Nội dung bài viết Ngôn ngữ thơ Nôm trong tác phẩm Sự lí dung thông của Hương Hải thiền sư trình bày về sự nghiệp Việt hóa tư tưởng Phật giáo bằng cách diễn giải các kinh kệ ra chữ Nôm của nhà sư, tiêu biểu la tác phẩm Sự lí dung thông. Mời các bạn tham khảo.
Trang 1Số 3 (197)-2012 ngôn ngữ & đời sống 45
Ngôn ngữ với văn chương
Ngôn ngữ thơ nôm trong tác phẩm "sự lí dung thông" của hương hải thiền sư
Poetic language Nom in work
"Su li dung thong" by Huong Hai monk
Nguyễn thị việt hằng
(NCS, Đại học Sư phạm Hà Nội 2 )
Abstract
Su li dung thong was composed by Huong Hai Thien Su in about late 17th century early 18th century In spite of
having high artistic value, Su li dung thong has not been still explored thorough Through researching carefully content
of work, using “song that luc bat” versification and Nom language, the article's author indicates the success of the art of
the work From these bases, we confirmed Su li dung thong is a great worth Buddhist literary work in Vietnamese
literature in medieval
1 Mở đầu
Phật giỏo Việt Nam giai đoạn thế kỉ XVII – XVIII
khụng giữ được vị thế trờn vũ đài chớnh trị như thời Lý -
Trần do nhà nước cầm quyền đương thời chỳ trọng đến
vai trũ của Nho giỏo trong trị quốc, song trong dõn gian
tụng giỏo này vẫn cú một sức sống mạnh mẽ Một trong
những người gúp cụng làm nờn sức sống ấy là Thiền sư
Hương Hải ễng đó khụng chỉ xõy dựng nờn “một dũng
thiền phỏt triển rầm rộ” (Lờ Mạnh Thỏt) mà cũn dành
nhiều tõm huyết cho sự nghiệp Việt húa tư tưởng Phật
giỏo bằng cỏch diễn giải cỏc kinh kệ ra chữ Nụm Sự lớ
dung thụng là một tỏc phẩm tiờu biểu
Năm 1992, trong bài “Trờn đường nhận diện gương
mặt tư tưởng Hương Hải Thiền sư” đăng trờn Tạp chớ
Văn học - số 4, nhà nghiờn cứu Lại Văn Hựng nhận định:
“Nếu kể đến những người cú cụng phục hưng Phật giỏo
Việt Nam trong giai đoạn thế kỉ XVII - XVIII, thỡ khụng
thể khụng nhắc đến một nhõn vật nổi tiếng là Thiền sư
Hương Hải Nhưng lạ thay, việc nghiờn cứu về ụng lại
quỏ ớt ỏi” Đến thời điểm hiện nay, bờn cạnh Kiến văn tiểu
lục của Lờ Quý Đụn, Đại Nam nhất thống chớ của Quốc
sử quỏn nhà Nguyễn, Việt Nam Phật giỏo sử luận của
Nguyễn Lang, cỏc bài nghiờn cứu của Lại Văn Hựng, đó
xuất hiện thờm Toàn tập Minh Chõu Hương Hải của Lờ
Mạnh Thỏt Tuy nhiờn, cỏc cụng trỡnh trờn đều nghiờn
cứu tỏc giả, tỏc phẩm ở mức độ khỏi quỏt Nhận thấy một
khoảng khụng gian mở cho nghiờn cứu, chỳng tụi đi vào
tỡm hiểu ngụn ngữ thơ Nụm trong tỏc phẩm Sự lớ dung thụng của Hương Hải Thiền sư
2 Khỏi quỏt nội dung tỏc phẩm
Đỳng như nhan đề, Sự lý dung thụng là lớ thuyết và
thực tiễn thụng suốt, nội dung tỏc phẩm xoay quanh giỏo
lớ Phật giỏo được diễn giải theo quan niệm riờng của tỏc giả Mở đầu, với giọng điệu ngợi ca, Hương Hải Thiền sư giới thiệu về tu thiền, nhấn mạnh trớ tuệ tu thiền như mặt trời, khi đó cú trớ tuệ ấy chiếu soi thỡ mọi vật đều sỏng rừ
và kết quả tu thiền sẽ đến tự nhiờn, con người được giải thoỏt để từ đú thể hiện lũng từ bi cứu giỳp mọi người Tiếp đến, tỏc giả trỡnh bày về lớ thuyết và thực tiễn của đời sống tu thiền Việt Nam ễng cho rằng, mặt lớ thuyết, người tu thiền Việt Nam theo quan niệm “phỏp nhẫn vụ sinh”, sống theo thực tế một cỏch tự nhiờn, tu thiền khụng nằm ngoài cuộc sống Đú là sự nối tiếp quan niệm “cư trần lạc đạo - sống ở đời mà vui đạo” từ thời Trần Nhõn Tụng, bởi vậy mà khụng gạt bỏ vai trũ của Đạo giỏo, Nho giỏo, Hương Hải Thiền sư nhấn mạnh:
Nho dựng tam cương ngũ thường Đạo gỡn ngũ khớ giữ giàng ba nguyờn Thớch giỏo nhõn tam quy ngũ giới Thể một đường xe phải dựng ba
Trong thực tiễn tu hành thỡ Phật tử phải “lớ hiểu tường
sự giữ niệm tu ”, phải “rốn giới hạnh cụng phu” để: Dốc làm chớ cả trượng phu,
Trang 2ngôn ngữ & đời sống số 3 (197)-2012
46
Đạo nờn trung hiếu, õn thự vẹn hai
Là người “nhập Nho quy Thớch”, dễ hiểu vỡ sao
Hương Hải lại nhấn mạnh rằng đời sống tu thiền cũng
phải là một đời sống trung hiếu của đấng trượng phu
Phần kết tỏc phẩm là một lời nhắn nhủ những người tu
thiền cố gắng tiến tu để mở mang, chấn hưng sự nghiệp
Phật giỏo nước nhà:
Trong nơi giềng mối sửa sang
Răn khuyờn hậu học mở đường tiến tu
Quy mụ Phật phỏp khuụng phự
Để làm minh cảnh muụn thu dừi truyền
3 Thể thơ
Nhà nghiờn cứu Lờ Mạnh Thỏt cho rằng, tỏc phẩm cú
thể được sỏng tỏc vào thời gian trước hoặc sau năm 1700
khụng lõu và “đứng vào hàng những bài thơ song thất lục
bỏt đầu tiờn của dõn tộc, mở đầu cho những danh tỏc về
sau…” Nguyễn Huệ Chi trong Từ điển văn học cũng
xếp tỏc phẩm vào hàng “những bài thơ song thất lục bỏt
đầu tiờn trong văn học dõn tộc” Khi xem xột, cú thể thấy
khỏ rừ ràng sự thiếu nhuần nhuyễn của Sự lớ dung thụng
so với những đỉnh cao của thể loại sau này như Chinh
phụ ngõm khỳc (bản dịch), Cung oỏn ngõm khỳc của
Nguyễn Gia Thiều, Văn chiờu hồn của Nguyễn Du…
Vậy tại sao hầu hết cỏc nhà nghiờn cứu lại nhận định đõy
là một trong những bài thơ song thất lục bỏt đầu tiờn?
Điều này hẳn cú cơ sở
Về mặt nguyờn tắc, khi đạt đến độ hoàn chỉnh thể loại,
một tỏc phẩm song thất lục bỏt dự ngắn hay dài cũng
được viết bằng sự tiếp nối cỏc khổ thơ gồm bốn cõu – hai
cõu bẩy chữ, một cõu sỏu chữ và một cõu tỏm chữ, nhưng
trong số 162 cõu thơ của tỏc phẩm, Hương Hải Thiền sư
khụng nhất nhất tuõn theo quy định mà thường như thuận
bỳt để viết Cú khi ụng xen thờm khỏ nhiều cõu thơ lục
bỏt vào sau mỗi khổ song thất lục bỏt hoàn chỉnh, cú khi
bỏ hẳn hai cõu thơ thất ngụn, chỉ viết hai cõu lục bỏt và cũng cú khi viết liền tới mấy cõu thất ngụn Chỳng tụi tạm gọi đú là những đoạn thơ lạc khổ, theo đú cú tới 14 lần tỏc giả khụng tuõn thủ đỳng quy định thể loại Sự đan cài giữa lục bỏt, thất ngụn và song thất lục bỏt khiến việc quy tỏc phẩm vào thể loại nào cũng cú vẻ như khụng ổn Tuy thế, chỳng tụi vẫn theo ý kiến của cỏc nhà nghiờn cứu Lờ
Mạnh Thỏt, Nguyễn Huệ Chi, xếp Sự lớ dung thụng vào
thể loại song thất lục bỏt, dự đứng về mặt thể thơ mà núi thỡ rừ ràng là khỏ lỏng lẻo Lớ do để nghiờng theo nhận định ấy là bởi theo chỳng tụi, tỏc phẩm ra đời vào khoảng cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XVIII, khi đú song thất lục bỏt vẫn cũn ở giai đoạn thử nghiệm, bản thõn thể thơ chưa thể thành một cấu trỳc ổn định như khi đạt tới đỉnh cao sau
đú Bờn cạnh đú, cú thể lớ giải căn nguyờn từ khớa cạnh nội dung tỏc phẩm, sự gũ ộp bởi quy định thể loại mờ đi
so với mục đớch chuyển tải giỏo lớ nhà Phật - điều cốt yếu
đạt được nờn hỡnh thức thể hiện đó bị sao nhóng chăng? Dẫu sao, ở giai đoạn song thất lục bỏt cũn đang trờn đường hỡnh thành, tỏc phẩm được đỏnh giỏ là một thành tựu chắc hẳn khụng thể là một ngoa ngụn
Như trờn đó núi, thế kỉ XVII – XVIII là giai đoạn tỡm tũi một lối thể hiện cho song thất lục bỏt, vỡ vậy mà nú chưa thể đạt đến độ ổn định cả về nội dung và hỡnh thức
nghệ thuật Hàng loạt cỏc sỏng tỏc như Thiờn Nam minh
giỏm (khuyết danh), Hà Tiờn quốc õm thập vịnh của Mạc
Thiờn Tớch… đều cú những nột khỏc biệt, hay núi khỏc đi
là chưa thể hoàn chỉnh như cỏc đỉnh cao của thể loại sau
này Sự lớ dung thụng cũng vậy Sự khấp khểnh của
những bước thể nghiệm ban đầu thể hiện rừ ở thanh điệu
và lối gieo vần trong cỏc khổ thơ song thất lục bỏt
Về cơ bản, một khổ song thất lục bỏt cần tuõn thủ niờm luật sau:
Cõu thất 1 x x trắc x bằng x trắc
Cõu thất 2 x x bằng x trắc x bằng
Cõu lục x bằng x trắc x bằng
Cõu bỏt x bằng x trắc x bằng x bằng
Ba vị trớ được quy định chặt chẽ về niờm luật
là từ thứ ba, thứ năm và thứ bẩy của cõu thất
Cỏc vị trớ thứ tư, sỏu, tỏm của cõu lục và cõu bỏt
cũng nhất thiết phải theo bằng trắc cố định, riờng
từ thứ hai cú thể khụng bú buộc bằng hay trắc
Tuy nhiờn, ở một kiểu cấu trỳc khỏc thỡ từ thứ ba
cõu thất thứ nhất cũng cú thể là vần bằng
Trường hợp này khụng phổ biến như cấu trỳc
niờm luật trờn Sự lớ dung thụng thuộc về dạng cấu trỳc
niờm luật hiếm gặp hơn
Trong 22 khổ song thất lục bỏt hoàn chỉnh, Hương Hải Thiền sư đó tuõn thủ tuyệt đối theo kiểu cấu trỳc này,
dự mỗi khổ thơ thiếu đi một chỳt cõn xứng do chữ thứ ba khụng đối nhau từng đụi một theo luật bằng – trắc như chữ thứ năm và thứ bẩy nhưng đõy rừ ràng là một lựa chọn cú chủ ý của tỏc giả Trường hợp này giống với một
Trang 3Số 3 (197)-2012 ngôn ngữ & đời sống 47
vài khổ thơ trong Cung oỏn ngõm khỳc của Nguyễn Gia
Thiều, hay Chinh phụ ngõm (bản dịch) Như vậy, khú cú
thể núi tỏc giả viết song thất lục bỏt khụng đỳng quy định,
vấn đề chỉ là tỏc giả viết khỏc cỏch so với quy tắc niờm
luật phổ biến mà thụi
Năm 1995, trong cuốn Tư tưởng phương Đụng gợi
những điểm nhỡn tham chiếu khi bàn về “quõn thế” (thế
quõn bằng), Giỏo sư Cao Xuõn Huy nhấn mạnh: “Về thơ
ca, thỡ quõn thế biểu hiện trong niờm luật lục bỏt thật là
bằng phẳng, khụng gỡ lật đổ được, khỏc với quõn thế của
thơ Đường 5 chữ, 7 chữ cú khi rất chờnh vờnh nguy
hiểm Song thất lục bỏt là một thể thơ đặt vững cỏi thế
chờnh vờnh của thơ Đường trờn cỏi nền bằng phẳng của
lục bỏt” Xuất phỏt từ những cõu chữ rất hiếm hoi về thể
song thất lục bỏt ấy của Giỏo sư Cao Xuõn Huy, nhà
nghiờn cứu Lại Văn Hựng trong bài viết “Một kiến giải
độc đỏo về thơ” (in trong Giỏo sư Cao Xuõn Huy người
thày, nhà tư tưởng) đó đi vào tỡm hiểu cụ thể về quõn thế
thơ Đường và thơ lục bỏt, từ đú soi chiếu vào song thất
lục bỏt để đi đến kết luận: “Người Việt đó làm cho hai cõu
thơ bẩy chữ của Đường thi thành chờnh vờnh, và cũng
chớnh người Việt lại đặt vững cho sự chờnh vờnh ấy bằng
cỏi chõn đế lục bỏt! Quõn thế ở hai cõu thất càng mất đi
bao nhiờu thỡ nú lại càng được bự đắp lại ở hai cõu lục bỏt
vỡ ở hai cõu lục bỏt vần cuối cõu lục bao giờ cũng vận với
chữ thứ sỏu cõu bỏt và luụn bằng Thờm nữa vần cuối của
cõu bỏt lại vần với chữ thứ ba, hoặc năm của cõu thất tiếp
theo Do vậy, quõn thế Đường thi là đúng kớn, gọn chắc
thỡ quõn thế song thất lục bỏt là mở thoỏng, uyển chuyển
Khụng ai thờm được một cõu nào vào bài Đường thi cũn
song thất lục bỏt thỡ cú thể kộo dài mói được” Đứng từ
gúc độ quõn thế song thất lục bỏt thỡ Sự lý dung thụng của
Hương Hải Thiền sư quả thật đó đạt đến độ chuẩn mực
Núi như Bựi Văn Nguyờn, Hà Minh Đức trong Thơ ca
Việt Nam – Hỡnh thức và thể loại: “Vần chõn hay vần
lưng tuy cú khỏc nhau về vị trớ trong cõu thơ, nhưng đều
cú một chức năng là lặp lại ngữ õm, để làm tăng sự nhịp
nhàng của cõu thơ và để mạch thơ gắn chặt với nhau,
dũng này chuyển sang dũng khỏc, ý này nối với ý kia…”
thỡ rừ ràng lối gieo vần trong tỏc phẩm thật sự uyển
chuyển, nhịp nhàng Vần chõn cõu lục luụn là vần bằng,
luụn bắt vần với chữ thứ sỏu cõu bỏt và vần chõn của cõu
bỏt luụn bắt vần với chữ thứ ba cõu thất tiếp theo Tuy
nhiờn sự chuẩn mực mà chỳng tụi khẳng định là so với
giai đoạn đầu của thể loại Bởi lối bắt vần từ vần chõn cõu
bỏt với vần lưng ở chữ thứ năm cõu thất tiếp theo mới là
lối bắt vần phổ biến hơn của song thất lục bỏt khi đó đạt
đến độ chớn muồi Trong Sự lý dung thụng lối bắt vần này
chỉ xuất hiện một lần:
Đạo thỡ dưỡng khớ an thần, Thuốc trừ tà bệnh chuyờn cần luyện đan Thớch độ nhõn miễn tam đồ khổ…
Điều đú cho thấy lối bắt vần của Hương Hải Thiền
sư so với cỏc tỏc phẩm đỉnh cao sau này cú chỳt khỏc cỏch, nhưng lại khụng phải là trường hợp hiếm gặp Nú
từng xuất hiện trong Bồ đề thắng cảnh thi (tương truyền
của Lờ Thỏnh Tụng), Thiờn Nam minh giỏm (khuyết
danh)… Cỏc tỏc phẩm này cũng như Sự lớ dung thụng
đều được giới nghiờn cứu thống nhất xếp vào giai đoạn
thể thơ song thất lục bỏt “đang trờn đường hỡnh thành”
(chữ dựng của Phan Ngọc), do đú sự khỏc cỏch là điều cú thể hiểu được
4 Ngụn ngữ nghệ thuật
Sẽ thật thiếu cụng bằng khi đặt tỏc phẩm vào thế so sỏnh với những đỉnh cao của thể loại, chỳng tụi muốn nhấn mạnh rằng, khi ở vào đỳng vị trớ của một trong
những viờn gạch đầu tiờn xõy dựng lối thơ dõn tộc, Sự lớ dung thụng hoàn toàn xứng đỏng được đỏnh giỏ cao Một trong những phương diện thành cụng của tỏc phẩm là nghệ thuật sử dụng ngụn ngữ mà nhà nghiờn cứu Lờ Mạnh Thỏt từng khụng tiếc lời ca ngợi: “đõy là một bài thơ hay, lời lẽ điờu luyện, hỡnh tượng hấp dẫn”
Trước hết, hệ thống ngụn ngữ thuần Việt, đặc biệt là
lớp từ lỏy đó được Hương Hải Thiền sư sử dụng khỏ linh
hoạt Chỳng tụi thống kờ số lần sử dụng từ lỏy là 12/162 cõu thơ, trong đú từ “làu làu” lặp lại bốn lần, từ “vằng vặc” lặp lại ba lần, cũn lại là cỏc từ “đầm ấm”, “đinh ninh”, “dửng dưng”, “phất phất”, “sửa sang” Tuy số lượng từ lỏy cũn chiếm một tỉ lệ khiờm tốn, song nú cho thấy sự sỏng tạo tõm huyết của tỏc giả bởi chỳng đều rất
đậm chất dõn tộc, cú sức gợi tả cao Sở dĩ khẳng định như
vậy là vỡ căn cứ vào văn bản tỏc phẩm, Sự lý dung thụng
mang đặc thự của cỏc sỏng tỏc bằng chữ Nụm đương thời, đú là số lượng từ Hỏn Việt và những từ cổ vẫn chiếm ưu thế Giữa một bài thơ dài, dày đặc kiểu ngụn ngữ trang trọng, việc xen vào cỏc từ lỏy cú ý nghĩa như một sự điểm xuyết để cõn bằng cảm xỳc thẩm mĩ cho cõu thơ
Bờn cạnh đú, nghệ thuật sử dụng điển cố cũng chứng
tỏ tài năng của Hương Hải Thiền sư Hệ thống điển cố được sử dụng rất phong phỳ, linh hoạt, trong đú bao gồm cỏc điển thuộc thư tịch cổ Trung Hoa, đặc biệt là điển cố
từ kinh, luật, luận, cỏc cụng ỏn, cỏc truyện, kớ Phật giỏo, v.v
Trang 4ngôn ngữ & đời sống số 3 (197)-2012
48
Chỳng ta đều biết, sử dụng điển cố là một biện phỏp
nghệ thuật quen thuộc trong văn học trung đại, thụng qua
đú thể hiện được trớ tuệ, tri thức, tài năng của người cầm
bỳt Những chuyện xưa, tớch cũ, những tư tưởng, hỡnh
tượng tiờu biểu trong quỏ khứ được diễn đạt bằng những
từ ngữ ngắn gọn, hàm sỳc sao cho ý tưởng nghệ thuật,
tỡnh cảm của tỏc giả được bộc lộ Sự lớ dung thụng đầy
ắp điển cố với nhiều hỡnh thức thể hiện khỏc nhau
Cú khi tỏc giả dựng cỏc địa danh để làm thành điển
Chẳng hạn cỏc địa danh Đụng Độ là nơi khai sinh ra
dũng thiền của cỏc Tổ như Tuệ Khả, Huệ Năng; Tõy
Thiờn là nơi Phật Thớch Ca ra đời:
Tỏ lũng Đụng Độ Tõy Thiờn
Gần xa đầm ấm hương thiền nức xụng…
Hoặc địa danh Tào Khờ, tờn một con suối ở phủ
Thiều Chõu nơi Lục tổ Huệ Năng lấy làm trung tõm cho
dũng Thiền Tụng:
Hóy nhỡn sỏu tổ năm tụng
Thiền hà muụn phỏi một dũng Tào Khờ.
Cú khi tỏc giả lấy ý cõu núi của một nhõn vật lịch sử
để làm thành điển Chẳng hạn, cõu chuyện đối đỏp của
Mạnh Tử với Tề Tuyờn Vương Khi nhà vua hỏi:
“Khụng chịu làm với khụng đủ sức làm, sự thể khỏc nhau
ra sao?” Mạnh Tử trả lời: “Như việc kẹp nỳi Thỏi Sơn mà
nhảy qua biển Bắc, và bảo người ta rằng: “Tụi khụng làm
nổi” thỡ quả thực là khụng làm nổi Cũn như việc bẻ một
cành cõy cho bậc trưởng thượng, và bảo người ta rằng:
“Tụi khụng làm nổi”, thỡ chỉ là khụng chịu làm chứ
khụng phải là khụng làm nổi”… Hương Hải thiền sư đó
gúi gọn ý đú trong cõu thơ: “Kẹp non nhảy bể mới tài”
để chỉ những việc khú làm, vượt bến tới bờ bờn kia để
đạt tới ba giải thoỏt là khụng, vụ tướng và vụ nguyện
Cú khi tỏc giả dịch lại ý thơ để làm thành điển Hai
cõu thơ của Trần Nhõn Tụng: “Nhất phiến bạch võn
hoành cốc khẩu - Kớ đa quy điểu tận mờ sào” được viết
lại thành:
Bao nhiờu chim bay về lạc tổ
Mõy che ngoài ngỡ ổ hang xưa
Hoặc, lấy ý từ bài thơ truyền phỏp của Bồ Đề Đạt
Ma cho Tuệ Khả Bài thơ bốn cõu được diễn đạt ý thành
một cõu ngắn gọn: “Trồng bồ đề kết quả tự nhiờn”, với
hàm ý chớ chỉ thiền tụng phỏt triển thành cụng
Cú khi tỏc giả tạo điển từ cỏc cụng ỏn thiền Chẳng
hạn, điển “nờ ngưu – trõu đất” chỉ con trõu làm bằng đất
bựn, đi vào biển khụng để lại dấu vết Tỏc giả viết: “Nờ
ngưu vào bể rộng sõu khụn tỡm” Cỏch viết vừa dụng
điển vừa diễn giải như vậy khiến người đọc dễ dàng tiếp
cận và hiểu về điển cố mà khụng mất nhiều cụng tra cứu
Cú khi đú lại rỳt gọn rỳt gọn ý từ cỏc kinh điển
Cõu “Cỳng mười phương một vị chẳng dư” lấy ý từ cõu trong kinh A Hàm: “Như nước biển chỉ cú một vị mặn, giỏo phỏp của Phật cũng chỉ cú một vị là giải thoỏt”
Lại cú khi điển cố là một tớch truyện của nhà Phật Chẳng hạn, cõu chuyện khỏ dài về vị tiờn Sàn
Đề bị vua Ca Ly chửi mắng và cắt hết chõn tay được
diễn đạt ngắn gọn chỉ trong một cõu thơ: “Dự chờ cười hương đồ dao cắt” để diễn đạt sự nhẫn nhục chịu đựng của người tu thiền
Như vậy, cú thể thấy hầu hết cỏc hỡnh thức xõy dựng điển cố trong nghệ thuật văn chương thời trung đại đó cú mặt trong tỏc phẩm Thực tế, đối với người đọc hiện đại, để hiểu được khụng hề đơn giản song điều đú lại chứng minh trớ tuệ uyờn thõm và tài năng của tỏc giả Tài năng ấy đó được sử dụng cho một cụng việc thật sự cú ý nghĩa
5 Kết luận
Sau khi xem xột nội dung, thể loại, ngụn ngữ nghệ
thuật, hoàn toàn cú thể khẳng định Sự lớ dung thụng
xứng đỏng được xếp một vị trớ trang trọng trong dũng văn học Phật giỏo Việt Nam Tỏc phẩm đó khụng chỉ dừng ở việc diễn giải tư tưởng Phật giỏo mà cũn đạt đến những thành tựu nhất định trong nghệ thuật ngụn từ
Tài liệu tham khảo
1 Lờ Quý Đụn (2007), Kiến văn tiểu lục NXB Văn
húa Thụng tin
2 Lại Văn Hựng (1992), Trờn đường nhận diện gương
mặt tư tưởng Hương Hải Thiền sư – Tạp chớ Văn học, số 4
3 Cao Xuõn Huy (1995), Tư tưởng phương Đụng gợi
những điểm nhỡn tham chiếu – NXB Văn học
4 Nguyễn Lang (2000), Việt Nam phật giỏo sử luận,
tập 1,2,3 NXB Văn học
5 Tiểu Tỳc Lờ Minh (2010), Những điển tớch Phật
giỏo kỡ thỳ NXB Chớnh trị Quốc gia
6 Nhiều tỏc giả (2001), Giỏo sư Cao Xuõn Huy người
thày, nhà tư tưởng NXB Văn húa - Thụng tin
7 Nhiều tỏc giả (2003), Thơ ca Việt Nam – Hỡnh thức và
thể loại – NXB ĐHQG Hà Nội
8 Lờ Mạnh Thỏt (2000), Toàn tập Minh Chõu Hương
Hải NXB TP Hồ Chớ Minh
9 Lờ Mạnh Thỏt (2002), Tổng tập văn học Phật giỏo
Việt Nam NXB TP Hồ Chớ Minh
(Ban Biên tập nhận bài ngày 15-01-2012)