Luận văn
Trang 1Vải là một trong các loại cây ăn quả lâu năm có giá trị dinh dưỡng và kinh
tế cao Quả vải ngoài ăn tươi còn được chế biến như sấy khô, làm đồ hộp, làm nước giải khát Vỏ quả, thân cây và rễ có nhiều chất Tananh có thể dùng làm nguyên liệu trong công nghiệp Hoa vải là nguồn mật có chất lượng cao Tán cây vải cao lớn, sum xuê có thể làm cây bóng mát, cây chắn gió, cây cảnh, phủ xanh
đất trống, đồi núi trọc, chống xói mòn, mang nhiều ý nghĩa về môi trường
Theo tài liệu của GS.TS Trần Thế Tục, diện tích trồng vải trên thế giới năm 1999 khoảng trên dưới 90.000 ha và sản lượng quả tươi khoảng 1,6 - 1,8 triệu tấn Hiện nay, Trung Quốc là nước đứng đầu về diện tích và sản lượng vải (sản lượng vải trong năm 1999 chiếm tới hơn 80% sản lượng thế giới), tiếp theo
là những nước như: ấn Độ, Thái Lan và ôxtrâylia
Từ số liệu mới nhất của Tổng cục thống kê cho thấy diện tích vải hiện nay của cả nước là 35.000 ha, trong đó diện tích cho thu hoạch khoảng gần 20.000 ha với năng suất bình quân 4,84 tấn/ha
Cũng theo GS.TS Trần Thế Tục trong thực tiễn sản xuất hiện nay các giống vải trồng chủ yếu ở Việt Nam thường gạp 3 nhóm chính:
- Vải chua: Là giống chín sớm, mẫu mã quả đẹp, ngọt như giống vàng anh, hoa hồng, cùi dừa, đường phèn
Trang 2- Vỉa nhỡ: Kích thước quả bằng vải chua loại nhỏ tuy nhiên phẩm chất quả kém vải thiều
- Vải thiều : Nhóm giống này được trồng chủ yếu và rộng rãi ở nhiều tỉnh Giống vải thiều ăn ngon có giá trị thương phẩm cao hơn nhiều so với các giống khác, có nhiều giống vải thiều như thiều Thanh Hà, thiều Phú Hộ, thiều Xuân Đỉnh, thiều
Bố Hạ
Ngoài ra, một số tỉnh phía Bắc còn trồng những giống vải nhập từ Trung Quốc như Quế vị, Hoài chi, Hắc diệp, Tam nguyệt hồng, Phi tử tiếu, Đai tạo, Bạch đường anh và vải mỏ gà
Những năm gần đây, mục tiêu phát triển nông nghiệp ở một số vùng là chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phá thế độc canh cây lúa thay bằng các loại cây có giá trị kinh tế cao, trong đó đặc biệt quan tâm đến các loại cây ăn quả nói chung
và cây vải nói riêng Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khách quan như thiếu vốn, các khâu chọn tạo giống, chăm sóc và thâm canh vườn quả chưa được chú trọng,
đặc biệt là mức độ gây hại của sâu bệnh đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất và phẩm chất quả vải
Theo kết quả điều tra theo dõi từ năm 1997 đến nay của Viện Bảo vệ thực vật đã xác định có 39 loài sâu và 16 loại bệnh gây hại trên cây vải thiều, trong đó
những loài như Bọ xít hại nhãn vải (Tessaratoma papillose), Nhện lông nhung hại vải (Eriophyes litchi) và bệnh thán thư (Collectotrichum gloeosporiodes) gây
hại rất nghiêm trọng
Bệnh thán thư hại vải (Collectotrichum gloeosporiodes) không chỉ phát
sinh phát triển trên lá, quả mà nó còn gây hại cả trên lộc non và chùm hoa Bệnh phát triển mạnh khi thời tiết ấm và có mưa phùn, đây chính là thời kỳ cây vải
đang ra hoa và hình thành quả non nên tác hại của bệnh ảnh hưởng rất lớn đến
Trang 3năng suất thu hoạch và giá trị thương phẩm Trong 2 năm 1998 - 1999 bệnh gây hại nặng ở hầu hết những vườn trồng vải ở Việt Nam
Vì vậy, việc nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học để từ đó đưa ra các biện pháp phòng trừ hiệu quả đối với bệnh thán thư đang là vấn đề cần thiết đặt
ra trước các nhà khoa học
Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó, để góp phần tìm hiểu mức độ gây hại và biện pháp phòng trừ bệnh thán thư trên cây vải, được sự phân công của bộ môn Bệnh cây - Nông dược, Khoa Nông học, Trường đại học Nông nghiệp I Hà Nội,
chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu nấm gây bệnh thán thư
Colletotrichum gloeosporioides trên cây vải vụ xuân năm 2003 - 2004 ở khu vực Hà Nội và vùng phụ cận”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài:
1.2.1 Mục đích của đề tài
- Đánh giá mức độ gây hại của bệnh thán thư trên cây vải vụ xuân năm
2003 – 2004 ở khu vực Hà Nội, các vùng phụ cận và ảnh hưởng của một số yếu
tố liên quan đến bệnh thán thư trên cây vải trong sản xuất
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Điều tra, xác định thành phần bệnh hại trên cây vải vụ xuân năm 2003 -
2004 tại khu vực Hà Nội và các vùng phụ cận
- Tìm hiểu đặc điểm phát sinh, phát triển của bệnh thán thư và đánh giá mức độ thiệt hại do bệnh gây ra đối với cây vải trong giai đoạn sinh trưởng và giai đoạn sau thu hoạch
- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học của tác nhân gây bệnh thán thư
Trang 4- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố ( giống, thời vụ, phân bón, tuổi cây, mật độ trồng, chân đất ) đến bệnh thán thư
- Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ bệnh thán thư (biện pháp hoá học, biện pháp canh tác)
Trang 52 tổng quan tài liệu
2.1 Tình hình nghiên cứu về thành phần bệnh hại trên cây vải
Dịch hại trên cây vải, nhất là các loại bệnh gây hại rất nghiêm trọng, phạm
vi gây hại trên diện rộng, lây lan nhanh và dễ tạo thành dịch Cho đến nay chưa
có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ về thành phần bệnh trên cây vải (GS
TS Trần Thế Tục, 2000 [ 100 câu hỏi ])
Theo Hoàng Thị Mỹ [Luận khảo ] có 10 loại nấm bệnh, 01 bệnh sinh lý gây hại trên các bộ phận ở các giai đoạn sinh trưởng của cây nhãn, vải và chôm chôm Kết quả điều tra cơ bản 1967 -1968 cho thấy trên vải ở miền Bắc Việt Nam có 10 loại bệnh gây hại tại các tỉnh Hà Nội, Hà Tây, Hải Hưng, Bắc Thái
Từ năm 1993 – 1995 nhóm nghiên cứu gồm có GS TS Hà Minh Trung, PTS Vũ Thị Thanh và cộng sự bước đầu điều tra thành phần bệnh hại vải đã phát hiện thấy 08 loại bệnh chủ yếu do nấm gây ra trong đó nấm Pseudoperonospora phá hoại trên lá vải Khi vải đậu quả nấm Fusarium xâm nhập gây bệnh khô quả vải, làm quả bị rụng hay vẫn dính trên cành nhưng quả bị teo khô Trong quá trình thu hoạch, bảo quản, vận chuyển nấm Schizosaccharomyces, Gloeosporium gây bệnh trên quả vải đặc biệt bệnh lông nhung tồn tại gây hại cho vải quanh năm, từ cây tuổi 2 – 3 cho đến những cây đạt tuổi sinh trưởng 20 –
30 năm Tảo thường gây bệnh trên lá cây ở những cành thấp, khuất nắng, gặp
điều kiện ẩm ướt tảo phát triển mạnh, có trường hợp tảo phá hoại cả ở trên quả
Bệnh mốc sương do nấm Peronophythora litchii khi gặp điều kiện thuận lợi cho nấm phát triển là ẩm độ khoong khí và nhiệt độ cao, bệnh gây hại rất nghiêm trọng Thiệt hại do bệnh gây ra có thể đạt tới 30 – 70% Ngoài ra còn có bệnh thối hoa xuất hiện khi cây ra giò hoa, gây hại nặng vào tháng 12, 1 làm cho các chùm hoa thối khô, có màu nâu, bệnh gây hại trên từng vườn, từng khu vực
Trang 6cục bộ có thể làm giảm 80 – 100% năng suất (GS TS Trần Thế Tục, KS Ngô Hồng Bình, 2000 [Kỹ thuật trồng vải])
Theo GS TS Ngô Thế Dân, 2002 [Kinh nghiệm trồng vải thiều…] bước
đầu xác định có tới 16 loại bệnh khác nhau thường phát sinh gây hại trên cây vải Trong số đó có 5 loại bệnh hại quan trọng, có ảnh hưởng đáng kể đối với năng suất và chất lượng quả bao gồm những bệnh sau:
1- Bệnh chết rũ vải – Fusarium solani
2- Bệnh thán thư - Colletotrichum gloeosporioides
3- Bệnh sương mai – Peronophythora litchi
4- Bệnh biến màu quả - Colletotrichum sp
5- Bệnh nứt quả
ở úc, thành phần bệnh hại chính trên vải được chia ra làm 2 nhóm: Nhóm
gây bệnh mốc như bệnh mốc xanh – Penicillium sp., bệnh mốc Rhizopus – Rhizopus stolonifer và nhóm bệnh gây thối do nhiều loại nấm gây ra như: Alternaria alternata, Colletotrichum spp và Phomopsis sp gây hại chủ yếu, bên cạnh đó còn có các loài khác Phoma sp., Pestalotiopsis sp., Fusarium sp và Curvularia sp
2.2 Nghiên cứu về nấm Colletotrichum gloeosporioides
2.2.1 Phân loại
Giống Collectotrichum lần đầu tiên được nghiên cứu bởi Corda (1837), lúc
đó được gọi là Colletothrichum, sau đó cũng chính tác giả đã đổi lại tên gọi thành Collectotrichum
Năm 1903 Schrenk và Spaulding đã phát hiện ra giống nấm Glomerella bao gồm 5 loài trong đó có loài Glomerella cingulata (Stonem)
Trang 7Cho đến nay, theo các công trình nghiên cứu trên thế giới cho rằng giống
Glomerella có tới 80 loài trong đó có 20 loài có giai đoạn vô tính là giống Collectotrichum Cũng theo những nghiên cứu này thì giữa các loài
Collectotrichum có những đặc điểm rất khác nhau về phạm vi ký chủ, đặc điểm hình thái và đặc tính gây bệnh
Nấm Colletotrichum gloeosporioides có phạm vi biến đổi rõ nhất trong các tiêu chuẩn dùng để phân loại sự khác nhau giữa các loài Colletotrichum, loài
nấm này này có đặc trưng là bào tử không đồng nhất trên môi trường nuôi cấy, chính vì vậy mà việc phân loại chúng rất khó khăn vì không thể chỉ dựa vào các
đặc điểm hình thái
Theo Sutton, 1992 (36) giống Glomerella được phân ra thành 6 loài
chuyên tính dựa trên các đặc tính sinh lý của từng loài bao gồm:
- Glomerella cingulata f sp Aeschynomenes Daniel et all., 1973 – gây hại
nhẹ trên A indica nhưng không gây hại trên lúa, cỏ dại và các cây trồng khác
- Glomerella cingulata f sp Camelliae Dickens and Cook, 1989 – Gây hại
trên chè
- Colletotrichum gloeosporioides f sp clidemiae Trụilo et all., 1986 –
Gây hại trên cây Clidemia hirta
- Colletotrichum gloeosporioides f sp cucurbitae Menten et all., 1980 –
Gây hại trên cây bầu bí
- Colletotrichum gloeosporioides f sp manihotis Chevaug., 1956 – Gây
hại trên cây sắn
- Colletotrichum gloeosporioides var minus Simmonds., 1965 có giai
đoạn hữu tính là Glomerella cingulata var minor Wollenw., 1949 gây hại trên
cây xoài
Trang 8Tuy có chung tên ở giai đoạn hữu tính nhưng ở trong các điều kiện sinh
thái khác nhau có những mẫu bệnh của Colletotrichum gloeosporioides không
có giai đoạn hữu tính Cả hai hình thức đồng tản và dị tản của nấm đều cùng tồn tại, trên đồng ruộng giai đoạn hữu tính thường gặp trên những mô chết và xâm nhiễm bằng bào tử túi (Wheeler, 1954 [36])
Theo Mills et all, 1992 (55) thì những mẫu nấm bệnh Colletotrichum gloeosporioides gây hại trên các cây ký chủ như bơ, đu đủ, xoài, chuối phong lan
và cao su ở nhiều nước đã được tiến hành phân tích sinh học phân tử
ở australia người ta phát hiện thấy trên cây cỏ Stylosanthes có hai chủng
nấm Colletotrichum gloeosporioides khác nhau Qua quá trình phân lập mẫu
bệnh và phân tích sinh học phân tử đã phát hiện thấy có sự biến động rất lớn về kiểu gen và tính độc trên cây ký chủ và sự biến động xẩy ra trong nhân mặc dù không biết được do yếu tố nào gây ra Sự biến động này cũng được tìm thấy ở trên cây dâu trồng vùng ôn đới (Maner et all, 1992 [53])
2.2.2 Phân bố của nấm
Nấm Colletotrichum gloeosporioides có mặt ở hầu hết các nơi trên thế
giới dặc biệt phổ biến ở vùng nhiệt đới và vùng á nhiệt đới Để xác định được sự phân bố của loài nấm này có thể dựa vào những cây ký chủ của chúng
Theo số liệu của CABI (Crop Protection Compendium – 2003): Nấm có mặt ở 47 nước trên khắp các châu lục bao gồm:
* Châu Âu
Trang 9§øc Rapp & Richter, 1990
Hµ Lan Orlikowski & Wojdyla, 1991
T©y Ban Nha Gareia – Jimenez & Alfaro, 1985
Thuþ §iÓn Ruegg & Seigfreid, 1996
israel Shabi & Katan, 1983
Malaysia Tan et all., 1992
Philippines Doll et all., 1991
Singapore Tan & Tow, 1992
Trang 10Trung Quèc Liu et all., 1986
Nam Phi Nwankiti et all., 1987
Nigeria Korsten et all., 1994
Tunisia Firman & Waller, 1997
Uganda Boulila & Mahjoub, 1994
* Ch©u Mü
argentina Gally et all., 1994
Brazil Pitta & Dematte, 1994
Canada Tu & Newcombe et all., 1991
Chilª Peredo & Valenzuela, 1998
Colombia Bravo et all., 1993
Mexico Orozco Santos & Gonzalez Garza, 1986
Panama Trujillo et all., 1986
Paraguay Mathieson & Follin, 1981
* Ch©u óc
Trang 11australia Cameron et all., 1989
Newzealand Beever et all., 1995
Samoa Carlos & Misipati, 1992
Solomon island Winch et all., 1984
2.2.3 Phạm vi ký chủ
ở vùng nhiệt đới, nấm Colletotrichum gloeosporioides xuất hiện trên hầu hết các loại cây trồng, giai đợn tồn tại chủ yếu của nấm là sống hoại sinh trên mô chết hoặc những tàn dư của cây trồng Do đó trong quá trình điều tra thường xuyên bắt gặp sự xuất hiện của nấm trên đồng ruộng (Waller, 1992 [71])
Phạm vi ký chủ của nấm khoảng 70 loại cây trồng khác nhau bao gồm:
* Các cây ký chủ chính
Trang 12Cam ngät Citrus sinensis
* C¸c c©y ký chñ phô
Trang 13§Ëu khÊn Elettaria cardamonum
Trang 14Quế Cinnamonum zeylanicum
2.2.4 Đặc điểm hình thái và sinh học của nấm Colletotrichum gloeosporioides
Thường xâm nhiễm trên những phần đã chết hay những phần tổn thương của cây trồng và thường có mặt trong các mẫu bệnh quan sát bên ngoài như những mô khoẻ Trong điều kiện ẩm độ và nhiệt độ cao nấm gây hại nghiêm trọng trên cây ký chủ Trên nhiều loại cây trồng nhiệt đới khi phân lập thường bắt gặp nấm tồn tại dưới hai dạng: nội ký sinh và trên bề mặt mô cây Theo Lee
& Chung, 1995 (49) nấm Colletotrichum gloeosporioides được tìm thấy chiếm 41% trong vỏ hạt, 36% trong nội nhũ và 2% trong phôi hạt ớt cay, qua quan sát mô tế bào ở cây non thấy nấm có khả năng truyền từ nội nhũ sang trụ dưới lá mầm rồi ddến rễ mầm
Phân loại các giống Colletotrichum chủ yếu dự vào đặc điểm khuẩn lạc, hình dạng, kích thước bào tử, lông gai và giác bám do đó đối với loài Colletotrichum gloeosporioides có thể chẩn đoán dễ dàng do hình thành trên đĩa cành và có màu hồng Tuy nhiên theo Daniel và các cộng sự, 1974 (37) thì việc giám định cũng gặp nhiều khó khăn do trên vết bệnh do nấm Colletotrichum gloeosporioides gây ra thường đi kèm theo các loại nâms hoại sinh và tác nhân xâm nhập thứ cấp Ngoài ra, giữa các loài Colletotrichum có quan hệ chặt chẽ với nhau và cùng gây ra nhiều loại bệnh Colletotrichum gloeosporioides sinh trưởng, phát triển và hình thành bào tử thuận lợi trên môi trường PDA và môi trường tổng hợp
Trang 15Trên môi trường PDA, tản nấm có màu trắng xám nhạt đến màu xám đậm
ở một số mẫu phân lập sợi nấm ký sinh chỉ hình thành những chòm liên quan
đến sự hình thành quả thể và quả thể đôi khi hình thành trên khuẩn lạc non phổ biến hơn so với khuẩn lạc già
Quả thể mở hình thành trên các bộ phận khác nhau của cây trồng, mọc riêng rẽ hoặc từng đám hình cầu hay hình quả lê, kích thước 85 - 350 àm Bên trong quả thể có các túi bào tử nằm rải rác, xen kẽ với các sợi nấm vô tính, thường có 8 túi bào tử Bào tử túi hình trụ hoặc hình chuỳ, lích thước 35 - 80 x 8
tử nảy mầm và hình thành giác bám màu nâu, hình ôvan hoặc hình quả đấm, kích thước 6 - 20 x 4 - 12 àm
Nấm có thể sinh trưởng ở nhiệt độ 4°C nhưng nhiệt độ thích hợp nhất cho nấm phát triển là từ 25 - 29 °C và ẩm độ gần 100%, trong điều kiện này nấm gây hại nghiêm trọng nhất (Mordue, 1971 [36]) Jeffries và cộng sự, 1990 [44] cho rằng bệnh vẫn có thể xuất hiện trong điều kiện khô khi bào tử hoặc sợi nấm tiềm sinh xâm nhiễm vào mô bị tổn thương và mô già, điều này cho thấy bệnh vẫn có
Trang 16thể gây thành dịch trên quả Sự nảy mầm , sinh trưởng và xâm nhiễm của Colletotrichum gloeosporioides có liên quan chặt chẽ đến điều kiện môi trường,
đặc biệt là ẩm độ Khi ẩm độ tuơng đối cao cho phép bào tử nấm nảy mầm và nấm có khả năng xâm nhiễm ngay cả khi độ ẩm trên cây ký chủ thấp
Bào tử nấm được sản sinh trong khối nhầy ưa nước, chính chất nhầy này
ức chế, ngăn cản khả năng nảy mầm của bào tử và tăng cường sự lan truyền trong nước Do có sự tự ức chế quá trình nảy mầm của bào tử Colletotrichum gloeosporioides nên mật độ của bào tử quá cao có thể làm giảm hiệu quả của sự xâm nhiễm
Theo các nghiên cứu của CABI [36] nấm Colletotrichum gloeosporioides bảo tồn dưới nhiều dạng khác nhau: tồn tại trong hạt, trên tàn dư của cây trồng
và trên cây ký chủ Chúng phát tán nguồn bệnh nhờ mưa và nước, có mối tương quan giữa lượng mưa, thời gian mưa với mức độ lây nhiễm của nấm, từ đó dẫn
đến mức độ gây hại khác nhau
2.2.5 Biện pháp phòng trừ nấm Colletotrichum gloeosporioides
Phòng trừ bệnh cho cây trồng là biện pháp rất quan trọng tuy nhiên tuỳ theo yêu cầu sử dụng sản phẩm sau thu hoạch và từng loại cây trồng áp dụng những biện pháp đem lại hiệu quả cao nhất
2.2.5.1 Biện pháp hoá học:
Trên thực tế, đối với các bệnh do nấm gây ra nói chung và bệnh do nấm Colletotrichum gây hại nói riêng thì biện pháp phòng trừ hoá học vẫn đóng vai trò cần thiết
Theo Lê Lương Tề, Vũ Triệu Mân và các cộng sự, 1998 [16] trong 6 nhóm thuốc trừ bệnh được dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, nhóm thuốc
Trang 17những hợp chất dị vòng có tác dụng hữu hiệu trừ bệnh do nấm Colletotrichum gây ra
Theo CABI [36] thuốc có hợp chất gốc đồng, Benzamidazole, Dithiocarbamates, Triazole và các thuốc trừ nấm như: Chlorothalonil, Imazalil, Prochloraz có hiệu quả trừ nấm Colletotrichum gloeosporioides do những nhóm thuốc này có khả năng xâm nhập vào mô cây ngăn cản và phá huỷ sự xâm nhiễm tiềm ẩn của nấm Tuy nhiên việc dùng Benzamidazole liên tục có thể làm tăng khả năng kháng thuốc của nấm
2.2.5.2 Biện pháp canh tác:
Biện pháp vệ sinh đồng ruộng chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống các biện pháp phòng trừ tổng hợp Các biện pháp kỹ thuật như cắt tỉa cành, đốn ngọn tạo khoảng trống và thông thoáng cho cây giúp ngăn cản sự phát sinh và phát triển của nấm Colletotrichum cũng như giúp cho thuốc hoá học có thể xâm nhập dễ dàng hơn vào trong cây, từ đó làm tăng hiệu quả phòng trừ đối với nấm bằng các biện pháp khác
Nguồn bệnh có mặt ở khắp mọi nơi trên đồng ruộng và khi gặp điều kiện thuận lợi nhanh chóng phát triển thành dịch bệnh do vậy biện pháp làm cỏ trong vườn vải là cần thiết Biện pháp này không những tạo điều kiện cho cây vải hấp thu được nhiều chất dinh dưỡng hơn mà còn loại bỏ đi những nguồn bệnh còn tồn tại trên đồng ruộng, làm giảm thiệt hại do bệnh gây ra (CABI, 2003 [36])
Tránh tạo ra các vết thương cơ giới cho cây trong quá trình chăm sóc và sau thu hoạch cũng được hết sức lưu ý bởi đặc tính xâm nhiễm và gây hại của nấm Colletotrichum là thông qua những tổn thương trên bề mặt của cây trồng
2.2.5.3 Biện pháp sử dụng giống chống chịu bệnh:
Tạo ra những giống kháng bệnh đã và đang được các cơ sở nghiên cứu nông nghiệp trên thế giới quan tâm, tuy nhiên công việc này đòi hỏi phải mất
Trang 18nhiều thời gian, do vậy hiện nay đối với cây trồng hằng năm mới chỉ tạo một số giống có khả năng chống bệnh do nấm Colletotrichum gloeosporioides gây ra,
đặc biệt trên cây trồng lâu năm, số lượng những giống kháng với loại nấm này
đem lại hiệu quả kinh tế cao còn chưa nhiều
2.2.5.4 Biện pháp phòng trừ sinh học:
Đây là một trong những biện pháp phòng trừ tổng hợp dịch hại trên cây trồng Tuỳ theo từng loại bệnh trên những cây trồng khác nhau mà hiệu quả của biện pháp này đem lại khác nhau Còn rất ít những kết quả nghiên cứu khả năng phòng trừ nấm Collectotrichum gloeosporioides trên đồng ruộng bằng biện pháp phòng trừ sinh học
Theo Chkraborty và các cộng sự, 1994 [34] hiện nay trên cây chè ở ấn Độ
có khoảng 10 loại sinh vật có khả năng đối kháng với nấm Colletotrichum gloeosporioides gồm có: Alcaligenes sp, aspergillus nidulans, aspergillus niger, Bacillus sp, Enterobacterium spp, Flavobacterium sp, Microbacterium, Micrococus sp, Penicillium oxalicum và Pseudomonas spp
2.3 Những nghiên cứu về bệnh thán thư vải do nấm Colletotrichum
gloeosporioides gây ra
Bệnh thán thư trên vải gây hại trên các bộ phận của cây như lá, hoa và quả Thông thường bệnh gây hại trong mùa nống ẩm trên lá và chồi non, trên chùm hoa quả vào mùa xuân ấm áp và mưa phùn làm cho bệnh phát triển thuận lợi (Viện Bảo vệ thực vật, 1995 [Một số kết quả bước đầu…])
Cũng theo PTS Đặng Vũ Thanh, GS TS Hà Minh Trung và cộng sự,
1995 ở một số tỉnh trồng vải phía Bắc Việt Nam, bệnh thán thư gây hại từ tháng
4 – tháng 9 trên lá vải
Trang 19Biện pháp tỉa cành tạo tán sau các vụ thu hoạch làm cho tán cây thông thoáng làm giảm tác hại của bệnh Phun thuốc trừ bệnh bằng Benlat 50 WP nồng
độ 0,1%, l−ợng phun 1 – 4 lít thuốc đã pha/cây (tuỳ cây lớn nhỏ khác nhau) và phun ở giai đoạn khi vết bệnh bắt đầu xuất hiện có hiệu quả phòng trừ bệnh (Viện Bảo vệ thực vật, 2001 [Kỹ thuật trồng trọt và phòng trừ…])
Bệnh phát sinh mạnh khi vào tháng 3, 4 khi trời ấm và có m−a phùn, trùng đúng lúc cây đang ra hoa và hình thành quả non nên tác hại đến năng suất quả sau này càng lớn (GS TS Ngô Thế Dân, 2002 [Kinh nghiệm trồng vải…]
Trang 203 Đối tượng, địa điểm, nội dung
và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Bệnh thán thư hại vải do nấm Collectotrichum gloeosporioides Penz.var.Minor gây ra tại khu vực Hà Nội và các vùng phụ cận
3.2 Địa điểm nghiên cứu
Phòng thí nghiệm bộ môn Bệnh cây - Nông dược, Khoa Nông học, Truờng
Đại học Nông nghiệp I Hà Nội
3.3 Vật liệu nghiên cứu
3.3.1 Mẫu bệnh nghiên cứu
Mẫu bệnh thán thư hại vải được thu thập từ các vườn trồng vải tại khu vực
Hà Nội và một số tỉnh phụ cận
3.3.2 Môi trường nuôi cấy
3.3.2.1 Môi trường PDA (Potato Dextrose Agar)
- Thành phần: + Khoai tây: 200 gram
+ Đường Dextrose: 20 gram
Trang 21+ Agar: 20 gram
+ Nước cất: 1000 ml
- Cách nấu: Khoai tây gọt vỏ, rửa sạch, thái lát nhỏ, cân đủ 200 gram đổ nước cất vào, đun trong khoảng 20 phút kể từ khi bắt đầu sôi Lọc bỏ phần bã, thêm nước cất vào phần nước trong cho đủ 1000 ml, đun sôi trở lại, tiếp theo cho lần lượt đường và agar vào (lưu ý vừa cho vừa khuấy đều để tránh bị vón cục) Sau đó đem đổ vào bình tam giác đã được rửa sạch và sấy khô Đem hấp khử trùng ở nhiệt độ 121°C trong 20 phút
3.3.2.2 Môi trường PCA (Potato Carrot Agar)
- Thành phần: + Khoai tây: 20 gram
+ Cà rốt: 20gram
+ Agar: 20 gram
+ Nước cất: 1000 ml
- Cách nấu: Như nấu môi trường PDA
3.3.2.3 Môi trường WA (Water Agar)
- Thành phần: + Agar: 20 gram
+ Nước cất: 1000 ml
- Cách nấu: Đun sôi nước cất, sau đó đổ agar vào (vừa đổ vừa khuấy để tránh bị vón cục) Đổ vào bình tam giác và đem hấp khử trùng ở nhiệt độ 121°C trong 20 phút
3.3.2.4 Môi trường MA (Malt Agar)
- Thành phần: + MA: 40 gram
+ Nước cất: 1000 ml
- Cách nấu: Như nấu môi trường WA
3.3.2.5 Môi trường bán tổng hợp (Litchi Fruit Agar)
- Thành phần: + Thịt quả vải chín: 300 gram
Trang 22+ Agar: 20 gram
+ Nước cất: 1000 ml
- Cách nấu: Như nấu môi trương PDA
3.3.3 Thuốc hoá học dùng trong thí nghiệm:
Bavistin 50 FL nồng độ 0,1%
Daconil nồn độ 0,1%
Ridomil MZ 72 WP nồng độ 0,3%
Score 250 ND nồng độ 0,1%
3.3.4 Các dụng cụ thí nghiệm khác:
Giá nuôi cấy nấm có hệ thống ánh sáng đạt 1000-1200 lux với chu kỳ chiếu sáng 12h tối - 12h sáng , buồng cấy vô trùng, nồi hấp, tủ sấy, tủ định ôn, kính hiển vi chụp ảnh, kính lúp soi nổi, đĩa Petri, bình tam giác, Pipet, que cấy nấm, kim khêu nấm, đèn cồn, dao, panh, lam, lamen
3.4 Nội dung nghiên cứu:
3.4.1 Điều tra thành phần bệnh nấm và mức độ gây hại của chúng trên cây vải tại khu vực Hà Nội và các tỉnh phụ cận
3.4.2 Nghiên cứu đặc điểm phát sinh, phát triển của bệnh thán thư và
đánh giá mức độ thiệt hại do bệnh gây ra đối với cây vải trong giai đoạn sinh trưởng và giai đoạn sau thu hoạch
3.4.3 Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học của nấm gây bệnh thán thư
3.4.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố như: giống, thời vụ, phân bón, tuổi cây, mật độ trồng, chân đất đến bệnh thán thư hại vải
3.4.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp hoá học và canh tác
đến khả năng phòng trừ bệnh thán thư hại vải
Trang 233.5 Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài đồng ruộng
3.5.1.1 Điều tra, thu thập thành phần bệnh hại theo các thời kỳ sinh trưởng của cây và tại các địa hình khác nhau
- Phương pháp điều tra lấy mẫu và đánh giá mức độ gây hại theo phương pháp điều tra mỗi vườn 5 điểm chéo góc, mỗi điểm lấy 3 cây, mỗi cây điều tra 4 cành theo bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc Mỗi cành lấy 30 lá ngẫu nhiên
- Chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ bệnh (%), chỉ số bệnh (%)
3.5.1.2 Đánh giá diễn biến của bệnh thán thư ngoài đồng ruộng
- Định kỳ điều tra 15 ngày/lần, theo phương pháp 5 điểm chéo góc, mỗi
điểm lấy 3 cây, mỗi cây điều tra 4 cành theo 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc
- Tính tỷ lệ bệnh (%), chỉ số bệnh (%) qua các kỳ điều tra
3.5.1.3 Đánh giá diễn biến của bệnh thán thư trên các giống vải khác nhau
- Bố trí thí nghiệm với các giống VC, VN, VT
- Theo dõi định kỳ 15 ngày/lần
- Tính tỷ lệ bệnh (%), chỉ số bệnh (%) qua các kỳ điều tra
3.5.1.4 Thí nghiệm lây bệnh nhân tạo
Trang 24- Cây thí nghiệm: Dùng cồn khử trùng sạch bề mặt vị trí lây bệnh Sau đó lấy kim châm nhẹ lên bộ phận cần lây bệnh Sử dụng bơm áp suất cao phun đẫm dịch bào tử lên chỗ vừa sát thương Lấy băng dính bao quanh vết lây để giữ ẩm
- Cây đối chứng: Tiến hành như phương pháp trên, thay dung dịch bào tử bằng nước cất vô trùng
3.5.1.5 Đánh giá ảnh hưởng của tuổi cây đến bệnh thán thư
- Bố trí thí nghiệm với 3 công thức:
+ Công thức 1: Cây nhỏ hơn 1 năm tuổi (cây trong vườn ươm)
+ Công thức 2: Cây từ 3 – 5 năm tuổi (vườn kiến thiết cơ bản)
+ Công thức 3: Cây từ 6 năm tuổi trở lên (vườn kinh doanh)
- Theo dõi định kỳ 15 ngày/lần
- Tính tỷ lệ bệnh (%), chỉ số bệnh (%) qua các kỳ điều tra
3.5.1.6 Đánh giá ảnh hưởng của chế độ bón phân đến bệnh thán thư
- Tiến hành thí nghiệm ở 2 công thức bón phân khác nhau
+ Công thức 1: Phân chuồng + lượng phân đạm 650g/cây/năm
+ Công thức 2: Lượng phân đạm 800g/cây/năm
- Theo dõi định kỳ 15 ngày/lần
- Tính tỷ lệ bệnh (%), chỉ số bệnh (%) qua các kỳ điều tra
3.5.1.7 Đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng đến bệnh thán thư
- Thí nghiệm ở 2 công thức có khoảng cách trồng giữa các cây khác nhau + Công thức 1: Mật độ 200 cây/ha (7 x 7m)
+Công thức 2: Mật độ 140 cây/ha (8 x 9m)
- Theo dõi định kỳ 15 ngày/lần
- Tính tỷ lệ bệnh (%), chỉ số bệnh (%) qua các kỳ điều tra
3.5.1.8 Thí nghiệm phòng trừ bệnh thán thư bằng một số loại thuốc hoá học ngoài đồng ruộng
Trang 25- Thuốc được phun 1 lần bằng bơm động cơ có vòi dài, lượng thuốc phun:
1000 lít/ha Phun khi bệnh mới xuất hiện
- Điều tra các kỳ: Trước khi phun thuốc, sau khi phun 5 ngày, 10 ngày, 15 ngày và 20 ngày
- Theo dõi định kỳ 15 ngày/lần
- Tính tỷ lệ bệnh (%), chỉ số bệnh (%) qua các kỳ điều tra
- Tính hiệu lực của thuốc theo công thức Henderson – Tilton
3.5.1.9 Đánh giá ảnh hưởng của biện pháp làm cỏ đến bệnh thán thư
- Tiến hành theo dõi trên 2 công thức
+ Công thức 1: Không làm cỏ
+ Công thức 2: Có làm cỏ
- Theo dõi định kỳ 15 ngày/lần
- Tính tỷ lệ bệnh (%), chỉ số bệnh (%) qua các kỳ điều tra
3.5.1.10 Đánh giá ảnh hưởng của biện pháp đốn ngọn, tỉa cành đến bệnh thán thư
- Thí nghiệm trên 2 công thức
+ Công thức 1: Không áp dụng biện pháp đốn ngọn, tỉa cành
+ Công thức 2: Có áp dụng biện pháp đốn ngọn, tỉa cành
- Theo dõi định kỳ 15 ngày/lần
- Tính tỷ lệ bệnh (%), chỉ số bệnh (%) qua các kỳ điều tra
Trang 263.5.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
3.5.2.1 Chuẩn bị môi trường nuôi cấy nấm
- Môi trường nuôi cấy nấm dùng để nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học của nấm: Môi trường sau khi nấu, hấp vô trùng được đổ vào các hộp Petri đã
được sấy vô trùng Để nguội rồi tiến hành cấy nấm
- Môi trường khảo sát hiệu lực của thuốc hoá học đến khả năng sinh trưởng, phát triển của nấm:
Thuốc thương phẩm được tính đúng liều lượng và nồng độ cần pha cho vào nước cất vô trùng lắc tan hết rồi đổ vào môi trường vừa hấp Sau đó lắc đều
và đổ vào hộp Petri đã được sấy vô trùng Để nguội rồi tiến hành cấy nấm
3.5.2.2 Phương pháp phân lập nấm
- Chuẩn bị mẫu bệnh:
Chọn những mẫu có vết bệnh điển hình, còn tươi (1/2 mô bệnh, 1/2 mô khoẻ) rửa qua nước sạch để loại bỏ bụi bẩn Thấm khô bằng giấy lọc, cắt thành những miếng nhỏ kích thước khoảng 0,5 cm Sau đó khử trùng mẫu bằng cồn 70° hoặc dung dịch Hypoclorit 0,1%, thấm khô rồi tiến hành cấy trên môi trường
- Kỹ thuật nuôi cấy nấm:
Dụng cụ cấy nấm được khử trùng bằng cồn 90° và đốt trên đèn cồn Hộp môi trường sau khi đã cấy mô bệnh được nuôi cấy ở nhiệt độ 25°C và được theo dõi quan sát hàng ngày
Trang 27+ Phân loại nấm theo các khoá phân loại của L.Roger (1954), Bradbury (1986), Ellis (1986)
3.5.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy đến khả năng phát triển của nấm Collectotrichum gloeosporioides
Cấy nấm thuần lên các loại môi trường khác nhau như PDA, PCA, MA và môi trường bán tổng hợp để đánh giá khả năng phát triển của nấm gây bệnh
Quan sát theo dõi sự phát triển của nấm (đo đếm kích thước đường kính, màu sắc tản nấm và khả năng sinh bào tử của nấm) từ 1-7 ngày sau khi cấy
3.5.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng phát triển của nấm C gloeosporioides
Tiến hành nuôi cấy nấm thuần trên môi trường ở các ngưỡng nhiệt độ khác nhau: 10°C, 25°C, 30°C và 35°C
Quan sát theo dõi sự phát triển của nấm (đo đếm kích thước đường kính, màu sắc tản nấm và khả năng sinh bào tử của nấm) từ 1-7 ngày sau khi cấy
3.5.2.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng nảy mầm của bào tử nấm C gloeosporioides
Thí nghiệm thử khả năng nảy mầm của bào tử nấm ở các ngưỡng nhiệt độ khác nhau: 10°C, 25 - 30°C và 35°C bằng phương pháp giọt nước treo
Theo dõi tỷ lệ (%) nảy mầm của bào tử ở các thời kỳ 6h, 12h, 24h và 48h sau khi tiến hành thí nghiệm
3.5.2.6 Nghiên cứu ảnh hưởng của pH đến khả năng phát triển của nấm
C gloeosporioides
Tiến hành nuôi cấy nấm thuần trên môi trường ở các độ pH: 4, 5, 6, 7, 8 và
9
Trang 28Quan sát theo dõi sự phát triển của nấm (đo đếm kích thước đường kính, màu sắc tản nấm và khả năng sinh bào tử của nấm) từ 1-7 ngày sau khi cấy
3.5.2.7 Thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của một số loại thuốc hoá học đến khả năng phát triển của nấm C.gloeosporioides
- Các thí nghiệm được tiến hành trong phòng theo phương pháp của uesugi yasuhiko, 1997
T: Cấp bệnh cao nhất
Phân cấp bệnh theo thang 5 cấp
- Cấp 0: Không bị bệnh
Trang 29- Cấp 1: 1 - 10% diện tích lá (cây, quả ) bị bệnh
- Cấp 2: 11 - 20% diện tích lá (cây, quả ) bị bệnh
- Cấp 3: 21 - 30% diện tích lá (cây, quả ) bị bệnh
- Cấp 4: 31 - 40% diện tích lá (cây, quả ) bị bệnh
- Cấp 5: 〉 40% diện tích lá (cây, quả ) bị bệnh
* Độ hữu hiệu của thuốc trong phòng thí nghiệm:
- Công thức Abbott
Ta
Q(%) = ( 1 - - ) x 100
Ca
Q: Hiệu quả của thuốc tính bằng %
Ta: Mức độ bệnh ở lô thí nghiệm sau xử lý
Ca: Mức độ bệnh ở lô đối chứng sau xử lý
* Độ hữu hiệu của thuốc hoá học thí nghiệm ngoài đồng ruộng:
- Công thức Henderson - Tilton
Ta x Cb
Q(%) = (1 - - ) x 100
Tb x Ca
Q: Hiệu quả của thuốc tính bằng %
Ta: CSB của công thức xử lý thuốc sau thí nghiệm
Tb: CSB của công thức xử lý thuốc trước thí nghiệm
Ca: CSB của công thức đối chứng sau thí nghiệm
Cb: CSB của công thức đối chứng trước thí nghiệm
3.5.3.2 Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý theo phương pháp thống kê sinh học (Phạm Chí Thành, 1988)
Σ Xi
Trang 30* Gi¸ trÞ trung b×nh: ⌧ = -
n Xi: Gi¸ trÞ lÇn quan s¸t thø i
Trang 314 kết quả và thảo luận
4.1 Thành phần và mức độ gây hại của bệnh trên vải
Để tìm hiểu thành phần bệnh hại và mức độ gây hại của chúng trên vải, chúng tôi đã tiến hành điều tra, thu mẫu tại một số vườn trồng vải ở các vùng Hà Nội, Hải Dương, Bắc Giang, Xuân Đỉnh và các chợ đầu mối ở Hà Nội Kết quả thu được trình bày ở bảng 1:
Bảng 1- Thành phần và mức độ gây hại của bệnh trên vải
Tt Tên bệnh Tên khoa học
Bộ phận
bị hạI
Thời gian gây hạI (tháng)
Mức độ gây hạI
1 Thán thư Colletotrichum
gloeosporioides
Lá, hoa, quả
Fusarium solani,
Trang 32Cylindrocladium sp
9 Thối quả Alternaria alternata Quả 6, 7, 8 ++
13 Đốm tảo Cephaleuros virescens Lá, quả 1 - 12 ++
Qua kết quả của bảng 1 chúng tôi nhận thấy: Trong vụ xuân hè năm 2003
- 2004 tại khu vực Hà Nội và một số vùng phụ cận, trên cây vải có 15 loại bệnh
trong đó có 14 loại bệnh do 16 loại nấm, 01 loài cỏ dại gây ra và 01 loại bệnh do
tác nhân sinh lý Chính vì vậy, có thể thấy được tầm quan trọng và mức độ nguy
hiểm của nấm bệnh, chúng xuất hiện và gây hại ở hầu hết các vườn trồng vải
cũng như ở giai đoạn sau thu hoạch
Theo kết quả điều tra trong năm 2004, mặc dù bệnh thán thư
(Colletotrichum gloeosporioides) không gây hại thành dịch như những năm
1998-2000, tuy nhiên sự xuất hiện của bệnh là phổ biến và chúng gây hại tuơng
đối nặng trên hầu hết các giống vải Trong khi đó, bệnh sương mai
(Peronophythora litchi), bệnh héo rũ vải thiều (Fusarium solani) và bệnh đốm
tảo hay còn gọi là bệnh lông nhung (Cephaleuros virescens) gây hại ở mức độ
trung bình
Trang 33Ngoài ra, chúng tôi còn phát hiện thấy các loại bệnh gây đốm và khô đầu lá, tuy nhiên mức độ gây hại là không đáng kể Giai đoạn sau thu hoạch và trong
bảo quản xuất hiện một số loại nấm mốc phụ sinh như: Alternaria sp., Penicillium sp và Rhizopus sp
4.1.1 Bệnh chết rũ vải thiều
Đây là một loại bệnh nguy hiểm, gây hại nghiêm trọng trên vải
Triệu chứng bệnh rõ nhất sau khi thu hoạch quả Bệnh có thể gây chết toàn cây, hoặc một phần của cây Lúc đầu các lá chuyển màu vàng nâu, phần tán lá bị bệnh các cành không phát lộc hoặc ra hoa kết quả đối với những cây bị bệnh nặng thường chết rất nhanh sau 15-20 ngày Cây bị bệnh đã chết nhưng lá khô còn đính trên cành, rồi theo thời gian rụng từ từ xuống đất Bộ rễ của cây bệnh
có màu nâu đen ở đầu và chóp các rễ phụ, rễ phụ và rễ chính chuyển thành màu nâu đen Nếu tách phần vỏ ra sẽ quan sát thấy mặt ngoài thân gỗ chuyển màu tím hồng Trên cây bệnh lá chuyển màu vàng nâu, lá cứng, không phát lộc cả cây khi toàn bộ hệ thống rễ bị nhiễm bệnh Khi cây bị bệnh từng phần thì sẽ thấy hệ thống rễ của phần tương ứng trên cây bị bệnh có màu thâm đen, khô và chết Bộ
rễ bị bệnh hoàn toàn thì toàn cây bị chết, phần cổ rễ thường bị tổn thương phần
vỏ thắt lại
Nguyên nhân gây bệnh là do nhóm nấm đất gây ra như: Rhizoctonia sp., Phytophthora sp., Pythium sp., Fusarium solani và Cylindrocladium sp., trong
đó 02 loài Fusarium solani và Pythium sp có tần suất bắt gặp cao
Sợi nấm Fusarium solani có màu trắng đến màu kem, thường mọc thành
đám, thưa Bào tử nhỏ có 1-2 tế bào, không màu, hình ôvan hoặc hình bầu dục, kích thước 8-16 x 2-4 àm Bào tử lớn không màu, cong hình lưỡi liềm, kích
Trang 34thước 45-100 x 5-8 àm, vách dày, độ cong ngắn, có 3-4 vách ngăn, đôi khi tế bào đỉnh cong lên hình móc câu
Bệnh gây hại chủ yếu ở các vườn vải từ 4-5 năm tuổi trở lên Mùa mưa tỷ
lệ bệnh chết cao hơn mùa khô Bệnh hại nặng ở các vườn vải thoát nước kém và trồng trên đất cát thịt nặng
4.1.2 Bệnh sương mai (Peronophythora litchi)
Đây là một trong số các bệnh hại nguy hiểm Bệnh gây hại cả trên lá, chùm hoa và quả Trên cành và cuống hoa, vết bệnh có màu nâu thâm đen và ngày càng lan rộng ra xung quanh làm cho cành và cuống hoa tóp lại, khô dần và gãy Trên quả, vết bệnh lúc đầu là những chấm nhỏ màu xanh lục, sau lan dần trên bề mặt vỏ quả gây héo khô và chuyển màu thâm hoặc đen sẫm Thời gian từ lúc nhiễm bệnh cho đến khi khô đen từ 8-10 ngày Quả khô không rụng mà đeo bám chắc trên cây
Cành bào tử nấm gây bệnh phân nhánh kiểu chạc đôi vài lần, cuối cùng cành nhỏ dần đến nhọn ở cuối Bào tử hình trứng hoặc gần tròn, màu nhạt, kích thước 22-30 x 15-23 àm
Bệnh phát sinh và gây hại nặng vào mùa xuân (thời tiết ấm và có mưa phùn ẩm ướt), giai đoạn cây đang ra hoa, hình thành quả và kéo dài cho tới khi thu hoạch quả Khi gặp điều kiện thuận lợi về nhiệt độ, ẩm độ, sợi nấm phát triển thành lớp trắng mịn bọc kín quả bị bệnh Trong quá trình vận chuyển, do quả hô hấp nên ẩm độ cao làm cho bệnh dễ phát triển Đối với cây trồng lâu năm và bị các cây khác che chắn thì bệnh nặng hơn so với cây trồng ngoài đồng Cây nhỏ, thấp bệnh cũng nhẹ hơn
4.1.3 Bệnh chết cây con trong vườn ươm
Trang 35Bệnh thường gây hại cây vải được dùng để làm gốc ghép trong vườn ươm Thông thường khi thấy cây con chết trong vườn ươm thì người ta mới nhổ bỏ, nhưng nếu quan sát kỹ thì thấy bộ lá của cây vải chuyển màu vàng, cây bị bệnh phát triển kém hơn các cây khác các chóp rễ chuyển màu đen (dạng thấm nước), sau đó lan dần vào phần cổ rễ làm cho cả bộ rễ chuyển màu đen (kể cả rễ chính
và rễ phụ) Giai đoạn này lá cây bị khô héo và cây bị chết Tuy cây bị chết nhưng lá vẫn còn dính ở trên cây
Cũng như bệnh chết rũ vải thiều, tác nhân gây ra bệnh này là do quần thể
một số loại nấm đất như: Phytophthora sp., Pythium sp., Fusarium solani và Cylindrocladium sp., trong đó nấm Phytophthora và Fusarium solani có tần suất
xuất hiện cao hơn cả
Sợi nấm Phytophthora sp có đường kính 2-2,5 àm, không màu, đính
nhiều bào tử ở đầu sợi hoặc ở giữa sợi Bọc bào tử hình trứng, hình quả lê hoặc hình bầu dục, kích thước 36-50 x 28-35 àm Bào tử trứng kích thước 20-26 àm
Bệnh thường biểu hiện rõ triệu chứng khi cây con từ 2-5 tháng tuổi Trời nắng, ẩm và mưa nhiều thuận lợi cho bệnh phát triển Bầu kém thoát nước có thể làm cho bệnh phát triển nặng hơn
4.1.4 Bệnh biến màu quả (Colletotrichum sp.)
Bệnh phát sinh và gây hại ở các vùng trồng vải Lúc đầu, trên quả xuất hiện vết bệnh màu xanh nhạt không định hình Sau vết bệnh loang rộng liên kết với nhau thành các vết lớn, có màu chàm loang lổ, nhiều vết chuyển sang màu xanh thẫm Ngoài ra còn dạng thiệu chứng khác như xuất hiện những đốm nâu hình bầu dục hoặc hình tròn và chuyển từ màu nâu sang màu nâu thẫm Khi bị bệnh nặng vỏ quả thối đen, vết bệnh lan nhanh làm thối hoàn toàn quả vải