Lịch sử Việt Nam 1945 - 1960: Phần 1 do Nguyễn Bá Đệ biên soạn sẽ giới thiệu đến người học một số kiến thức về Lịch sử Việt Nam. Phần 1 của cuốn sách gồm 2 chương đầu, trong đó chương 1 trình bày về Việt Nam trong những năm 1945 - 1946, chương 2 giới thiệu Việt Nam từ 1946 - 1954.
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
đại học huế trung tâm đào tạo từ xa
TRẦN BÁ ĐỆ
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC
Trang 2MỤC LỤC
Chương 1: VIệT NAM TRONG NHữNG NĂM 1945-1946 3
i - TìNH HìNH VIệT NAM SAU CáCH MạNG THáNG TáM 1945 3
II BƯớC ĐầU CÔNG CUộC XÂY DựNG CHíNH QUYềN CáCH MạNG 4
III đấu tranh chống ngoại xâm, nội phản bảo vệ chính quyền 8
Hướng dẫn học tập 19
Câu hỏi ôn tập chương I 20
Chương II: việt Nam từ 1946 đến 1954 22
I Kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ (19/12/1946) 22
II Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc (1946 - 1950): 24
III Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc (1950 - 1953) 35
IV Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 - 1954) 45
Hướng dẫn học tập 57
Câu hỏi ôn tập chương 2 59
Chương III: việt Nam từ 1954 đến 1960 61
I Tình hình Việt Nam từ sau Hiệp định Giơnevơ 1954 và nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới 61
II Miền Bắc củng cố, hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, cải tạo quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa 65
III Miền Nam đấu tranh chống chế độ Mỹ - Diệm giữ gìn hoà bình tiến tới đồng khởi (1954 - 1960) 79
Hướng dẫn học tập 87
Câu hỏi ôn tập chương 3 89
Tài liệu tham khảo 90
Trang 3Chương 1 VIệT NAM TRONG NHữNG NĂM 1945-1946
i - TìNH HìNH VIệT NAM SAU CáCH MạNG THáNG TáM 1945
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, tình hình thế giới thay đổi cơ bản Chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt, lực lượng đế quốc suy yếu, không còn giữ địa vị ưu thế như trước Chủ nghĩa xã hội từ một nước, đang trong quá trình hình thành một hệ thống thế giới Phong trào giải phóng dân tộc dâng cao ở nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc Phong trào giành dân chủ tự do phát triển mạnh mẽ ở các nước tư bản
Sự thay đổi trong tình hình thế giới sau chiến tranh đã đưa lại cho phong trào cách mạng thế giới, nhất là phong trào cách mạng các nước thuộc địa và phụ thuộc, những thuận lợi căn bản
Song, với bản chất phản động, bọn đế quốc ra sức chống phá phong trào cách mạng, nhất là phong trào giải phóng dân tộc đang dâng lên mạnh mẽ Chúng dùng mọi thủ
đoạn chiếm lại các thuộc địa đã mất, giành giật nhau các thuộc địa đang chiếm giữ Việt Nam trở thành đối tượng đàn áp và giành giật của các đế quốc Mỹ, Pháp, Anh và tay sai của chúng
Trong nước, sau khi chính quyền cách mạng ra đời chưa được bao lâu, quân đội
đồng minh đã kéo vào giải giáp quân Nhật
Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch tràn vào, đóng giữ hầu hết các thành phố, thị xã, thị trấn Lợi dụng danh nghĩa Đồng minh vào Đông Dương, quân Tưởng thực hiện âm mưu tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá tan Việt Minh, lật đổ chính quyền nhân dân, lập ra chính quyền tay sai
Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, quân đội Anh dưới danh nghĩa Đồng minh tràn vào, che chở và giúp đỡ cho quân đội Pháp trở lại xâm lược Ngày 23/9/1945, được sự che chở và giúp đỡ của quân Anh, quân Pháp đã nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược trở lại nước ta
Theo gót quân đội Tưởng, có các tổ chức chính trị, đảng phái phản động, Việt Nam quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) Chúng gây ra những vụ giết người cướp của, tống tiền, chống phá chính quyền cách mạng, lập
ra chính quyền phản động ở một số địa phương thuộc các tỉnh Yên Bái, Vĩnh Yên, Móng Cái
Trang 4Lợi dụng quân Pháp quay trở lại, các tổ chức chính trị, đảng phái thân Pháp, thân Nhật, bọn Đại Việt, bọn phản động trong các giáo phái ngóc đầu dậy làm tay sai cho Pháp
Trong khi đó, chính quyền cách mạng vừa mới thành lập, chưa được củng cố Lực lượng vũ trang của ta còn non yếu, nhất là về trang bị, kinh nghiệm chiến đấu Nền kinh
tế nước ta vốn kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, đang ở trong tình trạng đình đốn Nạn đói đầu năm 1945 vừa cướp đi hai triệu sinh mạng đồng bào ta, nay tiếp tục đe dọa nghiêm trọng nhiều sinh mạng khác Nạn lụt lớn ở 9 tỉnh miền Bắc, tiếp đó là hạn hán kéo dài ngay sau khi giành chính quyền, làm cho già nửa tổng số ruộng đất không trồng cây được Nhiều xí nghiệp còn nằm trong tay tư bản Pháp Các cơ
sở công nghiệp của ta chưa phục hồi được sản xuất Hàng vạn công nhân không có việc làm Hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn Tài chính tiền tệ của chính quyền cách mạng hầu như trống rỗng, kho bạc Nhà nước mới đầu có hơn 1,2 triệu đồng Ngân hàng Đông Dương vẫn do tư bản tài chính Pháp nắm giữ Thêm vào đó, quân Tưởng tung ra thị trường các loại tiền “quốc tệ”, “quan kim” đã mất giá, càng làm cho nền tài chính nước ta rối loạn
Di sản văn hóa lạc hậu do chế độ thực dân phong kiến để lại hết sức nặng nề Hơn 90% nhân dân ta không biết chữ Các tệ nạn xã hội cũ như mê tín dị đoan, cờ bạc, rượu chè, nghiện hút còn phổ biến
Tình hình trên đã đặt vận mệnh dân tộc ta trước hiểm nguy, khác nào “ngàn cân treo sợi tóc”
II BƯớC ĐầU CÔNG CUộC XÂY DựNG CHíNH QUYềN CáCH MạNG
1 Về chính trị - quân sự
Chính quyền cách mạng thành lập, nhưng chưa được xây dựng và củng cố đã phải
đứng trước nhiều khó khăn chồng chất Do đó, nhiệm vụ trước mắt của nhân dân ta trong năm đầu của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là xây dựng và củng cố chính quyền vừa giành được
Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời ngày 3 tháng
9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị tiến tới cuộc tổng tuyển cử, tổ chức càng sớm càng tốt, theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu
Ngày 8/9/1945, Chủ tịch cách mạng lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra Sắc lệnh số 14-SL về cuộc tổng tuyển cử bầu quốc hội Bản Sắc lệnh quy định: “Tất cả công dân Việt Nam cả trai và gái, từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền tuyển cử và ứng cử, trừ những người đã bị tước mất công quyền và những người trí óc không bình thường” Bản Sắc lệnh còn quy định những vấn đề về cuộc tổng tuyển cử sắp tới, về một dự thảo Hiến
Trang 5pháp sẽ trình Quốc hội Ngày 06/1/1946, cử tri cả nước hăng hái đi bỏ phiếu bầu Quốc hội
Tại Hà Nội, gần 92% cử tri cả nội và ngoại thành đi bỏ phiếu Đại biểu cao phiếu nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạt 89,4% Tại Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, cuộc tổng tuyển cử diễn ra dưới bom đạn của giặc Pháp, nhưng cử tri vẫn đi bỏ phiếu Tại Nam Bộ, 42 cán bộ chiến sĩ hy sinh trong khi làm nhiệm vụ tuyển cử
Trên phạm vi cả nước có 89% cử tri đi bỏ phiếu, và bầu được 333 đại biểu vào Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Ngày 2/3/1946, Quốc hội khóa I nước Việt Nam dân chủ công hòa họp phiên đầu tiên Quốc hội xác nhận thành tích của Chính phủ cách mạng lâm thời, thông qua danh sách Chính phủ liên hiệp chính thức do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, thông qua Ban dự thảo Hiến pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, được thành lập theo Sắc lệnh số 34-
SL ngày 20/9/1945, và Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chính thức công bố ngày 9/11/1946
Sau cuộc bầu cử Quốc hội, tại các địa phương thuộc Trung và Bắc Bộ tiến hành bầu
cử Hội đồng nhân dân các cấp (tỉnh, huyện, xã) theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu
ủy ban hành chính các cấp cũng được thành lập thay cho ủy ban nhân dân Bộ máy
chính quyền dân chủ nhân dân các cấp được xây dựng, bước đầu được củng cố và kiện toàn
Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là cuộc vận động chính trị rộng lớn, cuộc biểu dương sức mạnh và ý chí sắt đá của khối đại đoàn kết toàn dân, đã khơi dậy và phát huy tinh thần yêu nước, ý thức làm chủ đất nước, nghĩa vụ đối với Tổ quốc của mỗi công dân và toàn dân Và thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho Nhà nước cách mạng thực hiện nhiệm vụ đối nội, đối ngoại trong thời kỳ mới, đồng thời góp phần nâng cao uy tín của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trên trường quốc tế
Việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cũng rất được chú trọng Khắp nơi trên
đất nước ta một phong trào luyện tập quân sự, tìm sắm vũ khí diễn ra sôi nổi Các đội tự
vệ ra đời từ trong phong trào toàn dân chuẩn bị khởi nghĩa và là lực lượng xung kích của toàn dân nổi dậy giành chính quyền trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám, nay được củng cố
và mở rộng, đã trở thành công cụ sắt bén để bảo vệ chính quyền cách mạng ở cơ sở Đến cuối năm 1945, lực lượng dân quân tự vệ đã tăng lên hàng chục vạn người, có mặt ở hầu hết các thôn xã, đường phố, xí nghiệp trên khắp cả nước
Các đơn vị Việt Nam giải phóng quân được thành lập trên cơ sở các lực lượng vũ trang chính quy (Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ) trong thời
Trang 6kỳ tiền khởi nghĩa (5/1945), đã được củng cố và mở rộng, nay đổi thành Vệ quốc đoàn (9/1945) Đây là đội quân chính quy của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
2 Về kinh tế - tài chính
Chính quyền cách mạng thực hiện nhiều biện pháp kinh tế - tài chính, trước mắt giải quyết nạn đói Trong phiên họp đầu tiên ngày 3/9/1945, Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời đã bàn biện pháp chống đói Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị nhiều biện pháp chống đói, như tổ chức lạc quyên, lập hũ gạo cứu đói kêu gọi đồng bào cả nước
“nhường cơm sẻ áo” Người nói: “Lúc chúng ta nâng bát cơm ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng Vậy tôi đề nghị với đồng bào cả nước tôi xin thực hành trước, cứ mười ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn ba bữa, đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo” (2.378)
Nghe theo lời Chủ tịch Hồ Chí Minh và noi gương Người, trên khắp cả nước, nhân dân ta lập “hũ gạo cứu đói”, tổ chức “ngày đồng tâm” để góp gạo cứu đói, không dùng gạo, ngô, khoai, sắn nấu rượu Chính phủ có những biện pháp tích cực điều hòa thóc gạo giữa các địa phương trong cả nước và ra lệnh nghiêm trị những ai đầu cơ tích trữ thóc gạo
Để giải quyết căn bản nạn đói, thì tăng gia sản xuất phải là biện pháp hàng đầu và có tính chất lâu dài Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân “Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay Đó là cách thiết thực để ta giữ vững quyền tự do, độc lập” (2.378)
Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một phong trào thi đua tăng gia sản xuất dấy lên khắp các địa phương cả nước Dưới khẩu hiệu “Không một tấc đất bỏ hoang”, “tấc vàng tấc vàng” giai cấp công nhân, các đơn vị bộ đội, cán bộ, nhân viên Nhà nước, học sinh, trí thức, các giới công thương tự nguyện tổ chức thành từng đoàn, từng đội về nông thôn giúp nông dân khai hoang, phục hóa, đắp đê phòng lụt Diện tích ruộng đồng hoang hóa, ruộng đất vắng chủ nhanh chóng được đưa vào gieo trồng các loại cây lương thực, hoa màu Đê đập ở 9 tỉnh bị phá vỡ trong trận lụt hồi tháng 8/1945
được bồi đắp trở lại
Chính phủ cách mạng ra Sắc lệnh số 11 ngày 7/9/1945 bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lý khác của chế độ cũ; ra thông tư giảm tô 24%, miễn thuế ruộng đối với các vùng bị lụt và vùng có chiến sự ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ cùng các loại ruộng đất hoang hóa mới được khai phá gieo trồng; giảm thuế ruộng 20% trong toàn quốc cho nông dân, tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia lại ruộng đất công cho cả nam lẫn nữ
Nhờ đề ra chủ trương kịp thời, có biện pháp tích cực hỗ trợ phong trào toàn dân tăng gia sản xuất, sản xuất nông nghiệp cả nước nhanh chóng được phục hồi Vụ mùa năm
Trang 71946 ở Bắc Bộ đã gieo cấy được 800.000 hécta với sản lượng thu hoạch được 1.155.000 tấn (năm 1944 đạt 832.000 tấn) Diện tích trồng trọt, sản lượng ngô khoai, sắn và các loại hoa màu đều tăng gấp bội Nạn đói được đẩy lùi Đời sống nhân dân, đặc biệt là nông dân, được cải thiện một bước
Đối với giai cấp công nhân và các tầng lớp lao động, Chính phủ chú trọng giải quyết những quyền lợi thiết thực phù hợp với điều kiện cho phép, như đã đệ trình Quốc hội dự
án luật lao động, trước mắt quy định ngày làm 8 giờ cho công nhân viên chức, bảo đảm chế độ hợp đồng giữa chủ và thợ
Đối với các xí nghiệp công nghiệp cần thiết cho quốc kế dân sinh, như các ngành
điện, nước (ở thành phố), khai thác than (Hồng Gai, Cẩm Phả), gạch ngói (Đáp Cầu), vải sợi (Nam Định), xi măng (Hải Phòng), sửa chữa cơ khí (Hà Nội, Hải Phòng) ta vẫn để cho tư bản Pháp và tư bản nước ngoài tiếp tục kinh doanh theo luật lệ và chịu quyền kiểm soát của Chính phủ Việt Nam theo Sắc lệnh ngày 9/10/1945 Đồng thời, chúng ta cũng bước đầu khôi phục các mỏ than Tân Trào (Tuyên Quang) Làng Cẩm và Phấn Mễ (Thái Nguyên), Quyết Thắng (Ninh Bình), tiếp tục khai thác mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng), phục hồi nhà máy sửa chữa xe lửa Trường Thi (Vinh-Nghệ An)
Về thương nghiệp, Chính phủ Việt Nam hết sức quan tâm, nghiêm cấm các hoạt động
đầu cơ tích trữ, chợ đen, mở đường cho sự lưu thông hàng hóa, kêu gọi các nhà buôn
đứng ra kinh doanh; lập Phòng thương mại và Nha thương vụ Việt Nam giúp Chính phủ bước đầu nắm các hoạt động thương nghiệp trên thị trường nội địa
Trên lĩnh vực giao thông vận tải đường thủy, đường bộ, đường sắt, đường không cũng bước đầu được phục hồi, bảo đảm sinh hoạt, đi lại bình thường của nhân dân
Về tài chính, Chính phủ ra Sắc lệnh số 4-SL ngày 4/9/1945 về Quỹ Độc lập và Tuần
lễ vàng nhằm động viên tinh thần tự nguyện đóng góp của nhân dân cả nước “ủng hộ nền độc lập của Tổ quốc” Hưởng ứng cuộc vận động xây dựng “Quỹ Độc lập”, phong trào “Tuần lễ vàng” do Chính phủ phát động, nhân dân ta hăng hái đóng góp tiền của, vàng bạc, kể cả những vật kỷ niệm, tư trang quý, như nhẫn cưới, hoa tai ủng hộ chính quyền cách mạng Chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân đã tự nguyện đóng góp 370 kilôgam vàng, 20 triệu đồng vào Quỹ Độc lập và 40 triệu đồng vào quỹ Đảm phụ quốc phòng
Ngày 31/1/1946, Chính phủ ra Sắc lệnh số 186 cho phép phát hành giấy bạc Việt Nam và đến kỳ họp thứ hai (11/1946), Quốc hội quyết định lưu hành giấy bạc Việt Nam trong toàn quốc thay thế giấy bạc Đông Dương Giành được chủ quyền về tiền tệ, chúng
ta giải quyết được một phần chi tiêu của Chính phủ, phục vụ sản xuất và đời sống, bước
đầu xây dựng nền tài chính độc lập của nước Việt Nam mới
3 Về văn hóa - giáo dục
Trang 8Trong phiên họp đầu tiên ngày 3/9/1945, Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời ngoài việc bàn biện pháp chống “giặc đói”, còn bàn biện pháp chống “giặc dốt” Chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ là nhiệm vụ văn hóa - giáo dục, nhưng có ý nghĩa chính trị sâu sắc, bảo đảm cho người lao động nâng cao trình độ văn hóa, tham gia quản lý đất nước
có hiệu quả Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Muốn giữ vững nền độc lập, làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc biết viết chữ quốc ngữ” Ngày 8/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ chuyên lo việc chống “giặc dốt”, xoá nạn mũ chữ, và chính Người
đứng ra phát động phong trào xoá nạn mù chữ trong toàn quốc
Trong vòng một năm, từ 8/9/1945 đến 8/9/1946, trên toàn quốc đã tổ chức được 74.957 lớp học với 95.665 giáo viên và đã xoá mù cho 2.520.673 người Các trường phổ thông và đại học cũng được khai giảng nhằm đào tạo những công dân độc lập, những cán bộ trung thành, có năng lực phụng sự tổ quốc, phục vụ kháng chiến - kiến quốc Nội dung và phương pháp giáo dục bước đầu đổi mới theo tinh thần dân tộc - dân chủ
Báo chí cách mạng và công tác xuất bản sớm trở thành vũ khí sắc bén chống ngoại xâm nội phản, góp phần giáo dục lòng yêu nước, chí căm thù giặc, tinh thần cách mạng cho đông đảo quần chúng nhân dân Báo “Cờ giải phóng”, tiếp đến là báo “Sự thật”, báo
“Cứu quốc” là những tờ báo được quần chúng tín nhiệm và có tác động lớn trong việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng và của Mặt trận Việt Minh
Cuộc vận động đời sống mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng được đông đảo nhân dân cả nước hưởng ứng nhằm xây dựng đạo đức mới với nội dung “cần - kiệm - liêm - chính”; bài trừ các tệ nạn xã hội cũ, như nạn rượu chè, cờ bạc, mại dâm những
hủ tục cúng lễ, ma chay, cưới xin linh đình
III đấu tranh chống ngoại xâm, nội phản bảo vệ chính quyền
1 Kháng chiến chống thực dân Pháp ở miền Nam, hòa hoãn với Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc (trước 6/3/1946)
a Kháng chiến chống thực dân Pháp ở miền Nam
Với dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa, ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh Chính phủ Đờ Gôn (De Gaulle) đã quyết định thành lập một đạo quân dưới quyền chỉ huy của tướng Lơcơléc (Leclere) và cử đô đốc Đácgiăngliơ (D'Argenlieu) làm Cao ủy sang Đông Dương
Ngày 2/9/1945, khi nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn tổ chức mít tinh chào mừng ngày
Độc lập, thực dân Pháp xả súng vào đám đông, làm 47 người chết, nhiều người bị thương
Trang 9Ngày 6/9/1945, quân Anh đến Sài Gòn, kéo theo sau là một đại đội thuộc Trung đoàn
bộ binh thuộc địa số 5 làm nhiệm vụ tiền trạm cho quân Pháp Vừa đến Sài Gòn, chúng yêu cầu ta giải tán lực lượng vũ trang, thả hết tù binh Pháp do Nhật bắt giam sau ngày 9/3/1945 rồi trang bị vũ khí cho số tù binh thả ra này, và cho quân Pháp chiếm đóng bến tàu, cùng một số vị trí quan trọng trong thành phố
Đêm 22 rạng sáng 23/9/1945, được sự giúp đỡ của quân Anh, thực dân Pháp đánh úp trụ sở ủy ban nhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ thành phố Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai
Trước tình hình đó, Xứ ủy và ủy ban nhân dân Nam Bộ họp ngay sáng 23/9 tại
đường Cây Mai - Chợ Lớn (nay là số 627-629 đường Nguyễn Trãi, quận 5), quyết định phát động nhân dân Nam Bộ đứng lên kháng chiến
Quyết định của Hội nghị Cây Mai đã được Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch
Hồ Chí Minh hoàn toàn tán thành và quyết tâm lãnh đạo, tổ chức lực lượng cả nước, chi viện mọi mặt cho cuộc kháng chiến Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Bọn thực dân Pháp phải biết rằng nhân dân Việt Nam không muốn đổ máu, dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, nhưng nếu cần phải hy sinh mấy triệu chiến sĩ, nếu cần phải kháng chiến bao nhiêu năm để giữ gìn độc lập của Việt Nam để cho con cháu Việt Nam khỏi kiếp nô lệ thì thế nào chúng ta vẫn kiên quyết hy sinh Vì nhân dân Việt Nam tin chắc rằng thế nào cuộc kháng chiến này cũng sẽ thành công” (1.226)
Giữ vững lời thề độc lập, nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn, nhân dân Nam Bộ đã nhất tề
đứng lên chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Các chiến sĩ lực lượng vũ trang của ta đột nhập sân bay Tân Sơn Nhất, đốt cháy tàu Pháp vừa cập bến Sài Gòn đánh kho tàng phá khám lớn
Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang đánh địch, nhân dân Sài Gòn triệt nguồn tiếp tế của địch, dựng chướng ngại vật và chiến luỹ trên đường phố, từ chối hợp tác với địch Các công sở, nhà máy, hãng buôn, trường học đóng cửa, chợ không người họp, tàu xe ngừng chạy, điện nước bị cắt Quân Pháp ở trong một thành phố bị bao vây, ngổn ngang vật chướng ngại, không nguồn tiếp tế, không điện nước, không điện nước, luôn bị quân ta tập kích, tiêu hao tiêu diệt
Để chờ thêm viện binh và gỡ thế khó khăn sau hơn một tuần bị bao vây, phía Pháp phải nhờ tới Gơraxi (Graccy) làm trung gian xin điều đình với ta Về phía ta, để tỏ thái
độ thiện chí vầ lập trường chính nghĩa của mình, hơn nữa cần có thời gian để đưa nhân dân tản cư khỏi thành phố, củng cố lực lượng, chúng ta đã chấp nhận ngừng bắn một tuần để điều đình Nhưng cuộc điều đình đã không đi đến kết quả do âm mưu của Pháp cốt để chờ viện binh
Trang 10
Ngày 5/10/1945, tướng Lơcơléc đến Sài Gòn cùng với nhiều đơn vị bộ binh và xe bọc thép mới từ Pháp sang tăng viện Cũng trong thời gian này, những đơn vị cuối cùng của sư đoàn 20 quân đội hoàng gia Anh cũng đến Sài Gòn Dựa vào sự so sánh lực lượng có lợi đó, lại có thêm sự hỗ trợ của quân Anh và quân Nhật, Lơcơléc quyết định phá vòng vây Sài Gòn
Cuối tháng 11/1945, sau khi được tăng thêm viện binh, thực dân Pháp đánh chiếm các thị xã, đường giao thông chiến lược miền Trung và một phần miền Tây Nam Bộ Từ tháng 12/1945, chúng phá mạnh, mở rộng chiếm đóng vùng nông thôn Như vậy, trong vòng 3 tháng, với ưu thế về trang bị, hỏa lực, lại được quân Anh hỗ trợ, quân Pháp đã chiếm đóng hầu hết các thành phố, thị xã, các đường giao thông chiến lược chủ yếu của Nam Bộ
Cùng với việc đánh phá các tỉnh Nam Bộ, quân Pháp mở rộng chiến tranh ra các tỉnh miền Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Ngày 19/10/1945, một tiểu đoàn quân Pháp, dưới sự che chở của quân Anh và quân Nhật, đổ bộ lên Nha Trang dọn đường để đánh chiếm các tỉnh miền Nam Trung Bộ Nhưng ở đây bị ta bao vây và phản công mạnh, nên thực dân Pháp buộc phải dùng lực lượng từ miền Đông Nam Bộ theo đường 14 hành quân chiếm vùng biên giới nối liền ba nước (Việt Nam - Lào - Campuchia) để từ đó đánh chiếm các tỉnh miền Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Đến đầu tháng 2/1946, nhiều tỉnh lị và đường giao thông quan trọng ở Tây Nguyên và Nam Trung Bộ đã bị địch chiếm Cuộc tiến công
ồ ạt của địch ra các tỉnh Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên là một thử thách lớn
đối với quân và dân ta ở miền Nam
Quân dân ta ở miền Nam đã chiến đấu ngoan cường, dũng cảm chống thực dân xâm lược Nhưng do chưa có thời gian chuẩn bị, lực lượng vũ trang tập trung ở Nam Bộ lại rời rạc, phức tạp Lợi dụng chỗ yếu của ta, thực dân Pháp nhanh chóng phá vòng vây,
đánh rộng ra, lập hội tề 1 ở những vùng chiếm đóng
Giữa lúc đó, Xứ ủy Nam Bộ họp Hội nghị mở rộng ngày 24/10/1945, tại Thiên Hộ (huyện Cái Bè - Mỹ Tho) Tham dự Hội nghị, ngoài đại biểu của Nam Bộ, có Hoàng Quốc Việt - đại diện Thường vụ Trung ương Đảng và còn có Lê Duẩn, Tôn Đức Thắng Hội nghị đã quyết định những vấn đề quan trọng để mạnh cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, như tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các lực lượng vũ trang, củng cố các đơn vị
vũ trang đã có và xây dựng lại chính quyền cách mạng ở những nơi đã bị tan rã, chuẩn
bị thành lập ủy ban kháng chiến miền Nam, phát triển công tác ở các đô thị Hội nghị
đã cử Tôn Đức Thắng phụ trách ủy ban kháng chiến và chỉ đạo các lực lượng vũ trang Nam Bộ Hội nghị Thiên Hộ có ý nghĩa quyết định đối với cuộc kháng chiến ở Nam Bộ
Trang 11Sau hội nghị, cán bộ và đảng viên trung kiên đã vượt qua khó khăn, kiên trì đi sâu, bám sát quần chúng, gây dựng lại phong trào, phát triền cơ sở chính trị và vũ trang Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra những chủ trương kịp thời lãnh đạo cuộc kháng chiến ở miền Nam và tích cực chuẩn bị đối phó với âm mưu của Pháp mở rộng chiến tranh ra cả nước Chỉ thị “Kháng chiến - kiến quốc” (ngày 25/11/1945) của Đảng nêu rõ: “phải động viên lực lượng, kiên trì kháng chiến, tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài” Ban Thường vụ Trung ương Đảng đề ra nhiệm vụ cụ thể của quân dân ta ở miền Nam là phải “Cắt đứt liên lạc giữa các thành phố đã lọt vào tay địch, phong tỏa những thành phố ấy về kinh tế, bao vây về quân sự Phải áp dụng chiến tranh du kích triệt để và cổ động nhân dân thi hành bất hợp tác ở các thành thị quân địch làm chủ và thi hành “nhà không đồng vắng” nếu quân địch tràn về quê Điều cốt tử là phải giữ vững liên lạc giữa các chiến khu để thống nhất chỉ huy”(4 17-18) Cuộc kháng chiến của nhân dân ta ở miền Nam được Trung ương trực tiếp chỉ đạo và
được cả nước chi viện mọi mặt Với ý thức bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc, nhân dân ta
ở miền Bắc đi đầu là tuổi trẻ có hàng vạn người hăng hái gia nhập quân đội, xung vào các đoàn quân “Nam tiến” Chỉ một thời gian ngắn sau khi tiếng súng kháng chiến bùng
nổ đã có những đơn vị quân giải phóng từ hậu phương miền Bắc có mặt ở tiền tuyến miền Nam Các đoàn quân “Nam tiến” từ thủ đô Hà Nội, căn cứ địa Việt Bắc, các tỉnh
đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ tấp nập lên đường vào Nam sát cách cùng quân dân ta trong đó chiến đấu chống Pháp
Hầu hết các tỉnh ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đều thành lập từ 1 đến 2 chi đội “Nam tiến” Những cán bộ và chiến sĩ hăng hái, có ít nhiều kinh nghiệm chiến đấu, những vũ khí và trang thiết bị tốt nhất của ta lúc đó đều dành cho bộ đội Nam tiến Nhân dân Bắc
Bộ và Trung Bộ còn thường xuyên tổ chức quyên góp tiền bạc, quần áo, thuốc men ủng
hộ đồng bào Nam Bộ
Từ tháng 12/1945, khi quân địch đã đánh rộng ra các tỉnh Nam Bộ, Nam Trung Bộ
và Tây Nguyên, cuộc chiến đấu của quân dân ta trên các mặt trận trở nên gay go ác liệt Nhân dân ra đã tích cực thực hiện “vườn không nhà trống”, tiến hành phá hoại, ngăn chặn tiến công của địch ở các đô thị, các đồn điền cao su nổi lên đấu tranh chính trị,
đấu tranh bãi công, không hợp tác với quân địch
Năm tháng kháng chiến (từ tháng 9/1845 đến tháng 2/1946) là 5 tháng đầy thử thách gian khổ đối với quân và dân ta ở miền Nam, đối với cả dân tộc ta và chế độ mới
Cuộc chiến đấu anh dũng của quân dân ta ở miền Nam tuy phải trải qua gian lao và tổn thất, nhưng đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm chiến đấu, gây dựng phong trào chiến tranh du kích, xây dựng lực lượng, góp phần bảo vệ và củng cố chính quyền cách
Trang 12mạng, tạo điều kiện để cả nước chuẩn bị lực lượng mọi mặt cho cuộc kháng chiến toàn quốc về sau
b Hòa hoãn với Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc
Trong hoàn cảnh phải đối phó cuộc xâm lược trở lại của thực dân Pháp ở miền Nam,
sự uy hiếp lật đổ của quân tưởng và tay sai ở miền Bắc, và trên cơ sở khẳng định thực dân Pháp là kẻ thù chính, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch rõ: “Phải tránh các trường hợp: một mình đối phó với nhiều lực lượng Đồng đối phó với thực dân Pháp ở miền Nam, và để tập trung lực lượng đánh Pháp trở lại xâm lược, ta chủ trương tạm thời hòa hoãn, tránh xung đột với Tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đứng trước tình hình gay go và cấp bách ấy, Đảng phải dùng mọi cách để sống còn, hoạt động
và phát triển Đảng không thể do dự Do dự là hỏng hết Đảng phải quyết đoán mau chóng, phải dùng những phương pháp - dù là những phương pháp đau đớn - để cứu vãn tình hình” (1 358)
Ta tiến hành đấu tranh chính trị với quân Tưởng một cách khôn khéo nhưng kiên quyết, nhằm hạn chế sự phá hoại của chúng Tháng 10/1945 khi Hà ứng Khâm đến Hà Nội, Chính phủ cách mạng huy động một lực lượng nhân dân hàng chục vạn người, đội ngũ chỉnh tề để đón tiếp và biểu dương lực lượng dưới rừng băng khẩu hiệu: “Nước Việt Nam của người Việt Nam”, “ủng hộ Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà”, “ủng hộ Việt Nam độc lập đồng minh”, “ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh”, “Hoa - Việt thân thiện” Thấy khí thế và sức mạnh của quần chúng, Hà ứng Khâm không thể tự mình thực hiện ý định lật đổ Chính phủ cách mạng mà dùng bọn tay sai là Việt Quốc và Việt Cách phá hoại từ bên trong Có sự ủng hộ của Tưởng, bọn tay sai đòi ta thay đổi quốc kỳ, quốc ca, đòi ta cải tổ Chính phủ để cho chúng một số ghế trong Quốc hội không phải thông qua bầu cử, đòi Hồ Chí Minh từ chức Chủ tịch, đòi những người cộng sản ra khỏi Chính phủ Bọn tay sai còn tổ chức ám sát, bắt cóc nhân viên Chính phủ
Để giảm bớt sức ép công kích của kẻ thù, tránh những hiểu lầm trong nước và ngoài nước có thể gây trở ngại đến tiền đồ, sự nghiệp giải phóng dân tộc, đồng thời xuất phát từ lợi ích dân tộc lên trên hết, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố “tự giải tán”, nhưng sự thật là tạm thời rút vào hoạt động “bí mật”, tiếp tục lãnh đạo đất nước, lãnh đạo chính quyền cách mạng
Nhằm hạn chế sự phá hoại của quân Tưởng và tay sai, tại phiên họp đầu tiên (02/3/1946), Quốc hội khoá I đồng ý cho bọn tay sai của Tưởng 70 ghế trong Quốc hội, cho Nguyễn Hải Thần (lãnh tụ Việt Cách) giữ chức phó chủ tịch nước, cùng với 4 ghế bộ trưởng trong chính phủ liên hiệp chính thức (ngoại giao, kinh tế, canh nông, xã hội)
Đồng thời nhân nhượng cho Tưởng một số quyền lợi kinh tế, như cung cấp một phần
Trang 13lương thực, thực phẩm, phương tiện giao thông vận tải; nhận tiêu tiền “quan kim” và
“quốc tệ” ở Việt Nam
Đối với các tổ chức phản cách mạng, tay sai của Tưởng (Việt Quốc, Việt Cách), chính quyền cách mạng dựa vào quần chúng kiên quyết vạch trần âm mưu và hành động chia
rẽ, phá hoại của chúng Những kẻ phá hoại có đủ bằng chứng đều bị trừng trị theo pháp luật Chính phủ còn ban hành một số sắc lệnh nhằm trấn áp bọn phản cách mạng: Sắc lệnh ngày 5/9/1945 giải tán “Đại Việt quốc gia xã hội Đảng” và “Đại Việt quốc dân Đảng”
là những đảng phản động, tay sai của phát xít Nhật Sắc lệnh ngành 12/9/1945 cho an trí những người nguy hiểm đối với nền cộng hoà dân chủ Việt Nam; Sắc lệnh lập toà án quân sự trừng trị bọn phản cách mạng
Thực hiện những biện pháp sách lược nhân nhượng trên đây đã hạn chế và vô hiệu hoá đến mức thấp nhất các hoạt động chống phá của quân Tưởng và tay sai, làm thất bại
âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng của chúng
2 Hoà hoãn với Pháp để gạt Tưởng khỏi nước ta, chuẩn bị đánh Pháp về sau (từ 6/3/1946)
a Pháp - Tưởng bắt tay cấu kết chống lại cách mạng
Đầu 1946, thực dân Pháp chiếm xong về cơ bản các đô thị, các đường giao thông chiến lược quan trọng ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ Pháp lại được Anh và Mỹ thoả thuận, ngày 28/1/1946, quân Anh rút khỏi Sài Gòn và đến này 5/3/1946, rút khỏi Nam
Đông Dương, nhường cho quyền chiếm đóng từ vĩ tuyến 16 trở vào
Công việc tiếp theo của Pháp là chuẩn bị tiến quân ra Bắc, thực hiện ý đồ thôn tính cả nước ta Nhưng với lực lượng hiện tại có hạn (3,5 vạn) trong khi chưa bình định xong miền Nam, thực hiện ngay ý đồ này, Pháp sẽ gặp khó khăn Hơn nữa, đưa quân ra Bắc lúc này, chúng gặp hai trở lực lớn: một là lực lượng kháng chiến của nhân dân ta, hai là
sự có mặt của quân Tưởng và bọn tay sai ở miền Bắc Tình hình đó buộc thực dân Pháp phải dùng đến thủ đoạn chính trị: điều đình với Chính phủ Tưởng Giới Thạch để được thay thế quân Tưởng chiếm đóng miền Bắc Việt Nam
Trong khi đó, Tưởng Giới Thạch cần tập trung lực lượng đối phó với phong trào cách mạng của nhân dân Trung Quốc do Đảng Cộng sản lãnh đạo đang lên cao Tình hình đó cũng buộc Tưởng đi đến thoả hiệp với Pháp
Ngày 28/2/1946, Hiệp ước Pháp - Hoa được ký kết giữa Đại sứ Pháp và Bộ trưởng ngoại giao Chính phủ Tưởng Giới Thạch Theo Hiệp ước, Pháp nhường cho Tưởng một
số quyền lợi về kinh tế, chính trị, như huỷ bỏ cai trị ngoài pháp quyền của Pháp trên đất Trung Quốc, nhượng cho Tưởng một “khu đặc biệt” để tự do buôn bán và có quyền kiểm soát thuế quan ở cảng Hải Phòng, bán cho Tưởng đoạn đường sắt từ Hồ Kiều đến Côn
Trang 14Minh (thuộc tuyến đường sắt Hà Nội - Vân Nam), những kiều dân Trung Quốc ở Đông Dương được hưởng nhiều quyền lợi đặc biệt Còn Tưởng nhường cho quân đội Pháp quyền thay thế quân đội Tưởng chiếm đóng ở phía Bắc Đông Dương từ vĩ tuyến 16 trở ra làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật
b Hoà hoãn với Pháp đuổi Tưởng ra khỏi nước ta
Hiệp ước Hoa - Pháp đã đặt nhân dân ta trước sự lựa chọn một trong hai con đường: hoặc là, cầm vũ khí chiến đấu chống thực dân Pháp không cho chúng đổ bộ lên miền Bắc; hoặc là, hoà hoãn, nhân nhượng Pháp để tránh được tình trạng phải đối phó một lúc với nhiều kẻ thù, đẩy 20 vạn quân Tưởng ra khỏi miền Bắc, tranh thủ thời gian hoà hoãn tiếp tục củng cố và phát triển lực lượng cách mạng, chuẩn bị mọi mặt bước vào cuộc chiến đấu về sau khi tình thế bắt buộc
Chỉ thị “Tình hình và chủ trương” của Ban Chấp hành Trung ương ngày 3/3/1946 đã chỉ rõ: “Vấn đề lúc này không phải là muốn hay không muốn đánh Vấn đề là biết mình biết người, nhận định một cách khách quan những điều kiện có hại trong nước và ngoài nước mà chủ trương cho đúng”
Đêm 5/3/1946, tại làng Canh (Hà Đông), Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng đã quyết định chọn con đường hoà hoãn với Pháp để đuổi Tưởng và tay sai của chúng ra khỏi nước ta
Chiều 6/3/1946, tại ngôi nhà 38 Lý Thái Tổ (Hà Nội) Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà ký với Xanhtơni (Sainteny) đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ bộ; đặt cơ sở cho cuộc đàm phán giữa hai bên để đi đến một hiệp
định chính thức Nội dung Hiệp định gồm mấy điểm sau:
- Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là một quốc gia tự do,
có chính phủ riêng, nghị viện riêng, quân đội riêng, tài chính riêng và là thành viên trong Liên bang Đông Dương, nằm trong khối Liên hiệp Pháp Việc thống nhất ba kỳ do nhân dân Việt Nam trực tiếp phán quyết
- Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà thoả thuận để cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay quân Tưởng làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật, số quân này sẽ đóng ở những địa điểm nhất định và rút dần trong thời hạn 5 năm
- Hai bên ngừng mọi cuộc xung đột ở miền Nam và giữ nguyên quân đội của mình tại
vị trí cũ, tạo điều kiện cần thiết đi đến cuộc đàm phán thân thiện để bàn về các vấn đề ngoại giao của Việt Nam, chế độ tương lai của Đông Dương, quyền lợi kinh tế và văn hoá của Pháp ở Việt Nam
Ký Hiệp định sơ bộ 6/3/1946, tạm thời hoà hoãn với Pháp, ta đã tránh được cuộc chiến đấu bất lợi phải chống lại nhiều kẻ thù cùng một lúc, đẩy được 20 vạn quân Tưởng
Trang 15
cùng bọn tay sai của chúng ra khỏi nước ta, giành thêm thời gian hoà bình cần thiết để củng cố chính quyền cách mạng, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất, phát triển lực lượng vũ trang nhằm chuẩn bị lực lượng mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp về sau Thực tiễn lịch sử đã chứng tỏ, ký Hiệp định Sơ bộ là một chủ trương sách lược đúng đắn, linh hoạt và kịp thời của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh
Sau khi ký Hiệp định sơ bộ 6/3/1946, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Trong khi đó, thực dân Pháp ra sức phá hoại nhiều điều khoản của Hiệp định
ở miền Bắc, thực dân Pháp chiếm đóng trái phép nhiều nơi và gây xung đột nhiều
nơi chúng chiếm đóng, như chiếm đóng Nha Tài chính (27/3), gây xung đột ở Hòn Gai (29/3) ở Hà Nội, Hải Phòng, Huế thực dân Pháp cho xe chạy khắp các phố, gây xô xát và cướp bóc tài sản của dân
ở miền Nam, thực dân Pháp tiếp tục càn quét, mở những cuộc tiến công quân dân ta
lấy lý do là Hiệp định sơ bộ chỉ có hiệu lực từ vĩ tuyến 16 trở ra Từ tháng 3/1946, Pháp tập trung quân ở Cà Mau, Rạch Giá, Đồng Tháp Mười, Hóc Môn, Nha Trang Tháng 6/1946, Pháp huy động 5.000 quân có xe tăng và máy bay yểm trợ đánh chiếm Tây Nguyên Thực hiện âm mưu tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam, thực dân Pháp thành lập Chính phủ Nam kỳ tự trị (1/6/1946) do Nguyễn Văn Thinh đứng đầu Còn việc mở rộng
đàm phán với Việt Nam để đi đến một hiệp định chính thức thì chúng lờ đi
Về phía Việt Nam, chính quyền cách mạng đã thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định,
đồng thời đấu tranh chống hành động khiêu khích của Pháp và đòi Pháp đi đến cuộc
đàm phán chính thức ở Pari
Để chuẩn bị cho cuộc đàm phán chính thức, phái đoàn Chính phủ Pháp và phái đoàn Chính phủ Việt Nam 1 họp Hội nghị trù bị ở Đà Lạt, nhằm trao đổi các vấn đề sẽ trao đổi tại cuộc đàm phán chính thức Hội nghị trù bị kéo dài 3 tuần lễ (từ 17/4 đến 11/5/1946), nhưng không đi đến thoả thuận nào do dã tâm phá hoại của thực dân Pháp
Ngày 31/5/1946, phái đoàn Việt Nam do Phạm Văn Đồng dẫn dầu lên đường sang Pháp đàm phán Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lên đường sang thăm nước Pháp với tư cách thượng khách của Chính phủ Pháp Trước khi lên đường, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Nam Bộ nêu rõ “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi” (2.387)
Nguyễn Trường Tam) dẫn đầu
Trang 16Lập trường của Pháp ở Hội nghị Phôngtennơblô không khác gì ở Hội nghị trù bị Đà Lạt, là đòi đặt lại chế độ toàn quyền ở Việt Nam, tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam, Việt Nam không có ngoại giao riêng Còn lập trường của Việt Nam là độc lập dân tộc và hợp tác bình đẳng với Pháp Những điểm cụ thể của lập trường đó là: - Việt Nam không chấp nhận bất cứ chính phủ liên bang nào Việt Nam độc lập trong Liên hiệp Pháp Trên lĩnh vực kinh tế, văn hoá Việt Nam sẵn sàng hợp tác với Pháp; - Nam Bộ là một bộ phận của nước Việt Nam thống nhất, không thể chia cắt; - Việt Nam có quyền có đại sứ với tất cả các nước trên thế giới; - Việt Nam bảo vệ tài sản của Pháp nhưng phía Pháp phải tuân theo luật lệ của Việt Nam Nếu cần cố vấn, Việt Nam dùng cố vấn Pháp trước
Cuộc đàm phán kéo dài hơn hai tháng (từ 7/6 đến 12/9/1946) 1
, cuối cùng, cũng như hội nghị trù bị ở Đà Lạt, đã không đi đến thoả thuận nào do lập trường hai bên xa nhau Cuộc đàm phán chấm dứt (ngày 12/9/1946), càng làm cho tình hình bang giao Việt - Pháp thêm căng thẳng Nguy cơ một cuộc chiến tranh đến gần Cần có một quyết định nhanh chóng nhằm kéo dài thời gian hoà hoãn để xây dựng, củng cố thêm lực lượng cách mạng, và làm cho nhân dân Pháp, nhân dân thế giới thấy rõ thiện chí hoà bình của Việt Nam, dã tâm xâm lược của Pháp Chính vì lẽ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí với đại diện Chính phủ Pháp là Mutê (Moutet)- Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại - bản Tạm
ước 14/9/1946
Nội dung Tạm ước có mấy điểm chính:
- Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Pháp cam kết tiếp tục chính sách hợp tác như Hiệp định Sơ bộ đã nêu, tiếp tục cuộc đàm phán sẽ mở chậm nhất vào tháng Giêng 1947
- Chính phủ Việt Nam bảo đảm các quyền tự do dân chủ, quyền lợi kinh tế - văn hoá của người Pháp ở Việt Nam
- Chính phủ Pháp sẽ đình chỉ xung đột ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ, bảo đảm các quyền tự do dân chủ cho nhân dân
- Việt Nam và Pháp thả hết tù chính trị, chấm dứt tuyên truyền không thân thiện
- Việc trưng cầu dân ý ở Nam Bộ do hai bên quy định thời gian và cách thức
Liên bang Đông Dương gồm bọn bù nhìn Nam Kỳ, Nam Trung Kỳ, Ailao, Cao Miên, ngày 1/8/1946
Trang 17Đây là sự nhân nhượng cuối cùng của ta nhằm cứu vãn tình thế hết sức khó khăn của đất nước lúc đó
Ngày 20/10/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về đến Tổ quốc trong sự chờ đón đầy tin tưởng của toàn dân ta Cuộc hành trình ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái
đoàn Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà trên đất Pháp tuy chưa giải quyết được mục tiêu cơ bản của cuộc đàm phán, nhưng đã làm cho nhân dân Pháp và thế giới hiểu rõ hơn vấn đề Việt Nam, và làm cho số đông người Pháp đồng tình ủng hộ độc lập của Việt Nam
c Chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Pháp về sau
Tranh thủ thời gian hoà hoãn, Chính phủ và nhân dân ta ra sức củng cố, xây dựng
và phát triển lực lượng mọi mặt, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến
ở miền Nam, sau Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946, nhiều bộ đội và cán bộ của ta đi sâu vào
vùng bị tạm chiếm, khôi phục chính quyền dân chủ nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân địa phương, phát triển chiến tranh du kích, phát động quần chúng đấu tranh phá tề trừ gian
ở các đô thị, nhất là ở Sài Gòn, các cuộc mít tinh, biểu tình, đình công, bãi chợ nổ ra
liên tiếp Phong trào lan rộng đã lôi kéo cả các tầng lớp trí thức, giới công thương gia
đấu tranh phản đối “Chính phủ Nam Kỳ tự trị”, đòi thống nhất đất nước
Chính quyền cách mạng được xây dựng và củng cố trên 1.000 xã trong tổng số 1.234 xã ở Nam Bộ Vùng giải phóng ở nông thôn được mở rộng gấp nhiều lần so với trước ngày 6/3/1946, nhiều căn cứ địa lớn được hình thành và củng cố, như Đồng Tháp Mười, rừng U Minh, chiến khu Đ, các căn cứ nhỏ liên huyện, liên xã cũng được thành lập Lực lượng vũ trang ba thứ quân ở Nam Bộ được xây dựng và củng cố ở nông thôn, hầu hết các xã đều có đội du kích ở các đô thị, nhất là ở Sài Gòn, lực lượng tự vệ được xây dựng và củng cố Các đơn vị bộ đội tập trung - các chi đội Vệ quốc đoàn - đã được xây dựng từ cấp tỉnh đến cấp khu Toàn Nam Bộ đã xây dựng được 25 chi đội, tăng 25%
so với lúc mới hình thành
ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, nhiều căn cứ du kích được hình thành Ngoài các
đơn vị bộ đội tập trung ở vùng tự do Liên khu V, đến tháng 7/1946, ở cực Nam Trung Bộ
đã xây dựng được 4 trung đoàn chủ lực và một tiểu đoàn ở Tây Nguyên - tiểu đoàn
N ’Tranglơn - gồm hầu hết các chiến sĩ là người dân tộc thiểu số
ở miền Bắc, tranh thủ thời gian hoà hoãn sau Hiệp định sơ bộ 6/3/1946, quân dân ta
ra sức xây dựng và phát triển lực lượng mọi mặt Ngày 29/5/1946, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp: quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt) được thành
Trang 18lập, nhằm đoàn kết rộng rãi các tổ chức, các đảng phái và cá nhân chưa tham gia Mặt trận Việt Minh Ngày 27/5/1946, Hội nghị đại biểu công nhân toàn quốc họp ở thủ đô Hà Nội, quyết định thành lập Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, nhằm đoàn kết lực lượng lao động trí óc và chân tay, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nam nữ để “kháng chiến - kiến quốc” Đến cuối 1946, tổng số đoàn viên công đoàn cả nước đã tăng lên khoảng 30 vạn người Ngày 27/5/1946, Đảng xã hội Việt Nam ra đời nhằm tập hợp trí thức yêu nước Ngày 20/10/1946, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam được thành lập
Trên cơ sở Mặt trận dân tộc thống nhất được củng cố và mở rộng, Đảng và Chính phủ kiện toàn một bước bộ máy nhà nước, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài Từ ngày 28/10 đến 9/11/1946 Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá I kỳ thứ hai họp tại Hà Nội đã thông qua danh sách Chính phủ mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng
đầu, và bản Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
Bản Hiến pháp đã phản ánh những thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam, phản
ánh tính chất cách mạng, tính chất dân tộc, dân chủ nhân dân của chế độ mới do Cách mạng tháng Tám 1945 mang lại Việc Quốc hội thông qua bản Hiến pháp - đạo luật cơ bản của nhà nước Việt Nam mới - là một thắng lợi chính trị quan trọng Bản Hiến pháp
ra đời đã làm cho nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có chỗ dựa vững chắc về pháp
lý, có cơ cấu hoàn chỉnh và dân chủ do nhân dân bầu ra
Xây dựng lực lượng vũ trang được đặc biệt chú ý Vệ quốc đoàn chính thức trở thành Quân đội quốc gia của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà từ ngày 22/5/1946 Bên cạnh xây dựng lực lượng vũ trang thường trực, chính phủ quan tâm xây dựng lực lượng bán vũ trang Đến cuối 1946, Việt Nam có trên 8 vạn bộ đội thường trực, có gần 1 triệu dân quân tự vệ ở hầu khắp các địa phương từ nông thôn đến thành thị Các trường đào tạo cán bộ chính trị, quân sự được thành lập: tháng 3/1946 mở trường Quân chính Bắc Sơn, tháng 5/1946 trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, tháng 6/1946 trường Lục quân Quảng Ngãi
Đến cuối 1946, các trường quân sự đã đào tạo được hàng ngàn cán bộ, bổ sung cho các
đơn vị cơ sở trước khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ
Trong hơn một năm, từ sau Cách mạng tháng Tám đến trước toàn quốc kháng chiến (9/1945 - 12/1946), vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách to lớn, nhân dân ta đã xây dựng và củng cố chính quyền vững mạnh, đấu tranh thắng lợi chống ngoại xâm, nội phản, bảo vệ vững chắc chính quyền non trẻ
Có được thắng lợi đó là do toàn dân ta đoàn kết chặt chẽ, thực hiện sự nghiệp thiêng liêng “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc” dưới sự lãnh đạo của Đảng “Đảng ta đứng đầu là
Hồ Chủ tịch, với đường lối chính trị vô cùng sáng suốt, vừa cứng rắn về nguyên tắc, vừa mềm dẻo về sách lược, đã đưa nước nhà vượt qua muôn vàn khó khăn tưởng như không sao vượt qua nổi Lúc thì hoà hoãn với Tưởng để rảnh tay đối phó với thực dân Pháp, lúc
Trang 19thì tạm hoà hoãn với Pháp để đuổi cổ quân Tưởng và quét sạch bọn phản động tay sai của Tưởng, giành thời gian củng cố lực lượng, chuẩn bị toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược, điều mà Đảng đã biết chắc là không thể nào tránh khỏi (5 31)
Hướng dẫn học tập
Nội dung chương I bao quát thời kỳ lịch sử từ sau ngày 2/9/1945 (sau khi Cách mạng tháng Tám giành thắng lợi, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tuyên bố thành lập) đến trước ngày 19/12/1946 (trước khi cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp trở lại xâm lược bùng nổ), được thực hiện trong khung thời gian 10 tiết lý thuyết
Cần nắm vững những vấn đề cơ bản về nội dung của chương:
• Bối cảnh thế giới và Việt Nam của cách mạng nước ta trong hơn năm đầu sau Cách mạng tháng Tám (9/1945 - 12/1946), bên cạnh sự thuận lợi là cơ bản và lâu dài, có không ít khó khăn to lớn và nguy hiểm đến sự tồn tại của chính quyền cách mạng:
+ Về thuận lợi, ngoài ý về nước ta đã giành được độc lập tự do, cần mở rộng thêm ý về
sự lãnh đạo tài giỏi của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh; quần chúng giành
được quyền làm chủ đất nước, nắm chính quyền cách mạng và bước đầu được hưởng quyền lợi do chính quyền cách mạng và bước đầu được hưởng quyền lợi do chính quyền
đưa lại, nên gắn bó và quyết tâm bảo vệ chính quyền, đó là chính quyền của dân, do dân
và vì dân
+ Về khó khăn, có nhiều, có thể nêu thành 3 loại: tàn dư của chế độ cũ thực dân phong kiến để lại hậu quả của chiến tranh đế quốc gây ra; sự non yếu của chính quyền cách mạng đang trong “thời kỳ trứng nước”; nguy hiểm nhất (cần được nhấn mạnh) là sự chống phá của kẻ thù (ngoại xâm và nội phản) với lực lượng đông (Tưởng, Anh, Pháp
và các tổ chức, đảng phái phản động ) và mạnh (gần 30 vạn quân)
• Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong hơn năm đầu sau Cách mạng tháng Tám, vừa xây dựng chính quyền cách mạng mới thành lập, đang còn “trứng nước”, vừa đấu tranh chống thù trong giặc ngoài bảo vệ chính quyền cách mạng
+ Sáu nhiệm vụ cấp bách trước mắt của cách mạng Việt Nam sau thắng lợi Cách mạng tháng Tám được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu trong phiên họp đầu tiên của Hội
đồng Chính phủ ngày 3/9/1945: chống đói, chống dốt, tổ chức tổng tuyển cử, xây dựng
đời sống mới, xoá bỏ các thứ thuế vô lý, bảo đảm quyền lực do tín ngưỡng Sau đó, Người
bổ sung và khái quát thành 3 nhiệm vụ lớn là diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm
Trang 20+ Chính quyền cách mạng được xây dựng không phải trong một hay một số lĩnh vực
mà trong tất cả các lĩnh vực chính trị - quân sự, kinh tế - tài chính, văn hoá - giáo dục + Đấu tranh chống ngoại xâm, nội phản, bảo vệ chính quyền, trải qua hai thời kỳ với mốc 6/3/1946, ngày ký Hiệp định Sơ bộ giữa ta và Pháp:
Thời kỳ trước 6/3/1946: Ta hoà hoãn với Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc, tập trung lực lượng cả nước đánh Pháp ở miền Nam tranh thủ thời gian hoà hoãn để xây dựng và củng
cố chính quyền cách mạng về mọi mặt, thể hiện chính quyền của dân, do dân và vì dân Cần làm rõ, tại sao chỉ có thể đánh Pháp ở miền Nam, nhưng lại không thể đánh Tưởng,
mà chỉ có thể hoà hoãn và nhân nhượng Tưởng ở miền Bắc Ssự nhân nhượng của ta đối với Tưởng là rất lớn, nhưng không vượt quá giới hạn cho phép và không chênh lệch hướng cách mạng
Thời kỳ từ 6/3/1946: Ta hoà hoãn với Pháp, mượn tay Pháp để đuổi Tưởng khỏi nước
ta, tranh thủ thời gian hoà hoãn để chuẩn bị lực lượng mọi mặt đánh Pháp về sau Cần làm rõ, tại sao ta và Pháp có thể đi đến hoà hoãn với nhau; đánh giá khách quan nội dung hoà hoãn (thể hiện trong nội dung Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946), những gì ta được và chưa được trong nội dung hoà hoãn và ý nghĩa của cái
ta đạt được
Khi học chương này, cần hiểu rõ thêm một trong những đặc điểm của lịch sử dân tộc,
là dân tộc ta từng phải chống lại những kẻ thù lớn mạnh của các thời đại, thậm chí có thời kỳ phải chống lại không những một mà nhiều kẻ thù lớn mạnh như thời kỳ 1945 - 1946; hiểu rõ lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong thời kỳ này là “giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền càng khó hơn”; và thấy rõ sự lãnh đạo tài tình của
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa đất nước ta qua được thời kỳ đầy những khó khăn hiểm nguy, khác nào “ngàn cân treo sợi tóc”
Trang 214 Âm mưu của quân Tưởng và tay sai đối với Việt Nam (1945 -1946)? Những biện pháp của Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh để đối phó với âm mưu của chúng?
5 Tại sao Chính phủ Việt Nam và Pháp đầu 1946 đi đến bắt tay hoà hoãn? Nội dung hoà hoãn?
6 Hiệp định Sơ bộ này 6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946: hoàn cảnh ký kết, nội dung, ý nghĩa?
7 Tranh thủ thời gian hoà hoãn với Tưởng ở miền Bắc (trước 6/3/1946) và với Pháp (từ 6/3/1946), chúng ta đã chuẩn bị được gì cho cuộc kháng chiến toàn quốc (từ 19/12/1946) chống thực dân Pháp xâm lược?
Trang 22Chương II Việt Nam từ 1946 đến 1954
I Kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ (19/12/1946)
1 Âm mưu, hành động chiến tranh của Pháp
Thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946, nhưng
ký xong chúng tìm cách phá hoại, ra sức đẩy nhanh tới chiến tranh nhằm chiếm toàn bộ nước ta một lần nữa
Từ hạ tuần tháng 11/1946 trở đi, tình hình trong Nam ngoài Bắc trở nên hết sức căng thẳng
ở Nam bộ và Nam Trung bộ, thực dân Pháp tập trung quân tiến công các căn cứ,
các cơ sở cách mạng, đánh chiếm các vùng tự do còn lại của ta
ở miền Bắc, ngày 20/11/1946, quân đội Pháp nổ súng đánh chiếm các vị trí xung yếu
ở thành phố Hải Phòng Cùng ngày, chúng nổ súng bắn vào quân ta ở thị xã Lạng Sơn Tại Hà Nội, từ đầu tháng 12/1046, thực dân Pháp liên tiếp gây ra những cuộc xung
đột vũ trang, đốt nhà thông tin ở phố Tràng Tiền, chiếm cơ quan Bộ Tài chính và Bộ Giao thông công chính, tàn sát nhiều đồng bào ta ở phố Hàng Bún, gây xung đột đổ máu
ở cầu Long Biên, khu Cửa Đông, phố Yên Ninh Ngày 18/12/1946, Pháp gửi tối hậu thư buộc Chính phủ ta giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu, giao quyền kiểm soát thủ đô cho quân đội của chúng Pháp đe doạ nếu những đòi hỏi đó không được thực hiện thì ngày 20/12/1946, quân đội của chúng sẽ hành động
2 Kháng chiến toàn quốc chống Pháp bùng nổ:
Hành động phá hoại trắng trợn các Hiệp định đã ký, gây sức ép quân sự buộc ta đầu hàng, một lần nữa thực dân Pháp đặt nhân dân ta trước sự lựa chọn “hàng” hay “đánh” Trong hai ngày 18 và 19/12/1946, tại thị xã Hà Đông, Ban Thường vụ Trung ương
Đảng ta họp Hội nghị dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết định phát động toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
Ngay đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”:
Trang 23“Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!
Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc Ai
có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy, gộc Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ dân quân!
Giờ cứu nước đã đến Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất
3 Đường lối kháng chiến chống Pháp
Đường lối kháng chiến chống Pháp được nêu đầu tiên bởi những nét cơ bản trong
“Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh Lời kêu gọi nêu rõ trách nhiệm chiến tranh về phía thực dân Pháp, chính nghĩa thuộc về nhân dân ta; mục đích kháng chiến là quyết tâm không gì lay chuyển của nhân dân ta chiến đấu đến cùng chống thực dân Pháp xâm lược; tính chất gian khổ và tất thắng của cuộc kháng chiến Lời kêu gọi đồng thời nêu rõ quan điểm chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc
Đường lối kháng chiến chống Pháp sau đó được nêu đầy đủ, toàn diện trong Bản Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” của Ban Thường vụ Trung ương Đảng ngày 22/12/1946 và trong tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” của Tổng bí thư Trường Chinh tháng 9/1947, về tính chất, mục đích, nội dung, phương châm chiến lược của cuộc chiến tranh nhân dân, là toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh
Cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược là cuộc chiến tranh tự vệ, cuộc chiến tranh chính nghĩa và tiến bộ, nhằm tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ
Trang 24giải phóng dân tộc và từng bước thực hiện nhiệm vụ dân chủ, đem lại ruộng đất cho nông dân
Cuộc kháng chiến đó do toàn dân tiến hành theo khẩu hiệu “Mỗi người dân là một người lính, mỗi phố là một pháo đài, mỗi làng là một trận địa”
Cuộc kháng chiến đó không chỉ diễn ra trên mặt trận quân sự mà cả các mặt trận chính trị, kinh tế, văn hoá
Có đường lối đó là quân dân ta có được vũ khí sắc bén, có được niềm tin vững chắc
để chống lại cuộc xâm lược của thực dân Pháp đưa cuộc kháng chiến của dân tộc đến thắng lợi
II Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc (1946 - 1950):
1 Cuộc chiến đấu ở các đô thị Bắc vĩ tuyến 16
Hà Nội đã mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc (từ 20 giờ 30 phút ngày 19/12/1946) Cuộc kháng chiến đã diễn ra ác liệt giữa ta và địch ở ga Hàng Cỏ, phố Khâm Thiên, phố Hàng Đậu, đầu cầu Long Biên, khu vực Bắc Bộ phủ, thành Cửa Đông, nhà Thị Chính, khu Chợ Hôm, khu Lò Lợn, các phố Hàng Bông, Hàng Trống, Hàng Da, trường bay Bạch Mai
Đến ngày 30/12/1946, nhờ tăng thêm viện binh, địch đánh ra ngoại thành Quân dân
Hà Nội chiến đấu ngăn chặn địch đánh bung ra Bên trong, quân dân Liên khu I kiên cường bám trụ đánh địch Trung đoàn Liên khu I chính thức thành lập, mang danh hiệu
“Trung đoàn Thủ đô“
Trung tuần tháng 2/1947, địch liên tiếp mở những cuộc tiến công mới nhằm chia cắt Liên khu I và với âm mưu tiêu diệt Trung đoàn Thủ đô Cuộc chiến đấu của quân dân Liên khu I và các Liên khu nội ngoại thành khác ngày càng trở nên khó khăn
Đêm 17/2/1947, Trung đoàn Thủ đô thực hiện cuộc rút quân thần kỳ, đã vượt khỏi vòng vây các đồn bốt địch, trở lại căn cứ hậu phương an toàn
Trong gần hai tháng đầu toàn quốc kháng chiến (19/12/1946-17/2/1947) đã đánh tất cả gần 200 trận, giết và làm bị thương hàng ngàn địch, phá huỷ hàng chục xe cơ giới, bắn rơi và phá huỷ 5 máy bay, thu nhiều đạn dược và quân trang quân dụng, hoàn thành nhiệm vụ được giao là giam chân địch trong thành phố một thời gian nhất định (2 tháng)
để hậu phương kịp thời huy động lực lượng kháng chiến, di chuyển kho tàng, công xưởng
về chiến khu, bảo vệ an toàn Trung ương Đảng, Chính phủ trở lại căn cứ địa lãnh đạo kháng chiến lâu dài
ở thành phố Nam Định, quân dân ta bao vây địch, trong gần ba tháng từ 19/12/1946
đến 12/3/1947, diệt hơn 400 địch Địch mở nhiều đợt tiến công mở vây, nhưng đều bị
Trang 25quân dân ta đánh lui Có quân đến cứu viện, địch tăng cường những cuộc phản kích Để tránh một cuộc chiến đấu bất lợi, ngày 12/3/1947, quân ta rút khỏi thành phố để bảo toàn lực lượng
ở thành phố Vinh, ngay từ đầu cuộc chiến đấu, quân dân ta đã buộc địch đầu hàng
ở thành phố Huế, quân dân ta tiến công buộc địch phải cố thủ trong các căn cứ
chúng chiếm đóng Trong 50 ngày đêm tiến công và bao vây, quân dân ta đã diệt trên 200
địch, hạ 1 máy bay, phá 3 xe thiết giáp, nhiều xe vận tải, thu nhiều súng đạn Ngày 8/2/1947, quân ta rút khỏi thành phố để bảo toàn lực lượng
ở thành phố Đà Nẵng, quân dân ta tiến công bao vây cô lập sân bay và đánh lui
nhiều đợt tiến công mở vây của địch Đầu tháng 1/1947, được tăng viện, chúng điều 2000 quân đổ bộ từ biển lên giải vây sân bay, thành phố
ở Nam bộ và Nam Trung bộ, quân dân ta đẩy mạnh chiến tranh du kích, chặn đánh
địch trên các tuyến giao thông, phá cơ sở hậu cần của chúng, như kho lương thực, xăng dầu, đạn dược
Trong những tháng đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc, quân dân ta đã chủ động tiến công địch, bao vây giam chân chúng ở thủ đôHà Nội, các thành phố, thị xã khác, tạo thế trận đi vào cuộc chiến đấu lâu dài
Về phía Pháp, sau một thời gian bị động phòng ngự ở Hà Nội, trong các thành phố,
đầu năm 1947, nhờ được viện binh từ Pháp sang và rút một phần quân đội từ Nam bộ ra, chúng mở những cuộc tiến công giải vây các thành phố, mở rộng phạm vi chiếm đóng ngoài các thành phố, thị xã, các tuyến giao thông chiến lược
Chiến tranh càng lan rộng, khó khăn của ta càng to lớn, nhưng không làm giảm quyết tâm kháng chiến lâu dài của dân tộc ta
2 Tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, với tầm nhìn chiến lược về một cuộc chiến tranh sắp tới, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân công Phạm Văn Đồng cùng một số cán bộ ở lại Việt Bắc một thời gian để củng cố căn cứ địa
Cuối tháng 10/1046, sau chuyến đi thăm Pháp và ký Tạm ước 14/9/1946 ở bên đó về nước, thấy nguy cơ một cuộc chiến tranh với Pháp sắp nổ ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ cho Nguyễn Lương Bằng trở lại Việt Bắc chuẩn bị địa điểm xây dựng căn cứ
Trang 26Hà Nội được đẩy mạnh, đợt tổng di chuyển được bắt đầu
Cuối tháng 12/1946, sau khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, các cơ quan trung
ương lần lượt rời Hà Nội về phía Tây - Nam chuyển đến địa phận các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây (thị xã Hà Đông; Thanh Oai, Chương Mỹ - Hà Đông; Quốc Oai, Thạch Thất - Sơn Tây ), sau đó (đầu 1947) chuyển đến địa phận các tỉnh thuộc căn cứ Việt Bắc (các huyện Định Hoá - Thái Nguyên; Chợ đồn - Bắc Cạn; Sơn Dương, Yên Sơn - Tuyên Quang ) Việt Bắc là căn cứ địa cách mạng trước đây, nay trở thành căn cứ địa kháng chiến của cả nước
Đợt tổng di chuyển từ cuối tháng 11/1946 đến đầu 1947, nhằm đưa đến những nơi an toàn các máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu (đặc biệt là công nghiệp quốc phòng), lương thực, thực phẩm (chủ yếu là gạo, muối), hàng hoá
Giai cấp công nhân đã đem hết sức mình để bảo vệ và di chuyển máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu đến nơi an toàn ở nông thôn, rừng núi các tỉnh khu V, khu IV, khu Việt Bắc để tiếp tục sản xuất
Chỉ trong vòng 3 tháng đầu kháng chiến, ta đã vận chuyển được hơn 3 vạn tấn máy móc và dụng cụ sản xuất, hàng vạn tấn nguyên vật liệu ra vùng căn cứ Riêng ở Bắc bộ, gần 2 phần 3 máy móc được chuyển lên căn cứ Việt Bắc Nhờ đó, đến khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ta đã xây dựng được 57 cơ sở công nghiệp, chủ yếu là công nghiệp quốc phòng, sản xuất đáp ứng phần quan trọng nhu cầu vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng cho các lực lượng vũ trang và nhu cầu tối thiểu của đời sống nhân dân
Đồng thời với hoạt động “di chuyển” khi mở đầu kháng chiến là hoạt động “tiêu thổ”
để kháng chiến, vận động và tổ chức “tản cư”, bảo đảm tính mạng và tài sản của nhân dân, nhanh chóng chuyển đất nước vào thời chiến
Thực hiện chủ trương “tiêu thổ” để kháng chiến, nhân dân tự tay phá nhà cửa, đường sá, cầu cống 1 ở những nơi có nguy cơ địch chiếm đóng lập căn cứ chống lại kháng chiến Kết quả của những hoạt động “tiêu thổ”, thực hiện “vườn không nhà trống” có tác dụng ngăn chặn phần nào những hoạt động hành quân càn quét của địch vào hậu phương của ta
1
Từ 19/12/1946 đến 31/8/1948, ta đã phá 59.100 nóc nhà, 1.060 cây số đường sắt với 84 đầu máy xe lửa và 868 toa xe, 7.455 mét cầu
Trang 27Các cấp chính quyền từ trung ương đến cơ sở trong một thời gian ngắn, đã đưa đón hàng chục vạn đồng bào ra khỏi các vùng có thể xảy ra chiến sự và từng bước sắp xếp cho đồng bào chỗ ở, có công ăn việc làm ổn định
Sau khi việc di chuyển đã hoàn thành, chỗ ở và việc làm của những đồng bào tản cư
ổn định, Nhà nước bắt tay xây dựng lực lượng về mọi mặt để bước vào cuộc kháng chiến lâu dài
• Về chính trị, Chính phủ quyết định chia cả nước thành 14 khu hành chính, thành lập thêm Uỷ ban Kháng chiến bên cạnh Uỷ ban Hành chính Đến tháng 10/1947, hai uỷ ban sát nhập thành “Uỷ ban Kháng chiến - Hành chính” thực hiện cả hai nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc Mặt trận Liên Việt thu hút ngày càng rộng rãi các tầng lớp nhân dân yêu nước, các nhân sĩ đi vào kháng chiến
• Về quân sự, Chính phủ quy định mọi người dân từ 18 đến 45 tuổi đều tham gia dân quân và từ dân quân được tuyển chọn vào đội du kích rồi bộ đội địa phương hoặc bộ đội chủ lực chính quy Lực lượng vũ trang các cấp không ngừng tăng lên về số lượng, được huấn luyện về chính trị và quân sự Vũ khí thì vừa tự tạo, vừa lấy của địch để tự trang bị
• Về kinh tế, Chính phủ ban hành các chính sách để duy trì và phát triển sản xuất, trước hết là sản xuất lương thực, theo khẩu hiệu “Thực túc binh cường”, “ăn no đánh thắng” Sản lượng lúa năm 1947 đạt 2.189.000 tấn (so với năm 1946 đạt dưới 2 triệu tấn) Các cơ quan thương nghiệp của Nhà nước có nhiều biện pháp nhằm phục vụ đời sống nhân dân, tiếp tế cho cán bộ, bộ đội Nha Tiếp tế được thành lập làm nhiệm vụ thu mua, dự trữ và phân phối thóc gạo, muối, vải, bảo đảm nhu cầu ăn, mặc cho lực lượng vũ trang và nhân dân ở hậu phương
• Về văn hoá, Phong trào bình dân học vụ tiếp tục được duy trì và phát triển Trường phổ thông các cấp được xây dựng, thu hút con em nhân dân lao động vào học Việc chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân, cũng như việc xây dựng đời sống mới được chú trọng
3 Chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947
Sau gần một năm từ khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, thực dân Pháp tuy đã chiếm đóng được các đô thị và các đường giao thông chiến lược, song phạm vi chiếm
đóng càng mở rộng, chúng càng gặp khó khăn do phải dàn mỏng lực lượng, trong khi chúng thiếu quân, bị dư luận phản đối và càng dễ dàng cho chiến tranh du kích của ta hoạt động mạnh, ý đồ của chúng vẫn chưa được thực hiện
Để giải quyết khó khăn và thực hiện âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh”, tháng 4/1947 Chính phủ Ramadie (Ramadier) cử Bôlaéc (Bollaert) làm Cao uỷ Pháp ở Đông Dương thay Đácgiăngliơ (D'Argenlieu)
Trang 28Đến Đông Dương, Bôlaéc thực hiện âm mưu tập hợp những phần tử Việt gian phản
động, lập ra cái gọi là “Mặt trận quốc gia thống nhất” làm tay sai, tiến tới thành lập một chính phủ bù nhìn trung ương hòng lừa bịp dư luận, cùng với việc chuẩn bị một kế hoạch quy mô lớn tấn công căn cứ địa Việt Bắc
Tấn công căn cứ địa Việt Bắc, thực dân Pháp nhằm mục đích:
- Tàn phá căn cứ địa chính của cả nước, tiêu diệt các cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt phần lớn quân chủ lực cách mạng, chiếm đóng vùng biên giới Việt - Trung, ngăn chặn con đường liên lạc quốc tế của ta
- Phá hoại hậu phương kháng chiến, các cơ sở kinh tế, kho tàng, mùa màng, cướp bóc lúa gạo, triệt phá đường tiếp tế, hòng làm suy giảm khả năng kháng chiến của ta
- Giành thắng lợi quân sự để thúc đẩy, tập hợp bọn tay sai, tiến tới thành lập chính phủ bù nhìn toàn quốc và nhanh chóng kết thúc chiến tranh
Thực dân Pháp huy động 12.000 quân tinh nhuệ và hầu hết máy bay ở Đông Dương, chia thành ba cánh, mở cuộc tấn công Việt Bắc bắt đầu sáng sớm 7/10/1947
Ngày 7/10/1947, từ sáng sớm, binh đoàn dù do đại tá Sôvanhắc (Sauvagnac) chỉ huy
đổ quân xuống chiếm thị xã Bắc Cạn, Chợ Mới, Chợ Đồn
Cùng ngày (7/10), binh đoàn bộ do đại tá Bôphơrê (Beaufré) chỉ huy từ Lạng Sơn
đánh lên Cao Bằng theo đường số 4, chiếm các cứ điểm dọc đường, rồi từ Cao Bằng, một
bộ phận tiếp tục tiến xuống Bắc Cạn theo đường số 3, tạo thành gọng kìm bao vây căn cứ
địa Việt Bắc ở phía Đông và phía Bắc
Ngày 9/10/1947, một binh đoàn hỗn hợp bộ binh và lính thuỷ đánh bộ do đại tá Cômmuynan (Communal) chỉ huy từ Hà Nội ngược sông Hồng, sông Lô và sông Gâm lên thị xã Tuyên Quang, Chiêm Hoá và Đài Thị, bao vây căn cứ địa Việt Bắc ở phía Tây Thấy rõ âm mưu của địch, từ giữa tháng 9/1947, Đảng và Chính phủ nhắc nhở quân dân cả nước nêu cao cảnh giác, chuẩn bị đối phó với cuộc tiến công thu - đông tới của chúng
Ngày 7/10/1947, ngay khi thực dân Pháp mở cuộc tấn công Việt Bắc, Thường vụ Trung ương Đảng đã có điện, nêu rõ “Khu uỷ và Quân khu uỷ chỉ huy bộ đội đánh mạnh
để chia xẻ lực lượng địch và phá kế hoạch của chúng”
Ngày 15/10/1047, Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Phải phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp” Chỉ thị nêu rõ: “Giam chân địch tại mấy căn cứ chúng vừa chiếm, bao vây những căn cứ đó Chặt đứt giao thông liên lạc giữa các cứ điểm của
địch, không cho chúng tiếp ứng và tiếp tế Phải giữ gìn chủ lực, nhưng đồng thời cũng
Trang 29phải nhằm những chỗ yếu của địch mà đánh những trận vang dội, những trận tiêu diệt ”
Thực hiện chỉ thị đó, trên các hướng, khắp các mặt trận, quân dân ta anh dũng chiến
đấu, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, từng bước phá vỡ các gọng kìm của chúng
Tại Bắc Cạn, ngay từ đầu, quân dân ta đã chủ động, kịp thời phản công và tiến công
địch: Tiến hành bao vây, chia cắt, cô lập chúng; tổ chức tập kích vào Chợ Mới, Chợ Đồn, Chợ Rã, Ngân Sơn, Bạch Thông , phục kích trên các đường từ Bắc Cạn đi Chợ Mới, Chợ Đồn, Phủ Thông Vừa chặn đánh địch, ta vừa bí mật, khẩn trương di chuyển các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ, các công xưởng, kho tầng từ nơi địch uy hiếp, chiếm
đóng đến nơi an toàn
ở hướng Đông, quân ta phục kích chặn đánh địch trên đường số 4, cản bước tiến
của chúng, tiêu biểu là trận đánh phục kích trên đoạn đường Bản Sao - Đèo Bông Lau ngày 30/10, đánh trúng đoàn xe cơ giới địch, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1 đại đội, phá huỷ 27 xe, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng của chúng Do bị chặn đánh trong nhiều trận phục kích, mà cánh quân của Bôphơrê không gặp được cánh quân của Cômmuynan ở Đài Thị Hai gọng kìm Đông và Tây của địch đã không khép kín lại được
ở hướng Tây, quân ta phục kích đánh địch nhiều trận trên sông Lô Ngày 24/10, 5
tàu chiến địch có máy bay hộ tống từ Tuyên Quang đi Đoan Hùng lọt vào trận địa phục kích của ta (đặt tại Đoan Hùng, sát bờ sông lô), quân ta nổ súng bắn cháy 2 tàu và bắn bị thương 2 tàu khác của địch Ngày 10/11, 2 tàu chiến và 1 canô địch từ Chiêm Hoá về thị xã Tuyên Quang lọt vào trận địa phục kích của ta (đặt tại Khe Lau, ngã ba sông Lô và sông Gâm), quân ta nổ súng bắn cháy tàu và diệt hàng trăm địch
Phối hợp với cuộc chiến đấu ở Việt Bắc, quân và dân ta trên các chiến trường toàn quốc hoạt động mạnh, kiềm chế không cho địch tập trung lớn binh lực vào chiến trường chính
Quân dân Hà Nội liên tiếp mở những cuộc tập kích vào các đồn bốt địch ở ngoại thành, như Gia Lâm, Thạch Bích, Chèm, Văn Điển, Vĩnh Tuy, Cầu Giấy, Cầu Đuống
Đầu tháng 12/1947, quân dân Sài Gòn mở hàng loạt cuộc tập kích vào đồn bốt, kho tàng của địch ở Thị Nghè, Gia Định, Gò Vấp, Bến Cát, Bà Quẹo, Bà Điểm, Phú Lâm, Phú Thọ
ở nhiều địa phương khác cũng có những cuộc tập kích vào các đồn bốt, kho tàng
của địch, như ở Sơn La, Sơn Tây, Hà Đông, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Nam, Đà Nẵng, Khánh Hoà, Bình Thuận, Vĩnh Long, Tây Nguyên
Cuộc chiến đấu liên tục 75 ngày đêm giữa ta và Pháp đã kết thúc bằng cuộc rút chạy của đại bộ phận quân Pháp khỏi Việt Bắc ngày 19/12/1947
Trang 30Quân dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 địch, bắn rơi 16 máy bay, bắn chìm 11 tàu chiến, canô, phá huỷ nhiều xe quân sự và pháo các loại Căn cứ địa Việt Bắc biến thành “mồ chôn giặc Pháp” Cơ quan đầu não kháng chiến được bảo toàn Bộ đội chủ lực của ta chẳng những không bị tiêu diệt mà trưởng thành lên
Thực dân Pháp tuy phá huỷ được một số kho tàng, thị trấn, làng bản của ta và vẫn còn chiếm đóng một số cứ điểm quan trọng trên đường số 3 và số 4, song vẫn không đạt
được mục tiêu của cuộc tấn công, không thực hiện được ý đồ chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” và buộc phải chuyển sang đánh lâu dài với ta
Chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947 là chiến dịch phản công lớn đầu tiên của ta trong kháng chiến chống Pháp giành được thắng lợi Chiến thắng Việt Bắc chứng minh
sự đúng đắn đường lối kháng chiến lâu dài của Đảng, chứng minh sự vững chắc của căn
cứ địa Việt Bắc, là mốc khởi đầu sự thay đổi trong so sánh lực lượng giữa ta và Pháp có lợi cho cuộc kháng chiến của ta Sau chiến dịch Việt Bắc, ta có thêm điều kiện để xây dựng và phát triển lực lượng kháng chiến toàn quốc, toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh
4 Đẩy mạnh kháng chiến toàn dân, kháng chiến toàn diện
Sau thất bại ở Việt Bắc và khi buộc phải chuyển hướng chiến lược sang đánh lâu dài, thực dân Pháp tăng cường thực hiện chính sách “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” nhằm chống lại cuộc kháng chiến lâu dài, toàn dân, toàn diện của ta
Thực dân Pháp ra sức xây dựng nguỵ quân, xúc tiến thành lập chính phủ bù nhìn Bảo Đại, phát triển mạnh ngụy quân, củng cố các vùng tề, rải quân, đóng đồn bốt ở nhiều nơi, tiến hành nhiều cuộc hành quân càn quét, ra sức bắt người, cướp của cung cấp cho chiến tranh
Thực hiện phương châm chiến lược “đánh lâu dài”, phá âm mưu mới của địch, Đảng
và Chính phủ chủ trương tăng cường sức mạnh và hiệu lực của chính quyền dân chủ nhân dân từ Trung ương đến cơ sở, tăng cường lực lượng vũ trang nhân dân, đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện
• Về quân sự, Đảng và Chính phủ chủ trương động viên nhân dân thực hiện vũ trang toàn dân, phát triển chiến tranh du kích, tiến hành du kích chiến là chính, vận động chiến là phụ, du kích chiến tiến dần lên vận động chiến
Trong những năm 1948 - 1949, ta chủ trương phân tán phần lớn bộ đội chủ lực chính quy, thành lập những “Đại đội độc lập”, “Trung đội vũ trang tuyên truyền” tiến sâu vào vùng tạm bị chiếm, gây dựng cơ sở kháng chiến, dìu dắt các lực lượng vũ trang địa phương, phát động chiến tranh du kích sâu rộng, biến hậu phương địch thành tiền