1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khôi phục lại các tài liệu mờ dần bằng vật liệu halogen bạc

37 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khôi phục lại các tài liệu mờ dần bằng vật liệu halogen bạc
Tác giả Nguyễn Lệ Nhung
Trường học www.vanthuluutru.com
Thể loại Nghiên cứu
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 844,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu phục chế tài liệu có bản văn bị mờ, hư tổn bằng các phương pháp trong phạm vi khác nhau mang tính chất quang phổ, cho phép lựa chọn phương thức có hiệu quả tốt nhất trong phục chế nguyên dạng tài liệu bị hư tổn. Kết quả là xác định được quy trình phục chế tài liệu.

Trang 1

2 Khôi phục lại các tài liệu mờ dần bằng vật liệu halogen bạc

Nghiên cứu phục chế tài liệu có bản văn bị mờ, hư tổn bằng các phương pháp trong phạm vi khác nhau mang tính chất quang phổ, cho phép lựa chọn phương thức có hiệu quả tốt nhất trong phục chế nguyên dạng tài liệu bị hư tổn Kết quả là xác định được quy trình phục chế tài liệu

Phù hợp với sơ đồ chuNn bị, trong phần này, người ta đưa ra phương thức chụp hình, chỉnh sửa làm rõ hơn bản text của tài liệu bằng phần mềm PhotoShop, sử dụng các trang thiết bị và nguyên vật liệu ảnh để thực hiện quy trình phục chế tài liệu lưu trữ bị mờ, bị hư tổn

Từ phần mềm chụp hình ảnh cần có trang thiết bị: máy ảnh, vật liệu ảnh, quá trình xử lý phim âm bản, xử lý phim dương bản,… tuy nhiên, nếu không có chuyên gia lành nghề thì nhiệm vụ phục chế tài liệu không thể thực hiện tốt được

2.1 Sơ đồ quy trình công nghệ chung

Vấn đề phục chế tài liệu về nguyên tắc cũng giống như phục hồi những bản text bị hư hỏng khác không có sự khác biệt Trên cơ sở phục hồi hình ảnh, vấn đề thứ nhất đặt ra là độ tương phản và quang phổ của vật liệu ảnh, quan điểm của con người, vấn đề thứ hai là ảnh hưởng của phương thức chiếu sáng trên tài liệu khi chụp, góc độ chiếu sáng, sự phân bổ ánh sáng trên bề mặt tài liệu và các chi tiết khác

Ch ương trình chụp sao chép bao gồm:

1- ChuNn bị tài liệu để chụp

2- Lắp đặt nguồn chiếu sáng

2-1 Lắp đặt nguồn chiếu ánh sáng tím (tử ngoại)

2-2 Lắp đặt nguồn chiếu ánh sáng đỏ (hồng ngoại)

Trang 2

2-3 Lắp đặt ánh sáng để kích thích các hiện tượng phát quang

2-4 Tạo ra tán xạ ánh sáng khuếch tán và đặc biệt

3 Lựa chọn nguyên vật liệu ảnh để chụp

3-1 Phim dùng cho sao chép ảnh tài liệu

3-2 Tiếp nhận vật liệu quang phổ điện từ (ánh sáng quang phổ tím)

4 Chụp hình

4-1 Chụp hình với bộ lọc sáng

4-2 Chụp hình trên vật liệu ảnh chuyên dụng có độ tương phản đặc biệt

5 Tiến hành quá trình chụp âm bản

………

Từ chương trình này rõ ràng là trong tất cả các bước lớn trong quá trình khôi phục tài liệu mờ dần, trái với việc chụp ảnh tài liệu đơn giản, có một sự lựa chọn trong điều kiện nhất định như đèn chiếu sáng, tiếp xúc, vật liệu ứng dụng, trong đó cần xác định hiệu quả của quá trình tổng thể

Sao chép quang học

Với loại sao chép quang học, còn gọi là chụp lại bằng máy ảnh, một thấu kính sẽ được sử dụng để thu hình ảnh của bản gốc vào phim Trong điều kiện này, có rất nhiều loại kích cỡ để sao chép (cỡ thu nhỏ, cỡ 1:1, hoặc phóng to) Phương pháp này có thể tạo ra được một sự hài hòa, cân đối cho bộ sưu tập ảnh hỗn hợp được tạo ra từ nhiều quá trình khác nhau và định ra một kích cỡ chung nhất Khi bản gốc bị mờ (ví dụ: tài liệu ảnh hoặc các tài liệu in

ấn trên nền giấy) thì phương pháp sao chép quang học được coi là phương pháp thực tế nhất Các hệ thống quang học cũng được coi là lý tưởng để sao chép lại các bản gốc dễ hỏng như các loại phim xenlulô axetat giòn, dễ gãy;

Trang 3

các bức ảnh bị cong; các phim nitrat dính; các văn bản giấy nền yếu Những loại này có thể bị hư hại do áp lực trong khi in tiếp xúc

Về hiệu suất, các hệ thống sao chép quang học có một số lợi thế Vì chúng có thể tạo ra khả năng làm việc với các văn bản giấy nền yếu, giòn; các dải phim đóng trong các cuộn phim dài hàng chục mét, độ rộng khác nhau (35mm, 70mm, 105mm, v.v.), có rất ít thao tác trong lúc chụp ảnh và không cần phải xử lý bản gốc cũng như xử lý phim trong bóng tối Kích cỡ rộng hơn

có thể chất lượng sao chép tốt hơn cỡ 35mm – trong khi vẫn đưa ra một kích

cỡ nhất định phục vụ công tác lưu trữ Có thể tráng rửa các cuộn phim một cách nhanh chóng với chất lượng đáng tin cậy hơn – bằng máy tráng phim tự động và sau đó sao chép chúng bằng máy in tiếp xúc tự động (một kiểu sử dụng để sao chép vi phim và phim ảnh động) Việc có một bộ sưu tập tài liệu bằng phim âm bản (dạng phim cuộn) sẽ dễ dàng cho việc số hóa, sử dụng các máy quét tự động Cơ quan Lưu trữ Quốc gia ở Oasinhton, D.C và các Công

ty chuyên về sao chép ảnh sử dụng quy trình này để sao chép ảnh đen – trắng

và thấy rằng một máy sao chép có thể tạo ra 100.000 bức ảnh sao mỗi năm

Ngoài hệ thống đèn chiếu đã sử dụng, ánh sáng của tài liệu được phục chế phải đồng nhất một cách hoàn hảo Khi chụp ảnh có phản chiếu, nên sử dụng một giá đỡ trang bị hai hoặc bốn đèn sáng giống nhau (điều này phụ thuộc vào định dạng của sự vật), tại góc quay 450 và nhất thiết phải thông gió đầy đủ để tránh nóng Nên dùng đèn điện tử (đèn nháy) để chụp những đồ tạo tác dễ bị tổn hại để tạo ra sự cân bằng nhiệt độ màu tương thích với các loại phim màu thích hợp với ánh sáng ban ngày

2.2 Thiết bị, vật tư để chụp sao chép

Việc sử dụng và lựa chọn các thiết bị phụ thuộc vào các mục tiêu, loại

và số lượng tài liệu lưu trữ hư hỏng hoặc bị mờ chữ cần phục hồi, mặt khác cũng đòi hỏi chế độ bảo quản thích hợp với một khối lượng không nhỏ tài liệu

Trang 4

mờ, hư hỏng sau phục chế sẽ được bảo quản ở dạng ảnh (trên vật mang tin là giấy đế ảnh)

Chụp hình tài liệu đặc biệt nên thực hiện định dạng phim cho khung kích thước 6 x 9 cm hoặc lớn hơn Với mục đích để giảm chi phí lao động và cải thiện hiệu suất, người ta khuyến cáo chụp microfilm, nhưng với việc sử dụng phương pháp chụp hình để khôi phục lại các tài liệu mờ dần

Kích thước khung tối ưu cho văn bản bị mờ, hỏng bằng microfilm không được nhỏ hơn kích thước 24 x 36 mm Nếu giảm kích thước sẽ thấy một sự suy giảm rõ rệt trong chất lượng và nội dung thông tin của tài liệu lưu trữ

Rõ ràng, các thiết bị tiêu chuNn dùng chụp microfilm cũng như máy ảnh

số cần có khả năng sử dụng các nguồn ánh sáng cần thiết, bộ lọc và nguyên liệu sử dụng trong quang phổ tia cực tím và hồng ngoại

Nếu không thực hiện theo tiêu chuNn đã khuyến cáo thì yêu cầu đối với trang thiết bị trong quá trình tích cực xử lý ảnh và các quá trình hoàn tất không đặt ra

Vật liệu chụp ảnh chuyên dụng để phục hồi tài liệu lưu trữ bị mờ, bị hư hỏng cả trong và ngoài nước không còn nữa Vì vậy, bạn nên chọn từ điều kiện hiện tại cho phép chúng ta giải quyết vấn đề theo phương pháp lựa chọn

và phù hợp với công nghệ

Độ nhạy sáng (ISO)

Là độ nhạy sáng của phim hay của bộ cảm biến Ký hiệu thường dùng trên phim nhựa là ASA, ISO, DIN,… Tương tự như vậy, máy ảnh số cũng dùng thông số ISO để biểu thị các cấp của độ nhạy sáng Thí dụ:

Trang 5

ISO 100 -200 là độ nhạy sáng thông dụng mà hầu hết các máy ảnh số compact dùng để thiết lập mặc định, vừa phù hợp với ánh sáng thường gặp,vừa cho ra ảnh có độ mịn chấp nhận được, đồng thời, cũng phù hợp với việc chụp ảnh để phục chế tài liệu

Trong một số máy ảnh compact sau này cho phép bạn tăng độ nhạy sáng lên 400, 800, 1.600,…

Độ nhạy sáng (ISO) càng thấp thì đòi hỏi nơi chụp ảnh phải có nguồn sáng mạnh Độ bắt sáng của nó kém nhưng độ mịn của ảnh thì tốt hơn (khó bị nhiễu hơn) Do độ nhạy sáng thấp nên việc sử dụng trong những tình huống chuyển động sẽ khó có kết quả tốt được

ISO càng cao thì độ bắt sáng càng mạnh, thích hợp ở những nơi có nguồn sáng yếu Nhưng nó sẽ cho ảnh có độ mịn kém (dễ bị nhiễu) ISO cao

sẽ thích hợp trong tình huống chụp hình những sự vật đang chuyển động vì nó

có kết quả tốt được

Các thông số khNu độ, tốc độ và ISO được mô tả có vẻ độc lập, nhưng thực tế, đối với những máy ảnh mà cần đến việc điều chỉnh bằng tay như máy ảnh cơ chẳng hạn, thì các thông số khNu độ, tốc độ, và độ nhạy ISO đều phải được cân chỉnh phù hợp

Ba yếu tố khNu độ, tốc độ, và ánh sáng là các yếu tố chính tạo nên mức phơi sáng cho tấm ảnh, trong đó, độ nhạy sáng chiếm vị trí ưu tiên Cả ba yếu

tố này có ảnh hưởng và bổ túc cho nhau Thông thường, vì một yêu cầu nào

đó phải tăng yếu tố này lên 1 cấp độ thì phải giảm một trong hai yếu tố còn lại

1 cấp để duy trì mức phơi sáng

Ví dụ: giả sử ta sử dụng mức ISO 200, ở tốc độ 1/125 và khNu độ F11 cho ta những mức độ phơi sáng ưng ý Nếu ta tăng khNu độ lên F8 thì cần

Trang 6

giảm thời gian phơi sáng (tăng tốc độ chụp) xuống 1/250 Ở mức này, ta sẽ có được mức phơi sáng như lúc đầu

ISO là gì? Đối với máy ảnh số, ISO là đại lượng đo độ nhạy sáng của cảm biến ảnh đối với ánh sáng Khi chúng ta chọn một mức độ ISO nào đó (nếu có), thì máy ảnh sẽ dựa vào kết quả đo sáng mà tự động hiệu chỉnh các thông số còn lại Do thông số này đã được tự động hóa một phần nên việc sử dụng có phần đơn giản hơn Giá trị ISO thấp đồng nghĩa với độ nhạy sáng của cảm biến ảnh đối với ánh sáng thấp và ngược lại Việc tăng độ nhạy sáng thường dẫn đến việc phát sinh một vấn đề khác cho việc chụp ảnh, bất kể đó

là chiếc máy ảnh bỏ túi hay chuyên nghiệp Nhiễu điện tử xuất hiện khi độ nhạy sáng của cảm biến tăng lên

Trong phạm vi của phim kỹ thuật được khuyến khích có các loại:

FT-51 FT-112P, FT-32P, trong đó có một tỷ lệ tương phản cao (3 - 8), độ nhạy và

độ phân giải đầy đủ Sản xuất phim có kích thước khác nhau từ 13cm x 18cm đến 50cm x 60cm hoặc lớn hơn, do đó các loại phim lớn rất thích hợp cho các dạng máy ảnh lớn Chụp microphilm có thể sử dụng các loại phim trong nước

Độ nhạy sáng của film

Yếu tố này thể hiện khả năng hấp thụ ánh sáng của film Có nhiều loại film khác nhau Tuy nhiên hiện thông dụng nhất vẫn là film màu âm bản Loại

Trang 7

film này dễ chụp hơn so với các loại khác Trên mỗi cuộn Film bạn sẽ thấy ghi độ nhạy sáng là 50, 100 hay 200 ASA… Film 100ASA tốc độ thu sáng gấp đôi so với 50ASA và bằng một nửa so với 200ASA Film có độ nhạy sáng càng cao thì hình ảnh độ mịn hạt càng kém

Exposure (sự phơi sáng)

Bản chất của chụp ảnh là sự phơi sáng Máy ảnh là một hộp tối Khi bấm nút chụp ảnh, một cánh cửa được mở ra cho ánh sáng bên ngoài đi vào qua ống kính Ánh sáng tác dụng vào film (hay sensor đối với máy digital (Từ sau đây xin được gọi là film) để tạo ra hình ảnh Một bức ảnh ta có thể tạm chia làm hai phần: độ sáng và sự cân đối ánh sáng

Ta hãy hình dung film là một vật thu sáng Và độ sáng của bức ảnh quyết định bởi lượng ánh sáng mà film thu được Khi lượng ánh sáng vào quá nhiều thì ảnh sẽ trắng xóa, còn không đủ sáng thì ảnh sẽ bị tối Một bức ảnh

có độ sáng đúng với đối tượng được chụp gọi là đúng sáng Ngoài yếu tố độ sáng ra, sự cân đối ánh sáng khác nhau sẽ tạo ra những bức ảnh hoàn toàn khác nhau với cùng một độ sáng

Lượng ánh sáng film thu được gọi là Ev (Expoure value)

Trước hết, ta sẽ tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến độ sáng của ảnh

Apeture (Độ mở ống kính)

Độ mở ống kính là phần điều chỉnh cường độ ánh sáng đi qua ống kính Chúng ta có thể hiểu phần này như là khả năng cho ánh sáng đi qua của ống kính Cấu tạo bộ phận này bao gồm những lá mỏng ghép lại tạo ra khe hở dạng hình tròn có thể điều chỉnh được Tương ứng với các độ mở ống kính ta

có dãy trị số tiêu chuNn 1, 1.4, 2, 2.8 , 4 , 5.6, 8, 11, 16, 32… các trị số này gọi

là F-stop hay Khu độ Tại mỗi F-stop ta có đường kính lỗ mở d tương

Trang 8

đương f/1, f/1.4 , f/2 f/2.8… và f chính là độ dài tiêu cự ống kính Như vậy ta

có thể thấy khNu độ càng lớn thì đường kính d càng nhỏ và ánh sáng đi qua

ống kính càng ít Và thêm một điều nữa là cùng một đường kính lỗ mở d nếu

độ dài tiêu cự ống kính càng dài thì khNu độ càng lớn

* Mọi người thường hay thắc mắc tại sao dãy trị số F-stop không phải

là 1, 2, 3… mà là dãy bội số của căn bậc hai của 2 Trong kỹ thuật chụp ảnh, người ta chọn tiêu chuNn điều chỉnh độ sáng với một khoảng cách là gấp đôi Bạn có thể hiểu là khi bạn mở ống kính thêm một khNu độ có nghĩa là lượng ánh sáng thu được sẽ tăng gấp hai lần Muốn như thế diện tích lỗ mở phải tăng gấp đôi tương đương với đường kính tăng lên 1.4 lần Đó là lý do tại sao

ta có dãy trị số trên

Shutter Speed (Thời chụp hay tốc độ)

Ngoài việc điều chỉnh cường độ ánh sáng đi qua ống kính ta còn có thể điều chỉnh thời gian cho ánh sáng đi vào để thay đổi độ sáng của ảnh chụp Yếu tố này gọi là thời chụp hay tốc độ chụp Đơn vị tính là giây

Thời gian này chính là thời gian màn chập trong máy mở ra để cho ánh sáng đi vào Thời gian này càng lâu (tốc độ chậm) thì lượng ánh sáng đi vào càng nhiều và ngược lại, thời gian này càng ngắn (tốc độ nhanh) thì lượng sáng đi vào sẽ ít đi

Cũng như phần độ mở ống kính, theo tiêu chuNn thì khi tăng một nấc thời gian chụp thì lượng ánh sáng đi vào gấp đôi Tốc độ chụp nhanh hơn 1s

có 1/2 , 1/4 , ….1/125, 1/250… Còn lâu hơn 1s là 2, 4, 8 , 16s…

Trang 9

Ngoài ra còn có ký hiệu B : màn chập mở cho đến khi buông tay bấm nút chụp

Ký hiệu T: màn chập mở cho đến khi bấm nút chụp lần nữa

Qua phần trên, chúng ta đã hiểu sơ lược về ba yếu tố liên quan đến độ sáng của ảnh chụp

Exposure Value (Ev)

Trong nhiếp ảnh, sự kết hợp của độ mở ống kính và tốc độ chụp cho ta một đại lượng đặc trưng gọi là Exposure value (Ev) Ev 0 là khi ta đặt khNu độ

là 1 ở tốc độ chụp là 1 giây Ev được tính bằng kết hợp hai hàm logarit của giá trị độ mở ống kính (Apeture value) và giá trị của thời chụp (Time Value)

EV = Av + Tv

Gọi N là trị số khNu độ ( f-number) ta có Apeture value:

Nếu t là thời chụp tính bằng giây ta có Time Value:

Các công thức trên chỉ để tham khảo Trong thực tế thì bạn chỉ cần hiểu

là, khi mở ống kính thêm một khNu độ thì thời gian chụp phải giảm đi một nửa (hay ngược lại) thì Ev không thay đổi Các bạn cần lưu ý một điểm hay nhầm lẫn là mở ống kính thêm một khNu nghĩa là giảm f-number một stop Ví

dụ như từ f/8 về f/5.6

Ánh sáng tác động vào film còn phụ thuộc vào độ nhạy sáng của film

Độ nhạy sáng của film thì đơn giản như khNu độ hay tốc độ chụp là tăng gấp đôi thì lượng sáng vào sẽ tăng gấp đôi Film 100asa thì gấp đôi 50asa, 200asa thì gấp đôi film 100asa… Tùy thuộc vào điều kiện chụp khác nhau sẽ có

Trang 10

những chọn lựa khác nhau; Tuy nhiên để đơn giản thì nên căn cứ vào mức chuNn 100asa

Quay lại độ sáng của hình chụp, đó là kết quả của việc dựa vào ánh sáng của chủ đề, độ nhạy sáng của film, khNu độ và tốc độ chụp Độ nhạy sáng của film thì tất nhiên là càng thấp thì hình ảnh càng mịn Nhưng không phải điều kiện nào cũng có thể chọn lựa film có độ nhạy thấp được Để đơn giản thì hãy chọn film 100asa và quan tâm đến khNu độ và tốc độ

Độ sâu trường ảnh Depth Of Field (DOF)

Độ sâu trường ảnh (Depth of field - DOF) là thuật ngữ chỉ vùng khoảng cách trong không gian mà mọi vật thể thuộc vùng đó đều hiện ra rõ nét trên ảnh DOF phụ thuộc nhiều vào loại máy ảnh (kích cỡ phim hay cảm quang)

và cách thiết lập ống kính (khNu độ, khoảng lấy nét) Khoảng lấy nét ở đây chính là khoảng cách từ mặt phẳng chứa điểm cần lấy nét tới ống kính Một thực tế là khi bạn chụp ảnh một tài liệu, độ rõ nét không xuyên suốt Khi bạn canh nét vào chủ đề thì trước và sau chủ đề sẽ có khoảng không rõ nét Khoảng cách mà ảnh còn rõ nét trước và sau điểm lấy nét (tạm) gọi là độ sâu trường ảnh và thường gọi tắt là DOF

Khoảng rõ nét do nhiều yếu tố ảnh hưởng đến Tuy nhiên yếu tố đầu tiên có thể nói là độ mở ống kính

Trang 11

Tài liệu được chụp lại với độ tương phản tốt Khi phóng to vẫn cho phép đọc được những chi tiết bên trong

Kể cả khi tài liệu là giấy màu, với độ tương phản tốt cũng giúp ta lưu giữ tài liệu với độ sắc nét rõ ràng

Với những trang màu, nền giấy màu xanh làm màu chữ khó nhận diện hơn do độ tương phản giữa chúng giảm đi Tuy vậy, qua chế độ chụp tài liệu, máy ảnh cho thấy kết quả vẫn có thể chấp nhận được

Tuy nhiên, với chế độ chụp tài liệu, ở hai biên của hình ảnh thường bị uốn cong do máy ảnh sử dụng tiêu cự góc rộng Ta có thể thấy cạnh đứng của tấm ảnh, các hàng chữ không được thẳng hàng

Do vậy, khi sử dụng chế độ này, ta không nên ngắm nội dung tài liệu

quá sát biên, đồng thời không nhất thiết để máy ảnh quá gần tài liệu

2.3 Phục hồi tài liệu

Phục hồi văn bản, tài liệu bị mờ chữ được thực hiện không chỉ với mục đích để có được bản sao của tài liệu, mà làm thế nào để khôi phục lại các thông tin và các đặc tính vốn có của các văn bản như: bản text, biểu đồ, hình

vẽ, bút tích, v v… Trong ý nghĩa này nó khác với các bản sao thông thường

và để làm được điều này, cần sử dụng phương pháp và công nghệ chuyên dụng [1-4]

K ỹ thuật phục hồi tài liệu

Các đặc điểm của tài liệu có thể được cải thiện trong quá trình sao chép Màu sắc trên ảnh âm - loại có quá nhiều độ tương phản cần được in cNn thận bằng loại giấy mới, mềm - nên dịu, có thể chỉnh sửa phần in mờ và các màu bị nhạt Gần đây, từ “chỉnh sửa” (bằng quang học hoặc kỹ thuật số) được dùng để mô tả các hoạt động như vậy G Brunel đã làm rõ thuật ngữ này kế

Trang 12

thừa cả những phương pháp từ trước đó 1 Ông cho rằng, chúng ta nên tránh

sử dụng thuật ngữ “chỉnh sửa” không chính xác này mà nên thay bằng từ

“phục hồi” vì tài liệu bản gốc không bị tác động trực tiếp và vì sao chép là việc phục chế những gì tài liệu bản gốc đã từng có Trong những trường hợp thận trọng, chúng ta cần cNn thận không nên cố gắng tạo ra những tài liệu

“hoàn hảo” bằng cách bỏ qua những khiếm khuyết liên quan đến đặc điểm vốn có của quá trình tráng rửa hoặc kỹ xảo người thợ chụp ảnh đã sử dụng Việc phục hồi các tài liệu bằng quang học cần phải có kiến thức sâu rộng về đặc trưng của từng quá trình và các đặc điểm của chúng Tất nhiên, người ta cần tạo ra các bản sao tốt nhất có thể bằng các nguồn kỹ thuật sẵn có nhưng phải tôn trọng tính nguyên bản của tài liệu Họ cũng cần hạn chế sự can thiệp

và có sự ghi chép chính xác sao cho người tiếp theo làm công tác phục chế tài liệu có thông tin về phương pháp và nguyên liệu sử dụng trong quá trình phục chế

2.3.1 Nhiếp ảnh trong quang phổ

Phần lớn các văn bản bị mờ không cải thiện tính chất thông tin của nó trong tia cực tím, hồng ngoại, quang phổ và không có hiện tượng phát quang

Có lẽ thậm chí ngược lại, khả năng đọc bản text của tài liệu trong những điều kiện này sẽ tệ hơn Vì vậy, cần làm việc với tài liệu lưu trữ trong phạm vi nhìn thấy được Trong trường hợp này có hai loại tài liệu Một số trong số đó

là có thể có màu tiêu sắc, không có bất kỳ tông màu nào Ví dụ, tài liệu, thực hiện bằng mực, bút chì đen, đánh máy, v v… Một số tài liệu lưu trữ khác chứa văn bản có một màu sắc cụ thể Điều này có thể là các tài liệu, văn bản

có màu mực xanh, tím, đỏ, v v…

1 P.Krause, “Các đặc tính và sự ổn định của ảnh màu”, trong Biên bản lưu về công tác bảo quản trong các cơ quan lưu trữ: Hội nghị quốc tế, Hội đồng quốc tế về công tác lưu trữ, Ottawa, 10-12/5/1988 (Paris: CIA, 1989), 129-35

Trang 13

Ảnh đen - trắng

Khi sao chép tài liệu bị phai màu, đôi khi có thể cải thiện sự xuất hiện các yếu tố tái tạo bằng việc sử dụng các thiết bị lọc chỉnh sửa Ví dụ: độ tương phản của bản tài liệu ảnh bị ố vàng, bạc màu có thể cải thiện được bằng cách sử dụng thiết bị lọc màu xanh Bộ lọc màu cho phép ánh sáng tương thích với màu của chính bức ảnh có thể đi qua khi bắt được các bức xạ từ các màu kết hợp Đối với các ảnh đen - trắng, thiết bị lọc thông dụng nhất là bộ lọc Wrantten số 15, 16, 21, 22, 24, 25, 47, 47B, 58, 70 và 72B2 Các thiết bị lọc này có thể kết hợp với nhau, nhưng không nên sử dụng quá hai thiết bị lọc trên một máy ảnh vì nếu không sẽ dẫn đến tình trạng mất ánh sáng và độ nét Thiết bị lọc có thể đặt ở các cạnh bên thấu kính của máy ảnh, một thiết bị lọc dùng cho bề mặt trong của thấu kính và thiết bị lọc còn lại thì dùng cho bề mặt ngoài Có thể trang bị một thiết bị lọc sáng nguồn ánh sáng khi sao chép kiểu tiếp xúc Có thể chọn thuốc tráng ảnh dựa vào yêu cầu phục chế (độ tương phản tăng hoặc giảm) Để thực hiện sao chụp có hiệu quả, trước đó cần phải sắp xếp, xác định các đặc điểm riêng (kích cỡ, mật độ màu, loại màu v.v.) của bản gốc

Sự hư hại của tài liệu ảnh thường biểu hiện hai hiện tượng: ngả màu vàng, có thể thấy ở những nơi nhạt màu (chỗ sáng nhất và ở phần lề của giấy in) và hiện tượng ngả màu có thể thấy ở sự thay đổi màu sắc Việc khôi phục lại màu sắc có thể đạt được bằng cách sử dụng lọc màu khi chụp Hiệu quả của thiết bị lọc hoặc tổ hợp thiết bị lọc có thể được xác định bằng việc quan sát hình ảnh qua thiết bị lọc Sự mất màu phụ thuộc vào mật độ quang học của bản gốc và sự mất mật độ đó ở vùng tối và vùng sáng không giống nhau Vào

2 N.Nakamura, M Umemoto, N Sakai và Y Seoka, “Sự ổn định màu tối của ảnh màu nhìn từ sự hình thành màu nhuộm” trong “Sự ổn định và bảo quản hình ảnh nhiếp ảnh”, Hội nghị chuyên đề quốc tế lần thứ 2 tại Ottawa, Ontario, Canada, 25-28/8/1985

Trang 14

những năm 1980, hãng KODAK đã công bố một số phương pháp phục chế ảnh bằng quang học cho loại ảnh màu Các giải pháp đưa ra phần lớn dựa vào các phương pháp đã được thực hiện để khôi phục các bản sao ảnh động bằng phương pháp quang học

Ngày nay, phương pháp phục chế bằng kỹ thuật số linh hoạt hơn rất nhiều đã thay thế các phương pháp truyền thống, cho phép thay thế một cách

có hiệu quả và thú vị khi cố gắng tái tạo lại trạng thái ban đầu của các tài liệu

đã bị hư hại

Các dụng cụ kỹ thuật số mới này cho phép một trình độ và sự can thiệp

dễ dàng mà các phương pháp nhiếp ảnh thông thường không thể có được Ngày nay đều có thể xử lý, phục chế được độ sắc nét, màu sắc, phối cảnh, các

vị trí mất và sự xuất hiện các nét độc đáo riêng biệt Thuật toán được phát triển để tự động loại trừ những tạp nham không cần thiết và làm nhạt màu trên phim Các phương pháp như vậy luôn luôn được phát triển và nhận thức được tất cả những tác động có hại có thể có của chúng vẫn là quá mới đối với chúng ta Ví dụ, việc nhuộm màu có hệ thống phim đen trắng là một trong những cách sử dụng đã bị chỉ trích Phụ thuộc vào quan điểm của mỗi người, tất cả các kỹ xảo nổi trội này tạo ra, hoặc là một sự giả tạo, hoặc là một sự tái thể hiện bản gốc hoặc tạo ra sự phái sinh bắt nguồn từ bản gốc G Romer đã tiến hành một thí nghiệm như một bài học phong phú có giá trị Ông yêu cầu người kỹ thuật viên vi tính sử dụng các công cụ kỹ thuật số để “khôi phục” lại hình ảnh của một bức ảnh tạo bởi phép chụp hình đage3 đã bị hư hại Kết quả là hình ảnh được tạo ra có dạng của một bức ảnh hiện đại và đánh mất tất

cả những đặc điểm của phép chụp hình đage Những đặc điểm riêng biệt theo kiểu chụp đage của bức ảnh điển hình này đã được truyền đạt một cách kém hiệu quả thậm chí bị thể hiện sai ý đồ Ví dụ: vết ố bNn thì được hiểu như là

3 Phép chụp hình đage – quá trình đưa những hình ảnh chụp được lên trên giấy (hình ảnh được tạo ra bằng sự kết hợp hóa chất thủy ngân và bạc) Chú thích của Người dịch

Trang 15

một nét minh họa Như vậy, cũng như đối với phương pháp phục hồi cảm quang, phương pháp phục hồi bằng kỹ thuật số đòi hỏi không chỉ có một trình

độ hiểu biết nhất định mà còn phải có kiến thức về lịch sử kỹ thuật và nội dung

Vài năm gần đây, phần mềm vi tính đã trở thành một phần mềm chuyên dụng và được sử dụng rộng rãi như: phần mềm Photoshop, ngoài ra còn có các phần mềm ứng dụng đặc biệt mà các viện và phòng thí nghiệm đang sử dụng Sự phục hồi các tài liệu giấy, các tấm ảnh màu và phim bị hư hại bằng

kỹ thuật số hóa là một trong số các ví dụ có sức thuyết phục về việc sử dụng

kỹ thuật số Nhưng hãy đừng để lỗi khi tái tạo lại các hình ảnh có màu sắc nhạt rất tinh tế mặc dù trên lý thuyết, kỹ thuật số hoàn toàn có thể tái tạo lại một cách chính xác các màu sắc của tài liệu gốc, nhưng dù sao vẫn có rất ít cơ hội làm được việc này nếu không có sự trợ giúp của thiết bị đo màu Khuynh hướng hiện nay là làm sao hạn chế được tính chủ quan trong việc tái tạo màu sắc bằng phương pháp tiếp cận toán học để tìm kiếm và tạo ra một màu nền

có thể điều chỉnh được sự phai nhạt màu Khi đó hoàn toàn có khả năng ngoại suy các giá trị về màu sắc của bản tài liệu gốc Phương pháp này được sử dụng cho cả hai loại: phim hình ảnh động và hình ảnh tĩnh

Một trong những hiệu ứng là dùng sóng hồng ngoại (infrared) để ghi lại hình ảnh mà con người không thể quan sát được chỉ bằng mắt thường

Hồng ngoại có nghĩa là “dưới mức đỏ” (đỏ là màu sắc có bước sóng dài nhất trong ánh sáng thường) mà con người không thấy được Mọi vật với nhiệt độ lớn hơn 0 độ Kelvin (0 độ C = 273,15 độ K) đều phát ra tia hồng ngoại

Đa số máy ảnh số hiện nay dùng cảm biến ảnh có khả năng tiếp nhận sóng hồng ngoại (infrared) Tuy nhiên, chúng lại được trang bị bộ lọc để chặn

Trang 16

hồng ngoại, đơn giản vì camera được thiết kế để chụp ánh sáng có thể quan sát

Do đó, người sử dụng cần một camera đủ độ nhạy để bắt ánh sáng hồng ngoại, một kính lọc chặn loại bỏ tất cả ánh sáng thường như Wratten 89B và phần mềm biên tập ảnh

Hình 16 Hình ảnh của đoạn văn bản được tăng độ nét bằng sự tương

ph ản đặc biệt cao trong khuyếch tán ánh sáng tán xạ (a) và hai đèn (b)

Các tài liệu có bản text màu có thể được tăng cường ánh sáng với bộ lọc màu, bộ lọc mầu sẽ bổ sung cho màu sắc text của văn bản

Thông thường, sắc màu chính là tên của màu Ví dụ: đỏ, xanh, vàng, cam, lục… Các sắc màu khác nhau được biểu diễn trên vòng tròn màu và có giá trị từ 0o đến 360o Độ bão hòa màu thể hiện độ thuần khiết của màu Khi

có độ bão hòa cao, màu sẽ sạch và rực rỡ Khi có độ bão hòa thấp, màu sẽ đục

và xỉn Độ bão hòa thay đổi từ 0% (xám) đến 100%

Màu đỏ năng lượng thấp, bước song dài (622 – 780nm) theo sau trong chuổi màu là màu cam (597 – 622nm), vàng (577 – 597nm), lục (492 – 577nm), lam (455 – 492nm) và cuối cùng là màu tím năng lượng tương đối cao, bước sóng ngắn (từ 455nm trở xuống)

Trang 17

Ta có thể hiểu là bản thân các vật xung quanh ta không có màu sắc, khi các sóng ánh sáng chiếu vào một vật thì tùy vào tính chất của vật liệu mà nó

có các tác động khác nhau Các sóng ánh sáng có thể bị các vật (tùy cấu tạo) hấp thu hay phản chiếu lại Nếu vật liệu hấp thu hết các sóng ánh sáng ta sẽ thấy màu đen, phản chiếu lại hết sẽ cho ra màu trắng, còn phản chiếu một đoạn thì ta sẽ thấy vật có màu của bước sóng đó Ví dụ, ta thấy vật màu đỏ cam vì nó phản xạ lại nhiều nhất các sóng màu đỏ và vàng

Nếu đặt màu đỏ cạnh các màu lạnh hơn (xanh lá, xanh dương) thì màu

đỏ sẽ kéo người xem lại, tạo hiệu quả “không gian” trong bức hình Nó cũng

là màu chứa năng lượng nhiều nhất và tạo nên một sự “rung động” rất mạnh khi đặt gần các màu khác Trong khi màu vàng sáng “trong suốt”, màu đỏ lại tương đối “đậm đặc”

Màu vàng là màu sáng nhất trong các màu và đó cũng chính là tính chất đặc biệt nhất của nó, màu vàng tối không tồn tại, khi bị trộn với màu đen màu vàng không còn là màu vàng nữa Màu vàng chỉ sáng thua màu trắng, vì thế ta thường nhìn thấy màu vàng trên nền màu sẫm hơn Màu vàng thường rực lên trong các bức ảnh, đó là lý do khó phối sáng màu vàng với các màu khác Tất

cả các màu đều thay đổi tính chất khi đặt cạnh nhau nhưng màu vàng đặc biệt

“nhạy cảm”

Màu xanh dương một màu tĩnh lặng, tối và rất lạnh Nó rất phổ biến

trong nhiếp ảnh và có nhiều biến tướng khác nhau Về thị giác, màu xanh lùi

ra xa và cho cảm giác thanh bình hơn màu đỏ rất nhiều, là màu tối nhất trong

3 màu cơ bản, khá mạnh mẽ khi thẫm lại Ta có thể cảm nhận được màu xanh dương khi nó tươi và tinh khiết

Màu xanh lá cây là màu của tự nhiên và ta có thể phân biệt được rất nhiều màu xanh lá khác nhau, tùy theo ngả sang phía màu xanh dương hay màu vàng và màu xanh lá mang những đặc tính rất khác nhau

Màu tím là sự phối hợp giữa màu xanh dương và màu đỏ, rất khó nắm bắt Không nhiều người phân biệt được màu tính tinh khiết Màu tím nguyên

Trang 18

chất rất tốt, nếu sáng quá nó sẽ trở thành màu “lavande”, sẫm hơn lại nhầm thành màu xanh dương đen, hơi ngả sang màu đỏ thành màu magenta, bớt chút đỏ lại thành xanh dương Vì thế màu tím gây cản trở trong nhiếp ảnh và

in ấn

Màu cam là một màu rực rỡ được pha trộn từ màu đỏ và vàng nên nó cũng mang một số tính chất của 2 màu đó Màu cam rất sáng và mạnh khi nguyên chất, khi sáng lên nó trở thành màu be, sẫm xuống trở thành màu

“maron”

Màu đen không có ánh sáng và tông màu, trong nhiếp ảnh màu đen được tạo ra bằng cách giảm sáng Màu đen tinh khiết không chứa một chi tiết nào song nó rất quan trọng cho mật độ và sự phong phú của bức ảnh Màu đen rất cần thiết để tạo sự tương phản với các màu khác Màu đen thường được dùng làm nền, tả hình thể đường nét (ngược sáng) hoặc để chấm phá Màu đen thường phải có trong ảnh để làm chỗ dựa cho các tông màu khác Thừa sáng, độ tương phản yếu hay sai lầm trong xử lý ảnh kỹ thuật số là “kẻ thù” của màu đen

Về lý thuyết, màu trắng không màu và không có tông, thế nhưng thực

tế màu trắng lại là màu tinh tế nhất, nó đóng vai trò quan trọng trong hầu hết tất cả các ảnh Ngay cả trong một vật hoàn toàn đen cũng cần các sắc sáng và

sự lồi lõm để có thể định dạng được Một bức ảnh trắng cũng cần có sự biến chuyển của sắc xám nhẹ để tạo hình Rất ít khi màu trắng hoàn toàn trung tính Khi chụp màu trắng cần đo sáng cNn thận, nhất là khi chụp bằng máy kỹ thuật số

Màu xám tinh khiết là bản chất của sự trung tính Màu xám đóng vai trò quan trọng trong sự đo sáng Sự tăng sáng của màu đen và giảm sáng của màu trắng cho ra các sắc thái xám khác nhau nên số lượng màu xám là vô tận

Cơ chế khuếch đại của hình ảnh với một bộ lọc bổ sung có thể được nhìn thấy trong sự hình thành của mật độ quang học mà nó mô tả tính chất Hãy nhìn vào một ví dụ về hình ảnh màu xanh lý tưởng Theo định nghĩa của

Ngày đăng: 14/05/2021, 18:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w