Nghiên cứu mộ Mường ở Hòa Bình đã góp thêm nhiều tư liệu quý, có giá trị khoa học để tìm hiểu nhiều khía cạnh về đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc Mường. Những tư liệu đó đóng góp vào việc truy tìm nguồn gốc tộc Mường, một tộc người anh em có chung cội nguồn xa xưa với dân tộc Việt.
Trang 1NHỮNG DI SẢN VĂN HÓA KHẢO CỔ HỌC
Ở TỈNH HÒA BÌNH
TRÌNH NĂNG CHUNG Tóm tắt
Là một bộ phận cấu thành của văn hóa Đông Sơn, di sản văn hóa khảo cổ học tỉnh Hòa Bình nổi bật với ba loại hình tiêu biểu: Văn hóa Hòa Bình; trống đồng (trống Đông Sơn, trống Mường) và mộ Mường Đến nay, Hòa Bình là địa phương phát hiện nhiều di tích văn hóa Hòa Bình nhất với hơn 70 địa điểm Số lượng phong phú các di tích, di vật văn hóa Hòa Bình phát hiện được khẳng định rằng tỉnh Hòa Bình là quê hương của nền văn hóa tiền sử nổi tiếng này Hòa Bình cũng là địa phương phát hiện được nhiều trống đồng cổ với hơn 70 trống, trong đó 10 trống Đông Sơn (trống loại I Heger) và hơn 60 trống Mường (trống loại II Heger) Nghiên cứu cho thấy có sự kế thừa trực tiếp từ trống Đông Sơn sang trống Mường ở Hoà Bình, trống Mường là biểu tượng văn hóa của người Mường, tiêu biểu cho bản sắc Mường Cùng với đó, nghiên cứu mộ Mường ở Hòa Bình đã góp thêm nhiều tư liệu quý,
có giá trị khoa học để tìm hiểu nhiều khía cạnh về đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc Mường Những tư liệu đó đóng góp vào việc truy tìm nguồn gốc tộc Mường, một tộc người anh em có chung cội nguồn xa xưa với dân tộc Việt.
Từ khóa: Khảo cổ học, Hòa Bình, văn hóa Hòa Bình, trống đồng Đông Sơn, trống đồng Mường,
mộ Mường
Abstract
As an integral part of Dong Son culture, Hoa Binh archaeological cultural heritage is outstanding with three typical types: Hoa Binh culture; bronze drums (Dong Son drums, Muong drums) and Muong tombs Up to now, Hoa Binh is the locality where has discovered the most Hoa Binh cultural relics with more than 70 archaeology locations The extremely rich number of discovered Hoa Binh cultural relics and vestiges has affirmed that Hoa Binh province is home to this famous prehistoric culture Hoa Binh is also the locality where many ancient bronze drums were discovered: more than
70 drums, including 10 Dong Son drums (Heger drums I) and more than 60 Muong drums (Heger drums II) The study shows that there is a direct inherit from the Dong Son drum to the Muong drum
in Hoa Binh, the Muong drum is a cultural symbol of Muong people, typical for Muong identity Along with that, the study of Muong tomb in Hoa Binh has contributed more valuable and scientific documents to learn many aspects of the social, material and spiritual life of Muong ethnic people These materials contribute to tracing the origin of the Muong ethnic group who have a common origin with the Kinh or Viet people.
Keywords: Archeology, Hoa Binh, Hoa Binh culture, Dong Son bronze drums, Muong bronze
drums, Muong tombs
Hòa Bình là tỉnh miền núi, tiếp giáp
với phía tây đồng bằng sông Hồng
Hòa Bình có địa hình bị chia cắt
phức tạp và có độ dốc lớn Vùng núi cao hiểm
trở nằm ở phía tây bắc tỉnh với độ cao trung
bình 600m - 700m so với mặt nước biển Phía
đông nam tỉnh là vùng núi thấp Trên dải cao
nguyên đá vôi chạy suốt từ Phong Thổ - Lai Châu đến bờ biển tỉnh Ninh Bình, hoạt động karst hóa đã tạo ra các bồn địa giữa núi có điều kiện cư trú thuận lợi, hình thành nên các
xứ Mường trù phú, thường được dân gian ca
tụng: “Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động”
Trong nền cảnh văn hóa truyền thống đa dạng
Trang 2V Ă N HÓ A
của Việt Nam, di sản văn hóa khảo cổ học tỉnh
Hòa Bình là một trong những mảng màu văn
hóa đặc sắc của cư dân cổ miền núi phía Bắc
nước ta, nổi bật với ba loại di sản lớn: Văn hóa
Hòa Bình, trống đồng (trống Đông Sơn, trống
Mường) và mộ Mường
1 Văn hóa Hòa Bình
Văn hóa Hòa Bình là một nền văn hóa tiền
sử nổi tiếng ở Việt Nam và khu vực Đông Nam
Á Kể từ năm 1926, khi di tích Hòa Bình đầu tiên
được phát hiện ở tỉnh Hòa Bình cho đến nay,
các nhà khoa học đã thu được rất nhiều thành
tựu trong công cuộc nghiên cứu văn hóa Hòa
Bình Văn hóa Hòa Bình không chỉ tồn tại ở Việt
Nam mà còn ở các nước khác trong khu vực
Đông Nam Á, ít ra là Đông Nam Á lục địa, với
phạm vi phân bố rộng từ phần cực nam Trung
Quốc, Thái Lan, Myanmar, Lào, Campuchia đến
quần đảo phía đông Malaysia và đảo Sumatra
(Indonesia) Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng
văn hóa Hòa Bình là hiện tượng văn hóa của
Đông Nam Á tiền sử
Ở Việt Nam, các di tích Hòa Bình được phát
hiện và nghiên cứu trong nhiều thời kỳ khác
nhau, do nhiều thế hệ các nhà khoa học và các
cơ quan khác nhau tiến hành
Tại tỉnh Hòa Bình, trong hai mùa điền dã
năm 1926, với những kết quả thu được từ việc
khai quật 9 trong số 23 địa điểm di tích hang
động tại vùng núi đá vôi Hòa Bình, nữ khảo
cổ học người Pháp - Madelene Colani trong
công trình nghiên cứu “Thời đại Đá trong tỉnh
Hòa Bình”, lần đầu tiên đã nêu lên thuật ngữ
Văn hóa Hòa Bình với những đặc trưng cơ bản
và ba giai đoạn phát triển từ cuối thời đại Đá
cũ đến thời đại Đá mới [2; 3] Có thể nói, với
những phát hiện và nghiên cứu về văn hóa
Hòa Bình, M.Colani được xem như là người
khai sinh văn hóa Hòa Bình, đánh dấu giai
đoạn đầu của quá trình nghiên cứu văn hóa
Hòa Bình trên lãnh thổ Việt Nam và trong khu
vực Đông Nam Á Tháng Giêng năm 1932, tại
Hội nghị Tiền sử Viễn Đông lần thứ nhất tổ
M.Colani đề xuất đã được các nhà khảo cổ học thế giới tham dự Hội nghị thảo luận và thông qua nghị quyết, công nhận thuật ngữ “Văn hóa Hòa Bình” để chỉ một nền văn hóa thời Tiền sử
ở Việt Nam [4]
Từ năm 1960 đến nay, các nhà khảo cổ học
đã phát hiện và nghiên cứu trên 160 địa điểm văn hóa Hòa Bình, trong đó, riêng địa phận tỉnh Hòa Bình đã có trên 70 địa điểm được khảo sát và tiến hành nghiên cứu Các di tích chủ yếu tập trung ở những vùng núi đá vôi tại các thung lũng hoặc trong các hang động, mái đá; rất ít các di tích ở ngoài trời và thềm sông Vùng núi đá vôi Hòa Bình, Thanh Hóa là nơi tập trung nhất các di tích văn hóa Hòa Bình Dưới góc độ địa lý sinh thái, đây là khu vực đa dạng, ổn định trong sự thống nhất Do ảnh hưởng của lịch sử cấu tạo địa chất, địa hình
mà điều kiện tự nhiên khu vực này rất phong phú và đa dạng, khí hậu thủy văn mang tính trung chuyển với đủ các giống loài ở các khu
hệ xung quanh
Có một quy luật phân bố cư trú rất dễ nhận thấy của cư dân Hòa Bình, đó là sự phân bố theo từng cụm, mỗi cụm có từ 3 đến 10 di chỉ liền khoảnh và chiếm cứ vài ba thung lũng đá vôi Ở tỉnh Hòa Bình có 10 cụm di chỉ1 Xung quanh các di chỉ là các thung lũng có nhiều suối nhỏ, hợp lưu vào suối lớn Hệ thống sông suối dày đặc ở đây không chỉ cung cấp nước sinh hoạt mà còn cung cấp nguồn thức ăn dồi dào từ các loài động, thực vật thủy sản và là nguồn đá cuội nguyên liệu để chế tác công
cụ Trong các thung lũng là những cánh rừng nhiệt đới nhiều tầng xanh tốt quanh năm Xung quanh các thung lũng là những dãy núi
đá vôi bao bọc, mà ở đó chứa nhiều hang động lớn nhỏ - nơi cư trú lý tưởng của những chủ nhân văn hóa Hòa Bình
Trong các hang động thuộc văn hóa Hòa Bình thường có tầng văn hóa dày, hàm chứa vỏ các loài nhuyễn thể, tàn tích xương răng động vật Đó là tàn tích thức ăn để lại của người tiền
Trang 3tiếp trên nền hang đá vôi, hoặc trong lớp đất
sét vôi màu, thường có kết cấu bở rời, có tuổi
sau Cánh Tân Tiêu biểu như hang Làng Đồi
(huyện Lương Sơn), tầng văn hóa dày tới 4,5m
chứa hơn 1.000 công cụ đá tiêu biểu của chủ
nhân văn hóa Hòa Bình, cùng rất nhiều di tích
xương răng động vật, vỏ ốc suối, và di tích mộ
táng với 1 mảnh hộp sọ và 3 mảnh xương hàm
Hoặc như ở hang Sào Đông I (huyện Kim Bôi),
tầng văn hóa tương đối nguyên vẹn, dày tới
2m Các nhà khảo cổ tìm thấy gần 1.200 hiện
vật bằng đá mang đặc trưng văn hóa Hòa Bình
cùng nhiều di tích xương răng động vật Cũng
đã phát hiện vài mảnh gốm trên bề mặt [15,
tr.34-37; tr.83-116]
Các di tích động vật trong các di chỉ văn hóa
Hòa Bình gồm các loài nhuyễn thể, chủ yếu là
ốc núi, ốc suối và xương cốt động vật có xương
sống Đó là dấu tích sau những bữa ăn thường
ngày của cư dân nguyên thủy Xương cốt động
vật thường bị đập vỡ, hầu như chưa tìm thấy
di cốt đầy đủ của một động vật lớn Tất cả di
cốt động vật trong các di tích Hòa Bình là động
vật hoang dã mà ngày nay vẫn đang tồn tại
Đó là những đối tượng săn bắn của người Hòa
Bình Trong các cuộc khai quật tại hang Xóm
Trại (huyện Lạc Sơn), hang Động Can (huyện
Kỳ Sơn) cho thấy, động vật nhỏ chiếm đa số
so với động vật lớn [5, tr.27] Hiện tượng này
cũng thấy khá phổ biến ở các hang động Hòa
Bình khác
Các nhà nghiên cứu cho rằng nhuyễn thể là
đối tượng chủ yếu trong hoạt động thu lượm
của cư dân văn hóa Hòa Bình Khối lượng vỏ
các loại trai ốc trong các hang động Hòa Bình
rất lớn, một số di chỉ đạt tới hàng trăm mét
khối như ở hang Làng Đồi, hay Hang Muối
(huyện Tân Lạc) Điều này khiến một số nhà
nghiên cứu xem đặc trưng văn hóa Hòa Bình
như là văn hóa của cư dân “ăn ốc” Những tàn
tích còn lại trong các hang động Hòa Bình chỉ
phản ánh phần nào kết quả hoạt động tìm
kiếm thức ăn của chủ nhân văn hóa này Vết
chưa nhiều và hầu như chưa thấy giống loài đã được con người thuần hóa
Nghiên cứu kinh tế - xã hội của cư dân văn hóa Hòa Bình, thực chất là tìm hiểu phương thức kiếm ăn, giải quyết vấn đề lương thực của các tập đoàn người cổ Hòa Bình Phần đông các nhà khoa học thừa nhận, săn bắt, hái lượm
là phương thức tìm kiếm thức ăn chủ đạo của
cư dân văn hóa Hòa Bình Những hoạt động săn bắt hái lượm của người Hòa Bình chủ yếu diễn ra trong các thung lũng đá vôi Khi nghiên cứu thành phần các giống loài động vật trong các di chỉ Hòa Bình cho thấy, người Hòa Bình là những cư dân săn bắt đa tạp, không nhằm vào một vài giống loài động vật nào cụ thể, trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, nghĩa
là săn bắt theo phổ rộng Đối tượng hoạt động hái lượm của cư dân Hòa Bình khá phong phú, bao gồm các động vật nhỏ, trứng chim, nấm, hoa quả và đặc biệt là các loài thủy sinh thân mềm sống ở dưới sông, suối
Đặc trưng nổi bật của văn hóa Hòa Bình
là tổ hợp di vật gồm đồ đá, đồ xương, vỏ trai, trong đó đồ đá là chủ yếu Người Hòa Bình cổ sử dụng đá cuội sông, suối để chế tác công cụ với
kỹ thuật ghè đẽo còn thô sơ Họ cũng đã biết đến kỹ thuật mài, tuy mới ở mức sơ khai Di vật công cụ đá Hòa Bình phong phú và ổn định với một số loại hình đặc trưng như công cụ có hình hạnh nhân, hình tam giác, hình đĩa, hình ô van cùng rìu ngắn, rìu dài được làm từ cuội nguyên hoặc cuội bổ và chủ yếu được ghè một mặt Công cụ bằng xương, vỏ trai trong văn hóa Hòa Bình có số lượng rất ít Bước đầu xác nhận ở đây có mặt rìu xương, đục xương, mũi nhọn xương, nạo vỏ trai Phần lớn công cụ xương trong văn hóa Hòa Bình được mài và được chuốt nhẵn cẩn thận Trên một số rìu xương được khắc vạch Gốm cũng đã xuất hiện trong các lớp mặt của 50 địa điểm (khoảng 1.800 mảnh) thuộc lớp văn hóa Hòa Bình muộn Gốm thô, có loại gốm nặn tay, được trang trí văn thừng đập, văn khắc vạch, trổ lỗ Đó là những đặc trưng mang tính thống nhất trong tổ hợp di vật của nền văn hóa Hòa Bình
Trang 4V Ă N HÓ A
Tại tỉnh Hòa Bình, các di tích mộ táng trong
văn hóa Hòa Bình khá nhiều Điển hình là các
di chỉ Triềng Xến, Làng Vành, Hang Đắng đã
tìm thấy nhiều xương người bị đốt cháy hoặc
có vết chẻ Bên cạnh di cốt người, trong mộ
táng ở Hang Đắng có chôn theo hàm dưới của
khỉ, cầy cáo Đặc điểm quan trọng là người Hòa
Bình chôn người chết ngay trong địa điểm cư
trú Tại các hang Động Can, Làng Vành, Hang
Đắng, mộ có thể ở góc hang hoặc hốc đá, gần
bếp lửa Điều này phản ánh tâm lý của người
Tiền sử không muốn xa rời người thân của
mình, mong muốn người chết được “yên nghỉ”
ở chỗ sinh hoạt thường ngày của cộng đồng
như bếp lửa, hoặc nơi nghỉ ngơi Qua những tư
liệu khai quật khảo cổ học cho thấy, phương
thức chôn nằm co, hoặc nằm nghiêng bó gối
là hình thức chôn phổ biến của người Tiền sử
Hòa Bình, thứ đến là chôn ngửa, chân tay duỗi
thẳng Phần lớn là những mộ chôn đơn, cũng
có trường hợp bắt gặp hiện tượng chôn tập
thể như địa điểm hang Làng Gạo (huyện Lương
Sơn) Tại đây các nhà khảo cổ đã tìm thấy di
cốt của 20 cá thể người Xương đã mủn nát và
có cặn vôi bám Những chiếc sọ này chôn khá
tập trung trong khoảng 25m2, ở độ sâu 0,60m
Ngoài những cốt sọ ra không tìm thấy các hiện
vật khảo cổ chôn theo Đây không phải là một
phương thức chôn cất, mà có thể là một tập
tục mang ý nghĩa tôn giáo nào đó [2] Hầu hết
các di cốt người đều được rắc thổ hoàng trước
khi chôn Đặc biệt, đáng chú ý là tại hang Lam
Gan II (huyện Lương Sơn), các nhà khoa học đã
phát hiện được một chỏm sọ người lớn, bên
trong chứa đựng một vài nhánh xương sườn
của một đứa trẻ Hiện tượng này được các nhà
khảo cổ lý giải, người Lam Gan II lấy một chỏm
sọ của người lớn để đựng một bộ phận xương
cốt trẻ con Đó chính là bằng chứng của tục cải
táng [7, tr.10-13] Hầu hết các mộ táng đều có
chôn theo đồ tùy táng Đó là những dụng cụ
lao động, sinh hoạt hàng ngày như công cụ đá,
đồ trang sức
Ngày nay, trên cơ sở những cứ liệu khoa
của các phương tiện khoa học hiện đại, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã tạm thống nhất đưa ra một phác đồ về khung niên đại của nền văn hóa Hòa Bình tại Việt Nam như sau:
- Niên đại mở đầu của nền văn hóa Hòa Bình
là khoảng từ 18.420 năm ± 50 năm cách ngày nay (di chỉ hang Xóm Trại - Lạc Sơn) đến 16.470 năm ± 80 năm (di chỉ Làng Vành - Lạc Sơn)
- Niên đại kết thúc của nền văn hóa Hòa Bình là 7.500 năm cách ngày nay (lấy niên đại
C14 ở di chỉ Hang Đắng làm căn cứ)
Khi nghiên cứu về cơ cấu tổ chức xã hội của người Hòa Bình, nhiều ý kiến cho rằng người Hòa Bình thuộc về chế độ bộ lạc mẫu hệ Mỗi hang động là một đơn vị cư trú Trong hang có di tích bếp lửa hoặc vài đống tro phân bố ở trung tâm hoặc gần khu vực cửa hang Khuynh hướng phát triển của các bếp lửa theo niên đại
từ sớm đến muộn là nhỏ dần về kích thước và tăng dần về số lượng Có thể cho rằng, mỗi hang là nơi cư trú của một gia đình lớn Nếu coi những bếp lớn chiếm gần hết diện tích hang ở tầng văn hóa Sơn Vi thuộc hậu kỳ Đá cũ là một gia đình lớn gồm nhiều thế hệ, thì những bếp nhỏ trong các di chỉ Hòa Bình là dấu hiệu của các gia đình nhỏ cùng chung sống Mặt khác, đặc điểm phân bố theo từng nhóm di tích và mỗi nhóm chiếm cứ một vài ba thung lũng
là một kiểu tập hợp cư dân dựa trên quan hệ huyết tộc đóng vai trò quan trọng
Khi nghiên cứu đời sống tinh thần của người Hòa Bình, đã có những bằng chứng về sự sáng tạo nghệ thuật nguyên thủy Người Hòa Bình xưa đã nhận thức được vẻ đẹp từ thiên nhiên, rồi sử dụng những cái đẹp sẵn có ấy, biến nó thành những đồ trang sức phục vụ con người Họ đã lấy những vỏ ốc đẹp xâu lại thành vòng đeo tay, đeo cổ Những ý tưởng làm đẹp
sơ khai này là mầm mống của sáng tạo nghệ thuật Nhìn chung, nghệ thuật nguyên thủy Hòa Bình dung dị, mang tính ước lệ cao, phản ánh mối quan hệ của con người với môi trường
Trang 5hoặc ở mái đá Làng Mị, hang Lam Gan (huyện
Kim Bôi), nhà khảo cổ M Colani đã phát hiện ra
những di vật xương, hoặc phiến đá có những
hình khắc độc đáo Ở hang Xóm Trại, người
xưa sử dụng các hình khắc vạch dài ngắn khác
nhau trên hai thanh đá cuội, dường như biểu
thị hình con thú [6, tr.149] Đặc biệt, tại hang
Đồng Nội (huyện Lạc Thủy), trên vách hang có
hình khắc mặt một con thú và ba mặt người
Những hình khắc này ở ngay cửa vào hang,
cao cách mặt đất từ 1,50m đến 1,75m, vừa tầm
khắc họa của bàn tay người Hình khắc con thú
không rõ lắm, nhưng phần miệng, mũi và sừng
có thể cho thấy đây là loại thú ăn cỏ Rõ nét
hơn cả là hình khắc ba mặt người Một hình
mặt người đã bị phá hủy mất một nửa Hình
mặt người ở giữa có kích thước lớn hơn, là hình
duy nhất có khắc lông mày Nét khắc trên ba
mặt người có tính chất sơ đồ nhưng khá gần
với hiện thực Điều đặc biệt đáng chú ý là, ở
phía trên đỉnh đầu hình ba mặt người đều
khắc hình chữ Y, có thể đó là biểu tượng của
những cặp sừng mà “tác giả” muốn thể hiện
Những nét khắc hình người có sừng đã được
tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới Các nhà
khoa học cho rằng, hình người có sừng là hiện
tượng phi thực tế, chúng giống như loại hình
nửa người nửa thú trong nghệ thuật mang
tính chất tôn giáo, chủ yếu là tô tem giáo, thờ
vật tổ Người ta tin rằng, nguồn gốc của cộng
đồng họ là một loài động vật, thực vật hay một
vật vô tri nào đó Người nguyên thủy thường
tổ chức những nghi lễ thờ cúng vật tổ, khoác
lốt thú Người ta cũng khắc vẽ hình vật tổ lên
các vách hang Từ những hình khắc trên vách
đá ở hang Đồng Nội cho phép suy đoán rằng:
Cư dân nguyên thủy ở đây có tín ngưỡng tô
tem giáo Vật tổ của họ là loài động vật ăn cỏ,
có thể là hươu, nai, trâu, bò, v.v Đến nay, việc
xác định niên đại chính xác cho những hình
khắc này vẫn đang được tiến hành Tuy nhiên,
dưới nền hang, các nhà khảo cổ đã phát hiện
nhiều công cụ kiểu Hòa Bình Như vậy, những
hình khắc trên vách đá ở vách hang Đồng Nội
nền văn hóa Hòa Bình sáng tạo
Với số lượng vô cùng phong phú các di tích,
di vật văn hóa Hòa Bình, đã khẳng định tỉnh Hòa Bình là quê hương của nền văn hóa Tiền
sử nổi tiếng này
2 Trống đồng (trống Đông Sơn và trống Mường)
Trống đồng là một tài sản quý giá được coi
là báu vật mà cha ông để lại, là biểu tượng của nền văn minh và văn hóa Việt Nam thời dựng nước Hòa Bình là một trong những tỉnh phát hiện và lưu giữ nhiều trống đồng nhất trong cả nước Tại Hòa Bình, trống đồng Sông Đà là chiếc trống được phát hiện sớm nhất, do phó
sứ Muliê tỉnh Hòa Bình lấy từ nhà người vợ góa của viên quan lang Mường vùng sông Đà, được đưa về Pháp, trưng bày tại Hội chợ quốc tế Paris năm 1889 Hiện nay, trống Sông Đà được lưu giữ tại Bảo tàng Ghimê thuộc Cộng hòa Pháp Cho đến nay, lịch sử nghiên cứu trống đồng
đã có hơn 100 năm Ngay từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các học giả phương Tây tập trung vào nghiên cứu các hiện vật cổ độc đáo của xứ sở Viễn Đông mà nổi bật nhất là trống đồng Năm 1902, nhà khảo cổ học người Áo
F Heger đã tiến hành nghiên cứu 165 trống đồng sưu tầm được ở Đông Nam Á và phân chia thành 4 loại chính: I, II, III, IV và 3 loại trung gian: I-II, I-IV và II-III Đến nay, trên phạm vi tỉnh Hòa Bình đã phát hiện được hơn 70 trống đồng, trong đó có 10 trống loại I Heger và hơn
60 trống loại II Heger
2.1 Trống Đông Sơn (trống loại I Heger)
Trống Đông Sơn ở Hòa Bình bao gồm trống Sông Đà, Đồi Ro, Yên Bồng I, Yên Bồng II, Yên Bồng III, Đú Sáng, Khoan Dụ, Chợ Bờ, Lạc Long
và Vĩnh Đồng II
Theo cách phân loại của các nhà nghiên cứu, trống Đông Sơn ở Hòa Bình có những nhóm loại hình sau: Nhóm A: 2 chiếc (trống Sông Đà, Đồi Ro); nhóm B: 2 chiếc (trống Yên Bồng II, Đú Sáng); nhóm C: 5 chiếc (trống Chợ
Trang 6V Ă N HÓ A
Bờ, Khoan Dụ, Lạc Long, Yên Bồng I, Yên Bồng
II); nhóm D: 1 chiếc (trống Vĩnh Đồng II) Về mặt
niên đại, những trống Đông Sơn ở Hòa Bình có
niên đại từ thế kỷ III trước Công nguyên đến
đầu Công nguyên Đáng lưu ý là 6 trống thuộc
nhóm C và nhóm D ở Hòa Bình đã mang những
yếu tố chuyển hóa sang trống loại II [1, tr.36]
Trong quá trình phát triển của văn hóa
Đông Sơn, trống Đông Sơn tồn tại trong một
thời gian dài Chỉ đến khi nhà Hán có chính
sách tận diệt trống đồng, thu trống đồng với
mục đích đập ra lấy nguyên liệu đúc ngựa
đồng và cột đồng Mã Viện thì nhiều vùng ở
đồng bằng, việc đúc trống đồng của người
Việt cổ gặp muôn vàn khó khăn dưới con mắt
nhòm ngó của bộ máy cầm quyền đô hộ Hơn
900 mảnh khuôn đúc trống đồng Đông Sơn
muộn tìm được trong tòa thành Luy Lâu, Bắc
Ninh đã cho thấy sức sống Đông Sơn vẫn tồn
tại mãnh liệt ở nhân dân Giao Chỉ Nhưng ở
nhiều vùng miền núi, nơi nhà Hán không thể
với tay cai trị trực tiếp thì có nhiều thuận lợi
hơn Người Việt cổ miền núi vẫn đúc trống,
nhưng có sự thay đổi hình dáng, từ trống loại I
Heger sang trống loại II Heger Trong bộ sử thi
“Đẻ đất đẻ nước” của người Mường Hòa Bình
kể rằng, những trống đồng đầu tiên được đúc
dưới thời vua Dịt Dàng Vua Dịt Dàng sai đúc
hàng trăm, hàng nghìn trống đồng, trống nào
đẹp thì để lại kho, trống nào xấu thì sai “chú
Khóa thằng Lồi” đem đi bán
Ngoài trống Đông Sơn, nhiều nhóm hiện
vật của văn hóa Đông Sơn cũng đã được tìm
thấy ở tỉnh Hoà Bình Năm 1983, tại xã Xăm
Khòe, huyện Mai Châu đã tìm được một chiếc
giáo đồng mang phong cách Đông Sơn Năm
1985, tại khu mộ táng Ngọc Lâm, xã Đồng
Tâm, huyện Lạc Thuỷ đã tìm được 5 ngôi mộ,
trong đó có ngôi mộ số 5 được chôn theo 2
chiếc rìu đồng, 3 chiếc giáo đồng, 1 chiếc dao
xéo đồng, 1 chiếc đinh đồng Những hiện vật
này chứng tỏ đây là một ngôi mộ thuộc văn
hoá Đông Sơn ở giai đoạn muộn Năm 1996, ở
thôn Suối Cỏ, xã Sơn Hùng, huyện Lương Sơn
Sơn, gồm 2 chiếc rìu xoè cân, 1 chiếc rìu lưỡi xéo, 2 chiếc giáo đều bằng đồng thau Năm
2000, nhân dân xã Mông Hoá, huyện Kỳ Sơn đã tìm được chiếc giáo đồng ở địa điểm Đồng Tò
và bôn đá có vai ở địa điểm Đồng Nọ Mới đây, (năm 2018), trong quá trình canh tác dưới một chân gò thấp thuộc khu vực xóm Mở Đá, xã Hạ Bì, huyện Kim Bôi, người dân địa phương đã phát hiện được được một số di vật bằng đồng bao gồm 1 rìu lưỡi xéo có gờ chắn, 1 rìu hình chữ nhật và 1 mũi lao có cánh Bộ sưu tập đồ đồng ở đây mang đặc trưng tiêu biểu đồ đồng Đông Sơn [8]
Sự hiện diện của những trống đồng và hiện vật đồ đồng Đông Sơn chứng tỏ tỉnh Hoà Bình nằm trong địa bàn phân bố của văn hóa Đông Sơn
2.2 Trống Mường (trống loại II Heger)
Bên cạnh những chiếc trống Đông Sơn nói trên, tại tỉnh Hòa Bình đã phát hiện được hơn 60 trống đồng loại II Heger, phân bố ở vùng người Mường sinh sống Các nhà nghiên cứu thường
sử dụng thuật ngữ “không gian Mường” (Giáo
sư Trần Quốc Vượng) để xác định sự phân bố của trống đồng Hòa Bình Cho đến tận gần đây, người Mường vẫn tiếp tục sử dụng trống đồng Nếu như trống Đông Sơn (trống loại I Heger) là biểu tượng văn hóa, văn minh Việt cổ thì trống loại II là biểu tượng văn hóa Mường
ở Việt Nam Sự hiện diện của trống đồng loại II trên vùng cư trú của người Mường trong gần suốt hai thiên niên kỷ đã là một bằng chứng hùng hồn của truyền thống Đông Sơn, là sự tiếp nối và sáng tạo nền văn hóa văn minh Việt
cổ Với những ý nghĩa trên, trống đồng loại II
Heger có thể gọi là trống Mường.
Ngoài Hòa Bình, trống Mường còn phân bố
ở Phú Thọ (tập trung ở huyện Thanh Sơn và Yên Lập), Thanh Hóa, Nghệ An Các nhà khảo cổ nghiên cứu trống đồng nhận thấy trống Mường ra đời trong bối cảnh trống Đông Sơn
bị nhà Hán hủy diệt, thu gom để làm nguyên liệu đúc ngựa đồng và cột đồng Mã Viện như
Trang 7Mường, tức là dạng trống chuyển hóa giữa hai
loại này ở khu vực miền núi Thanh Hóa Các nhà
khoa học đã chứng minh một cách chắc chắn
rằng, có sự kế thừa trực tiếp từ trống Đông Sơn
sang trống Mường ở Hoà Bình Những yếu tố
kế thừa đó thể hiện rõ qua kỹ thuật đúc trống,
tạo dáng, hoa văn [12, tr.33-39; 13, tr.9-21]
Về hình thức, trống đồng Mường vẫn còn
giữ khá nguyên vẹn những truyền thống của
trống đồng Đông Sơn Thân trống thường chia
làm ba phần: Mặt tròn, tang phình, đế choãi
một cách vững chắc Nét khác biệt có thể chỉ
biểu hiện ở một số chi tiết như tỷ lệ giữa thân,
tang và chân, ở họa tiết trang trí…
Kết quả khảo sát phạm vi phân bố trống
loại II Heger ở Hòa Bình cho thấy: Hầu như
các huyện và thị xã Hoà Bình đều phát hiện ra
trống loại này: Lương Sơn, Đà Bắc, Tân Lạc, Yên
Thuỷ, Lạc Sơn, Kỳ Sơn, Kim Bôi, Lạc Thuỷ, Mai
Châu Điều này khẳng định địa bàn phân bố
trống đồng loại II cũng là địa bàn sinh sống của
người Mường ở Hoà Bình Ở các tỉnh khác như
Thanh Hoá, Nghệ An, Phú Thọ, người Mường
cũng là tộc sử dụng trống loại II trong quá khứ
cũng như hiện tại Hay nói một cách khác, ở
đâu có người Mường, ở đó có trống đồng loại
II, người Mường cư trú ở đâu thì dường như có
sự phân bố của trống đồng loại II ở đấy
Sự ra đời của trống Mường có thể vào
khoảng đầu Công nguyên, khi mà người Việt cổ
(theo các nhà khoa học thì người Việt cổ là cộng
đồng người nói tiếng Việt - Mường chung) ở
dưới đồng bằng gặp rất nhiều khó khăn trong
việc đúc và sử dụng trống Đông Sơn Trong khi
đó, người Việt cổ ở miền núi (sau đó chuyển
hóa thành cộng đồng người Mường hiện nay)
vẫn tiếp tục sử dụng trống đồng, nhưng đã có
sự thay đổi ít nhiều thành dạng trống loại II Sự
tiếp nối liền mạch của trống loại này với trống
Đông Sơn của người Lạc Việt đã chứng tỏ có
một bộ phận người Việt cổ ở miền núi vẫn đúc
trống đồng kể cả khi chính quyền phong kiến
phương Bắc đô hộ
mộ Mường cho thấy, người Mường có táng tục chôn theo trống đồng, coi đó là một tài sản quý mà người chết được mang theo sang thế giới bên kia Có thể lấy dẫn chứng điển hình: Trong cuộc khai quật “chữa cháy” năm 1987 tại khu mộ Kim Truy, huyện Kim Bôi, các nhà khảo cổ đã tìm thấy 6 chiếc trống đồng loại II trong 3 ngôi mộ Những chiếc trống này khá thống nhất về kiểu dáng, thân trống được chia
3 phần: Tang, thân và chân Các phần được phân cách với nhau bằng các đai nổi Các vòng hoa văn nhỏ Họa tiết trang trí trên trống khá
đa dạng: Văn hình học (ô vuông, ô vuông có chấm, hình thoi lồng nhau); văn hoa lá (lá đề, lá thị)… Niên đại của 6 chiếc trống có thể từ đầu Công nguyên đến thế kỷ XIV - XV Niên đại của khu mộ Kim Truy hiện vẫn chưa được xác định
cụ thể, riêng ngôi mộ số 2 được xác định vào khoảng thế kỷ XVI [11, tr.182-185] Nhiều ngôi mộ Mường khác có chôn theo trống đồng, nhưng đã bị phá huỷ, hoặc bị lấy mất cùng nhiều đồ tùy táng quý khác [9, tr.31-42]
Tài liệu dân tộc học cho thấy, trống đồng loại II đã ăn sâu vào cuộc sống tâm linh của người Mường, kể cả khi đang sống cũng như
đã chết Trước tiên, trống được sử dụng như một loại nhạc cụ trong các dịp hội hè Đồng bào Mường ở Thanh Sơn, Phú Thọ tổ chức lễ Chàm Thau vào tháng Giêng và tháng Bảy âm lịch (thường vào ngày mồng 7 tháng Giêng và ngày rằm tháng Bảy), họ tổ chức đánh trống đồng Người ta treo trống đồng loại II vào một cái sào, dưới đó đào hố cộng hưởng Các cặp nam nữ người Mường cầm dùi đánh vào mặt trống theo những tiết tấu nhịp nhàng Đối với người Mường, trống đồng là một của gia bảo rất thiêng và chỉ được đưa ra sử dụng trong những nghi thức tế lễ trọng thể Ngày nay, người Mường vẫn còn giữ được những cách đánh trống đồng độc đáo, trong đó có điệu múa trống rất sinh động Trong âm thanh rộn ràng của trống đồng, cồng chiêng, điệu múa làm sống lại không khí tưng bừng của ngày hội xa xưa từ thuở khai thiên lập địa
Trang 8V Ă N HÓ A
Trống đồng là vật quý, vì thế, không phải ai
trong cộng đồng cũng được phép sử dụng mà
chỉ những người có quyền thế Khi Thổ lang,
vợ Thổ lang, anh em của Thổ lang chết mới
được mang trống đồng ra đánh, còn đối với vợ
lẽ, con cái hay những người khác chết không
được đánh trống đồng Ở vùng Vĩnh Đồng
(huyện Kim Bôi), Thổ lang có 2 chiếc trống,
cho chôn ở một góc rừng bí mật, chỉ những
ngày đặc biệt mới đào lên sử dụng Như vậy,
trống đồng còn là một linh vật đặc biệt biểu
hiện uy quyền, đại diện cho quyền lực chính
trị cũng như sự giàu sang, quý phái của chủ
nhân Ở một vài trường hợp khác, trống đồng
còn được sử dụng trong những dịp lễ tết, cưới
xin, báo tin
Việc xác định niên đại cho từng chiếc trống
loại II Heger ở Hòa Bình là một vấn đề không
đơn giản, bởi trống đồng loại này có đời sống
rất lâu dài trong cộng đồng người Mường Có
khi tìm được trống đồng chôn trong mộ táng
có niên đại cụ thể, nhưng niên đại này lại cách
niên đại đúc trống khá xa, nhất là đối với trống
loại II Heger Do vậy, khi định niên đại cho từng
chiếc trống một, các nhà khảo cổ căn cứ vào
hoa văn, là căn cứ quan trọng nhất Ngoài ra
còn phải lưu ý đến mối tương quan giữa hình
dáng trống, sự gần gũi của các nhóm trống
Việc xác định niên đại cho trống trong các ngôi
mộ cổ khi được chôn kèm các hiện vật khác
như gốm sứ cũng cần phải cẩn trọng Nhìn
chung, trống loại II Heger ở tỉnh Hòa Bình có
niên đại từ đầu Công nguyên cho đến thế kỷ
XVII [1, tr.24-56]
Tóm lại, trống Mường (trống loại II Heger)
là biểu trưng về sức sống của truyền thống
văn minh Đông Sơn, là sự xác nhận quyền
lực của phong kiến Việt Nam đối với các thổ
lang Mường, thể hiện tính thống nhất về mặt
chính trị Việt - Mường Trống đồng đã gắn bó
với cuộc sống của người Mường Vùng Mường
chính là địa bàn kế thừa trực tiếp truyền thống
trống Đông Sơn Vì thế, trống loại II là biểu
tượng văn hóa của người Mường, tiêu biểu cho
3 Mộ Mường
Mộ táng là loại hình di tích đặc biệt, phản ánh nội dung văn hóa táng tục của con người qua các thời đại Mặt khác, những hiện vật thu được trong các mộ táng còn phản ánh khá phong phú nhiều mặt của xã hội về kinh tế, kỹ thuật, văn hóa của thời đại khi loại hình này xuất hiện
Mộ Mường, từ lâu đã trở thành đối tượng được nhiều ngành khoa học quan tâm khi nghiên cứu, tìm hiểu xã hội Mường và mối quan hệ Việt - Mường trong lịch sử
Qua các tài liệu khảo cổ học cho thấy, vào khoảng cuối thời Trần, đầu thời Lê, xã hội Mường cổ đã có sự phân hóa mạnh mẽ Sự phân hóa đó thể hiện qua các khu mộ táng Mộ của quan lang Mường và tầng lớp trên của xã hội có cấu trúc cầu kỳ, quy mô lớn, đồ tùy táng nhiều và sang trọng Đặc biệt, nhiều mộ có cả vàng bạc, đá quý và trống đồng, sanh đồng - những hiện vật biểu trưng cho sự quyền lực của quan Lang Mường Mộ của thường dân thường có quy mô nhỏ, đồ vật chôn theo ít về số lượng và nghèo nàn về giá trị sử dụng, thậm chí có mộ không có đồ tùy táng Trong xã hội Mường cổ đã xuất hiện một số tập đoàn thống trị theo dòng họ, phản ánh qua các khu mộ dòng họ Đinh (khu mộ Đống Thếch), dòng họ Quách (khu mộ Phú Lâu) Khu mộ Nhuận Trạch có lẽ là sự phản ánh cuối cùng của việc các tù trưởng, quan lại nhà Mường chôn chung với dân thường trong một khu mộ
Hầu hết các khu mộ Mường đều chôn trong phạm vi phân bố của người Mường hiện tại Điều này cho thấy, ở các thế kỷ XIV - XVII, địa bàn cư trú của người Mường đã ổn định Một xã hội Mường với đời sống vật chất và tinh thần, với phép tắc và lệ Mường đã được xác lập vững chắc
Trong nhiều năm qua, tại bốn vùng Mường lớn nhất: Bi, Vang, Thàng, Động, các nhà khoa học đã khai quật và nghiên cứu nhiều khu mộ
Trang 9thời Lê, từ thế kỷ XIV - XVI kéo dài cho đến thời
Nguyễn, thế kỷ XIX
Những nghĩa địa Mường cổ thường là
những quả đồi tương đối bằng phẳng, thấp,
gần xóm làng người Mường cư trú, xung
quanh có những đồi núi cao bao bọc Mộ được
chôn kín từ sườn đồi đến chân đồi Theo quan
niệm cổ xưa của người Mường, những người
chết cũng ở chung với nhau thành xóm, thành
làng, gọi là Mường ma
Những ngôi mộ có quy mô lớn thường chôn
ở đỉnh đồi, trung tâm của khu mộ Những mộ
này không có nấm, được đào vuông thành sắc
cạnh, kích thước huyệt mộ khá lớn Cấu trúc
phía trên của mộ có nhiều hòn mồ cắm xung
quanh Kích thước hòn mồ ở mỗi khu mộ có
sự khác nhau Hòn mồ ở khu mộ Đống Thếch
(Kim Bôi) rất lớn, có hòn cao gần 4m, không kể
phần chôn dưới đất Một số hòn mồ như vậy
được khắc đầy chữ Hán như chức năng của bia
mộ Ở những khu mộ khác như khu mộ Ngọc
Lâu (Lạc Sơn) kích thước hòn mồ nhỏ và thấp
hơn nhiều, hòn cao nhất chưa đến 2m, các
hòn khác cao trung bình khoảng 1m Ở khu
mộ Nhuận Trạch (Lương Sơn), các hòn mồ cao
trung bình khoảng 1m Số lượng hòn mồ tại
các khu mộ cũng khác nhau: Ở khu mộ Đống
Thếch, ngôi mộ của quận công Đinh Văn Kỷ có
tới 17 hòn mồ [10, tr.43-91]; ở khu mộ Ngọc
Lâu, trung bình mỗi mộ có khoảng 4 - 7 hòn
mồ Kết quả khảo sát khảo cổ học và dân tộc
học cho thấy rõ chức năng của những hòn mồ:
là hàng rào vây quanh bảo vệ mồ, là ranh giới
ngăn cách giữa thế giới người chết và người
sống, là bia mộ và minh tinh ghi chép sơ lược
tiểu sử của chủ nhân, là đồ phúng viếng của
người thân
Phần lớn mộ Mường đều có huyệt mộ,
huyệt hình chữ nhật dài từ 2m - 5m, rộng từ
0,7m - 4m, sâu từ 0,25m - hơn 3m Cho đến
nay, hầu như chưa tìm thấy một thi hài cũng
như một chiếc quan tài nguyên vẹn nào Trong
cả trên gò mộ và lòng mộ, một vài mộ còn đặt trống đồng ở đáy mộ [14, tr.229]
Qua cấu trúc và táng tục của mộ Mường cổ có thể thấy rõ trong quá trình hình thành và định hình tộc Mường có bảo lưu truyền thống của nền văn hóa Đông Sơn như sử dụng quan tài thân cây khoét rỗng (truyền thống mộ thuyền), tục chôn theo trống đồng, hiện vật bằng đồng, tục dùng đá kè mộ
Đã có nhiều bằng chứng cho thấy mộ Mường thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa tộc Việt - tộc Mường như tục rải tro các mộ thời Trần và nhiều đồ gốm, tiền đồng các thời
Lý, Trần, Lê, Nguyễn được sử dụng làm đồ tùy táng
Các cuộc khai quật mộ Mường ở Hòa bình
đã góp thêm nhiều tư liệu quý, có giá trị khoa học để tìm hiểu nhiều khía cạnh về đời sống
xã hội, đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của dân tộc Mường Những tư liệu đó đóng góp vào việc truy tìm nguồn gốc tộc Mường, một tộc người anh em có chung cội nguồn xa xưa với dân tộc Việt
Kết luận
Tỉnh Hòa Bình, cái nôi của người Việt thời Tiền sử, một bộ phận cấu thành của nền văn minh Đông Sơn, với một không gian văn hóa Việt - Mường còn mang nhiều dấu ấn trầm tích của lịch sử dân tộc Đó là những di sản văn hóa quý giá do ông cha ta để lại trong mỗi di tích,
di vật khảo cổ nơi đây Những giá trị đó sống mãi với thời gian và là một bộ phận không thể tách rời trong nền văn hóa giàu bản sắc của dân tộc Việt Nam
Với những thành tựu nghiên cứu khoa học trên cơ sở hệ thống di sản khảo cổ học ở tỉnh Hòa Bình, chúng ta đã từng bước dựng lại bức tranh lịch sử đầy đủ hơn, sống động hơn về quá trình phát triển của tổ tiên chúng ta trên mảnh đất Hòa Bình tươi đẹp
T.N.C
(PGS.TS, Viện Khảo cổ học)
Trang 10V Ă N HÓ A
Chú thích
1Mười cụm di tích Hòa Bình bao gồm:
+ Cụm I gồm 8 di chỉ: Hang Rộng, Hang Tằm,
Hang Trâu, Mái đá Lam Gan, Hang Chổ (Lam Gan
I), Hang Lam Gan II, Làng Tiếng và Hang Diêm
(huyện Lương Sơn)
+ Cụm II gồm 5 di chỉ: Làng Gạo, Hang Đồng
Giẽ, Mái đá Đồng Giẽ, Làng Vôi và Làng Đồi
(huyện Lương Sơn)
+ Cụm III gồm 10 di chỉ: Quan Vác, Làng Nèo,
Hang Tăng, Hang Tùng, Hang Chiêng, Hạ Bì, Khu
Thàng, Đủn Đỉn, Hang Đắng và Hang Giàng
(huyện Kim Bôi)
+ Cụm IV gồm 3 di chỉ: Hang Dơi, Hang Hủi và
Hang Bưng (huyện Đà Bắc)
+ Cụm V gồm 7 di chỉ: Mường Chuông, Mường
Khàng, Xóm Giỗ, Hang Muối, Triềng Xến I, Triềng
Xến II và Hang Ma (huyện Tân Lạc)
+ Cụm VI gồm 7 di chỉ: Làng Vố, Xóm Khăm,
Làng Báy, Sào Đông I, Sào Đông II, Làng Khay và
Làng My (huyện Kim Bôi)
+ Cụm VII gồm 4 di chỉ: Khấu Phục, Đám Đua,
Hang Láng, hang Khoài (huyện Mai Châu)
+ Cụm VIII gồm 5 di chỉ: Đá Lý, Xóm Trại, Hang
Bưng, Đa Phúc và Làng Vành (huyện Lạc Sơn)
+ Cụm IX gồm 10 di chỉ: Thung Mùng, Téc
Con, Hang Tôm, Páng I, Páng II, Páng III, Đồng
Nội, Hang Chim, Hang Ốc và Hang Hào (huyện
Lạc Thủy)
+ Cụm X gồm 4 di chỉ: Hang Nhân, Văn Lương,
Phù Vệ và Trung Đôi (huyện Yên Thủy) [6, tr.28-29]
Tài liệu tham khảo
1 Quách Văn Ạch, Trịnh Sinh (2002), “Phân
loại và định niên đại trống đồng ở Hòa Bình”,
Khảo cổ học, số 2.
2 Colani M (1926), “Découverte du
Paléo-lithique la province de Hoa Binh”, L’Anthropologie,
Vol XVI
3 Colani M (1927), “L’Âge de la pierre dans la
province de Hoa Binh”, Memoires du Service
Ge-ologique de l’ Indochine, Vol XIV.
4 Colani M (1932), “Différent aspects du
néo-lithique Indochinois”, Préhistoris Asiae Orientalis,
Premier Congrès des Préhistoriens d’Extrême -
Orient
5 Hoàng Xuân Chinh, Nguyễn Văn Bình, Đặng
Hữu Lưu (1981), Báo cáo khai quật di chỉ Xóm Trại,
6 Hoàng Xuân Chinh (chủ biên) (1989), Văn
hóa Hòa Bình ở Việt Nam, Viện Khảo cổ học, Hà
Nội
7 Trình Năng Chung (1993), “Nhân một phát hiện chưa công bố của M Colani, bàn về tục cải
táng của cư dân văn hóa Hoà Bình”, Khảo cổ học,
số 3
8 Trình Năng Chung, Hà Văn Sơn, Triệu Thanh
Thủy (2018), Phát hiện bộ di vật đồ đồng Đông Sơn
ở xã Hạ Bì, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, Hội nghị
Thông báo Khảo cổ học năm 2018, Viện Khảo cổ học
9 Trần Anh Dũng, Lại Văn Tới (1986), “Mộ
Mường cổ, cấu trúc và táng tục”, Khảo cổ học, số
3
10 Lê Đình Phụng, Phan Tiến Ba (1986), “Khu
mộ Mường Đống Thếch (Hà Sơn Bình)”, Khảo cổ
học, số 3.
11 Phạm Quốc Quân, Trịnh Căn, Hoàng Văn Thưởng (1988), “Khai quật mộ Mường cổ ở Bộ Mu,
Kim Truy, Kim Bôi (Hà Sơn Bình)”, in trong Những
phát hiện mới Khảo cổ học, Viện Khảo cổ học.
12 Trịnh Sinh (2017), “Các kiểu dáng cơ bản
của trống loại II Heger”, Khảo cổ học, số 3.
13 Trịnh Sinh (2017), “Các phương pháp đúc
trống đồng loại II Heger”, Khảo cổ học, số 4.
14 Hà Văn Tấn (chủ biên) (2002), Khảo cổ học
Việt Nam, tập III: Khảo cổ học Lịch sử Việt Nam,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
15 Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (1967),
Những hiện vật tàng trữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam về văn hóa Hòa Bình, Hà Nội
Ngày nhận bài: 3 - 9 - 2019 Ngày phản biện, đánh giá: 12 - 9 - 2019 Ngày chấp nhận đăng: 25 - 9 - 2019