Luận án tiến sĩ: Hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam.Luận án tiến sĩ: Hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam.Luận án tiến sĩ: Hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam.Luận án tiến sĩ: Hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam.
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
LÊ TUẤN PHONG
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIÊN
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ THEO YÊU CẦU
CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨCHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP
LUẬT
HÀ NỘI - 2017
Trang 2HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
LÊ TUẤN PHONG
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH
TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨCHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP
LUẬT Mã số: 62 38 01 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN TẤT VIỄN
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi,
có sự hỗ trợ của các đồng nghiệp Các số liệu nêu trong luận
án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Lê Tuấn Phong
Trang 4Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ 342.1. Khái niệm pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong thực
2.2. Đặc điểm, nội dung, vai trò của pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát
nhân dân trong thực hành quyền công tố 412.3. Yêu cầu của cải cách tư pháp, tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện và các
điều kiện bảo đảm hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm
sát
nhân dân trong thực hành quyền công tố 482.4. Pháp luật về Kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố ở một số nước
trên thế giới và giá trị tham khảo đối với Việt Nam 58
Chương 3: QUÁ TRÌNH HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIÊN
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ Ở
3.1. Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền
công tố từ 1945 đến trước khi ban hành Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân
3.2. Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền
công tố từ khi ban hành Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002
đến 2015 và thực tiễn áp dụng 85
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG THỰC HÀNH
QUYỀN CÔNG TỐ THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP 1154.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
trong thực hành quyền công tố 1154.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
trong thực hành quyền công tố 123
Trang 5DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sự
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
CQĐT : Cơ quan điều tra
VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ khi mới thành lập, Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà đã chú
ý tới cán bộ làm nhiệm vụ công tố Các vấn đề pháp lý của chức danh này đượcđiều chỉnh trong những văn bản pháp luật đầu tiên của chính quyền dân chủnhân dân Nếu như những năm đầu tiên, chế định công tố và Công tố viên gắnliền với tổ chức và hoạt động của Tòa án thì sự ra đời của Viện kiểm sát nhândân năm 1960 đánh dấu sự thay đổi lớn của chế định này Vị trí, vai trò củaKiểm sát viên trong hệ thống cơ quan Viện kiểm sát và bộ máy Nhà nước đượckhẳng định trong Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dânnăm 1960 và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Cùng với quá trình phát triểncủa hệ thống cơ quan tư pháp, pháp luật về Kiểm sát viên cũng từng bước hoànthiện, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để tiếp tục xây dựng đội ngũ Kiểm sát viênđáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp
Tuy nhiên, quá trình thực hiện nhiệm vụ của Kiểm sát viên cho thấy, cácquy định pháp luật hiện nay chưa bảo đảm cho Kiểm sát viên chủ động thực hiệnhiệu quả chức năng, nhiệm vụ của mình Trong quá trình thực hành quyền công
tố vẫn còn có trường hợp bỏ lọt tội phạm; việc phê chuẩn các quyết định áp dụng,thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn có trường hợp còn chưa chính xác; cònmột số trường hợp đình chỉ điều tra bị can, đình chỉ vụ án do bị can không phạmtội, trong khi đội ngũ Kiểm sát viên còn thiếu về số lượng, yếu về trình độ vànăng lực nghiệp vụ
Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là cơ sởpháp lý đối với chức danh Kiểm sát viên, trong đó có các bảo đảm pháp lý choviệc thực hành quyền công tố của chức danh này chưa hoàn thiện, các quyềnnăng pháp lý của Kiểm sát viên chưa được phát huy, chưa đáp ứng được yêu cầucủa cải cách tư pháp trong lĩnh vực hoạt động công tố Nghị quyết số 48/NQ-TW,ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thốngpháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã xác định các
Trang 7phương hướng và nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện pháp luật, trong đó có nhiệm vụ
“Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát theo hướng bảođảm thực hiện tốt chức năng công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” Tiếp đó, Nghịquyết số 49/NQ-TW ngày 2 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cảicách tư pháp đến năm 2020 đặt ra nhiệm vụ:
Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyềnhạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp theo hướng tăng thẩmquyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán
để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịutrách nhiệm trước pháp luật [10]
Trong bối cảnh thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp, hoàn thiện các quyđịnh pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là một nhiệm
vụ quan trọng vừa mang tính cấp thiết, vừa mang tính lâu dài, cần phải được tiếnhành trên cơ sở chủ trương, quan điểm, phương hướng cải cách tư pháp và cácquy định của Hiến pháp năm 2013, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của hoạt động củakiểm sát viên trong thực hành quyền công tố, góp phần thực hiện mục tiêu của cảicách tư pháp
Với những lý do nêu trên, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công
tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam” làm luận án tiến sĩ luật học,
chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận hoàn thiện pháp luật về Kiểm sátviên VKSND trong thực hành quyền công tố, đánh giá đúng thực trạng pháp luật,Luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSNDtrong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Trang 8- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến phápluật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố; từ đó, nêu các vấn
đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSNDtrong thực hành quyền công tố gắn với yêu cầu cải cách tư pháp; Xây dựng kháiniệm pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố; Nghiêncứu pháp luật về Kiểm sát viên/Công tố viên trong thực hành quyền công tố ởmột số nước, rút ra các giá trị tham khảo có thể vận dụng ở Việt Nam
- Khái quát sự hình thành và phát triển pháp luật về Kiểm sát viên VKSNDtrong thực hành quyền công tố ở Việt Nam; Đánh giá thực trạng pháp luật vềKiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố, chỉ ra các điểm hạn chếbất cập và nguyên nhân
- Nêu quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viênVKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật vềKiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố gắn với yêu cầu cải cách tưpháp; tập trung vào đối tượng là các quy định pháp luật về Kiểm sát viênVKSND trong thực hành quyền công tố
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật về Kiểm sátviên VKSND trong thực hành quyền công tố trong phạm vi toàn quốc Thời giannghiên cứu từ khi có Nghị quyết số 08/NQ-TW, ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị
“Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đến năm2015
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Cơ sở lý luận của luận án
Luận án được nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, lý luận về hoàn thiện pháp luật,
Trang 9các quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực tổ chức
và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
4.2. Phương pháp nghiên cứu của luận án
Phương pháp luận được sử dụng trong nghiên cứu Luận án là phép duy vậtbiện chứng và duy vật lịch sử Trong đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến giữacác hiện tượng và quá trình xã hội được sử dụng để nghiên cứu, phân tích mốiliên hệ hữu cơ giữa các thiết chế tư pháp và thể chế pháp lý cho hoạt động củaViện kiểm sát và Kiểm sát viên Nguyên lý về sự phát triển được sử dụng đểnghiên cứu, phân tích những thay đổi về kinh tế -xã hội, quá trình hội nhập quốc
tế và toàn cầu hóa dẫn đến những thay đổi theo chiều hướng tích cực trong cáchthức tổ chức và hoạt động tư pháp, trong đó có Viện kiểm sát Một số quy luậtcủa phép biện chứng duy vật như quy luật lượng-chất, hay các cặp phạm trù nhưcái chung và cái riêng, khả năng và hiện thực, được sử sử dụng để nghiên cứu,phân tích các yếu tố tác động, các điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về Kiểmsát viên VKSND trong thực hành quyền công tố
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong Luận án là:
- Phương pháp hệ thống được áp dụng trong chương 1 để phân loại vànghiên cứu nội dung các tài liệu nghiên cứu pháp luật về Kiểm sát viên VKSNDtrong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam, hệthống hóa theo một cấu trúc logic khoa học qua đó giúp tác giả có được nhậnthức một cách biện chứng, tổng thể, khái quát nhất về hoàn thiện pháp luật vềKiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố ở Việt Nam hiện nay vàmột số nước trên thế giới
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng cả chương 2, chương 3 vàchương 4 của luận án Phân tích khái niệm về Kiểm sát viên, pháp luật về Kiểmsát viên VKSND trong thực hành quyền công tố; đặc điểm, nội dung điều chỉnh,vai trò; các yêu cầu cải cách tư pháp, các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện củapháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; các điều kiện bảo đảm; phântích nguyên nhân của thực trạng pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực
Trang 10hành quyền công tố; phân tích các quan điểm và giải pháp hoàn thiện của phápluật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cảicách tư pháp ở Việt Nam.
- Phương pháp so sánh được áp dụng để nghiên cứu kinh nghiệm nướcngoài, qua đó rút ra bài học và lựa chọn những hạt nhân hợp lý, phù hợp với điềukiện, hoàn cảnh để áp dụng đối với Việt Nam
- Trong chương 3, bên cạnh việc sử dụng phương pháp phân tích tác giảcòn sử dụng các phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp các số liệu đểchứng minh cho các luận giải đã nêu trong phần đánh giá thực trạng pháp luật vềKiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tưpháp ở Việt Nam
5. Đóng góp mới của luận án
Luận án là công trình khoa học nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diệncác quy định pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tốtheo yêu cầu của tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam Những đóng góp củaLuận án thể hiện cụ thể như sau:
- Trên cơ sở nghiên cứu kế thừa các tài liệu đã có của Việt Nam và cácnước trên thế giới, xây dựng khái niệm pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trongthực hành quyền công tố; khái quát nội dung, đặc điểm, vai trò của pháp luật vềKiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố; Xây dựng các tiêu chíđánh giá mức độ hoàn thiện và các điều kiện bảo đảm hoàn thiện pháp luật vềKiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố pháp luật theo yêu cầu cảicách tư pháp ở Việt Nam
- Đánh giá khái quát sự hình thành và phát triển của pháp luật về Kiểm sátviên VKSND trong thực hành quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến trướcnăm 2002 và thực tiễn áp dụng pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thựchành quyền công tố từ 2002 - 2015
- Nêu quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viênVKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Namtrong những năm tới
Trang 116. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa đối với việc hoàn thiện phápluật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cảicách tư pháp Với việc đề xuất các giải pháp, trong đó có việc đưa ra một số kiếnnghị góp phần vào sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), Bộ luật Hình sự,Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luận án đóng góp thêm vào sự phát triển
lý luận về pháp luật Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố ở ViệtNam
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năngtrong quá trình nghiên cứu hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và tố tụnghình sự Luận án cũng là tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy
ở các cơ sở đào tạo luật, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành kiểm sát vànhững ai quan tâm đến lĩnh vực này
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án baogồm 4 chương, 11 tiết
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
Trong những năm qua, với việc thực hiện chủ trương cải cách tư pháp củaĐảng, vấn đề hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hànhquyền công tố đã được nghiên cứu nhiều hơn so với trước đây Điều này được thểhiện qua số lượng và nội dung của các công trình nghiên cứu dưới dạng các đề tàinghiên cứu khoa học, các xuất bản phẩm, các luận văn, luận án, các bài viết đăngtrên tạp chí nghiên cứu pháp luật chuyên ngành Để bảo đảm phục vụ việc nghiêncứu của luận án tác giả phân chia thành các nhóm vấn đề cụ thể như sau:
1.1.1. Pháp luật về Kiểm sát viên
Pháp luật về Kiểm sát viên tiếp cận dưới giác độ lý luận lịch sử Nhà nước
và pháp luật đòi hỏi phải có cách nhìn toàn diện, khái quát xuất phát từ nguồngốc, bản chất, mối quan hệ của quyền công tố trong phương thức tổ chức bộ máynhà nước, mà trực tiếp là trong Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ
1945 đến nay
* Xuất bản phẩm dưới dạng sách và đề tài nghiên cứu khoa học
Trước hết phải kể đến công trình nghiên cứu chuyên khảo “Cơ sở lý luận
và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” của Trần Hậu Thành [105] Trong cuốn sách này, tác giả
đã khái quát quá trình hình thành và phát triển tư tưởng nhà nước pháp quyềntrong tiến trình lịch sử nhân loại, đồng thời hệ thống một số quan điểm và thựctiễn tổ chức theo hướng nhà nước pháp quyền hiện nay trên thế giới Cuối cùngtác giả đã luận giải và đưa ra mô hình Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện đại,trong đó có mô hình tổ chức các cơ quan tư pháp như tòa án và viện kiểm sát
Cuối sách “Dân chủ và pháp luật dân chủ” của Ngô Huy Cương [25].
Trong cuốn sách này tác giả đã luận giải và xây dựng khái niệm về dân chủ, đồng
Trang 13thời đưa ra sáu thành tố của dân chủ đó là: Nhà nước pháp quyền; Chủ nghĩa lậphiến; Phân chia quyền lực; Xã hội công dân; Quyền con người, quyền công dân;
Tư pháp độc lập Trên cơ sở thực tiễn pháp luật Việt Nam tác giả đã đưa ra cáctiêu chuẩn đánh giá tính dân chủ và hiện trạng dân chủ trong pháp luật Việt Namtrên cơ sở tổ chức Nhà nước, bảo đảm quyền con người và hình thức dân chủ.Luận giải và đưa ra một số giải pháp về dân chủ và pháp luật dân chủ trong cáclĩnh vực, trong đó có lĩnh vực tư pháp
Cuốn sách “Thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền” do PGS.TS.Nguyễn Đăng Dung chủ biên, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 2004 [16] Cuốnsách lần đầu tiên nêu khái niệm thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền, thểchế tư pháp với việc thực hiện các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền và cácloại hình thể chế tư pháp với một số mô hình tổ chức tư pháp đặc trưng trên thếgiới Từ đó, tác giả nêu và phân tích quá trình hình thành và phát triển của hệthống Tòa án, cơ quan công tố, vai trò của thẩm phán và công tố viên và nhữngvấn đề đặt ra trong tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam
Cuốn sách “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra” của Lê Hữu Thể [107], đã đề cập tương đối toàn diện,
đầy đủ các quan điểm và lý luận chung về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểmsát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, trong đó đi sâu nghiên cứu các quanđiểm về quyền công tố, thực hành quyền công tố, hoạt động tư pháp và kiểm sátcác hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự; những quy định củapháp luật về Kiểm sát viên và một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệuquả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm việc tuân theo pháp luật tronggiai đoạn điều tra; đồng thời, khái quát về cơ quan công tố của một số nước trênthế giới nhằm rút ra kinh nghiệm ứng dụng vào Việt Nam
Nguyễn Hải Phong và cộng sự trong cuốn “Một số vấn đề về trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp” [82] đã phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành,
tổng kết kinh nghiệm thực tiễn hoạt động công tố của các cấp kiểm sát, kiến nghị
Trang 14các giải pháp thiết thực, có tính khả thi khi thực hiện trách nhiệm công tố tronghoạt động điều tra của Viện kiểm sát.
Đề tài “Tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp” của Nguyễn Ngọc Khánh [66], đề tài đã tập trung
nghiên cứu về mối quan hệ giữa công tố với điều tra của một số quốc gia và quanđiểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta về việc tăng cường trách nhiệm của công tốtrong hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp, đã xác định vị trí, thẩmquyền của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong hoạt động điều tra theo yêu cầu cảicách tư pháp
* Luận án, luận văn
Vấn đề thực hành quyền công tố cũng là tâm điểm thu hút sự chú ý nghiên
cứu của các luận án Tiến sĩ như “Quyền công tố ở Việt Nam” của Lê Thị Tuyết
Hoa, từ góc độ lý luận nhà nước và pháp luật [54] đã khái quát những vấn đề cơbản nhất về quyền công tố như khái niệm, đối tượng, phạm vi, nội dung củaquyền công tố và thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự; thực trạng tổchức thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự ở Việt Nam trên cơ sở đó đềxuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng thực hành quyền công
tố ở Việt Nam Đồng thời nêu được một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
về tổ chức và hoạt động của viện kiểm sát nhân dân
Luận án của Nguyễn Duy Giảng “Các chủ thể tiến hành tố tụng trong Luật
Tố tụng hình sự Việt Nam” [44] đã nghiên cứu toàn diện việc thực hiện các quy
định pháp luật liên quan đến chủ thể tiến hành tố tụng, những kết quả, hạn chế,vướng mắc bộ lộ trong thực tiễn, qua đó làm rõ những hạn chế trong quy định củaBLTTHS hiện hành cần được xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc quy định mới Trên
cơ sở kết quả nghiên cứu về lý luận tổng kết thực tiễn và làm rõ những yêu cầucủa cải cách tư pháp, tác giả đã đề xuất các nội dung cần sửa đổi, bổ sung trong
hệ thống quy định pháp luật về viện kiểm sát và Kiểm sát viên, góp phần khắcphục những bất cập, vướng mắc trong các quy định liên quan đến chức năng thựchành quyền công tố của Kiểm sát viên Theo tác giả, việc thực hiện các nhiệm vụvà
Trang 15quyền hạn của Kiểm sát viên trong điều tra vụ án hình sự còn nhiều tồn tại, trong
đó có nguyên nhân là quy định của BLTTHS năm 2003 về nhiệm vụ và quyền hạncủa Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra còn một số bất cập về thẩm quyền khởi
tố bị can, thẩm quyền điều tra, thẩm quyền quyết định việc chuyển vụ án, về mốiquan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra (CQĐT) và các cơ quan đượcgiao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; về vai trò, trách nhiệm củaKiểm sát viên tại phiên tòa… Từ đó, tác giả kiến nghị hoàn thiện nhiều quy địnhcủa Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và BLTTHS năm 2003, trong
đó có các quy định về thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên
1.1.2. Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố
* Xuất bản phẩm dưới dạng sách và đề tài nghiên cứu khoa học
- Về quyền công tố trong nhà nước pháp quyền của Nguyễn Đăng Dung và
các cộng sự trong nghiên cứu “Viện kiểm sát trong Nhà nước pháp quyền” [32] đã
đề cập đến một số vấn đề như: phân tích vị trí và vai trò của Viện kiểm sát trong
mô hình hiện nay và xu thế của Viện kiểm sát trong thời gian tới; làm rõ nhữngyêu cầu có tính nguyên tắc của quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền gắn vớithực hiện chức năng của Viện kiểm sát - Viện kiểm sát thực hành quyền công tố
là quyền hành pháp mà không phải là quyền tư pháp như quan niệm hiện nay; chủthể của công tố chỉ do Viện kiểm sát thực hiện và vì vậy Viện kiểm sát phảithống nhất chỉ đạo điều tra toàn bộ vụ án; có chỉ đạo điều tra mới buộc tội được,
có buộc tội được mới góp phần bảo vệ công lý xã hội chủ nghĩa (XHCN)…Ngoài ra, các tác giả còn giới thiệu một vài mô hình công tố trên thế giới điểnhình và đặt ra việc chuyển đổi vai trò, chức năng, tên gọi của Viện kiểm sát thànhViện công tố là đòi hỏi tất yếu khách quan, nhưng cần tính đến lộ trình và bước điphù hợp Đồng thời, cuốn sách cũng đã phân tích và làm sáng tỏ nhiều nội dungthực hiện chức năng mà Viện kiểm sát đang thực hiện dưới một giác độ tiếp cậnmới, tiếp cận dựa trên quyền và nghĩa vụ như: Quyền công tố và phạm vi củacông tố; Giới hạn của việc xét xử theo cáo trạng; nội dung và bản chất của tranhtụng giữa bên
Trang 16buộc tội và gỡ tội; có hay không cần thiết Viện kiểm sát phải thực hiện kiểm sáthoạt động tư pháp các lĩnh vực phi hình sự…
Cuốn sách “Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác của Viện kiểm sát nhân dân qua 55 năm tổ chức và hoạt động” của Viện kiểm sát
nhân dân tối cao [146] đã tập trung tổng hợp, khái quát những vấn đề cơ bảntrong công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nghành kiểm sát nhân dân từ
1960 đến 2015 trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn Từ đó đưa ra 9 bàihọc kinh nghiệm lớn làm cơ sở để nghành kiểm sát tiếp tục xây dựng và hoànthiện cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sátnhân dân đáp ứng mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, donhân dân, vì nhân dân
- Đề tài “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát và việc thực hiện thẩm quyền điều tra của Viện kiểm sát nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” của Phạm Mạnh Hùng [62], đã nghiên cứu thực trạng
và đề xuất giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra Việnkiểm sát nhân dân và việc thực hiện thẩm quyền điều tra của Viện kiểm sát nhândân khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điềutra các vụ án hình sự
- Đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới thủ tục tố tụng hình
sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” của Lê Hữu Thể [109] đã luận chứng, làm
rõ những vấn đề lý luận chung về thủ tục tố tụng, mô hình tố tụng hình sự; cácquyền và nghĩa vụ của các chủ thể tố tụng, trong đó có Kiểm sát viên VKSND.Trên cơ sở đánh giá đúng đắn những tồn tại, hạn chế, vướng mắc, bất cập trongpháp luật tố tụng hình sự hiện hành khi thực hiện chức năng thực hành quyềncông tố, đề tài nêu những yêu cầu của cải cách tư pháp đối với tổ chức và hoạtđộng của Viện kiểm sát, trong đó tính độc lập của Kiểm sát viên là một trongnhững vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn, cần được khắc phục bằng một cơchế pháp lý phù hợp Đề tài đã đề xuất các hướng hoàn thiện, đổi mới mô hình tốtụng hình sự và pháp luật tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay theo hướng nâng caonăng lực của CQĐT, Viện kiểm sát Tăng thẩm quyền và trách nhiệm cho Điều tra
viên, Kiểm sát viên trong hoạt động điều tra, truy tố.* Luận án, Luận văn
Trang 17- Nguyễn Thị Thủy “Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam và vấn đề áp dụng
tố tụng tranh tụng” [113] nêu mô hình tố tụng mới kết hợp giữa xét hỏi và tranh
tụng trong điều kiện Việt Nam đang tiến hành cải cách tư pháp Từ đổi mới môhình tố tụng dẫn đến đòi hỏi hoàn thiện pháp luật về chức năng, nhiệm vụ củaKiểm sát viên trong mối quan hệ giữa nguyên tắc tập trung thống nhất của ngànhkiểm sát với tính độc lập của từng Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố;giữa mối quan hệ hành chính và quan hệ tố tụng giữa Viện trưởng Viện kiểm sátvới Kiểm sát viên trong điều tra, kiểm sát điều tra và truy tố bị can ra trước tòa,duy trì công tố tại phiên tòa hình sự
- Bùi Mạnh Cường “Gắn công tố với hoạt động điều tra trong tố tụng hình
sự theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [26] đã tập trung tìm hiểu một số vấn đề chung về công tố và hoạt động
điều tra, phân tích thực trạng về mối quan hệ giữa công tố với hoạt động điều tratại Việt Nam (số liệu 5 năm: từ năm 2006 đến năm 2010), mối quan hệ giữa công
tố với hoạt động điều tra theo quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam hiệnhành; những kết quả đạt được trong việc giải quyết mối quan hệ giữa công tố vớihoạt động điều tra ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự và nguyên nhân của nhữngkết quả đạt được; một số hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyếtmối quan hệ giữa công tố với hoạt động điều tra ở giai đoạn điều tra vụ án hình
sự và nguyên nhân của những hạn chế, khó khăn, vướng mắc Tác giả cũng đưa
ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện cơ chế công tốgắn với hoạt động điều tra
- Vũ Đức Ninh “Thẩm quyền của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố”
[80] đã khái quát về quyền công tố và việc tổ chức thực hành quyền công tố ởnước ta theo BLTTHS, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạntruy tố cũng như hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong cùng thờiđiểm này, xem xét thực tiễn thi hành những quy định của pháp luật về thẩm quyềncủa Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố bằng cách nhìn vào những phân tích sốliệu về các quyết định mà cơ quan này ban hành trên một địa bàn cụ thể sau đóđưa ra
Trang 18những nhận xét về thẩm quyền của Viện kiểm sát từ đó đề xuất một số kiến nghịhoàn thiện pháp luật về vai trò cũng như vị trí của Viện kiểm sát trong giai đoạntruy tố và một số kiến nghị khác nhằm phát huy cũng như kiện toàn vị trí cơ quanViện kiểm sát trong quá trình cải cách tư pháp hiện nay.
* Các bài đăng trên tạp chí
Trong bài viết “Nguyên tắc tập trung thống nhất trong nghành kiểm sát nhân dân trước yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay” của Đào Trí Úc [118] đã nêu
khái quát các quan điểm, ý kiến đóng góp khác nhau trong dự thảo sửa đổi Hiếnpháp năm 1992 về tính chất, vị trí, chức năng của hệ thống cơ quan Viện kiểm sátnhân dân trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam, đặc biệt lànguyên tắc tập trung thống nhất trong nghành kiểm sát nhân dân Nguyên tắc nàychỉ phù hợp với việc thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật vì tínhthống nhất theo nghành dọc là bảo đảm cho sự giám sát, kiểm tra mang tínhquyền lực Nhà nước đối với các chủ thể áp dụng, thi hành pháp luật và đối vớicông dân Từ giác độ tiếp cận mang tính toàn diện, hệ thống, trên cơ sở nội dungpháp lý của hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tưpháp của Viện kiểm sát nhân dân, từ yêu cầu cải cách tư pháp trong điều kiện xâydựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tác giả đã luận chứng và
đề xuất ghi nhận trên bình diện Hiến pháp hai nguyên tắc quan trọng cho tổ chức
và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta như sau:
Một là, nguyên tắc tập trung thống nhất về tổ chức của Viện kiểm sát nhândân; Hai là, nguyên tắc khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểmsát các hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân độc lập, tuân theo Hiến pháp
và pháp luật, nghiêm cấm mọi sự can thiệp trái pháp luật của các cơ quan, tổ
chức, cá nhân [118] Phạm Mạnh Hùng với bài “Về nguyên tắc bảo đảm sự kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước của nước ta” [63], đã
giới thiệu một cách khái quát hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tưpháp trong bộ máy nhà nước ta, đồng thời nêu và phân tích cụ thể từng quy định
về cơ chế kiểm soát
Trang 19quyền lực Nhà nước trong từng phân nhánh hệ thống cơ quan quyền lực Nhànước nói riêng và trong hoạt động của bộ máy Nhà nước nói chung Từ đó, tácgiả đưa ra nhận xét và kiến nghị cần tiếp tục xem xét hoàn thiện về Quyền tưpháp và cơ quan thực hiện quyền tư pháp; khôi phục lại chức năng kiểm sátchung của Viện kiểm sát nhân dân vì đây là yêu cầu xuất phát từ lý luận và thựctiễn thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước hiện nay.
Vũ Mộc trong bài viết ‘‘Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế gắn công tố với hoạt động điều tra” [75], đã đưa ra nhận định mặc dù trong
BLTTHS 2003 không quy định cụ thể quyền chỉ đạo hoạt động điều tra của Việnkiểm sát nhưng theo nội dung các quy định về quyền hạn và trách nhiệm củaViện kiểm sát và của CQĐT thì Viện kiểm sát vẫn là cơ quan quyết định mọihành vi tố tụng ở giai đoạn điều tra Tuy nhiên, trên thực tiễn hoạt động công tốvẫn xa rời hoạt động điều tra, theo tác giả có hai nguyên nhân chính: Pháp luật vềhình sự và tố tụng thiếu chế tài bảo đảm cho hoạt động chỉ đạo theo pháp luật tốtụng hình sự của Viện kiểm sát đối với Cơ quan điều tra; Chưa có sự thống nhất
và phân biệt về thẩm quyền chỉ đạo hoạt động điều tra theo nghiệp vụ điều tra vàchỉ đạo điều tra theo pháp luật tố tụng hình sự Cuối bài viết tác giả đưa ra bốngiải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, tăng cườngtrách nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế gắncông tố với hoạt động điều tra
1.1.3. Hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố
* Xuất bản phẩm dưới dạng sách và đề tài khoa học
- Sách chuyên khảo “Tính nhân bản của Hiến pháp và bản tính của các cơ quan Nhà nước” của Nguyễn Đăng Dung [31] Trong cuốn sách này tác giả đã
nghiên cứu và làm rõ vai trò, vị trí, bản chất “vượt trội” của Hiến pháp, cũng nhưtính đặc thù của Hiến pháp trong hệ thống các văn bản pháp luật của quốc gia Từ
đó đi đến nhận định về tính nhân bản của Hiến pháp Và cũng trên cơ sở tiếp cận
Trang 20này, xuất phát từ lịch sử lập hiến Việt Nam, tác giả đã phân tính và khái quát vềcác bản tính của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp và đưa ra từng kiếnnghị cụ thể cho từng cơ quan nhà nước.
- Sách chuyên khảo “Quyền con người, quyền công dân trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của Trần Ngọc Đường [41] Trong cuốn
sách này, tác giả từ cách tiếp cận quyền con người, quyền công dân là giá trị caoquý, là mục đích phấn đấu cao nhất, đồng thời là đường lối nhất quán của Đảng
và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tác giả đã tổng hợp, phântích rồi đưa ra các quan điểm về quyền con người, quyền công dân; quyền vànghĩa vụ cá nhân công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ViệtNam Xuất phát từ lịch sử lập hiến (1945 đến 2001), tác giả đã chứng minh quátrình sửa đổi, ban hành Hiến pháp ở Việt Nam luôn là quá trình tiếp nối và hoànthiện cơ chế bảo đảm quyền con người, quyền công dân thông qua việc cải cách
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Và từ cơ sở trên, tác giả đã nêunhững bảo đảm pháp lý trong việc thực hiện quyền con người, quyền công dân,cùng các phương hướng tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chứcthực hiện pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thờigian tới
- Đề tài “Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Toà án trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” của Uông Chu Lưu [73], xác
định bản chất của công tố là việc đại diện cho quyền lực công để truy tố tội phạm,đưa người có hành vi phạm tội ra trước toà án để xét xử, do đó, công tố phải làmột chức năng không tách rời của hành pháp Viện Công tố, do vậy, phải là một
cơ quan thuộc nhánh hành pháp và chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật vàtrước nhân dân về việc truy tố tội phạm và buộc tội trước toà Các tác giả trongnhóm nghiên cứu cũng cho rằng phạm vi công tố chỉ nên giới hạn trong lĩnh vựchình sự nghĩa là trong việc đại diện cho quyền lực công truy tố tội phạm và buộctội người có hành vi phạm tội trước toà Về nguyên lý, Viện công tố phải đồngthời là cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động điều tra Cơ quan điều tra tiến hành
Trang 21các hoạt động điều tra theo yêu cầu của Viện công tố; mọi kết luận điều tra đềuphải có phê chuẩn của Viện công tố mới có giá trị pháp lý Tại phiên toà, Công tốviên thực hiện chức năng buộc tội, tham gia tranh tụng và chịu trách nhiệm hoàntoàn về những chứng cứ buộc tội thu thập được trong quá trình điều tra Cơ chếnày bảo đảm tính hiệu quả, thống nhất và liên tục của quy trình tố tụng tư pháp,nâng cao chất lượng truy tố và tranh tụng của Công tố viên tại phiên toà Từ đó
đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về chế định Kiểm sát viên thựchành quyền công tố trong các vụ án hình sự theo hướng tăng cường năng lực vàtrách nhiệm độc lập của Kiểm sát viên trong việc thực hành quyền công tố theotinh thần cải cách tư pháp
- Đề tài “Nâng cao hiệu quả của hệ thống tư pháp hình sự phục vụ Chiến lược cải cách tư pháp” của Lê Văn Cảm [16] nghiên cứu về tổ chức, cơ cấu của
hệ thống tư pháp hình sự và vai trò của hệ thống đó trong cải cách tư pháp ở ViệtNam theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị.Các tác giả đã làm rõ hơn vai trò của Kiểm sát viên VKSND trong thực hànhquyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong điều kiện Việt Nam; đềxuất mô hình mới về Viện kiểm sát và những thay đổi về pháp luật khi quy địnhđịa vị pháp lý của Kiểm sát viên theo tinh thần cải cách tư pháp, bảo đảm hiệuquả của hệ thống tư pháp hình sự
* Luận án, luận văn
Trong số các Luận án tiến sĩ có thể kể đến như của Nguyễn Tiến Sơn
“Mối quan hệ giữa cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Việt Nam” [102] Trong đó xác định mối quan hệ giữa CQĐT và Viện kiểm sát, giữa
Kiểm sát viên với Điều tra viên trong tố tụng hình sự, xuất phát từ vị trí, chứcnăng, nhiệm vụ của hai cơ quan và hai chủ thể này trong hệ thống tư pháp hình
sự Mối quan hệ này về cơ bản, chỉ có thể là mối quan hệ tố tụng hình sự Từ đóthấy rõ hơn sự chế ước và phối hợp, thực tế là kiểm sát tư pháp đối với CQĐTthông qua Kiểm sát viên Luận án đưa ra một kiến nghị hoàn thiện các quy định
về pháp luật điều chỉnh mối quan hệ này nhằm tăng cường trách nhiệm của công
tố trong giai đoạn điều tra
Trang 22Nguyễn Công Cường “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự” [29] nêu những đặc điểm mang tính phổ biến của hoạt động công
tố, phân tích rõ nội hàm khái niệm thực hành quyền công tố như đối tượng, phạm
vi, nội dung và đặc điểm và vận dụng được để trong lý giải về thực hành quyềncông tố trong giai đoạn điều tra Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp hoànthiện pháp luật tố tụng hình sự nhằm tăng cường vai trò của Viện kiểm sát vàKiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra
* Các bài đăng trên tạp chí
Bài viết “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân" thể hiện xuyên suốt, nhất quán trong toàn bộ nội dung của Hiến pháp sửa đổi, của Trần Ngọc
Đường [42] Trong bài viết này tác giả khái quát và tổng hợp năm điểm mới
trong Hiến pháp 2013 thể hiện nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn về vấn đề “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân" Qua đây tác giả cũng khẳng định đây là
sự tiếp tục quan điểm nhất quán của Ðảng và Nhà nước ta về việc đề cao chủquyền nhân dân, khẳng định ở "Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam doNhân dân làm chủ"
Nguyễn Hòa Bình có bài "Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới" [6].
Trong bài viết này, tác giả đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của Viện kiểmsát nhân dân trong bộ máy nhà nước ta; chỉ ra hai chức năng cơ bản là thực hànhquyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; khái quát hóa một số kết quảđổi mới nổi bật của cơ quan này trong tiến trình cải cách tư pháp thời gian qua.Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra nhu cần đòi hỏi ngành kiểm sát nhân dân phải tiếptục đổi mới toàn diện, sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực công tác, nhằm tổ chức thựchiện tốt hơn hai chức năng: thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tưpháp để đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế Từ đó, bài viết đã chỉ rasáu nhiệm vụ trọng tâm đặt ra đối với ngành kiểm sát nhân dân để thực hiện cácmục tiêu cải cách tư pháp theo các nghị quyết của Đảng trong thời gian tới như:đẩy mạnh thực
Trang 23hiện, hoàn thành đúng tiến độ các nhiệm vụ cải cách tư pháp mà Đảng đã đề ra;nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động; hoàn thiện thể chế; tập trungđổi mới mạnh mẽ công tác tổ chức cán bộ; tiếp tục tập trung nghiên cứu, xâydựng, thực hiện các đề án về tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị,phương tiện làm việc; tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
Cũng nghiên cứu về tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nhưngtiếp cận ở góc độ hẹp hơn theo hướng chỉ đề cập đến mô hình tổng thể hoặc mộtvài thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân nhất định Có thể kể đến một số công
trình của các tác giả như: Lại Hợp Việt có các bài viết "Bàn về mô hình Viện kiểm sát và chế định Kiểm sát viên trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi)" [148].
Trong bài “Hoàn thiện pháp luật hiện hành để “tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra” đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” của Nguyễn Hồng Vinh [151] đã tổng hợp các chủ
trương của Đảng và Nhà nước về “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạtđộng điều tra” Từ cơ sở đó, tác giả đã trích dẫn và phân tích các quy định vềquyền công tố, cơ chế vận hành cụ thể của quyền công tố trong giải quyết các vụ
án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tổ chức Viện kiểm sátnhân dân hiện hành, đưa ra những đánh giá cụ thể và kiến nghị hoàn thiện phápluật trong Tố tụng hình sự và Luật tổ chức Viện kiểm sát với các nội dung: cần cóquy định cụ thể các trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân ra Quyết địnhkhởi tố và chuyển giao cho cơ quan Điều tra thụ lý điều tra vụ án; bổ sung quyđịnh mới về chế định “miễn tố” độc lập, theo đó, khi thực hành quyền công tốViện kiểm sát nhân dân có quyền quyết định miễn truy cứu trách nhiệm hình sựcác bị can trong một số trường hợp nhất định; bổ sung thêm các chế định nhằmtăng cường quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên để Kiểm sát viên chủđộng thực hiện và chịu trách nhiệm về các hành vi tố tụng, nhất là quyền tham giatrực tiếp vào một số biện pháp điều tra khi thấy cần thiết Đây cũng là một trongnhững nghiên cứu có ý nghĩa tham khảo rất lớn cho đề tài nghiên cứu của luậnán
Trang 24Bài viết “Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế gắn công tố với hoạt động điều tra” của Vũ Mộc [75], đã đưa ra nhận định mặc dù trong
BLTTHS 2003 không quy định cụ thể quyền chỉ đạo hoạt động điều tra của Việnkiểm sát nhưng theo nội dung các quy định về quyền hạn và trách nhiệm của Việnkiểm sát và của CQĐT thì Viện kiểm sát vẫn là cơ quan quyết định mọi hành vi
tố tụng ở giai đoạn điều tra Tuy nhiên, trên thực tiễn hoạt động công tố vẫn xa rờihoạt động điều tra, theo tác giả có hai nguyên nhân chính (Pháp luật về hình sự và
tố tụng thiếu chế tài bảo đảm cho hoạt động chỉ đạo theo pháp luật tố tụng hình sựcủa Viện kiểm sát đối với Cơ quan điều tra; Chưa có sự thống nhất và phân biệt
về thẩm quyền chỉ đạo hoạt động điều tra theo nghiệp vụ điều tra và chỉ đạo điềutra theo pháp luật tố tụng hình sự và cuối cùng tác giả đưa ra bốn giải pháp cụ thểnhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, tăng cường trách nhiệm củaViện kiểm sát trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế gắn công tố với hoạtđộng điều tra
Bài viết “Những vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về Viện kiểm sát, người tiến hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát
và một số kiến nghị hoàn thiện” của Nguyễn Duy Giảng [43] đã đề cập nhiều
vướng mắc trong thực tiễn khi Viện kiểm sát phân công Kiểm sát viên thực hànhquyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra và giai đoạn xét xử Nguyên nhân
là do quy định pháp luật tố tụng hình sự chưa được giải thích chính thức, các vănbản dưới luật mang tính hướng dẫn thì hiệu lực thấp so với luật Vì vậy, việchoàn thiện pháp luật về chế định Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra, xét xử làrất cần thiết
Thời gian gần đây đề tài về chất lượng đội ngũ Kiểm sát viên cũng đượcnhiều tác giả nghiên cứu, nhưng nhìn chung các tác giả thường chỉ tập trung vàomột lĩnh vực hoặc trong phạm vi một địa phương nhỏ như các tác giả: Vũ Công
Thuận nghiên cứu về “Nâng cao chất lượng đội ngũ Kiểm sát viên thực hành quyền công tố ở ngành kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ nhằm đáp ứng yêu cầu cải
Trang 25cách tư pháp” [112]; Đào Thịnh Cường nghiên cứu về “Năng lực áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội” [28]; Lê Xuân Lộc “Năng lực thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện ở tỉnh phú thọ trong xét xử các
vụ án hình sự” [70]; Phạm Thị Phương “Năng lực thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, tỉnh Ninh Bình” [85],… Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu vừa nêu đều
không đi sâu tìm hiểu về hệ thống các quy phạm pháp luật quy định địa vị pháp
lý của Kiểm sát viên, đặc biệt là trong điều kiện cải cách tư pháp, xây dựng nhànước pháp quyền
Khi nghiên cứu về “Người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát Nhân dân đối với các vụ án hình sự” của Nguyễn Trọng Nghĩa [78] đã khái quát những vấn
đề về lý luận về người tiến hành tố tụng trong đó có Kiểm sát viên trong Việnkiểm sát nhân dân đối với các vụ án hình sự; đánh giá thực trạng người tiến hành
tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân đối với các vụ án hình sự và đưa ra một sốgiải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của người tiến hành tố tụng, đặcbiệt là của Kiểm sát viên trong VKSND đối với các vụ án hình sự
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn các quy định pháp lý về thẩm quyền hànhchính và trách nhiệm, quyền hạn tố tụng của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm
sát viên, các tác giả Lưu Trọng Nguyên, Trần Mai Lâm khi nghiên cứu về “Phân định thẩm quyền hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tố tụng của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên và việc tăng quyền hạn, trách nhiệm tố tụng cho Kiểm sát viên” [79] đã đi sâu vào phân tích, đánh giá những điểm hợp lý cũng
như những hạn chế, bất cập trong đang tồn tại trong hoạt động của hệ thống cơquan Viện kiểm sát; thực trạng pháp lý của Kiểm sát viên trong quá trình thựchành quyền công tố được giao quyền rất hạn chế và phải chịu sự quản lý cả vềhành chính, cả về hoạt động nghiệp vụ trước Viện trưởng, Phó Viện trưởng làchưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay Các tác giả đã đưa ra đềxuất, kiến nghị cần phải xây dựng quy định cụ thể trong BLTTHS về nhiệm vụ vàquyền hạn
Trang 26của người đứng đầu Viện kiểm sát và Kiểm sát viên theo hướng: Viện trưởng cótrách nhiệm tổ chức, điều hành chung công tác thực hành quyền công tố và kiểmsát việc tuân theo pháp luật; chỉ tiến hành tố tụng trong một số vụ, việc nghiêmtrọng, phức tạp Phó Viện trưởng là một chức danh tố tụng độc lập, tiến hành tốtụng đối với hầu hết các vụ án, phải được giao tất cả các quyền hạn tố tụng thuộcthẩm quyền của Viện kiểm sát trong lĩnh vực được phân công phụ trách; tăngquyền hạn cho Kiểm sát viên theo từng cấp bậc, đối với Kiểm sát viên sơ cấp cóthẩm quyền như luật hiện hành Kiểm sát viên trung cấp được phân công thụ lýchính đối với vụ án có quyền gia hạn tạm giữ, trưng cầu giám định, cấp giấychứng nhận người bào chữa, trả hồ sơ để điều tra bổ sung Kiểm sát viên cao cấpđược phân công thụ lý chính đối với vụ án thuộc thẩm quyền cấp trung ương,ngoài những quyền hạn của Kiểm sát viên trung cấp còn có quyền phê chuẩn lệnhbắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, gia hạn điều tra vụ án Kiểm sát viên giữ chức Vụtrưởng, Phó Vụ trưởng có quyền hạn tố tụng như Viện trưởng, Phó Viện trưởngcấp tỉnh đối với những vụ án do cấp trung ương thụ lý Viện kiểm sát cấp huyện,cấp tỉnh có Kiểm sát viên trung cấp và sơ cấp Viện kiểm sát cấp tỉnh và cấp cao(tương ứng với Tòa án Thượng thẩm) và Viện kiểm sát nhân dân tối cao có cả bachức danh Kiểm sát viên sơ cấp, trung cấp, cao cấp.
Bên cạnh đó, còn có một số bài viết như: "Bàn về ngạch Kiểm sát viên và điều kiện tiêu chuẩn bổ nhiệm Kiểm sát viên ở Viện kiểm sát các cấp trong Luật
Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân" của Lại Hợp Việt [149]; “Nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm của kiểm sát viên trong tố tụng hình sự” của Hoàng Hải Yến [152]; “Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động
tố tụng đối với người chưa thành niên” của Trần Quỳnh Hoa [55]
Như vậy, qua việc khái quát hệ thống các công trình nghiên cứu trongnước, có thể thấy trong thời gian gần đây đã có một khối lượng lớn các công trìnhkhoa học nghiên cứu về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong bộ máy Nhà nước,vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát trong cải cách tư pháp; vềquyền công tố, thực hành quyền công tố, mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với các
Trang 27cơ quan tiến hành tố tụng, Kiểm sát viên với người tiến hành tố tụng khác trongquá trình giải quyết các vụ án hình sự; về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Kiểm sátviên VKSND trong thực hành quyền công tố, vấn đề xây dựng đội ngũ Kiểm sátviên trong chiến lược cải cách tư pháp Tuy nhiên từ thực trạng trên cho phépchúng ta đánh giá hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào tập trung đề cập trựctiếp đến vấn đề hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hànhquyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp.
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI
1.2.1. Pháp luật về Kiểm sát viên
Thiết chế Viện kiểm sát hiện tồn tại ở các nước xã hội chủ nghĩa như Trungquốc, Cu Ba, Việt Nam, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Cộng hoà dân chủ nhândân Triều tiên Trong cải cách tư pháp ở Trung quốc, Cộng hoà dân chủ nhân dânLào, việc nghiên cứu về vai trò của Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đã được quantâm rất nhiều với các quan điểm khác nhau về cải cách Viện kiểm sát Ở Cộnghòa nhân dân Trung Hoa, vấn đề thực hành quyền công tố và cơ sở chính trị -pháp lý tổ chức thực hiện quyền công tố được quan tâm trong các công trình
nghiên cứu Trong Sách trắng “Xây dựng chính trị dân chủ của Trung Quốc”
[122] đã nêu rõ vai trò của cơ quan tư pháp, trong đó có Viện kiểm sát dựa vàoluật pháp trừng trị kẻ phạm tội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân
Cuốn “Cải cách thể chế chính trị ở Trung Quốc” do Đỗ Tiến Sâm chủ biên đã đề
cập đến một nền tư pháp XHCN công minh, độc lập, trong đó viện kiểm sát có vaitrò quan trọng nhân danh nhà nước truy tố tội phạm [101] Tại Hội thảo lý luậngiữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc về xây dựng Nhànước pháp quyền XHCN diễn ra tại Việt Nam (tháng 11-2014), Vương HồngTường (Trung Quốc) trong tham luận “Đẩy nhanh xây dựng chế độ tư pháp xã hộichủ nghĩa công bằng, hiệu quả, uy tín” đã nêu các biện pháp chính trị và pháp lýbảo đảm cho Tòa án, Viện kiểm sát thực hiện chức trách, quyền lực độc lập, côngbằng theo pháp luật với phương châm Đảng lãnh đạo lập pháp, thúc đẩy hànhpháp và bảo đảm tư pháp Trong hệ thống cơ quan tư pháp, Viện kiểm sát nhândân được xác định là
Trang 28một thiết chế độc lập, quan trọng để thực hiện quyền công công tố nhà nướcthông qua hoạt động của Kiểm sát viên Viện kiểm sát là phòng tuyến cuối cùngtrong việc bảo đảm công bằng, chính nghĩa Cần cải cách và hoàn thiện quan hệlãnh đạo giữa Viện kiểm sát cấp trên và cấp dưới, vừa kịp thời giám sát, sửa đổinhững sai sót của cấp dưới, vừa vừa phòng tránh tình trạng bao biện làm thayhoặc đùn đẩy trách nhiệm Phân định rõ quyền hạn trong nội bộ cơ quan kiểm sát.Phân biệt quyền kháng nghị tố tụng và quyền điều tra tội phạm liên quan đến lạmdụng chức vụ do các đơn vị nghiệp vụ khác nhau thực hiện [59, tr.174-177].
Ở các quốc gia khác, các nghiên cứu về pháp luật đối với địa vị pháp lýcủa Kiểm sát viên được thực hiện với mục đích thúc đẩy việc bảo đảm xâydựng Nhà nước pháp quyền Năm 2012, Nhà xuất bản Wadsworth Publishing
đã cho tái bản lần thứ 6 cuốn “Judicial Process: Law, Courts, and Politics in the United States” (Thủ tục tư pháp: Pháp luật, các Tòa án, và Chính trị ở Hoa
Kỳ) của David W Neubauer, Stephen S Meinhold [30] Cuốn sách nghiên cứusâu về thủ tục tư pháp trong hệ thống pháp luật Hoa Kỳ như tổ chức hệ thốngTòa án, công tố, thủ tục tố tụng và vai trò công tố viên Công trình đề cập sự rađời của quyền tư pháp, vai trò độc lập của quyền tư pháp trong hệ thống quyềnlực nhà nước, mối quan hệ giữa quyền tư pháp với các nhánh quyền lập pháp
và hành pháp trong cơ chế phân chia quyền lực, quyền tư pháp với việc bảo vệquyền con người…Trong các công trình này đều có đề cấp đến vai trò của công
tố viên nhưng với tư cách là đại diện của cơ quan hành pháp đứng ra truy tố bịcáo trước tòa án, viện công tố (viện kiểm sát) Viện công tố (kiểm sát) khôngđược coi là cơ quan tư pháp
Còn đối với các nước XHCN ở châu Âu trước năm 1991, sau khi Liên xôsụp đổ, Liên bang Nga và một số quốc gia thành viên SNG như Ucraina,Belorus, Azecbaijan, Kưrgưxtan, Kazacxtan và một vài nước Đông Âu khácvẫn tiếp tục duy trì thiết chế Viện kiểm sát trong cơ chế phân chia quyền lực nhànước thành các nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp độc lập với nhau, với nhữngthay đổi không nhiều về chức năng, nhiệm vụ Do đó việc nghiên cứu về vai trò
Trang 29của Kiểm sát viên trong quá trình chuyển đổi thể chế tư pháp ở các nước này vẫn
là đề tài thời sự Đó là các công trình như Luận án TSKH của V.V E-rơ-shôp
“Quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền”, đề cập đến quyền tư pháp như làmột nhánh quyền lực độc lập trong cơ chế phân chia quyền lực của thể chế chínhtrị Liên bang Nga thời kỳ hậu Xô-viết Nhánh quyền lực đó đặc trưng bởinguyên tắc Tòa án độc lập, xác định chính Tòa án mới là cơ quan bảo đảm tínhtối thượng của Hiến pháp và luật trong Nhà nước pháp quyền Viện kiểm sátthuộc hệ thống tư pháp nhưng không được coi là cơ quan thực hiện quyền tưpháp, vì Hiến pháp quy định chỉ có tòa án mới là cơ quan thực hiện quyền lực tưpháp Từ đó, các quy định pháp luật về viện kiểm sát và kiểm sát viên đã cónhững thay đổi so với thời kỳ xô-viết Chức năng kiểm sát chung bị thu hẹp,
chức năng kiểm sát xét xử đã bị bãi bỏ Cuốn sách của Giu-ba E.P “Các xu hướng đương đại phát triển nguyên tắc độc lập của Thẩm phán” [45] nêu rõ các
xu hướng khác nhau trong việc quy định hệ thống tố tụng tranh tụng, hệ thống tốtụng xét hỏi và hệ thống tố tụng kết hợp giữa xét hỏi và tranh tụng Trong đó vaitrò của kiểm sát viên (công tố viên)ở mỗi quốc gia rất khác nhau Có nơi thì vị trícông tố rất được đề cao (công tố mạnh), có nơi thì công tố thể hiện vai trò bìnhthường (công tố “mờ”) Đồng thời nêu các khó khăn, trở ngại trong thực hiệnquyền công tố, nhất là ở các nước kém phát triển và đang phát triển William E
Buttler trong “Báo cáo nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp Liên bang Nga” [21] cho rằng Viện kiểm sát Liên bang Nga chủ yếu tự kiểm
soát và chịu sự giám sát của hệ thống Viện kiểm sát theo yêu cầu, mệnh lệnh nội
bộ Như vậy, vấn đề đặt ra trong cải cách tư pháp ở Nga là cần phải điều chỉnhpháp luật theo hướng tản quyền đối với Viện kiểm sát để tránh việc tập trungnhiều quyền cho cơ quan này.Cần phải bỏ chức năng kiểm sát tuân theo phápluật của Viện kiểm sát, chỉ giữ lại chức năng công tố và Viện kiểm sát cần phảiđược sáp nhập vào hệ thống tòa án hoặc hệ thống hành pháp Vì vậy cần cónhững cải cách căn bản đối với Viện kiểm sát Trong cơ chế phân chia quyền lựchiện nay ở Liên bang Nga đã có sự kiềm chế, đối trọng và cân bằng quyền lực
Trang 30nên việc tồn tại một thứ quyền kiểm sát độc lập là không cần thiết Nguyên tắcphân quyền không có chỗ cho kiểm sát độc lập của Viện kiểm sát Công việc màViện kiểm sát cần phải làm là truy tố và buộc tội Viện kiểm sát cần trở thành cơquan chuyên về thực hiện quyền công tố; Kiểm sát viên là người của hành phápthực hành quyền công tố.
1.2.2. Pháp luật về Kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố
Trong số các công trình nghiên cứu ở Liên bang Nga, cần kể đến bài viết
“Kiểm sát viên trong tư pháp hình sự” của D.A Be-vê-shen-cô [156] đề cập đến
vai trò của Kiểm sát viên trong hệ thống tư pháp hình sự Tác giả cho rằng một sốquy định của pháp luật Liên bang Nga chưa cụ thể hóa hết tinh thần và nội dungcủa Hiến pháp khi ghi nhận về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát với tư cách là cơquan kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, do đó không thểđứng ngoài hoạt động điều tra dự thẩm như hiện nay Việc hoàn thiện địa vị pháp
lý của Kiểm sát viên trong cải cách hệ thống kiểm sát là cần thiết để bảo đảmviệc điều tra xử lý tội phạm hiệu quả hơn
Tác giả Kha-zi-nô-va V.M trong công trình “Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự” [67] đã tập trung phân tích vai trò của Kiểm sát viên trong giai đoạn tố
tụng tiền xét xử và đề xuất cần trả lại cho Kiểm sát viên vai trò điều tra vụ án Vìhiện tại chỉ các dự thẩm viên của Viện kiểm sát và Bộ Nội vụ thực hiện các hoạtđộng điều tra Việc tạo độc lập cho các dự thẩm viên dường như không phát huyđược tác dụng của Kiểm sát viên trong kiểm sát điều tra Do vậy, các Kiểm sátviên VKSND trong thực hành quyền công tố, cần được giao nhiệm vụ điều tra.Như vậy, cần sửa đổi các quy định pháp luật về viện kiểm sát và kiểm sát viêncho phù hợp [155]
Công trình nghiên cứu về công tố Nhật Bản do Nhóm tác giả thực hiệngồm Luke Nottage [14] (Đại học tổng hợp Sydney); Kent Anderson (Đại họcquốc gia Úc); Makoto Ibusuki (Đại học tổng hợp; Giáo sư David Johnson Đại họctổng hợp Hawai đã có những đánh giá tích cực đối với hệ thống công tố NhậtBản Theo đó, Ở Nhật Bản, có hai nguyên tắc cơ bản mà Bộ Tư pháp Nhật Bản(MOJ) áp dụng
Trang 31đối với công tố viên: Nguyên tắc công tố thống nhất và nguyên tắc công tố viênđộc lập Các nguyên tắc này tạo nên những mục tiêu có tính chất cạnh tranh vớinhau Tuy nhiên, hệ thống ở Nhật Bản có thể điều hòa, cân đối tương đối tốt, hệquả là tại Nhật Bản tồn tại một hệ thống công tố có thể dự đoán trước được, phùhợp với chế độ pháp quyền Tất cả các vụ án do Cảnh sát điều tra tội phạm phảiđược chuyển tới Viện công tố, trừ vụ án ít nghiêm trọng Công tố viên chỉ huycảnh sát điều tra bổ sung, hoặc tự tiến hành các hoạt động điều tra bổ sung, thuthập thêm chứng cứ, thẩm vấn bị can hoặc người tham gia tố tụng khác Trongquan hệ với Cơ quan điều tra, Công tố viên vừa đóng vai trò là người chỉ đạo,giám sát điều tra, vừa phối hợp với Điều tra viên Công tố viên không nhữngđược quyền chỉ huy, chỉ đạo Điều tra viên mà còn có thẩm quyền yêu cầu xử lý
kỷ luật Điều tra viên nếu Điều tra viên không tuân theo chỉ đạo của Công tố viên.Đối với các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều trakhác (Thanh tra viên Cục thuế nhà nước; cán bộ thuế của cơ quan hành chínhtỉnh, thành phố; nhân viên Hải quan; nhân viên Uỷ ban theo dõi giao dịch chứngkhoán; Uỷ ban giao dịch công chính…), Công tố viên phối hợp và có trách nhiệmchỉ đạo, trợ giúp các cơ quan này tiến hành hoạt động điều tra, hoàn thiện hồ sơchuyển Viện công tố truy tố Về nguyên tắc, Công tố viên Nhật Bản có thẩmquyền điều tra tất cả các vụ án hình sự, nhưng trên thực tế, họ chỉ thực hiện cáchoạt động điều tra bổ sung sau khi cảnh sát chuyển hồ sơ vụ án đến Viện công tốđối với các vụ án nghiêm trọng, vụ án liên quan đến tội phạm tham nhũng, tộiphạm về kinh tế quy mô lớn Tuy nhiên, có sự trùng lặp giữa nhiệm vụ của cảnhsát với nghĩa vụ của công tố, đặc biệt là liên quan đến điều tra cũng như việc “làm
rõ và chứng minh sự thật.” Hệ quả là, quan hệ giữa công tố với cảnh sát phức tạphơn so với quan hệ với các cơ quan tham gia tố tụng khác trong tư pháp hình sự.Các Công tố viên điều hành tại Nhật Bản đã phải dành khá nhiều thời gian vàcông sức để xử lý mối quan hệ nhạy cảm này
Tác giả Byung-Sun Cho sau khi làm rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ quyền hạn
của Viện Công tố và Công tố viên đã đánh giá trong “Báo cáo nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp Hàn Quốc” của mình là tại Hàn Quốc
Trang 32[23], Công tố viên có vị trí rất quan trọng, có thể chỉ đạo hoạt động điều tra truy
tố trong mối quan hệ với cảnh sát tư pháp và các lực lượng khác Mối quan hệnày không chỉ là sự hợp tác mà còn là mối quan hệ mệnh lệnh, chấp hành Môhình tổ chức của hệ thống công tố Hàn Quốc được xây dựng từ khái niệm Độc lậpcông tố (Prosecutorial Independence) vốn tương đồng với khái niệm Độc lập tưpháp Cải cách tư pháp tại Hàn Quốc đã bắt đầu xem công tố viên như người chỉhuy việc điều tra và như một bên đúng nghĩa trong phiên tòa chứ không phải làmột bán thẩm phán Do đó, Công tố viên Hàn Quốc vẫn là một hệ thống duy nhấtkết hợp cả hệ thống thông luật và hệ thống luật dân sự Do vậy, những thay đổicần thiết về pháp luật đối với ông tố viên như là một yêu cầu tự nhiên của nền tưpháp mang tính chất kết hợp này
1.2.3. Hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố
Vấn đề hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên trong thực hành quyền công
tố ở Liên bang Nga luôn mang tính thời sự kể từ khi Chương trình cải cách tư
pháp được thực hiện từ 2007 Theo tài liệu nghiên cứu của bốn Giáo sư trong nhóm cố vấn của Tổng thống Liên bang Nga về cải cách tư pháp “Luận cương về cải cách tư pháp ở Liên bang Nga” [154] đã nêu rõ mục tiêu của cải cách tư pháp
ở Liên bang Nga là bảo đảm độc lập xét xử của Tòa án Muốn thế, hoạt động xét
xử và hoạt động công tố tuy đều tuân thủ mục đích của tố tụng hình sự nhưngvẫn cần độc lập với nhau Các chức năng công tố và xét xử không được lẫn lộn.Trong Viện kiểm sát, hoạt động của Kiểm sát viên về tố tụng là độc lập, vì nếuhành chính lẫn với tư pháp sẽ dễ dẫn đến vi phạm pháp luật Do đó cần khắcphục sớm những bất cập hiện nay của pháp luật về tố tụng hình sự về quyền hạn,trách nhiệm của Kiểm sát viên
“Báo cáo nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” của Vivienne Bath [20] nêu rõ: Sau khi chuyển
đổi nền kinh tế về cơ bản, Trung Quốc vẫn giữ mô hình Viện kiểm sát trước khichuyển đổi Viện kiểm sát vẫn trực thuộc cơ quan đại diện, không nằm trong hệ
Trang 33thống các cơ quan hành chính Hệ thống Cơ quan điều tra ở Trung Quốc thuộc
Bộ Công an Viện kiểm sát có chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố vàkiểm sát điều tra các vụ án hình sự; được trao thẩm quyền điều tra nên có vị trí,vai trò, quyền hạn rất lớn và có thực lực so với các cơ quan công tố trên thế giớihiện nay Viện kiểm sát Trung Quốc, ngoài việc chịu sự giám sát theo hệ thốngngành dọc còn chịu sự giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân cùng cấp Hệthống Viện kiểm sát ở Trung Quốc được tổ chức thành bốn cấp phù hợp với hệthống tổ chức Toà án
Bài viết “Về mô hình tổ chức Viện kiểm sát trong bối cảnh cải cách tư pháp ở Việt Nam” của Richard S Shiner [100], chuyên gia của UNDP thực hiện
giới thiệu về chế độ công tố Hoa Kỳ và chế độ kiểm sát ở Liên bang Nga, trên cơ
sở đó khuyến nghị mô hình công tố cho Việt Nam Trong công trình này, tác giả
đã so sánh hai loại thiết chế kiểm sát (ở Liên bang Nga) và công tố (ở Hoa Kỳ)
Ở Hoa Kỳ, với 31.000 công tố viên bang và ở các địa phương, hoạt động vớithẩm quyền độc lập, tiến hành truy tố các tội phạm xay ra trên địa bàn mà khôngchịu sức ép và sự giám sát của Bộ Tư pháp và chính quyền cấp trên Trong khi
đó, ở Liên bang Nga, Viện kiểm sát Liên bang là thiết chế độc lập trong bộ máynhà nước Viện trưởng Viện kiểm sát Liên bang lại có quyền giám sát trực tiếphọat động công tố của các Viện trưởng kiểm sát cấp vùng Đây là những vấn đềcần nghiên cứu khi vận dụng ở nước ta
1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
Qua việc nghiên cứu, khái quát các công trình tiêu biểu về các vấn đề liênquan đến Viện kiểm sát/Viện công tố; Kiểm sát viên của các tác giả trong và ngoàinước cho thấy, nhìn chung các công trình của các nhà khoa học ở những cấp độ vàkhía cạnh khác nhau đều đã phân tích những vấn đề lý luận Pháp luật về Kiểm sátviên; Pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố; Hoànthiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố; các yêucầu, đặc điểm của dân chủ, các cơ chế thực hành quyền công tố; đề cập đến việcthực hành quyền công tố nói chung và thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải
Trang 34cách nói riêng để thấy được sự cần thiết phải đảm bảo quyền thực hành quyềncông tố của Kiểm sát viên theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.
Một số công trình đã nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống ý nghĩa,vai trò, tầm quan trọng của Pháp luật về Kiểm sát viên ở Việt Nam hiện nay; tìm
ra những yếu tố tác động, những giải pháp nhằm bảo đảm hiệu quả việc thựchành quyền công tố; nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng thiết chế thực hànhquyền công tố theo yêu cầu cải cách trên phạm vi cả nước Các công trình này đãgóp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của pháp luật về Kiểm sátviên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở ViệtNam; đánh giá những mặt làm được, những hạn chế còn tồn tại trong pháp luật
về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tưpháp ở Việt Nam; đưa ra được các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện, bảo đảmnâng cao chất lượng của pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hànhquyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân
Các công trình nghiên cứu liên quan đến hoàn thiện pháp luật về Kiểm sátviên VKSND trong thực hành quyền công tố đã đề cập đến một số khía cạnhkhác nhau như: tập trung phân tích làm rõ khái niệm, bản chất, hình thức, vai tròquan trọng của pháp luật về Kiểm sát viên và việc hoàn thiện pháp luật về Kiểmsát viên VKSND trong thực hành quyền công tố; những thành công, hạn chế vànhững vấn đề đặt ra trong hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trongthực hành quyền công tố, mỗi tác giả có những cách tiếp cận cùng với mục đíchnghiên cứu riêng Tuy nhiên, riêng đối với việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật
về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tưpháp ở Việt Nam, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cáchtoàn diện, cụ thể có hệ thống dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và lịch sử vềNhà nước và pháp luật
Để đạt được mục tiêu của luận án, quá trình nghiên cứu đã kế thừa có chọnlọc kết quả của những công trình khoa học nêu trên và tiếp tục làm rõ một số vấn
đề cụ thể:
Trang 35* Về lý luận, luận án tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ
- Khái niệm pháp luật về quyền công tố, thực hành quyền công tố và xácđịnh đây là các khái niệm công cụ để nghiên cứu khái niệm pháp luật về Kiểm sátviên VKSND trong thực hành quyền công tố Một khái niệm cho đến nay chưa cónghiên cứu nào đưa ra quan điểm nhất quán và gắn với các tư duy lý luận pháp lýmới, tư tưởng quan điểm mới của Hiến pháp 2013 Trên cơ sở này, những nộidung cần điều chỉnh, bổ sung trong pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thựchành quyền công tố mà các công trình khoa học nêu trên chưa đề cập đến cũngđược tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện
- Khái niệm pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyềncông tố là vấn đề cơ bản để từ đó phân tích, làm rõ các nội dung lý luận của kháiniệm pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố
- Cơ sở lý luận để hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thựchành quyền công tố, bao gồm: đặc điểm, nội dung vai trò, đối tượng và phươngpháp điều chỉnh của pháp luật về Kiểm sát viên; yêu cầu cải cách tư pháp và cáctiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trongthực hành quyền công tố; điều kiện bảo đảm hoàn thiện của pháp luật về Kiểm sátviên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở ViệtNam; Pháp luật về Kiểm sát viên/Công tố viên trong thực hành quyền công tố củamột số nước trên thế giới và giá trị tham khảo ở Việt Nam
* Về thực tiễn, luận án tập trung làm rõ
- Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về Kiểm sátviên VKSND trong thực hành quyền công tố gắn với quá trình hình thành, pháttriển và hoàn thiện pháp luật tổ chức và hoạt động của mô hình Nhà nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cụ thể: làm rõ pháp luật về Kiểm sát viênVKSND trong thực hành quyền công tố qua các giai đoạn từ 1945 đến năm 1959,
từ 1960 đến trước 2002 và từ 2002 đến nay
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trongthực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp
Trang 36quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chỉ rõ những bất cập, hạn chế và nguyên nhâncủa thực trạng nói trên Rút ra bài học kinh nghiệm để xây dựng và hoàn thiệnpháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầucải cách tư pháp.
Từ việc phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn pháp luật về Kiểm sát viênVKSND trong thực hành quyền công tố, Luận án xây dựng luận cứ, đề xuất cácquan điểm và giải pháp bảo đảm cho việc hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viênVKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp và xâydựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tiểu kết chương 1
Kết quả nghiên cứu chương 1 cho thấy, đến nay đã có nhiều công trìnhnghiên cứu được công bố trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án.Những công trình này liên quan đến các nhóm vấn đề cơ bản sau:
Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật về Kiểm sát viên
Đa số các nghiên cứu này tập trung đi vào phân tích và làm rõ nội dung kháiniệm quyền công tố, thực hành quyền công tố, chức năng, nhiệm vụ, vai trò, củaViện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự, đặc biệt nhấn mạnh vai trò, chứcnăng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên trong giai đoạn điềutra Bên cạnh đấy, các công trình nghiên cứu cũng đi sâu vào phân tích, làm rõchức năng vấn đề thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân thông quaviệc đánh giá hiệu lực, hiệu quả của pháp luật về Kiểm sát viên trên cơ sở mốiquan hệ pháp lý của Viện kiểm sát với các cơ quan tiến hành tố tụng khác trongquá trình giải quyết vụ án hình sự Tuy nhiên, dù rất đa dạng và bao trùm nhiềukhía cạnh nhưng các công trình khoa học nêu trên vẫn thiếu vắng các nghiên cứusâu về bản chất, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong tổchức và hoạt động thực hiện quyền công tố gắn với bối cảnh yêu cầu cải cách tưpháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặc biệt là gắnvới các tư duy lý luận pháp lý mới, tư tưởng mới của Hiến pháp 2013
Trang 37Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật về Kiểm sát viênVKSND trong thực hành quyền công tố Các công trình ở nhóm này đề cập đếnmột số vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trongthực hành quyền công tố Thông qua việc luận chứng, làm rõ những vấn đề lýluận chung về thủ tục, mô hình tố tụng, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tố tụngliên quan đến Kiểm sát viên, kết hợp đánh giá một số hạn chế, vướng mắc, bấtcập trong pháp luật tố tụng hình sự khi Kiểm sát viên thực hành quyền công tố từ
đó đưa ra một số kiến nghị mang tính khái quát theo hướng tăng thẩm quyền vàtrách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động điều tra, truy tố, gắn với bảo vệquyền con người, quyền công dân theo tinh thần mới của Hiến pháp 2013
Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến hoàn thiện pháp luật vềKiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố Ở nhóm này, các côngtrình tập trung nghiên cứu việc hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSNDtrong thực hành quyền công tố một cách gián tiếp thông qua phân tích, đánh giálàm rõ chức năng công tố của Viện kiểm sát trong tổ chức, hoạt động của bộ máyNhà nước, trong tổ chức, cơ cấu của hệ thống tư pháp hình sự Trên cơ sở xácđịnh cải cách tư pháp là yêu cầu khách quan, tất yếu của quá trình xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do, Nhân dân, vìNhân dân và để bảo đảm hiệu quả của mối quan hệ chế ước, phối hợp trong hệthống tư pháp hình sự thì cần có mô hình mới về Viện kiểm sát và những thay đổipháp luật về quy định địa vị pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểmsát viên trong thực hành quyền công tố
Nhóm các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến pháp luật vềKiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố Các công trình ở nhómnày đề cập đến một số vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về Kiểm sát viênVKSND trong thực hành quyền công tố gắn với mô hình tố tụng và thực tiễn tổchức, hoạt động của bộ máy Nhà nước của từng quốc gia cụ thể Bên cạnh nhữngđặc điểm mang tính đặc thù quốc gia, thì đặc điểm chung nhất của pháp luật vềKiểm sát viên trong thực hành quyền công tố của các nước đó là để Kiểm sát
Trang 38viên/Công tố viên thực hành quyền công tố một cách hiệu quả thì cần phải có cơchế pháp lý bảo đảm tính độc lập, chủ động của Kiểm sát viên/Công tố viên trongquá trình điều tra, truy tố, xét xử Đây là hạt nhân có giá trị tốt cho việc nghiêncứu tìm ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam.
Các công trình khoa học được đề cập trong chương 1 của luận án, ở mức
độ khác nhau đều liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án Song cho đếnnay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp, toàn diện, hệ thốngdưới góc độ Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật vấn đề hoàn thiện phápluật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cảicách tư pháp Vì vậy, việc tổng hợp, đánh giá tổng quan các công trình nghiêncứu trong và ngoài nước đối với pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thựchành quyền công tố sẽ góp phần khái quát lại những kết quả đã đạt được của cáccông trình đã công bố đồng thời chỉ ra mảng vấn đề chưa được quan tâm thỏađáng khi đề cập đến pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân ở ViệtNam Những nhận xét, đánh giá sau khi nghiên cứu tổng quan (chương 1) sẽ giúpcho nghiên cứu sinh có cái nhìn tổng quát về các giá trị có thể kết thừa và pháttriển, cũng như vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Trang 39Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG
TỐ 2.1 KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
Để nghiên cứu và xây dựng được khái niệm pháp luật về Kiểm sát viênVKSND trong thực hành quyền công tố trước hết cần phải làm rõ các khái niệmcông cụ: Quyền công tố; Thực hành công tố; Kiểm sát viên Nội dung các kháiniệm công cụ này cũng sẽ là cơ sở lý luận để nghiên cứu đặc điểm, vai trò phápluật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố
2.1.1. Khái niệm quyền công tố, thực hành quyền công tố
Quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất của Nhà
nước, là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của quyền lực nhà nước tronglĩnh vực tư pháp Mặc dù, quyền công tố là một quyền năng quan trọng đã đượcthực hiện ở nước ta từ năm 1945 đến nay, nhưng trong thực tiễn khoa học pháp lýgiữa các nhà nghiên cứu khoa học, các nhà lập pháp và các cán bộ đang trực tiếphoạt động trong lĩnh vực tư pháp vẫn chưa đạt được nhận thức thống nhất Tronglĩnh vực lập pháp, thuật ngữ quyền công tố được ghi nhận lần đầu tiên tại Điều
138 Hiến pháp năm 1980 trong cụm từ “Thực hành quyền công tố” Tuy nhiêncho đến nay, trong khoa học pháp lý và trong thực tiễn vẫn có nhiều quan điểmkhác nhau về quyền công tố, thực hành quyền công tố
Quan điểm thứ nhất đồng nhất quyền công tố với hoạt động kiểm sát việctuân theo pháp luật của VKSND nên cho rằng tất cả các hoạt động kiểm sát việctuân theo pháp luật đều là thực hành quyền công tố [136, tr.85-87]
Quan điểm thứ hai cho rằng: “Quyền công tố là quyền của nhà nước giaocho Viện kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội
đó tại phiên tòa sơ thẩm” [83] Theo quan điểm này thì chủ thể duy nhất thựchành quyền công tố là Viện kiểm sát và quyền này chỉ được thực hiện trong lĩnhvực tố tụng hình sự và phạm vi của nó cũng chỉ có ở một giai đoạn duy nhất làgiai đoạn xét xử sơ thẩm
Trang 40Quan điểm thứ ba cho rằng quyền công tố là quyền của cơ quan hành pháp
truy tố bị cáo ra trước tòa án [13] Công tố chỉ thực hiện chức năng đại diện cho
Nhà nước để bảo vệ lợi ích công khi nhà nước là một bên trong vụ án bởi vì, bảnchất của công tố là việc đại diện cho quyền lực công để truy tố tội phạm, đưangười có hành vi phạm tội ra trước toà án để xét xử, do đó, công tố phải là mộtchức năng không tách rời của hành pháp - cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức thựcthi pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng, chịu trách nhiệm trước nhândân về tình hình vi phạm pháp luật, tội phạm Viện Công tố phải là một cơ quanthuộc nhánh hành pháp và chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật và trướcnhân dân về việc truy tố tội phạm và buộc tội trước Toà
Quan điểm thứ tư cho rằng: “Quyền công tố là quyền của Nhà nước giaocho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và ápdụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội” [128, tr.10] Do vậy, chủ thểthực hành quyền công tố không chỉ có Viện kiểm sát mà còn có các cơ quan tiếnhành tố tụng khác như: Cơ quan điều tra, Cơ quan xét xử, Cơ quan thi hành án vàphạm vi quyền công tố có ở tất cả các giai đoạn tố tụng từ điều tra, truy tố, xét xửđến thi hành án
Quan điểm thứ năm cho rằng: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giaocho Viện kiểm sát truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyềnnày thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện để pháthiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Để làmđược điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có tráchnhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm vàngười phạm tội Trên cơ sở đó quyết định việc truy tố bị can ra trước Tòa án vàbảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa [107, tr.40] Quyền công tố chỉ có trong lĩnhvực tố tụng hình sự mà không có trong các lĩnh vực tố tụng khác như: dân sự,hành chính, kinh tế, lao động
Như vậy, có thể thấy có rất nhiều quan niệm khác nhau về quyền công tố.Mỗi quan điểm đều có những hạt nhân hợp lý nhưng cũng đều bộc lộ những hạnchế nhất định nhìn từ các khía cạnh: cơ sở lý luận, pháp luật thực định và thựctiễn