Đây là sáng kiến kinh nghiệm môn Lịch sử cấp THPT lớp 10, 11, 12, đề tài kinh nghiệm thai thác tư liệu, tranh ảnh, di tích địa phươgn dạy tốt môn Lịch sử THPT,. Sáng kiến được viết theo mẫu mới nhất của Bộ giáo dục. Sáng kiến hữu ích cho các thày cô dùng nộp công nhận các danh hiệu hoặc chắt lọc biện pháp giáo dục bộ môn hiệu quả để thi giáo viên giỏi các cấp.
Trang 1LỊCH SỬ CỦA HUYỆN VÀO DẠY HỌC LỊCH SỬ
TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Trang 2PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Nói đến lịch sử dân tộc Việt Nam, chúng ta luôn tự hào về những trang sửhào hùng, vẻ vang của những chiến công hiển hách, những truyền thống laođộng sản xuất cần cù chịu khó, sáng tạo, những giá trị văn hóa tốt đẹp, nhữngcông trình kiến trúc, những di tích lịch sử lâu đời Tất cả những yếu tố đó kếtthành những giá trị lịch sử mà chỉ có dân tộc Việt Nam chúng ta mới có được.Trong dòng chảy lịch sử ấy có sự kết tinh giữa lịch sử địa phương và lịch sử dântộc
Vai trò và mối quan hệ của lịch sử địa phương đối với lịch sử dân tộc làđặc biệt quan trọng, giữa lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương có mối quan hệkhông thể tách rời, lịch sử địa phương chính là một bộ phận kết thành lịch sửdân tộc nên những vấn đề lịch sử địa phương là những sự kiện cụ thể sinh độngminh họa cho lịch sử dân tộc
Dạy học lịch sử địa phương có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thànhnhiệm vụ giáo dục và phát triển bộ môn, giáo dục thế hệ trẻ lòng yêu nước, niềm
tự hào dân tộc, kính trọng và biết ơn sâu sắc những công lao của cha ông và từ
đó biết gìn giữ phát huy những thành tựu của lịch sử địa phương cũng như lịch
sử dân tộc Trong đó việc khai thác và sử dụng các di tích lịch sử địa phươngvào dạy học ở trường trung học phổ thông là rất cần thiết nhằm giúp học sinh cóđiều kiện tìm hiểu, khám phá những công trình lịch sử - văn hóa ngay xungquynh các em Từ đó giúp các em biết quý trọng, gìn giữ và bảo tồn những giátrị lịch sử - văn hóa mà cha ông ta đã tạo dựng nên
Tuy nhiên về thực trạng việc khai thác và sử dụng các di tích lịch sử địaphương vào dạy học ở trường trung học phổ thông hiện nay còn nhiều hạn chế.Giáo viên có dạy chương trình lịch sử địa phương theo tài liệu nội bộ đã hiệnhành nhưng chủ yếu còn sơ lược, bó hẹp, chưa chịu khó sưu tầm tài liệu, chưa
mở rộng và lồng ghép, liên hệ những tư liệu lịch sử tại địa phương gần nhất –nơi các em đang sinh sống và học tập, chính vì thế nên học sinh rất lúng túng,
mơ hồ khi giáo viên hỏi đến những vấn đề liên quan đến lịch sử địa phương nhưtên đất, tên người, các địa danh, các di tích lịch sử tiêu biểu của quê hương
Xuất phát từ những những trăn trở trong quá trình giảng dạy và những lí
do trên, tôi quyết định chọn vấn đề “ Khai thác và sử dụng tư liệu các di tích lịch sử của huyện vào dạy học lịch sử trong chương trình trung học phổ thông” để làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm trong năm học này.
- Tính mới của sáng kiến kinh nghiệm:
Trang 3Đây là đề tài hoàn toàn mới trong việc khai thác và sử dụng các di tíchlịch sử địa phương trong dạy học lịch sử dân tộc Những tư liệu về các di tích đềcập trong đề tài không chỉ bổ trợ cho các giờ học lịch sử đia phương thêm phongphú sinh động giúp học sinh tiếp cân gần mà còn phục vụ cho các giờ học lịch
sử dân tộc đạt hiệu quả tốt, đồng thời góp phần vào sự đam mê nghiên cứu lịch
sử địa phương nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung
Đề tài đem đến cho học sinh tại trường trung học phổ thông nói riêng và học sinh các trường trung học phổ thông trên địa bànhuyện nói chung thấy được những giá trị nổi bật của các di tíchlịch sử của huyện nhà Từ đó giáo dục các em biết trân quý , bảo tồn những giátrị văn hóa tốt đẹp mà cha ông ta đã để lại
Qua áp dụng đề tài trên sẽ giúp học sinh tính tích cực, chủ đông, sáng tạo,đam mê tìm hiểu những kiến thức lịch sử bổ ích, tham gia trải nghiệm sáng tạo,viết bài tìm hiểu, qua đó phát huy phẩm chất năng lực người học
- Tính hiệu quả của sáng kiến:
+ Đối giáo viên: bộ môn trong huyện có thể áp dụng vào dạy học lịch sử ở một
số bài trong chương trình lịch sử địa phương và lịch sử dân dân tộc Từ đó khơidậy khả năng tìm hiểu những tư liệu lịch sử địa phương thuộc lĩnh vực này hoặclĩnh vực khác để phục vụ day học
+ Đối với học sinh: Qua bài học có khai thác và sử dụng các di tích lịch sử địaphương, học sinh được tiếp thu và mở rộng thêm kiến thức mới, có nhiều hiểubiết về lịch sử địa phương nơi các em sinh sống và học tập, đồng thời phát huyđược tính tích cực, chủ động, sáng của học để hoàn thành tốt hơn về nhiệm vụhọc tập của mình
2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu tư liệu các di tích lịch sử tiêu biểu của huyện
- Nghiên cứu chương trình lịch sử THPT
- Nghiên cứu những lài liệu phương pháp dạy học lịch sử liên quan đến đề tài
3 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung khai thac và sử dụng tư liệu các di tích lịch sử tiêu biểucủa huyện vào dạy học lồng ghép vào một số bài trong chươngtrình và sử dụng vào dạy chuyên đề lịch sử địa phương: Lịch sử qua các di tích
Trang 4Đề tài được áp dụng cho học sinh trường THPT và học sinhcác trường THPT trên địa bàn huyện nhà.
PHẦN II NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Khái niệm lịch sử địa phương và vai trò của việc sử dụng di tích lịch sử địa phương trong dạy học
1.1 Khái niệm tư liệu lịch sử địa phương
Lịch sử địa phương là một bộ phận cấu thành lịch sử dân tộc, có mối quan
hệ mật thiết với lịch sử dân tộc, bất cứ một sự kiện lich sử nào của dân tộc đềumang tính địa phương,vì nó diễn ra ở một địa phương cụ thể với không gian vàthời gian nhất định Đồng thời tri thức lịch sử địa phương là một bộ phận hợpthành, là biểu hiện cụ thể, phong phú, sinh động của lịch sử dân tộc Nó chứngminh sự phát triển hợp quy luật của mỗi địa phương trong lịch sử của dân tộc
Hiểu lịch sử địa phương chính là lịch sử của các làng, xã, huyện, tỉnh,vùng, miền thể hiện qua nhiều lĩnh vực: Lao động sản xuất, sự nghiệp chiến đấubảo vệ quê hương, những di sản văn hóa vật chất, tinh thần… Tuy nhiên tùy vàotiến trình lịch sử của từng địa phương nó tạo dựng những giá trị, những tri thứclịch sử ở những mức độ khác nhau của từng địa phương
Lịch sử địa phương là biểu hiện cụ thể của lịch sử dân tộc, nghiên cứu vàhọc tập lịch sử địa phương là một trong những biện pháp tích cực nhằm cụ thểhoá những kiến thức chung của lịch sử dân tộc dễ dàng hơn Mặt khác khi đượchọc tập và nghiên cứu những tri thức lịch sử địa phương các em sẽ hiểu sâu sắc
về những truyền thống tốt đẹp của cha ông đã hun đúc từ xa xưa tại chính nơi
mà bản thân các em đang hàng ngày sinh sống, lao động và học tập Từ đó giáodục các em biết trân quý những gì cha ông đã tạo dựng nên, bồi dưỡng thêmlòng yêu quê hương, sự cố gắng trong lao động, học tập để góp phần xây dựngquê hương ngày càng giàu đẹp
1.2 Vai trò của việc sử dụng tư liệu các di tích lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử
Trang 5Tư liệu lịch sử địa phương có vai trò rất quan trọng góp phần thực hiện
mục tiêu giáo dục ở trường phổ thông một cách toàn diện, giúp học sinh có sựnhìn nhận từ vấn đề cụ thể đến khái quát, thấy được sự phát triển của lịch sử địaphương cũng như lịch sử dân tộc vô cùng phong phú đa dạng đồng thời cácnguồn tư liệu giúp học sinh hiểu sâu sắc những sự kiện lịch sử quan trọng Bởi
tư liệu lịch sử địa phương là những sự kiện cụ thể nhằm minh họa cho lịch sửdân tộc Trong đó, việc sử dụng tư liệu về các di tích lịch sử địa phương giúp các
em lĩnh hội không chỉ những sự kiện lịch sử qua các di tích mà còn được nhữnggiá trị văn hóa tốt đẹp mà các em có thể tận mắt nhìn thấy
Tư liệu lịch sử địa phương cũng góp phần quan trọng trong việc giáo dụccác em lòng biết ơn đối với những người đi trước đã góp công dựng nước và giữnước, lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm của bản thân đối với quê hươngđất nước
Từ đó chúng ta thấy rằng việc sử dụng tư liệu về các lịch sử địa phươngvào dạy học lịch sử dân tộc ở trường trung học phổ thông là rất cần thiết nhằmnâng cao chất lượng giáo dục bộ môn, khơi dậy cho các em niềm đam mênghiên cứu, khám phá, học tập môn lịch sử một cách tích cực và toàn diện
1.3 Các nguồn tư liệu của lịch sử địa phương
Lịch sử là một trong những lĩnh vực khoa học có nguồn tư liệu rất phongphú và đa dàng, tùy vào nội dung và tính chất mà nó thường được phân thànhcác loại tư liệu sau:
* Tư liệu thành văn: Đây là nguồn tư liệu có vai trò đặc biệt quan trọng trong
các nguồn tư liệu lịch sử nói chung và lịch sử địa phương nói riêng Nguồn tàiliệu này cung cấp cho chúng ta những sự kiện, những vấn đề lịch sử chính xác,toàn diện các lĩnh vực ở địa phương đã từng diễn ra
* Tư liệu truyền miệng: Là tư liệu bao gồm những mẩu chuyện lịch sử, ca dao,
tục ngữ, truyện cổ tích, những câu chuyện do các nhân chứng kể lại…
* Tư liệu ngôn ngữ học: Bao gồm các loại:
- Địa danh học: Là tên gọi của một vùng đất nhất định, giúp chúng ta nguồn gốc
sự phát triển của làng, xóm, nghề nghiệp, văn hóa của nhân dân
- Phương ngôn học: Là tiếng nói của cư dân địa phương ở một vùng, miền, làng,
xã nào đó mang sắc thái riêng
* Tư liệu hiện vật: Bao gồm những di vật khảo cổ đã được khai quật, các công
trình kiến trúc: Đình, đền,chùa, miếu , tượng…, những hiện vật lịch sử: công cụ
Trang 6* Tư liệu tranh ảnh lịch sử: Thường được chụp ngay lúc sự kiện diễn ra Đối
với những sự kiện đã diễn ra khá xa với thời đại ngày nay thì những tranh ảnhlịch sử ấy là vô cùng quý hiếm Tranh ảnh lịch sử có vai trò rất quan trọng trongquá trình dạy học nhằm minh họa cụ thể làm cho bài học thêm sinh động, tạođược tính tích cực, hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập
* Tư liệu tranh ảnh lịch sử: Tư liệu này thường được chụp ngay lúc sự kiện
diễn ra Trong dạy học lịch sử nguồn tư liệu này rất quan trọng nhằm minh họanhững sự kiện lịch sử làm cho bài học sinh động, giúp học sinh hiểu cụ thể các
sự liện liên quan, tạo sự chú ý, hứng thú cho học sinh trong từng bài học Tuynhiên khi sử dụng tranh ảnh lịch sử phải xác minh đúng nguồn gốc, đảm bảotính chính xác phản đúng sự kiện liên quan bài học, giáo viên phải nghiên cứuchọn lọc và sử dụng đúng mục đích của bài học, tránh ôm đồm, dàn trải về mặtkiến thức
II CƠ SỞ THỰC TIỄN
1 Thực trạng việc khai thác sử dụng tư liệu lịch sử địa phương nói chung
và các di tích tích lịch sử nói riêng trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
Để nắm rõ tình hình thực trạng việc khai thác và sử dụng lịch sử địaphương vào dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông, tôi đã tiến hành khảosát, điều tra thực tế một số trường trung học phổ thông trên địa bànhuyện Qua điều tra cho thấy:
- Hầu hết các giáo viên mới chỉ sử dụng tài liệu lịch sử địa phương
vào giảng dạy phần Lịch sử địa phương nhưng chưa sử dụng tư liệu lịch sử địaphương của huyện nhà vào lồng ghép, liên hệ các bài dạy trong chương trình vàphần lịch sử địa phương, nếu có thì chỉ mới liên hệ qua loa một số mẫu chuyệnvụn vặt,chắp nối
Trang 7- Học sinh biết đến lịch sử địa phương trên địa bàn huyện còn rất
ít, kiến thức còn mập mờ thiếu tính chính xác
1.3 Nguyên nhân của những hạn chế trên:
- Tài liệu lịch sử địa phương được sưu tầm, lưu giữ trong các trường phổ thôngtrên địa bàn còn rất nghèo nàn
- Giáo viên chưa chủ động, chịu khó tự tìm hiểu, sưu tầm, nghiên cứu tư liệulịch sử địa phương, chưa thấy được tầm quan trọng của lịch sử địa phương trongviệc nâng cao giáo dục chất lương bộ mà chủ yếu tập trung đầu tư vào những bàihọc gắn liền với các kỳ thi như thi học sinh giỏi, thi trung học phổ thông quốcgia nên còn xem nhẹ, thiếu đầu tư đích đáng cho nội dung này
- Từ đó dẫn đến ý thức học tập phần lịch sử địa phương của học sinh cũng mangtính đối phó, hình thức, chưa đam mê và chưa có nhu cầu tìm hiểu những giá trịlịch sử địa phương
Từ những thực trạng trên đặt ra cho chúng ta những câu hỏi lớn: Làm thếnào để học sinh có những hiểu biết sâu sắc đầy đủ về kiến thức lịch sử địaphương trên địa bàn huyện nhà? Làm sao để khơi dậy tinh thần học tập lịch sửđịa phương một cách chủ động, tích cực và và không xem nhẹ, đồng thời giáoviên cũng phải làm sao để chủ động thiết kế các bài dạy có liên quan kiến thứclịch sử địa phương được nhuần nhuyễn, sáng tạo làm cho bài dạy sinh đông,sâusắc và toàn diện
Để khắc phục những hạn chế trên, giải quyết những vấn đề đặt ra và cũng
là những trăn trở của bản thân tôi trong những bài giảng trên lớp của nhiều nămqua, tôi xác định việc khai thác và sử dụng các tư liệu lịch sử địa phương vàodạy học ở trường trung học phổ thông là rất cần thiết, nhất là khai thác và sửdụng tư liệu các di tích lịch sử tiêu biểu trên đia bàn huyện nhà
CÁC DI TÍCH TIÊU BIỂU CỦA HUYỆN VÀO DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
I VÀI NÉT VỀ HUYỆN
là vùng đất nước biếc, non xanh kỳ thú phía Tây xứ Nghệ,cách thành phố Vinh hơn 100km về phía Tây Đây là một huyện miền núi đất đaikhá rộng, trải dọc theo đôi bờ sông Lam và Quốc lộ 7, phía Đông giáp với huyệnđồng bằng Đô Lương, phía Bắc giáp với huyện miền núi Tân Kỳ, phía Tây giápvới huyện vùng cao Con Cuông và nước bạn Lào, phía Nam giáp với huyện
Trang 8Xa xưa trong thời kỳ Bắc thuộc có tên là Đô Giao Thời Hánthuộc huyện Hàm Hoan Thời Đông Ngô thuộc huyện Đô Giao Thời thuộcĐường có thể là huyện Hoài Hoan Thời tự chủ, có tên là Hoan Đường và ThạchĐường Các sử gia nhận định Hoan Đường và Thịnh Đường là tiền thân củadanh xưng Nam Đường, còn Đô Giao là tiền thân của Anh Đô Thời Nguyễn,niên hiệu Gia Long năm đầu đổi lại là phủ Anh Đô, kiêm lý huyện HưngNguyên, thống hạt huyện Nam Đàn Niên hiệu Gia Long (năm thứ 12) thì lạikiêm lý huyện Nam Đàn và thống hạt huyện Hưng Nguyên Niên hiệu MinhMệnh thứ 21 (1840), nhà Nguyễn cắt 4 tổng của huyện Nam Đường là tổngLạng Điền, tổng Đô Lương, tổng Bạch Hà, tổng Thuần Trung và một tổng phíaTây của huyện là tổng Đặng Sơn lập huyện Lương Sơn do phủ kiêm lý Lúc này phủ bao gồm 3 huyện: Thanh Chương, HưngNguyên, Chân Lộc và kiêm lý 2 huyện Nam Đàn và Lương Sơn Đến đời ThànhThái (1889) huyện Lương Sơn được gọi là phủ , tách các huyệnkhác ra Đến niên hiệu Tự Đức thứ 3, đổi kiêm lý hai huyện Lương Sơn và NamĐàn Niên hiệu Thành Thái thứ 10, đổi huyện Nam Đàn làm thống hạt, táchhuyện Hưng Nguyên đặt làm phủ riêng và đưa Nghi Lộc thuộc vào phủ này Thời Pháp thuộc, theo thể chể lúc bấy giờ, phủ trở thành một đơn vị tươngđương với huyện Đến năm 1946, phủ lúc này bao gồm 2huyện và Đô Lương
Trang 9Hình 01: Bản đồ Huyện
Ngày 19/4/1963, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 52/QĐ-TTg chiahuyện thành hai huyện và Đô Lương Lúcnày cắt một phần về phía Đông thành huyện Đô Lương Phần cònlại từ Gay đến Tam Sơn nằm 2 bên sông Lam là đất hai tổng Lãng Điền và ĐặngSơn làm huyện như ngày nay
Trải qua nhiều lần chia tách, danh xưng có thể khác nhau nhưng con người
và dải đất vẫn chất chứa trong mình sự hồn hậu, đằm thắm tư chất
xứ Nghệ Đó là tinh thần cố kết cộng đồng để phòng chống thiên tai và chống trảlại kẻ thù xâm lược; là nghĩa tình đằm thắm, tắt lửa tối đèn có nhau, “hạt muốicắn đôi, cọng rau xẻ nửa”, “thương người như thể thương thân”; tinh thần hiếuhọc, ham làm, biết vượt lên gian khổ, khó khăn, thương đau để xây dựng quêhương, họ tộc, gia đình là vùng đất với phong tục trọng hậu, nếpsống giản dị, trân trọng quá khứ để hướng tới tương lai Và cũng vì thế lịch sửhành trình đi qua giải đất này là lịch sử của những bài ca lao động chế ngự vàlàm chủ thiên nhiên, là bài ca chiến đấu “lấy ít thắng nhiều”, “lấy yếu thắngmạnh”, lấy thiên hiểm trời ban để kẻ thù bạt vía kinh hồn khi nhắc đến tên
Truyền thống văn hóa, truyền thống cách mạng của vùng đất
đã được tô thắm, rạng ngời hơn trong thời đại Hồ Chí Minh Và cũng vì thế cáitên đã trở thành miền quê để nhớ để thương trong lòng bạn bè cảnước và quốc tế Từ đó đến nay huyện đã trải qua quá trình laođộng, chiến đấu , xây dựng và phát triển mạnh mẽ Trong quá trình ấy, hòachung với dòng chảy lịch sử dân tộc, Huyện có nhiều sự kiện lịch
sử nổi bật đặc biệt có nhiều sự kiện lịch sử gắn liền với sự ra đời của các di tíchlịch sử của huyện nhà
II PHƯƠNG PHÁP KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TƯ LIỆU CÁC DI TÍCH TIÊU BIỂU CỦA HUYỆN VÀO DẠY HỌC LỊCH SỬ THPT
1 Tìm tòi tập hợp tư liệu
Việc tìm tòi và tập hợp tư liệu là vấn đề quan trọng đầu tiên sau khi bảnthân đã có ý tưởng xây dựng đề tài Vấn đề này phải trải qua quá trình tìm tòi vàtập hợp qua nhiều nguồn tư liệu và nhiều kênh thông tin, bởi chưa có một tàiliệu nào trình bày đầy đủ và toàn diện về các di tích trên địa bànhuyện Trong qua trình tìm tòi, tập hợp tư liệu về các di tích tiêubiểu trên địa bàn huyện nhà, tôi tiến hành khai thác qua: Các nguồn tư liệu đã
Trang 10tìm hiểu qua những mẩu chuyện lịch sử, những tài liệu thông sử có liên quanđến đề tài.
Về cơ bản gồm có các nguồn tư liệu sau:
- Tư liệu thành văn
- Tư liệu truyền miệng
- Tư liệu hiện vật
- Tư liệu tranh ảnh lịch sử
Sau khi tập hợp các nguồn tư liệu về các di tích lịch sử têu biểu trên địabàn của Huyện, tôi đã tổng hợp và lồng ghép lại với nhau Có những di tích cóđầy đủ các nguồn tư liệu nhưng cũng có những di tích chỉ có một số loại nguồn
tư liệu được nêu ở trên
2 Về loại hình di tích:
- Loại hình di tích khảo cổ học
- Loại hình di tích lịch sử
- Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật
- Loại hình di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật
- Loại hình di tích lịch sử - danh thắng
- Loại hình di tích danh thắng
3 Tổng quan di tích của tỉnh và huyện
Theo số liệu thống kê năm 2018:
- Toàn Tỉnh có: 2.602 di tích, trong đó:
+ Loại hình di tích khảo cổ học: 27
+ Loại hình di tích lịch sử: 2.488
+ Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật: 18
+ Loại hình di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật: 08
Trang 111 Lèn Bút – Ao Sen Tường Sơn
Thắng cảnh Lèn Bút - Ao Sen làbiểu tương cho tinh thần hiếu họccủa người dân nơi đây
Núi Kim Nhan cao 1340 km, mạchcủa nó chảy từ trong dãy núi lớnlại, đến đó đột nhiên nổi lên mộtngọn, đầu nhọn đẹp,cao ngất trờitrông như một búp măng mà xungquanh lại bao bọc bởi các núi nhỏ,trông giống như một đóa sen, trêncùng là một hang đá, đến gần trôngnhư miệng cá
3 Đò Rồng Bến Ngự Tường Sơn
Tương truyền: Sau khi hạ thành TràLân, nghĩa quân Lam Sơn do LêLợi dẫn đầu tiến công tiêu diệtquân Minh ở Bồ Aỉ và Khả LưuBằng cách vượt sông tại địa điểmnày (vùng nước xoáy vực sâu) đểquan sát địch, được gọi là BếnNgự, chiếc đò chở Lê Lợi qua sôngđược gọi là đò rồng
+ Di chỉ khảo cổ
T
1 Hang Đồng Trương Hội Sơn
Nơi cư trú của loài người thờinguyên thủy trên vùngđất ,có rất nhiều hiệnvật thuộc giai đoạn cuối cuả nềnvăn hóa Hòa Bình
Trang 121 Hiệu Yên Xuân Lĩnh Sơn Nơi thành lập chi bộ Đảng đầu tiên
tại
2 Đình Yên Xuân Lĩnh Sơn
Nơi thờ thành hoàng Làng và là nơiquần chúng nhân dân tập trung hội họp,đặc biệt, đây là những địa điểm tậptrung lực lượng tham gia biểu tìnhtrong phong trào cách mạng 30 – 31
3 Đình Phú Lĩnh Lĩnh Sơn
4 Đình Vĩnh Yên Lĩnh Sơn
5 Đình Đà Thọ Lĩnh Sơn
6 Đình Tào Điền Tào Sơn
7 Đình Hữu Lệ Tào Sơn
là bieeur tương cao đẹp cho tinh thầnđoàn kết Việt – Lào
14 Hang Lèn Thung Phúc Sơn Những địa danh gắn liền với cuộc đấu
tranh chống Mỹ trên đất
15 Hang Thung Ổi Phúc Sơn
16 Hang Đồng Tu Phúc Sơn
17 Hang Địa Cận Phúc Sơn
19 Đường mòn Hồ Khai Sơn
Trang 13Đỉnh Sơn
Đền thờ Mẫu Thượng Ngàn theo tínngưỡng thờ Mẫu của nhân dân ViệtNam Hiện nay di vật còn lại chỉ có cácsắc phong thời Nguyễn và 1 am thờnhỏ
Nơi tập trung các sắc phong của cácđền (đã bị phá hủy) trên địa bà xã TàoSơn
6 Đền Sát hải đại
vương Hoàng Tá
Thốn
Tào Sơn Thờ Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá
Thốn Người có tư chất thông minh,mưu trí và có tài bơi lội thao lược, cócông rất lớn trong việc đánh đuổi giặcNguyên ra khỏi bờ cõi Nhà vua phongcho ông là « Sát Hải Đại Vương »
Trang 14thờ Ông là một vị thần thường hộmệnh cho ngư dân những khi sóng gió,giặc giã, cứ giúp dân khi dân gặp hoạnnạn, vất vả Các làng ở ven biển, ở cửasông, lạch có đền thờ ngài Hoàng TáThốn
7 Đền Cửa Lũy Hoa Sơn
Thờ Thánh mẫu Lũy Sơn – là vị nữ yluôn chăm lo sức khỏe cho nghĩa quân
14 Đền Giáp Nhì Thạch Sơn
15 Cửa Chùa Thạch Sơn Thích thạch lãm
16 Đền Nhà Bà Cao Sơn Thờ thành hoàng làng
17 Đền Rọng Mặt Cao Sơn Thờ thành hoàng làng
18 Đền Cam Lĩnh Cao Sơn Thờ thành hoàng làng
19 Đền Đô Lượng Thạch Sơn Thờ bà chúa Nhâm – người liên lạc cho
vua Lê
+ Hệ thống nhà thờ họ
1 Nhà thờ họ Lê Quốc Tường Sơn Nơi thờ tự của tổ tiên dòng họ
2 Nhà thờ họ Bùi Công Tường Sơn Nơi thờ tự của tổ tiên dòng họ
Trang 153 Nhà thờ họ Nguyễn
Đình Vĩnh Sơn Nơi thờ tự của tổ tiên dòng họ
4 Nhà thờ họ Tô Đức Sơn Nơi thờ tự của tổ tiên dòng họ
5 Nhà thờ họ Nguyễn
Hữu Vĩnh Sơn Nơi thờ tự của tổ tiên dòng họ
6 Nhà thờ họ Phan Lĩnh Sơn Nơi thờ tự của tổ tiên dòng họ
4 Nội dung tư liệu về một số di tích tiêu biểu trên địa bàn huyện cần sử dụng vào các bài học lịch sử
Trong bảng danh mục trên, tôi đã tập trung nghiên cứu và chọn lọc một
số di tích tiêu biểu để khai thác và sử dụng vào dạy học lịch sử ở trường THPTnhằm minh họa cụ thể những sự kiện nổi bật qua các thời kì từ nguyên thủy đếnhiện đại, phù hợp với thời lượng chương trình và phạm vi đề tài, tránh sự dàntrải, ôm đồm về mặt kiến thức
4.1 Di tích lịch sử thời nguyên thủy
* Di tích khảo cổ hang Đồng Trương
Hang Đồng Trương nằm dưới chân một núi đá vôi của hệ thống dãy lènKim Nhan thuộc xã Hội Sơn, huyện , tỉnh , cách thànhphố Vinh 100km về phía Tây Nam, cách huyện lỵ 4km về phíaTây
Hang là nơi cư trú của người tiền sử thuộc văn hóa Hòa Bình (cách ngày nay 1,5 vạn năm đến 2 vạn năm) và văn hóa Đông Sơn (cách ngày nay 2,500 năm) 1
Căn cứ Thông tư 09/2011/TT – BVHTTDL ngày 14/7/2011 quy định vềnội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắngcảnh
Căn cứ kết quả khảo sát, nghiên cứu về di tích hang Đồng Trương, cho
thấy di tích hang Đồng Trương thuộc loại hình: Di tích Khảo cổ
Hang Lèn Đồng Trương là một địa điểm nằm cách quốc lộ 7 khoảng 70m,phân bố dưới chân một núi đá vôi thuộc hệ thống dãy lèn Kim Nhan, nơi có
Trang 16thung lũng Trà Lân – một địa danh lịch sử nổi tiếng gắn liền với chiến thắngquân Minh thời Lê Lợi.
Vào tháng 4 năm 1998, người dân xã Hội Sơn phát hiện và nhặt được rìu
đá tại hang Đồng Trương và đã báo cáo với chính quyền các cấp Bảo tàng tổnghợp tỉnh cử cán bộ về thực địa, tiến hành khảo sát, thu lượm được
33 mảnh gốm thô, cứng, xương gốm pha cát trong lớp đất mặt Từ đó, họ nhậnđịnh rằng: “đây là một di chỉ cư trú của con người cuối thời đại đá mới”
Để có cái nhìn chính xác hơn, Bảo tàng tổng hợp đề nghịViện Khảo cổ học giúp xác minh tính chất, niên đại và giá trị của di chỉ hangĐồng Trương
Tháng 6 năm 2000, Viện Khảo cổ học phối hợp với Bảo tàng tổnghợp tiến hành thám sát
Hình 02: Hang Đồng Trương
Kết quả đào thám sát 7m2 ở hang Đồng Trương, di chỉ này có tầng vănhóa dày 1.0 - 1,2m, cấu tạo chủ yếu là đất sét, vôi, vỏ ốc, than tro bếp, xươngrăng động vật Trong độ sâu từ lớp mặt đến 0,4m tầng văn hóa bị xáo trộn, thuđược công cụ đá ghè đẽo, đồ đất nung, di vật đồng và gốm sứ hiện đại Từ độsâu 0,5m trở xuống tầng văn hóa còn nguyên vẹn Trong lớp này không có gốm,
đồ đồng, chủ yếu tìm thấy công cụ cuội ghè đẽo mang đặc điểm nền văn hóa Hòa Bình
Trang 17Cuộc khai quật được tiến hành từ ngày 10 tháng 02 đến ngày 12 tháng 3năm 2004 Trong đợt khai quật này do Viện Khảo cổ học Việt Nam chủ trì đã thuđược các loại di vật gồm có: đồ đá: 1.176 di vật đá ; đồ gốm: 4.457 mảnh gốm;
đồ đất nung: 16 dọi xe chỉ; đồ đồng: 24 tiêu bản (trong đó 16 di vật đồng mang đặc trưng đồ đồng văn hóa Đông Sơn Ngoài các di vật trên, trong hố khai quật
di chỉ hang Đồng Trương còn phát hiện được 05 bếp lửa, 10 mộ táng và một số
tàn tích xương răng động vật và vỏ nhuyễn thể thuộc lớp văn hóa Hòa Bình.
Tháng 6 năm 2006, PGS.TS Nguyễn Lân Cường - Hội Khảo cổ học Việt Nam
và Ban quản lý Di tích - Danh thắng tỉnh về di chỉ hang ĐồngTrương đào phúc tra để thu thập những di cốt người khai quật trước đó Trongđợt phúc tra này còn phát hiện thêm 02 ngôi mộ táng nữa
Hình 03: Mộ táng được khai quật tại hang Đồng Trương
Trang 18
Hình 04: Di cốt người tại hang Đồng Trương
Như vậy, trong ba lần thám sát, khai quật và phúc tra di chỉ khảo cổ hangĐồng Trương cho thấy: Đây là một địa điểm khảo cổ khá đặc biệt, bởi nó khôngnhững là di chỉ khảo cổ thứ hai được phát hiện trên đất sau di chỉ
khảo cổ học Làng Vạc (nay là phường Nghĩa Hòa, thị xã Thái Hòa, tỉnh ), có chứa hai giai đoạn thuộc thời Đá cũ và thời Kim khí, mà
còn là di chỉ đầu tiên phát hiện được vết tích các mộ táng thời Đá cũ Những kếtquả đó cho phép chúng ta nghiên cứu chủ nhân của nền văn hóa xưa cũng nhưlịch sử hình thành, phát triển và vai trò của vùng đất trong quátrình hình thành và phát triển xã hội loài người
4.2 Di tích liên quan đến thời kỳ nhà Lý
Kỳ Sơn và con đường ra Thanh Hóa, từ việc chiêu dân, lập ấp của Lý NhậtQuang, từ việc phát triển sản xuất nông nghiệp,… đã cho thấy một tầm nhìn xa,rất xa của Lý Nhật Quang với miền Tây xứ Nghệ và cũng khẳng định sự đónggóp và lợi thế của địa bàn với việc mở mang biên thùy phía Tây
Tổ quốc Trong phòng thủ quốc gia ở phía Tây xứ Nghệ của quốc gia, Lý NhậtQuang đã chọn làm vùng đất “tiến có thế công, lùi có thế thủ” Sựlinh ứng của vùng đất còn lưu dấu trong câu chuyện truyền ngôn: Một lần giặc
Ai Lao sang quấy nhiễu miền Tây, Lý Nhật Quang đem quân từ Bạch Dương(Đô Lương) lên diệt giặc Qua xã Lạng Điền thì đã tối, ngài lệnh cho quân sĩdừng lại hạ trại Quá nửa đêm một vị thần hiện lên báo mộng: Uy Minh vương
đi lần này chưa đánh giặc đã tan Quả vậy, Lý Nhật Quang chưa động binh giặc
đã tháo chạy Khi trở về Lý Nhật Quang tìm lại nơi mình đã nghỉ chân, hỏi thămcác già làng, Người được biết vùng đất này có đền thờ Hồ Quý - một thanh niêntrí dũng hơn người, giàu lòng nhân ái đã quên mình xông vào hang ổ của con
Trang 19“Giải hòm” đã thành tinh ở vùng cửa sông để cứu học trò trong làng Giết chếtđược quái vật nhưng Hồ Quý đã bị thương nặng và trút hơi thở cuối cùng nơicửa sông Dân làng nhớ ơn Hồ Quý vì sự học của con em mà quên mình nên đãlập đền thờ Hồ Quý linh thiêng thường báo mộng khi có đại sự Lý Nhật Quang
vô cùng cảm động đã vào đền thắp hương, thấy đền còn sơ sài đã xuất thêm tiền
để dân làng xây cất đàng hoàng hơn Ngoài đền có 2 con voi mẹp bằng đá to phủphục nên dân làng quen gọi đền này là đền Voi Mẹp
Bi hùng, hào sảng là huyền thoại về cái chết của người anh hùng dân tộc,người có công đầu mở mang bờ cõi Huyền thoại rằng: Lý NhậtQuang trong trận cuối cùng đánh giặc Lão Qua đã bị trọng thương Tuy giặc đãchém đầu Ngài nhưng Ngài vẫn tiếp tục đặt đầu mình lên cổ và ngồi vững vàngtrên lưng ngựa chạy về Trung quân phải dừng lại Mộ Điền, Mạc Điền để ngàichữa thương Về đến Bạch Dương thì ngài qua đời Thương nhớ người anh hùngdân tộc đã có công khai sơn phá thạch, kiến ấp vùng đất này, nhân dân xã MộĐiền đã lập đền thờ ông và hàng năm ngày 6 tháng giêng làng khai hạ, ba giáp
tổ chức rước kiệu về đình làng, tổ chức cúng tế đến ngày 7 mới đưa về đền.Ngày nay xã Vĩnh Sơn đã lập lại đền thờ Lý Nhật Quang to đẹp, đàng hoàng.Hàng năm, nhân dân làng Thượng Thọ, xã Vĩnh Sơn tổ chức lễ hội tại đềnngày 15 tháng 2 và rằm tháng 7 âm lịch
Hình 05: Đền Lý Nhật Quang
4.3 Di tích liên quan đến Thời kỳ nhà Trần
* Đền thờ Sát Thái Đại Vương Hoàng Tá Thốn
Trang 20Đền Sát Hải Đại Vương ở xã Tào Sơn là một ngôi đền có từ xưa naythuộc thụn 2, với kiến trúc trang nghiêm có chạm trổ, có ngựa, kiệu long đình,súng thần cơ, chuỳ, văn bia…
Sát Hải Đại Vương là phong sắc của thực tên là Hoàng Tá Thốn, tên chữ
là Hoàng Minh, mỹ hiệu là Tô Đại Chiêu, sinh quán làng Vạn Phần, huyện ĐôngThành (nay Diễn Châu) Trú quán thôn Vạn Tràng (nay xã Long Thành, huyệnYên Thành) Mẹ người họ Trương ở làng Lý Trai (nay là xã Diễn Kỷ DiễnChâu) Cha không rõ là ai
Chuyện kể rằng bà mẹ ra sông ghánh nước Bà bống thấy hai con trâu bạc,
từ dưới sông hùng hổ đi lên và lao vào húc nhau Chúng đuổi nhau tới gần chỗ
bà Bà dùng đòn ghánh đuổi hai con trâu, tự nhiên hai con trâu biến mất Bà nhìnthấy trên đầu đòn ghánh có dính một chiếc lông trâu Về nhà bà thấy trong ngườikhác lạ và bà mang thai Đủ tháng, đủ ngày bà sinh nở một cậu bé khôi ngô
Cậu bé được đặt tên là Hoàng Tá Thốn Cậu lớn nhanh, sức khoẻ lạthường, không ai vật nổi Đặc biệt cậu có tài bơi lội, tỏ ra có tri xảo hơn người
Lúc Hoàng Tá Thốn vừa đến tuổi trưởng thành, cũng là lúc nhà Nguyênxâm lược nước ta Hoàng Tá Thốn lên đường nhập ngũ Được Trần Hưng Đạotin dùng, cho làm Nội thư gia, giúp việc binh thư và luyện tập quân đội, đượcgiao chỉ huy chiến thuyền trong trận đánh lớn ở trên sông Bạch Đằng (1228),ông đã dùng kế dục thuyền giặc và thắng lớn
Khi xét công khen thưởng nhà vua phong là “Sát hải đại Tướng quân”.Saukhi ông mất, nhà vua phong tặng “ Trung dũng dực bảo trung hưng, hộ quốc tỷdân, Sát hải đại tướng quan thiên Bồng nguyên soái chi thần”.Nhân dân nhiềunơi lập đền thờ ông, Riềng đền thờ tại xã Tào Sơn được lập nhằm rước linh khíHoàng Tá Thốn để nhân dân thờ phụng và ghi nhớ công ơn ông, đến sau này đềnthờ chủ yếu là do nhân dân thuộc làng vạn dọc sông lam quản lý và thờ phụng
Hiện nay ngôi đền nằm trong khuôn viên diện tích = 500 m2, cửa và cổngchính của ngôi đền hướng về phía tây nam, nhìn thẳng xuống sông Lam, hiệnnay vẫn cũn di tích hai cột cổng cao khoảng 3m, trên đỉnh có cặp ngưu chầu vềnhau, theo lỗi từ ngoài cổng vào hết bậc cấp ngay bên trái cửa đền là một cái bànthờ thổ công xây bằng gạch, diện tích khoảng 1m2 và bên trái là một bức văn biabằng chữ Hán được khắc trên bia đá cao khoảng 1m, rộng khoảng 40cm
Hàng năm vào ngày 24/12 nhân dân làng vạn ở hai xã Tào Sơn và LạngSơn làm lễ trải áo có lễ vật thờ cúng
4.4 Di tích gắn liền với sự kiện cuộc khởi nghĩa Lam Sơn cuả Lê Lợi
Trang 21a Di tích lịch sử đền Cửa Lũy
Nằm dưới dãy núi Kim Nhan, di tích đền Cửa Lũy được xây dựngtrên một khu đất rộng rãi, thoáng đãng thuộc xóm 1, xã Hoa Sơn,huyện , tỉnh
Đền được lập đầu tiên là để thờ Thánh Mẫu Lũy Sơn Theo lời kể của
các cụ cao niên ở địa phương và một số tài liệu còn lưu truyền, thì đền Cửa Luỹđược lập nên để thờ Thánh Mẫu Lũy Sơn – người đã có công chăm sóc cho nghĩaquân Lam Sơn trong những năm kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợitại miền núi
Tương truyền: Sau khi san phẳng đồn Đa Căng (Thanh Hóa), thắng lớn
ở Bồ Đằng (Quỳ Châu), nghĩa quân Lam Sơn tiến hành bao vây thành TràLân Để bảo vệ an toàn cho nghĩa quân, không cho giặc Minh từ đồngbằng tấn công lên giải vây cho thành Trà Lân, tại Cửa Gió (Cửa lũy) – nơigặp nhau giữa dãy núi đá hiểm trở Trốc Đồng và Thung Rất, chi có mộtcon đường độc đạo đi qua, nghĩa quân đã đắp đất lũy, lập đồn (doanh trại)chốt lũy rất kiên cố Lúc bấy giờ do không hợp với thủy thổ, đường hànhquân gian nan, cuộc sống rừng núi hết sức khó khăn, gian khổ, nênnghĩa quân thường xuyên bị ốm đau, dịch bệnh
Trước tình cảnh đó, dưới trướng của một tướng quân có một Nữ y tìnhnguyện đi chăm lo sức khỏe cho nghĩa quân Cô là một nữ y có đức tínhcần cù, đầy lòng nhân hậu, luôn tận tâm, tận lực chăm lo, cứu chữa sứckhỏe cho binh sỹ Nhờ sự tận tụy đó, sức khỏe của nghĩa quân được bảođảm, góp phần vào chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn tại miềntây , được mọi người tin yêu, quý trọng, tôn vinh như một ânnhân
Một hôm, doanh trại bị dịch sốt rét hoành hành, thuốc thang thiếu thốnnghiêm trọng Để có đủ thuốc cứu chữa cho mọi người, cô không quản ngạikhó khăn, gian khổ, một mình vượt núi băng rừng đi tìm các phương thuốcquý Trên đường đi, do đã kiệt sức, cô dựa vào một gốc cây cổ thụ ven đườngngồi nghỉ và rồi không gượng dậy được Không thấy cô về, quân sỹ tản đi cáchướng để tìm kiếm và đưa cô về doanh trại trong trạng thái mê man, bất tỉnh,nhưng tay vẫn nắm chặt bó lá thuốc vừa hái được
Ngày hôm sau, cô qua đời Vô cùng thương tiếc người nữ y tận tụy đã quênmình vì sự nghiệp chăm lo sức khỏe cho binh sỹ với mong muốn góp sức cùng
non sông xã tắc, chống giặc giặc Minh, giành độc lập chủ quyền cho đất nước.
Trang 22Vị tướng quân đã cho binh sỹ an táng cô tại trên một vùng đất gần vọng gác Cửa
Lũy, về sau, vùng đất có mộ cô này được nhân dân gọi là cánh Đồng Cô
Một lần, tướng quân cùng binh sỹ ra viếng mộ cô Sau khi viếng xong, trên
đường tuần hành trận tuyến, bỗng thấy một con thỏ trắng từ gốc cây cổ thụ (nơi
cô ngồi nghỉ lần cuối) chạy ra giữa đường ngăn bước tiến của tướng quân, lượn
ba vòng quanh đoàn tướng quân rồi biến mất Thấy đây có thể là điềm dữ, vịtướng quân ra lệnh quân sỹ quay về và tuần tra, canh gác doanh trại cẩn mật.Sáng hôm sau, bắt được một toán thám báo của quân Minh, chúng khai rằng:
nhận lệnh đi ám sát vị tướng trấn giữ vùng đất này Lại có truyền thuyết (theo ông Ninh Viết Giao, trong sách Tục thờ thần và thần tích ) kể rằng:
Trong một trận giao chiến với quân Minh, Lê Lợi và các tướng sỹ phải chạy vàomột khu rừng để lẫn tránh, nhưng quân Minh vẫn bám riết sau lưng Gấp quá, LêLợi phải chạy vào bụi kín Quân Minh bu xung quanh đưa giáo xỉa vào mìnhVương, Vương phải lấy đất chùi vết máu Chúng cho chó săn vào lùng sục, đánhhơi Bỗng từ gốc cây, một con Chồn trắng chạy ra, chó đuổi theo con Chồn Thế
là Lê Lợi được thoát Lê Lợi cho rằng Thỏ trắng hay Chồn trắng đều chính là Nữ
y hiện hình cứu mạng, liền cho quân sỹ dựng đền thờ ngay dưới gốc cây cổ thụ
mà thỏ trắng xuất hiện và lấy tên là đền Lũy Sơn ( hay đền Cửa Lũy) Đền nổi tiếng linh nghiệm, nên Nữ y được vua Minh Mạng phong là “Bạch y thánh mẫu Lũy Sơn”, đến đời vua Khải Định phong là “Dực bảo Trung hưng Thượng đẳng thần” Rất tiếc, do chiến tranh, đền bị bom đạn tàn phá, những
sắc phong đó cũng không còn Sau này, được sự cho phép về chủ trương của
các cấp và sự đóng góp công đức của gia đình ông bà Tráng (phường Lê Lợi, Thành phố Vinh), đền được khôi phục lại Và cũng chính lần tu bổ, phục hồi này, từ tín ngưỡng thờ vị thần chính là Nữ y(Thánh Mẫu Lũy Sơn) nhân dân
nơi đây đã tôn vinh và phát triển thành tín ngưỡng thờ Lê Lợi và các tướng
sĩ của ông, Tam Tòa Thánh Mẫu, tứ phủ công đồng (Hưng Đạo Đại Vương),
Phật, Đây cũng là biểu hiện của tam giáo đồng nguyên thường gặp ở cácđền chùa nông thôn Việt Nam
Về sau, để tưởng nhớ những công lao to lớn của những anh hùng kiệt xuấttrong chống giặc ngoại xâm giành và bảo về nền đọc lập tự chủ của dân tộc thờiphong kiến, nhân dân nơi đây còn lập bài vị thờ Lê Lợi – người lãnh đạo nhân tagiành thắng lợi trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn; thờ Hưng đạo đại vương TrầnQuốc Tuấn – vị chỉ huy tài giỏi với ba lần đánh thắng giặc Mông – Nguyên đướthời trần
Trong đời sống tâm linh, đền của Lũy còn thờ:Tam Toà Thánh Mẫu: Mẫu
Đệ nhất (Mẫu Liễu Hạnh), Mẫu đệ nhị (Mẫu Thượng Ngàn), Mẫu đệ tam (Mẫu
Trang 23Thoải), Phật, tượng Cửu Long, tượng Tuyết Sơ:., tượng Thuyết Pháp, tượng Niết bàn, tam Thế, Quan Âm
Đền Cửa Luỹ là nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh của nhân dân, ngoài nhữngngày sóc, vọng, nhân dân thường đến đây thắp hương cầu mong sự bình yên, no
ấm Còn có những ngày như:
- Ngày 3 tháng 3: Giỗ Mậu
- Ngày 8 tháng 4: Khánh đản Phật Thích Ca
- Ngày 15 tháng 7: Ngày cúng Chúng sinh
- Ngày 20 tháng 8: giỗ Cha (Đức Thánh Trần)
- Ngày 22 tháng 8: Giỗ Lê Lợi
Nhân dân khắp nơi lại tề tựu về đây tổ chức tế lễ, nhằm tri ân những vịthần, thánh đã có công với dân với nước, giúp làng trong cuộc sống
Đền được xây dựng trên một khu đất đẹp, phong cảnh hữu tình, nơi gắn liềnvới cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi trong những năm kháng chiến chốngquân Minh trên đất
Ngày 06 tháng 9 năm 2011 Ủy ban nhân dân tỉnh có Quyết
định số 3598/QĐ-UBND-VX về việc công nhận Đền Cửa Lũy xã Hoa Sơn là ditích lịch sử văn hoá cấp tỉnh
Trang 24Hình 06: Đền Cửa Lũy
b Di tích lịch sử đền Trương Hán
Trong những ngày nghĩa quân Lam Sơn bao vây thành Trà Long ( Tứcthành Nam thuộc phủ Trà lân cũ, ở huyện Con Cuông) nhân dân địa phương hếtlòng ủng hộ Một người tiêu biểu trong đó là Trương Hán Ông là một tù trưởngngười Thái ở bản Khe Trằng, Mường phục Đứng dưới cờ nghĩa quân Lê lợi,Trương Hán cùng với hai em là Trương Tam và Trương Tham đã đem trâu,ngựa, gà vịt và lương thực của gia đình giúp đỡ nghĩa quân trong những ngàyvất vả Chính Trương Hán đã dẫn đường cho nghĩa quân tiến vây thành Trà long
và cùng với dân bản, dân Mường ngày đêm vận chuyển lương thực phục vụnghĩa quân Lam sơn trong những ngày vây thành, mai phục giết giặc Lươngthực cạn, nhà có “cây Khầu” Trương Hán đã cho gia nhân bứt hết quả dùng vàoviệc nuôi quân Bứt hết quả khầu ở vườn nhà, Trương Hán đưa gia nhân và dâncác bản vào rừng tìm quả Khầu, cây khủa và đào củ Mài, hái rau rừng để phòviệc nghĩa
Thiên hạ đại định, Trương Hán được Lê Lợi ban cho một chức quan vàkhoanh một vùng đất gồm “ Tam Bách Đỉnh Sơn” (Ba trăm đỉnh núi), cho gọicây Khầu ở nhà Trương Hán là “Khầu quận công” Chưa hết vua còn ban chođịa phương ấy cái tên “Tiên Kỳ” tức là có công trong buổi đầu dựng nước vàtặng cho xã ấy một con dao vàng để làm “Kỷ niệm” Việc nhân dân bứt quảKhầu, hái rau rừng nuôi nghĩa quân Trương Hán qua đời, nhà vua cho lập đềnthờ truy tặng là “ Khả lãm quốc công” Đền làm ở bên cạnh Khe Trằng bà conđịa phương gọi là đền “Tả Ngọn”
4.5 Di tích lịch sử trong thời kỳ chống Pháp
* Di tích lịch sử hiệu Yên Xuân
Di tích Hiệu Yên Xuân trước đây thuộc làng Dương Xuân, tổng ĐặngSơn, phủ ., nay là xã Lĩnh Sơn, huyện .,tỉnh Di tích cách thành phố Vinh 75 km về hướng Tây Bắc theođường Quốc lộ số 7
Năm 1922, được giác ngộ bởi các vần thơ yêu nước của cụ Phan BộiChâu một nhóm tâm giao gồm có: Hoàng Khắc Bạt, Cao Xuân Khoách, PhanThái Ất và Nguyễn Văn Bác được hình thành ở làng Dương Xuân Mục đích củanhóm là góp vốn mở một cửa hiệu bán thuốc Bắc; đồng thời làm nơi đi lại, đàmluận thời cuộc và xây dựng quỹ cho việc nghĩa Bên cạnh việc góp vốn, nhómcòn tổ chức góp ruộng cày chung, hưởng hoa lợi theo sự đóng góp Uy tín của
Trang 25cửa hàng về việc bốc thuốc và giá cả hàng tạp hoá phải chăng nên khách hàng và
số người tham gia góp cổ phần ngày càng đông - lên đến 40 người Từ năm1922-1924, nhóm này đã góp sức vào việc vận động 11 thanh niên trong vùngxuất dương du học Năm 1925, những người tham gia góp cổ phần đó đã lập “Hội ái hữu bí mật”, một tổ chức mang tính chất cách mạng ra đời sớm nhất
ở Mục đích của Hội là “ Đồng lao cộng tác, thông công dịch sử”,
có nghĩa là: đồng cam cộng tác, đổi công hợp tác
Khi buôn bán đã phát đạt, vốn kha khá, yêu cầu phải mở rộng cửa hiệu.Năm 1925, Hội đã mua lại căn nhà của một công chức kiểm lâm người Pháp ởlàng Lãng Điền( nay là xã Đức Sơn) đem về làng Dương Xuân làm trụ sở Hội.Hội đã phân công ông Cao Xuân Hỷ và Nguyễn Văn Toàn giám sát thi công.Nhà làm xong, nhận thấy hầu hết hội viên là người của hai làng Dương Xuân vàYên Lĩnh, Hội đã quyết định dùng tên ghép của hai làng đặt tên cho cửa hàng là:Hiệu Yên Xuân
Hiệu Yên Xuân là một ngôi nhà hai tầng, kiến trúc kiểu “song diêm”,ngoảnh mặt về hướng Nam Nhà làm hoàn toàn bằng gỗ lim, lợp ngói vẩy Cácđầu giao được cách điệu hình Rồng Tầng dưới có 6 cột gỗ lim tròn, cửa chính
có 8 cánh, hai cửa sổ và hai cửa ra vào đằng sau Tầng hai sàn lát bằng gỗ cácloại, phía trước có cửa sổ, lan can bằng gỗ song thưa cao 0,8 m hai cửa kéo haiđầu hồi, hai cửa chính trạm trổ hoa văn hình chữ X Từ tầng dưới lên tầng trên
có cầu thang bằng gỗ Tầng dưới dùng làm nơi bán hàng tạp hoá, thuốc Bắc,may mặc Tầng trên dùng để khám bệnh và đó cũng là nơi họp bàn việc bí mật.Hiện trong di tích còn giữ được một số hiện vật của cửa hiệu như: tủ đựng thuốcBắc, hòm đựng tiền quỹ, máy khâu
Hiệu Yên Xuân ngày càng phát triển, các hội viên đã mở rộng kinhdoanh ra Bắc vào Nam, đó là điều kiện đi lại hoạt động dễ dàng Năm 1926, Hội
đã bắt liên lạc với Việt nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội( gọi tắt làThanh niên) Tổ chức Thanh niên đã cử đồng chí Dương Đình Thuý về xây dựng
cơ sở, tập hợp những người tiến bộ giác ngộ, lập tiểu tổ Việt Nam Thanh niêncách mạng đồng chí Hội đầu tiên ở tại Hiệu Yên Xuân Chín đồngchí được kết nạp vào tổ chức Thanh niên là: Trần Hữu Thiều, Phan Thái Ất, CaoXuân Khoách, Hồ Sỹ Viên, Phan Hoàng Thân, Bùi Khắc Thừa, Hoàng KhắcBạt, Nguyễn Hữu Đức và Nguyễn Hữu Cơ Các cơ sở của Hội Thanh niên đượcxây dựng mạnh trong 2 năm 1928-1929 Hiệu Yên Xuân trở thành đầu mối liênlạc của tổ chức Thanh niên ở
Trang 26Hình 07: Hiệu Yên Xuân
Tháng 9-1929, phong trào cách mạng ở phát triển mạnh,đồng chí Nguyễn Phong Sắc, uỷ viên Trung ương Đảng, phụ trách Xứ uỷ Trung
Kỳ đã về đây triệu tập một cuộc hội nghị bí mật tuyên bố thành lập chi bộ ĐôngDương cộng sản Đảng đầu tiên ở Đến tháng 11/1929, cũng tạiHiệu Yên Xuân Tổng Nông hội được thành lập, do đồng chí PhanThái Ất làm Bí thư
Sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, Hiệu Yên Xuân càng phát huytác dụng Nơi đây là cơ sở hoạt động của Đảng và cũng là cơ sở kinh tài củaĐảng Trong những năm 1930-1931, khi phong trào đấu tranh của nhân dân lêncao
Ngày nay Hiệu Yên Xuân đã trở thành phòng truyền thống của địaphương Chính quyền địa phương cũng thường dùng Hiệu Yên Xuân làm nơi tổchức kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc Các thế hệ trẻ rất tự hào
về truyền thống của cha ông mình
Trang 27
Hình 08: Những Hội viên ban đầu của Hiệu Yên Xuân
Hình 09: Dao cắt thuốc của Hiệu Yên Xuân
Trang 28Hiệu Yên Xuân là nơi ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử có giá trị, ngày16/11/1988 Bộ Văn hoá đã ra quyết định số 1288 VH/QĐ công nhận Hiệu YênXuân là di tích Lịch sử Văn hoá cấp Quốc gia.
4.6 Di tích lịch sử gắn với thời kỳ kháng chiến chống Mỹ
* Nghĩa trang quốc tế Việt - Lào
“Việt - Lào hai nước chúng ta,Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”
Đó là câu nói bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tình hữu nghị đặc biệtViệt Nam - Lào Trải khắp dải đất hình chữ S thân yêu cũng như trên đất nướcTriệu Voi có không biết bao nhiêu địa danh, công trình lưu giữ những chứng tíchcho mối quan
hệ đặc biệt của hai dân tộc anh em Việt Nam - Lào Nghĩa trang liệt sỹ
Hình 10: Cổng Nghĩa Trang Việt - Lào
Năm 1945 ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, Chủ tịch HồChí Minh mời Hoàng thân Xuphanuvông đang ở Vinh ra Hà Nội và tiếp Hoàngthân vào ngày 4/9/1945 Cuộc gặp gỡ đã có tác động mạnh mẽ, quyết định đốivới Hoàng thân trong việc chọn lựa con đường làm cách mạng Ngày30/10/1945, Chính phủ Lào Ít-xa-la và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòachính thức ký kết bản “Hiệp định hợp tác tương trợ Việt - Lào” và quyết địnhthành lập “Liên quân Lào - Việt” nhằm bảo vệ nền độc lập ở mỗi nước mà haidân tộc vừa giành được Hiệp định và quyết định trên là cơ sở pháp lý đầu tiên
về mối quan hệ liên minh chiến đấu giữa hai dân tộc với tư cách hai nhà nước
Trang 29Ngày 16/5/1948, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết địnhthành lập Ban Cán sự hải ngoại của Đảng với nhiệm vụ giúp nhân dân Lào xâydựng phong trào cách mạng, đẩy mạnh kháng chiến ở phía Tây Ngày30/10/1949, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Quyết định chỉ rõ "Các lực lượngquân sự Việt Nam chiến đấu và công tác giúp Lào tổ chức thành hệ thống riêng
và lấy danh nghĩa là Quân tình nguyện".Trong những năm kháng chiến, hàngngàn quân tình nguyện Việt Nam đã dũng cảm rời quê hương sang nước bạnchiến đấu.Trải qua hai cuộc kháng chiến giúp nước bạn Lào chống thực dânPháp và đế quốc Mỹ Các chiến sỹ ta đã coi đất nước Lào như quê hương thứ haicủa mình và thực hiện đúng lời Bác Hồ kính yêu đã dạy: “Phải biết yêu thươngsông núi, cỏ cây, nhân dân Lào như yêu thương chính cỏ cây, sông núi, nhân dân
Tổ quốc Việt Nam” Chính vì vậy mà quân tình nguyện Việt Nam đi đến đâucũng nhận được tình cảm yêu mến của nhân dân Lào
Hình 11: Toàn cảnh Nghĩa Trang quốc tế Việt - Lào
Để ghi nhớ và tri ân các anh hùng liệt sỹ quân tình nguyện Việt Nam đã
kề vai sát cánh với quân giải phóng Pa-thét chiến đấu bảo vệ 2 đất nước, Đảng
và Nhà nước ta đã cho xây dựng một nghĩa trang đặc biệt mang tên cả 2 Tổ quốc
để làm nơi yên nghỉ cho những người lính tình nguyện Việt Nam đã chiến đấu
và hy sinh trên đất nước Lào Đó là Nghĩa trang liệt sỹ Việt - Lào.
Trang 30Hình 12: Lễ tri ân các liệt sỹ tại nghĩa trang Việt - Lào
Nằm sát quốc lộ 7 đường lên cửa khẩu Nậm Cắn (biên giới Việt - Lào),
Nghĩa trang liệt sỹ Việt - Lào nằm yên bình giữa trung tâm thị trấn huyện Anh
Với diện tích gần 7 ha, Nghĩa trang liệt sỹViệt – Lào là nghĩa trang lớnnhất quy tập các mộ liệt sỹ của quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam từngtham gia chiến đấu và hy sinh tại Là Đây cũng là nghĩa trang duy nhất của ViệtNam mang tên hai quốc gia, hai dân tộc Nghĩa trang được xây dựng từ năm
1976 Đến năm 1982, với tình cảm uống nước nhớ nguồn, Đảng và Nhà nước ta
đã quyết định đưa toàn bộ hài cốt liệt sỹ hy sinh ở nước bạn Lào về nước, quytập tại Nghĩa trang liệt sỹ Việt - Lào Nghĩa trang có 2 khu: Khu A và khu B.Trong đó, khu A gồm 9 lô liệt sỹ với tổng số 5.381 mộ Khu B gồm có 13 lô mộliệt sỹ với tổng số 5.219 mộ và một lô mộ tử sỹ có 11 mộ Tính từ khi xây dựngcho đến nay, nghĩa trang đã tiếp nhận và chăm sóc gần 11.000 hài cốt các liệt sỹ
hi sinh trên chiến trường nước bạn
Trang 31Từ năm 2008, Nghĩa trang liệt sỹ Việt - Lào được tôn tạo và nơi đây đã
trở thành chốn đi về của thân nhân liệt sỹ và cũng là địa điểm gần gũi của ngườidân quanh khu vực Hàng năm, Ban Quản lý Nghĩa trang đón tiếp hàng vạnkhách đến thắp hương thăm viếng tưởng nhớ các Anh hùng liệt sỹ đã hy sinhanh dũng cho cả hai dân tộc
Hình 13: Lễ hội uống nước nhớ nguồn tại Nghĩa Trang quốc tế Việt - Lào
Cùng với thời gian, những hoạt động của Quân tình nguyện và chuyên giaquân sự Việt Nam giúp Lào trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đấtnước, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mãi mãi là biểu tượng cao đẹp, trongsáng về tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào, Lào - ViệtNam hiếm có trong lịch sử quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới đúngnhư lời của đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản: “Trong mọi sự thành công của cáchmạng Lào, đều có sự đóng góp trực tiếp của cách mạng Việt Nam; trên mỗichiến trường của Tổ quốc thân yêu của chúng tôi, đều có xương máu của cácchiến sỹ quốc tế Việt Nam hòa lẫn với xương máu của cán bộ, chiến sỹ và nhândân các bộ tộc Lào chúng tôi”
Nghĩa trang liệt sỹ Việt – Lào là công trình biểu tượng tình đoàn kết thủychung, son sắt của hai dân tộc anh em Chiến tranh đã lùi xa, nhưng dư âm của
nó vẫn còn trong mỗi làng quê, con phố khắp đất nước Việt Nam Chủ tịch Hồ
Trang 32mạng thêm đỏ chói Sự hy sinh của các liệt sỹ đã chuẩn bị cho đất nước nở hoađộc lập, kết quả tự do” Và không chỉ chiến đấu cho đất nước mình, những chiến
sỹ tình nguyện Việt Nam đã không tiếc tuổi thanh xuân của mình cho nhiệm vụquốc tế cao cả, cho tình hữu nghị giữa Việt Nam với các nước láng giềng bèbạn
5 Cách thức khai thác và sử dụng tư liệu các di tích lịch sử tiêu biểu của huyện vào dạy học lịch sở ở trường THPT
- Sử dụng tư liệu các di tích lịch sử vào dạy học nội khóa bao gồm:
+ Thư nhất: Những bài học lịch sử trong chương trình thông sử có những nộidung liên quan đến các di tích lịch sử như về lĩnh vực nghệ thuật kiến trúc, điêukhắc, những bài học có các sự kiến gắn liền các di tích lịch sử địa phương liệnquan đến những sự kiện đó
+ Thứ hai: Sử dụng trong chuyên đề lịch sử địa phương: Chuyên đề 3: Lịch
sử qua các di tích tiêu biểu
- Sử dụng tư liệu các di tích lịch sử vào dạy học Ngoại khóa: Tùy vào mục đích,năng lực, nhu cầu học sinh,thời gian, địa điểm, quy mô mà có thể tiến hành dướinhiều hình thức ngoại khóa khác nhau Cơ bản có các hình thức sau
+ Thứ nhất: Đọc sách, là hình thức nhằm bổ trợ thêm kiến thức cho học sinh saunhững giờ học trên lớp Để đạt hiệu qủa, giáo viên phải lập các danh mục đầusách học sinh cần đọc, Phải có tài liệu có thể do nhà trương hoặc giáo viên trựctiếp cung cấp hoặc huy động tài liệu từ tìm kiếm, sưu tầm của các em học sinh
Từ đó giáo viên hướng dẫn các em cách đọc sách để lĩnh hội những tri thứcnhằm phục vụ học tập, có thể đọc sách tại phòng đọc thư viện ngoài giờ họcchính khóa, có thể đọc sách ở nhà Sau khi đọc sách, giáo viên nên cho học sinhviết bài thu hoạch qua một số bài tập để kiểm tra mức độ lĩnh hội tri thức củahọc sinh
+ Thứ hai: Kể chuyện lịch sử, là một hình thức khá hấp dẫn và có tính giáo dụcrất cao nhằm chuyển tải kiến thức lịch sử qua các câu chuyện lịch sử đảm bảotính chính xác, khoa học, chân thực, tuyệt đó hong được hư câu, lì kỳ Kể