1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các vị tổ nghề trong nghề thủ công truyền thống Việt Nam: Phần 2

113 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 45,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp theo phần 1, phần 2 của tài liệu Các vị tổ nghề trong nghề thủ công truyền thống Việt Nam tiếp tục giới thiệu các nội dung về các nghề như: Nghề rèn sắt, nghề kim hoàn, tổ nghề làm lược, nghề khắc ván in, nghề tạc tượng, nghề sơn vẽ, nghề chế tạo súng, đề án nghiên cứu ngành nghề - làng nghề - vùng nghề - phố nghề thủ công truyền thống ở Việt Nam. Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.

Trang 1

NGHỀ RÈN SÁT

26 Lư Cao Sơn

Sách “Sử Nam Chí dị” chép ông người làng Nga Hoàng huyện Quế Dương quận Vũ Ninh (nay là Quế Võ, Bắc Ninh) Lư Cao Sơn đã rèn nhiều đồ sắt cho Thánh Giỏng Sau đó hàng chục năm ông đem kỹ xảo rèn dạy dân nhiều nai Dân các làng rèn trong cả nước đều thờ ông làm tổ sư.

27 Dã Tượng và ngũ vị tổ sư.

Đình làng Cau Dương (xã Thụy Hưng huyện Thái Thụy, Thái Bình) thờ Đương Cảnh thành hoàng, tổ nghề sắt là Dã tượng và Ngũ vị tổ sư Dân làng kể rằng: vào thời Trần quân Nguyên sang xâm lược nước ta Dã Tượng đã tập hợp dân làng Cau Dương lập thành xưởng rèn khí giới để chống giặc Vũ khí làm rất lợi hại, góp phần không nhỏ vào thắng lợi chung của dân tộc Vì vậy dân làng đã tôn ông làm tổ nghề rèn sắt của địa phương mình.

Ngoài Dã Tượng, bài vị ở Đình làng và trong văn tế tổ còn nhắc đến tên 5 vị cũng được tôn là 5 “hậu tiên sư” nghề rèn của làng Đó là các ông: Tống Đình Ưyên, Bùi Đình Lãng, Trịnh Thiên Tính, Lê Đình Ngay, Phạm Đình Minh.

28 Cụ Đặng, tể làng rèn An Khê

Dân làng An Khê (Bình Định) thờ cụ Đặng không nhớ được tên) làm vị tổ nghề làng rèn mình Hành trạng của cụ

96

Trang 2

không đurợc truyền lại một cách rõ ràng Chỉ biết rằng một người cháu cụ là Đô đốc Đặng Văn Long đã đem nghề của cha ông giúp Nguyễn Huệ rèn khí giới để chống quân xâm lược nhà Thanh.

NGHỀ KIM HOÀN

29 Trần Hòa, Trần Điện, Trần Điền

Ba anh em Trần Hòa, Trần Điện, Trần Điền người làng Định Công (Thanh Trì, Hà Nội) Cha mẹ mất sớm, anh em làm lụng vất vả nuôi nhau qua ngày Lúc bấy giờ quân nhà Lương đã tiến vào kinh đồ Vạn Xuân, Lý Nam Đế không chống cự nổi, dân chúng bỏ nhà bỏ cửa chạy tan tác Ba anh

em họ Trần chạy giặc mỗi người lưu lạc mỗi nơi Thật tình

cờ, người nào cũng xin vào làm thuê cho những chỗ chế tác đồ trang sức bằng vàng bạc Vừa làm việc họ vừa chăm chú học lấy những kỹ xảo của nghề Chẳng bao lâu anh em

đã rất thạo việc Đất nước yên hàn, họ tìm đường trở về quê cha đất tổ, làng Định Công, sống đoàn tụ trong một mái ấm gia đinh Ba anh em chung nhau lập một xưởng làm đồ kim hoàn Dân làng Định Công đua nhau học theo, dần dà nghề kim hoàn Định Công nổi tiếng khắp nước Nhớ ơn người

có công khai sáng, dân làng tôn ba anh em Trần Hòa, Tràn Điện, Trần Điền là tổ nghề

97

Trang 3

30 Lưu Xuân Tín, tẩ nghề vàng bạc Châu Khẽ

Ông người làng Châu Khê thuộc xã Thúc Kháng huyện Cẩm Bình tỉnh Hải Dương ngày nay Tương truyền Lưu

Xuân Tín làm quan đến chức Thượng thư Bộ Lại đời Lê Thánh Tông Ông được triều đình giao trọng trách lập xưởng đúc bạc ở kinh đô Thăng Long Ông đã đưa dân làng Châu Khê lên trường đúc làm việc Ngoài nhiệm vụ đúc vàng thoi bạc nén cho công khố, Lưu Xuân Tín còn hướng dẫn cho những người thợ chế tác đồ nữ ừang vàng bạc rất tinh xảo, nào ống vôi, xà tích, hoa tai, vòng cổ chẳng kém thợ Định Công Dân phố Hàng Bạc HàNỘỈ khởi đầu là do người Châu Khê ra trú ngụ làm ăn sinh sống Họ

đã dựng một ngôi đình thờ vọng đức thành hoàng bản thổ

và thờ Lưu Xuân Tín làm tổ nghề Hàng năm thợ vàng bạc Châu Khê dù làm ăn ở đâu cũng trở về quê cũ để làm lễ tế

tổ nghề ở đình làng với lòng thành kính và biết ơn vô hạn.

31 Nguyễn Kim Lâu

Làng Đồng Sâm (xưa là Đường Thâm) gồm hai thôn Thượng Hòa, Thượng Gia, nay thuộc xã Hồng Thái huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình Đây là một làng có nghề chạm

bạc nổi tiếng Dân làng thờ Nguyễn Kim Lâu là tổ nghề.

Theo tấm bia: “Tổ tích lưu truyền thụ nghiệp đại Mỉnh quốc Bảo Lạc châu”(lưu truyền sự tích vị tổ học nghề tại châu Bảo Lạc nước Đại Minh), dựng ngày lành mùa xuân niên hiệu Thuận Thiên thứ 2 (1492) hiện còn dựng trước

98

Trang 4

am thờ thì Nguyễn Kim Lâu người thôn Thượng Gia xã Đường Thậm, ông học được nghề vá nồi đồng (bổ khuyết

đồng oa) ở châu Bảo Lạc, Cao Bằng, đời Minh (1414 -

1427) rồi về dạy cho dân làng Một thời gian sau ông lập

ra phường thợ đặt tên là Phúc thọ phường Cũng trên tấm bia: Cổ tích danh lam Kim Tiên tự tu tạo thạch bi ký (bài ký trên bia đá về việc tu tạo chùa c ổ Kim Tiên) khắc ngày 1 tháng 9 năm Tân dậu niên hiệu Chính Hòa 2 (1681) đời Lê

Hy Tông, phường thợ Phúc Thọ lúc đó có 149 người gồm

1 trùm phường và 7 chi phường cai quản 7 hạng thợ Hạng nhất cổ 18 người, hạng nhì 24 người, hạng ba 21 người, hạng tư 32 người, hạng năm 12 người, hạng sáu 21 người, hạng 7 13 người, của các dòng họ Nguyễn, Triệu, Trần, Đình, Vũ, Hoàng, Ngô, Đỗ Theo quy định của phường, người nào muốn học nghề phải nộp 3 quan tiền để làm lễ cầu phúc và lễ kính tổ nghề Hàng năm vào ngày mùng 5 tháng giêng âm lịch, phường thợ phải tập trung trước am thờ để nhìn lại công việc trong một năm và làm lễ giỗ tổ

Từ chỗ được đức tổ Nguyễn Kim Lâu truyền dạy cho nghề

vá nồi đồng, thợ Đồng Sâm đã khồng ngừng cải tiến để làm những mặt hàng tinh xảo bàng bạc như các loại đồ trang sức, thờ cúng và đồ mỹ nghệ Với nghề tổ, thợ Đồng Sâm thường chia thành từng tốp nhỏ từ 1 đến 3 người gánh theo

đồ nghề (bễ thổi lửa, đe, búa, ve, chạm ) hành nghề lưu động khắp các vùng Vào khoảng thế kỷ 17 sự phát triển của đô thị đã thu hút khá nhiều thợ Đồng Sâm Họ lên Thăng Long cùng với thợ Châu Khê (Hải Dương) Định

99

Trang 5

Công (Hà Nội) lập ra phường Đông Các (nay là phố Hàng Bạc, Hà Nội) một trung tâm kim hoàn của Thăng Long Và rồi họ còn đến lập nghiệp ở Huế và các đô thị khác nữa Song ở đâu họ cũng phát huy được nghề tổ đem lại vinh quang cho xóm làng Vua Khải Định đã vời 2 người thợ Đồng Sâm vào Huế để sửa lại ngai vàng và phong cho một ừong hai người thợ là Lưu Quang chế hàm thất phẩm Hiện nay, trong đền thờ tổ ở Đồng Sâm vẫn lưu trữ được đạo sắc phong niên hiệu Bảo Đại cho tổ nghề chạm bạc Nguyễn Kim Lâu.

32 Lệ Châu

Hiện nay chưa tìm được tư liệu về sự tích của bà, song thợ kim hoàn Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh) đều thờ bà Lệ Châu làm tổ nghề Bà được thờ ở ngôi chùa mang tên Lệ Châu (đường Nguyễn Trãi) Đến lễ tổ không chỉ là những thợ kim hoàn người Việt mà còn rất đông Hoa Kiều cũng thờ vị tổ nghề này.

33 Cao Đình Độ tồ nghề kỉm hoàn đằng trong.

Thuận Quảng là vùng đât có nhiều mỏ vàng, nhưng ở đây chưa có nghề kim hoàn Những đồ trang sức của nhà chúa, nhà quan hoặc những người thợ giàu có đều phải thuê thợ chạm ngườỉ Trung Quốc, họ đỉ theo thuyền buôn sang rồi xin trú ngụ để hành nghề Bấy giờ chúa Nguyễn Phúc Khoát muốn tìm cách cho người học lấy nghề nhưng đành chịu bó tay.

100

Trang 6

Có một người là Cao Đình Độ, vốn quê ở cẩm Thủy Thanh Hóa, vào xin chúa Nguyễn cho làm việc này Khi ở quê ông đã biết nghề hàn bịt khay chén bằng đồng, giờ đây ông giả dạng một người Hoa chạy lẫn vào đám dân di cư sau trận phân tranh Trịnh Nguyễn Ông được một cửa hiệu kim hoàn người Tàu nhận vào hầu hạ và giúp việc, v ố n sáng ý ông theo dõi những thao tác trong từng công đoạn sản xuất, đồng thời tìm cách nhập tâm các kỹ thuật, đánh dấu, ghi chép hình dạng khuôn mẫu cùng cách thức chế tạo dụng cụ Nghề thành thạo, Cao Đình Độ từ giã nghề kim hoàn Ông xin với chúa Nguyễn mở cửa hàng kim hoàn ở làng Kế Môn (Phong Điền) thuộc Thừa Thiên ngày nay Vừa là cửa hàng ông vừa mở lớp dạy nghề cho người trong vùng, con cháu dòng họ Trần Mạnh và Huỳnh Công đến học rất động Từ đó nghề kim hoàn Đàng Trong bắt đầu phấn phát

Quang Trung lên ngôi, nhà vua đã cho thành lập ngay ngành “Ngân tượng” để đúc vàng, bạc Cao Đình Độ được trọng dụng và nhận chức lãnh binh Con trai ông Cao Đình Hương làm phó giúp việc ông Dưới triều Gia Long cha con ông cũng được tiếp tục công việc Cao Đình Độ mất năm 1810 thọ 75 tuổi 11 năm sau (1812) con trai ông cũng qua đời

Học trò khắp các tỉnh miền trong thờ các ông làm đệ nhất, đệ nhị tổ sư Hiện nay ở phường Phù Cát (Huế) vẫn còn nhà thờ kim hoàn thờ hai cha con ông

101

Trang 7

34 Đoàn Tài, tể nghề tiện

Dân gian truyền lại rằng: “Ông sống vào thời vua Lê chúa Trịnh không biết quê chính ở đâu, làng Khánh Vân chỉ

là nơi ngụ cư Khi mới hành nghề ông phải đào hầm để tiện

ở dưới mặt đất, dần về sau do cải tiến cách làm nên công việc đỡ vất vả, lại đạt hiệu quả cao Đoàn Tài tiện các thứ

đồ thờ bằng gỗ như bình hương, cây nến, đài, mâm đồng sản phẩm của ông được nhiều nơi ưa chuộng Không hiểu

vì duyên cớ gì mà không truyền được nghề tiện cho dân làng Khánh Vân, ông đành vượt sông Tô Lịch sang truyền nghề cho dân Nhị Khê Làng Nhị Khê (Thường Tín, Hà Nội) xưa có tên nôm là làng Rũi, vì có nghề tỉện nên người

ta gọi là làng Rũi Tiện:

Hồi cô thắt lưng bao xanh,

\ _ X

ì vê Rũi Tiện với anh thì vê.m

_ _ _ w ^ \

Rui Tiện có gôc bô đê,

Có sông Tô Lịch có nghề tiện mâm.

Người làng Nhị Khê vốn khéo tay lại cần cù, chẳng bao lâu nghề nghiệp tinh xảo nổi tiếng khắp trong nước.

Nhớ ơn người đã dạy nghề cho mình dân làng xây đền thờ tổ nghê Đoàn Tài ngay trên con đường gạch giữa làng Đền thờ có nhiều hoành phi và đại tự như: “Hữu khai tiên” (có công mở mang nghề nghiêp) “Dân tiên giác” (giác ngộ trước dân), “Vỉên nhi thần” (bàn xoay như thần) Điều này chứng tỏ dân chúng không chỉ tôn vinh ngưỡng mộ ông,

mà còn tự hào về truyền thống nghề nghiệp độc đảo của

102

Trang 8

mình Họ tin ràng con cháu mai sau sẽ kế thừa và phát triền nghề này càng tinh xảo hơn Trong chùa làng Khánh Vân nơi Đoàn Tài trú ngụ trước khi sang Nhị Khê, vẫn còn một pho trượng thờ Đoàn Tài tạc bằng đá xanh, ngồi xếp bàng, đầu choàng khăn, hai tay đặt trước bụng Trước mặt là một

bộ đồ tiện cũng bằng đá xanh gồm: Một “mồm lò tiện” cao chừng 1 gang hình giống như chiếc cối đá loại nhỡ, miệng tròn và nhỏ, ngang thân có đường khắc lõm đều (để đặt dây quay) Thứ hrai lá chiếc “lò bàn tiện” giống cái nâm đựng rượu nhưng hai đầu đều có cổ dài ra, giữa là bầu tròn chạm nổi các hoa văn hình thoi liên tiếp Đoàn Tài sống trên trăm tuổi song không ai nhớ năm sirih năm mất Sở dĩ người ta biết tuổi thọ và ngày giỗ tổ vì ở Nhị Khê vẫn truyền tụng câu ca dao:

Sống thì sống đủ trăm năm Chết thì chết giữa hai nhăm thảng mười.

Thợ tiện Nhị Khê đi hành nghề khắp mơi, phố Hàng Gai, phố Tô Tịch (Hà Nội) đều là người Nhị Khê cả Rồi Sơn Tây, Hải Phòng, Bắc Ninh Nhưng dù có đi đâu về đâu thì đến ngày 25 tháng 10 âm lịch mọi người lại trở về quê hương làm lễ tế tổ, để rồi ra đi với niềm vui và hy vọng nghề tiện năm sau phát đạt hơn, thịnh vượng hơn

35 Nguyễn Xuân Tài, tổ nghề mộc làng Chàng

Có thể nói tất cả các làng mộc đều thờ hai anh em Lộ Ban, Lộ Bộc là vị tồ khai sáng của nghề Các ông đã chế

103

Trang 9

ra chiếc cưa, đã dạy dân làm nhà có cột có kèo, vững chãi, chắc chắn, rồi còn trang trí những hình chạm trổ chim hoa cá vào các công trình bằng gỗ thêm cho đẹp Nghê mộc

từ đó ngày càng phát triền.

Chàng Sơn hay Nửa Chàng (thuộc huyện Thạch Thất

- Hà Nội) cũng là một làng thợ mộc có truyền thông Chỉ riêng cách đặt tên làng bằng đồ dùng của nghề mộc đã chứng tỏ dân ở đây yêu nghề nghiệp, quê hương của mình thế nào về tổ nghề thợ mộc, làng Chàng thờ hai vị, cụ tổ Viễn đại (tiền tiên sư) tên là sần, cụ tổ cận đại (hậu tiên sư)

X Ạ _ r p 1 • e

tên Tài.

Tương truyền tài nghệ của cụ sần nổi tiếng khắp gần

xa Lúc đó đức Thánh Tản Viên đang kén thợ giỏi để xây dựng một ngôi đền trên đinh Ba Vì Công trình phải to, đẹp uy nghi vì đây vừa là đền thờ vừa là chỗ nghỉ Biết tiếng cụ Sần, Thánh Tản cho bộ tướng xuống mời Nể lời

cụ cũng ưng thuận, nhưng chỉ xin cho bà vợ được đi theo

Vợ chồng, ông là thợ chính bà là thợ phụ kỉêm việc nấu

ăn Chẳng bao lâu công trình hoàn tất, cụ sần nhớ lại chiến công của Thánh Tản đánh nhau với Thủy Tinh, bèn nẩy

ra sáng kiến trạm trổ những hình Rồng Cá, tàn binh, bại tướng nép dưới các mái nhà, hoặc bò lổm ngổm dưới các

tư thế khác nhau Có lẽ từ đấy dưới mái các đền miếu hay

có hình thủy tộc làm xong đền Thánh Tản vợ chồng cụ Sần được trở về quê cũ nghỉ ngơi Cụ đem bí quyết và tài khéo của nghề mộc truyền lại cho dân, vì thế cụ sần được tôn ỉàm tổ nghề mộc đầu tiên ở làng Chàng.

104

Trang 10

Còn cụ tổ cân đại Nguyễn Xuân Tài, theo truyền thuyết

cụ sống cách đây hơn hai trăm năm Căn cứ theo chữ đề ừên bài vị thì cụ tổ thuộc họ Nguyễn tên tự là Xuân Tài,

cụ bà là họ Lê tên hiệu là Từ Thiện Cụ Tài chính quán ở

xã Thạch Thán huyện Yên Sơn (Quốc Oai) sang dạy nghề bên làng Chàng Chàng Thôn vốn là đất nghề đã lâu, với bàn tay tài hoa, với kỹ nghệ tinh xảo hơn người, cụ Tài đã đến dạy nghề cho những thợ “nhà nòi” ở đây và đã được dân làng tôn vinh thờ phụng là vị “hậu tiên sư” của làng Hiện tấm chân dung cụ vẫn còn ở Chàng Sơn Đó là bức phù điêu một ông cụ phúc hậu, mình mặc áo rộng, ngồi xếp bằng tròn thanh thản Râu tóc bạc phơ, bụng phệ Hầu hai bên là tiểu đồng, một chú cầm quạt lông, cắp bọc sách, một chú cần quạt giấy quảy bầu rượu Nước sơn ta nhẹ nhàng hòa quyện với màu vàng của gỗ khiến bức chân dung tươi tắn và nhã nhặn thanh thoát Trên bàn thờ tổ còn có vật+ • thân thiết nhất của người thợ mộc, đó là cái thước lục lăng, trên mặt ghi đầy đủ ti lệ các bộ phận mộc cần có cho một công trình xây dựng

36 Nguyễn Thì Trung, tổ nghề da

Ngôi đình ở Tam Lâm là nơi thờ vị tổ nghề da Nguyễn Thì Trung và những cộng sự của ông, Phạm Thuần Chánh, Phạm Đức Chính và Nguyễn Sĩ Bân

Nghề thuộc da và làm giày dép da ở nước ta có từ bao giờ thì không ai nhớ Nhưng trung tâm đồ da thì đã hình thành ở Tam Lâm từ thế kỷ XVI Tam Lâm là tên

105

Trang 11

của 3 làng Phong Lâm, Văn Lâm và Trủc Lâm tục gọi là

ba làng Trắm thuộc tổng Phan Xá, huyện Tứ Kỳ, phủ Hạ Hồng đời Lê (nay là tỉnh Hải Dương) đây là qué hương của tổ nghề Nguyễn Thì Trung Dưới thời Mạc Đăng Dung (1527 - 1529) Nguyễn Thì Trung thi đỗ tiến sĩ, được bổ làm quan và đi sứ nhà Minh Sứ bộ đến Hàng Châu (thuộc tỉnh Hồ Nam) thì dừng lại nghi ngơi Thời gian rỗi rãi Thì Trung đến thăm gia đình họ Hứa, chuyên nghề thuộc da

và giày dép Vốn tinh ý ông cố tìm hiểu, nhớ nhập tâm những công đoạn nghề chính yếu, đồng thời hỏi han những kinh nghiệm nhà nghề, những cái giống nhau, khác nhau

so với nghề nghiệp quê mình Cùng đi với ông là ba người thợ làng Trắm: Phạm Thuần Chánh, Phạm Đức Chính và Nguyễn Sĩ B â n ; với tư cách người giúp việc, họ cũng được Nguyễn Thì Trung dặn dò trước, để ý thu lượm cách thức làm ăn của nước người, v ề nhà, ông mở lò thuộc da lớn ngay trên đất Thanh lâm, truyền lại những kinh nghiệm mới cho dân làng, cải tiến nghề cũ để làm ra hàng mới với chất lượng cao Không bao lâu nghề da ở Tam Lâm rất phát đạt, tiếng đồn vang khắp mọi nơi Nhờ có nghề nghiệp làng xóm trở nên phong lưu sung túc Dân nhớ ơn những người truyền nghề nghiệp cho mình, bèn xây dựng đình thờ Nguyễn Thì Trung làm tổ nghề da Các vị hậu tiên sư Phạm Thuần Chánh, Phạm Đức Chính và Nguyễn Sĩ Bân cũng được hưởng tự Triều đình nhà Mạc đã ban sắc phong cho Nguyễn Thì Trung và ba vị hậu, vì họ đã có công cải tiến, phát triển, và dạy nghề cho dân.

106

Trang 12

Hàng năm cứ đến ngày 17 tháng 2 và ngày 17 tháng 8

âm lịch thợ da làm ăn ở các nơi nhất là phố Hà Trung và phố Hàng Da (Hà Nội) đều trở về Thanh lâm làm lễ giỗ tổ Hiện ở phố Hàng Giầy (Hà Nội) vẫn còn ngôi đền thờ vọng

cụ tồ nghề da

37 Phạm Đôn Lễ, tổ nghề dệt chiếu

Ông là người xã Hải Trào (tên nôm làng Hới) huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Đỗ trạng nguyên niên hiệu Hồng Đức thứ 12 (1481) đợi vua Lê Thánh Tông, học giỏi tài cao, từ thi hương đến thi đình ông đều đỗ đầu Có người nhầm ông với Phạm Đôn làm quan Bộ Lễ thời Tiền Lê, học được nghề dệt chiếu ở Quế Lâm - Trung Quốc Tư liệu về Phạm Đôn Lễ rất sơ sài Dân gian truyền lại rằng: Hải Trào

và những vùng lân cận rất hợp với việc ữồng cói, dân ở đây

đã cỏ nghề dệt chiếu từ lâu đời nhưng dệt bằng khung đứng vừa chậm, chiếu lại không đẹp Phạm Đôn Lễ đã giúp dân

mở mang nghề trồng cói Ông lại sáng kiến cải tiến cách dệt chiếu bàng khung nằm có ngựa đỡ dọc làm cho sợi đay luôn cong, chao cói nhanh hơn,sợi đan đều hơn do đó năng suất cao, chiếu lại đẹp, chiểu Hới có nhiều loại, song nổi tiếng nhất là chiếu đậu, khắp nơi đâu đâu cũng hâm mộ ưa dùng Nhớ ơn ông, dân xã lập đền thờ và tôn ông là “ông Trạng Chiếu” Hàng năm dân tổ chức lễ hội để tưởng nhớ ông và khuyến nghệ vào ngày 6 tháng giêng

107

Trang 13

38 Phương Dung, bà tổ nghề đan giành

Công chúa Huyền Trân nhà Trần có một thị nữ là Phương Dung Nàng đã theo công chúa sang Chiêm Thành nhưng cuối cùng cũng được trở về nước Khi ở Chiêm Thành, Phương Dung chú ý những chiếc gùi, những đồ vật đan lát tiện dụng (trong đời sống dân giã) Trở về quê hương làng Giành (nay là xã An Ninh huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình) nàng đã thay đổi cách thức đan, tạo ra một vật dụng bằng tre rất tiện lợi trong sinh hoạt cũng như sản xuất nông nghiệp ở nồng thôn, và gọi nó là cái giành Phương Dung dạy cho dân làng cách thức đan, từ đó nghề đan giành phát triển lan rộng kháp nơi Dân chúng nhớ om tôn Phương Dung là bà tổ nghề đan giành Hiện nay vẫn còn nhiều làng nhiều chợ được gọi tên là làng Giành, chợ Giành.

39 Trần ứ n g Long, tổ nghề đan thuyền thủng.

Trong quá trình thống nhất 12 xứ quân, Đinh Bộ Lĩnh

đã lần lượt đánh thắng rất nhiều thủ lĩnh Riêng sứ quân Đỗ Cảnh Thạc, trấn ngự vùng sông Đỗ Động là đối thủ mạnh hơn cả Thành Đỗ Động kiên cố lại nằm giữa một địa thế hiểm trở Sông Đỗ bao lấy ba mặt thành tạo nên một con ngòi sâu cản bước tiến của đối phương Xung quanh thành

là một vùng rộng lớn với những bãi đầm lầy mênh mông, trùng điệp những rừng lau, bãi sậy Quân Cảnh Thạc đều rất quen nghề thủy chiến, ở vào địa thế hiểm yếu như vậy quả là một thuận lợn lớn Đinh Bộ Lĩnh sai bộ tướng Trần

ứ n g Long là một vị tướng lỗi lạc, xuất thân từ một gia

108

Trang 14

đình nghèo khó quen với công việc nhà nông, sông nước, lại mưu trí, cỏ sức khỏe hom người, đi đánh sứ quân họ Đỗ

ứ n g Long đứng ngắm tòa thành hiểm yếu xung quanh là nước sông lạnh lùng, không một bóng người, không một bóng thuyền, chỉ thấy xa xa là những làng bị đốt phá trơ trụi Làm cách nào để vượt sông vào được thành, một ý nghĩ bỗng vụt lên trong óc vị tướng, ông liên tưởng ngay đến những chiếc thúng đan bằng tre cật có trát nhựa dùng đựng nước, cái thúng có thể nổi trên mặt nước Trần ứ ng Long liền ra lệnh thu quân hạ trại, sai quân sĩ vào rừng chặt tre vót nan, đan theo lối chiếc thúng lớn Để cho vững

họ làm thêm chiếc thanh ngang giữ chắc đường cạp vòng quanh, rồi dùng nhựa chám kín các kẽ hở Thả xuống nước thúng nổi như một chiếc thuyền có thể chở được 4,5 người cùng vũ khí Vì đan bằng tre, con thuyền vừa nhỏ, vừa nhẹ Khi hành quân vác lên như chiếc lá chắn, khi xung trận vượt sông ngòi thì lại trở thành những chiếc thuyền Đỗ Cảnh Thạc không ngờ quân ứ n g Long có phép thần thông vượt được cả sông và đầm lầy hiểm trở nên thua to

Khi thắng trận báo về, Đinh Bộ Lĩnh khao thưởng quân

sĩ và khen ngợi mưu thần của Trần ứ n g Long Nhìn con thuyền độc đáo hình giong một cái thúng méo, vua Đinh gọi nó là thuyền thúng Từ đó về sau mọi người cứ theo đó

mà gọi

Trở về quê hương Trần ứ ng Long dạy cho dân làng cách đan những chiếc thuyền thúng Nó đơn giản, nhẹ nhàng rất thuận tiện cho những vùng sông nước và ruộng

109

Trang 15

sâu Nguyên liệu không phải tìm kiếm xa mà ở ngay lũy tre làng Chiếc thuyền thúng đã nhanh chóng trở thành vật thân thiết của người nông dân Việt Nam, nhất những vùng đầm lầy nước ngập Nhớ om người đã sáng tạo ra nghề đan thuyền độc đáo ấy, nhân dân nhiều nơi thờ tướng quân Trần ứ n g Long làm tổ nghề thuyền thúng Không biết quê ông ở đâu nhưng sự tích eủa ông được truyền tụng nhiều ở xã An Viên (Hưng Yên) nơi có nghề đan thuyền thúng rất nổi tiếng.

40 Huỳnh Văn Lịch, Võ Huy Trinh

Hai ông là những người đầu tiên chế tạo thành công chiếc thuyền chạy bằng hơi nước Việt Nam Thư Tịch c ổ cho biết từ thời Lý những người thợ thủ công nước ta thời đó

đã đóng được những con thuyền có trọng tải và kích thước lớn để dong buồm trên biển cả mênh mông Sử cũ lại ghi: Năm 1407 Trương Phụ đã hạ iệnh tìm khắp nơi, bắt 7700 thợ thủ công giỏi thuộc tẩt cả các nghề đưa về nươc Trong

số này có nhiều thợ đóng thuyền giỏi bị đưa vào các xưởng đóng thuyền lớn của nhà Minh Chưa đủ, năm 1413 Hoàng Phúc lại tung tướng sĩ đi lùng sục khắp mọi vùng trong

cả nước, bắt thêm hàng ngàn thợ đóng thuyền(kể cả trùm phường, thợ cả, thợ học việc ) đưa về Yên Kinh Minh

sử phần An Nam truyện chép: tháng 6 năm 1408 Trương Phụ kéo quân về nước đã mang theo nhỉều chiến lợi phẩm: 235.900 con trâu bò,13.600.000 thạch gạo, 2.359.800 các loại vũ khí và hơn 8.670 chiếc thuyền

110

Trang 16

Và rồi hình ảnh hàng ngàn chiến thuyền san sát trên mặt biển đã được Trương Hán Siêu nhà thơ đời Trần diễn đạt bàng nhũỊig lời thơ đầy khí phách hào hùng:

3 tầng, xung quanh bọc da trâu sống hoặc phên tre dày

để đỡ tên đạn Mỗi tầng đều có lo châu mai Hai bên mạn thuyền là mái chèo khỏe và bánh xe rẽ nước Thuyền này cưỡi sóng, rẽ gió đi như bay.

Thuyền Mau tử: (tức thuyền mẹ thuyền con) Thuyền chia làm 2 phần, phần trước như chiếc thuyền thủng dài

2 trượng, phần sau dài 1 trượng rưỡi chỉ che ván 2 bên Khoang thuyền mẹ để cỏ khô, vật dẫn lửa và thuốc súng, 2 bên nách thuyền cắm đỉnh răng sỏi Khi đụng độ lấy móc xích cột chặt thuyền mẹ vào thuyền giặc, phóng hỏa đốt, rồi trèo lên thuyền con quay về.

Thuyền liên hoàn: dài khoảng 4 trượng' gồm 2 chiếc thuyền hoàn chỉnh với nhau bằng 2 vòng sắt lớn Móc này được cấu tạo đặc biệt, bình thường dù sóng to giỏ lớn cũng không dời ra được Nhưng khi gặp thuyền giặc móc tự động dời ra thành 2 thuyền chiến độc ỉập rất lợi hại.

111

Trang 17

Thuyền Mông xung: thuyền bằng gỗ tứ thiết , tên đạn của giặc không thể xụyên nổi Trước sau tả hữu thuyền đều có lẽ châu mal Đây không phải là loại thưyền to , cách đóng gọn nhẹ và rất chắc , nỏ cỏ thể lướt sóng như bay, lừa lúc xuất kỳ bất ỷ giặc chưa kịp đề phòng thì xông vào, loại thuyền này rất cơ động và vững như một thành trì nôi

Thuyền Tam Khai lăng: Mũi nhọn, trọng tải lớn, ngập sâu dưới nước chừng 3 thước: thuyền nhẹ thanh thoát như chim bay Bất kỳ nước thuận hay nghịch đều đi lại được dê dàng Đây là thuyền đổ bộ có thể chở tới 50 người cùng

vữ khí

Du dĩnh thuyền cao 5 tầng , mỗi tầng đều có nữ tường Đây là thuyền để cho các tướng chỉ huy thủy chiến dùng ) , Những chiếc thuyền đã đi vào lịch sử chiến đấu lẫy lừng của dân tộc và khiến cho người nước ngoài phải thán phục Năm 1820 viên đại tá hải quân Oai-tơ của Hoa Kỳ trong chuyến đi thăm Đông Nam Á đã nhận xét: người Việt Nam thực là những người đóng thuyền rất giỏi Họ đã hoàn thành công trình của mình với ký thuật chính xác.

Song ứng dụng máy hơi nước để đóng thuyền cơ khí thì

ở nước ta chưa ai làm được Sử nhà Nguyễn đã ghi lại sự kiện tòa vũ khố trưng tập những thợ đóng thuyền giỏi để chế thuyền máy hơi nước Sau bao ngày lao động vất vả cực nhọc, khi cho thuyền hạ thủy thì nồi hơi bị vỡ Vua tức giận hạ ngục các quan Bộ Công là Nguyễn Trung Mậu và Ngô Kim Lân Trước tình thế như vậy thì Huỳnh Văn Lịch

và Võ Huy Trinh đã đứng ra xin đảm nhận công việc này.

112

Trang 18

Huỳnh Văn Lịch vốn là một thợ rèn ở làng Hiền Lương Ông đã cùng Võ Huy Trinh xem xét chiếc tàu cũ của Pháp một cách ti mỉ rồi chỉ dẫn cho thợ thuyền làm theo đúng kích thước và những chi tiết máy móc Vua Minh Mệnh ban thưởng rất hậu cho hai vị “Đốc công” và 1.000 quan tiền cho những người thợ đóng tiếp 1 con thuyền nữa.

Huỳnh Văn Lịch và Võ Huy Trinh với tài năng và ý chí, mặc dù chỉ là chân thợ rèn đã chế tạo thành công chiếc thuyền chạy bằng máy hơi nước góp phần không nhỏ vào nghề đóng thuyền truyền thống của dân tộc

TỎ NGHÈ LÀM LƯỢC

41 Lý Thị Hiệu

Ngày xưa ở bất cứ chợ quê nào cũng có bán lược tre thậm chí ở kinh đô cũng có 1 phố lấy tên là phổ Hàng Lược Nghề làm lược tre có nhiều nơi: Đồng Văn (Hà Nội),

Củ Chi (Nam Bộ) Nhưng làng Vạc mới là quê gốc của nghề Dân ở đây thờ bà Lý Thị Hiệu là tồ nghề Làng Vạc, thời Lê là xã Hoạch Trạch, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng (nay thuộc xã Thái Học, huyện cẩm Bình, tỉnh Hải Dương) Nghề làm lược tre có ở đây từ bao giờ thì không

ai nhớ, nhưng sự tích về bà Lý Thị Hiệu tổ sư của nghề thì đến nay vẫn được dân làng truyền tụng và tôn vinh Theo

“Hoạch Trạch Nhữ tập phả ký” do tiến sĩ Nhữ Đình Toản soạn (ông đõ tiến sĩ nam 1736 ), thì Lý Thị Hiệu là vợ của tiến sĩ Nhữ Đình Hiền Ông đỗ năm 1680, làm quan thời

113

Trang 19

Lê Trịnh, nổi tiếng là người có tài chính sự “văn chương Lê Anh Tuấn, chính sự Nhữ Đình Hiền”(77rô«A ngữ dân gian

ca ngợi Nhữ Đình Hiền)

Năm 1698 Nhữ Đình Hiền được cử đi sứ Trung Quốc,

bà Lý Thị Hiệu xin đi theo chồng Ở nước người lúc rỗi rãi

bà đặc biệt quan tâm đến cách làm lược tre Từ cách chọn nguyên liệu đến các chi tiết, từ khâu đầu cho đến lúc thành phẩm Trở về bà tập hợp dân làng dạy nghề cho mọi người Sau đó bà đứng ra lập phường Diên Lộc chuyên làm lược tre Lược làng Vạc có mặt ở khắp nơi trong cả nước được

ưa chuộng và trở thành vật gần gũi của mọi người Họ Nhữ lại trích 12 trong số 16 mẫu ruộng lộc điền vua ban, cho phường Diên Lộc Nhớ ơn vợ chồng bà Lý Thị Hiệu dân làng tôn ông bà làm tổ sư nghề làm lược tre Văn tế ngày giỗ tổ nghề Lý Thị Hiệu có câu:

Cung duy tiên thảnh tiên sư, Thủy dụ lê dân,

Công đăng nhật nguyệt Đức hợp càn khôn ,

Bắc sứ dị đoan, Hưng thành nghệ thủ

Tạm dịch:• *

Kỉnh nghĩ tiên thảnh tiên sư, Cho dân đen được sung tủc Công sánh mặt trời mặt trăng

114

Trang 20

Đức ngang với trời đât

Đi sứ Bắc phương truyền lại giềng mối Phấn phát tạo thành nghề

42 Trần Công, tổ nghề lược sừng

Nếu có dịp về thăm Thụy ứ ng (Huyện Thường Tín,

Hà Nội) bạn sẽ được chiêm ngưỡng bức chân dung khảm trai hình một ông cụ mặc áo lụa ngồi xếp bằng tựa vào con hươu, 2 bên có tiểu đồng cầm phất trần và cắp tráp đứng hầu Đây là bức mới làm căn cứ vào bức chân dung cũ của

tổ nghề đã bị Tây càn cướp đi mất

Thợ lược làng Thụy ứ ng kể rằng: không biết tên vị tổ

là gì chỉ biết ông họ Trần là cháu của Trần Đắc người bản

xã Trần Đắc là một người chính trực, ông ra làm quan dưới thời Lê Trang Tông Do ghen ghét và do đố kỵ, bọn nịnh thần vu cho ông có ý đồ phản loạn, dám làm nhà theo kiểu của vua chúa “Nội công ngoại quốc” (trong chữ công ngoài chữ quốc) thế là ông bị đem đi hành hình Dân làng không cứu được Trần Đắc khỏi tội chết, song họ đã cứu được ngôi nhà của ông khỏi bị phá, bằng cách trong một đêm đem hết tượng phật các chùa trong vùng về bày la liệt rồi báo với quan rằng đó là chùa làng chứ không phải nhà Trần Đắc Ngôi chùa đó nay chính là nhà thờ tổ nghề Lại nói cháu Trần Đắc đi học nghề làm lược ở xa, nghe tin ông mình bị hại liền mai danh ẩn tích, trốn tránh một thời gian dài mới dám về làng Lúc đầu ông dạy dân làm lược

115

Trang 21

tre rồi chuyển sang làm lược gỗ, hình cong như múi bưởi Cuối cùng ông có sáng kiến hơ nóng sừng trước khi làm lược rồi truyền bảo cho dân Chiếc lược sừng làng Thụy

ứ n g từ đó không chỉ là vật dụng rất bền, rất tiện cho mọi người mà nó còn ừở thành một thứ hàng mỹ nghệ hoặc 1 tác phẩm điêu khắc nữa Truyền nghề xong ông họ Trần lại dời bỏ quê hương ra đi, có lẽ vì thế không ai còn nhớ được tên ông nữa, nhớ om người đã đem nghề lược sừng độc đáo về cho riêng làng mình, người dân Thụy ứ n g cũng

đã tôn ông Trần là tổ nghề Hàng năm vào ngày 15 tháng 2

và ngày 15 tháng 8 âm lịch, dù đi làm ăn ở xa người Thụy

ứ n g cũng tụ hội về quê hương làm lễ giỗ tổ Người Thụy

ứ n g rất coi trọng nghề tổ và tổ nghề Từ xa xưa họ đã cỏ lời nguyền: dù túng thiếu đến đâu cũng không được bán

đồ nghề và không dạy nghề tổ cho người ngoài Cuộc sống mới hôm nay đã khác xưa, nghề lược sừng đã qua gần 4 thế kỷ khồng những phát triển ở làng Thụy ứ n g mà còn ở khắp mọi miền của tổ quốc Nhưng ở đâu người thợ cũng nhớ đến đât nghề và tổ nghề - ông họ Trần.

Trang 22

kinh phật do Đinh Liễn con Đinh Tiên Hoàng cho khắc vào

đá năm Quí Dậu (973) Rất tiếc ta chưa có một bản khắc gỗ hay một trang kinh nào in vào thời gian này, để có thể xác định niên đại của nghề in mộc bản ở Việt Nam Dựa vào các thư tịch cổ thì chắc chắn rằng nghề in mộc bản đã khá thịnh hành ở nước ta vào thế kỷ 12 Sách “Thiền Uyển tập anh ngữ lục” đã ghi: tín học Thiền Sư họ Tô (không biết tên ), xuất thân từ 1 gia đình chuyên làm nghề khắc ván in kinh, sách Ông người làng Chu Minh, phủ Thiên Đức, trụ

ưì tại chùa Quang Định trên núi Không Lộ (Sơn Tây), mất ngày mùng 9 tháng giêng âm lịch đời vua Lý Cao Tông (tức 15/2/1190 dương lịch) Qua đây thấy rõ nghề in mộc bản thời kỳ này đã khá thịnh, những tài liệu được in chủ yếu là kinh phật Bài tựa cuốn “Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương (ông đỗ tiến sĩ năm 1478 đời Lê) đã khẳng định: “Sách vở dưới thời Lý Trần phần nhiều chỉ thấy việc nhà chúa là được lưu hành”

Chắc rằng thời gian trụ trì tại chùa, ngoài việc thuyết pháp Tồ Tín học thiền sư đã khắc ván in các kinh phật theo nghề gia truyền Khi nhắc đến những người có công lao trong nghề, tư liệu chưa dẫn ra được người xuất hiện trước ông, vì vậy mặc nhiên đến nay mọi người vẫn coi Tín học thiền sư là người đầu tiên in kinh sách nhà phật bàng mộc bản

117

Trang 23

44 Lương Như Hộc

Ổng tên tự là Tường Phủ người làng Hồng Liễu, huyện Trường Vân Hạ Hồng nay là xã Tân Hưng, huyện Tứ Lộc, tỉnh Hải Dương Đỗ Thám hoa năm 1442 đời Lê Thánh Tông, ông làm quan khá lâu trải qua các thời Nhân Tông, Thánh Tông Hai lần đi sứ nhà Minh là hai lần L ư ơ n g Như Hộc có điều kiện tìm hiểu và học tập kinh nghiệm làm ván

in của nước người Nghề khắc ván in đã có từ lâu ở nước

ta Song công lao cải tiến để nghề trở nên tinh xảo và phát triển hơn là thuộc về Lương Như Hộc Sau khi xem xét và nắm được những bí quyết nghề nghiệp của phương Bắc, ông cùng với hai người học trò là Phạm Niên và Phạm Đới, về dạy lại cho các thợ làng Hồng Lục và Liễu Tràng Nghề nghiệp ngày một phát triển lan sang cả thôn Khuê Liễu và các làng xung quanh Từ đó vùng này trở thành trung tâm khắc ván in của cả nước, kéo dài hàng mấy thế

kỷ Cứ nói đến khắc ván in là người ta nói đến thợ Liễu

T ràn g B ộ “Đ ại V iệt sử k ý to à n th ư ” in lần đầu tiê n niên

h iệu C h ín h H ò a 18 (1 6 9 7 ), là do th ợ H ồ n g L ụ c v à L iễu

T ràng đảm nhận

Cuộc sống càng sung túc, dân làng lại càng nhớ ơn người đã đem lại nghề nghiệp cho mình Mọi người tôn Lương Như Hộc và 2 trò của ông là tổ nghề, lập đền thờ

ở thôn Hồng lục (tục gọi là đền Sình) để thờ phụng Dân Liễu Tràng thờ ông vừa là Đương Cảnh thành hoàng vừa là

tổ nghề Hàng năm vào trung tuần tháng 8 âm lịch, dân 3 thôn tổ chức lễ giỗ tổ, ngày 13 Liễu Tràng cúng cơm, ngày

118

Trang 24

14 Hồng Lục tế lễ, ngày 15 Khuê Liễu hóa vàng Vàng hóa, hóa ở ngôi quán đàu thôn Khuê Liễu gọi là quán Tam Dương (tên nôm là quán sếu) Nghi thức giỗ tổ đã được dân gian gói gọn trong câu thành ngữ từ bao đời “Liễu tràng cúng cơm, Đình Sình làm giỗ, quán sếu đốt vàng”.

Nghề in bằng bản khắc gỗ phát triển kéo dài hàng mấy thế kỷ Trước đây phường Kim c ổ ở Hà Nội (nay là phố Hàng Trống và Hàng Gai) có những hiệu: Phúc Văn Đường, Liễu Văn Đường, Quảng Văn Đường chuyên in những truyện thơ nôm để bán Đến khi chữ quốc ngữ xuất hiện cùng nghề in bằng chữ đúc dời thì nghề in bản gỗ bị thu hẹp lại, người ta chỉ dùng để in kinh, in thẻ trong chùa

và in tranh dân gian ngày tết mà thôi

45 Tổ nghề làm giấy

Từ xưa ở Trung Quốc người ta vẫn coi Thái Luân, một viên quan nhỏ sống vào thời Đông Hán là người nghĩ ra cách làm giấy viết, vào khoảng năm 105 sau công nguyên Nhưng thực ra giấy đã có từ trước Thái Luân chừng 2 thế

kỷ, Thái Luân chỉ là người đúc kết kinh nghiệm trong dân gian để làm ra giấy một cách qui mô

Ở Việt Nam không biết nghề làm giấy có từ bao giờ và

tổ nghề là ai? Sách “Chỉ phả” (sự xuất hiện của các loại giấy) chép: tiếp thu kỹ thuật làm giấy của Trung Quốc, từ thế kỷ thứ 3 dân ta đã chế được nhiều loại giấy: giấy bằng

vỏ dó, bằng rêu biển, đặc biệt là giấy bằng trầm hương chế

119

Trang 25

bàng vỏ và lá cây ừầm rất thơm và bền Giấy màu trắng cỏ vân như mắt cá lớn, bỏ xuống nước không nát (lịch sử Việt Nam tập I NXB Khoa học xa hội, Hà Nội - 1971 tr 98).

Còn cuốn “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi viết năm 1435 thì nhận xét rằng: “Đương thời phường Yên Thái (nay là Bưởi) chuyên làm giấy Thợ ở đây cỏ thể làm được “giấy thị”, “giấy lệnh” Còn làng Nghĩa Đô chuyên làm giấy sắc vàng vẽ rồng và mây gọi là “giấy long án”.

Như vậy là từ thế kỷ thứ 3 ta đã biết cách làm giấy và vào thế kỷ 15, nghề giấy đã phát ưiển, xuất hiện những trung tâm như Yên Thái, Nghĩa Đô, cầu Giấy Ngoài Thăng Long ra một số làng có nghề làm giấy lâu đời như làng An Cốc, xã Hồng Minh, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Nội có thể coi là một trong những làng gốc của nghề giấy Một quyển sách chữ Nôm dân làng còn giữ được nói về cụ

120

Trang 26

ông tới làng Thượng Yên Quyết (tức Yên hòa) dạy cho dân cách làm giấy nên gọi là làng Giấy Vì không hài lòng với cách cư xử ở đây, nên ông tổ chỉ dạy cho dân cách dùng những đầu mẩu vỏ dó làm ra giấy thô, rồi bỏ sang làng Hồ Khẩu dạy dân cách làm giấy moi Đến Đông xã, ông dạy dân cách làm giấy quỳ vừa mỏng, vừa dai Vào làng Yên Thái dạy dân cả 3 xóm: Đông, Thọ, Đoài cách làm giấy lịch Cuối cùng ông sang Nghĩa Đô dạy cho họ Lại cách làm giấy sác Loại giấy này phải “nghè”, tức là dùng vồ đập vào giấy đắp trên đá cho nhẵn và bền, vì thế Nghĩa Đô còn có tên là làng Nghè.

Hàng năm dân làng An Cốc làm lễ giỗ tổ nghề Thái Luân và cụ tổ người Việt vào ngày mùng 9,10 tháng giêng

là ngày tổ nghề bỏ làng ra đi và không trở lại nữa Còn dân các làng Hồ Khẩu, Yên Thái, Yên Hòa thì lấy ngày 16 tháng 3 làm lễ giỗ tổ, đó là ngày tổ nghề từ biệt làng Nghĩa

Đô ra đi

46 Nguyễn Quý Trị, tổ nghề dát vàng quì

Làng Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, Hà Nội vốn nổi tiếng từ lâu với nghề dát vàng qui và sơn son thếp vàng Dân gian

đã có câu: “Sống làm trai Bát Tràng chết làm thành hoàng Kiêu Kỵ” (con trai Bát Tràng rất sướng vì trẻ thì nhờ mẹ, nhờ cha, nhừng nhừng nhờ vợ, về già nhờ con) Còn Kiêu

Kỵ là nơi chuyên làm đồ sơn son thếp vàng cung cấp cho khắp nơi vì vậy được làm thành hoàng Kiêu kỵ là điều mơ ước lớn Đây là những quan niệm từ rất xưa

121

Trang 27

Dân làng tôn Nguyễn Quí Trị là tổ nghề dát vàng quì vì ông đã dạy cho dân nghề này Quì là một loại c h ế từ vàng thật, bạc thật Người ta mua thứ giấy quì ở làng Đông x ã

vừa mỏng vừa dai, rồi đem những lá vàng bạc được dát mỏng, cắt thành những miếng vuông xếp vào giữa tờ gỉấy Sau đó lấy búa nện đều cho đến khi tan thành bột Để trang trí các đình đền thờ như ngai, kiệu người thợ thổi bột vàng lên nền sơn lót, sơn thếp, đồ vật trở nên lóng lánh rực

rỡ lạ thường Cách làm này là do Nguyễn Quí Trị chá ra

từ thời Trần Hiện nay ở Kiêu Kỵ vẫn còn đền thờ Nguyễn Quí Trị - ông tổ nghề dát vàng quì.

47 Cao Lỗ, tổ nghề cung nỏ

Cao Lỗ là một tướng tài của Thục An Dương Vương Xuất thân là một đô vật, ông được người đương thời mệnh danh là Đô Lỗ ( Việt điện uL ỉnh tập). Cao Lỗ có công lớn trong việc giúp vua Thục dựng xây cơ nghiệp, chọn kinh

đô, xây thành c ổ Loa, đặc biệt là chế tạo ra loại nỏ liên châu và những mũi tên đồng nhiều cạnh Câu truyện truyền thuyết An Dương Vương được thần Kim Qui tặng nỏ thần

có lẽ là dựa vào sự thật là tướng quân Cao Lỗ chế được loại

nỏ có sức manh siêu phàm mà tưởng tượng nên.

Trên nền cũ của vùng thành c ổ Loa, tháng 7 năm 1959

người ta đã đào đư ợ c hàng vạn m ũi tên đồng dài từ 6 - 11

cm có 2,3 ngạch nhọn sắc, lại có chuôi để cắm vào th â n tên bằng tre C ũng gần thành c ổ L o a còn tìm thấy n h ữ n g ch iếc

ống đồng dài có nhiều lỗ khoét trên thân, có thể đây là một

%

122

Trang 28

bộ phận của nỏ thần Liên Châu bắn một phát ra nhiều mũi tên do Cao Lỗ chế tạo Đỉều này lại rất hợp với tục rước

nỏ thần của dân chúng Hàng năm vào ngày hội, dân làng rước 1 ống tre có nhiều lỗ, ở mỗi lỗ đặt một mũi tên và một chiếc lẫy bằng gỗ tượng trưng cho loại nỏ kỳ diệu của Cao

Lỗ khi xưa Hiện ở c ổ Loa còn di tích gò Đống Bắn, nơi dưới sự chỉ huy tài tình của tướng quân Cao Lỗ, chiếc nỏ thần đã buộc Triệu Đà phải sang cầu hòa Sách Thủy kinh chủ có chép: Sau khi cầu hòa, Triệu Đà dùng mưu cho con trai mình làm rể vua Thục, rồi tìm cách dèm pha Ket cục Cao lỗ bị đuổi ra khỏi kinh thành, bí quyết nỏ thần bị đánh cắp Nghe tin cha con vua Thục bị thua, Cao Lỗ vội vàng mang thủ hạ đến cứu, song không kịp Cao Lỗ cùng em trai

là Cao Tứ đã bỏ minh nơi chiến địa Nhớ ơn ông, dân làng Đại Than (Gia Lương, Bắc Ninh) Hương Nghĩa (Hà Nội) đều lập đền thờ và tôn Cao Lỗ là ông tổ của nghề cung nỏ

48 Trương Công Thành và nghề khảm trai

Làng Chuyên Mỹ (Chuôn) huyện Phú Xuyên - HàNộitừ lâu đã được khắp nơi biết đến vì ở đây có nghề khảm trai thật là độc đáo Dân làng thờ Trương Công Thành vừa là Thành hoàng vừa là tổ nghề Bản thần tích hịện lưu giữ ở đền thờ tổ cho biết: Trương Công Thành người phuờng Ngọ (thôn Ngọ, xã Chuyên Mỹ ngày nay) con ông Trương Huy và bà Trần Thị Ba Ông sinh ngày mùng 9 tháng giêng (không rõ năm nào) Lớn lên đi thi, ông đỗ Thái học sinh rồi đỗ luôn khoa Bác học hoành từ, được Lý Đạo Thành

123

Trang 29

gả con gái là Lý Tố Nương cho Ông làm quan thời vua

Lý Nhân Tông giữ chức Thiêm Sự doanh Vũ Đức Sau Trương Công Thành theo Lý Thường Kiệt đi đánh Châu Ung và Châu Liêm thắng trận trở về, ông được ban thưởng tước hiệu là Phổ Quang Bá Tuấn Đất nước thanh bình ông treo ấn từ quan ăn chay niệm phật, đi ngao du sơn thủy để rộng đường thuyết giáo Thời gian rảnh rỗi ông thu thập những mảnh trai ốc đẹp khảm vào đồ thờ cúng rồi dạy cho dân cách làm Từ đó dân làng Ngọ cỏ nghề, đời sống ngày một thịnh vượng Ngày mùng 9 tháng 8 ông hóa tại am Hương Hải Nhớ đến công tích Trương Công Thành, vua cho dân phường Ngọ làm hộ nhi (trông nom việc thờ tự), miễn cho dân mọi phu phen tạp dịch và thuế má để lo việc đèn hương Lại cho thêm 500 quan tiền để dân xây đền phụng thờ ông mãi mãi Hiện nay thôn Ngọ vẫn còn ngôi đền cổ kính thờ tổ nghề khảm trai Trương Công Thành.

49 Nguyễn Kim

Có một câu chuyện khác về ông tổ nghề khảm trai cũng được lưu truyền ở Chuyên Mỹ đó là Nguyễn Kim Tục truyền ràng: dưới thời vua Lê Hiển Tông ở làng Thuận Nghĩa tỉnh Thanh Hóa có một người làm nghề chài lưới rất khéo tay và tài hoa tên là Nguyễn Kim Những lúc rảnh việc ông góp nhặt những vỏ trai, vỏ hến màu sắc óng ánh đẹp mắt làm đồ chơi cho trẻ trong nhà Vớỉ đôi bàn tay

“vàng” và đôi mắt tinh tế dần dà Nguyễn Kim đem vỏ trai

124

Trang 30

ốc thật đẹp mắt gắn vào bàn thờ, tủ, cột trong nhà khiến vào nhà ông người ta thấy lộng lẫy chẳng khác gì cung vua, phủ chúa Tiếng tăm Nguyễn Kim lan rộng khắp vùng, trấn thủ Thanh Hóa nghe tin về tận nơi xem xét Nguyễn Kim

bị buộc tội vì dám chạm trổ rồng phượng trên đồ thờ vật dụng, những thứ dành riêng cho vua mới được dùng Dân làng ra sức kêu xin cho ông, cuối cùng quan cũng tha tội nhưng tịch thu tất cả đồ khảm, u ấ t ức chán nản Nguyễn Kim bỏ làng ra đi, đến trú ngụ tại thôn Ngọ (xã Chuyên Mỹ) Làng Ngọ nằm trên vùng sông nước, trai ốc có thừa Điều này làm Nguyễn Kim không quên được nghề cũ Ông lại tiếp tục mài khảm và truyền lại cách làm cho dân làng Nghề khảm trai bắt đầu ở Chuôn Ngọ là như thế về sau rất nhiều người thợ khảm frai ở Chuôn ra Thăng long làm ăn, lập nên phố Hàng khay để chuyên bán sản phẩm của làng mình, đồng thời dựng đền ở phố Cựu Lâu (phố Tràng Tiềnngày nay) thờ Nguyễn Kỉm làm tổ nghề Làng Cựu Lâu sau

125

Trang 31

cuộc nghề này cũng không đủ sống ông liền tìm đến làng Thụy ứ n g (huyện Thường Tín) là nơi có nghề làm lược sừng Là người sáng ý, ông nghĩ ra cách dùng vỏ trai ốc có màu đẹp, khảm lên lược để cài búi tóc Khảm ở lược rồi ông lại tìm tòi để khảm trên hộp, trên khay từ đó hình thành nghề khảm Đến đời sau con ông Kim là Vũ Văn Ngân cùng gia đình và một số thợ khảm ở Chuôn ra Hà Nội làm ăn sinh sống đã lập ra phố Hàng Khay Thời gian hành nghề của cha con ông Vũ Văn Kim được nhớ là vào khoảng thế kỷ 19.

Vậy Trương Công Thành, Nguyễn Kim và Vũ Văn Kim

ai là nghề tổ khảm trai ở làng Chuôn Ngọ? Sừ sách để lại cho ta biết nghề khảm trai ở Việt Nam có từ rất xưa Dưới thời Bắc thuộc khoảng thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ thứ 5 những sản phẩm như khay, cơi trầu, khảm xà cừ của ta đã nổi tiếng, được phương Bắc khen là những “báu vật” (Lịch

sử Việt Nam tập ỉt NXB Khoa học xã hội, Hà Nội - 1971)

Như vậy thì nghề khảm trai của nước ta xuất hiện muộn nhất cũng phải từ thế kỷ thứ 5 Nói chung thì như thế, nhưng riêng với Chuyên Mỹ, có thể người đầu tiên đem nghề khảm trai về dạy dân làng Ngọ là tổ sư Trương Công Thành Rồi sau đó các vị hậu tiên sư Nguyễn Kim hay Vũ Văn Kim đã phát ứiển nghề khảm trai ngày một tinh xảo khiến khảm trai Chuôn Ngọ nổi tiếng xa gần và trở thành một nghề thủ công truyền thống độc đáo.

126

Trang 32

NGHÈ TẠC TƯỢNG

51 Nguyễn Công Huệ

Đến nay chúng ta vẫn còn lưu giữ được nhiều pho tượng nổi tiếng như tượng Tây Thiên lịch đại tổ ở chùa Bút tháp (Bắc Ninh), tượng Quan ân thiên thủ chùa Quán Sứ (Hà Nội), tượng phật nhập niết bàn, chùa Phổ Minh (Nam Định), những pho tượng La Hán chùa Tây Phương (Hà Nội) có thể coi đó là những tác phẩm nghệ thuật là niềm

tự hào của nghề tạc tượng Việt Nam

Tương truyền rằng tổ nghề tạc tượng là Nguyễn Công Huệ, sống vào khoảng giữa thế kỷ 15 Ồng người làng Linh Động huyện Vĩnh Bào (Hải Phòng) Thưở thiếu thời, gia cảnh nghèo khó Nguyễn Công Huệ phải đi tha phương kiếm sống, rồi bị bắt đi phục dịch trong quân xưởng của quân Minh, ở đó ông đã học được nghề chạm gỗ và tạc tượng về truyền lại cho dân Phường tạc tượng Linh Động nhờ ông mà nổi tiếng khắp cả nước Nhớ ơn Nguyễn Công Huệ những người thợ tôn ông là tổ nghề tạc tượng và thờ phụng ông muôn đời

52 Tô Phú Vượng

Khoảng thế kỷ 18 ở làng Linh Động có người thợ tạc tượng rất tài hoa được triều đình vua Lê Chúa Trịnh trọng dụng đó là Tô Phú Vượng Dân chúng kể lại rằng: làng Linh Động xưa cỏ một ông phó cả rất tài năng, vì vậy ông

127

Trang 33

được triệu vào cung làm ngai vàng cho vua Công việc xong xuôi ông ngồi thử xem thành quả mình làm ra sao thì lập tức bị hạ ngục vì tội phạm thượng dám ngồi vào ngai vua Trong ngục tối, ngồi buồn ông ti mẩn nhặt những hạt thóc nếp còn sót trên những chiếc chổi rơm, rồi dùng móng tay khắc thành những con voi đủ cả taỉ, mắt, ngà, v ò i với những tư thế đứng, quỳ khác nhau, từ voi mẹ đến voi con Tận mắt chứng kiến tài năng của Tô Phú Vượng, vua vừa thán phục vừa kinh ngạc nên đã tha cho ông trở về làng quê hành nghề như cũ Để tỏ sự trân trọng đối với người có tài kỳ diệu, vua Lê chúa Trịnh đã phong tước cho Tô Phú Vượng tước Kỳ tài tử, rồi thăng lên Kỳ tài hầu, cháu nội ông là Tô Phú Luật được phong Diệu Nghệ Bá.

Người thợ tạc tượng làng Linh Động tự hào về tài năng của Tô Phú Vượng đã coi ông như một vị tổ nghề Hiện đền thờ ông ở Linh Động vẫn còn đạo sắc phong vua ban cho ông niên hiệu Cảnh Hưng thứ 15 (1754)

NGHỀ SƠN VẼ

53 T rần Lư, ông tổ nghề sơn vẽ

Trần Lư người làng Bình Vọng (tên nôm là làng Bằng) huyện Thường Tín tỉnh Hà Nội được tôn là Tổ sư nghề sơn

vẽ ở Việt Nam.#

Trong kho sách của thư viện nghiên cứu Hán Nôm hiện

có cuốn “Bình Vọng Trần thị gia phả”, nói đến hành trạng của ông Căn cứ theo chi thứ hai trong gia phả {Sách chép tay trên giấy lệnh , kỷ hiệu A979 gồm 476 trang có 15 chi,

128

Trang 34

do Trần phương Xuân chép lại năm 1912. ), Trần Lư còn

có tên là Trần Lương, tự là Tụ Khê, ông sinh năm Canh Dần (1470 ), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất (1302) niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 đời Lê Hiển Tông Qua hai lần đi

sứ học được nghề vẽ sơn ông đã dạy lại cho dân, cà làng Bình Vọng nhờ ông mà có nghề Câu đối treo ở đền thờ ông đã nói lên điều đó:

Lưỡng độ hoàng hoa danh tiến sĩ, Bách niên đan hoạch cổ tiên dân.

về việc học được nghề vẽ sơn Xin trích mấy câu trong bài:

“Học thành họa nghệ” (học được nghề vẽ sơn ):

Thuật ngọc dị tmi long văn chứ Họa điểu tăng quang phượng thái gia Tinh xảo cửu mông duy bút thụ,

Trang hoàng tăng bỉ hội đồ gia.

Tạm dịch:+ •

Tả con ngài dễ thành con rồng rực rỡ,

Vẽ chìm cỏ thêm vẻ đẹp sáng lảng của công

Tinh xảo vì từ lâu nhờ ngọn bút.

Nhờ bức vẽ tăng thêm vẻ trang hoàng.

129

Trang 35

Khi Trần Lư đi sứ về gặp đủng lúc Mạc Đăng Dung tiếm ngôi nhà Lê Ống đã tử tiết để giữ trọn chữ trung với vua, gia phả ghi đỏ là năm 1527 ( Toàn Việt thi ¡ục của Lê Quỉ Đôn lại chép: Trần lư đi sứ hai lần vào năm 1495 và

1505, ông mất vào năm 1540).

Ngày nay đền thờ Trần Lư không còn nữa, trong trận càn năm 1947 giặc Pháp đã đốt trụi làng Bằng Song sự tích về ông tổ nghề vẽ sơn Trần Lưu vẫn ăn sâu trong trí nhớ người thợ Bình Vọng Hàng năm vào dịp tháng 8 âm lịch dân làng Bằng làm ăn các nơi đều về quê để làm giỗ đức thánh tổ nghề Phố Nam Ngư (Hà Nội) cũng có đền thờ vọng ông Trần Lư không chỉ là tổ nghề sơn vẽ, ông còn được triều đình phong làm phúc thần.

54 Đào Thúc Kiên

Dân gian còn truyền tụng về một người thợ vẽ sơn rất giỏi sống ở thế kỷ 18, là Đào Thúc Kiên Ồng người làng Thọ Vực, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Nghề vẽ sơn

đã có từ những thế kỷ trước ở nước ta Nhưng Đào Thúc Kiên đã có tài sử dụng sơn vể ở nhiệt độ khác nhau để tạo màu sắc sinh động như thực Ông cũng nâng nghệ thuật

vể sơn lên mức tinh xảo đến tuyệt vời Các cụ già trong làng kể ràng: Tiếng đồn về tài nâng của Đào Thúc Kiên vang rộng khẳp nơi, vua Lê sai ông sơn vẽ một bức tranh quà dưa hẹn trong 5 ngày phải xong Ông vẫn ung dung

130

Trang 36

tự tại, đến ngày thứ tư mới bắt đầu làm Sứ giả đúng hạn đến lấy thì tranh vẫn còn ướt Đào Thúc Kiên đem tranh ra

hơ, không ngờ màu xanh của dưa chuyển sang màu vàng, nét sơn nứt dạn khiến trông như dưa thật, mọi người được chứng kiến đều trầm trồ cảm phục Nhà vua cũng mến tài nên cho ông giữ việc trang hoàng trong nội điện Con gái ông là Đào Thị Nhiễu sau lấy thái tử Duy Tường sinh ra Lê Hiển Tông

55 Đăng Lộ người đầu tiên chế kính thiên văn

Sách “Đại Việt sử ký toàn thư chép”: Đặng Lộ sống dưới thời Trần (không biết quê quán ở đâu) ông làm chức Hậu Nghi đài lang Thái sử cục lệnh (một chức quan chuyên phụ trách về lịch và thiên văn): từ xưa nước ta vẫn theo lịch Pháp Trung Quốc Thời Lý sau khi đánh thắng quân xâm lược nhà Tổng, triều đình đã soạn ra lịch riêng (1080) Đến đời Trần, Đặng Lộ đã tham khảo các loại lịch và cải tiến thêm nữa Đặc biệt ông đã tìm tòi nghiên cứu chế ra được ống kính thiên văn đặt tên ià lung linh nghi Bằng dụng cụ này Đặng Lộ đã quail sát sự thay đổi biến thiên của các tinh tú một cách chính xác Có thể nói Đặng Lộ là người đầu tiên chế ra kính thiên văn mà tên tuồi được ghi trong

sử sách của ta

131

Trang 37

có đóng góp lớn lao đối với nghề đúc súng Việt Nam, đó

là Hồ Nguyên Trừng Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng là con trai của Hồ Quí Ly Ông đã sáng chế ra một loại súng nổi tiếng là súng thần cơ Đây là một loại súng có sức sát thương và công phá hơn hẳn các loại súng đương thời kể

cả hỏa pháo của quân Minh Hồ Nguyên Trừng đã cải tiến những kỹ thuật quan trọng Từ kiểu dáng súng đến phương pháp đúcj cách chế thuốc súng và phương pháp sử dụng trong chiến đấu về nguyên tắc, loại súng này gần giống súng hỏa mai và súng kíp của đồng bào dân tộc thiểu số, nhưng súng thần cơ vừa bắn được đạn ghém, lại vừa bắn được mũi tên bằng sắt Qua nhiều lần thay đổi súng đã hoàn chỉnh, thay mũi tên kim loại có ngậnh bằng đạn đá tròn hoặc bàng gang Súng thần cơ c ủ a ĩỉồ Nguyên Trừng

có 2 loại, thần cơ và thần cơ sang pháo Thần cơ là súng bộ binh, kích thước nhỏ vác được trên vai, cự ly bắn xa gấp

5 lần cung nỏ bình thường, còn thần cơ sang pháo đặt trên mặt thành khi phòng ngự, hoặc trên xe có ngựa kéo hay trên sạp thuyền chiến khi tấn công Do nòng lớn, bàu nòng

132

Trang 38

chứa nhiều thuốc nổ và đạn nên sức công phá của nó rất mạnh.

Khi giặc Minh xâm lược nước ta, nhà Hồ thất bại, tháng 6 năm 1407 Hồ Nguyên Trừng bị bắt ở Nghệ Tĩnh Giặc đem ông về Kim Lăng giam giữ về sau để tận dụng tài năng chúng cho ông trông coi các xưởng chế vũ khí Trong Minh sử có chép một đoạn như sau: “Đến đời Minh Thái Tổ (1403 - 1424) đánh nước Giao Chỉ, được phép đúc súng thần cơ sang pháo, lúc bấy giờ mới đặt ra đội súng thần cơ”

Có lẽ saụ khi nhà Minh mượn cớ diệt Hồ phù Trần để cướp nước ta, chúng bắt được Hồ Nguyên Trừng, và một

số súng Từ đó quân đội nhà Minh mới bắt đầu có súng và lập ra đội súng thần cơ Hồ Nguyên Trừng đã qua đời ở Trụng Quốc, ông để lại tác phẩm Nam ông mộng lục (ông già nước Nam mơ về quê hương) hiện còn lưu giữ tại thư viện, viện nghiên cứu Hán Nôm

57 Cao Thắng, ông tổ chế ra súng trường

Gần 400 năm sau Hồ Nguyên Trừng, có một người đã chế tạo thànhc ông súng trường theo kiểu Pháp đó là Cao Thắng, ông là người làng Lê Đồng, huyện Hương Sơn, tỉnh

Hà Tĩnh Trước cảnh đất nước bị nạn ngoại xâm đe dọa,

từ bé Cao Thắng đã có lòng yêu nước nồng nàn và lòng căm thù giặc sâu sắc Lớn iên theo nghĩa quân Phan Đình Phùng, trong những trận chiến Cao Thắng đã tổ chức phục

133

Trang 39

kích giặc giết 2 sĩ quan Pháp, 15 lính ngụy và cướp 17 khẩu súng trường kiểu mới nhất Ông đã mời những thợ rèn giỏi nhất ở hai làng Trung Lương (nay thuộc Đức Thọ) và Vân Tràng (thuộc Can Lộc) lên chiến khu để phân tích cấu tạo

và tính năng tác dụng từng bộ phận của súng Trên cơ sở

đó Cao Thắng chế ra được một loại súng mới hiện đại nhất

so với lúc đó Những khẩu súng đã gây nỗỉ kinh hoàng cho bọn lính xâm lược Viên đại úy Pháp Gô Sơ Lin đã kinh ngạc khâm phục thốt lên: “Tôi có đem nhiều khẩu súng

đó về bên Tây, thấy nó giống hệt như khẩu súng của các xưởng binh khí nước ta chế tạo, đến nỗi đưa cho các quan binh pháo thủ xem, các ông ấy đã rất xửng xốt ”

Trong bài vè: “Phan Đình Phùng khởi nghĩa, đã có nhiều đoạn ca ngợi tài năng của Cao Thắng và những người thợ chiến hữu của ông” :

Khen thay Cao Thắng tài to,

\

Lấy ngay súng giặc về cho lò rèn.

Đến nay tỉ mỉ mở xem, Lại thêm có cả Đội Quyên cũng tài.

Xưởng trong cho chỉ trại ngoài.

Thợ rèn các tỉnh đều mời hội công.

Sủng ta chế được vừa xong, Đem ra mà bắn nức lòng lắm thay, Bẳn cho tiệt giống quân Tây.

Cậy nhiều sủng ống phen này hết khoe.

134

Trang 40

58 Nguyễn An, nỉềm tự hào của nghề xây dựng Việt Nam.

Không biết ông quê quán ở vùng nào, song Nguyễn An

sống ở thế kỷ 15 khi nước ta còn rên xiết dưới ách đô hộ

của nhà Minh Cũng không biết những người thợ xây dựng

đã tôn ai làm tổ sư của ngành mình Nhưng rõ ràng trong

lịch sử Việt Nam, ngành xây dựng đã sản sinh ra người thợ

kỳ tài, đó là Nguyễn An Giặc Minh xâm chiếm nước ta

chúng bắt đưa về nước một số thợ thuyền, quan lại, binh

lính và cả trẻ em, trong đó có Nguyễn An Thấy Nguyễn

An tháo vát, lại có sức khỏe hơn người, quan lại nhà Minh

cho ông làm việc ở các công trường xây dựng Nhờ có tài

năng ông đã thànhc ông xuất sắc trong một số cồng trình

Cuối cùng ông đã đảm nhận thiết kế và chỉ huy xây dựng

quần thể cung điện ở kinh đô Bắc Kinh Nguyễn An đã nổi

lên như một ngôi sao sáng chói trong nghề xây dựng ở Bắc

Kĩnh lúc bấy giờ Sau đó ông lại tiếp tục chỉ huy xây dựng

cố cung Trong lúc thi công hệ thống cống đập trên sông

Hoàng Hà ông qua đời Có thể coi Nguyễn An là nhà kiến

trúc đại tài của Việt Nam đầu thế kỷ 15

Ngoài Nguyễn An dân chúng còn nhắc đến Vũ Như Tô

người thợ xây quê xã Minh Quyết, huyện cẩm Giàng thuộc

tỉnh Hải Dương Ông được vua Lê Tương Dực phong làm

Đô đốc trực tiếp trông nom xây dựng hơn trăm cung điện

và tòa trùng đài ở Thăng Long đầu thế kỷ 16

Vua Tương Dực là người chơi bời sa đọa, không để

tâm đến việc triều chính đã bị Trịnh Duy Sơn nổi lên giết

135

Ngày đăng: 14/05/2021, 15:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Ang ghen. Nguồn gốc của gia đình chế độ tư hữu của nhà nước NXB Sư thât H.1962 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình chế độ tư hữu của nhà nước
Tác giả: Ang ghen
Nhà XB: NXB Sư thât
Năm: 1962
18. Charles Crevost. về các nghề thủ công ở Bắc Kỳ. Nhà in Ngọ Báo Hà Nội 1938 Sách, tạp chí
Tiêu đề: về các nghề thủ công ở Bắc Kỳ
Tác giả: Charles Crevost
Nhà XB: Nhà in Ngọ Báo Hà Nội
Năm: 1938
20. Lê Huy Trâm. Kè Rị. Kẻ Chè. Thanh Hóa 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kè Rị. Kẻ Chè
Tác giả: Lê Huy Trâm
Nhà XB: Thanh Hóa
Năm: 1988
22. Nhất Thanh. Đắt lề quê thói. Sài Gòn 1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đắt lề quê thói
Tác giả: Nhất Thanh
Nhà XB: Sài Gòn
Năm: 1970
23.Nhiều tác giả. Giữ gìn phát triển văn hỏa truyền thống Gia Lai - Kom Tum, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn phát triển văn hỏa truyền thống Gia Lai - Kom Tum
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 1987
25. Nhiều tác giả. Địa chí thành phố Hồ Chí Minh. TPHCM. 1987-1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: TPHCM
Năm: 1987-1988
26. Nhiều tác giả. Hà Tây làng nghề làng văn. Sở VHTT Hà Tây. 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Tây làng nghề làng văn
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Sở VHTT Hà Tây
Năm: 1992
28. Nhiều tác già. Truyện các ngành nghề. NXB Lao Động 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện các ngành nghề
Tác giả: Nhiều tác già
Nhà XB: NXB Lao Động
Năm: 1977
15. Ái Nhị. Nghề thủ công mỹ nghệ của miền Nam (bản thảo lưu tại Hội văn nghệ dân gian Việt Nam) Khác
17. Bùi Thiết. Làng xã ngoại thành Hà Nội H. 1985 Khác
19. Huỳnh Minh. Gia Định xưa và nay. Sài Gòn 1973 Khác
21. Lê Văn Hào. Huế giữa chúng ta. Thuận Hỏa 1984 Khác
24. Nhiều tác giả. Địa chí Hà Bắc. Hà Bắc 1982 Khác
27. Nhiều tác giả. Địa chí Vĩnh Phú. Sờ VHTT Vĩnh Phú 1986 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w