1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Ngôn ngữ thơ Nôm trong tác phẩm "Sự lí dung thông" của Hương Hải thiền sư

4 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 167,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết Ngôn ngữ thơ Nôm trong tác phẩm Sự lí dung thông của Hương Hải thiền sư trình bày về sự nghiệp Việt hóa tư tưởng Phật giáo bằng cách diễn giải các kinh kệ ra chữ Nôm của nhà sư, tiêu biểu la tác phẩm Sự lí dung thông. Mời các bạn tham khảo.

Trang 1

Số 3 (197)-2012 ngôn ngữ & đời sống 45

Ngôn ngữ với văn chương

Ngôn ngữ thơ nôm trong tác phẩm "sự lí dung thông" của hương hải thiền sư

Poetic language Nom in work

"Su li dung thong" by Huong Hai monk

Nguyễn thị việt hằng

(NCS, Đại học Sư phạm Hà Nội 2 )

Abstract

Su li dung thong was composed by Huong Hai Thien Su in about late 17th century early 18th century In spite of

having high artistic value, Su li dung thong has not been still explored thorough Through researching carefully content

of work, using “song that luc bat” versification and Nom language, the article's author indicates the success of the art of

the work From these bases, we confirmed Su li dung thong is a great worth Buddhist literary work in Vietnamese

literature in medieval

1 Mở đầu

Phật giỏo Việt Nam giai đoạn thế kỉ XVII – XVIII

khụng giữ được vị thế trờn vũ đài chớnh trị như thời Lý -

Trần do nhà nước cầm quyền đương thời chỳ trọng đến

vai trũ của Nho giỏo trong trị quốc, song trong dõn gian

tụng giỏo này vẫn cú một sức sống mạnh mẽ Một trong

những người gúp cụng làm nờn sức sống ấy là Thiền sư

Hương Hải ễng đó khụng chỉ xõy dựng nờn “một dũng

thiền phỏt triển rầm rộ” (Lờ Mạnh Thỏt) mà cũn dành

nhiều tõm huyết cho sự nghiệp Việt húa tư tưởng Phật

giỏo bằng cỏch diễn giải cỏc kinh kệ ra chữ Nụm Sự lớ

dung thụng là một tỏc phẩm tiờu biểu

Năm 1992, trong bài “Trờn đường nhận diện gương

mặt tư tưởng Hương Hải Thiền sư” đăng trờn Tạp chớ

Văn học - số 4, nhà nghiờn cứu Lại Văn Hựng nhận định:

“Nếu kể đến những người cú cụng phục hưng Phật giỏo

Việt Nam trong giai đoạn thế kỉ XVII - XVIII, thỡ khụng

thể khụng nhắc đến một nhõn vật nổi tiếng là Thiền sư

Hương Hải Nhưng lạ thay, việc nghiờn cứu về ụng lại

quỏ ớt ỏi” Đến thời điểm hiện nay, bờn cạnh Kiến văn tiểu

lục của Lờ Quý Đụn, Đại Nam nhất thống chớ của Quốc

sử quỏn nhà Nguyễn, Việt Nam Phật giỏo sử luận của

Nguyễn Lang, cỏc bài nghiờn cứu của Lại Văn Hựng, đó

xuất hiện thờm Toàn tập Minh Chõu Hương Hải của Lờ

Mạnh Thỏt Tuy nhiờn, cỏc cụng trỡnh trờn đều nghiờn

cứu tỏc giả, tỏc phẩm ở mức độ khỏi quỏt Nhận thấy một

khoảng khụng gian mở cho nghiờn cứu, chỳng tụi đi vào

tỡm hiểu ngụn ngữ thơ Nụm trong tỏc phẩm Sự lớ dung thụng của Hương Hải Thiền sư

2 Khỏi quỏt nội dung tỏc phẩm

Đỳng như nhan đề, Sự lý dung thụng là lớ thuyết và

thực tiễn thụng suốt, nội dung tỏc phẩm xoay quanh giỏo

lớ Phật giỏo được diễn giải theo quan niệm riờng của tỏc giả Mở đầu, với giọng điệu ngợi ca, Hương Hải Thiền sư giới thiệu về tu thiền, nhấn mạnh trớ tuệ tu thiền như mặt trời, khi đó cú trớ tuệ ấy chiếu soi thỡ mọi vật đều sỏng rừ

và kết quả tu thiền sẽ đến tự nhiờn, con người được giải thoỏt để từ đú thể hiện lũng từ bi cứu giỳp mọi người Tiếp đến, tỏc giả trỡnh bày về lớ thuyết và thực tiễn của đời sống tu thiền Việt Nam ễng cho rằng, mặt lớ thuyết, người tu thiền Việt Nam theo quan niệm “phỏp nhẫn vụ sinh”, sống theo thực tế một cỏch tự nhiờn, tu thiền khụng nằm ngoài cuộc sống Đú là sự nối tiếp quan niệm “cư trần lạc đạo - sống ở đời mà vui đạo” từ thời Trần Nhõn Tụng, bởi vậy mà khụng gạt bỏ vai trũ của Đạo giỏo, Nho giỏo, Hương Hải Thiền sư nhấn mạnh:

Nho dựng tam cương ngũ thường Đạo gỡn ngũ khớ giữ giàng ba nguyờn Thớch giỏo nhõn tam quy ngũ giới Thể một đường xe phải dựng ba

Trong thực tiễn tu hành thỡ Phật tử phải “lớ hiểu tường

sự giữ niệm tu ”, phải “rốn giới hạnh cụng phu” để: Dốc làm chớ cả trượng phu,

Trang 2

ngôn ngữ & đời sống số 3 (197)-2012

46

Đạo nờn trung hiếu, õn thự vẹn hai

Là người “nhập Nho quy Thớch”, dễ hiểu vỡ sao

Hương Hải lại nhấn mạnh rằng đời sống tu thiền cũng

phải là một đời sống trung hiếu của đấng trượng phu

Phần kết tỏc phẩm là một lời nhắn nhủ những người tu

thiền cố gắng tiến tu để mở mang, chấn hưng sự nghiệp

Phật giỏo nước nhà:

Trong nơi giềng mối sửa sang

Răn khuyờn hậu học mở đường tiến tu

Quy mụ Phật phỏp khuụng phự

Để làm minh cảnh muụn thu dừi truyền

3 Thể thơ

Nhà nghiờn cứu Lờ Mạnh Thỏt cho rằng, tỏc phẩm cú

thể được sỏng tỏc vào thời gian trước hoặc sau năm 1700

khụng lõu và “đứng vào hàng những bài thơ song thất lục

bỏt đầu tiờn của dõn tộc, mở đầu cho những danh tỏc về

sau…” Nguyễn Huệ Chi trong Từ điển văn học cũng

xếp tỏc phẩm vào hàng “những bài thơ song thất lục bỏt

đầu tiờn trong văn học dõn tộc” Khi xem xột, cú thể thấy

khỏ rừ ràng sự thiếu nhuần nhuyễn của Sự lớ dung thụng

so với những đỉnh cao của thể loại sau này như Chinh

phụ ngõm khỳc (bản dịch), Cung oỏn ngõm khỳc của

Nguyễn Gia Thiều, Văn chiờu hồn của Nguyễn Du…

Vậy tại sao hầu hết cỏc nhà nghiờn cứu lại nhận định đõy

là một trong những bài thơ song thất lục bỏt đầu tiờn?

Điều này hẳn cú cơ sở

Về mặt nguyờn tắc, khi đạt đến độ hoàn chỉnh thể loại,

một tỏc phẩm song thất lục bỏt dự ngắn hay dài cũng

được viết bằng sự tiếp nối cỏc khổ thơ gồm bốn cõu – hai

cõu bẩy chữ, một cõu sỏu chữ và một cõu tỏm chữ, nhưng

trong số 162 cõu thơ của tỏc phẩm, Hương Hải Thiền sư

khụng nhất nhất tuõn theo quy định mà thường như thuận

bỳt để viết Cú khi ụng xen thờm khỏ nhiều cõu thơ lục

bỏt vào sau mỗi khổ song thất lục bỏt hoàn chỉnh, cú khi

bỏ hẳn hai cõu thơ thất ngụn, chỉ viết hai cõu lục bỏt và cũng cú khi viết liền tới mấy cõu thất ngụn Chỳng tụi tạm gọi đú là những đoạn thơ lạc khổ, theo đú cú tới 14 lần tỏc giả khụng tuõn thủ đỳng quy định thể loại Sự đan cài giữa lục bỏt, thất ngụn và song thất lục bỏt khiến việc quy tỏc phẩm vào thể loại nào cũng cú vẻ như khụng ổn Tuy thế, chỳng tụi vẫn theo ý kiến của cỏc nhà nghiờn cứu Lờ

Mạnh Thỏt, Nguyễn Huệ Chi, xếp Sự lớ dung thụng vào

thể loại song thất lục bỏt, dự đứng về mặt thể thơ mà núi thỡ rừ ràng là khỏ lỏng lẻo Lớ do để nghiờng theo nhận định ấy là bởi theo chỳng tụi, tỏc phẩm ra đời vào khoảng cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XVIII, khi đú song thất lục bỏt vẫn cũn ở giai đoạn thử nghiệm, bản thõn thể thơ chưa thể thành một cấu trỳc ổn định như khi đạt tới đỉnh cao sau

đú Bờn cạnh đú, cú thể lớ giải căn nguyờn từ khớa cạnh nội dung tỏc phẩm, sự gũ ộp bởi quy định thể loại mờ đi

so với mục đớch chuyển tải giỏo lớ nhà Phật - điều cốt yếu

đạt được nờn hỡnh thức thể hiện đó bị sao nhóng chăng? Dẫu sao, ở giai đoạn song thất lục bỏt cũn đang trờn đường hỡnh thành, tỏc phẩm được đỏnh giỏ là một thành tựu chắc hẳn khụng thể là một ngoa ngụn

Như trờn đó núi, thế kỉ XVII – XVIII là giai đoạn tỡm tũi một lối thể hiện cho song thất lục bỏt, vỡ vậy mà nú chưa thể đạt đến độ ổn định cả về nội dung và hỡnh thức

nghệ thuật Hàng loạt cỏc sỏng tỏc như Thiờn Nam minh

giỏm (khuyết danh), Hà Tiờn quốc õm thập vịnh của Mạc

Thiờn Tớch… đều cú những nột khỏc biệt, hay núi khỏc đi

là chưa thể hoàn chỉnh như cỏc đỉnh cao của thể loại sau

này Sự lớ dung thụng cũng vậy Sự khấp khểnh của

những bước thể nghiệm ban đầu thể hiện rừ ở thanh điệu

và lối gieo vần trong cỏc khổ thơ song thất lục bỏt

Về cơ bản, một khổ song thất lục bỏt cần tuõn thủ niờm luật sau:

Cõu thất 1 x x trắc x bằng x trắc

Cõu thất 2 x x bằng x trắc x bằng

Cõu lục x bằng x trắc x bằng

Cõu bỏt x bằng x trắc x bằng x bằng

Ba vị trớ được quy định chặt chẽ về niờm luật

là từ thứ ba, thứ năm và thứ bẩy của cõu thất

Cỏc vị trớ thứ tư, sỏu, tỏm của cõu lục và cõu bỏt

cũng nhất thiết phải theo bằng trắc cố định, riờng

từ thứ hai cú thể khụng bú buộc bằng hay trắc

Tuy nhiờn, ở một kiểu cấu trỳc khỏc thỡ từ thứ ba

cõu thất thứ nhất cũng cú thể là vần bằng

Trường hợp này khụng phổ biến như cấu trỳc

niờm luật trờn Sự lớ dung thụng thuộc về dạng cấu trỳc

niờm luật hiếm gặp hơn

Trong 22 khổ song thất lục bỏt hoàn chỉnh, Hương Hải Thiền sư đó tuõn thủ tuyệt đối theo kiểu cấu trỳc này,

dự mỗi khổ thơ thiếu đi một chỳt cõn xứng do chữ thứ ba khụng đối nhau từng đụi một theo luật bằng – trắc như chữ thứ năm và thứ bẩy nhưng đõy rừ ràng là một lựa chọn cú chủ ý của tỏc giả Trường hợp này giống với một

Trang 3

Số 3 (197)-2012 ngôn ngữ & đời sống 47

vài khổ thơ trong Cung oỏn ngõm khỳc của Nguyễn Gia

Thiều, hay Chinh phụ ngõm (bản dịch) Như vậy, khú cú

thể núi tỏc giả viết song thất lục bỏt khụng đỳng quy định,

vấn đề chỉ là tỏc giả viết khỏc cỏch so với quy tắc niờm

luật phổ biến mà thụi

Năm 1995, trong cuốn Tư tưởng phương Đụng gợi

những điểm nhỡn tham chiếu khi bàn về “quõn thế” (thế

quõn bằng), Giỏo sư Cao Xuõn Huy nhấn mạnh: “Về thơ

ca, thỡ quõn thế biểu hiện trong niờm luật lục bỏt thật là

bằng phẳng, khụng gỡ lật đổ được, khỏc với quõn thế của

thơ Đường 5 chữ, 7 chữ cú khi rất chờnh vờnh nguy

hiểm Song thất lục bỏt là một thể thơ đặt vững cỏi thế

chờnh vờnh của thơ Đường trờn cỏi nền bằng phẳng của

lục bỏt” Xuất phỏt từ những cõu chữ rất hiếm hoi về thể

song thất lục bỏt ấy của Giỏo sư Cao Xuõn Huy, nhà

nghiờn cứu Lại Văn Hựng trong bài viết “Một kiến giải

độc đỏo về thơ” (in trong Giỏo sư Cao Xuõn Huy người

thày, nhà tư tưởng) đó đi vào tỡm hiểu cụ thể về quõn thế

thơ Đường và thơ lục bỏt, từ đú soi chiếu vào song thất

lục bỏt để đi đến kết luận: “Người Việt đó làm cho hai cõu

thơ bẩy chữ của Đường thi thành chờnh vờnh, và cũng

chớnh người Việt lại đặt vững cho sự chờnh vờnh ấy bằng

cỏi chõn đế lục bỏt! Quõn thế ở hai cõu thất càng mất đi

bao nhiờu thỡ nú lại càng được bự đắp lại ở hai cõu lục bỏt

vỡ ở hai cõu lục bỏt vần cuối cõu lục bao giờ cũng vận với

chữ thứ sỏu cõu bỏt và luụn bằng Thờm nữa vần cuối của

cõu bỏt lại vần với chữ thứ ba, hoặc năm của cõu thất tiếp

theo Do vậy, quõn thế Đường thi là đúng kớn, gọn chắc

thỡ quõn thế song thất lục bỏt là mở thoỏng, uyển chuyển

Khụng ai thờm được một cõu nào vào bài Đường thi cũn

song thất lục bỏt thỡ cú thể kộo dài mói được” Đứng từ

gúc độ quõn thế song thất lục bỏt thỡ Sự lý dung thụng của

Hương Hải Thiền sư quả thật đó đạt đến độ chuẩn mực

Núi như Bựi Văn Nguyờn, Hà Minh Đức trong Thơ ca

Việt Nam – Hỡnh thức và thể loại: “Vần chõn hay vần

lưng tuy cú khỏc nhau về vị trớ trong cõu thơ, nhưng đều

cú một chức năng là lặp lại ngữ õm, để làm tăng sự nhịp

nhàng của cõu thơ và để mạch thơ gắn chặt với nhau,

dũng này chuyển sang dũng khỏc, ý này nối với ý kia…”

thỡ rừ ràng lối gieo vần trong tỏc phẩm thật sự uyển

chuyển, nhịp nhàng Vần chõn cõu lục luụn là vần bằng,

luụn bắt vần với chữ thứ sỏu cõu bỏt và vần chõn của cõu

bỏt luụn bắt vần với chữ thứ ba cõu thất tiếp theo Tuy

nhiờn sự chuẩn mực mà chỳng tụi khẳng định là so với

giai đoạn đầu của thể loại Bởi lối bắt vần từ vần chõn cõu

bỏt với vần lưng ở chữ thứ năm cõu thất tiếp theo mới là

lối bắt vần phổ biến hơn của song thất lục bỏt khi đó đạt

đến độ chớn muồi Trong Sự lý dung thụng lối bắt vần này

chỉ xuất hiện một lần:

Đạo thỡ dưỡng khớ an thần, Thuốc trừ tà bệnh chuyờn cần luyện đan Thớch độ nhõn miễn tam đồ khổ…

Điều đú cho thấy lối bắt vần của Hương Hải Thiền

sư so với cỏc tỏc phẩm đỉnh cao sau này cú chỳt khỏc cỏch, nhưng lại khụng phải là trường hợp hiếm gặp Nú

từng xuất hiện trong Bồ đề thắng cảnh thi (tương truyền

của Lờ Thỏnh Tụng), Thiờn Nam minh giỏm (khuyết

danh)… Cỏc tỏc phẩm này cũng như Sự lớ dung thụng

đều được giới nghiờn cứu thống nhất xếp vào giai đoạn

thể thơ song thất lục bỏt “đang trờn đường hỡnh thành”

(chữ dựng của Phan Ngọc), do đú sự khỏc cỏch là điều cú thể hiểu được

4 Ngụn ngữ nghệ thuật

Sẽ thật thiếu cụng bằng khi đặt tỏc phẩm vào thế so sỏnh với những đỉnh cao của thể loại, chỳng tụi muốn nhấn mạnh rằng, khi ở vào đỳng vị trớ của một trong

những viờn gạch đầu tiờn xõy dựng lối thơ dõn tộc, Sự lớ dung thụng hoàn toàn xứng đỏng được đỏnh giỏ cao Một trong những phương diện thành cụng của tỏc phẩm là nghệ thuật sử dụng ngụn ngữ mà nhà nghiờn cứu Lờ Mạnh Thỏt từng khụng tiếc lời ca ngợi: “đõy là một bài thơ hay, lời lẽ điờu luyện, hỡnh tượng hấp dẫn”

Trước hết, hệ thống ngụn ngữ thuần Việt, đặc biệt là

lớp từ lỏy đó được Hương Hải Thiền sư sử dụng khỏ linh

hoạt Chỳng tụi thống kờ số lần sử dụng từ lỏy là 12/162 cõu thơ, trong đú từ “làu làu” lặp lại bốn lần, từ “vằng vặc” lặp lại ba lần, cũn lại là cỏc từ “đầm ấm”, “đinh ninh”, “dửng dưng”, “phất phất”, “sửa sang” Tuy số lượng từ lỏy cũn chiếm một tỉ lệ khiờm tốn, song nú cho thấy sự sỏng tạo tõm huyết của tỏc giả bởi chỳng đều rất

đậm chất dõn tộc, cú sức gợi tả cao Sở dĩ khẳng định như

vậy là vỡ căn cứ vào văn bản tỏc phẩm, Sự lý dung thụng

mang đặc thự của cỏc sỏng tỏc bằng chữ Nụm đương thời, đú là số lượng từ Hỏn Việt và những từ cổ vẫn chiếm ưu thế Giữa một bài thơ dài, dày đặc kiểu ngụn ngữ trang trọng, việc xen vào cỏc từ lỏy cú ý nghĩa như một sự điểm xuyết để cõn bằng cảm xỳc thẩm mĩ cho cõu thơ

Bờn cạnh đú, nghệ thuật sử dụng điển cố cũng chứng

tỏ tài năng của Hương Hải Thiền sư Hệ thống điển cố được sử dụng rất phong phỳ, linh hoạt, trong đú bao gồm cỏc điển thuộc thư tịch cổ Trung Hoa, đặc biệt là điển cố

từ kinh, luật, luận, cỏc cụng ỏn, cỏc truyện, kớ Phật giỏo, v.v

Trang 4

ngôn ngữ & đời sống số 3 (197)-2012

48

Chỳng ta đều biết, sử dụng điển cố là một biện phỏp

nghệ thuật quen thuộc trong văn học trung đại, thụng qua

đú thể hiện được trớ tuệ, tri thức, tài năng của người cầm

bỳt Những chuyện xưa, tớch cũ, những tư tưởng, hỡnh

tượng tiờu biểu trong quỏ khứ được diễn đạt bằng những

từ ngữ ngắn gọn, hàm sỳc sao cho ý tưởng nghệ thuật,

tỡnh cảm của tỏc giả được bộc lộ Sự lớ dung thụng đầy

ắp điển cố với nhiều hỡnh thức thể hiện khỏc nhau

Cú khi tỏc giả dựng cỏc địa danh để làm thành điển

Chẳng hạn cỏc địa danh Đụng Độ là nơi khai sinh ra

dũng thiền của cỏc Tổ như Tuệ Khả, Huệ Năng; Tõy

Thiờn là nơi Phật Thớch Ca ra đời:

Tỏ lũng Đụng Độ Tõy Thiờn

Gần xa đầm ấm hương thiền nức xụng…

Hoặc địa danh Tào Khờ, tờn một con suối ở phủ

Thiều Chõu nơi Lục tổ Huệ Năng lấy làm trung tõm cho

dũng Thiền Tụng:

Hóy nhỡn sỏu tổ năm tụng

Thiền hà muụn phỏi một dũng Tào Khờ.

Cú khi tỏc giả lấy ý cõu núi của một nhõn vật lịch sử

để làm thành điển Chẳng hạn, cõu chuyện đối đỏp của

Mạnh Tử với Tề Tuyờn Vương Khi nhà vua hỏi:

“Khụng chịu làm với khụng đủ sức làm, sự thể khỏc nhau

ra sao?” Mạnh Tử trả lời: “Như việc kẹp nỳi Thỏi Sơn mà

nhảy qua biển Bắc, và bảo người ta rằng: “Tụi khụng làm

nổi” thỡ quả thực là khụng làm nổi Cũn như việc bẻ một

cành cõy cho bậc trưởng thượng, và bảo người ta rằng:

“Tụi khụng làm nổi”, thỡ chỉ là khụng chịu làm chứ

khụng phải là khụng làm nổi”… Hương Hải thiền sư đó

gúi gọn ý đú trong cõu thơ: “Kẹp non nhảy bể mới tài”

để chỉ những việc khú làm, vượt bến tới bờ bờn kia để

đạt tới ba giải thoỏt là khụng, vụ tướng và vụ nguyện

Cú khi tỏc giả dịch lại ý thơ để làm thành điển Hai

cõu thơ của Trần Nhõn Tụng: “Nhất phiến bạch võn

hoành cốc khẩu - Kớ đa quy điểu tận mờ sào” được viết

lại thành:

Bao nhiờu chim bay về lạc tổ

Mõy che ngoài ngỡ ổ hang xưa

Hoặc, lấy ý từ bài thơ truyền phỏp của Bồ Đề Đạt

Ma cho Tuệ Khả Bài thơ bốn cõu được diễn đạt ý thành

một cõu ngắn gọn: “Trồng bồ đề kết quả tự nhiờn”, với

hàm ý chớ chỉ thiền tụng phỏt triển thành cụng

Cú khi tỏc giả tạo điển từ cỏc cụng ỏn thiền Chẳng

hạn, điển “nờ ngưu – trõu đất” chỉ con trõu làm bằng đất

bựn, đi vào biển khụng để lại dấu vết Tỏc giả viết: “Nờ

ngưu vào bể rộng sõu khụn tỡm” Cỏch viết vừa dụng

điển vừa diễn giải như vậy khiến người đọc dễ dàng tiếp

cận và hiểu về điển cố mà khụng mất nhiều cụng tra cứu

Cú khi đú lại rỳt gọn rỳt gọn ý từ cỏc kinh điển

Cõu “Cỳng mười phương một vị chẳng dư” lấy ý từ cõu trong kinh A Hàm: “Như nước biển chỉ cú một vị mặn, giỏo phỏp của Phật cũng chỉ cú một vị là giải thoỏt

Lại cú khi điển cố là một tớch truyện của nhà Phật Chẳng hạn, cõu chuyện khỏ dài về vị tiờn Sàn

Đề bị vua Ca Ly chửi mắng và cắt hết chõn tay được

diễn đạt ngắn gọn chỉ trong một cõu thơ: “Dự chờ cười hương đồ dao cắt” để diễn đạt sự nhẫn nhục chịu đựng của người tu thiền

Như vậy, cú thể thấy hầu hết cỏc hỡnh thức xõy dựng điển cố trong nghệ thuật văn chương thời trung đại đó cú mặt trong tỏc phẩm Thực tế, đối với người đọc hiện đại, để hiểu được khụng hề đơn giản song điều đú lại chứng minh trớ tuệ uyờn thõm và tài năng của tỏc giả Tài năng ấy đó được sử dụng cho một cụng việc thật sự cú ý nghĩa

5 Kết luận

Sau khi xem xột nội dung, thể loại, ngụn ngữ nghệ

thuật, hoàn toàn cú thể khẳng định Sự lớ dung thụng

xứng đỏng được xếp một vị trớ trang trọng trong dũng văn học Phật giỏo Việt Nam Tỏc phẩm đó khụng chỉ dừng ở việc diễn giải tư tưởng Phật giỏo mà cũn đạt đến những thành tựu nhất định trong nghệ thuật ngụn từ

Tài liệu tham khảo

1 Lờ Quý Đụn (2007), Kiến văn tiểu lục NXB Văn

húa Thụng tin

2 Lại Văn Hựng (1992), Trờn đường nhận diện gương

mặt tư tưởng Hương Hải Thiền sư – Tạp chớ Văn học, số 4

3 Cao Xuõn Huy (1995), Tư tưởng phương Đụng gợi

những điểm nhỡn tham chiếu – NXB Văn học

4 Nguyễn Lang (2000), Việt Nam phật giỏo sử luận,

tập 1,2,3 NXB Văn học

5 Tiểu Tỳc Lờ Minh (2010), Những điển tớch Phật

giỏo kỡ thỳ NXB Chớnh trị Quốc gia

6 Nhiều tỏc giả (2001), Giỏo sư Cao Xuõn Huy người

thày, nhà tư tưởng NXB Văn húa - Thụng tin

7 Nhiều tỏc giả (2003), Thơ ca Việt Nam – Hỡnh thức và

thể loại – NXB ĐHQG Hà Nội

8 Lờ Mạnh Thỏt (2000), Toàn tập Minh Chõu Hương

Hải NXB TP Hồ Chớ Minh

9 Lờ Mạnh Thỏt (2002), Tổng tập văn học Phật giỏo

Việt Nam NXB TP Hồ Chớ Minh

(Ban Biên tập nhận bài ngày 15-01-2012)

Ngày đăng: 14/05/2021, 17:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w