1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bài thơ "Sơ hạ" của Chu An

2 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 2
Dung lượng 202,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài thơ “Sơ hạ” được ông Dương Quảng Hàm giới thiệu tr.233, sách “Việt Nam văn học sử yếu”, Nha học Chính Đông – Pháp, ấn hành năm 1941. Thi phẩm làm theo thể thất ngôn bát cú luật Đường. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

ngôn ngữ & đời sống số 8 (202)-2012

38

Ngôn ngữ với văn chương

Bài thơ ““““sơ hạ sơ hạ”””” của chu an của chu an của chu an

Dương văn khoa

(Hà Nội)

Sơ hạ

Chu An

Sơn vũ liờu liờu trỳ mộng hồi,

Nộn lương nhất tuyến khởi đỡnh mai

Yến tầm cố luỹ tương tương khứ;

Thiền yết tõn thanh lục tục lai

Điểm thuỷ khờ liờn vụ tục thỏi;

Xuất li trỳc duẩn bất phàm tài

Cứ ngụ tĩnh cực hoàn thành lón,

Án thượng tàn thư phong tự khai

Dịch nụm

Đầu mựa hố

Trại non chợt tỉnh giấc mựa hố,

Hơi mỏt đưa qua chiếc búng mai

Tỡm lối luỹ hoang xao xỏc yến;

Đầy đường tiếng mới nóo nựng ve

Nhấp nhụ sen nước xa mựi tục;

Ngay thẳng măng đồng ỏt giậu tre

Lặng dựa cành ngụ người tựa biếng,

Giú đõu giở sỏch ý khụn dố

(Đinh Văn Chấp dịch)

Đỡnh làng Thanh Liệt thờ ụng Chu An làm

Thành Hoàng cú ghi tiờn sinh ra đời năm Nhõm

Thỡn (1292)- mất năm Canh Tuất (1370), tự: Linh

Triệt, hiệu: Tiều Ẩn, người thụn Văn, xó Quang

Liệt, huyện Thanh Đàm nay là huyện Thanh Trỡ –

Hà Nội Đỗ Thỏi học sinh (Tiến sĩ) rồi về mở

trường dạy học Sinh đồ nhiều người thành đạt

giữ trọng trỏch ở Triều đỡnh như Phạm Sư Mạnh,

Lờ Quỏt, Chu An – cũn gọi Chu Văn An được

mời ra giữ chức Tư nghiệp trường Quốc Tử

Giỏm Đến đời vua Trần Dụ Tụng (1341-1400),

ụng dõng sớ xin chộm bẩy (7) gian thần (gọi là

thất trảm sớ) nhưng khụng được chấp nhận liền từ

chức về ở ẩn tại nỳi Phượng Hoàng làng Kiệt Đặc

huyện Chớ Linh Vua Trần Nghệ Tụng lờn ngụi

cú mời, nhưng ụng chỉ về kinh chỳc mừng rồi trở

lại làng cũ khụng nhận chức tước Khi mất, triều đỡnh truy tặng tước Văn Trỡnh Cụng ban tờn thuỵ Khỏnh tiết và thờ ở Văn Miếu

Bài thơ “Sơ hạ” được ụng Dương Quảng Hàm

giới thiệu tr.233, sỏch “Việt Nam văn học sử yếu”,

Nha học Chớnh Đụng – Phỏp, ấn hành năm 1941 Thi phẩm làm theo thể thất ngụn bỏt cỳ luật Đường

Khai thủ Tiến sĩ viết:

Sơn Vũ liờu liờu trỳ mộng hồi

Thoỏng đọc tưởng đõy là lời thể kớ sự - loại văn nghiờng về ghi chộp những hiện tượng, sự việc đang diễn trỡnh, nhưng nghĩ lại hoỏ ra nú là

cõu thơ trữ tỡnh mang yếu tố thế sự: Ban ngày hiờn đầu hồi yờn ắng thoỏng mộng bẩm quay về

Để hiểu rừ hơn về cõu chỳng ta đang quan tõm, thiết tưởng cũng nờn biết ý tưởng tỏc giả hạ cặp song thanh, điệp õm “liờu liờu”…

ễng Đinh Văn Chấp dịch ra Việt ngữ cõu thơ

đú là:

Trại non chợt tỉnh giấc mựa hố

Phải khẳng định lời dịch trờn đõy hay trước hết bởi sỏt ý nguyờn tỏc mà cũn sỏng tạo: hai tiếng

“Sơn Vũ” dịch là trại non vừa gợi nhớ hỡnh tự

nguyờn tỏc vừa sỏt nghĩa từ

Sang cõu hai, Chu An viết:

Nộn lương nhất tuyến khởi đỡnh mai

Cú thể hiểu thi cỳ trờn: đoỏ mai phũng khỏch hoặc cõy mai trước sảnh đường nhúm mỏt suốt một ngày Từ thi liệu đến cỏch dụng ngữ của tỏc

giả đều thể hiện phong thỏi ung dung của người học rộng, chớ cao Núi cụ thể hơn cõy mai biểu trưng cho cốt cỏch người quõn tử - người làm mỏt cho đời – mà cũn làm rạng rỡ đất nước muụn đời Cõu thơ được ụng Đinh Văn Chấp chuyển thành:

Hơi mỏt đưa qua chiếc búng mai

Trang 2

Số 8 (202)-2012 ngôn ngữ & đời sống 39

Đọc lời chuyển trờn, chỳng tụi ý thức được sự

tinh tế về ngụn ngữ của dịch giả Ba chữ “chiếc

búng mai” gõy ấn tượng sõu sắc trong lũng người

đọc Đặc biệt “chiếc” gợi sự đơn lẻ mà thanh cao

của người trớ thức – nhà Nho – Chu An

Sang tiết ba của thơ, thi nhõn viết:

Yến tầm cố luỹ tương tương khứ

Chữ yến cũn đọc là yờn Mỗi cỏch đọc cho ta

một nột nghĩa Chim yến tuy nhỏ bộ nhưng cú

đúng gúp cho đời; dói yến – là vị thuốc bồi cho

người khoẻ mạnh Đõy là loài chim thường làm tổ

nơi cheo leo – vỏch đỏ hoặc nhà cao rộng Cõu

thơ nguyờn tỏc trờn cú thể hiểu: Chim yến cựng

nhau đi tỡm luỹ nghỉ ngơi - uống rượu Nờn chữ

“luỹ” – Hỏn tự cũn cú nghĩa phũng thủ - phũng

ngự vỡ thế cõu thơ cũn cho nội dung: cú sự cố,

chim yến nhỏ bộ dỡu đỡ nhau đi tỡm nơi phũng thủ

- giữ thõn Thi tứ chỉ đơn giản vậy nhưng nú hàm

bao tõm sự của tỏc giả với chớnh quyền đương

thời

ễng Đinh Văn Chấp dịch sang chữ Quốc ngữ

cõu thơ chỳng ta đang quan tõm:

Tỡm lối luỹ hoang xào xạc yến

Cỏi thỳ vị là dịch giả đó giữ được ý tưởng

nguyờn tỏc Đặc biệt đó mụ phỏng cặp súng õm

“tương tương” bằng “xào xạc” gợi hỡnh, khiến

cho hỡnh ảnh thơ sỏng hơn

Để súng đụi với thi cỳ trờn Chu An tiờn sinh

viết:

Thiền yết tõn thanh lục tục lại

Thoỏng đọc cõu thơ trờn thấy như một lời

nhận xột lạnh lựng: Họng ve sầu khỏc lạ, õm

thanh nối liền khụng dứt Ve sầu khụng tổ -

khụng nhà – loài cụn trựng chỉ sống vào mựa hố,

ăn sương, ngủ đậu gốc cõy, cành lỏ, ban ngày kờu

– ca liờn tục Hai cõu ba và bốn của bài thơ đứng

sỏnh đụi tạo thành một cặp đối cõn - chỉnh về

hỡnh ảnh, ý tứ, õm thanh, chữ và nghĩa Một cặp

đụi tinh tế - hay!

ễng Đinh Văn Chấp dịch cõu thơ này là:

Đầu đường tiếng mới nóo nựng ve

Khỳc thứ năm của bài thơ Linh Triệt tiờn sinh

viết:

Điểm thuỷ khờ liờn vụ tục thỏi

Thụng thường giọt - nước khe, cõy sen vụ hợp Núi rừ hơn: cõy sen là loài cõy thanh, quý,

“Gần bựn mà chẳng hụi tanh mựi bựn” (thành

ngữ) Vỡ thế hoa sen khụng nhận giọt nước khe với cả hai ý búng và đen

Dịch giả Đinh Văn Chấp chuyển sang Việt ngữ cõu thơ ấy là:

Nhấp nhụ sen nước xa mựi tục

Vế đối thứ hai Tiều Ẩn thi nhõn viết:

Xuất li trỳc duẩn bất phàm tài Thường kẻ tài năng chẳng đến giậu mang tre hoặc cũng cú thể viết: Bỡnh thường người cú

tài chẳng bẻ hoặc đào măng Cũng cú thể hiểu

kẻ tài hốn - thường cú mặt giậu măng tre Cõu thơ chỉ nhẹ nhàng vậy mà sõu sắc ý tứ biết nhường nào!

ễng Đinh Văn Chấp dịch:

Ngay thẳng măng đồng ỏt giậu tre

Để khộp lại bài thơ, thi nhõn viết:

Cứ ngụ tĩnh cực hoàn thành lón Riờng mỡnh vẫn chiếm đỉnh mệt mỏi – im lặng Cũng cú thể hiểu ta cũn lặng thinh đến

cựng ấy là sự đó định ễng Đinh Văn Chấp chuyển cõu thơ trờn sang Việt ngữ:

Lặng dựa cành ngụ người tựa biếng

Kết bài thơ, Chu An tiờn sinh viết:

Án thượng tàn thư phong tự khai

Cỏi bàn thờ phớa trờn - hỏng bởi giú tỏp Mặt

bàn cao cấp, hỏng bởi giú tàn phỏ Chữ

“phong” - tiếng thứ năm của dũng thơ là phự thanh - tiếng mang õm hưởng buồn mà ờm, đứng trước tiếng “tự” - trầm khứ thanh – chỡm sõu, rồi lại được tiếng “khai” kộo lờn, lụi đi vỡ thế cả dũng thơ cú õm hưởng khụng vui Cỏi bàn dài – cỏi mõm gỗ, ải-hỏng bởi giú hong!

“Sơ hạ” – tiờu đề bài thơ chỳng ta đang quan tõm thoỏng đọc, tưởng hẹp hoỏ ra rộng Hẹp xột trong thời điểm: thỏng mạnh hạ (thỏng tư õm lịch); rộng về khụng gian (bao quỏt từ cuối xuõn sang hố); con người và cảnh vật; sống và chết Thơ như thế là phản ỏnh thực trạng xó hội đời Trần Du Tụng: một xó hội hụn thiờn ỏn địa - mờ mịt – dõn chỳng khổ sở - loạn nổi khắp nơi

(Ban Biên tập nhận bài ngày 15-11-2011)

Ngày đăng: 14/05/2021, 16:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w