Xây dựng được Nhà nước pháp quyền XHCN đòi hỏi nhiều biện pháp đồng bộ, trong đó việc làm sao cho mọi người nhận thức một cách đúng đắn vị trí vai trò của Thẩm phán, hoàn thiện hệ t[r]
Trang 1Vị trí vai trò của Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện trong hoạt động xét xử các vụ án
hình sự
Trịnh Ngọc Thúy
Khoa Luật Luận văn ThS Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số 60 38 01 04 Người hướng dẫn: PGS.TS Trịnh Quốc Toản
Năm bảo vệ: 2013
Abstract Trình bày một số vấn đề chung về vị trí, vai trò của Thẩm phán Tòa án nhân
dân cấp huyện trong xét xử các vụ án hình sự Nghiên cứu những quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự hiện hành về vị trí, vai trò của Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện
và thực tiễn áp dụng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Trình bày một số giải pháp nhằm hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành và tăng cường vị trí, vai trò của Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện: nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác đào tạo, bồi dưỡng Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện; nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán của Tòa án nhân dân cấp huyện;
tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của Thẩm phán Tòa án cấp huyện Keywords Thẩm phán; Tòa án Nhân dân; Vụ án hình sự; Pháp luật Việt Nam; Luật hình sự
Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một xã hội có giai cấp, có Nhà nước thì tất yếu phải có những thiết chế để bảo vệ Hệ thống Tòa án Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam không nằm ngoài các thiết chế
đó Tại Điều 126 của Hiến pháp Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam quy định: “Tòa án có nhiệm
Trang 2vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân”
Như vậy, Tòa án là cơ quan thực thi công lý của một chế độ nhà nước Chức năng của Tòa án là xét xử, giải quyết các quan hệ nảy sinh trong thực tiễn xã hội, mà ở đó, các Thẩm phán chính là những người đại diện cho Tòa án để thực hiện các chức năng nêu trên
Thẩm phán có vị trí, vai trò rất quan trọng, họ có nhiệm vụ cùng với các cơ quan chức năng có liên quan góp phần làm cho xã hội hoạt động theo các quy định của pháp luật Ở Việt Nam, một đất nước có bề dầy lịch sử đấu tranh dành và giữ nước, với mười bốn lần bị giặc ngoại ban xâm lấn và mười bốn lần kiên cường chiến thắng Người Việt Nam kiên cường, chịu thương, chịu khó, thường sống theo lề lối phong tục tập quán, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, trọng tình hơn trọng lý Chính vì vậy, việc hướng cho mọi người Việt Nam sống và làm việc theo quy định của pháp luật là một việc làm khó khăn cho hệ thống bộ máy nhà nước, trong đó có vai trò của Thẩm phán Điều này cho thấy người Thẩm phán Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam muốn làm tốt vai trò mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó là
“Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư” và “Gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân”, đòi hỏi
họ phải có nhận thức sâu sắc, kinh nghiệm sống, tinh thông về trình độ chuyên môn nghiệp vụ
và bản lĩnh chính trị vững vàng, để nhận thức rõ vị trí vai trò của mình đối với nhân dân và đất nước
Chúng ta đang trên đường hội nhập quốc tế, tuy xã hội đang phát triển với tốc độ cao, nhưng với những trình độ dân trí không đồng đều, điều đó đã tạo nên những thách thức lớn trong khi Chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việc xác định đúng vị trí vai trò của Thẩm phán trong tố tụng tại Tòa án là một vấn đề quan trọng Xây dựng được Nhà nước pháp quyền XHCN đòi hỏi nhiều biện pháp đồng bộ, trong đó việc làm sao cho mọi người nhận thức một cách đúng đắn vị trí vai trò của Thẩm phán, hoàn thiện hệ thống pháp luật, hoàn thiện những mô hình tố tụng, tổ chức bộ máy, các chế độ chính sách đãi ngộ đối với Thẩm phán, nhằm tạo điều kiện cho đội ngũ Thẩm phán thực hiện tốt vai trò của mình là một nhiệm vụ vô cùng cần thiết
Ở nước ta do trình độ dân trí còn thấp, khái niệm Thẩm phán còn xa lạ đối với một số tầng lớp nhân dân Còn nhiều người hiểu nhầm Thẩm phán là luật sư hoặc là một chức danh khác nào đó của cơ quan hành pháp trong bộ máy nhà nước Thậm chí kể cả trong nhận thức của những người đang là công chức, viên chức nhà nước cũng nhận thức không rõ được hoặc không phân biệt được Thẩm phán là ai, có nhiệm vụ gì và họ làm việc ở đâu? Thực tế cho
Trang 3thấy, chỉ trong trường hợp cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào có liên quan đến một vụ án cụ thể nào đó, thì lúc này họ mới tìm hiểu một cách sơ lược về vị trí vai trò của Thẩm phán Điều này cho thấy xã hội còn chưa quan tâm đúng mức đến vị trí, vai trò của Thẩm phán, ngay cả những người làm việc tại các cơ quan công quyền cũng chưa hẳn đã nhận thức đúng và đủ về vấn đề này
Thẩm phán với tư cách là người đại diện cho Nhà nước, họ được pháp luật quy định quyền ban hành các quyết định công nhận, hướng dẫn, dẫn dắt và quyết định các vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan tổ chức Tại phiên tòa, với vai trò là người điều khiển phiên tòa, hướng dẫn cho những người tham gia tố tụng trong vụ án thực hiện quyền tranh tụng đúng pháp luật Đặc biệt trong các vụ án hình sự, vai trò của Thẩm phán xét xử được thể hiện rõ nét nhất Chính tại phiên tòa, nơi diễn ra tất cả các quy trình của sự tranh tụng, Thẩm phán là người điều khiển, dẫn dắt việc tranh tụng để việc tranh tụng diễn ra một cách tôn nghiêm, có trật tự, đi đúng vào trọng tâm của vụ án Để từ đó, các chứng cứ, các sự thật khách quan của vụ án đều được đưa ra làm rõ tại phiên tòa Trên cơ sở tranh tụng khách quan, hội đồng xét xử (HĐXX) sẽ áp dụng pháp luật một cách đúng đắn để đưa ra một bản án với các quyết định hợp tình, hợp lý nhất Với các quyết định của mình, cùng với các cơ quan liên quan, Thẩm phán
đã góp phần định hướng cho xã hội phát triển
Từ khi được hình thành và phát triển đến nay, đội ngủ Thẩm phán nước ta đã cơ bản hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của mình, nổi bật nhất là trong xét xử các vụ án hình sự Họ đã góp phần xây dựng, ổn định trật tự chung của xã hội, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XNCN Bên cạnh đó, phải xác định rằng đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân (TAND) cấp quận, huyện có ảnh hưởng rất lớn đến nhiệm vụ chính trị của hệ thống Tòa án nói riêng và của Bộ máy nhà nước nói chung Hiện nay, số lượng Thẩm phán TAND cấp quận, huyện là nhiều nhất so với số lượng Thẩm phán
cả nước và hàng năm, số lượng vụ án hình sự họ tham gia làm chủ tọa phiên tòa là rất lớn Mặt khác, cấp sơ thẩm là nơi tiếp cận đầu tiên của một quá trình tố tụng nên có ảnh hưởng quan trọng đến những giai đoạn tố tụng tiếp theo của một vụ án Do đó, vị trí, vai trò của Thẩm phán TAND cấp huyện trong xét xử các vụ án hình sự cũng là một nội dung rất quan trọng không thể thiếu trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay như Nghị quyết số 49 của Bộ chính trị đã “xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, vai trò của người tiến hành tố tụng” Do vậy, việc nghiên cứu vị trí, vai trò của Thẩm phán cấp huyện trong quá trình xét xử các vụ án hình sự là một việc làm cần thiết góp phần thực hiện thành công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta
Mặt khác, theo Nghị quyết 49 của Bộ chính trị thì “Công tác tư pháp nước ta còn bộc lộ nhiều hạn chế Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu; trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí có một số cán bộ sa sút về phẩm chất, đạo đức
Trang 4và trách nhiệm nghề nghiệp Vẫn còn tình trạng oan, sai trong điều tra, bắt, giam giữ, truy tố, xét
xử Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc của cơ quan tư pháp còn thiếu thốn, lạc hậu” Điều này
đã cho thấy vẫn còn thiếu sự quan tâm của cả hệ thống chính trị đối với công tác tư pháp Đồng thời, bản thân người Thẩm phán cũng chưa nhận thức rõ vị trí, vai trò của mình đối với xã hội, đối với đất nước và đối với nhân dân nên thiếu tập trung học tập tu dưỡng rèn luyện để đủ tầm đủ sức đảm nhận công việc nặng nề nhưng cao quý này
Ngoài ra, cùng với những mặt hạn chế nêu trên, nhiệm vụ cải cách tư pháp đang đứng trước nhiều thách thức Tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, với tính chất và hậu quả ngày càng nghiêm trọng, đòi hỏi người Thẩm phán phải không ngừng học tập, luôn linh hoạt trao dồi mọi kỹ năng cần thiết để theo kịp và nắm bắt mọi diễn biến của sự phát triển của xã hội và quốc tế, từ đó có đủ kiến thức và nhận thức phù hợp để áp dụng vào thực tiễn xét xử của mình
Vì các lý do trên và là một Thẩm phán công tác tại thành phố Hồ Chí Minh, tác giả chọn đề tài “Vị trí, vai trò của Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự- trên cơ sở các số địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành luật hình sự
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ khi có chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước, Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu đề tài về cải cách tư pháp và năng lực của đội ngũ thẩm phán Cụ thể có thể
kể đến một số công trình khoa học như: Cải cách hệ thống tư pháp ở Việt Nam, đề tài cấp nhà nước độc lập, mã số: 92-98-353 do ông Nguyễn văn Yểu làm Chủ nhiệm đề tài,1993; Người thẩm phán nhân dân của Thông tin Khoa học pháp lý Viện Khoa học pháp lý, Bộ tư pháp, 2002; Chuyên đề Cải cách tư pháp của Tạp chí Nghiên cứu lập pháp; Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay do GS TSKH Đào Trí Úc chủ biên, Nhà xua ́̂t bản Khoa
học xã hhi , 2002; Cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền do PGS.TSKH Lê Cảm, và TS Nguyễn Ngọc Chí chủ biên, Nxb ĐHQGHN, 2004; Thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền của tập thể tác giả do PGS.TS.Nguyễn Đăng Dung chủ biên Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005; Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, luận án tiến sỹ luật học, Đại học luật
Hà Nội, 2003; Lê Thành Dương, Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân ở nước
ta trong giai đoạn hiện nay, luận án tiến sĩ luật học, Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật,
Hà Nội, 2002; Những vấn đề lý luận và thực tiễn về cải cách hệ thống Tòa án Việt Nam theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền, luận án tiến sỹ của Đỗ Thị Ngọc Tuyết, đã bảo vệ
Trang 5năm 2006 tại khoa Luật, ĐHQGHN Đặc biệt là tháng 7/2009 với sự hỗ trợ của Chính phủ Ôxtrâylia, TANDTC đã cho ra mắt “Sổ tay thẩm phán” Sổ tay thẩm phán sẽ đóng góp cho quá trình hình thành nên một hệ thống tư pháp hiệu quả, công bằng và minh bạch, tăng cường năng lực thể chế của hệ thống tòa án thông qua việc nâng cao tính chuyên nghiệp của Thẩm phán khi thực hiện các hoạt động tư pháp của mình Sổ tay thẩm phán cũng đóng góp vào sự độc lập của ngành Tòa án Việt Nam
Ngoài ra còn có các bài viết của nhiều tác giả liên quan đến đội ngũ thẩm phán được công bố trên các tạp chí như: Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp Các nghiên cứu đã đánh giá năng lực của đội ngũ thẩm phán và đề ra những khuyến nghị để nâng cao
Có thể nói, qua nghiên cứu, khảo sát nội dung các sách chuyên khảo, các luận án, các bài báo khoa học đã công bố ở Việt nam trong thời gian qua, nhất là từ khi có Nghị quyết 49 của Bộ chính trị về cải cách tư pháp ở Việt Nam đến năm 2020, cho thấy hầu hết các công trình đó là những công trình nghiên cứu cơ bản và trực diện về tổ chức và hoạt động của hệ thống tòa án, còn
về thẩm phán chưa được khoa học pháp lý Việt nam quan tâm một cách đúng mức Những nghiên cứu về thẩm phán chỉ mới dừng lại ở các công trình nghiên cứu đơn lẻ, hoặc là chỉ đề cập đến một
số vấn đề liên quan đến năng lực thẩm phán, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu
có hệ thống, toàn diện và sâu sắc về vị trí, vai trò, năng lực của đội ngũ thẩm phán của các tòa
án các cấp trước yêu cầu cải cách tư pháp do Bộ Chính trị đề ra Vì vậy những bất cập, hạn chế của đội ngũ thẩm phán của các tòa án các cấp hiện nay chưa được phân tích có hệ thống
để đưa ra những kiến nghị, giải pháp đồng bộ tăng cường năng lực đội ngũ thẩm phán của các tòa án ở địa phương trong xét xử các vụ án hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt
Nam
Từ những nhận định khoa học nêu trên, bài viết này chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu sâu sắc về vị trí, vai trò của của Thẩm phán nhưng chỉ giới hạn ở Thẩm phán TAND cấp huyện Với những số liệu và thông qua thực tiễn xét xử các vụ án hình sự tại các TAND cấp quận, huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh Từ đó đề ra những giải pháp hoàn thiện và nâng cao vị trí, vai trò của Thẩm phán TAND cấp huyện Bài viết này cũng góp một phần nhỏ vào công cuộc chung của Bộ máy nhà nước là đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các cơ sở lý luận về vị trí, vai trò của Thẩm phán trong quá
Trang 6trình tố tụng xét xử các vụ án hình sự và thực tiễn xét xử để tìm giải pháp tốt nhất nâng cao năng lực của đội ngũ Thẩm phán, từ đó nâng cao vị thế của Thẩm phán, của hệ thống Tòa án đối với xã hội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này trong phạm vi phân tích những chức năng, quyền hạn và nhiệm
vụ của Thẩm phán TAND cấp huyện trong quá trình xét xử các vụ án hình sự, một trong những cách xử lý các hiện tượng nguy hiểm, đa dạng và phức tạp nhất trong xã hội Phân tích tìm ra những yếu tố nào tác động tích cực, yếu tố nào tác động tiêu cực đến sự phát triển của
hệ thống Tòa án nói chung và nhất là đội ngũ Thẩm phán nói riêng, từ đó đề ra những tiêu chuẩn, chuẩn mực để lựa chọn đề bạt Thẩm phán; những phương hướng giáo dục, đào tạo trước khi và trong khi làm Thẩm phán So sánh với cơ chế vận hành hiện tại của hệ thống Tòa
án có những đề xuất, kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện nâng cao nhận thức của xã hội về vị trí, vai trò của Thẩm phán, năng lực xét xử án hình sự của đội ngũ Thẩm phán TAND cấp quận, huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh
Nghiên cứu đề tài này góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước, đổi mới thượng tầng kiến trúc đề ngày càng phù hợp với cơ sở kinh tế hiện có, làm tiền đề thúc đẩy kinh tế phát triển, đưa đất nước ngày càng tiến bộ để đủ sức hội nhập quốc tế Ý nghĩa cụ thể của cơ sở lý luận này không nằm ngoài mục tiêu xây dựng đội ngũ Thẩm phán có đủ tầm, đủ tâm, đủ sức
để đảm đương nhiệm vụ bảo đảm làm cho xã hội công bằng, nhân dân cả nước và quốc tế ngày càng tin tưởng vào hệ thống tư pháp Việt Nam Từ đó có những tư duy và hành động tích cực tác động đến nền kinh tế chính trị xã hội của đất nước, từng bước xây dựng và bảo vệ thành công nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam Muốn làm được nhiệm vụ này đối với một Thẩm phán xét xử vụ án hình sự có nghĩa là phải làm thế nào để “Không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội”; người vi phạm phải được chế tài trừng phạt phù hợp đúng với tính chất, mức
độ của hành vi vi phạm mà họ gây ra cho cá nhân, tổ chức hoặc xã hội Khi bị trừng phạt, người
bị kết án nhận thấy hình phạt mà họ phải gánh chịu tương thích với hành vi mà họ gây ra Từ
đó, họ được cảm hóa và sống đúng theo pháp luật Và cuối cùng và trên hết là xây dựng một Nhà nước pháp quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ của Thẩm phán Tòa
Trang 7án nhân dân cấp huyện Từ đó so sánh với thực tiễn xét xử, mô hình tố tụng, cơ sở vật chất của hệ thống Tòa án, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Thẩm phán, thực tiễn số lượng và chất lượng Thẩm phán (cụ thể qua quá trình xét xử án hình sự của TAND cấp quận huyện tại thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2008 đến năm 2012), quy trình bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị; chế độ chính sách đãi ngộ…
4.2.Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực tiễn xét xử, số lượng và chất lượng Thẩm phán địa bàn Thành phố
Hồ Chí Minh Nguyên nhân của những tồn tại và hạn chế; Những bất cập của các quy định của pháp luật hiện hành, của cơ chế tác động đến vị trí, vai trò của Thẩm phán TAND cấp huyện cùng với những ý kiến của quần chúng nhân dân đánh giá về đội ngũ Thẩm phán TAND cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này được nghiên cứu trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác-Lenin và thực tiễn, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Thống kê, phân tích, tổng hợp, đối chiếu so sánh và điều tra điển hình để làm sáng tỏ đề tài nghiên cứu
6 Tính mới của luận văn
Nêu được những thực tiễn khách quan chính xác nhất tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, những hạn chế, yếu kém còn tồn tại trong quá trình thực thi nhiệm vụ của các Thẩm phán TAND cấp huyện Những hạn chế này đúc kết từ thực tiễn xác thực nhất được tham khảo từ các Thẩm phán có nhiều kinh nghiệm trong xét xử Đồng thời, luận văn cũng nêu lên được những kiến nghị thiết thực nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và vị trí, vai trò của Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cho hệ thống Tòa án nói chung, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay
7 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu sẽ có cái nhìn tổng quát chuyên sâu và thực tế nhất về vị trí, vai trò của Thẩm phán, tình hình số lượng và chất lượng của Thẩm phán xét xử án hình sự cấp quận, huyện tại thành phố hồ chí minh Làm rõ những nguyên nhân, khách quan lẫn chủ quan, làm hạn chế năng lực Thẩm phán; rút ra được những yếu tố bất cập trong các quy định về chế độ chính sách còn làm trì trệ hoạt động tố tụng Từ đó nêu lên những kiến nghị thực tế và có ý nghĩa để các cấp có thẩm quyền, các cơ quan có liên quan kịp thời điều chỉnh các quy định liên quan đến hoạt động tố tụng của Tòa án (mà hiện tại không còn phù hợp) để tạo điều kiện
Trang 8tốt nhất cho hệ thống Tòa án thực hiện tốt công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần của Nghị quyết số 49 của Bộ chính trị đặt ra
Đề tài còn sẽ nêu lên những nguyên nhân chủ quan của bản thân Thẩm phán đã trực tiếp hay gián tiếp làm cho uy tín, năng lực của mình bị hạn chế Từ đó đề ra những chuẩn mực cần phải có của người Thẩm phán để ngày càng hoàn thiện và đủ sức góp phần vào việc áp dụng pháp luật đúng đắn, đảm bảo lợi ích của cá nhân và lợi ích xã hội, bảo vệ Tổ quốc phục
vụ cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN
Đề tài mà chúng tôi nghiên cứu sẽ giúp cho các Thẩm phán mới được bổ nhiệm quan tâm nghiên cứu để có thêm kinh nghiệm thực tiễn trong xét xử, nhận thức sâu sắc hơn về ví trí, vai trò, quyền hạn và nghĩa vụ của mình, rút ra được những bài học cần phải có và từ đó
có hướng tự rèn luyện nâng cao năng lực xét xử Ngoài ra nó cũng sẽ giúp ích cho những người ngoài ngành Tòa án quan tâm tìm hiểu để nhận thức rõ vị trí, vai trò của mình trong mối quan hệ với các cơ quan khác trong hệ thống Bộ máy nhà nước, từ đó có những biện pháp tích cực phối hợp cùng với các cơ quan tư pháp đóng góp chung cho công cuộc cải cách tư pháp
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương, 10 tiểu mục
Chương 1: Một số vấn đề chung về vị trí, vai trò của Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp
huyện trong xét xử các vụ án hình sự
Chương 2: Những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về vị trí, vai trò của
Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện và thực tiễn áp dụng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành và tăng
cường vị trí, vai trò của Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện
Reference
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Báo cáo công tác ngành Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và phương hướng nhiệm vụ năm 2008
Trang 92 Báo cáo công tác ngành Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và phương hướng nhiệm vụ năm 2009
3 Báo cáo công tác ngành Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và phương hướng nhiệm vụ 2010
4 Báo cáo công tác ngành Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và phương hướng nhiệm vụ năm 2011
5 Báo cáo công tác ngành Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và phương hướng nhiệm vụ năm 2012
6 Báo cáo kết quả 4 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới;
7 Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1999, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2004;
8 Bộ luật tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2003, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2004;
9 GS.TSKH Lê Cảm, PGS TS Nguyễn Ngọc Chí, Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2003
10 PGS TS Nguyễn Ngọc Chí, chuyên đề “Thẩm phán và vị trí chức năng của Thẩm phán trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”
11 Th.S Bùi Kim Chi, Một số vấn đề về mô hình nhân cách Thẩm phán, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật số 3/2005;
12 Dự thảo đề án thành lập Tòa án sơ thẩm khu vực, Tòa án phúc thẩm, Tòa án thượng thẩm, đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND tối cao, Hà Nội, tháng 05 năm 2009;
13 Lưu Tiến Dũng, Giải thích pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án, Tạp chí TAND
số 17 kỳ 1 tháng 9/2008;
14 TS Đỗ Văn Đương, Phó Viện trưởng Viện khoa học kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao Bài phát biểu về hoàn thiện Luật Tố tụng hình sự tại Hội thảo hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp
15., Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001;
Trang 1016 Trương Thị Hạnh, Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Hà Hội, 2009;
17 Hoàng Văn Hạnh (chủ biên) “Các giai đoạn xét xử trong Luật Tố tụng hình sự Những vấn đề lý luận và thực tiễn” Đề tài nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Luật Hà Nội
18 Nguyễn Văn Hiền, Dương Bạch Long, Những điều cần biết về quyền, nghĩa vụ của Thẩm phán trong Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005;
19 Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2002;
20 TS Nguyễn Văn Hiện, Tăng cường năng lực xét xử của Tòa án cấp huyện – Một số vấn
đề cấp bách, tạp chí TAND số 01/2002;
21 TS Phạm Văn Lợi, Chế định Thẩm phán – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tu pháp, Hà Nội, 2004;
22 Luật tổ chức TAND năm 2002;
23 Trần Đức Lương, “Đẩy mạnh cải cách tư pháp đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Báo nhân dân ngày 26/3/2002, tr 1, 6
24 Đặng Thanh Nga, Các phẩm chất nhân cách cơ bản của Thẩm phán, Tạp chí Luật học số 5/2002;
25 Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Ban nội chính trung ương, Hà Nội, 2002;
26 Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Ban Chấp hành trung ương năm 2005;
27 Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020, Ban Chấp hành trung ương năm 2005;
28 Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao về hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba “ Xét xử sơ thẩm ” của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003;