Nghiên cứu đóng góp và củng cố lý thuyết về ý định khởi nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các nghiên cứu sâu hơn. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các nhà quản lý kinh tế tại huyện Châu Đức nhìn nhận được các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của thanh niên tại Huyện Châu Đức Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Từ đó, đưa ra những đề xuất quản trị phù hợp nâng cao ý định khởi nghiệp trong thời gian tới.
Trang 1LÊ VŨ TRỌNG BẢO
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA THANH NIÊN TẠI HUYỆN CHÂU ĐỨC TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Bà Rịa-Vũng Tàu, tháng 6 năm 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA-VŨNG TÀU
**************
LÊ VŨ TRỌNG BẢO
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA THANH NIÊN TẠI HUYỆN CHÂU ĐỨC TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh
Trang 3Bà Rịa-Vũng Tàu, ngày 19 tháng 6 năm 2020
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Lê Vũ trọng Bảo Giới tính: Nam
Ngày, tháng, năm sinh: 06/11/1988 Nơi sinh: Đồng Nai
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh MSHV: 17110085
I- Tên đề tài:
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của thanh niên tại Huyện Châu Đức Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
II- Nhiệm vụ và nội dung:
Nghiên cứu đóng góp và củng cố lý thuyết về ý định khởi nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các nghiên cứu sâu hơn Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các nhà quản lý kinh tế tại huyện Châu Đức nhìn nhận được các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của thanh niên tại Huyện Châu Đức Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Từ đó, đưa ra những đề xuất quản trị phù hợp nâng cao ý định khởi nghiệp trong thời gian tới
III- Ngày giao nhiệm vụ: 17/09/2019
IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 19/6/2020
V- Cán bộ hướng dẫn: TS Võ Thị Thu Hồng
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN VIỆN ĐÀO TẠO QUỐC TẾ VÀ SAU ĐẠI HỌC (Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)
TS Võ Thị Thu Hồng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng đẫn của TS Võ Thị Thu Hồng Các nội dung, kết quả được trình bày nêu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Bà Rịa - Vũng Tàu, ngày 19 tháng 06 năm 2020
Người thực hiện luận văn
Lê Vũ Trọng Bảo
Trang 5
LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, hỗ trợ và chỉ bảo nhiệt tình của quý thầy cô Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu
Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Võ Thị Thu Hồng đã dành nhiều thời gian, tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tác giả hoàn thành luận văn của mình
Cuối cùng, tôi xin được cảm ơn gia đình của tôi đã luôn ở bên cạnh động viên, giúp đỡ về mặt tinh thần lẫn vật chất trong thời gian thực hiện đề tài của mình
Bà Rịa - Vũng Tàu, ngày 19 tháng 6 năm 2020
Người thực hiện luận văn
Lê Vũ Trọng Bảo
Trang 6TÓM TẮT LUẬN VĂN
Khởi nghiệp là một vấn đề đang rất được sự quan tâm của xã hội, đặc biệt là đối với thanh niên, người chủ tương lai của đất nước Nhiều ý tưởng khởi nghiệp trong thời gian qua đã và đang được triển khai rộng rãi Tuy nhiên, những dự án khởi nghiệp từ thanh niên vẫn còn nhiều hạn chế bởi nhiều lý do
Luận văn thực hiện dựa trên khảo sát 206 thanh niên trên địa bàn huyện Châu Đức – một huyện “thuần nông” của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với thế mạnh truyền thống nông nghiệp lâu đời bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện Đề tài thực hiện đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá rút trích được 6 yếu tố gồm thái độ, quy chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, giáo dục, kinh nghiệm làm việc và nguồn vốn
Qua kết quả phân tích tương quan và hồi quy, tác giả thấy rằng có 6/6 yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của thanh niên trên địa bàn huyện Châu Đức Trong
đó, yếu tố Thái độ có tác động mạnh nhất đến ý định khởi nghiệp của thanh niên, yếu tố Nhận thức kiểm soát hành vi có tác động thứ hai, yếu tố Giáo dục và yếu tố Nguồn vốn có mức độ tác động tiếp theo và cuối cùng là yếu tố Quy chuẩn chủ quan và yếu tố Nguồn vốn Như vậy các giả thuyết H1, H2, H3, H4, H5, H6 đề xuất đều được chấp nhận ở độ tin cậy 95% Từ đó tác giả đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao ý định khởi nghiệp của thanh niên trên địa bàn huyện Châu Đức
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC VIẾT TẮT vii
DANH MỤC HÌNH viii
DANH MỤC BẢNG ix
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
1.7 Kết cấu của đề tài 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 6
2.1 Cơ sở lý luận về ý định khởi nghiệp 6
2.1.1 Các khái niệm 6
2.1.2 Vai trò của ý định khởi nghiệp 8
2.1.3 Tiền đề của ý định khởi nghiệp 9
2.1.4 Lý thuyết nền tảng về khởi nghiệp 11
2.2 Tổng quan nghiên cứu 15
2.2.1 Các nghiên cứu về khởi nghiệp 15
2.2.2 Các nghiên cứu về ý định khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp 20
2.3 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 23
Trang 82.3.1 Mô hình nghiên cứu 23
2.3.2 Giả thuyết nghiên cứu 24
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Thiết kế nghiên cứu 27
3.2 Phương pháp nghiên cứu 28
3.2.1 Nghiên cứu định tính 28
3.2.2 Nghiên cứu định lượng 34
3.3 Chọn mẫu và thu thập dữ liệu 37
3.3.1 Kích thước mẫu 37
3.3.2 Thu thập dữ liệu 38
3.4 Phương pháp phân tích số liệu 38
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
4.1 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu 43
4.2 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 44
4.3 Đánh giá độ tin cậy thang đo 45
4.4 Phân tích nhân tố khám phá EFA 47
4.4.1 Phân tích nhân tố khám phá EFA biến độc lập 47
4.4.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA biến phụ thuộc 49
4.5 Phân tích tương quan 50
4.6 Kết quả hồi quy 51
4.6.1 Đánh giá sự phù hợp của mô hình 52
4.6.2 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 52
4.6.3 Kết quả phân tích hồi quy 53
4.6.4 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 54
4.6.5 Dò tìm vi phạm các giả định hồi quy 57
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 61
5.1 Kết luận 61
5.2.1 Nâng cao ý định khởi nghiệp thông qua tăng cường thái độ 62
Trang 95.2.2 Nâng cao ý định khởi nghiệp thông qua tăng cường nhận thức kiểm soát hành
vi 63
5.2.3 Nâng cao ý định khởi nghiệp thông qua tăng cường giáo dục 64
5.2.4 Nâng cao ý định khởi nghiệp thông qua tăng cường nguồn vốn 65
5.2.5 Nâng cao ý định khởi nghiệp thông qua tăng cường quy chuẩn chủ quan 66
5.2.6 Nâng cao ý định khởi nghiệp thông qua kinh nghiệm làm việc 67
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 68
Trang 10DANH MỤC VIẾT TẮT
1 ANOVA Analysis of Variance Phân tích phương sai
2 EFA Exploratory Factor Analysis Phân tích nhân tố khám phá
3 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
4 KMO Kaiser-Mayer-Olkin
5 Sig Observed significance level Mức ý nghĩa quan sát
6 SPSS Statistical Package for the
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Mô hình sự kiện khởi sự kinh doanh – SEE 12
Hình 2.2: Lý thuyết dự định hành vi – TPB 13
Hình 2.3: Lý thuyết dự định hành vi của Shapero - Krueger 15
Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu đề xuất 23
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 27
Hình 4.1: Biểu đồ tần số Histogram 57
Hình 4.2: Biểu đồ phân phối tích lũy P-P Plot 58
Hình 4.3: Biểu đồ phân tán Scatterplot 59
Trang 12DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Thang đo nghiên cứu đề xuất 31
Bảng 3.2: Kết quả nghiên cứu sơ bộ thông qua đánh giá độ tin cậy 34
Bảng 3.3: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett sơ bộ 35
Bảng 3.4: Ma trận xoay nhân tố sơ bộ 36
Bảng 4.1: Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 45
Bảng 4.2: Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo 46
Bảng 4.3: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett các biến độc lập 47
Bảng 4.4: Tổng phương sai trích các biến độc lập 48
Bảng 4.5: Ma trận xoay nhân tố các biến độc lập 49
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett biến phụ thuộc 49
Bảng 4.7: Tổng phương sai trích biến phụ thuộc 50
Bảng 4.8: Kết quả phân tích nhân tố khám phá thang đo biến phụ thuộc 50
Bảng 4.9: Ma trận hệ số tương quan 51
Bảng 4.10: Sự phù hợp mô hình 52
Bảng 4.11: Phân tích phương sai ANOVA 53
Bảng 4.12: Kết quả hồi quy 53
Bảng 4.13: Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu 56
Bảng 5.1: Thống kê mô tả yếu tố Thái độ 62
Bảng 5.2: Thống kê mô tả yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi 63
Bảng 5.3: Thống kê mô tả yếu tố giáo dục 64
Bảng 5.4: Thống kê mô tả yếu tố nguồn vốn 65
Bảng 5.5: Thống kê mô tả yếu tố quy chuẩn chủ quan 66
Bảng 5.6: Thống kê mô tả yếu tố kinh nghiệm làm việc 67
Trang 13CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Chương mở đầu trình bày tổng quan về đề tài đang nghiên cứu thông qua lý do chọn đề tài; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; phạm vi và đối tượng nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu tổng quát; ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài; cuối cùng là kết cấu của đề tài
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, một trong những yếu tố quan trọng góp phần phát triển đất nước là sự tăng lên về số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp Vì thế, chính phủ các nước đều có những chính sách hỗ trợ cho sự phát triển doanh nghiệp, đặc biệt là thúc đẩy sự tạo lập doanh nghiệp trong giới trẻ Việc thúc đẩy tinh thần doanh nhân được coi là hạt nhân cho tăng trưởng kinh tế, các hoạt động này thường được thực hiện tiên phong nhằm thúc đẩy các chương trình đào tạo tại các trường đại học ở châu Âu và châu Mỹ Tại Việt Nam trong thời gian qua, Chính phủ và các
tổ chức cũng đã có nhiều chính sách, chương trình hỗ trợ cho hoạt động khởi nghiệp như chương trình Thắp sáng tài năng kinh doanh trẻ, chương trình truyền hình Làm giàu không khó, hay việc thành lập Câu lạc bộ Khởi nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh Đặc biệt, nhằm mục đích khuyến khích, thúc đẩy sự tham gia của các tổ chức, công dân, nhà khoa học Việt Nam khởi nghiệp doanh nghiệp khoa học và công nghệ, sản xuất - kinh doanh, phát triển kinh tế trên nền tảng ứng dụng, phát triển, đổi mới khoa học và công nghệ, Quỹ Khởi nghiệp Doanh nghiệp Khoa học tại Việt Nam được thành lập năm 2014
Điều đó cho thấy rằng, hoạt động khởi nghiệp có ý nghĩa to lớn trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước, bởi doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp khoảng 45% tổng GDP của cả nước, 31% thu ngân sách Nhà nước hằng năm và thu hút hơn 90% lao động mới vào làm việc trong giai đoạn 2010-2017 (Phùng Thế Đông, 2019) Chính những chương trình Khởi nghiệp tạo cơ hội cho những người trẻ tuổi phát huy tinh thần sáng tạo để lập ra những dự án khởi nghiệp thành công, đồng thời xây
Trang 14dựng một chương trình bổ ích về hỗ trợ các dự án có ý tưởng khởi nghiệp tốt, bao gồm các hoạt động tư vấn, đào tạo và cung cấp thông tin, hỗ trợ tìm kiếm và đặc biệt tiếp cận các nguồn vốn từ các nhà đầu tư,
Do vậy, việc đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp và “tư duy làm chủ” trong thanh niên trở dần nên quan trọng Vậy, những yếu tố nào tác động đến ý định khởi nghiệp (YDKN) của thanh niên tại cụ thể một địa phương như huyện Châu Đức tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (BRVT)? Đây cũng chính là lý do đưa
đến quyết định tác giả lựa chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của thanh niên tại Huyện Châu Đức, Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” làm nội
dung luận văn của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn tập trung xác định các yếu tố ảnh hưởng đến YDKN của thanh niên huyện Châu Đức tỉnh BRVT và mức độ ảnh hưởng của chúng Từ đó đề xuất hàm ý quản trị nhằm hỗ trợ và nâng cao YDKN của thanh niên khi khởi nghiệp trong lĩnh vực này
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu chung trên, đề tài nghiên cứu này được thực hiện nhằm giải quyết những mục tiêu cụ thể sau đây:
- Thứ nhất, để góp phần làm rõ hơn các lý luận liên quan đến YDKN
- Thứ hai, để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến YDKN của thanh niên tại huyện
Châu Đức tỉnh BRVT
- Thứ ba, để xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng chính đến
YDKN của thanh niên tại huyện Châu Đức tỉnh BRVT
Trang 15- Thứ tư, để đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao YDKN của thanh niên
Việt Nam nói chung và huyện Châu Đức nói riêng
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu ở trên, nghiên cứu sẽ trả lời các câu hỏi sau:
- Câu hỏi 1: Những lý luận liên quan đến đến YDKN là gì?
- Câu hỏi 2: Các yếu tố ảnh hưởng đến YDKN của thanh niên tại huyện Châu
Đức tỉnh BRVT là gì?
- Câu hỏi 3: Mức độ ảnh hưởng chính đến YDKN của thanh niên tại huyện Châu
Đức tỉnh BRVT như thế nào?
- Câu hỏi 4: Hàm ý quản trị đề xuất nào có thể thực hiện nhằm nâng cao YDKN
của thanh niên tại Việt Nam nói chung và huyện Châu Đức nói riêng?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Là những vấn đề liên quan đến YDKN của thanh niên
tại huyện Châu Đức tỉnh BRVT
- Đối tượng điều tra: Thanh niên, người trẻ tuổi có tuổi đời từ 16 đến 30 bao gồm
cả nam và nữ, có bằng cấp cũng như không có tại huyện Châu Đức tỉnh BRVT
- Phạm vi thời gian: Các dữ liệu sơ cấp được thu thập từ 15/11/2019 đến
15/12/2019 Đề tài nghiên cứu được thực hiện từ tháng 05/2019 đến tháng 3/2020
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn huyện Châu Đức
tỉnh BRVT, địa điểm điều tra dữ liệu sơ cấp tại huyện Châu Đức tỉnh BRVT
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Cùng với việc nghiên cứu các lý thuyết về quản lý, đề tài nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở thu thập và phân tích các số liệu, báo cáo của Ủy ban Nhân dân huyện Châu Đức tỉnh BRVT, từ đó so sánh, đánh giá rút ra kết luận làm tiền đề cho việc đề xuất các hàm ý quản trị nâng cao YDKN cho thanh niên tại đơn vị
Trang 16Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài này gồm có phương pháp phân tích định tính, phương pháp phân tích định lượng
- Phương pháp định tính: Tác giả sử dụng phương pháp chuyên gia để có được
các ý kiến, đánh giá khách quan để hoàn thiện mô hình nghiên cứu, điều chỉnh thang đo nghiên cứu về YDKN của thanh niên huyện Châu Đức tỉnh BRVT, các ý kiến tư vấn về các đề xuất cải thiện YDKN của thanh niên tại địa phương
- Phương pháp định lượng: Tác giả tiến hành khảo sát thanh niên trong lĩnh vực
nông nghiệp tại huyện để có được các đánh giá và ý kiến của khách quan về YDKN của họ Thời gian tiến hành điều tra: Từ ngày 15/11/2019 đến ngày 15/12/2019 Sau khi hoàn thành việc phỏng vấn, tác giả hiệu chỉnh, mã hóa, nhập dữ liệu và làm sạch
dữ liệu Sau đó, sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả, đánh giá độ tin cậy thang đo, đánh giá giá trị thang đo, phân tích hồi quy tuyến tính, kiểm định giá thuyết thống kê bằng phần mềm thống kê SPSS 20.0
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về mặt lý thuyết, nghiên cứu đóng góp và củng cố lý thuyết về YDKN, tạo điều kiện cho các nghiên cứu sâu hơn
- Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu sẽ giúp các nhà quản lý của Huyện Châu Đức tỉnh BRVT nói riêng và của ngành nông nghiệp Việt Nam nói chung thấy được những yếu tố nào ảnh hưởng đến YDKN của thanh niên, từ đó đưa ra hàm ý quản trị để khuyến khích và nâng cao YDKN của thanh niên
1.7 Kết cấu của đề tài
Luận văn có kết cấu gồm có 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Trang 17TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Trong chương này trình bày tổng quan về đề tài đang nghiên cứu thông qua lý do dẫn dắt để hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu tổng quát Những nội dung này sẽ giúp có cái nhìn tổng quát về nội dung, quá trình hình thành đề tài, từ đó tạo cơ sở cho việc nghiên cứu sâu hơn về các cơ sở lý luận liên quan trong chương tiếp theo
Trang 18CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 2 của luận văn trình bày các khái niệm và các nghiên cứu có liên quan YDKN của thanh niên Các lý thuyết này sẽ làm cơ sở cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu YDKN của thanh niên tại huyện Châu Đức, tỉnh BRVT
2.1 Cơ sở lý luận về ý định khởi nghiệp
2.1.1 Các khái niệm
2.1.1.1 Khởi nghiệp
“Khởi nghiệp kinh doanh” (từ đây về sau sẽ gọi là “khởi nghiệp”) theo nghĩa tiếng Việt là việc bắt đầu tạo lập một công việc kinh doanh mới Trong lĩnh vực nghiên cứu học thuật đó là một khái niệm đa chiều Khởi nghiệp là việc mở một doanh nghiệp mới (Krueger và cộng sự, 1944) hay là “tinh thần doanh nhân - entrepreneurship” (MacMillan, 1991) Theo Laviolette và cộng sự (2012), khởi nghiệp là việc tự làm chủ, tự kinh doanh Khởi nghiệp được gắn chủ yếu với 2 nghĩa và 2 hướng nghiên cứu chính sau:
Hướng thứ nhất, khởi nghiệp trong lĩnh vực kinh tế lao động là một sự lựa chọn
nghề nghiệp của cá nhân giữa việc đi làm thuê hoặc tự tạo việc làm cho mình nên gắn khởi sự kinh doanh với thuật ngữ “tự tạo việc làm” (Kolvereid, 1996) và các nghiên cứu về lựa chọn nghề nghiệp Theo hướng nghiên cứu này khởi nghiệp là lựa chọn nghề nghiệp của những người chấp nhận rủi ro, mong muốn tự làm chủ công việc kinh doanh của chính mình không phụ thuộc vào người khác và thậm chí thuê người khác làm công cho họ (Linan và Chen, 2006)
Hướng thứ hai, khởi nghiệp trong lĩnh vực kinh tế và quản trị kinh doanh gắn với
thuật ngữ “tinh thần doanh nhân” Bird (1988) cho rằng khởi nghiệp là việc một cá nhân tận dụng cơ hội thị trường tạo dựng một công việc kinh doanh mới Hay như Gupta và Bhawe (2007) định nghĩa đây là một quá trình định hướng việc lập kế hoạch và triển khai thực hiện một kế hoạch tạo ra một doanh nghiệp mới
Trang 192.1.1.2 Người khởi nghiệp
Theo từ điển Webster Dictionary, định nghĩa người khởi nghiệp là người tổ chức hoặc quản trị các doanh nghiệp, đặc biệt các công việc kinh doanh có nhiều rủi ro
và sự không chắc chắn Bird (1988) định nghĩa người khởi nghiệp là người bắt đầu (hoặc tạo dựng) một công việc kinh doanh mới MacMillan và Katz (1992) cho rằng người khởi nghiệp là người kiếm tiền bằng cách bắt đầu công việc kinh doanh có tính rủi ro Người khởi nghiệp là người tạo dựng doanh nghiệp mới và phát triển công việc kinh doanh, họ có cá tính năng động trong các hoạt động kinh tế, quản trị các thay đổi về kỹ thuật và tổ chức trong doanh nghiệp, tạo dựng văn hóa đổi mới
và học tập không ngừng trong doanh nghiệp
2.1.1.3 Ý định khởi nghiệp
Các nhà nghiên cứu đã định nghĩa ý định theo nhiều cách Trong tác phẩm của mình, Bird (1988) định nghĩa như một trạng thái của tâm trí hướng sự chú ý của một người đối với một đối tượng cụ thể (mục tiêu), hoặc cách để đạt được điều gì
đó Tubbs và Ekeberg (1991) cho rằng một ý định có thể được mô tả như là một đại diện nhận thức của cả mục tiêu mà người ta đang phấn đấu và kế hoạch hành động
mà người ta dự định sử dụng để đạt được mục tiêu đó Trọng tâm của cả hai định nghĩa là vai trò của các mục tiêu và khả năng ảnh hưởng đến ý định của chúng Souitaris và cộng sự (2007) cho rằng YDKN có thể được định nghĩa là sự liên quan ý định của một cá nhân để bắt đầu một doanh nghiệp Đó là một quá trình định hướng việc lập kế hoạch và triển khai thực hiện kế hoạch tạo doanh nghiệp mới (Gupta và Bhawe, 2007) Bird (1988); Shane và Venkataraman (2000) ủng hộ quan điểm rằng hai mục tiêu chủ yếu đặc trưng cho tinh thần khởi nghiệp là thành lập các công ty độc lập mới và tạo ra giá trị mới trong các mục tiêu hiện có
Dựa theo quan điểm này, đề tài xác định YDKN là sự thể hiện nhận thức về các hành động được thực hiện bởi các cá nhân để thành lập doanh nghiệp độc lập mới hoặc tạo ra giá trị mới trong các công ty hiện có
Trang 202.1.2 Vai trò của ý định khởi nghiệp
Theo cách tiếp cận nhận thức, ý định chiếm vị trí trung tâm trong nghiên cứu hành vi của con người (Tubbs và Ekeberg, 1991) Theo Ajzen và Fishbein (1980), hầu hết các hành vi liên quan đến xã hội, chẳng hạn như các hành vi liên quan đến sức khỏe hoặc thành lập các tổ chức mới, đều nằm dưới sự kiểm soát của ý chí Một
số học giả đồng ý với quan điểm này và đã chứng minh rằng ý định là dự đoán duy nhất, tốt nhất cho các hành vi ý chí như vậy (Bagozzi và cộng sự, 1989; Ajzen, 1991; Sutton, 1998)
Điều chắc chắn là các ý tưởng kinh doanh bắt đầu bằng cảm hứng; mặc dù ý định
là cần thiết để chúng trở nên rõ ràng Đồng tình với quan điểm này, Krueger và cộng sự (2000) cho rằng các cá nhân không khởi nghiệp như một phản xạ mà họ cố tình làm điều đó Do ảnh hưởng của các bên liên quan bên ngoài doanh nghiệp, cấu trúc doanh nghiệp, chính trị, hình ảnh và văn hóa chưa được thiết lập (Bird, 1988), đặc biệt là đối với những doanh nghiệp mới được thành lập nên YDKN của người sáng lập sẽ xác định hình thức và phương hướng hoạt động của một tổ chức mới ra đời
YDKN cũng ảnh hưởng đến hành động của các tổ chức hiện có Trong các doanh nghiệp đã thành lập, YDKN là kết quả của quá trình có chủ ý của các cá nhân theo đuổi và khai thác các cơ hội (Stevenson và Jarillo, 1986) Do đó, các tổ chức hiện tại xây dựng các YDKN với mục tiêu cuối cùng là thành công trong kinh doanh Wiklund (1999) cho rằng các YDKN của các hướng tới việc tạo ra giá trị mới trong các tổ chức hiện có, được thực hiện thông qua các hành động sáng tạo, chủ động và mạo hiểm (Miller, 1983), có tác động đến tăng trưởng trong kinh doanh Theo cách tiếp cận tương tự, Wiklund và Shepherd (2003) về mặt thực nghiệm chứng minh rằng ý định đổi mới, chủ động và chấp nhận rủi ro sẽ nâng cao hiệu suất của một công ty
Trang 212.1.3 Tiền đề của ý định khởi nghiệp
Các nghiên cứu khoa học thừa nhận một loạt các yếu tố chịu tác động đến sự hình thành YDKN Các nhà khoa học đã nhóm thành hai nhóm chính: Các yếu tố cá nhân và các yếu tố theo ngữ cảnh (Bird, 1988) Nhóm yếu tố đầu tiên bao gồm nhân khẩu học, đặc điểm cá nhân, đặc điểm tâm lý, kỹ năng cá nhân và kiến thức nền tảng, mạng lưới các quan hệ cá nhân xã hội Nhóm yếu tố thứ hai bao gồm tác động của môi trường và các yếu tố tổ chức
2.1.3.1 Nhóm các yếu tố cá nhân
Nhân khẩu học: Từ những đóng góp ban đầu của Roberts (1991) về đặc điểm cá
nhân của các nhà khởi nghiệp, một số bài viết đã xem xét nhân khẩu học để xác định các yếu tố tác động đến việc hình thành YDKN Hầu hết họ đã xem xét đến vấn đề giới tính và tuổi tác
- Về giới tính, Reynold và cộng sự (2002) cho thấy đàn ông trưởng thành ở Hoa Kỳ
có khả năng cao gấp đôi phụ nữ trong quá trình bắt đầu một doanh nghiệp mới Hơn nữa, nghiên cứu về lợi ích nghề nghiệp của thanh thiếu niên, doanh nhân tiềm năng của thế hệ tiếp theo, đã tiết lộ YDKN của các nữ giới ít hơn đáng kể so với các nam giới (Kourilsky và Walstad, 1998)
- Về độ tuổi, Boyd (1990) cho thấy nó có mối tương quan tích cực với YDKN Cụ
thể hơn, Bates (1995) chứng minh rằng YDKN và, kết quả là khả năng kinh doanh, tăng theo tuổi tác, lên đến đỉnh cao khi mọi người bước sang tuổi 40
Ngoài ra, tình trạng hôn nhân đã được nghiên cứu như một tiền đề của YDKN Evans và Leighton (1989), cho thấy những người đã kết hôn có nhiều khả năng tham gia vào các hoạt động kinh doanh Tình trạng việc làm là một đặc điểm khác được xét đến Kết quả do Ritsila và Tervo (2002) cung cấp cho thấy rằng có một tác động tích cực của thất nghiệp đối với ý định của một cá nhân tham gia vào các hoạt
Trang 22động kinh doanh Cụ thể, thất nghiệp và mất an toàn trong công việc đã được xác định là hai yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến YDKN (Storey, 1991)
Đặc điểm cá nhân: Đối với một loạt các đặc điểm tính cách chung và ổn định,
các học giả đã lập luận rằng sự tự tin thái quá (Busenitz, 1999), sự lạc quan (Cooper
và cộng sự, 1988), sự kiên trì (Gartner và cộng sự, 1991) và niềm đam mê (Locke, 1993) có thể có tác động đến YDKN
Đặc điểm tâm lý: Một số đặc điểm tâm lý đã được nghiên cứu nhằm xác định
mức độ ảnh hưởng đến YDKN Để cung cấp một đặc tính tốt hơn cho các nhà khởi nghiệp, McClelland (1961) đã đưa ra khái niệm “nhu cầu cải thiện” Ông lập luận rằng các cá nhân có nhu cầu cải thiện cao sẽ có mức độ sẵn sàng tham gia vào các hoạt động kinh doanh cao hơn Tuy nhiên, khái niệm về nhu cầu không phải là khía cạnh tâm lý duy nhất mà các học giả đã nghiên cứu liên quan đến YDKN Nhiều tài liệu chứng minh rằng YDKN của cá nhân bị ảnh hưởng bởi xu hướng chấp nhận rủi
ro (Stewart và Roth, 2001; Weber và cộng sự, 2002), và thiết lập mục tiêu (Locke
và Latham, 1990)
Kỹ năng cá nhân và kiến thức nền tảng: Bối cảnh và kỹ năng được tích lũy bởi
mỗi doanh nhân, là yếu tố dự đoán các hoạt động khởi nghiệp Roberts và Fusfeld (1981) cho rằng trình độ kỹ năng quản lý cao là yêu cầu đối với các cá nhân tham gia vào các công ty công nghệ cao Baum và cộng sự (2001) cho thấy các kỹ năng
về kỹ thuật, quy trình và quản lý có tác động đến tinh thần kinh doanh Ngoài ra kiến thức nền tảng, được định nghĩa bởi Shane (1999) là kho thông tin được tạo ra thông qua trải nghiệm cuộc sống của con người và ảnh hưởng đến YDKN
2.1.3.2 Nhóm các yếu tố bên ngoài
Tác động của môi trường
Các hoạt động kinh doanh cũng có thể được giải thích bởi những ảnh hưởng của môi trường kinh doanh xung quanh Các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh rằng các
Trang 23chính sách của chính phủ, đặc điểm của bối cảnh địa phương (ví dụ như cơ sở hạ tầng, nhà đầu tư tài chính) ảnh hưởng đến các YDKN Chính phủ có thể can thiệp vào các chương trình tài trợ, chính sách thuế và các cơ chế hỗ trợ khác nhằm giảm thiểu sự thiếu hiệu quả của thị trường và thúc đẩy tinh thần kinh doanh (Lerner, 1999) Đối với bối cảnh nội bộ doanh nghiệp, một số nghiên cứu đã tập trung vào khả năng môi trường bên trong bao gồm tài nguyên hữu hình (cơ sở hạ tầng, tài sản vật chất của công ty, phòng thí nghiệm cho nghiên cứu và phát triển) và tài nguyên
vô hình (nguồn nhân lực, thói quen), nhằm thúc đẩy YDKN (Niosi và Bas, 2001)
Yếu tố tổ chức
Những yếu tố tổ chức đặc biệt phù hợp với các cá nhân sẵn sàng thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp thông qua việc tạo ra giá trị trong các công ty hiện có Burgelman (1983) cho thấy các phương pháp quản lý và tổ chức mới, cũng như các thỏa thuận hành chính đổi mới, tạo thuận lợi cho sự hợp tác giữa những người tham gia khởi nghiệp và các tổ chức mà họ đang hoạt động
2.1.4 Lý thuyết nền tảng về khởi nghiệp
2.1.4.1 Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp kinh doanh của Shapero và Sokol, 1982 (The entrepreneurial event- SEE)
Shapero và Sokol (1982) cho rằng việc khởi nghiệp thành lập một doanh nghiệp mới là một sự kiện bị tác động bởi những thay đổi trong đời sống của con người Theo nghiên cứu này, quyết định một cá nhân khi lựa chọn để thành lập một doanh nghiệp mới phụ thuộc vào những thay đổi quan trọng trong cuộc sống của cá nhân
đó và thái độ của cá nhân đó đối với việc khởi nghiệp kinh doanh (thể hiện bằng 2 khía cạnh cảm nhận của cá nhân về tính khả thi; cảm nhận của cá nhân về mong muốn khởi nghiệp kinh doanh)
Theo mô hình này, YDKN sẽ xuất hiện khi một cá nhân tìm thấy một cơ hội có
khả thi và họ mong muốn tận dụng cơ hội đó Tuy nhiên để dự định biến thành hành
Trang 24động mở doanh nghiệp mới thì cần có chất xúc tác Đó chính là những thay đổi Sự thay đổi có thể ở dưới dạng tiêu cực như li dị, mất việc, bất mãn công việc hiện tại… là các nhân tố đẩy hoặc dưới dạng tích cực như tìm được đối tác tốt hoặc, có
hỗ trợ tài chính… là nhân tố kéo Ví dụ như một người bị đuổi việc, nhân tố đó sẽ thúc đẩy anh ta mở doanh nghiệp để tự làm chủ; hoặc như nếu tìm thấy một cơ hội kinh doanh tốt thì mặc dù công việc hiện tại không có gì đáng phàn nàn nhưng cá nhân đó vẫn có thể thành lập doanh nghiệp kinh doanh
Hình 2.1: Mô hình sự kiện khởi sự kinh doanh – SEE
(Nguồn: Shapero và Sokol, 1982)
Nhìn nhận ngược lại, một cá nhân có hành vi thay đổi cuộc sống nếu xuất hiện các nhân tố kéo và đẩy, nhưng thay đổi đó có dẫn tới khởi nghiệp không hay dẫn tới lựa chọn khác thì lại phụ thuộc vào cảm nhận về mong muốn khởi nghiệp và cảm nhận về tính khả thi của cá nhân Cảm nhận về mong muốn khởi nghiệp kinh doanh thể hiện suy nghĩ của một cá nhân về tính hấp dẫn của việc khởi nghiệp Đây là cảm
Trang 25nghĩ được hình thành từ văn hóa, gia đình, đồng nghiệp, bạn bè và người thân Văn hóa sẽ hình thành giá trị của các cá nhân ví dụ như một cá nhân sống trong hệ thống
xã hội đánh giá cao về doanh nhân thì sẽ thích trở thành doanh nhân Cảm nhận về tính khả thi khởi nghiệp kinh doanh thể hiện suy nghĩ của cá nhân về khả năng thực hiện các hành vi tương ứng
2.1.4.2 Lý thuyết dự định hành vi của Ajzen, 1991 (TPB)
Hình 2.2: Lý thuyết dự định hành vi – TPB
(Nguồn: Ajzen, 1991)
Lý thuyết dự định hành vi cho rằng hành vi của con người là kết quả của dự định thực hiện hành vi và khả năng kiểm soát của họ Lý thuyết này đã được ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về hệ thống thông tin và marketing trước khi được các nhà nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực khởi nghiệp Có 3 yếu tố ảnh hưởng tới
dự định thực hiện hành vi:
+ Thái độ của cá nhân đối với hành vi: Thể hiện mức độ đánh giá tiêu cực hoặc
tích cực của cá nhân về việc khởi nghiệp Đó không chỉ đơn giản là cảm giác của cá nhân (tôi thích, nó làm cho tôi thấy được, ổn thỏa) mà bao hàm cả việc cân nhắc đánh giá giá trị của khởi nghiệp kinh doanh (nó có khả năng đem lại lợi nhuận, có nhiều ưu điểm hơn) và “Tôi có muốn làm việc đó không?” Khái niệm này được đánh giá là gần với cảm nhận về mong muốn khởi nghiệp trong mô hình Shapero
Trang 26+ Ý kiến người xung quanh: đo lường các áp lực của xã hội mà một cá nhân tự
cảm nhận được về việc tiến hành hoặc không tiến hành các hành vi khởi nghiệp Cụ thể, nó là dự cảm của một cá nhân về việc những người xung quanh có ủng hộ quyết định khởi nghiệp kinh doanh của mình hay không hay chính là trả lời câu hỏi:
“những người khác có muốn tôi làm việc đó không?”
+ Cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi: Được định nghĩa là quan niệm của
cá nhân về độ khó hoặc dễ trong hoàn thành các hành vi khởi nghiệp kinh doanh (Tôi thấy là tôi có khả năng làm và đủ nguồn lực để làm việc đó không?) Đây là khái niệm rất gần với khái niệm về năng lực cá nhân của Bandura (1997) và cũng tương ứng với khái niệm về cảm nhận về tính khả thi (sự tự tin) trong mô hình SEE của Shapero và Sokol (1982) vì đều đề cập tới khả năng của một cá nhân trong việc hoàn thành các hành vi khởi nghiệp Tuy nhiên, cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi khác với khái niệm cảm nhận về tự tin khởi nghiệp kinh doanh ở chỗ cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi không chỉ đơn thuần là dự cảm về việc có thể thực hiện được hành vi mà còn là cảm nhận về việc có khả năng kiểm soát hành vi
2.1.4.3 Lý thuyết về dự định hành vi Shapero-Krueger (2000)
Trong mô hình mới được điều chỉnh từ mô hình SEE của Shapero và Sokol (1982), Krueger và cộng sự (2000) đưa ra 3 nhân tố tác động tới dự định của một cá nhân trong việc khởi nghiệp Đó là mong muốn khởi nghiệp, cảm nhận về tính khả thi và xu hướng hành động Về cơ bản, mô hình không có sự thay đổi nhiều so với
mô hình cũ, xu hướng hành động được thay thế cho biến thay đổi trong cuộc sống trong mô hình của Shapero Xu hướng hành động là cam kết của một cá nhân sẽ hành động theo như quyết định họ đưa ra
Các mô hình lý thuyết về dự định khởi nghiệp kinh doanh nêu trên có sự tương đồng Dự định khởi nghiệp đều được giải thích bằng khả năng cá nhân và thái độ Cảm nhận về tự tin khởi nghiệp (tính khả thi) ở mô hình SEE cũng rất gần với cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi ở mô hình TBP đều xuất phát từ cảm nhận của
Trang 27cá nhân về năng lực bản thân Cảm nhận về mong muốn khởi nghiệp chính là kết hợp giữa thái độ của cá nhân với hành vi khởi nghiệp kinh doanh và ý kiến người xung quanh về việc họ ủng hộ hay phản đối Tất cả các mô hình trên đều cho thấy
có điểm chung, một cá nhân có tiềm năng khởi nghiệp kinh doanh phải có thái độ tốt, mong muốn khởi nghiệp và phải có cảm nhận về khả thi, sự tự tin về khả năng bản thân khởi nghiệp
Hình 2.3: Lý thuyết dự định hành vi của Shapero - Krueger
(Nguồn: Krueger và cộng sự, 2000)
Tổng kết lại, trong ba trường phái lý thuyết nghiên cứu về YDKN nói trên, các
mô hình lý thuyết về dự định khởi nghiệp kinh doanh đã được các nhà nghiên cứu phát triển, kiểm định thực tế và trở thành phương pháp tiếp cận được chấp nhận rộng rãi hơn, có khả năng giải thích cao hơn và đáng tin cậy hơn so với các cách tiếp cận đặc điểm tính cách cá nhân hay đặc điểm nhân khẩu học Các nghiên cứu
về dự định khởi nghiệp hiện nay được ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứu hàn lâm về hành vi khởi nghiệp Tuy có các quan điểm khác nhau trong định nghĩa các biến số dẫn tới dự định khởi nghiệp, nhưng các mô hình dự định đều cho phép kết hợp phân tích 3 nhân tố quan trọng cho việc khởi nghiệp kinh doanh gồm: Cá nhân, môi trường và nguồn lực để lý giải nguyên nhân dẫn tới khởi nghiệp
2.2 Tổng quan nghiên cứu
2.2.1 Các nghiên cứu về khởi nghiệp
Nghiên cứu Driessen và Zwart (2006), về sự tác động của các yếu tố tính cách cá nhân lên khả năng khởi nghiệp Mô hình đã được các nhà nghiên cứu phát triển lên
Trang 28thành mô hình E-Scan sau đó để đo lường các tính cách này tác động đến khả năng khởi nghiệp của cá nhân và được khảo sát trên mạng internet toàn cầu Có 10 yếu tố tính cách cá nhân tác động đến khả năng khởi nghiệp trong mô hình: Nhu cầu thành đạt, nhu cầu tự chủ, nhu cầu quyền lực, định hướng xã hội, sự tụ tin, sự nhẫn nại, chấp nhận rủi ro, khả năng am hiểu thị trường, khả năng sáng tạo, khả năng thích ứng
Zain và cộng sự (2010) cho rằng các yếu tố tham gia các khóa học kinh doanh, ảnh hưởng từ truyền thống kinh doanh của các thành viên trong gia đình, đặc điểm
cá nhân đều ảnh hưởng đến khởi nghiệp của sinh viên kinh tế ở Malaysia
Đối với sinh viên kinh tế tại Pakistan, Azhar (2010) cho rằng ý định khởi nghiệp chịu tác động bởi các yếu tố nhân khẩu học như giới tính, tuổi tác, kinh nghiệm, nền tảng giáo dục và công việc của gia đình; các yếu tố hành vi như sự thu hút chuyên nghiệp, năng lực kinh doanh, đánh giá xã hội, kinh nghiệm, kiến thức kinh doanh, giáo dục kinh doanh có ảnh hưởng lớn đến khởi nghiệp
Ngoài ra, nghiên cứu của Wang (2011) đã chỉ ra sự ham muốn kinh doanh, sự sẵn sàng kinh doanh và kinh nghiệm làm việc có tác động trực tiếp đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ở Trung Quốc và Mỹ Song song đó, nền tảng kinh doanh của gia đình, đạo đức kinh doanh cũng có ảnh hưởng gián tiếp đến ý định khởi nghiệp của đối tượng này
Nghiên cứu của Linan (2011) cũng đã kết luận, các nhân tố ảnh hưởng chính đến
ý định khởi nghiệp của sinh viên là sự sẵn sàng kinh doanh; thái độ cá nhân; hoạch định, liên minh và hình thành nhân viên; sự tăng trưởng; sự ưu tiên cho các công việc đối với của sinh viên đại học ở Tây Ban Nha
Nghiên cứu của Ooi và Nasiru (2015) về ảnh hưởng của giáo dục về kinh doanh tới sinh viên đại học cộng đồng Malaysia Mẫu nghiên cứu gồm 235 sinh viên năm cuối đã được rút ra từ bốn trường nằm ở khu vực phía bắc Malaysia Kết quả nghiên
Trang 29cứu cho thấy vai trò quan trọng của các trường đại học, cao đẳng cộng đồng trong việc thúc đẩy và nuôi dưỡng tinh thần khởi nghiệp của sinh viên tốt nghiệp
Theo Zain và cộng sự (2010), kết quả nghiên cứu về ý định trong kinh doanh của sinh viên Malaysia cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến ý định kinh doanh là do tác động bởi các thành viên trong gia đình, tham gia các khóa học về kinh doanh, đặc điểm tính cách của cá nhân Wang và cộng sự (2011) đã chỉ ra rằng, sự ham muốn kinh doanh, sự sẵn sàng kinh doanh và kinh nghiệm làm việc có tác động trực tiếp đến YDKN của sinh viên ở Trung Quốc và Mỹ Song song đó, nền tảng kinh doanh của gia đình, đạo đức kinh doanh cũng có ảnh hưởng gián tiếp đến ý định của đối tượng
Nghiên cứu của Nguyễn Thu Thủy (2015) về các nhân tố tác động tới tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học đã khẳng định sự tác động của các nhân tố môi trường tới tiềm năng khởi sự kinh doanh – khái niệm giống như YDKN kinh doanh, đồng thời tác giả cho rằng các trải nghiệm cá nhân trong đó có các trải nghiệm được tiếp cận trong quá trình học đại học có tác động tới tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên; các hoạt động định hướng khởi sự kinh doanh trong và ngoài chương trình đào tạo của trường đại học đều tác động tích cực tới hai khía cạnh là tự tin và mong muốn khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học ở Việt Nam Nghiên cứu chỉ xem xét ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường cảm xúc kết hợp với các yếu tố thuộc trải nghiệm cá nhân tới tiềm năng khởi sự kinh doanh
Nghiên cứu của Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên (2015) về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp với trường hợp sinh viên khoa Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Trường Đại học Cần Thơ được khảo sát trên 233 sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai thuộc khoa Kinh tế và Quản trị Kinh doanh tại Đại học Cần Thơ Kết quả nghiên cứu xác định được thứ tự ảnh hưởng theo mức độ quan trọng giảm dần của các nhân tố đến YDKN của sinh viên bao gồm: Thái độ và sự hiệu quả, giáo dục và thời cơ khởi nghiệp, nguồn vốn, quy chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi
Trang 30Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2015) nhằm xác định các nhân
tố ảnh hưởng đến YDKN của sinh viên ngành Quản trị Kinh doanh tại các trường đại học/cao đẳng trên địa bàn thành phố Cần Thơ Dữ liệu của nghiên cứu được thu thập từ 400 sinh viên ngành Quản trị Kinh doanh tại các trường đại học/cao đẳng trên địa bàn thành phố Kết quả, có 4 nhân tố tác động đến YDKN của sinh viên ngành Quản trị Kinh doanh trên địa bàn thành phố Cần Thơ, bao gồm: thái độ và sự đam mê, sự sẵn sàng kinh doanh, quy chuẩn chủ quan, giáo dục Trong đó, yếu tố thái độ và sự đam mê có ảnh hưởng mạnh nhất đến YDKN
Nghiên cứu của Đỗ Thị Hoa Liên (2016) nhằm mục tiêu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến YDKN của sinh viên ngành Quản trị Kinh doanh trường Đại học Lao động – Xã hội, thông qua áp dụng mô hình tiềm năng khởi nghiệp kinh doanh của Krueger và Brazeal (1994) với lý thuyết dự định hành vi của Ajzen (1991) Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 315 sinh viên tại Trường Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có 05 nhân tố tác động đến YDKN của sinh viên bao gồm Giáo dục và đào tạo tại trường Đại học, kinh nghiệm và trải nghiệm, gia đình và bạn bè, Tính cách cá nhân, nguồn vốn
Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hùng và Nguyễn Thị Kim Pha (2016) nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Trà Vinh Mẫu nghiên cứu được khảo sát từ 405 sinh viên bậc Đại học ở các ngành học khác nhau Nghiên cứu dựa trên phương pháp thống kê mô tả và mô hình cân bằng cấu trúc tuyến tính Kết quả nghiên cứu cho thấy những nhân tố ảnh hưởng dương đến ý định khởi nghiệp của sinh viên thông qua nhân tố sự tự tin về tính khả thi trong khởi nghiệp gồm: hoạt động giảng dạy, hoạt động ngoại khóa, ý kiến của những người xung quanh và sở thích kinh doanh ảnh hưởng trực tiếp đến sự tự tin
Sự tự tin về tính khả thi trong khởi nghiệp càng cao thì ý định khởi nghiệp của sinh viên càng tăng
Nghiên cứu của Nguyễn Hải Quang, Cao Nguyễn Trung Cường (2017) được thực hiện nhằm mục tiêu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh
Trang 31nghiệp của sinh viên Khoa Quản trị kinh doanh Trường Đại học Kinh tế - Luật Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 361 sinh viên (năm nhất, năm hai, năm ba, năm tư) thông qua phương pháp chọn mẫu thuận tiện Thực hiện một nghiên cứu khám phá chúng tôi tìm thấy có 6 yếu tố ảnh hưởng đến ý định KSDN của sinh viên bao gồm: nhận thức kiểm soát hành vi, động cơ chọn làm công cho một tổ chức, môi trường cho khởi nghiệp, động cơ tự làm chủ, quy chuẩn chủ quan và sự hỗ trợ của môi trường học thuật Trong đó, yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi có tác động mạnh nhất đến ý định khởi sự doanh nghiệp
Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nam (2017) về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Mẫu nghiên cứu gồm 300 sinh viên đang học tập tại các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4 nhân tố được xác định là có ảnh hưởng
có ý nghĩa thống kê đó là: sự đam mê, môi trường giáo dục, hỗ trợ khởi nghiệp và nguồn vốn Trong đó, nhân tố sự đam mê và môi trường giáo dục có tác động mạnh nhất Vì vậy, nhằm đẩy mạnh phong trào khởi nghiệp trong học sinh sinh viên trong thời gian tới, nhà nước và nhà trường cần có những chính sách cụ thể để tạo môi trường khởi nghiệp trong sinh viên hoặc những thanh niên trẻ tuổi phát triển rộng khắp và có chất lượng cao
Nguyễn Văn Đức (2017) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của thanh niên trên địa bàn huyện Vĩnh Thuận tỉnh Kiên Giang Tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 6 nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của thanh niên trên địa bàn huyện Vĩnh Thuận gồm Năng lực khởi nghiệp, Thái độ khởi nghiệp, Đam mê khởi nghiệp, Nguồn vốn, Thị trường và Hỗ trợ khởi nghiệp với mẫu nghiên cứu gồm 192 thanh niên trên địa bàn huyện Vĩnh Thuận thuộc tỉnh Kiên Giang Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4 nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của thanh niên gồm Năng lực khởi nghiệp, Đam mê khởi nghiệp, Nguồn vốn
và Hỗ trợ khởi nghiệp Trong đó, nhân tố Năng lực khởi nghiệp có tác động mạnh nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến ý định khởi nghiệp của thanh niên trên địa bàn huyện
Trang 32Vĩnh Thuận Chưa có bằng chứng khẳng định rằng có hay không sự ảnh hưởng của nhân tố Thái độ khởi nghiệp và Thị trường đến ý định khởi nghiệp
Nghiên cứu của Nguyễn Phương Mai và cộng sự (2018) về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của nữ sinh viên ngành quản trị kinh doanh trên địa bàn Hà Nội nhằm khám phá và xác định mức độ ánh hưởng của các yếu tố chương trình giáo dục, kiến thức và kinh nghiệm, quy chuẩn chủ quan, thái độ, tính cách, nhận thức kiểm soát hành vi xuất phát từ lý thuyết hành vi hoạch định TPB Kết quả khảo sát 434 nữ sinh viên cho thấy thái độ cá nhân, chương trình đạo tạo có tác động lớn nhất đến ý định khởi nghiệp của sinh viên
2.2.2 Các nghiên cứu về ý định khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp
Mặc dù nhiều người nhận thức được lợi thế đáng kể của ngành nông nghiệp, nó vẫn đặt ra yêu cầu thu hút thanh niên để trở thành doanh nhân nông nghiệp Do đó, nhận ra các yếu tố ảnh hưởng đến YDKN của thanh niên là rất quan trọng vì nó có thể đóng vai trò chiến lược và thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển Có một số yếu tố ảnh hưởng đến giới trẻ để trở thành doanh nhân trong lĩnh vực nông nghiệp được các nhà khoa học nghiên cứu bao gồm: nhân khẩu học xã hội, thái độ, sự chấp nhận và kiến thức
Silva và cộng sự (2010) đã chỉ ra những yếu tố nhân khẩu học tác động đến thái
độ của thanh niên đối với nông nghiệp, đó là giới tính; độ tuổi; thu nhập; địa phương và dân tộc Theo đó, giới tính là một trong những chỉ số cho các yếu tố đóng vai trò quyết định thái độ và sự chấp nhận của thanh niên đối với tinh thần kinh doanh Các nhà khoa học định nghĩa độ tuổi có nghĩa là tuổi cá nhân thích hợp cho các hoạt động nông nghiệp Có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm tuổi liên quan đến thái độ đối với YDKN trong nông nghiệp Họ cũng cho rằng, đối với đa số người dân, sự cân nhắc quan trọng nhất trong việc lựa chọn công việc là tiền công hoặc thu nhập Giới trẻ tin rằng ngành nông nghiệp không phải là một ngành sôi động vì nó chỉ tạo ra thu nhập ít ỏi Do đó, thái độ của thanh niên là tham gia vào
Trang 33lĩnh vực nông nghiệp được coi là một kinh nghiệm tạm thời, có thể chấp nhận như một câu trả lời cho vấn đề thất nghiệp chỉ trong thời gian đó cho đến khi tìm ra giải pháp tốt hơn
Abdul và Norhlilmatun (2013) cũng tiếp tục nghiên cứu các nhân tố đã được công bố trong các nghiên cứu khoa học trước đó Nghiên cứu của họ nhằm trả lời hai câu hỏi: Thứ nhất, những nhân tố ảnh hưởng đến sự quan tâm của thanh niên để trở thành doanh nhân trong lĩnh vực nông nghiệp là gì? Thứ hai, mối quan hệ giữa các yếu tố với sự quan tâm của thanh niên để trở thành người khởi nghiệp là gì? Nghiên cứu cũng xác định các yếu tố quan trọng khác như hỗ trợ của gia đình, hỗ trợ của chính phủ và quảng bá thông qua các lễ hội nông nghiệp Nghiên cứu kết luận rằng quyết định có tham gia khởi nghiệp nông nghiệp không chỉ giới hạn ở thái
độ, sự chấp nhận và kiến thức mà còn được xác định bởi các yếu tố khác như hỗ trợ gia đình, hỗ trợ của chính phủ và cường độ thúc đẩy của các cơ quan chính phủ liên quan và liên quan cơ quan chức năng Từ nghiên cứu này, người ta thấy rằng thái độ
và sự chấp nhận có mối quan hệ đáng kể với sự quan tâm của thanh niên đối với khởi nghiệp trong nông nghiệp Đặc biệt, sự hứng thú trở thành doanh nhân nông nghiệp dựa trên thái độ và sự chấp nhận tự nguyện của họ mà không có sự ép buộc nào từ bất kỳ bên nào
Addo (2018) lập luận về cách tiếp cận toàn diện liên quan đến thanh niên trong
hệ thống nông nghiệp mở rộng, nhấn mạnh tầm quan trọng của sinh viên trẻ đã tốt nghiệp (thanh niên có trình độ học vấn cao) tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp, do
đó cần có các bước để thu hút, hỗ trợ và giữ chân họ trong lĩnh vực nông sản Nghiên cứu cho thấy những sinh viên trẻ tốt nghiệp, không phân biệt nền tảng giáo dục, có thể tham gia tích cực vào lĩnh vực nông nghiệp Khó khăn đặc biệt trong việc tìm kiếm người khởi nghiệp là sinh viên nữ tốt nghiệp có thể cho thấy sự cần thiết của những nỗ lực trong việc đảm bảo cân bằng giới trong khởi nghiệp ở lĩnh vực nông nghiệp Theo tác giả, Ba yếu tố chính có thể nói là ảnh hưởng đến YDKN trong nông nghiệp là: Cá nhân, tổ chức và yếu tố bên ngoài; với yếu tố cá nhân là
Trang 34then chốt Yếu tố cá nhân được phát hiện có ảnh hưởng khác nhau đến YDKN trong nông nghiệp: nguồn cảm hứng và quyết định bắt tay vào hoạt động nông nghiệp và làm việc để duy trì các doanh nghiệp nông nghiệp của họ; học hỏi, khám phá và đổi mới và phát triển cảm xúc tích cực; lập kế hoạch và điều phối các hoạt động của doanh nghiệp, quản lý hành chính và kỹ thuật các hoạt động hàng ngày và xây dựng
và duy trì mối quan hệ giữa các bên liên quan và với các bên liên quan bên ngoài (khách hàng, nhà cung cấp, đối tác)
Kumar (2016) đã nghiên cứu đánh giá các yếu tố thúc đẩy phát triển tinh thần khởi nghiệp nông nghiệp, những hỗ trợ về thể chế và quảng bá cho các doanh nhân
và xác định những hạn chế mà các doanh nhân phải đối mặt trong việc phát triển tinh thần kinh doanh nông nghiệp Tác giả đã chỉ ra rằng mức độ tin cậy của phần lớn số người được khảo sát ở mức thấp, có thể là do sự không chắc chắn tiếp tục trong doanh nghiệp Thiếu sự hỗ trợ của Chính phủ trong việc khởi nghiệp, đào tạo đầy đủ về công nghệ của doanh nghiệp và thị trường thiếu sự đảm bảo cho đầu vào cũng như sản xuất luôn khiến các doanh nhân rơi vào tình trạng bối rối và không chắc chắn Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tổng số 71% người được khảo sát đã không nhận được bất kỳ hỗ trợ nào về thể chế liên quan đến khoản vay từ Ngân hàng Quốc gia Những hạn chế lớn trên con khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp
là ít hoặc không có trợ cấp, khó đảm bảo vốn lưu động, thiếu vốn vay, không đủ hỗ trợ tài chính của các tổ chức tài chính Những hạn chế lớn được tìm thấy trong các hạn chế về quảng bá là thiếu phương tiện vận chuyển, thiếu thông tin thị trường, giá sản phẩm thấp, cơ sở không đầy đủ, chậm thanh toán, cạnh tranh với các đơn vị lớn, thiếu cơ sở hạ tầng, thiếu cơ sở tiếp thị đầy đủ và khoảng cách đến thị trường xa Khan và cộng sự (2016) nghiên cứu về YDKN của thanh niên ở Karachi (Pakistan) dựa trên Lý thuyết dự định hành vi Cùng với các yếu tố truyền thống về YDKN, nhận thức về phương tiện truyền thông xã hội như một công cụ kinh doanh cũng được xem xét, nghiên cứu chỉ ra rằng các biến như năng lực và kiến thức khởi nghiệp, phương tiện truyền thông xã hội,… hầu hết có ý nghĩa và có tác động đến
Trang 35YDKN của thanh niên ở thành phố Karachi Nghiên cứu này cũng cung cấp các khuyến nghị cho các nhà hoạch định chính sách và những người cung cấp dịch vụ
tư vấn và giáo dục khởi nghiệp ở Karachi về sự xem xét kỹ lưỡng các yếu tố tác động đến YDKH của thanh niên tại đây
2.3 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
2.3.1 Mô hình nghiên cứu
Sau khi tiến hành lược khảo tài liệu trong và ngoài nước, có thể nhận thấy rất nhiều tác giả đã ứng dụng lý thuyết hành vi dự định của Ajzen (1991) để xác định ảnh hưởng của thái độ, quy chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi đến YDKN Tuy nhiên, những nghiên cứu về YDKN dựa trên lý thuyết hành vi dự định cho thấy thái độ đối với hành vi, quy chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành
vi thường giải thích được từ 60% đến 70% sự khác biệt trong ý định, khả năng giải thích này còn tùy thuộc vào ngữ cảnh và tình huống (Karimi và cộng sự, 2014) Do vậy, để gia tăng khả năng tiên lượng của lý thuyết hành vi dự định và phù hợp hơn với điều kiện nghiên cứu, tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến YDKN của thanh niên huyện Châu Đức thông qua 6 yếu tố thái độ, quy chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, giáo dục, kinh nghiệm làm việc
và nguồn vốn
Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu đề xuất
(Nguồn: tác giả đề xuất)
Ý định khởi nghiệp
H5: Kinh nghiệm làm việc H1: Thái độ
(Thái độ với hành vi)
H3: Nhận thức kiểm soát hành vi
(Cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi)
H4: Giáo dục H6: Nguồn vốn
H2: Quy chuẩn chủ quan
(Ý kiến người xung quanh)
Trang 362.3.2 Giả thuyết nghiên cứu
Dựa trên nền lý thuyết hành vi hoạch định (TPB) của Ajzen, (1991); có rất nhiều nghiên cứu xây dựng mô hình các yếu tố tác động đến YDKN của thanh niên ví dụ như mô hình Khan và cộng sự (2016) cho thấy “Thái độ hướng đến khởi nghiệp”,
“Quy chuẩn chủ quan” và “Nhận thức kiểm soát liên quan đến hành vi” đều tác
động tích cực đến YDKN của thanh niên ở Karachi Theo Ajzen (1991), thái độ là
“Đánh giá của một cá nhân về kết quả thu được từ việc thực hiện một hành vi”, quy chuẩn chủ quan có thể được mô tả là nhận thức của cá nhân về các áp lực của xã hội đối với việc thực hiện hay không thực hiện một hành vi hay đơn giản hơn có thể hiểu đó là nhìn nhận của cá nhân về tính hấp dẫn của ý định chịu ảnh hưởng mạnh
mẽ bởi sự ủng hộ của những người gần gũi như người thân, bạn bè và những người
họ cho là quan trọng (Nguyễn Thu Thủy, 2015), cuối cùng nhận thức kiểm soát hành vi được định nghĩa là cảm nhận của cá nhân về việc dễ hay khó khi thực hiện hành vi, nó biểu thị mức độ kiểm soát việc thực hiện hành vi chứ không phải là kết quả của hành vi Các nghiên cứu của Autio và cộng sự (2001); Krueger và Reilly (2000) cũng đều khẳng định mối quan hệ cùng chiều giữa của yếu tố của thuyết TPB lên YDKN Thêm vào đó, nghiên cứu trong nước của Nguyễn Thu Thủy (2015), Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2016), Đỗ Thị Hoa Liên (2016), Phan Anh
Tú và Giang Thị Cẩm Tiên (2015) cũng đưa ra kết quả tương tự với đối tượng thanh niên tại các không gian nghiên cứu khác nhau Vì vậy, 3 giả thiết đầu tiên ứng dụng
lý thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) được phát biểu như sau:
H1: Thái độ có ảnh hưởng tích cực đối với ý định khởi nghiệp
H2: Quy chuẩn chủ quan có ảnh hưởng tích cực đối với ý định khởi nghiệp
H3: Nhận thức kiểm soát hành vi có ảnh hưởng tích cực đối với ý định khởi nghiệp.
Có một mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục và đào tạo
và hành vi, ý định kinh doanh Giáo dục và đào tạo sẽ
Trang 37ảnh hưởng đến mức độ đổi mới thông qua động lực, kiến thức và kỹ năng cần thiết cho việc khởi nghiệp kinh doanh thành công, cũng như tạo sự tăng trưởng trong quá trình phát triển (Clark và cộng sự, 1984); Giáo dục và đào tạo có ảnh hưởng tới phân tích, lập kế hoạch và kiểm soát các quá trình (Hart, 1992) Theo Arenius và Minniti (2005), các cá nhân được đào tạo cao sẽ có nhiều khả năng để theo đuổi các cơ hội kinh doanh Hầu hết các nghiên cứu tại Việt Nam của Nguyễn Thị Hoa Liên (2016), Nguyễn Thu Thủy (2015), Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2016), Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên (2015) cũng đều đưa ra kết quả về sự quan trọng của yếu tố hoạt động giáo dục và đào tạo sẽ thúc đẩy YDKN của thanh niên Như vậy, tác giả có tin tưởng mạnh mẽ rằng một cơ sở đào tạo như trường học hoặc các khóa học có thể đóng vai trò trong bồi dưỡng tinh thần kinh doanh ở người học, cùng hoạt động thực tế tốt sẽ có một ảnh hưởng lớn đến YDKN của họ, vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đưa ra như sau:
H4: Giáo dục và đào tạo có ảnh hưởng tích cực đối với ý định khởi nghiệp.
Thandi và Sharma (2004), đã chứng minh rằng thanh niên đã có kinh nghiệm ít nhất là 5 năm làm việc là những người chuẩn bị tốt hơn cho dự án kinh doanh so với những người có ít hoặc không có kinh nghiệm làm việc Các kinh nghiệm cá nhân tác động tích cực đến mong muốn và sự tự tin khởi sự kinh doanh (Nguyễn Thu Thủy, 2015) Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoa Liên (2016), Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2016) cũng ủng hộ cho yếu tố kinh nghiệm làm việc này Cho nên, giả thuyết nghiên cứu được đưa ra như sau:
H5: Kinh nghiệm làm việc có ảnh hưởng tích cực đối với ý định khởi nghiệp.
Trang 38Yếu tố được đưa vào trong mô hình cuối cùng đó là nguồn vốn Kumar (2016) cho rằng đa số dự án đều thiếu sự hỗ trợ của Chính phủ trong việc khởi nghiệp đặc biệt về nguồn vốn hỗ trợ Trong khi đó, hầu hết các doanh nhân trẻ đều sử dụng tài trợ của cha mẹ và anh em, bạn bè trong giai đoạn đầu khởi nghiệp, đây là nguồn tài chính quan trọng nhất (Lê Quân, 2007) Nguồn vốn có ảnh hưởng đáng kể đến YDKN (Nguyễn Thị Hoa Liên (2016), Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2016); Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên, 2015), do đó, giả thuyết sau được đưa ra:
H6: Nguồn vốn có ảnh hưởng tích cực đối với ý định khởi nghiệp.
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Chương 2 tổng hợp cơ sở lý luận về YDKN và các yếu tố ảnh hưởng Bên cạnh
đó, lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu Qua đó tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 6 yếu tố là: (1) Thái độ, (2) Quy chuẩn chủ quan, (3) Nhận thức kiểm soát hành vi, (4) Giáo dục và đào tạo, (5) Kinh nghiệm làm việc, (6) Nguồn vốn và biến phụ thuộc YDKN của thanh niên địa bàn huyện Châu Đức tỉnh BRVT
Việc tìm hiểu những nội dung này sẽ là cơ sở vững chắc cho việc lý giải các vấn
đề được phân tích ở chương tiếp theo Chương 3 tiếp theo sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu được thực hiện để kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết đi kèm
Trang 39CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 trình bày phương pháp nghiên cứu được sử dụng để kiểm định thang
đo, kiểm định mô hình cùng các giả thuyết nghiên cứu Đầu tiên là phần trình bày
về toàn bộ quy trình nghiên cứu Phần tiếp theo của chương trình bày phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm nghiên cứu định tính và định lượng
3.1 Thiết kế nghiên cứu
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu
(Nguồn: Tác giả đề xuất)
-Kiểm định mức độ phù hợp
mô hình -Đánh giá mức độ tác động các các yếu tố
-Kiểm định giả thuyết nghiên cứu
-Do tìm vi phạm các giả định
Cơ sở lý luận Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu sơ bộ định lượng
Nghiên cứu chính thức
Đánh giá độ tin cậy thang đo
Phân tích nhân tố khám phá
Phân tích tương quan
Phân tích hồi quy tuyến tính
Kết luận, hàm ý quản trị
-Thang đo chính thức -Bảng khảo sát chính thức
Trang 40Quy trình nghiên cứu có những bước chính sau:
Bước 1: Nghiên cứu định tính: Xây dựng và điều chỉnh thang đo xuất phát từ cơ sở lý luận và thảo luận nhóm với các chuyên gia
Bước 2: Nghiên cứu sơ bộ định lượng: Tiến hành khảo sát sơ bộ với mẫu gồm 50 thanh niên nhằm đánh giá độ tin cậy và giá trị thang đo thông qua kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA Từ đó, hoàn thiện thang
đo chính thức
Bước 3: Thực hiện nghiên cứu chính thức thông qua khảo sát trực tiếp số lượng lớn quan sát
Bước 4: Với dữ liệu thu thập được, tiến hành đánh giá độ tin cậy và giá trị thang
đo thông qua kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA với phần mềm xử lý số liệu thống kê SPSS 20.0
Bước 5: Phân tích hồi quy thông qua phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính