu, gừng, ớt, bạc hà… tinh dầu các thảo mộc này có tác dụng diệt khuẩn rất hiệu quả và có thể thay thế kháng sinh
Trang 34Hiệu quả sử dụng thức ăn bổ sung rất to lớn, đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới và Việt Nam tuy nhiên việc sử dụng nó phải được kiểm soát ngặt nghèo
2.5.4 Chế biến thức ăn cho lợn con
2.5.4.1 Sự cần thiết phải chế biến
Quyết định sự thành công trong cai sữa sớm cho lợn con là kỹ thuật chế biến thức ăn sao cho phù hợp với hệ thống tiêu hoá của lợn con bú sữa và sau cai sữa đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng của chúng Thức ăn cho lợn con phải cân bằng dinh dưỡng, cân bằng axit amin Các loại hạt ngũ cốc như ngô, lúa mì, đại mạch, yến mạch và các loại hạt họ đậu, đặc biệt là đỗ tương và các phế phụ phẩm của công nghiệp ép dầu chiếm tỷ lệ rất lớn trong khẩu phần của các loại động vật dạ dày đơn (thông thường từ 70 - 85%) Bởi vậy để quá trình nuôi dưỡng đạt hiệu quả kinh tế cao nhất, cũng như tăng hiệu quả sử dụng thức ăn của gia súc, gia cầm cần phải có biện pháp chế biến thức ăn thích hợp Mặt khác, các khẩu phần dù có tối ưu thế nào chăng nữa cũng sẽ thể phát huy
được hiệu quả nếu các nguyên liệu sử dụng trong khẩu phần không được chế biến tốt Ngoài ra nếu chế biến không tốt còn làm giảm năng suất sinh trưởng của gia súc
Do đặc điểm phát triển cơ quan tiêu hoá của lợn con chưa hoàn thiện, mối quan hệ giữa thần kinh thể dịch với cơ quan tiêu hoá hình thành chậm, sự phát triển của hệ thống enzym tiêu hoá chưa hoàn thiện nên khả năng tiêu hoá thức ăn rất hạn chế
Đối với thức ăn hạt ngũ cốc khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con rất hạn chế do khả năng tiết enzyme amylaza, lactaza, saccraza còn rất thấp, trong khi đó cấu trúc của tinh bột là những mạch cacbon dài do đó các enzyme không thể công phá triệt để, dẫn đến khả năng tiêu hoá và phân giải tinh bột kém, đặc biệt là tinh bột sống (Cunningham 1959)
Trang 35Đối với một số loại hạt cây họ đậu nếu không được chế biến thì khả năng tiêu hoá của lợn con rất hạn chế do có hàng loạt bất lợi như:
- Huỷ hoại lớp nhung mao, giảm sản lượng enzyme trong ruột, giảm thời gian vận chuyển thức ăn, làm giảm hấp thu dưỡng chất ở thành ruột non
do glycimin, α-conglicinin và lectin
- ngăn cản hoạt động của men tiêu hoá do ức chế men trypsin
- tăng sự mất mát protein nội sinh do hemagglutinin
- tăng tỷ lệ tiêu chảy do lợn con không tiêu hoá được rafinose và stachyose
- như vậy để tăng khả năng tiêu hoá, hấp thu các chất dinh dưỡng trong khẩu phần thì vấn đề xử lý(chế biến) nguyên liệu nhằm hạn chế các tác nhân bất lợi là quan trọng và cần thiết
Chế biến thức ăn làm tăng khẩu vị, giảm độ thô cứng, tăng tỷ lệ tiêu hoá, hấp thu, loại trừ các chất độc và chất có hại, tăng giá trị sinh học của protein, cân đối các chất dinh dưỡng từ đó làm tăng giá trị dinh dưỡng của thức ăn
2.5.4.2 Đặc tính của các loại thức ăn hạt và phương pháp chế biến
2.5.4.2.1 Tính chất vật lí hoá học của tinh bột hạt
Tinh bột là poly saccarit dự trữ trong hạt, củ, quả Tinh bột chiếm khoảng 70 - 80% khối lượng chất khô của các hạt ngũ cốc, đại phân tử của tinh bột có 2 cấu tử là amyloz và amylopectin
Amyloz là một polyme mạch thẳng do các phân tử D-glucoz liên kết với nhau theo kiểu 1,4 glucozit Thường tinh bột hạt ngũ cốc chứa 20 - 30 amyloz (gạo ngon chứa 25 - 30% amyloz, tỷ lệ này cao hơn hay thấp hơn đều làm thay
đổi độ ngon)
Amylopectin là một polyme mạch nhánh do các D-glucoz liên kết với
Trang 36nhau qua mạch 1,4 và 1,6 glucozit Trong lượng phân tử của amylopectin là hàng trục triệu, trong khi đó amyloz chỉ khoảng 106
Cấu trúc của hạt tinh bột khá đặc biệt mỗi hạt có một rốn hạt (hilum), xung quanh rốn hạt là vòng đồng tâm(còn gọi là vòng sinh trưởng) các hạt tinh bột ngũ cốc thường có các vết nứt hình thành do mất nước nhanh của ngũ cốc trong quá trình thành thục Chính nhờ vết nứt này các enzyme tiêu hoá dễ thâm nhập tạo điều kiện dễ dàng cho sự phân giải, các hạt tinh bột của các loại
củ không có các vết nứt này cho nên khó tiêu hoá hơn
Tinh bột có cấu trúc tinh thể dưới tác động của nhiệt hay axit, cấu trúc tinh thể của nó bị phá vỡ
2.5.4.2.2 Sự biến đổi vật lý hoá học của tinh bột trong quá trình chế biến
- Sự gelatin hoá
Dưới tác động của cơ, nhiệt, hoặc hoá chất liên kết Hydro giữa các đại phân tử amyloz và amylopentin bị phá vỡ, cấu trúc của hạt tinh bột bị biến đổi Khi tinh bột được ngâm trong nước và nhiệt độ nước tăng dần lên tới 550C các hạt tinh bột hút nước và trương phồng lên Sự trương phồng là của tinh bột quá trình thuận nghịch sau khi làm lạnh và làm khô, hạt trở lại bình thường Tuy nhiên nếu ngâm nước và đun nóng ở nhiệt độ cao hơn (60 - 800C) các hạt tinh bột bị trương phồng và không trở lại bình thường được nữa Lúc này hạt tinh bột mất đi cấu trúc tinh thể Nhiệt độ đun nóng càng cao càng kéo dài và có sự rung động mạnh thì cấu trúc hạt bị phá vỡ nhiều
Nhiệt độ gelatin hoá khác nhau phụ thuộc vào nguồn gốc của tinh bột: tinh bột đại mạch 59 - 640C, tinh bột ngô 62 - 720C, tinh bột lúa mì 65 - 670C, tinh bột cao lương 67 - 770C Gelatin hoá có thể xuất hiện khi nghiềng hoặc cán mỏng các loại hạt ngũ cốc, một số dung dịch kiềm hay axit cũng có tác dụng thúc đẩy quá trinh gelatin hoá
Trang 37- Sự rắn đanh (Retrogradation) và dextrin hoá
Sự rắn đanh là quá trình trong đó các hạt tinh bột từ trạng thái trương phồng hoặc gelatin hoá trở về trạng thái quần tụ thành từng đám hoặc không hoà tan Kết quả của quá trình này là liên kết hydro giữa amyloz và amylopectin được phục hồi
Mức độ rắn đanh phụ thuộc vào bản chất hạt, vào hàm lượng nước tự
do, nhiệt độ Sự rắn đanh làm giảm hiệu quả tác động của enzyme do đó làm giảm tỷ lệ tiêu hoá
Dextin hoá là quá trình cắt, phân đoạn các phân tử amyloz và amylopectin Dextrin hoá có thể thực hiện bằng phương pháp xử lý tinh bột bằng nhiệt độ và độ ẩm hoặc bằng dung dịch axit hoặc muối Xử lý bằng tia hồng ngoại (micronizing), nổ bỏng (popping) là phương pháp dextin hoá điển hình, tỷ lệ tiêu hoá tăng rõ rệt
- Tác động của enzyme amylaza lên tinh bột
Amylaza là enzyme có tác dụng làm giảm nhanh kích cỡ phân tử tinh bột, chuyển hoá chúng thành các dextrin hoá và các oligosaccarit cộng với glucosidaz (maltoz) Amylaza hoá lỏng tinh bột rất nhanh và chuyển hoá những chất dinh dưỡng tinh bột thành dạng lỏng hơn và có thể hoà tan
Các β-amylaza có thể gắn vào một điểm bất kỳ bên trong của chuỗi tinh bột mạch thẳng và bẻ gẫy chúng thành các đoạn có kích thước nhỏ hơn, chuyển chúng thành đường maltoz và dextrin hoá mạch thẳng hoặc mạch nhánh
Các β-amylaza gắn vào các α-1,4 và 1,6 glucozit ở phần ngoại vi của
đại phân tử tinh bột, thuỷ phân tinh bột thành maltoz và glucoz Đối với các cấu tử amylopentin, α- amylaza đầu tiên tác động vào các liên kết gần các
điểm phân nhánh và bẻ gãy chúng thành oligosaccarit có liên kết phân nhánh
Về đại thể, các amylaza tác động lên bề mặt hạt tinh bột, trước hết ở những
Trang 38chỗ gãy hay những vùng không hoàn hảo, về cấu trúc sau đó lan toả ra các vùng xung quanh, tạo thành những hốc hình nón, xói mòn các hạt và làm cho chúng hoà tan hoàn toàn
- Nghiền bằng trục lăn: hạt được làm vỡ, bị cán mỏng và nghiền nhỏ bởi các trục lăn trong máy nghiền Độ nhỏ của hạt phụ thuộc vào kích cỡ và cấu trúc, tốc độ vòng quay của con lăn và các yếu tố khác như loại hạt, độ ẩm của hạt
Xử lý tia hồng ngoại (Micronizing) Rang chín (Roasting)
é p đùn (Dryextruding)
Ngâm nước (Soaking)
ủ hạt ướt
Xử lý kiềm (Alkali treatment)
Xử lý axit (Acid treatment)
Hấp cán (Steam rollring) Hấp và làm vỡ (Steam flaking) Làm giãn nở (Exploding) Nấu chín (Cooking)
- Nổ bỏng (popping): đây là phương pháp làm giãn nở và phá vỡ các hạt bằng nhiệt độ và áp suất cao Ngô, gạo, cao lương, lúa mì có thể áp dụng nổ bỏng nhưng đại mạch, yến mạch không thực hiện được Nhiệt độ
Trang 39nổ bỏng thường là 150°C nhưng mức độ nổ khác nhau tuỳ theo loại hạt và
độ ẩm của hạt
- Phương pháp dùng sóng cực ngắn (micronizing): nhờ tác động của
vi sóng nhiệt độ của hạt tăng nhanh trong khoảng 140 - 180°C với thời gian vài chục giây tùy theo loại hạt, tinh bột hạt được gelatin hoá, vitamin được bảo toàn
- Phương pháp rang chín: hạt được quay trong một khoang kim loại chuyển động theo chu kỳ qua tia lửa Nhiệt độ của hạt trong quá trình rang đạt khoảng 150°C
- ép đùn (extruding): hạt được ép qua một syranh trơn, bên trong là một trục có rãnh xoắn Lực ma sát tạo ra nhiệt độ khoảng 95°C Tinh bột được gelatin hoá và chất kháng sinh dinh dưỡng cũng bị phá huỷ, các chất dinh dưỡng được bảo toàn
b) Các phương pháp chế biết ướt
- Ngâm nước: hạt được ngâm nước trong khoảng thời gian 12 - 24 giờ, hạt ngấm một lượng nước
- Phương pháp ủ hạt ướt: hạt được ngâm nước đạt hàm lượng nước 25 - 30% sau đó đem ủ yếm khí 20 ngày Trong quá trình ủ, các enzym có sẵn trong hạt sẽ tác động đến tinh bột Chất lượng của sản phẩm chế biến sẽ phụ thuộc vào loại hạt, nhiệt độ môi trường và tỷ lệ nước trong hạt
- Xử lý kiềm (alkali treatment): hạt được ngâm hoặc phun bằng dung dịch sút nồng độ 2,5 - 4% phụ thuộc vào loại hạt Cũng có thể sử dụng dung dịch amoniac, tuy nhiên phương pháp này đóng vai trò bảo quản nhiều hơn là làm thay đổi tính chất vật lý, hoá học của hạt
- Xử lý axit (acid treatment): xử lý axit thường áp dụng cho hạt cốc tươi, axit được dùng làm axetic, propionic, izobutyric, formic, benzoic nhưng phổ biến là axit axetic hoặc propionic hoặc hỗn hợp của hai axit này Tuỳ theo
Trang 40độ ẩm của hạt mà tỷ lệ axit càng nhiều Ưu điểm của phương pháp xử lý axit
là không cần có hầm ủ kín (hạt đã ngấm axit có thể bảo quản trong túi polyetylen, trong thùng gỗ), thời gian bảo quản có thể kéo dài tới một năm Tác dụng bảo quản của hạt vẫn còn duy trì khi đưa hạt ra khỏi nơi bảo quản
- Phương pháp hấp cán (steam rolling): trước hết hạt phải chịu tác động bởi hơi nước nóng trong khoảng thời gian từ 3 - 5 phút, sau đó hạt được nghiền bằng trục lăn
- Hấp và làm vỡ (steam flaking): theo phương pháp này hạt được phun một lượng hơi nước nóng trong khoảng thời gian sao cho độ ẩm của hạt nâng lên 18% (với ngô mất 12 phút, với hạt cao lương mất 25 phút) Nhiệt độ hạt
đạt được khoảng 100°C khi đưa vào trục lăn
- Hấp chín áp suất cao (presse cooking); hạt được hấp chín ở nhiệt độ 143°C và áp suất 3 kg/cm2 Sau khi hấp chín nguyên liệu được làm mát cho
đến khi nhiệt độ còn 90°C và ẩm giảm còn 20% trước khi cán và nghiền bằng trục lăn
- Phương pháp làm giãn nở (exploding): theo phương pháp này hạt được hấp chín trong điều kiện có hơi nước ở áp suất và nhiệt độ cao (15 kg/cm2, 200°C trong 20 giây) Dưới áp suất và nhiệt độ cao, hạt bị trương phồng sau
đó giãn nở đến mức tối đa
- ép viên (pelleting): thông thường người ta đưa hơi nước nóng vào khối nguyên liệu để đưa nhiệt độ lên khoảng 60 - 94°C ở nhiệt độ này một phần tinh bột được gelatin hoá Nhờ sức ép của trục lăn lên syranh, viên thức ăn
được hình thành khi chui qua các rãnh của thành syranh
2.5.4.4 Chế biến hạt đậu
Thức ăn hạt họ đậu là loại thức ăn giàu protein, protein thô từ 30 - 40%, chất lượng protein cao hơn và cân đối hơn so với hạt ngũ cốc Hạt họ đậu nói