1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hồ Chí Minh và con đường cứu nước: Phần 1

101 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hồ Chí Minh và con đường cứu nước
Tác giả TS. Phẩm Ngổc Trờm
Người hướng dẫn PGS.TS Vừ Văn Sen
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM
Chuyên ngành Khoa học xã hội và nhân văn
Thể loại Sách
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 531,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu Hồ Chí Minh và con đường cứu nước có kết cấu nội dung gồm 3 chương. Tài liệu được ra mắt nhân dịp kỷ niệm 100 năm Người ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911-5/6/2011). Phần 1 tài liệu thể hiện nội dung của 2 chương đầu: Chương 1: Vinh quang con đường cứu nước Hồ Chí Minh, chương 2: Hồ Chí Minh tim đường cứu nước. Mời các bạn đón đọc Phần 1 Tài liệu Con đường cứu nước Hồ Chí Minh.

Trang 3

Taái baãn lêìn thûá nhêët

Nhaâ xuêëT baãN TöíNg húåP ThaâNh Phöë höì Chñ MiNh

Trang 4

L ời giới thiệu

vượt qua bao chông gai gian khó của hơn 30 năm lặn lội, xuôi ngược từ khắp nơi trên thế giới để tìm con đường giải phóng nhân dân Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của ngoại bang; một con đường cứu nước độc đáo, giàu tính sáng tạo, chưa có tiền lệ trong lịch sử dân tộc

Từ một người Việt Nam yêu nước chân chính, như bao người dân nô lệ khác, Hồ Chí Minh đã trải qua những năm tháng cay cực của cuộc đời, hun đúc tinh thần cứu nước rồi quyết tâm ra đi học hỏi, nghiên cứu tình hình thực tế các nước phương Tây nhằm nghiên cứu, vận dụng vào con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc, gắn liền với giành tự do, dân chủ cho nhân dân; thể hiện sinh động quá trình chuyển biến từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Đây là những di sản hết sức quý báu của dân tộc Việt Nam và nhân loại, là sự sáng tạo của một nhà tư tưởng lớn, tiếp thu và kế thừa xuất sắc những giá trị, tư tưởng tiến bộ của thế giới và hiện thực hóa bằng thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Con đường cứu nước Hồ Chí Minh là một chủ đề lớn từng

được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Dưới góc độ tìm tòi bổ sung làm phong phú thêm những luận điểm mới về con đường cứu nước của Hồ Chí Minh, như lí giải một số động lực ra đi tìm đường cứu nước; phản ánh sự tiếp thu

Trang 5

chủ nghĩa Mác - Lênin một cách có chọn lọc, phê phán; nhấn mạnh chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước , tác giả đã khá thành công trong việc dựng lại bức tranh lịch sử từ tuổi thơ ấu đến trưởng thành và thực hiện hành trình cứu nước của Hồ Chí Minh

Rất khó mong có sự “đầy đủ” và “thấu đáo” trong một công trình nghiên cứu Người đọc sẽ cảm thấy “thiếu” sự phân tích, phản ánh nhiều vấn đề quan trọng về con đường cứu nước Hồ Chí Minh, như giá trị của chủ nghĩa yêu nước, giá trị dân chủ, bản lĩnh hay “triết lí hành động” của Hồ Chí Minh nhưng đây là một tập sách rất có giá trị trong việc tham khảo, nghiên cứu, học tập, giảng dạy, nhất là ở bậc đại học và sau đại học của các chuyên ngành thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Công trình cũng thể hiện sự cố gắng của tác giả trong việc gắn chặt công tác nghiên cứu khoa học với giảng dạy trong môi trường giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay.

Cuốn sách Con đường cứu nước Hồ Chí Minh ra mắt bạn

đọc vào dịp kỉ niệm 100 năm Người ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 - 5/6/2011) thật ý nghĩa

Trân trọng giới thiệu đến bạn đọc gần xa

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 4 năm 2011

PGS.TS Võ Văn Sen

(Hiệu trưởng Trường Đại học KHXH&NV TP.HCM)

Trang 6

Chương mở đầu

Vinh quang con đường cứu nước Hồ chí Minh

Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước cách nay vừa tròn 100 năm (5/6/1911 - 5/6/2011) và nhân loại cũng đã giã từ thế kỷ XX, bước sang thế kỷ XXI được hơn một thập kỉ Trong thời gian đó, thế giới đã diễn ra biết bao thay đổi to lớn và sâu sắc: chủ nghĩa xã hội hình thành phát triển và không tồn tại như một hệ thống; “chiến tranh lạnh” căn bản đã kết thúc nhưng loài người vẫn thấp thỏm với các cuộc khủng bố, chiến tranh khu vực, xung đột vũ trang về sắc tộc, tôn giáo

Trong một trăm năm qua, thế giới đã có những bước tiến dài về mọi mặt Sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ giúp cho hiệu quả sản xuất vật chất

Trang 7

tăng lên không ngừng, máy móc thay thế con người trong những công việc nặng nhọc, tự động hóa thay thế dần lao động chân tay, những vật liệu mới, chất lượng tốt hơn và rẻ hơn nhiều so với những nguyên liệu cổ truyền của các nước đang phát triển đã ra đời thay thế cho những nguồn nguyên liệu đang dần cạn kiệt trong thiên nhiên Kinh tế thị trường, toàn cầu hóa cũng đang làm quan hệ giữa các nước, các dân tộc trên thế giới xích lại gần nhau hơn, thúc đẩy xu hướng hòa bình, hợp tác cùng phát triển Bên cạnh những mặt tích cực của thế giới, sự bất bình đẳng về kinh tế - xã hội cũng tăng lên tương ứng, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác ngày càng cạn kiệt, môi trường bị hủy hoại nghiêm trọng; vũ khí giết người hàng loạt vẫn đang tiếp tục phát triển và hoàn thiện Chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc thực tế chưa thực sự mất đi mà vẫn còn đang tồn tại dưới một biến tướng khác Hàng trăm quốc gia sau khi giành được độc lập vẫn đang bị kìm hãm trong tình trạng lạc hậu, kém phát triển Lợi dụng toàn cầu hóa, một số thế lực quốc tế đang âm mưu tiến công vào chủ quyền của các quốc gia, làm xói mòn văn hóa dân tộc, đe dọa sự ổn định kinh tế - chính trị - xã hội của các nước chậm phát triển, trong đó có Việt Nam.

Những chuyển biến mạnh mẽ của thế giới làm đổi thay về nhiều mặt trong đời sống nhân loại, đang tác động vào nhận thức con người, gây nên những biến đổi nhất định về giá trị Nhiều nhân vật và sự kiện lịch sử

Trang 8

đã và đang được đánh giá lại Lợi dụng tình hình đó, một vài thế lực đang âm mưu đẩy tới một chiến dịch phủ định quá khứ, hạ bệ thần tượng, kích động hận thù, gây rối loạn về định hướng giá trị nhằm phục vụ cho những

ý đồ đen tối của họ

Nhưng riêng về Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong một trăm năm qua, nhất là từ đổi mới (1986) đến nay, những công trình nghiên cứu khoa học, những bài báo, những cảm tưởng trong đó có nhiều công trình lớn viết về Người, về con đường cứu nước của Người của các tác giả trong và ngoài nước đã và đang tiếp tục góp phần vào việc nghiên cứu, đánh giá về Hồ Chí Minh một cách toàn diện, hệ thống và khoa học với nhận thức ngày càng sâu sắc và khách quan hơn

Do đó, thế giới mặc dù có nhiều thay đổi nhưng lòng tôn kính, sự ngưỡng vọng của loài người tiến bộ đối với Hồ Chí Minh và con đường cứu nước của Người vẫn không hề thay đổi Thế giới kính trọng ghi nhận: “Chủ tịch Hồ Chí Minh, một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.1

1 nghị quyết của tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hợp quốc (unesco) về kỷ niệm 100 năm ngày sinh của chủ tịch Hồ chí Minh - nghị quyết số 18 c/4.351 thông qua tại khóa 18 đại hội đồng unesco.

Trang 9

Từ những năm 20 của thế kỉ XX, trên nhiều diễn đàn Hồ Chí Minh được xem như biểu tượng của chủ nghĩa yêu nước, là một chiến sĩ tiên phong trên mặt trận giải phóng dân tộc, chống áp bức bất công Con đường cứu nước của Hồ Chí Minh là một sáng tạo, một khát vọng cao cả, Người đã “đem hết nghị lực cho công cuộc giải phóng công nông Mười mấy năm trời ngược xuôi Âu Á, đi đến đâu cũng hết lòng tổ chức thợ thuyền, hô hào quần chúng

ra tranh đấu Đồng chí đã từng tham dự vào cuộc gây dựng Đảng Cộng sản Pháp năm 1920 Đồng chí đã sớm cùng các đồng chí Pháp, Xyri, Ả rập xây đắp nền móng

cuộc cách mạng vận động ở thuộc địa Báo Le Paria cũng

do đồng chí lập ra ở Pari tự tay đi bán đầu đường, cuối ngõ trước mắt bọn cảnh sát hung tàn”1

Từ con đường cứu nước độc đáo, sáng tạo của mình, Hồ Chí Minh “đã gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin”2

Qua 30 năm bôn ba khắp thế giới, tiếp thu tinh hoa của nhân loại, Hồ Chí Minh không chỉ làm giàu trí tuệ,

1 Trích bài: Sau khi Nguyễn Ái Quốc bị bắt của tác giả Tiến Hành, đăng báo Vô sản số 8 tháng 10-1931 Dẫn theo Nội san Thông tin Tư liệu của Bảo tàng Hồ chí Minh

số 14, tháng 12-2006, tr.56.

2 Lê Duẩn (2005), Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ vĩ đại của Đảng ta và dân tộc ta, trích từ sách: Bác Hồ sống mãi với chúng ta (Hồi ký), chính trị quốc gia, Hà nội,

t.1, tr.60.

Trang 10

bản lĩnh của mình mà Người còn kiến tạo cho Việt Nam và thế giới một tương lai mới - một tương lai của hòa bình, hữu nghị, hợp tác Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người bạn chiến đấu, người học trò thân thiết của Hồ Chí Minh đã có nhận xét hết sức xác đáng rằng: “Hồ Chí Minh thuộc về tương lai, vì Hồ Chí Minh đã tạo ra tương lai vĩ đại ấy… Người là một người làm nên lịch sử hiện đại Người đã trở thành một nhà kiến trúc và tạo hình của quá trình cách mạng thế giới trong thời kì có tính chất bùng nổ nhất… Người đã trở thành ngọn đèn biển soi sáng đường đi cho tất cả các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới… Có lẽ hơn bất kì người nào khác của thế kỉ này, đối với dân tộc mình và đối với cả thế giới, Hồ Chí Minh là hiện thân của thời đại chúng ta1”.

Dù phải đi qua con đường cứu nước đầy những gian nan, trắc trở; dù phải hi sinh hơn phân nửa cuộc đời trai trẻ, trải qua biết bao biến cố, sóng gió của cuộc đời, nhiều lúc phải đối mặt với những thử thách khắc nghiệt, sự công kích, cô lập, nghi ngờ của bè bạn, đồng chí anh em nhưng Hồ Chí Minh vẫn bình tĩnh, vững vàng, chịu đựng một cách kiên cường, tự tại, bao dung Người vừa bình dị vừa cao cả Người là một tấm gương cho đức hi sinh vì dân vì nước, là niềm tin, chỗ dựa của đất nước, của dân tộc Di sản tư tưởng của Người là cứu cánh đưa

1 Phạm Văn đồng (1990) Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại,

một sự nghiệp, Sự thật, Hà nội, tr 19-20.

Trang 11

Đảng Cộng sản Việt Nam thoát khỏi cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối trong những năm cuối thế kỉ XX

“Trên thế giới hiện nay không có lãnh tụ nào đối với nhân dân mình vừa là người phát sinh vừa là người bảo vệ; vừa là nguồn gốc vừa là phương hướng, vừa là tư tưởng vừa là thực hành, vừa là dân tộc vừa là cách mạng, vừa là người Bác nhân hậu, vừa là vị tướng cầm quân (như Hồ Chí Minh1) Qua những lời dạy của Người các chân lý lớn của thời đại được diễn đạt trong những lời giản dị và hàm súc”2

William J Duiker, giáo sư Sử học Mĩ, tác giả tập “Ho Chi Minh a life, Hyperion”, một cuốn tiểu sử được coi là đầy đủ nhất đã được xuất bản ở Hoa Kì năm 2000 cho rằng con đường cứu nước Hồ Chí Minh là một sự tìm lại cho Việt Nam một “quốc thể”, “một là độc lập dân tộc và hai là công bằng xã hội và kinh tế”3 Con đường cứu nước của Hồ Chí Minh thiên tài “ở chỗ đã kết hợp được những giá trị của phương Tây với những giá trị của chủ nghĩa xã hội vào Việt Nam”4

Ngày nay, nhiều học giả, nhà nghiên cứu phương Tây vẫn tiếp tục hành trình nghiên cứu, tìm hiểu lại con đường cứu nước Hồ Chí Minh Điển hình như Staley Karnow, tác giả và đạo diễn bộ phim “Việt Nam - một thiên lịch sử

1 Tác giả nhấn mạnh.

2 Võ nguyên Giáp (2003) Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt

Nam, chính trị quốc gia Hà nội, tr 97.

3,4 William J.Duiker (2006) Hồ Chí Minh tiểu sử, Lý luận chính trị, Hà nội, tr.730.

Trang 12

truyền hình”, trong nhiều năm ông là Trưởng Đại diện tạp chí Time (của Hoa Kì) ở Việt Nam đã viết về quá trình tìm đường cứu nước của Người: “Hồ Chí Minh đã đến châu Phi, vượt qua Đại Tây Dương đến New York nước Mĩ với những con đường cao tốc, những cây cầu tất cả đã tác động đến ông như thế nào? Ông đã bị tác động rất sâu sắc khi ngắm tượng Nữ thần tự do ở bến cảng New York Một trong những điều làm ông thú vị là các tiểu luận của Jefferson và Lincoln Ông biết khá tường tận về nước Mĩ Ông thuộc lòng bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kì Sau này khi viết Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam, ông đã trích dẫn nó”1.

Bà Dominique de Miscault, Tổng Biên tập tạp chí

“Viễn cảnh Pháp - Việt” nói về con đường cứu nước Hồ Chí Minh như một “di sản diệu kì nhất”: “Chủ tịch Hồ Chí Minh rất am hiểu về đất nước và dân tộc mình, một người yêu chuộng hòa bình, một học giả tiến bộ Người đã chiến đấu và cuộc chiến đấu do Người lãnh đạo đã tạo nên sự vĩ đại của dân tộc Việt Nam, vì dân tộc này đã chiến thắng Đây là di sản diệu kì nhất mà Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc Việt Nam”2

Con đường cứu nước Hồ Chí Minh đã đi qua trong 30 năm (1911 - 1941) là một cuộc hành trình huyền thoại,

1 Phát biểu của Staley karnow trong phim Hồ Chí Minh nhìn từ thế kỉ XXI, đạo diễn

nguyễn Anh Tuấn, sản xuất năm 2008 Lưu tại kho cơ sở Bảo tàng Hồ chí Minh.

2 Phương Tây ca ngợi Bác Hồ Tài liệu lưu tại kho tư liệu Bảo tàng Hồ chí Minh, kí

hiệu: H29c5/30.

Trang 13

thể hiện bản lĩnh Hồ Chí Minh Trong chuyến hành trình

30 năm ấy, Người đã tới nhiều quốc gia khác nhau để trực tiếp quan sát những chuyển biến tại các nước châu Phi, châu Âu, châu Á, Bắc Mỹ và Trung Đông - một việc mà không có lãnh tụ nào khác làm được trong thế kỷ XX.Con đường cứu nước Hồ Chí Minh thể hiện một trí tuệ Hồ Chí Minh, từ lúc tìm đường, lựa chọn con đường đến sự dung hợp một cách xuất sắc giữa chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa dân tộc và kiên trì đến cùng để thực hiện lý tưởng giải phóng dân tộc, làm cho người dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, xây dựng một đất nước công bằng, dân chủ, văn minh

Ngày nay, các học giả trong và ngoài nước, nhất là các học giả phương Tây đều khẳng định con đường cứu nước Hồ Chí Minh là sự sáng tạo của một nhà tư tưởng thông thái, tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, kế thừa xuất sắc những giá trị, tư tưởng tiến bộ của nền dân chủ tư sản phương Tây, đã thực tiễn hóa lí luận chủ nghĩa Mác - Lênin bằng thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Trang 14

Chương I

Hồ cHí MinH tìM đường cứu nước

1 Gia đình

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 tại quê ngoại làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình nhà Nho yêu nước Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh đất nước lầm than, nhân dân đang rên xiết dưới gót giày xâm lược của thực dân Pháp, Người đã sớm tiếp thu truyền thống yêu nước của dân tộc, quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước

Thân phụ Chủ tịch Hồ Chí Minh là ông Nguyễn Sinh Sắc, sinh năm 1862 tại làng Sen xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Theo gia phả họ Nguyễn Sinh, ở

Trang 15

làng Sen cách đây khoảng 400 năm, ông Nguyễn Bá Phổ - khởi thủy dòng họ Nguyễn Sinh - đã đến lập nghiệp ở đây Đến thế hệ thứ năm, chữ lót “Bá” được thay thế bằng chữ “Sinh”, Nguyễn Bá thành Nguyễn Sinh Đến đời ông nội của Người là Nguyễn Sinh Nhậm, gia cảnh vào loại khá giả trong vùng Ông Nhậm lấy người vợ đầu, sau khi sinh được một người con trai tên là Nguyễn Sinh Trợ thì bà mất Ông ở vậy nuôi con cho đến khi ông Trợ trưởng thành lập gia thất, ông mới quyết định lấy vợ kế là bà Hà Thị Hy Bà Hy sinh được một người con trai, đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc Khi Sinh Sắc lên ba thì bà Hy mất, một năm sau ông Nhậm cũng qua đời

Mồ côi cả cha lẫn mẹ từ khi lên bốn tuổi, cậu bé Nguyễn Sinh Sắc phải nương tựa vào gia đình người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Sinh Trợ Lúc bấy giờ, cũng như nhiều gia đình khác ở vùng nông thôn xứ Nghệ, gia đình ông Sinh Trợ phải chật vật xoay xở từng bữa ăn hằng ngày Nguyễn Sinh Sắc lớn lên trong tình cảnh thiếu thốn, đói khổ của một em bé mồ côi Cậu bé không được đến trường mà ngày ngày phải giúp gia đình người anh của mình chăn trâu, cắt cỏ Cậu rất ấm ức vì không được như bao bạn đồng trang lứa khác, được học hành, được nô đùa cùng bố mẹ, không phải vất vả bỏ sức trẻ thơ để đổi lấy hạt cơm manh áo “Nhiều lần cậu bé Sinh Sắc buộc trâu, đi học lén ở trường làng Sẵn tư chất thông minh lại

ý thức được thân phận của kẻ mồ côi cần tự lập, Nguyễn Sinh Sắc rất ham học; có hôm mải mê việc học quên cả

Trang 16

việc đưa trâu đi ăn Ông đồ Hoàng Đường ở làng bên, làng Hoàng Trù, vốn cùng khóa với cụ Nguyễn Sinh Nhậm, thường ghé làng Sen thăm bạn đã bắt gặp cậu bé Sinh Sắc học trên lưng trâu, ông cũng nghe nhiều lời khen về cậu bé thông minh và ham học này”1.

Năm Mậu Dần (1878), cụ đồ Hoàng Đường đến gặp Nguyễn Sinh Trợ xin đưa Nguyễn Sinh Sắc về nuôi cho ăn học đàng hoàng, sau đó gả cho con gái đầu lòng là Hoàng Thị Loan vào năm 1883 Cụ đồ Hoàng Đường cất cho đôi vợ chồng trẻ một căn nhà tranh ba gian ngay trong vườn nhà Một năm sau, 1884, Nguyễn Sinh Sắc và Hoàng Thị Loan sinh con gái đầu lòng đặt tên là Nguyễn Thị Thanh Sau này bà Thanh đã tham gia nhiều phong trào yêu nước, nhiều lần bị thực dân Pháp và triều đình phong kiến bắt giam Lần bị tù đày lâu nhất là vào năm 1918, bà bị chính quyền thực dân phong kiến bắt tra tấn, tòa án Nam triều xử phạt tù khổ sai 9 năm, đày cách quê 3.000 dặm Bà bị đày vào giam tại nhà lao Quảng Ngãi, sau đưa về quản thúc ở Huế Khi cụ Nguyễn Sinh Sắc qua đời2, bà Thanh vẫn bị quản thúc ở Huế Khi hay tin cha mất, dù có muộn, bà Thanh trốn vào Cao Lãnh thọ tang cha và cám ơn bà con Cao Lãnh Mãn hạn tù, bà về quê hoạt động cách

1 Dựa theo tài liệu thuyết minh của Hướng dẫn viên khu di tích kim Liên - tỉnh nghệ

An, vào tháng 5/1997 và ngày 15/01/2011

2 cụ Phó bảng nguyễn Sinh Sắc mất ngày 27 tháng 10 năm kỷ Tị, tức 27/11/1929, tại cao Lãnh - đồng Tháp

Trang 17

mạng Năm 1946, sau khi đất nước giành được độc lập, bà

ra Hà Nội thăm Bác được một lần Bà không lấy chồng, sống cuộc đời đạm bạc với em trai cho đến lúc lâm chung tại quê nhà năm 1954, thọ 70 tuổi

Năm 1888, người con thứ hai của Nguyễn Sinh Sắc và Hoàng Thị Loan chào đời, tên là Nguyễn Sinh Khiêm, sau đổi là Nguyễn Tất Đạt Năm 22 tuổi, lúc cụ Nguyễn Sinh Sắc bị triều đình giáng chức - năm 19101, Nguyễn Sinh Khiêm về lại Nghệ An tham gia hoạt động trong phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, sau đó tham gia nghĩa quân Đội Quyên và Đội Cung Ông bị địch bắt, kết án 3 năm tù khổ hai, giam ở nhà lao Vinh Ba tháng sau ông vượt ngục nhưng không thành, kẻ thù nâng án ông lên 9 năm và bị đày làm lao công khổ sai ở Ba Ngòi - Cam ranh (Khánh Hòa) Năm năm sau, 1920, ông được chuyển về giam lỏng ở Huế Tại đây ông gặp lại người chị cả của mình, bà Nguyễn Thị Thanh Hai chị em cùng tích cực tham gia trong các phong trào yêu nước

Năm 1942, sau khi thoát khỏi nhà tù thực dân, Nguyễn Sinh Khiêm trở về quê tìm nơi cải táng cho mẹ, bà Hoàng Thị Loan2 - đó là vị trí Động Tranh trong dãy Đại Huệ Khi nước nhà độc lập, ông cũng ra Hà Nội thăm Bác một lần, năm 1946, sau Bà Thanh

1 ngày 17 tháng 1 năm 1910, cụ nguyễn Sinh Sắc bị triều đình giáng chức - sau khoảng 6 tháng làm chức Tri huyện Bình khê (Bình định) cụ Phó bảng không về quê mà đi thẳng vào nam Bộ.

2 Bà Hoàng Thị Loan - mẹ Bác Hồ - mất ở Huế, an táng ở chân núi Ba Tầng thuộc dãy ngự Bình.

Trang 18

Ông cả Khiêm không lấy vợ mà ở cùng người chị cả - Nguyễn Thị Thanh - đến cuối đời

Nguyễn Sinh Khiêm tạ thế ngày 25 tháng 8 năm Canh Dần (1950), thọ 62 tuổi Lúc đó Bác Hồ đang tập trung chỉ đạo chiến dịch Biên giới năm 1950 - chiến dịch có ý nghĩa quyết định cho sự phát triển của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Khi hay tin anh cả mất, Người rất đau lòng Người gởi về quê một bức điện thấm đẫm nước mắt:

“Nghe tin anh Cả mất, lòng tôi rất buồn rầu Vì việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc anh đau yếu tôi không thể trông nom, lúc anh tạ thế tôi không thể lo liệu Than ôi! Tôi xin chịu tội bất đệ 1 trước linh hồn anh và xin bà con nguyên lượng 2 cho một người con đã hi sinh tình nhà vì phải lo việc nước.

Ngày 9 tháng 11 năm 1950

hồ Chí Minh”3

2 nunG nấu ý Chí TìM đườnG Cứu nướC

Năm 1890, trong căn nhà nhỏ ba gian trong khu vườn của cụ đồ Hoàng Đường, làng Hoàng Trù, Nguyễn Sinh Cung chào đời Đó là Nguyễn Tất Thành, là Nguyễn Ái Quốc, là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta

1 Bất đệ: không trọn tình nghĩa anh em

2 nguyên lượng: tha thứ

3 Hồ Chí Minh toàn tập, (2000) tập 6, chính trị quốc gia - Hà nội, tr.114.

Trang 19

Sau khi Sinh Cung ra đời, mặc dù hoàn cảnh rất túng thiếu, ông Nguyễn Sinh Sắc chỉ muốn cày ruộng, nuôi con nhưng gia đình hai bên nội ngoại đều khuyến khích ông đeo đuổi con đường học tập Năm 1894, Nguyễn Sinh Sắc đậu Cử nhân trong khoa thi giáp Ngọ

Năm 1895, ông vào Huế thi Hội nhưng không đậu Để tiếp tục học ở Quốc Tử giám, ông bàn với vợ thu xếp cùng vào Huế năm 1896 Với tấm lòng thương yêu chồng con, bà Hoàng Thị Loan đã vui vẻ gởi đứa con gái đầu lòng ở lại với bà ngoại Hoàng Thị Kép, đưa hai con trai - Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung - cùng chồng vào Huế

Thời kì này từ Nghệ An đi Huế chưa có đường xe lửa và ô tô nên mọi người đều phải đi bộ, trẻ em thường ngồi trong quang gánh của người lớn - Nguyễn Sinh Cung phải ngồi trong quang gánh của mẹ Tới Huế, lúc đầu gia đình ông Nguyễn Sinh Sắc phải ở nhờ những người quen, sau

ở tạm trong một gian trại lính gần Viện Đô sát (nay là nhà số 114 đường Mai Thúc Loan)

Những ngày đầu ở Huế, ông Nguyễn Sinh Sắc xin làm thư kí ở trường Canh nông với mức lương 15 đồng/tháng Cả nhà chỉ sống nhờ vào đồng lương nhỏ bé này nên rất túng thiếu Ngày ngày cụ cử Nguyễn Sinh Sắc vừa đi học

ở Quốc Tử giám, vừa đi làm còn bà Loan mua cái khung cửi, ngày ngày miệt mài dệt vải, lấy công làm lời nuôi chồng con ăn học

Trang 20

Năm 1898 (Mậu Tuất), ông Nguyễn Sinh Sắc thi Hội lần thứ hai nhưng vẫn không đỗ Thấy ông lận đận, cụ cử Nguyễn Sĩ Độ, một nhà Nho uy tín ở Dương Nổ1 đã mời ông về dạy học cho một số học sinh ở làng Dương Nổ, tại ngôi nhà của ông Nguyễn Sĩ Khuyến (em trai ông Nguyễn

Sĩ Độ) Nguyễn Sinh Cung cùng anh theo cha về đây và bắt đầu học chữ Hán tại lớp học của cha

Năm 1900, cụ Nguyễn Sinh Sắc được triều đình cử

đi Thanh Hóa cùng quan Bộ Học tổ chức và chấm kì thi Hương, cụ dẫn theo người con trai lớn - Nguyễn Sinh Khiêm Nguyễn Sinh Cung cùng mẹ sống tại khu nhà trại gần cửa Đông Ba Mấy tháng sau bà Hoàng Thị Loan sinh thêm một con trai đặt tên là Nguyễn Sinh Xin Sở dĩ phải đặt tên là “Xin” vì những ngày sinh con bà quá kiệt sức, không có sữa cho con bú, phải đi xin sữa, xin cháo hàng xóm nuôi con Cuộc sống cơ cực làm cho bà mắc bệnh hậu sản, mất ngày 7 tháng 2 năm 1901, lúc ba mươi ba tuổi Bà Hoàng Thị Loan - thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh - sinh năm 1868 Bà là một phụ nữ thông minh, cần cù chịu khó, hết mực thương yêu chồng con và giàu lòng nhân ái Bằng nghề làm ruộng và dệt vải bà đã hết lòng chăm lo cho chồng và các con Cuộc đời của bà tuy ngắn ngủi nhưng đã để lại hình ảnh đẹp về một phụ nữ Việt Nam sống có tình nghĩa và có ảnh hưởng lớn đến tư cách của các con mình

1 Dương nổ cách Huế 6 km, nay là thôn Dương nổ đông, xã Phú Dương, huyện Hương Phú.

Trang 21

Tuổi thơ của Nguyễn Sinh Cung thật nhọc nhằn, cơ cực Mẹ mất, cha và anh đi vắng, ông bà ở xa, một mình

ở tuổi mười một, cậu bé Nguyễn Sinh Cung - Bác Hồ của chúng ta - ngày ngày phải đi xin sữa, xin cháo nuôi em và nuôi chính mình Thấy cảnh đó ai cũng thương Hàng xóm, người chén cơm, người chén cháo đùm bọc nuôi hai anh em Sinh Cung và Sinh Xin Hai anh em sống trong sự cưu mang, đùm bọc của bà con xứ Huế Do phương tiện liên lạc, giao thông trắc trở và do yêu cầu của công việc, mãi mấy tháng sau ông Nguyễn Sinh Sắc mới quay về Huế Cậu bé Nguyễn Sinh Cung nghẹn ngào ôm choàng cổ cha, nức nở Nhìn hai đứa con bé bỏng đơn côi, người cha già không cầm nổi nước mắt Một tay bế Sinh Xin, một tay dắt Sinh Cung, ông đến bên mộ người vợ suốt một đời tần tảo gian lao thắp nén nhang tạ lỗi rồi sau đó dẫn hai con về quê ngoại - làng Hoàng Trù, Nghệ An

Vì không có mẹ, lại bị suy nhược từ khi mới lọt lòng nên bé Sinh Xin chỉ sống được một thời gian ngắn Tại quê, Nguyễn Sinh Cung học chữ Hán với thầy Hoàng Phan Quỳnh, lớp học mở tại xóm Vang, làng Hữu Biệt, cách Hoàng Trù 3km (nay thuộc xã Nam giang, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An) Còn cụ Nguyễn Sinh Sắc thì quay lại Huế để kịp kì thi Hội Năm ấy, 1901, cụ đậu Phó bảng, được vinh quy bái tổ

Kể từ khoa thi năm Tân Sửu (năm 1901), người đậu Phó bảng được vua ban cờ biển và cho vinh quy bái tổ Trong lễ xướng danh, cụ Nguyễn Sinh Sắc được vua

Trang 22

Thành Thái tặng tấm biển đề bốn chữ “Ân Tứ Ninh gia” (Ơn ban cho gia đình tốt) và cấp phương tiện đưa về đến Tỉnh lị An Tịnh (Vinh) Sau đó Tổng đốc An Tịnh là Đào Trí lệnh cho hàng ngũ chức sắc địa phương dùng võng lọng cờ dong trống mở rước ông Phó bảng về làng Đây là một vinh dự to lớn đối với cụ Nguyễn, chẳng bù lại những năm tháng mồ côi, thất học chăn trâu, “không một tấc đất cắm dùi”

Lần đầu tiên Kim Liên có người đỗ đại khoa, các chức sắc địa phương lập tức cắt một miếng đất 5 sào Trung Bộ, trích tiền công quỹ cất một ngôi nhà tranh ba gian Từ đó cụ Nguyễn cùng các con sống ở đó

“Ngôi nhà này do chiến tranh nên không giữ được, khi nước nhà độc lập (năm 1945), chính quyền cách mạng tỉnh Nghệ An cho dựng lại theo khuôn mẫu ngôi nhà xưa Năm 1957, lần đầu tiên về thăm quê hương sau gần 50 năm xa cách, Bác phát hiện ra lối vào nhà đã mở sai hướng Bác đã chỉ cho những người cùng đi:

- Lối đi ngày trước ở bên này! Xưa cha tôi trồng một bên là hàng cây mạn hảo, một bên là hàng cây dâm bụt.Sau đó, địa phương đã mở lại cổng, làm lại hàng rào và lối đi như hiện nay đúng như sự chỉ dẫn của Bác Năm 1961, Bác về thăm lại làng Sen lần thứ hai, cũng là lần cuối cùng Cũng như lần trước, Bác lẳng lặng

đi lên đi xuống gian nhà lá ba gian, bồn chồn hồi tưởng

Trang 23

lại những kỉ niệm cũ bên cạnh những kỉ vật thiêng liêng Quá khứ như ùa về, tất cả không còn là tre gỗ, là vật dụng mà là bóng dáng của cả một thời, của một gia đình nghèo khó

Bằng giọng làng Sen thân thuộc, Bác nói:

- Tôi xa quê hương, xa các cụ, các mẹ, các chú như vậy là đã năm mươi ba năm Thường tình đi xa như vậy khi trở về, người ta hay mừng mừng tủi tủi riêng tôi thì không tủi mà chỉ mừng Vì khi tôi ra đi, nước ta đang bị thực dân cai trị, đồng bào ta đều là những người nô lệ Nay tôi trở về thì đồng bào đã là những công dân tự do làm chủ nước nhà

Quê hương nghĩa nặng tình cao Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình”.1

Sau khi đậu Phó bảng, cụ Nguyễn Sinh Sắc sống tại làng Sen được 5 năm (1901 - 1906) Cũng như nhiều vùng khác ở nông thôn Nghệ An, làng Sen vốn đã nghèo lại càng nghèo thêm từ khi mất nước Tại đây, ngoài nghề làm ruộng, bà con nông dân còn làm nhiều nghề khác như dệt vải, đan lát hoặc kiếm củi, đốt than

Xưa kia, vùng này được gọi là Trại Sen với những địa danh toàn sen, nào Đồng Sen Cạn, Đồng Sen Sâu, giếng Sen, Đầm Sen; nào Vực Sen, Bàu Sen, Chợ Sen, Cồn Sen

1 Tư liệu của khu di tích kim Liên - nghệ An.

Trang 24

Sen góp phần tạo nên cảnh trí thiên nhiên đặc sắc ở đây nên mới gọi là làng Sen Nhân dân làng Sen tự hào

vì làng mình đẹp, lại có nhiều nho sĩ thường hay lui tới đàm đạo văn chương, thời thế

Với tâm hồn thơ mộng, rất yêu thiên nhiên, Nguyễn Tất Thành rất tự hào với cảnh đẹp của làng quê mình Nhưng điều đáng tự hào hơn cả là làng Kim Liên có nhiều di tích lịch sử và anh hùng hào kiệt Ngay trước ngõ nhà, chếch về phía phải là giếng Cốc, nơi bọn thực dân Pháp đã ra lệnh tát cạn nước để tìm vũ khí của

“chung nghĩa binh” khi chúng đã đàn áp được cuộc khởi nghĩa Vương Thúc Mậu (năm 1886) Hình ảnh người anh hùng của quê hương, người bạn dạy học của ông ngoại đã

hi sinh ngay tại làng để bảo toàn khí tiết đã từng gây xúc động mạnh trong lòng Người khi còn thơ ấu

Sau tháng 9 năm 1901, một vinh dự lớn cho Nguyễn Tất Thành là được cha gửi sang học chữ Hán với thầy Vương Thúc Quý và thầy Trần Thân ở ngay trong làng Kim Liên Thầy Vương Thúc Quý vốn là nhà nho, giàu lòng yêu nước cho nên Nguyễn Tất Thành và bạn học đều chịu ảnh hưởng chí hướng của thầy Nguyễn Tất Thành là một học trò nhanh trí và có trí nhớ tốt, được thầy yêu mến Học với thầy Vương Thúc Quý, Tất Thành cảm thấy thoải mái, dễ hiểu vì thầy thức thời, không nệ cổ, không bắt học trò nhồi sọ cổ văn theo lối “tầm chương trích cú” Là tấm gương sáng cho học trò noi theo, thầy gợi cho

Trang 25

Nguyễn Tất Thành những vấn đề mà trong bước trưởng thành, anh còn phải tìm hiểu cho đến nơi đến chốn.Khoảng năm 1901 - 1902, Nguyễn Tất Thành bước đầu tiếp thu tư tưởng yêu nước của các bậc cha chú thông qua mối quan hệ giữa cha với các sĩ phu trong vùng Phan Bội Châu, trong tác phẩm “Phan Bội Châu niên biểu”, kể lại rằng: “Nguyễn Tất Thành thường nghe cụ ngâm hai câu thơ và sau này anh vẫn nhắc lại:

Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch

Lập thân tối hạ thị văn chương

Nghĩa là:

Mỗi bữa (ăn) không quên ghi sử sách

Lập thân hèn nhất ấy (là) văn chương”.

Mùa xuân năm 1903, Nguyễn Tất Thành theo cha đến ở xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, Nghệ An và tiếp tục học chữ Hán Thời gian này, cụ Nguyễn Sinh Sắc cũng thường xuyên tiếp xúc với các sĩ phu yêu nước vùng Nghệ - Tĩnh, như cụ nghè Nguyễn Xuân Ôn, Phan Bội Châu Ông đã từng viết lên xà nhà mấy chữ “Vật dĩ quan gia, vi ngô phong dạng” (Đừng lấy phong cách nhà quan làm phong cách nhà mình) để răn dạy và luôn nhắc nhở các con: “Việc học là cần để hiểu đạo lí làm người Không nên chỉ học để làm quan”1

1 Theo tư liệu khu Di tích - kim Liên

Trang 26

Tháng 9 năm 1905, Nguyễn Sinh Cung (Nguyễn Tất Thành) và Nguyễn Sinh Khiêm (Nguyễn Tất Đạt) được thân phụ xin cho theo học lớp dự bị Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh, cách Kim Liên khoảng 14km Hai anh em trọ ở một gia đình nghèo mạn Cầu rầm (Vinh) và thường thường chiều thứ bảy đi bộ về thăm nhà, sáng thứ hai lại xuống Vinh Chính tại Trường tiểu học này, Nguyễn Tất Thành lần đầu tiên tiếp xúc với khẩu hiệu TỰ DO - BÌNH ĐẲNg - BÁC ÁI.

Trong gia đình, cụ Nguyễn Sinh Sắc đặt nhiều hi vọng vào Nguyễn Tất Thành, khi đi đây đi đó cụ thường dẫn theo Nhờ vậy Nguyễn Tất Thành thường có mặt trong các cuộc đàm đạo của cha Từ đó, chí hướng cứu nước vốn đã được khơi dậy từ tấm gương của thế hệ Cần Vương càng định hình thêm rõ nét Tuổi mười ba, mười bốn (những năm 1905, 1906), Nguyễn Tất Thành đã chứng kiến những cảnh sống đọa đày của một dân tộc nô lệ, mất nước Người xót xa cho thân phận người Việt bị thực dân đối xử như súc vật, hành hạ qua phu phen tạp dịch, chết chóc li tán Ảnh hưởng tư tưởng của cha và của những sĩ phu yêu nước tiền bối cộng với sự nhạy cảm, thông minh của bản thân nên Nguyễn Tất Thành, mặc dù rất khâm phục tinh thần và ý chí cứu nước của các bậc tiền bối như Phan Bội Châu nhưng Người đã từ chối con đường Đông Du1 Song cứu nước

1 Tháng 5-1905 cụ Phan Bội châu muốn đưa Sinh cung sang nhật Bản - Dựa theo tài liệu của khu di tích kim Liên - tỉnh nghệ An.

Trang 27

bằng con đường nào? Lúc bấy giờ chưa được định hình cụ thể ở Người

Trong thời gian này, thực dân Pháp đẩy mạnh chính sách mị dân, bên cạnh việc rêu rao những cái gọi là “khai hóa”, “truyền bá văn minh”, chúng còn làm rùm beng ba mục tiêu của cuộc Cách mạng Tư sản Pháp (1789) là: “Tự

do - Bình đẳng - Bác ái” Nguyễn Tất Thành suy nghĩ rất nhiều, tự đặt nhiều câu hỏi và muốn hiểu rõ bản chất vấn đề “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” cho ai? Họ nêu ra để làm gì? rõ ràng nhân dân Việt Nam không có một chút tự do - bình đẳng - bác ái nào Ôi những mĩ từ đẹp đẽ kia phải chăng chỉ là những chiếc bánh vẽ của bọn thực dân cướp nước bởi hằng ngày Nguyễn Tất Thành thường xuyên phải chứng kiến những điều ngược lại Sự mâu thuẫn đó thôi thúc Người phải cố gắng học tập hơn nữa, để tiếp xúc với nền văn minh Pháp, văn minh phương Tây, để khám phá ra sự thật, trả lời cho câu hỏi nhức nhối bao thời đại: Tại sao Việt Nam mất nước, dân Việt trở thành nô lệ? Sau này, năm 1923, Người nói: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những

gì ẩn đằng sau những chữ ấy Tôi quyết định tìm cách

đi ra nước ngoài ”1

1 Ôxip Manđextam (1923), Thăm người chiến sĩ quốc tế cộng sản - Nguyễn Ái Quốc, Tạp chí Ngọn lửa nhỏ (Liên Xô) - số 39, ngày 23 tháng 12 năm 1923 In lại trong

Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, chính trị quốc gia - Hà nội - 2000; từ trang 476 - 479.

Trang 28

Năm 1906, Nguyễn Tất Thành theo cha vào Huế lần thứ hai vì cụ Nguyễn Sinh Sắc phải vào Kinh nhậm chức Vào Huế, Nguyễn Tất Thành học năm cuối bậc tiểu học và trúng tuyển vào trường Quốc học Huế, có tên “Pháp tự Quốc học trường môn” Với đức tính cần cù, chịu khó và tư chất thông minh, Nguyễn Tất Thành nổi tiếng là một học sinh giỏi

Những ngày ở Huế, Người càng nhận rõ bộ mặt thật của chế độ thực dân nửa phong kiến ở Việt Nam Nhân dân bị bóc lột nặng nề với hàng trăm sắc thuế vô lí, như: thuế thân, thuế rượu, thuế thuốc phiện, thuế cư trú, thuế xe đạp, thuế đò Một suất thuế thân ở Trung

Kì lúc bấy giờ là 2,40 đồng (tương đương một tạ thóc) Tính bình quân một người dân trong một năm phải đóng thuế cho chính quyền với số tiền ngang với tiền công lao động của họ từ 2 - 3 tháng Chính quyền thực dân còn buộc mỗi người dân một năm phải tiêu thụ hết 7 lít rượu cồn Thuế khóa luôn thay đổi, ngày càng đè nặng lên vai người lao động Càng ngày chính quyền thực dân càng đặt ra nhiều thứ thuế và tỉ lệ ngày càng tăng Khi thực dân Pháp xây dựng những công trình giao thông, thủy lợi chúng bắt nhân dân phải đi phu, làm “cu li” ruộng vườn, nhà cửa nếu nằm ở vị trí đường giao thông

đi qua chúng thẳng tay phá dỡ, không đền bù, ai phản đối sẽ bị đánh đập, tù đày Chúng ra sức thực hiện chính sách văn hóa, gây tâm lí vong bản, tự ti và đàn áp các phong trào nổi dậy của quần chúng nhân dân; đem văn

Trang 29

hóa phản động, trụy lạc nhồi sọ nhân dân ta; ra sức thực hiện triệt để chính sách ngu dân Sau này, Người đã tổng kết: “Làm cho dân ngu để dễ trị, đó là chính sách mà các nhà cầm quyền ở các thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất”1.

Trong thời gian ở Huế, Người đã nhìn thấy cảnh nhân dân ta bị đàn áp dã man, bị bóc lột rất thậm tệ Người cũng được chứng kiến những cuộc đấu tranh của nhân dân lao động Huế diễn ra hai bên bờ sông Hương và trên cầu Tràng Tiền Tháng 4-1908, Người tham gia phong trào chống sưu thuế với nông dân Huế, khởi đầu cho cuộc tranh đấu suốt đời Người vì quyền lợi của nhân dân lao động

Sáng ngày 11 tháng 4 năm 1908, hàng ngàn đồng bào Huế đã xuống đường biểu tình Khi nhà cầm quyền điều lính tới nổ súng ngăn chặn, đoàn người bị áp bức liền xông lên đánh nhau với đội lính rồi bắt trói viên phó lãnh binh và bắt viên Phủ doãn phải dẫn đầu đoàn biểu tình Trên đường đến Kinh đô Huế, một số nơi đã bố trí sẵn để cắt tóc ngắn và khâu áo ngắn lại (tức theo xu hướng cải cách) cho những ai còn búi tóc và mặc áo dài Để cổ vũ phong trào, học sinh trường Quốc học và trường Quốc Tử giám ở Huế còn đến đọc thơ ca, hò vè mang nội dung yêu nước Lo ngại, thực dân Pháp phải

1 Hồ chí Minh (1980), Bản án chế độ thực dân Pháp, Sự thật, Hà nội, tr.180.

Trang 30

đưa vua Duy Tân (khi ấy mới 8 tuổi) ra phủ dụ nhưng không có tác dụng Cuối cùng, họ phải điều lính đến đàn áp Cuộc xô xát lớn đã diễn ra ở đầu cầu Tràng Tiền, làm nhiều người bị bắt và bị trúng đạn; đến khi ấy cuộc biểu tình mới giải tán.

Phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ (1908) “thực sự là một cuộc đấu tranh công khai, tự phát của nông dân thực hiện những cải cách dân chủ Phong trào đã kết hợp chặt chẽ với cuộc vận động Duy Tân đang phát triển mạnh

Do đó hình thức đấu tranh rất mới và phong phú.Nhưng

vì thiếu sự lãnh đạo và tổ chức chặt chẽ, phong trào đã

bị đàn áp và cuối cùng tan rã Chính quyền đã phải nới rộng tay trong nhiều lĩnh vực Sau vụ này, chúng phải giảm thuế thân từ 2,40 xuống 2,20 đồng, giảm 4 ngày xâu công ích xuống còn 3 ngày và không tăng 5% thuế điền Đồng thời, nhằm xoa dịu, mua chuộc dân chúng, một nhà thương và trường học được mở”1

Vì những hoạt động yêu nước, tham gia cuộc đấu tranh của nông dân, Nguyễn Tất Thành bị thực dân Pháp để ý theo dõi Cụ Nguyễn Sinh Sắc cũng bị chúng khiển trách vì đã để cho con trai có những hoạt động bài Pháp.Tuy nhiên, tháng 8-1908, Nguyễn Tất Thành, với tên gọi Nguyễn Sinh Côn, vẫn được ông Hiệu trưởng Quốc

1 GS Trương Hữu quýnh, GS đinh Xuân Lâm, PGS Lê Mậu Hãn (chủ biên) (2005),

Đại cương Lịch sử Việt Nam, nXB Giáo dục, Hà nội, tr.626.

Trang 31

học Sukê (Chouquet) tiếp nhận vào học tại trường Tháng 9-1908, Nguyễn Tất Thành vào lớp trung đẳng (lớp nhì) (cours moyen) tại Trường Quốc học Huế

Như vậy, trong cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hai lần đến sống ở Huế: Lần thứ nhất, từ năm 1895 đến 1901, lúc ấu thơ, mang tên Nguyễn Sinh Cung Lần thứ 2 từ năm 1906 đến 1909, khi Người đã ở tuổi thanh niên, mang tên Nguyễn Tất Thành (16 - 19 tuổi) Đây là thời gian đặc biệt có ý nghĩa đối với nhận thức khởi đầu của Người, những năm đó là thời gian cực kì quan trọng đối với sự hình thành nhân cách, bản lĩnh con người Hồ Chí Minh Trong những gì từng là gốc rễ của một tâm hồn, một nhân cách, một tư tưởng Hồ Chí Minh, có cả cố đô Huế với thời niên thiếu và tuổi thanh niên của Người Huế cùng với tình thương và nỗi gian truân của gia đình, với tình nghĩa đồng bào, bà con, lối xóm, với những tác động ngược chiều khác nhau của xã hội và nhà trường đối với một con người mà ngay từ nhỏ đã bộc lộ như một năng lực thiên bẩm, đã góp phần tích cực vào sự nghiệp của một anh hùng dân tộc - một danh nhân văn hóa - Hồ Chí Minh

* * *

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình sĩ phu yêu nước,

ở quê hương giàu truyền thống cách mạng, trong một đất nước sớm định hình một quốc gia dân tộc có chủ quyền lâu đời, bằng một nghị lực và một tinh thần yêu nước

Trang 32

nồng nàn, Hồ Chí Minh đã vượt qua những năm tháng nhọc nhằn, khó khăn, vươn lên kế tục sự nghiệp cứu nước mà các thế hệ cha anh còn dang dở

Những năm tháng ấu thơ cùng với thời niên thiếu khổ đau và bất hạnh, sống trong nghèo khó, mất mẹ sớm , càng đi đây đi đó chứng kiến bao cảnh đời bất công bạo ngược trong xã hội, trải nghiệm qua bao thân phận đau thương của một kiếp người , Hồ Chí Minh càng thấm thía nỗi đau nhân tình thế thái, từ nỗi cơ cực kiếm được miếng cơm manh áo đến nỗi nhục mất nước, nô lệ Thực tế ấy giúp cho chúng ta hiểu sâu sắc hơn tại sao ở Người cháy bỏng một khát vọng cứu nước, cứu dân; tại sao ở Người thể hiện một tấm lòng bao dung cao cả Và như bao người Việt Nam khác, đức tính thương người, nhân văn của Hồ Chí Minh như bao trùm lên cả cuộc đời và trong từng hành động của Người Song điều đặc biệt làm cho Hồ Chí Minh khác với nhiều người ở chỗ, tình thương của Hồ Chí Minh không chỉ là thương cảm, thương hại và chia sẻ mà cao hơn đó là khát vọng giải thoát nhân sinh khỏi những nỗi khổ của áp bức, bất công Những giá trị nhân văn này đã tạo nên nhân cách, phẩm chất, tài năng của Hồ Chí Minh và đã tác động rất lớn đến sự hình thành và phát triển tư tưởng của Người Đó là một con người sống có hoài bão, có lí tưởng, yêu nước, thương dân, có bản lĩnh kiên định, có lòng tin vào nhân dân, khiêm tốn, bình dị, ham học hỏi, nhạy bén với cái mới, thông minh, có hiểu biết sâu rộng, có phương pháp biện

Trang 33

chứng, có đầu óc thực tiễn Khát vọng cứu nước, cứu dân cháy bỏng đã tôi luyện, thúc đẩy Hồ Chí Minh vượt qua mọi thử thách, sóng gió trong hoạt động thực tiễn, kiên trì chân lí, định ra các quyết sách đúng đắn và sáng tạo, biến tư tưởng thành hiện thực cách mạng

Hồ Chí Minh lớn lên và sống trong nỗi đau của người dân mất nước, được sự giáo dục của gia đình, quê hương, dân tộc về lòng yêu nước thương dân Người sớm tham gia phong trào đấu tranh chống Pháp nhưng băn khoăn trước những thất bại của các sĩ phu yêu nước chống Pháp Với nghị lực và đức tính ham học hỏi, muốn tìm hiểu những tinh hoa văn hóa tiên tiến của các cuộc cách mạng dân chủ tư sản ở châu Âu, Người muốn đi ra nước ngoài xem họ làm gì để cứu nước, giúp đồng bào thoát khỏi vòng nô lệ Đây là thời kì hình thành tư tưởng yêu nước, thương dân, tha thiết bảo vệ những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, ham muốn học hỏi những tư tưởng tiến bộ của nhân loại, hun đúc lí tưởng cứu nước của Hồ Chí Minh

3 Chuẩn bị đi PhươnG Tây TìM đườnG Cứu nướC

Từ cuối thế kỉ XIX, phong trào cứu nước theo tiếng gọi “Cần Vương” ở nước ta dần lụi tàn, thực dân Pháp căn bản hoàn thành công cuộc bình định Việt Nam về mặt quân sự, khẩn trương bắt tay thực hiện chương trình khai thác thuộc địa, bảo đảm siêu lợi nhuận cao nhất cho chính quốc

Trang 34

Để phục vụ cho công cuộc khai thác và bóc lột kinh tế, thực dân Pháp triệt để thực hiện chính sách “chia để trị”, chia cắt đất nước, chia rẽ dân tộc Việt Nam hòng phân tán lực lượng để dễ bề cai trị Tại Trung Kì được gọi là xứ bảo hộ, vẫn duy trì triều đình nhà Nguyễn nhưng vua An Nam không có thực quyền, mọi quyền lực đều tập trung trong tay Khâm sứ Trung Kì Vua và quan lại triều Nguyễn trở thành bù nhìn, hoặc tay sai của Pháp

Nhận thức sâu sắc thân phận của đội ngũ quan lại triều Nguyễn trong tình cảnh “nước mất, nhà tan”, nhiều lần cụ Nguyễn Sinh Sắc (lúc bấy giờ lấy tên là Nguyễn Sinh Huy) đã thoái chí chốn quan trường, muốn lui về

ở ẩn, mở trường dạy học Trước đây, suốt 5 năm (1901 - 1906) kể từ khi đỗ Phó bảng, cụ lần lữa không đi nhậm chức của triều đình Huế Do đó, năm 1909 khi được bổ nhiệm là Tri huyện Bình Khê, cụ không mấy nghĩ tới việc quan Cụ thường xử hòa cho các vụ kiện, hoặc bênh vực cho dân nghèo và luôn tìm cách thả những người yêu nước đang bị tù đày ở đây nên bị triều đình giáng chức Cụ làm Tri huyện Bình Khê vỏn vẹn có 5 tháng 17 ngày (từ 1/7/1909 đến 17/1/1910)

Tháng 5 năm 19091, Nguyễn Tất Thành vừa học xong Ban thành chung Trường Quốc học Huế và theo cha vào Bình Định Trong thời gian này, Người có đến nhiều nơi

1 Hội thảo khoa học nguyễn Tất Thành ở Bình định tháng 8/2009 đã khẳng định Bác đến Bình định vào tháng 5/1909 và rời Bình định là vào tháng 8/1910.

Trang 35

nhưng chủ yếu sống tại Quy Nhơn để học thêm tiếng Pháp tại Trường Pháp - Việt Quy Nhơn Thỉnh thoảng Người lên Bình Khê thăm cha hoặc cụ Nguyễn Sinh Huy xuống Quy Nhơn thăm con

Những ngày ở Bình Khê, Nguyễn Tất Thành đã đi thăm di tích lịch sử vùng Tây Sơn để chiêm ngưỡng

vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ Ngoài Quy Nhơn và Bình Khê, trong thời gian lưu lại Bình Định, Nguyễn Tất Thành còn đến một số nơi khác như: tỉnh thành Bình Định (huyện An Nhơn) là nơi thỉnh thoảng cụ Huy đến làm việc và chờ trở về Huế sau khi thôi chức Tri huyện Bình Khê; thăm nhà cụ Đào Tấn ở Vinh Thạnh, Phước Lộc, Tuy Phước, nguyên là Tổng đốc An Tịnh (Nghệ An) là bạn vong niên với cụ Huy, lúc ấy đã cáo quan về quê1 Ngày 17 tháng 1 năm 1910, cụ Nguyễn Sinh Huy bị bãi chức tri huyện, đến ngày 19 tháng 5 năm 1910 Hội đồng nhiếp chính nghị án và sau đó ngày 27 tháng 8 năm

1910, Khâm sứ Trung kỳ grolean phê duyệt án đó Trong tờ trình của Bộ Lại ngày 29-5-1909 (ngày 14-4 năm Duy Tân thứ 3) ghi rõ:

“Bộ Lại tâu,

Phụng Chiếu tri huyện huyện Bình Khê (tỉnh Bình Định) hiện nay đang khuyết (do Hồ Tiếu Khanh dính líu

1 http://www.tuoitrebinhdinh.net/showthread.php?230-Di-tích-Bác-Hồ-tại-Bình-định

Trang 36

tiền nong bị triệt hồi chờ xét), tỉnh ấy đã phái viên hậu bổ Phạm Lê Doãn kiêm tạm.

Bộ tôi chọn trong các người tại chức lâu năm đang được bổ dụng (là các ông trước tác tòng chức hành tẩu Bộ Lễ Lê Văn Tường, trước tác tòng chức thừa biện Bộ Lễ Nguyễn Sinh Huy, biên tu tòng chức hành tẩu Bộ Hình Nguyễn Đình Quảng), 12 ngày trước nhóm bàn, tiếp công văn trả lời của quý Khâm sứ đại thần gơrôlô rằng y bổ Nguyễn Sinh Huy làm tri huyện Bình Khê Xét trước tác tòng chức thừa biện Bộ Lễ Nguyễn Sinh Huy (bốn mươi tám tuổi, người tỉnh Nghệ An, đỗ phó bảng tháng 4 năm Thành Thái thứ 13 bổ thụ chức kiểm thảo, làm thừa biện Bộ Lễ, tháng 2 năm Duy Tân thứ 2 thăng chức tu soạn thư trước tác, tháng 3 cùng năm lĩnh chức trước tác thực thụ) xin cải bổ chức đồng tri phủ lãnh chức tri huyện huyện này”1

Trong thời gian này, Nguyễn Tất Thành luôn gần gũi, động viên và cùng cha bàn bạc chuyện thế sự, chuẩn bị những mặt cần thiết về tư tưởng, tâm lí để xuất dương, tìm đường cứu nước Người nhớ lại: “Từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp Vậy thì phải làm thế nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài”2

1 đặng Xuân kỳ (chủ biên), (2005) Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, chính trị

Trang 37

Tháng 8/1910 gia đình cụ Nguyễn Sinh Huy tạm biệt chia tay mỗi người đi một hướng Cụ Nguyễn Sinh Huy thẳng tiến vào Nam Kì Con trai cả của cụ là Nguyễn Tất Đạt (tức Nguyễn Sinh Khiêm) trở về quê với chị

Tháng 8-1910, từ Quy Nhơn, Nguyễn Tất Thành đi vào Phan Thiết Đi dọc theo bờ biển Nam Trung Bộ, một bờ biển xinh đẹp - “non xanh nước biếc” nhưng lòng người vẫn canh cánh một nỗi đau vì đâu đâu cũng thấy người dân phải sống cảnh lam lũ, nghèo khó Khi đến Phan rang, Nguyễn Tất Thành thấy một cảnh tượng đau lòng Người viết: “Trên mảnh đất bằng phẳng trước kia là ruộng muối, ba cái xác chết nằm đó: em bé bị lột truồng, thiếu nữ bị mổ bụng, cánh tay trái cứng đơ giơ lên trời vô tình, bàn tay nắm chặt Còn xác ông cụ già thì ghê gớm làm sao, cũng trần truồng như thế, nhưng vì bị thiêu cháy nên không nhận ra hình thù nữa, mỡ chảy lênh láng đã đọng lại và da bụng thì phồng lên, chín vàng, óng ánh như da con lợn quay vậy”1

Đến Phan Thiết2, nhờ sự giúp của ông nghè Trương gia Mô - bạn cụ Nguyễn Sinh Huy - Nguyễn Tất Thành tiếp xúc với một số sĩ phu yêu nước, như: Nguyễn Hiệt Chi, Hồ Tá Bang đang làm việc ở Phan Thiết Hồ Tá Bang là một trong sáu nhân vật chủ chốt của trường Dục

1 Báo Le Paria, số 5, ngày 1-8-1922 In lại trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, chính

trị quốc gia - Hà nội -2000; tr.97.

2 Trình bày giai đoạn Bác Hồ ở Phan Thiết chủ yếu dựa vào “Tài liệu hội thảo khoa học về thầy giáo nguyễn Tất Thành tại Bình Thuận, ngày 07-11-2010”

Trang 38

Thanh và công ty Liên Thành ở Phan Thiết hồi năm

1905 (Trần Lệ Chất, Nguyễn Hiệt Chi, Ngô Văn Nhượng, Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh) Phong trào này nhằm phát triển kinh tế, giáo dục để hỗ trợ cho phong trào Cách mạng trên đường Duy Tân cứu nước

Sau khi đến Phan Thiết, Nguyễn Tất Thành vào giảng dạy tại trường Dục Thanh (trường được thành lập năm 1907, hưởng ứng phong trào Duy Tân) Tại đây, Người được mời dạy môn Thể dục và trợ giảng các môn Hán văn, Quốc ngữ, tiếng Pháp Trình độ của thầy giáo Nguyễn Tất Thành về Hán văn, Quốc ngữ đã được khẳng định

Về trình độ Hán văn của thầy Nguyễn Tất Thành, sau này, cụ Quách Mạt Nhược - Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc - đã nhận định về tập thơ “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh: có một số bài đặc biệt hay mà nếu đặt cạnh thơ Đường, thơ Tống thì người Trung Quốc cũng khó lòng nhận ra được Trong tờ khai lý lịch dự Đại hội 7 Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh (lúc bấy giờ có tên Lin) khai mình biết 6 thứ tiếng: Nga, Trung, Anh, Pháp, Đức, Ý

Về trình độ Pháp văn của thầy Nguyễn Tất Thành, Người đã từng học tiếng Pháp tại Trường tiểu học Vinh

ở Huế, ở Quy Nhơn Tại Huế, Người từng làm phiên dịch cho đoàn biểu tình chống sưu thuế năm 1908

Trang 39

Thời gian thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy học ở Phan Thiết tuy ngắn ngủi, chỉ 7 tháng (từ tháng 8/1910 đến tháng 2/1911) nhưng có ý nghĩa rất lớn, là nơi để Nguyễn Tất Thành có thời gian tìm hiểu kĩ tình hình và chuẩn bị thêm vốn kiến thức để vào Sài gòn, ra đi tìm đường cứu nước Sự kiện này để lại cho trường Dục Thanh nói riêng, tỉnh Bình Thuận nói chung những dấu ấn sâu sắc, tốt đẹp qua nhân cách, con người, lối sống của thầy; để lại cho người dân Bình Thuận biết bao tình cảm kính yêu và cảm phục đối với người thầy trẻ đầy hoài bão và sau này là vị Chủ tịch nước kính yêu của chúng ta.

Những ngày ở Phan Thiết, vừa dạy học, vừa tiếp cận với đời sống cơ cực của đồng bào, Nguyễn Tất Thành rất đau xót trước cảnh thống khổ của nhân dân ta Lúc bấy giờ, Người thường xuyên tiếp xúc với các chí sĩ yêu nước ở đây như: Trương gia Mô, Nguyễn Hiệt Chi, Hồ Tá Bang, Trần Lệ Chất, Ngô Văn Nhượng, Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh “Ngoài giờ lên lớp, Nguyễn Tất Thành tìm những cuốn sách quý trong tủ sách của cụ Nguyễn Thông để đọc Lần đầu tiên anh được tiếp cận với những tư tưởng tiến bộ của các nhà khai sáng Pháp như rútxô (rousseau), Vônte (Voltair), Môngtétxkiơ (Montesquieu) Sự tiếp cận với những tư tưởng mới đó càng thôi thúc anh tìm đường đi ra nước ngoài”1 Qua đó giúp cho Người soi rọi lại những tư duy, nhận thức

1 Hồ chí Minh - Tiểu sử (Bảo tàng Hồ chí Minh, nXB chính trị quốc gia - Hn, 2008).

Trang 40

về con đường cứu nước của các bậc tiền bối Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu và nung nấu thêm ý chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào Mặc dù Nguyễn Tất Thành từng tham gia công tác bí mật, nhận công việc liên lạc, trực tiếp tham gia biểu tình chống sưu thuế năm 1908 ở Huế và rất khâm phục tinh thần yêu nước của các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu nhưng Người không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào

Phải tìm con đường khác, con đường mới; phải đi ra nước ngoài nhưng theo một hướng khác Đó là kết luận rất quan trọng của anh thanh niên Nguyễn Tất Thành với lòng yêu nước mãnh liệt và một cách suy nghĩ táo bạo, một trí tuệ hết sức minh mẫn quyết khám phá bằng được con đường đi đến giải phóng cho đồng bào

Tư tưởng quyết hướng sang nước Pháp tìm đường cứu nước sớm nảy sinh ở Nguyễn Tất Thành ngay từ những ngày học tiểu học, đến nay thì đã chín muồn Nhưng anh cần có thời gian chuẩn bị, suy nghĩ chín chắn hơn để phác họa con đường sẽ đi, ít ra là chặng đầu Do đó, sau bảy tháng dạy học ở trường Dục Thanh, Nguyễn Tất Thành rời trường đi vào Sài gòn, thực hiện hoài bão từng nung nấu là tìm cách đi sang Pháp và các nước phương Tây; “xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”

Ngày đăng: 14/05/2021, 15:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thành   con đường cứu nước - Hồ Chí Minh và con đường cứu nước: Phần 1
Hình th ành con đường cứu nước (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w