Những công trình được xem là khởi đầu của khuynh hướng nghiên cứu ngôn ngữ văn chương từ góc nhìn kí hiệu học phải kể đến là Từ thi pháp học đến kí hiệu học của Hoàng Trinh [50], Những l
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ HÀ THU
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG
CUNG OÁN NGÂM KHÚC VÀ CHINH PHỤ NGÂM
NHÌN TỪ BÌNH DIỆN LÝ THUYẾT
TÍN HIỆU THẨM MỸ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.02.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN VĂN SÁNG
ĐÀ NẴNG, NĂM 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Để hoàn thành luận văn, bản thân tôi đã trực tiếp sưu tầm tài liệu và thực hiện nghiên cứu dưới sự hướng dẫn khoa học nghiêm túc, trách nhiệm của
TS Trần Văn Sáng
Tôi xin cam đoan rằng, mọi số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng, các thông tin được trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc Nếu có gì sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Đà Nẵng, tháng 9/2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hà Thu
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến thầy giáo, TS Trần Văn Sáng,
người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn trong suốt quá trình nghiên cứu làm luận văn
Đồng thời, tôi cũng chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Ngữ văn, Phòng Sau Đại học, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình học tập, nghiên cứu để thực hiện luận văn, song luận văn khó có thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy, cô giáo để luận văn đạt chất lượng tốt hơn
Trân trọng cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 9/2017
Tác giả
Nguyễn Thị Hà Thu
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
THTM : Tín hiệu thẩm mĩ CBĐ : Cái biểu đạt CĐBĐ : Cái được biểu đạt CONK : Cung oán ngâm khúc CPNK : Chinh phụ ngâm khúc
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1
3 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 3
3.2 Nhiệm vụ của luận văn 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
4.2 Phạm vi nghiên cứu: 3
5 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu 4
5.1 Thủ pháp thống kê, phân loại 4
5.2 Phương pháp miêu tả ngôn ngữ 4
6 Đóng góp của đề tài 4
7 Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 6
1.1 LÝ THUYẾT VỀ KÍ HIỆU HỌC 6
1.1.1 Về khái niệm kí hiệu, tín hiệu, dấu hiệu 6
1.1.2 Kí hiệu học hai bình diện của F de Saussure 9
1.1.3 Kí hiệu học ba bình diện của C.Pierce 11
1.1.4 Tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn chương 12
1.2 LÝ THUYẾT HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP 21
1.2.1 Các nhân tố của hoạt động giao tiếp 21
1.2.2 Đặc điểm giao tiếp trong tác phẩm văn chương 24
1.3 GIỚI THIỆU VỀ CUNG OÁN NGÂM KHÚC VÀ CHINH PHỤ NGÂM 27
1.3.1 Về tác phẩm Cung oán ngâm khúc 27
1.3.2 Về tác phẩm Chinh phụ ngâm 29
1.4 TIỂU KẾT 30
CHƯƠNG 2 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CUNG OÁN NGÂM KHÚC VÀ CHINH PHỤ NGÂM NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CÁI BIỂU ĐẠT 31
Trang 62.1 SỰ BIỂU ĐẠT BẰNG NGÔN NGỮ HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ
TRONG CUNG OÁN NGÂM KHÚC 31
2.1.1 Hình tượng người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc, xét ở cấp độ tín hiệu thẩm mĩ hằng thể 31
2.1.2 Hình tượng người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc, xét ở cấp độ tín hiệu thẩm mĩ biến thể 33
2.2 SỰ BIỂU ĐẠT BẰNG NGÔN NGỮ HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CHINH PHỤ NGÂM 53
2.1.1 Hình tượng người phụ nữ trong Chinh phụ ngâm, xét ở cấp độ tín hiệu thẩm mĩ hằng thể 53
2.1.2 Hình tượng người phụ nữ trong Chinh phụ ngâm, xét ở cấp độ tín hiệu thẩm mĩ biến thể 54
2.3 SO SÁNH SỰ BIỂU ĐẠT BẰNG NGÔN NGỮ HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CUNG OÁN NGÂM KHÚC VÀ CHINH PHỤ NGÂM 70
2.3.1 Điểm tương đồng 70
2.3.2 Điểm khác biệt 73
2.4 TIỂU KẾT 74
CHƯƠNG 3 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CUNG OÁN NGÂM KHÚC VÀ CHINH PHỤ NGÂM NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT 76
3.1 GIÁ TRỊ BIỂU TRƯNG CỦA TÍN HIỆU THẨM MĨ CHỈ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CUNG OÁN NGÂM KHÚC 76
3.1.1 Giá trị biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ hằng thể chỉ người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc 76
3.1.2 Giá trị biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ biến thể chỉ người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc 79
3.2 GIÁ TRỊ BIỂU TRƯNG CỦA TÍN HIỆU THẨM MĨ CHỈ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CHINH PHỤ NGÂM 100
3.2.1 Giá trị biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ hằng thể chỉ người phụ nữ trong Chinh phụ ngâm 100
3.2.2 Giá trị biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ biến thể chỉ người phụ nữ trong Chinh phụ ngâm 102
Trang 73.3 SO SÁNH HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CUNG OÁN NGÂM KHÚC VÀ CHINH PHỤ NGÂM TRÊN BÌNH DIỆN CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT 120
3.3.1 Điểm tương đồng 120 3.3.2 Điểm khác biệt 124 3.3.3 Nét đặc sắc trong phong cách và tài năng của tác giả trong cách khắc họa hình tượng người phụ nữ 129 3.4 TIỂU KẾT 130
KẾT LUẬN 132 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TÁC PHẨM CUNG OÁN NGÂM KHÚC
PHỤ LỤC 2 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TÁC PHẨM CHINH PHỤ NGÂM KHÚC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
2.1 Kết quả khảo sát tín hiệu hằng thể chỉ hình tượng người phụ
nữ trong tác phẩm Cung oán ngâm khúc
32
2.2 Số lượng và tần số xuất hiện của tín hiệu biến thể chỉ người
phụ nữ trong tác phẩm Cung oán ngâm khúc
34
2.3 Kết quả khảo sát, phân loại các biến thể từ vựng chỉ người
phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc
2.6 Tần số và tần suất của các biến thể hằng thể chỉ hình tượng
người phụ nữ trong tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc
53
2.7 Số lượng và tần số xuất hiện của tín hiệu biến thể người phụ nữ
trong tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc
55
2.8 Tần số và tần suất của các biến thể từ vựng chỉ hình tượng
người phụ nữ trong tác phẩm Chinh phụ ngâm
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Tín hiệu thẩm mĩ, giá trị biểu trưng của ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương là một vấn đề hấp dẫn, là một cánh cửa rộng mở cho việc tiếp cận thế giới nghệ thuật ngôn từ Đó là cách tiếp cận liên ngành ngôn ngữ - văn hóa về hệ thống tín hiệu thẩm mĩ tồn tại trong ngôn ngữ văn chương
Từ góc nhìn kí hiệu học, cụ thể qua tín hiệu thẩm mĩ, chúng ta có thể đi từ bình diện cái biểu đạt đến bình diện cái được biểu đạt, hay nói cách khác, đi từ chất liệu đến ý nghĩa, để giải mã hệ thống hình tượng/biểu tượng trong tác phẩm văn chương Cách tiếp cận này vừa đảm bảo được tính khách quan trong khi khảo sát dữ liệu, vừa phát hiện được những nét đặc trưng trong chất liệu ngôn ngữ cũng như trong ngôn ngữ hình tượng của tác phẩm
Việc tìm hiểu giá trị nghệ thuật ngôn ngữ thơ trong Cung oán ngâm khúc và
Chinh phụ ngâm từ lâu đã là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tuy
nhiên, việc xem xét hệ thống hình tượng/biểu tượng trong ngôn ngữ hai tác phẩm nổi tiếng này dưới góc độ ngôn ngữ học vẫn còn là một khoảng trống Do vậy, đề
tài luận văn của chúng tôi nghiên cứu Hình tượng người phụ nữ trong Cung oán
ngâm khúc và Chinh phụ ngâm nhìn từ bình diện lí thuyết tín hiệu thẩm mĩ là một
hướng nghiên cứu hoàn toàn mới, có tính lí luận và tính thực tiễn cao trong việc nghiên cứu và giảng dạy văn chương từ góc nhìn kí hiệu học hiện nay
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Lý thuyết kí hiệu học (semiotics) ra đời gắn liền với chủ nghĩa cấu trúc trong nghiên cứu ngôn ngữ và nhân học của thế kỉ XX Có thể nói như vậy, bởi một lẽ,
mãi đến năm 1916, năm mà Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của F.de Saussure
[61] được xuất bản, người được xem là cha đẻ của ngôn ngữ học hiện đại và cũng là một trong những người khai sáng chủ nghĩa cấu trúc, thì người ta mới chú ý đến vai trò của kí hiệu học Luận điểm của F.de Saussure đề xuất: ngôn ngữ là một hệ thống
kí hiệu, và ngôn ngữ học là một bộ phận của kí hiệu học, xét theo một phương diện
Trang 10nào đó Lý thuyết kí hiệu ngôn ngữ, kí hiệu học nhị diện của F.de Saussure, cũng từ
đây, được xem là tiền đề cho các công trình nghiên cứu kí hiệu học chuyên sâu về
sau như “chức năng thi pháp” và tính đa chức năng của ngôn ngữ trong nghiên cứu R.Jakobson [60], “cấu trúc kí hiệu học biểu thị và kí hiệu học hàm thị” của R.Barthes [58]; đặc biệt là các nghiên cứu về “lý thuyết kí hiệu học tam diện” của Ch.Pierce, lý thuyết "kí hiệu học văn hóa" của Yuri M Lotman [59], lý thuyết kí
hiệu học của Umberto Eco [56], của Daniel Chandler [55]
Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ, một phương diện ứng dụng của kí hiệu học
trong nghệ thuật, được nói đến trong những năm gần đây cũng được hình thành từ những tiền đề lý luận nói trên Ở Việt Nam, những vấn đề về kí hiệu học, đặc biệt là
lý thuyết tín hiệu thẩm mĩ, đã được áp dụng từ những năm 70 của thế kỷ XX Những công trình được xem là khởi đầu của khuynh hướng nghiên cứu ngôn ngữ
văn chương từ góc nhìn kí hiệu học phải kể đến là Từ thi pháp học đến kí hiệu học của Hoàng Trinh [50], Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ các sự kiện văn
học của Đỗ Hữu Châu [6], Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học của Nguyễn
Lai [22], Ngôn ngữ với văn chương của Bùi Minh Toán [44], Tín hiệu thẩm mĩ
không gian trong ca dao của Trương Thị Nhàn [27], Tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn học của Mai Thị Kiều Phượng [30], Tín hiệu thẩm mĩ - sóng đôi của Trần
Văn Sáng [40] Trong đó, khuynh hướng đáng chú ý nhất vẫn là cách giải mã thơ
và ca dao dưới ánh sáng của lý thuyết tín hiệu thẩm mĩ Tuy nhiên, trong việc vận dụng lý thuyết kí hiệu học vào nghiên cứu trong mỗi lĩnh vực trong đó có văn chương, cho đến nay, vẫn chưa có được cách tiếp cận thống nhất và chưa vạch ra một bộ khung lý thuyết đủ rõ và nhất quán để vận hành nó một cách hiệu quả, đặc biệt là có sự khu biệt khá rõ giữa cách tiếp cận theo quan điểm của kí hiệu cấu trúc
và kí hiệu học hậu cấu trúc trên các phạm vi ứng dụng: kí hiệu học ngôn ngữ, kí hiệu học văn hóa, kí hiệu học văn chương
Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy số những công trình nghiên cứu riêng biệt ứng dụng các lý thuyết kí hiệu học để nghiên cứu ngôn ngữ văn chương trong một tác giả cụ thể không thật sự nhiều mà chủ yếu là những bài nghiên cứu riêng lẻ về lí thuyết và/hoặc các phương diện nào đó của kí hiệu học
Trang 11Đặc biệt, cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu về hình tượng
người phụ nữ trong ngôn ngữ Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm từ góc nhìn
kí hiệu học như đề tài của chúng tôi
3 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn tập trung hướng vào những mục tiêu cụ thể sau:
- Xác lập được vị trí, vai trò của các hình thức ngôn ngữ biểu đạt về người phụ nữ như là một bộ phận làm nên bình diện “cái biểu đạt” của hình tượng người
phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm
- Chỉ ra các ý nghĩa biểu trưng của các tín hiệu thẩm mĩ hằng thể và tín hiệu
thẩm mĩ biến thể chỉ về người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ
ngâm khúc; qua đó góp phần chỉ ra những đặc trưng văn hóa dân tộc và quan điểm
xã hội, cách nhìn của hai tác giả về người phụ nữ
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
- Tìm hiểu cơ sở lý thuyết về tín hiệu thẩm mĩ, kí hiệu học, về hoạt động giao tiếp trong ngôn ngữ văn chương phục vụ cho việc triển khai đề tài luận văn;
- Xác lập các tiêu chí để xác định và phân loại tín hiệu hiệu thẩm mĩ chỉ về
người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm;
- Phân tích, miêu tả đặc điểm hình tượng người phụ nữ được khảo sát trên
bình diện cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ
ngâm; tìm hiểu, so sánh các đặc điểm về sự biểu đạt bằng ngôn ngữ và ý nghĩa biểu
trưng của tín hiệu thẩm mĩ chỉ người phụ nữ trong hai tác phẩm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được luận văn xác định là: hình tượng người phụ nữ trong
Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm từ góc nhìn lí thuyết tín hiệu thẩm mĩ
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Về phương diện khảo sát, luận văn của chúng tôi tiến hành khảo sát và nghiên
cứu đối tượng kể trên ở các phương diện cái biểu đạt: tín hiệu hằng thể, tín hiệu biến
Trang 12thể với đặc điểm cấu tạo, quan hệ kết hợp với các yếu tố ngôn ngữ khác trong ngôn
cảnh, các biểu thức ngôn từ chỉ về người phụ nữ tương ứng trong Cung oán ngâm
khúc và Chinh phụ ngâm
Về tư liệu khảo sát: luận văn khảo sát trên tác phẩm đã công bố rộng rãi trong
nhà trường, in bằng chữ quốc ngữ:
- Những khúc ngâm chọn lọc – Chinh phụ ngâm khúc và Cung oán ngâm khúc
do các tác giả Lương Văn Đang, Nguyễn Thạch Giang và Nguyễn Lộc biên soạn của Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp
5 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
5.1 Thủ pháp thống kê, phân loại
Phương pháp này được chúng tôi vận dụng để thống kê các loại tín hiệu hằng thể và tín hiệu biến thể và phân loại theo những tiêu chí cụ thể
5.2 Phương pháp miêu tả ngôn ngữ
Sau khi thống kê, phân loại cơ sở ngữ liệu là các hình thức biểu đạt về người phụ nữ, tức cái biểu đạt, chúng tôi vận dụng phương pháp này để phân tích, miêu tả đặc điểm cấu tạo, ý nghĩa biểu trưng của chúng và đưa ra những nhận xét, đánh giá với các thủ pháp nghiên cứu sau: thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp, thủ pháp phân tích ngôn cảnh/văn cảnh và thủ pháp trường nghĩa, để miêu tả các tín hiệu thẩm mĩ chỉ về người phụ nữ trong hai tác phẩm khảo sát của luận văn
6 Đóng góp của đề tài
- Về lý luận: Củng cố và hệ thống hoá được các vấn đề cơ bản của lý thuyết tín
hiệu thẩm mĩ, góp phần làm rõ thêm các khái niệm quan yếu đối với việc nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương; xác lập được một số cơ sở và thao tác để xác định các tín hiệu thẩm mĩ hằng thể/biến thể được sử dụng trong hoạt động giao tiếp; gợi mở và bước đầu vận dụng hướng nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ - văn hóa - văn học vào nghiên cứu hình tượng/biểu tượng trong tác phẩm chương
- Về thực tiễn: Cung cấp thêm tư liệu và kết quả phân tích mới cho việc
nghiên cứu và giảng dạy tín hiệu thẩm mĩ về người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Cung
oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm nói riêng và trong giao tiếp văn chương nói
Trang 13chung; cung cấp thêm cơ sở và phương tiện ngôn ngữ cho việc khám phá các giá trị
và nét độc đáo của ngôn ngữ thơ hai tác phẩm nổi tiếng này, từ đó giúp ích thêm cho việc nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm văn chương từ góc nhìn kí hiệu học
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và những vấn đề liên quan
Trong chương này chúng tôi sẽ trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài gồm những khái niệm chung, cơ bản về lý thuyết tín hiệu thẩm mĩ, lý thuyết kí hiệu
học, về hoạt động giao tiếp trong ngôn ngữ văn chương cũng như các khái niệm liên
quan đối với việc nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương; qua đó xác lập được một số cơ sở và thao tác để xác định các tín hiệu thẩm mĩ hằng thể/ biến thể
về người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm
Chương 2: Hình tượng người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm nhìn từ bình diện cái biểu đạt
Trong chương này, dựa trên kết quả khảo sát, chúng tôi tập trung phân tích,
miêu tả đặc điểm hình tượng người phụ nữ được khảo sát về hình thức biểu đạt, đồng thời tìm hiểu, so sánh các đặc điểm về sự biểu đạt bằng ngôn ngữ của tín hiệu
thẩm mĩ chỉ người phụ nữ trong hai tác phẩm
Chương 3: Hình tượng người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm nhìn từ bình diện cái được biểu đạt
Trong chương ba chúng tôi sẽ chỉ ra các ý nghĩa biểu trưng của các tín hiệu
thẩm mĩ hằng thể và tín hiệu thẩm mĩ biến thể chỉ về người phụ nữ trong Cung oán
ngâm khúc và Chinh phụ ngâm; qua đó góp phần chỉ ra những đặc trưng văn hóa
dân tộc và quan điểm xã hội, cách nhìn của hai tác giả về người phụ nữ trong giai đoạn này
Trang 14Trước khi bàn về vấn đề này, chúng ta biết hiện nay có nhiều cách hiểu khác
nhau về kí hiệu, tín hiệu, dấu hiệu với nội hàm và ngoại diên của khái niệm không
đồng nhất Trong luận văn này, chúng tôi không đi vào bình luận cách hiểu khác
nhau này mà thống nhất cách hiểu: kí hiệu được sử dụng đồng nhất với tín hiệu và
dấu hiệu, nhất là khi nói về tín hiệu thẩm mĩ Chẳng hạn, tín hiệu ngôn ngữ, kí hiệu ngôn ngữ, dấu hiệu ngôn ngữ được hiểu đồng nhất; tương tự, kí hiệu thẩm mĩ và tín hiệu thẩm mĩ cũng được sử dụng đồng nhất Theo cách gọi phổ dụng, chúng tôi sử
dụng thuật ngữ tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ, tín hiệu thẩm mĩ làm cơ sở lí luận của đề tài; còn khái niệm kí hiệu học cũng là khái niệm quen dùng nên được chúng tôi sử dụng đồng nhất với tín hiệu học và dấu hiệu học Luận văn chọn cách dùng thuật ngữ kí hiệu học
Cuộc sống của con người được bao quanh bởi các tín hiệu như: tín hiệu đèn giao thông, tín hiệu ngôn ngữ, tín hiệu hàng hải, các nghi lễ, biểu tượng, các hoạt động giao tiếp, đường nét, âm thanh, màu sắc, tiếng kêu của động vật…mỗi một sự vật, hiện tượng đều có thể trở thành một tín hiệu Như vậy, điều gì làm cho một sự vật, hiện tượng trở thành một tín hiệu?
Có nhiều các quan niệm khác nhau về tín hiệu liên quan đến cách hiểu rộng
hẹp khác nhau của các tác giả Trong số những cách quan niệm khác nhau đó, đề tài của chúng tôi đồng ý với quan niệm của P.Guiraund về tín hiệu ngôn ngữ theo
nghĩa rộng đã được tác giả Đỗ Hữu Châu đề cập trong giáo trình “Cơ sở ngữ nghĩa
học từ vựng” như sau: “một tín hiệu…là một kích thích mà tác động của nó đến cơ thể gợi ra hình ảnh ký ức của một kích thích khác” [8, tr.51] Theo quan niệm này,
tất cả những hình thức vật chất nào gợi ra một “hình ảnh ký ức” đều được xem là tín hiệu/kí hiệu
Trang 15Như vậy, dù bằng dấu hiệu hình thức nào, tín hiệu cũng “gợi ra một cái gì
đó” Hay nói cách khác, tín hiệu bao giờ cũng mang nội dung thông báo đến một
đối tượng nào đó Nếu không mang nội dung thông báo, tín hiệu không còn là tín hiệu Nội dung thông báo đó được các nhà nghiên cứu lý thuyết thông tin gọi là
những yếu tố mang “tin”; còn các nhà nghiên cứu nghĩa học gọi là các yếu tố mang
“nghĩa” Trong hệ thống tín hiệu đèn giao thông, màu đỏ gợi cho ta thông tin
“không được phép đi”, màu vàng gợi cho ta một ý niệm về “sự chuẩn bị”, màu xanh đồng nghĩa với thông báo “người tham gia giao thông được phép đi” Đám
mây gợi cho ta một hình ảnh “cơn mưa”, một câu hỏi “bạn có đồng hồ không?” chỉ
muốn biết thông tin về giờ giấc thời gian, chứ không phải tìm hiểu vật sở hữu của người khác
Từ sự phân tích các quan niệm của các tác giả trên, chúng tôi thống nhất quan niệm tín hiệu trong đề tài như sau: tín hiệu là đơn vị có hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt, được chủ thể lý giải, nhận thức và lĩnh hội trong một hệ thống nhất định
1.1.1.2 Các điều kiện của tín hiệu
Theo quan niệm của P Guiraud, một “kích thích” có thể gợi ra “hình ảnh ký
ức” đối với những kích thích khác là quan niệm có tính bao quát, vừa đề cập đến tín
hiệu tự nhiên và nhân tạo, vừa bao hàm cả tín hiệu giao tiếp lẫn tín hiệu phi giao
tiếp Và điều kiện để một “kích thích” trở thành một tín hiệu được tác giả Đỗ Hữu
Châu [3] trình bày đầy đủ Theo đó, một tín hiệu phải thõa mãn các điều kiện cơ bản sau đây: Thứ nhất, nó phải được các giác quan cảm nhận, phải có một hình thức
cảm tính là cái biểu đạt của tín hiệu Thứ hai, phải nói lên được một nội dung “ý
nghĩa” gì đó khác với chính nó Tín hiệu là hợp thể cái biểu đạt và cái được biểu
đạt Thứ ba, cái biểu đạt và cái được biểu đạt phải được chủ thể nhận thức, lĩnh hội Thứ tư, phải nằm trong một hệ thống nhất định
Trong khi đi tìm một cách hiểu về tín hiệu, các nhà nghiên cứu đã phân chia các tín hiệu thành nhiều loại khác nhau dựa trên những tiêu chí phân loại không giống nhau Ở đây chúng tôi trình bày một cách khái quát nhất các cách phân loại
của các tác giả đã được trình bày trong giáo trình “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng”
Trang 16Trong cách phân loại của R.Buhler, tín hiệu có thể được phân thành ba loại
khác nhau như: biểu tượng (Symbole), triệu chứng (Symbone) và tín hiệu (Signal)
Đặt trong mối quan hệ với sự vật, người nói, người nghe, Buhler đã thấy được rằng ứng với ba yếu tố nói trên, tín hiệu thực hiện đồng thời cả ba chức năng: chức năng biểu thị, chức năng biểu cảm và chức năng thỉnh cầu Tín hiệu có thể được xem là
những “biểu tượng” (Symbole), những “hình hiệu” (icones), những “chỉ hiệu”
(indices) trong cách phân loại của Ch.Pierce Tuy nhiên, theo tác giả, tín hiệu chỉ là cái biểu đạt tách riêng; trong khi cơ chế tín hiệu học theo F de Saussure [61], tín hiệu là hợp thể cái biểu đạt và cái được biểu đạt Về sau, Ch.Morris bổ sung vào mô
hình của Ch.Pierce bằng cách thêm vào các “chỉ hiệu” (sign indices) và các “định
hiệu” (sign caractevisant) Ngay trong các “định hiệu” cũng tồn tại các “hình hiệu”
và các “biểu trưng”
Từ cách nhìn tổng thể về những“kích thích” của thế giới cảm tính,
P.Guiraud không đặt các tín hiệu trong sự lưỡng phân giữa tín hiệu tự nhiên và tín hiệu giao tiếp mà đặt trong mối quan hệ giữa thực tế và nhận thức của con
người Theo đó, tín hiệu là những “kích thích liên tưởng” bao gồm nhiều loại
khác nhau: tín hiệu tự nhiên, tín hiệu nhân tạo, các hình hiệu và ước hiệu trong mối quan hệ hoặc võ đoán (đối với các ước hiệu) hoặc có lý do (đối với các ước hiệu có tính hình hiệu…)
Vận dụng nhiều tiêu chí phân loại khác nhau, tác giả Đỗ Hữu Châu [8] đã có được bảng phân loại tín hiệu một cách đầy đủ và bao quát nhiều loại hình khác nhau Bằng cách này, tín hiệu được phân thành tín hiệu giao tiếp và tín hiệu phi giao tiếp, tín hiệu tự nhiên và tín hiệu nhân tạo, tín hiệu thị giác và tín hiệu thính giác, tín hiệu sơ cấp và tín hiệu thứ cấp, tín hiệu miêu tả và tín hiệu phi miêu tả…
Cách phân loại trên có ưu điểm là đã bao quát nhiều tiêu chí phân loại: về nguồn gốc tín hiệu, cấu trúc cái biểu đạt và cái được biểu đạt của tín hiệu, chức năng của tín hiệu cũng như đặc tính vật lý cái biểu đạt của tín hiệu Đây cũng là quan niệm về tín hiệu của chúng tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài, góp phần nhận diện tín hiệu trong tính chỉnh thể, tính hệ thống
Trang 171.1.2 Kí hiệu học hai bình diện của F de Saussure
1.1.2.1 Tín hiệu ngôn ngữ: cái biểu đạt và cái được biểu đạt
Ngôn ngữ là một loại tín hiệu đặc biệt Tín hiệu ngôn ngữ được xác định là loại tín hiệu thính giác, tín hiệu giao tiếp, tín hiệu nhân tạo, ước hiệu (võ đoán)… Như vậy, dưới góc nhìn kí hiệu học, ở bất kỳ góc độ nào, một tín hiệu ngôn ngữ cũng phải bao hàm một hình thức ngữ âm (cái biểu đạt) tương ứng với một nội dung ngữ nghĩa (cái được biểu đạt) và ở bất kỳ cấp độ nào, giá trị tín hiệu ngôn ngữ cũng phải do những mối quan hệ thuộc hệ thống ngôn ngữ quy định
Về vấn đề này được nhà ngôn ngữ học F.de Saussure đề cập trong Giáo trình
ngôn ngữ học đại cương, chia ra hai loại quan hệ hệ thống có tính phổ biến trong
ngôn ngữ Đó là: quan hệ đồng nhất-đối lập và quan hệ khác biệt; quan hệ liên tưởng và quan hệ ngữ đoạn
Trình bày về cặp quan hệ thứ nhất, đối với F.de Saussure thì “trong ngôn
ngữ chỉ có những sự phân biệt mà thôi” [61] Một tín hiệu ngôn ngữ có nghĩa
không phải bản thân tự nó có nghĩa Nó có nghĩa là vì nó ở thế đối lập với các yếu
tố khác cùng hệ thống, một yếu tố ngôn ngữ nào đó mới có nghĩa
Trình bày về cặp quan hệ thứ hai, F.de Saussure lưu ý đến tương quan ngữ đoạn nối kết các từ theo một trật từ tuyến tính, nó xác định nghĩa cho các từ, và tương quan liên tưởng giữa một từ với các từ có một hay một số nét chung nào đó
do ký ức ta gợi nên Mỗi nhóm như vậy “tạo nên chuỗi tiềm tại trong trí nhớ, kho
ký ức” theo nhận xét của R.Barthes
Ngôn ngữ học hiện đại bổ sung các loại quan hệ mới, sau hai cặp quan hệ mới Saussure đã đề ra Đó là: quan hệ tôn ti giữa các cấp độ ngôn ngữ; quan hệ hiện thực hóa bình diện trừu tượng và cụ thể, giữa điển dạng và hiện dạng của tín hiệu
Khi nói ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu, và không phải mọi tín hiệu đều là ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ thường chú ý đến vấn đề chức năng và tính đa chức năng của tín hiệu ngôn ngữ Ngôn ngữ là phương tiện được dùng không chỉ để giao
tiếp mà còn phục vụ cho tư duy: “Một đơn vị ngôn ngữ phải vừa phục cho giao tiếp
vừa phục vụ cho tư duy Đây là đặc trưng cơ bản phân biệt tín hiệu ngôn ngữ và
Trang 18các tín hiệu khác của hệ thống giao tiếp thuần túy với các tín hiệu tư duy thuần túy”
theo như nhận định của Đỗ Hữu Châu [8] Mặt khác, ngôn ngữ trong khi làm nhiệm
vụ quan trọng của mình, ngoài chức năng làm phương tiện để giao tiếp và công cụ
để tư duy còn thực hiện chức năng làm công cụ để tổ chức xã hội, duy trì những quan hệ giữa người với người, duy trì sự sống của con người cũng như góp phần lưu trữ kinh nghiệm của dân tộc tích lũy hàng ngàn năm lịch sử
Về tính đa chức năng của ngôn ngữ, ý kiến của nhà ngôn ngữ học R.Jakobson [60] có đóng góp quan trọng trong việc nhận diện các đặc tính của tín hiệu ngôn ngữ R.Jakobson dựa vào những tiến bộ của lý thuyết thông tin để phân tích một hiện tượng giao tiếp bằng cách phân nhỏ thành sáu yếu tố: người gửi, bối cảnh, thông điệp, kênh, mã, người nhận Trong quá trình giao tiếp, ngôn ngữ thực hiện sáu chức năng cơ bản ứng với sáu yếu tố nêu trên: chức năng biểu cảm, chức năng quy chiếu, chức năng thẩm mỹ (thi pháp), chức năng tiếp xúc, chức năng thỉnh cầu, chức năng siêu ngôn ngữ Điểm R.Jakobson lưu ý là chức năng thẩm mỹ trở nên quan trọng khi ngôn ngữ được sử dụng một cách nghệ thuật nhằm sáng tạo ra những công trình văn chương
Chúng tôi nhận thấy rằng, chức năng thẩm mĩ thường được coi là chức năng riêng biệt của thơ ca, nhưng thực ra trong các hoạt động ngôn ngữ khác, sự phân tích ngôn ngữ học về văn chương cũng không nên bị hạn chế trong chức năng thẩm
mỹ Nếu nội dung phân tích ngôn ngữ về chức năng thẩm mĩ phải vượt ra ngoài ranh giới văn chương, thì mặt khác, sự phân tích ngôn ngữ học về văn chương cũng không nên bị giới hạn trong chức năng thẩm mĩ và phải bao quát mọi quan hệ biện chứng giữa chức năng thẩm mĩ với các chức năng khác
Như vậy, tính đa chức năng đã làm cho ngôn ngữ và các yếu tố của nó phân biệt rõ ràng với các hệ thống giao tiếp khác của con người Xuất phát từ cơ sở của giao tiếp, tác giả Đỗ Hữu Châu [8] lưu ý đến tính đa chức năng của ngôn ngữ thông qua việc thực hóa các từ trong hoạt động nói năng Theo đó, ngôn ngữ có chức năng miêu tả, chức năng dụng học, chức năng phát ngôn và chức năng cú học
Trang 191.1.2.2 Các đặc tính của tín hiệu ngôn ngữ
Nói đến tín hiệu ngôn ngữ là nói đến tính võ đoán, tính hình tuyến của cái
biểu đạt và tính hệ thống cấu trúc Vì thế, có thể xác định ý nghĩa “tín hiệu” của
ngôn ngữ trên tất cả các đơn vị mang nghĩa ở nhiều cấp độ khác nhau: từ, ngữ, câu, đoạn, văn bản Một từ, một phát ngôn không những thực hiện chức năng miêu tả, chức năng định danh mà còn thực hiện chức năng bộc lộ, thỉnh cầu, chức năng siêu
ngôn ngữ, chức năng thẩm mĩ… Một phát ngôn như “xin lỗi!” hoàn toàn có chức năng thỉnh cầu khi nó chỉ có nghĩa là “Xin tránh đường cho tôi!” Một người có thể nói “Trời rét nhỉ!” mà không nhằm miêu tả về thời tiết mà chỉ nhằm mục đích gợi
chuyện để làm quen với người khác
Như vậy, các đặc trưng kí hiệu học của ngôn ngữ, những nguyên tắc của đồng nhất và đối lập, của kết hợp và liên tưởng, của trừu tượng và cụ thể… trong hệ thống tín hiệu ngôn ngữ cũng chính là những vấn đề cốt yếu giúp cho việc lý giải về tín hiệu ngôn ngữ trong quá trình hoạt động, thực hiện các chức năng của ngôn ngữ trong giao tiếp nói chung, và trong giao tiếp nghệ thuật nói riêng
1.1.3 Kí hiệu học ba bình diện của C.Pierce
Cùng thời với F de Saussure, Ch S Peirce xuất phát từ triết học ngữ nghĩa
đã trở thành người nghiên cứu kí hiệu học vào loại sớm nhất Ông cho rằng tư duy chính là kí hiệu và nó tồn tại đương nhiên trong các kí hiệu Tất cả mọi vật đều
được tri giác là kí hiệu nếu nó được mã hóa/ kí hiệu hóa (Semiosis), theo đó kí hiệu
là một tam phân với ba diện:
- Cái biểu đạt (Representament), là phương tiện chuyển tải và tri giác được
- Đối tượng (Objet) là cái được biểu đạt/ được đại diện là vật thể tương liên
với cái biểu đạt
- Cái thuyết giải (Interpretant) là cái trung gian giữa hai cái trên (cái biểu đạt
và đối tượng), là cái lí giải quan hệ giữa hai cái đó, nghĩa là nhờ nó, trong tư duy
người tiếp nhận sẽ có một tín hiệu tương thích được tạo ra
Theo phân tích tam diện, Ch.S.Peirce có nhận thức khác với F de Sausure, theo đó kí hiệu là “một hợp thể ba mặt, không thể xem xét tách rời từng cặp nhị
Trang 20diện một” [dẫn theo 15, tr.84-85] và bản thân cái biểu đạt (Representament) có tính
vật lí, và là một kí hiệu một khi được mã hóa Nhà kí hiệu học cũng cho rằng mã hóa là quá trình sử dụng tư duy để làm trung gian cho mối quan hệ giữa cái biểu đạt (kí hiệu) và đối tượng Trọng tâm lí luận của Ch S Peirce đặt vào cương vị giải
quyết kí hiệu trong công đoạn kí hiệu hóa (Semiosis)
Ngôn ngữ học hậu cấu trúc ra đời với các khuynh hướng nghiên cứu như lí thuyết phân tích diễn ngôn, ngữ dụng học, ngữ pháp chức năng, lí thuyết ba bình diện trong phân tích câu… đều được hình thành trên cơ sở và gợi dẫn từ lí thuyết kí hiệu học ba bình diện của Ch.S.Peirce và C.Morris; đặc biệt là vai trò của bình diện thứ ba: bình diện dụng học, bình diện người lí giải
1.1.4 Tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn chương
1.1.4.1 Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ
Tín hiệu thẩm mĩ (hay kí hiệu thẩm mĩ) là khái niệm được đưa vào mĩ học do
có liên quan đến việc lý giải các quá trình nghệ thuật từ lập trường kí hiệu học Tín hiệu thẩm mỹ (THTM) ra đời gắn liền với chủ nghĩa cấu trúc trong nghệ thuật và mĩ
học trong những năm 60 của thế kỷ XX Những nghiên cứu về “nguyên lý tín hiệu
học” của F.de Saussure, “chức năng thi pháp” của R Jakobson, “cấu trúc kí hiệu học” của R Barthes…, đặc biệt là “lý thuyết kí hiệu học” của Ch.Morris và
Ch.Pierce, đều góp phần miêu tả THTM trong nhiều lĩnh vực và trên nhiều phương diện khác nhau [dẫn theo 41, tr.12]
Theo từ điển “150 thuật ngữ văn học” [3], tín hiệu thẩm mĩ được miêu tả gắn
liến với nhiều quan niệm khác nhau của nhiều trường phái nghiên cứu trên thế giới” Trong quan niệm của trường phái kí hiệu học Mỹ, Ch.Morris đề xuất lý
thuyết về THTM trên cơ sở sự phân loại các tín hiệu của nhà logic Ch.Pierce Theo
đó, Ch.Morris xác định tín hiệu trong nghệ thuật là “tín hiệu miêu tả hoặc tạo hình;
nó giống với khách thể mà nó miêu tả về vẻ ngoài hoặc cấu trúc” [dẫn theo 41,
tr.13] Những người chủ trương quan niệm này xem nghệ thuật như một “ngôn ngữ
đặc biệt”, khác với mọi phương tiện truyền thông khác Tác phẩm nghệ thuật đưa ra
những THTM phức tạp, những tín hiệu này sẽ sẽ tham dự vào giao tiếp Tính cấu
Trang 21trúc, tính phổ quát và sự tương ứng với các quan hệ giá trị được Ch.Morris nêu như những đặc tính cơ bản của THTM
Giới nghiên cứu Xô Viết những năm 60 – 70 của thế kỉ XX, khảo sát THTM
trong tương quan với hình tượng nghệ thuật Theo họ, THTM được xem như “một
cấu trúc của hình tượng nghệ thuật Ngoài chức năng thay thế thực tại và chức năng làm phương tiện thông tin, các tín hiệu trong nghệ thuật còn có đặc tính bất biến, lặp lại, khác với đặc tính độc đáo duy nhất của hình tượng nghệ thuật” [dẫn
theo 41, tr 13]
Ở Việt Nam, khái niệm THTM được biết đến qua các công trình, bài viết của một số tác giả như Nguyễn Lai, Hoàng Trinh, Đỗ Hữu Châu, Trương Thị Nhàn, Bùi Minh Toán, Trần Văn Sáng,
Theo đó, THTM có thể là những ẩn dụ, những hoán dụ cố định, các phúng
dụ, tượng trưng, những hình tượng đã được “mài mòn”,“cố định hóa” về mặt ý
nghĩa trong quan niệm của Kharapchenko [57]; một bức họa, một vở múa, một hình ảnh ẩn dụ, một hình thể từ ngữ trong văn học mang đặc tính biểu trưng (Symbole)
trong phân tích của Hoàng Trinh [dẫn theo 41, tr.13]; “những dấu hiệu mang tính
tượng trưng, ước lệ, ẩn dụ, hoán dụ” mà từ ngữ, THTM chỉ là “phương tiện của quá trình gợi dẫn” theo nhận xét của Nguyễn Lai [24]; những“thần cú”, những sự
kết hợp ngôn ngữ một cách “lệch chuẩn”, những tín hiệu mang phẩm chất thẩm mĩ, những “chuỗi kết hợp bất thường về nghĩa” vì mục đích thẩm mĩ…trong sự phân tích của tác giả Phan Ngọc, Hữu Đạt, Đinh Trọng Lạc; những “motip”, những
“công thức truyền thống” những kết cấu nghệ thuật… trong quan niệm của Nguyễn
Xuân Kính, Bùi Mạnh Nhị; những “tín hiệu có tính biểu trưng cao” trong thơ và ca
dao trong sự nghiên cứu của tác giả Trần Văn Sáng… được đề cập trong các công trình nghiên cứu công bố gần đây [dẫn theo 41, tr.13]
Từ những “chất liệu” cái biểu đạt, chúng ta có thể xét đến nguồn gốc các
THTM ở hai khía cạnh khác nhau
Thứ nhất, tín hiệu thẩm mĩ là các yếu tố của hiện thực (cảm giác, cảm quan),
của nội tâm, sự kiện có nguồn gốc ngoài ngôn ngữ: cây đa, bến nước, sân đình, con
Trang 22thuyền, dòng sông,… Đó là các THTM dễ nhận thấy, THTM “phải tương ứng với một vật quy chiếu nào đấy trong thế giới hiện thực là cái được tác giả lựa chọn từ thế giới hiện thực và xây dựng nên, sáng tạo ra” theo sự phân tích của tác giả Đỗ
Hữu Châu [dẫn theo 41, tr.14]
Thứ hai, tín hiệu thẩm mĩ bắt nguồn từ ngay trong các sự kiện của ngôn ngữ
tự nhiên Trong thực tế, ngôn ngữ tự nhiên tự nó cũng là một hiện tượng trong hiện thực khách quan Ngôn ngữ tự nhiên có thể được dùng với tư cách là một tín hiệu để
nói lên một cái gì đó ngoài nó ra Ngôn ngữ sinh ra “vốn để nói về đối tượng giờ
đây lại là công cụ nhận thức đối tượng” [14, tr 73] Đó chính là quá trình biểu
trưng hóa các tín hiệu ngôn ngữ Khi đi vào tác phẩm văn chương, các từ ngữ, các kiểu câu tự nó mang những tín hiệu nhất định; các hành vi ngôn ngữ (hỏi, hứa hẹn, cam đoan, cảm thán…) được dùng như những THTM P.Guiraud có một nhận xét
mà chúng ta đáng phải lưu ý “ngôn ngữ trong văn học là ngôn ngữ riêng, ngôn ngữ
tự nhiên đã sáng tạo lại, đã được một ngôn ngữ khác chồng lên Ngôn ngữ tự nhiên
là phương tiện để chuyên chở các tín hiệu thẩm mĩ” [dẫn theo 41, tr.14]
Hệ thống THTM tồn tại và hoạt động theo những quy luật của tín hiệu và quy luật của tín hiệu ngôn ngữ vì mục đích biểu đạt giá trị thẩm mĩ Do vậy, THTM mang trong mình những đặc tính nhằm mục đích biểu đạt hình tượng và ý nghĩa thẩm mĩ Về vấn đề này, tác giả Trương Thị Nhàn [27] đã có dịp trình bày và phân
tích khá chi tiết khi nghiên cứu các “tín hiệu thẩm mĩ – không gian” trong ca dao
Theo đó, THTM có những đặc tính sau: Thứ nhất, tính đẳng cấu xét trong tương quan hệ thống chất liệu khác nhau hoặc trong tương quan giữa các hệ thống của
THTM Thứ hai, tính tác động của THTM trong bản chất của một “kích thích vật
chất” và trong sự thực hiện chức năng giao tiếp nghệ thuật Thứ ba, tính biểu hiện
của THTM qua sự thực hiện chức năng phản ánh hiện thực – chức năng chung của nghệ thuật Thứ tư, THTM không dừng lại ở nội dung mang tính tái hiện hiện thực
mà còn mang thông tin thẩm mĩ, đó là tính biểu cảm của THTM Thứ năm, THTM
có tính biểu trưng tương quan trong tương quan cái biểu đạt và cái được biểu đạt,
một mối quan hệ “không hoàn toàn võ đoán” Thứ sáu, tính trừu tượng và tính cụ
Trang 23thể qua mỗi lần xuất hiện các biến thể của THTM Thứ bảy, tính truyền thống và cách tân qua sự kế thừa và sáng tạo, đổi mới trong việc sử dụng THTM của mỗi tác giả, tác phẩm Thứ tám, tính hệ thống, THTM phải đặt trong một hệ thống thẩm mĩ
cố định Giá trị các THTM là kết quả tổng hòa của các mối quan hệ trong đơn vị cấu trúc – chức năng cụ thể Và cuối cùng là tính cấp độ của THTM, THTM vừa là cấp
độ cơ sở, vừa có cấp độ xây dựng, THTM là một đơn vị có thể dùng xây dựng nên những THTM mới
Với cách nhìn như trên về THTM, các tác giả đã bao quát được các vấn đề nguồn gốc THTM, mặt thể chất cuả THTM, mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt của THTM cũng như vấn đề chức năng và đặc tính tổ chức của THTM Theo đó, THTM được xác định là tín hiệu nhân tạo; tín hiệu thính giác; tín hiệu sơ cấp, chưa nguyên mã; tín hiệu giao tiếp có chức năng thẩm mĩ, chức năng bộc lộ, biểu cảm, chức năng hệ thống; và là tín hiệu – biểu trưng nghệ thuật
Từ sự phân tích về các đặc tính của THTM cũng như mối quan hệ giữa tín hiệu với THTM, có thể hình dung THTM theo sơ đồ hai mặt của tín hiệu như sau:
CBĐ: tín hiệu ngôn ngữ THTM =
CĐBĐ: ý nghĩa thẩm mĩ mang hàm ý biểu trưng
1.1.4.2 Phân loại tín hiệu thẩm mĩ
Về phân loại tín hiệu thẩm mĩ, hiện nay có nhiều cách phân chia khác nhau của Đồ Hữu Châu, Trương Thị Nhàn, Bùi Minh Toán, Trần Văn Sáng, trong luận văn này, chúng tôi trình bày cách phân loại của Mai Thị Kiều Phượng trong cuốn
“Tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn học” như sau:
- Dựa vào tiêu chí tính quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ, ta có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra hai
loại: tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ đơn; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ phức
- Dựa vào tiêu chí tính hằng thể và biến thể trong tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ,
ta có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra hai loại: tín hiệu ngôn ngữ thẩm
mĩ hằng thể; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ biến thể
- Dựa vào tiêu chí tính tạo nghĩa trong tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ, ta có thể
Trang 24chia tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra hai loại: tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ nghĩa
tự thân; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ nghĩa kết hợp
- Dựa vào tiêu chí tính chất trong tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ, ta có thể chia
tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra hai loại: tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ trừu tượng
– khái quát; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ cụ thể
- Dựa vào tiêu chí tính chất có mặt và vắng mặt về ý nghĩa trong tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ, ta có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra hai loại: tín
hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ điển dạng; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ hiện dạng
- Dựa vào tiêu chí chức năng giao tiếp trong tín hiệu ngôn ngữ thẩm, ta có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra hai loại: tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ
miêu tả; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ phi miêu tả
- Dựa vào tiêu chí tính chất từ loại được cấu tạo trong tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ ở cấp độ từ, ta có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra hai loại: tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thực từ; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ hư từ
- Dựa vào tiêu chí tính chất từ loại các từ xét về mặt cấu tạo của tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ ở cấp độ từ, ta có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra hai loại: tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ có cấu tạo là từ đơn; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ có cấu tạo là từ phức (từ láy, từ ghép)
- Dựa vào tiêu chí tính chất quan hệ của tín hiệu ở tín hiệu ngôn ngữ thẩm
mĩ, ta có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra ba loại: tín hiệu ngôn ngữ
thẩm mĩ thuộc bình diện kết học; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thuộc bình diện nghĩa
học; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thuộc bình diện dụng học
- Dựa vào tiêu chí tính cấp độ các đơn vị ngôn ngữ trong tín hiệu ngôn ngữ
thẩm mĩ, ta có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra ba loại: tín hiệu ngôn
ngữ thẩm mĩ ở cấp độ từ vựng – ngữ nghĩa; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ cấp độ ngữ
pháp; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ ở cấp độ văn bản
- Dựa vào tiêu chí chuyển mã nhiều hay chuyển mã ít, chúng ta có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra hai loại: tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ chuyển mã
nhiều tầng nghĩa, tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ chuyển mã ít tầng nghĩa
Trang 25- Dựa vào tiêu chí số lượng ý nghĩa hàm ẩn, chúng ta có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra hai loại: tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ nhiều tầng ý nghĩa hàm ẩn; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ ít tầng ý nghĩa hàm ẩn
1.1.4.3 Biểu trưng hóa, cơ chế hình thành tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn chương
Khi đề cập đến các đặc tính của tín hiệu thẩm mĩ, các nhà nghiên cứu thường nói đến những đặc tính sau: tính đẳng cấu, tính tác động, tính biểu hiện, tính biểu cảm, tính biểu trưng, tính trừu tượng và cụ thể, tính truyền thống và cách tân, tính
hệ thống Trong công trình này, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu tính biểu trưng - một đặc tính quan trọng bậc nhất việc tiếp cận các giá trị hàm ẩn của các hình tượng trong ngôn ngữ văn học Về đặc tính biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ, chúng tôi dựa
vào kết quả nghiên cứu trong công trình "Biểu trưng hóa, cơ chế hình thành tín hiệu
thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn chương" của tác giả Trần Văn Sáng [41] như sau:
a Về khái niệm tín hiệu biểu trưng
Về khái niệm biểu trưng và biểu trưng trong thơ ca đã được tác giả Trần Văn Sáng trình bày một cách hệ thống và chi tiết, với sự phân tích những ví dụ cụ thể
trong từng lĩnh vực qua các bài viết: “Một số vấn đề về biểu trưng và ý nghĩa biểu
trưng của tín hiệu thẩm mĩ trong văn học”, “Hoa mai, ẩn ngữ và biểu trưng”,
“Biểu trưng của mùa xuân trong thơ ca”, “Hoa đào - từ biểu tượng văn hóa đến biểu trưng văn học”, Đề tài chúng tôi sử dụng quan niệm của tác giả Trần Văn
Sáng làm cơ sở lí luận cho việc phân tích giá trị biểu trưng của hình tượng người
phụ nữ trong Chinh phụ ngâm khúc và Cung oán ngâm khúc ở các chương sau
Trước khi bàn về cơ chế hình thành các tín hiệu thẩm mỹ trong ngôn ngữ văn
chương, chúng ta cần phân biệt hai khái niệm về biểu trưng và biểu trưng hóa
Biểu trưng, hay còn gọi là biểu tượng (symbol), là một hiện tượng khá lý thú
và phổ biến ở các dân tộc Biểu trưng là lấy một sự vật, hiện tượng nào đó để biểu
hiện một cách tượng trưng, ước lệ một cái gì đó có tính chất khái quát Cái cân biểu trưng cho công lý Hoa hồng biểu trưng cho tình yêu và sắc đẹp Chim bồ câu biểu
trưng cho hòa bình… Khi một sự vật, hiện tượng mang giá trị biểu trưng, nó sẽ gợi
Trang 26lên cho ý thức người bản ngữ sự liên tưởng khá bền vững Người Mỹ, người Đức,
người Pháp liên tưởng màu trắng với biểu trưng về tinh thần, linh hồn; người
Ucraina lại liên hội với lòng thủy chung và sự trung thực, trong khi người Ba Lan
thì gắn màu trắng với sự bình tâm, thanh thản Như vậy, biểu trưng phản ánh quan
niệm tâm lý của mỗi dân tộc và liên quan đến các hiện tượng trong đời sống xã hội, lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán của cộng đồng Điều này giải thích tại sao ở
một số nước văn hóa như Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, con rồng là biểu trưng
cho các bậc vua chúa, được tôn thờ ở những nơi tôn nghiêm như đền, đài, lăng tẩm
Người Việt còn xem rồng là biểu tượng của dòng giống cao quí: con rồng cháu
tiên; trong khi văn hóa châu Âu quan niệm rồng đơn thuần chỉ là một loài bò sát,
một con vật tưởng tượng có thể phun ra lửa, thậm chí là con vật ác trong truyện cổ tích…
Biểu trưng, như đã nói, là một hiện tượng tâm lý xã hội, do đó cách thức hình thành, lối xếp đặt, cách giải thích biểu trưng được nhiều ngành khóa học quan tâm
Quá trình biểu trưng hóa các sự vật làm mất đi giá trị biểu vật và biểu niệm, thay vào đó nghĩa biểu cảm, nghĩa bóng được phát huy tác dụng
Có thể thống nhất quan niệm: nghĩa biểu trưng thuộc nghĩa văn bản, được hình thành trong văn bản, do những mối quan hệ nhất định Đó là những nghĩa hàm
ẩn, mang tính liên hội
Vậy thì, điều gì làm cho một tín hiệu ngôn ngữ thông thường (thuyền, bến là
sự vật) trở thành một tín hiệu thẩm mĩ có giá trị biểu trưng (thuyền, bến là người con trai và người con gái trong quan hệ lứa đôi)? Đó chính là quá trình biểu trưng hóa các tín hiệu ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp văn chương Nói biểu trưng hóa là muốn thiên về biểu thị cái quá trình biến những từ ngữ thông thường thành
những ẩn dụ, những biểu trưng, biểu tượng, nghĩa là những từ ngữ có nghĩa bóng,
nghĩa biểu trưng Cũng như vậy, khi dùng cơ chế biểu trưng hóa là muốn nhấn
mạnh rằng biểu trưng hóa diễn ra theo một cơ trình với những quy tắc riêng của nó
Nếu như biểu trưng hóa là một cơ trình, tức một quá trình diễn ra có tính quy tắc, giống như sự hành chức của một bộ máy, thì biểu trưng là hệ quả, là sản phẩm của
Trang 27cơ trình đó Vậy hệ quy tắc biểu trưng hóa với tư cách là một trong những cơ chế
cấu tạo nên các THTM là gì? Có làm rõ điều này thì mới có thể xác định được rõ bản chất của các biểu trưng (biểu tượng) với tư cách là những tín hiệu thẩm mĩ
b Về cơ chế hình thành tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn chương
Từ sự nhân đôi mô hình lưỡng phân CBĐ và CĐBĐ trong tín hiệu ngôn ngữ của F.de Saussure, cả L Hjelmslev và R.Barthes đều xem THTM là một loại “siêu tín hiệu”, tín hiệu chồng lên tín hiệu so với tín hiệu ngôn ngữ thông thường Cái gọi
là ngôn ngữ đặc biệt, siêu tín hiệu của THTM trong văn chương đều được nhìn từ bình diện kí hiệu học Ở đây, chúng tôi chỉ bàn luận giản lược về cơ chế hình thành THTM trong văn chương từ lăng kính kí hiệu học qua các luận điểm sau:
Thứ nhất, trong ngôn ngữ văn chương, hệ thốngTHTM tồn tại và hoạt động
theo những quy luật của tín hiệu và tín hiệu ngôn ngữ Do vậy, THTM được xác
định là tín hiệu nhân tạo, tín hiệu thính giác, tín hiệu giao tiếp có chức năng thẩm
mĩ, chức năng biểu cảm, chức năng hệ thống và là tín hiệu – biểu trưng nghệ thuật
Các tín hiệu ngôn ngữ con dao vàng, lá trầu vàng xuất hiện trong câu ca dao: Con
dao vàng rọc lá trầu vàng – Mắt anh anh liếc, mắt nàng nàng đưa, trở thành những
tín hiệu thẩm mĩ con dao vàng, lá trầu vàng nhằm biểu đạt các giá trị thẩm mĩ: sự
hài hòa, cân xứng đến mức tuyệt mĩ trong tình yêu, cũng đã trải qua quá trình tạo nghĩa của tín hiệu và tín hiệu ngôn ngữ
Thứ hai, khác với THTM trong các ngành nghệ thuật điêu khắc, hội họa, âm nhạc…, THTM trong văn chương được biểu đạt bằng tín hiệu ngôn ngữ Có thể nói, ngôn ngữ được sử dụng trong tác phẩm văn chương vừa là chính nó, vừa là cái biểu
đạt cho THTM Để trở thành các THTM thuyền, bến, trầu, cau…dù có thể bắt
nguồn từ chính các sự vật này trong cuộc sống thì khi đi vào văn chương, chúng
phải được biểu đạt bằng các tín hiệu ngôn ngữ, đó chính là các danh từ: thuyền, bến,
trầu, cau…trong tiếng Việt, nghĩa là chúng được kí hiệu hóa thêm một lần nữa để
trở thành THTM
Thứ ba, tham gia vào vai trò CĐBĐ, THTM phải trải qua con đường biểu
trưng hóa các tín hiệu ngôn ngữ, nghĩa là tham gia vào quá trình tạo nghĩa hàm ẩn
Trang 28Đây là quy luật mà L Hjelmslev đã chỉ ra khi nói đến đặc điểm của ngôn ngữ liên hội: ngôn ngữ với CBĐ và CĐBĐ của mình đến lượt nó lại trở thành CBĐ cho một CĐBĐ khác R Barthes cũng có quan điểm tương đồng khi ông cho rằng văn chương
thuộc trường hợp này vì bản thân ngôn ngữ đã là một hệ thống kí hiệu, kí hiệu học
biểu thị, đảm nhận chức năng CBĐ của THTM; còn hệ thống kí hiệu thứ hai là siêu
ngôn ngữ, tức kí hiệu học hàm thị, đảm nhận chức năng CĐBĐ cho THTM Nhờ biểu
trưng hóa mà trăng không còn mang nghĩa biểu vật, biểu niệm nữa (là một thiên thể)
mà đã chuyển sang biểu thị ý nghĩa hàm ẩn, ý nghĩa thẩm mĩ để chỉ tâm lí tình cảm
của con người: Trăng nằm sóng soải trên cành liễu (Hàn Mặc Tử)
Thứ tư, trong mối quan hệ giữa THTM với tín hiệu ngôn ngữ - CBĐ cũng
chính là các biến thể và các hằng thể, các hiện dạng và điển dạng của chính THTM
đó trong tác phẩm văn chương Không chỉ có trăng, mây, trầu, cau, mâm, sập,…mà
có cả trăng vàng, trăng thổn thức, trăng hờ hững, trầu vàng, cau xanh, sập vàng,…
Nghiên cứu bình diện biểu đạt của THTM cũng chính là nghiên cứu hoạt động của
các biến thể và các hằng thể trên các đặc điểm ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ
dụng, theo quy luật của tín hiệu ngôn ngữ thông thường
Từ lý thuyết kí hiệu học, có thể sơ đồ hóa về cơ chế hình thành THTM trong ngôn ngữ văn chương như sau:
Chẳng hạn, ta có 2 hình thái: TRĂNG (1) (kí hiệu ngôn ngữ) được xem là
CBĐ của THTM và TRĂNG (2) (tín hiệu thẩm mĩ) là khác nhau Trăng (1) biểu thị một hành tinh nhìn thấy về ban đêm, gần trái đất nhất trong hệ mặt trời; Trăng (2) nội dung của nó chứa đựng những ý nghĩa thẩm mĩ nhất định: “Trăng” trong sự miêu tả - cụ thể hóa có sự khác nhau giữa “trăng tròn”, “trăng lạnh”, “trăng nằm
sóng soãi trên cành liễu”,…đều được liên tưởng tới những ý nghĩa thẩm mĩ khác
nhau, là tình cảm, là nhân tình, và không còn được hiểu là hành tinh nhìn thấy về
ban đêm, gần trái đất nhất trong hệ mặt trời
=
Trang 29Mối quan hệ trên cho thấy cùng một dấu hiệu hình thức/thể chất cho ta hai giá trị khác nhau: giá trị tín hiệu ngôn ngữ (thuộc hệ thống ngôn ngữ tự nhiên) và giá trị tín hiệu thẩm mĩ (thuộc hệ thống ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mĩ)
Như vậy, trong bốn đặc trưng kí hiệu học của tín hiệu thẩm mĩ nêu trên, biểu
trưng hóa được chúng tôi xem là đặc tính quan trọng nhất trong bốn cơ chế hình
thành THTM, đặc biệt là quá trình chuyển mã ngôn ngữ (thuộc CBĐ) sang mã hình
tượng, mã thẩm mĩ (thuộc CĐBĐ) trong ngôn ngữ văn chương Rõ ràng, ngoài
những đặc tính khác của THTM (như tính đẳng cấu, tính truyền thống, tính cụ thể hóa…), việc một tín hiệu ngôn ngữ thông thường trải qua một quá trình tạo nghĩa liên tục để trở thành một THTM, chắc chắn phải trải qua một cơ chế chuyển nghĩa theo hướng biểu trưng hóa các tín hiệu ngôn ngữ
1.2 LÝ THUYẾT HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ cùng toàn bộ các nhân tố tham gia vào hoạt động đó chính là không gian sống, là cái nôi mà ở đó ngôn ngữ THTM tồn tại Trong luận án này, việc tìm hiểu những nhân tố cụ thể của hoạt động giao tiếp (người tạo lập, người tiếp nhận, ngữ cảnh cụ thể, diễn ngôn…) cũng chính là tìm hiểu những yếu tố ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong việc sử dụng và tiếp nhận ngôn ngữ thẩm mĩ của các tác phẩm
1.2.1 Các nhân tố của hoạt động giao tiếp
Có nhiều hệ thống phân loại và miêu tả các nhân tố giao tiếp theo quan điểm ngữ dụng học Một cách khái quát nhất, theo tác giả Đỗ Hữu Châu tổng kết [9], có thể kể ra ba nhân tố giao tiếp cơ bản là: Ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn Do tính quan yếu ở các mức độ khác nhau đối với đề tài, dưới đây, chúng tôi chỉ trình bày chi tiết tiếp nhận của mình về nhân tố ngữ cảnh; hai nhân tố còn lại, luận án chỉ trình bày ở mức khái quát nhất
1.2.1.1 Ngữ cảnh
Thông thường, ngữ cảnh được hiểu là “bối cảnh ngoài ngôn ngữ của một phát ngôn hay là những thông tin ngoài ngôn ngữ góp phần tạo nên nghĩa (của phát ngôn)” [9; tr.97] Các hợp phần của ngữ cảnh gồm: Đối ngôn và hiện thực ngoài diễn ngôn
Trang 30Đối ngôn là người tham gia giao tiếp (nên còn được gọi là nhân vật giao
tiếp) Một cuộc giao tiếp cần có ít nhất hai đối ngôn Giữa các đối ngôn có hai kiểu quan hệ tác động qua lại, chi phối lẫn nhau: quan hệ tương tác và quan hệ liên cá nhân Trong đó, quan hệ tương tác là quan hệ luân phiên giữa vai người nói và vai người nghe trong một cuộc giao tiếp
Hiện thực ngoài diễn ngôn được hiểu là “tất cả những cái tạo thành môi
trường cho một cuôc giao tiếp” loại trừ diễn ngôn và đối ngôn của nó [9, tr.106] và được phân thành một số hợp phần chính như sau:
Hoàn cảnh giao tiếp: Là một hợp phần rất rộng, “bao gồm toàn thể các nhân
tố chính trị, địa lí, kinh tế, văn hóa, lịch sử với các tư tưởng, các chuẩn mực về đạo đức, ứng xử, với các thiết chế các công trình, các tổ chức…tương ứng, tạo nên cái gọi là môi trường xã hội – văn hóa – địa lí cho các cuộc giao tiếp” [9, tr.111] Bối cảnh rộng lớn ấy giống như những chỉ dẫn quan trọng, như hệ tọa độ để người xem
có thể định vị, đánh giá đúng những yếu tố còn lại của giao tiếp đang diễn ra trên sân khấu ngôn ngữ
Thoại trường hay hiện trường giao tiếp: Là không gian, thời gian cụ thể, xác
định mà ở đó diễn ra cuộc giao tiếp “Thời gian, không gian thoại trường không tách nhau Nó là một thể thống nhất vừa có tính trừu tượng, tính điển dạng vừa có tính
cụ thể, hiện dạng, ít nhiều đã quy ước hóa thành những mô tip nhất định, hình thành nên những câu thúc đối với diễn ngôn cả về hình thức, cả về nội dung [9, tr.112]
Hiện thực được nói tới hay hiện thực đề tài: Là “cái gì đó” mà các đối ngôn
nói tới trong cuộc giao tiếp “Cái gì đó” này có thể là một hay một số yếu tố ngoài diễn ngôn (gọi là hiện thực đề tài ngoài diễn ngôn, có thể là hiện thực nội tâm hoặc hiện thực khách quan), cũng có thể là yếu tố nào đó nằm trong diễn ngôn đã có trước
đó hoặc trong diễn ngôn đang được tạo lập (gọi là hiện thực đề tài trong diễn ngôn)
1.2.1.2 Ngôn ngữ
Mỗi cuộc giao tiếp đều sử dụng một ngôn ngữ cụ thể nào đó làm phương tiện, nên nói tới ngôn ngữ trong vai trò là nhân tố giao tiếp cũng chính là nói tới ngôn ngữ cụ thể với các biến thể mà các đối ngôn sử dụng trong cuộc giao tiếp của
Trang 31họ Các nhân tố thuộc về ngữ cảnh và ngôn ngữ kể trên cần thiết được các đối ngôn lĩnh hội, hiểu biết về chúng và có ý thức đưa chúng vào hoạt động giao tiếp Các đối ngôn của một cuộc giao tiếp cũng không phải có hiểu biết hoàn toàn giống nhau về các nhân tố đó, tuy nhiên, giữa học buộc phải có một số điểm thống nhất, những hiểu biết chung quan yếu và cần thiết đối với cuộc giao tiếp đó, tạo thành cái gọi là
“hiểu biết nền” (background knowledge) hay “tiền giả định bách khoa” để giao tiếp được diễn ra một cách suôn sẻ Như vậy, xét cho cùng, nhân tố con người (mà ở đây
cụ thể là các đối ngôn) vẫn giữ vai trò trung tâm, quyết định đối với các nhân tố còn lại của hoạt động giao tiếp
1.2.1.3 Diễn ngôn
“Diễn ngôn là bộ phận hợp thành sự kiện lời nói và tổ hợp các sự kiện lời nói hình thành một cuộc giao tiếp Các chức năng giao tiếp được thực hiện bằng các diễn ngôn và cụ thể hoa thành các thành phần của diễn ngôn” [9, tr.148] Hiểu như vậy, diễn ngôn là khái niệm chỉ sản phẩm sau cùng của cuộc giao tiếp giữa các đối ngôn, trong đó lại bao gồm các diễn ngôn riêng của từng đối ngôn trong giao tiếp
Diễn ngôn có hai phương diện: Hình thức và nội dung Hình thức của diễn ngôn bao gồm tất cả các yếu tố ngôn ngữ (thuộc ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ dụng…) và các yếu tố phi ngôn ngữ (yếu tố kèm lời và phi lời) được dùng khi các đối ngôn tạo ra diễn ngôn Nội dung của diễn ngôn gồm hai thành phần: thành phần nội dung thông tin (hay nội dung miêu tả) “thực hiện chức năng thông tin của giao tiếp, thuộc lĩnh vực nghĩa học của tín hiệu học và bị quy định bởi tính đúng – sai lôgich” [9, tr.148]; và thành phần nội dung liên cá nhân ứng với các chức năng còn lại của giao tiếp (các chức năng: tạo lập quan hệ, biểu hiện, giải trí, hành động) thuộc về lĩnh vực dụng học của tín hiệu học và không bị quy định bởi tính đúng – sai logich Tuy nhiên, hai thành phần nội dung này không tách rời nhau trong diễn ngôn
Các diễn ngôn viết, do đặc thù bởi tính cách cách, “sự vắng mặt” và bất khả phản hồi ngay lập tức của một bên đối ngôn, việc không đồng thoại trường giữa các đối ngôn sẽ tạo ra những khó khăn, rào cản nhất định cho việc thuyết giải diễn ngôn đúng với ý đồ của người tạo lập Đây là trường hợp phổ biến khi xem xét các diễn
Trang 32ngôn văn học từ góc độ lý thuyết hoạt động giao tiếp
Tóm lại, các nhân tố giao tiếp kể trên (ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn) không tách rời nhau trong từng cuộc giao tiếp, mà ngược lại, chúng nhất thiết phải phối hợp chặt chẽ và tác động lẫn nhau, tạo thành sự vận động chung của cuộc giao tiếp mà ở đó con người - người tham gia giao tiếp - nắm giữ vai trò điều phối và tác động lẫn nhau… Giao tiếp trong văn chương là một hình thức giao tiếp đặc thù với những đặc trưng riêng biệt Điều này sẽ được chúng tôi trình bày ở mục 1.2.2 sau đây
1.2.2 Đặc điểm giao tiếp trong tác phẩm văn chương
1.2.2.1 Đối ngôn (tác giả và bạn đọc)
a Về độc giả (người nhận)
Số lượng độc giả trong giao tiếp văn chương có thể rất lớn chứ không phải chỉ là một hay một vài người nghe như trong giao tiếp ngôn ngữ thông thường Tác phẩm càng có đời sống lâu dài bao nhiêu thì lượng độc giả càng lớn bấy nhiêu, ngược lại số lượng độc giả càng lớn thì đó là dấu hiệu về sức sống của tác phẩm
Độc giả trong giao tiếp văn chương có thể thuộc về những thời gian văn hóa
và không gia văn hóa khác biệt với tác giả Trong giao tiếp ngôn ngữ thông thường, người nói và người nghe thường cùng một ngữ cảnh: cùng hiện diện trong một thời gian văn hóa hoặc cùng cả không gian văn hóa (một nền văn hóa) Trong giao tiếp văn chương, giữa tác giả và độc giả cũng có những trường hợp cùng thời gian và không gian văn hóa như vậy: Những người tiếp nhận tác phẩm của một tác giả sống cùng với thời mình và cùng dân tộc với mình
Sự khác biệt về thời gian và/hoặc không gian văn hóa giữa tác giả (quá trình sáng tác) và độc giả (quá trình tiếp nhận) chẳng những là một thách thức đối với hoạt động lĩnh hội, hoạt động giao tiếp giữa và độc giả, mà còn tạo ra những hứng thú, khoái cảm nghệ thuật như khi đến với những miền đất lạ
b Về tác giả (người phát)
Thường có sự khác biệt giữa thể phát và người phát: Điều này thể hiện rõ ở những cuộc giao tiếp giữa các nhân vật trong tác phẩm Thể phát và thể nhận trực tiếp là các nhân vật, nhưng nguồn phát là tác giả, còn đích nhận là độc giả Ví dụ
Trang 33như trong tác phẩm Đôi mắt của Nam Cao, hai nhân vật chính là Độ và Hoàng thực
hiện nhiều cuộc nói chuyện với nhau về cuộc kháng chiến chống Pháp đương thời,
về dân ta, về bộ đội, về dân tộc ta, về Bác Hồ; qua đó thể hiện hai sự đánh giá khác nhau, hai điểm nhìn khác nhau Nhưng đó chỉ là những nhân vật bề nổi Đằng sau hai nhân vật đó là tác giả muốn giao tiếp với độc giả về những vấn đề mà hai nhân vạt đang đề cập đến, để từ đó tác giả muốn truyền đến độc giả một cách nhìn nhận thích đáng nhất
Có sự khác biệt giữa tác giả và người kể chuyện: Có thể, người kể chuyện xuất hiện trực tiếp và đóng vai một nhân vật trong tác phẩm, lần lượt kể lại những biến cố, những sự kiện xảy ra Có thể người kể chuyện là một con vật, một đồ vật
được nhân hóa như người Ví dụ như trong truyện Dế mèn phiêu lưu ký của Tô
Hoài, Dế mèn kể lại câu chuyện cuộc đời của nó, nhưng thật ra nó chỉ đóng vai thể phát, còn người phát là tác giả Tô Hoài Qua lời kể của Dế Mèn, tác giả muốn phát
đi thông điệp đến độc giả nói chung và độc giả thiếu nhi nói riêng về những thăng trầm, những ưu điểm và hạn chế, những kinh nghiệm và sự non nớt trong quá trình trưởng thành của một con người
Rất thường gặp là trường hợp tác phẩm không có người kể chuyện, đương nhiên vẫn có tác giả Đây là trường hợp thường được gọi là kể chuyện ở ngôi thứ
ba Tác giả không xuất hiện trong tác phẩm dưới bất cứ hình thức nào, nhưng lại như là người biết tất cả câu chuyện (tác giả toàn tri), đứng ngoài các biến cố và để cho câu chuyện diễn ra trước mắt người đọc, hiển hiện với tất cả mọi phương diện
cụ thể của nó (thời gian, địa điểm, nhân vật, sự kiện bên ngoài, tâm lý bên trong, điểm bắt đầu và điểm kết thúc, nguyên nhân và hệ quả…) Chỉ thông qua sự lựa chọn, sự quan sát, góc nhìn nhận, từ ngữ sử dụng, kết cấu tác phẩm… mà tác giả thể
hiện tư tưởng thẩm mĩ của mình Chẳng hạn như Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Tắt
đèn của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan…là những tác
phẩm được sáng tạo theo phương thức này
Như vậy, trong văn chương, liên quan đến vai tác giả, cần phân biệt nguồn phát và thể phát, người kể chuyện và tác giả, tác giả và nhân vật, những thực thể này có quan hệ với nhau nhưng không phải trùng hợp, càng không phải đồng nhất
Trang 34với nhau Ngay một nhân tố như điểm nhìn đối với sự vật, sự việc được trần thuật trong một tác phẩm tự sự, thì giữa tác giả, người kể chuyện và cả các nhân vật trong truyện có thể đồng nhất trùng hợp, nhưng cũng có thể khác biệt
1.2.2.2 Ngữ cảnh, tình huống giao tiếp
Ngữ cảnh trong giao tiếp văn học cũng hết sức đặc biệt và đóng vai trò quan
trọng Trong các loại hình giao tiếp khác, yếu tố ngữ cảnh ít có sự biến đổi hoặc có
sự biến đổi thì cũng không ảnh hưởng nhiều đến việc hiểu thông điệp Trong khi đó, với văn chương, ngữ cảnh cho sự ra đời của một tác phẩm có thể cố định nhưng ngữ cảnh tiếp nhận tác phẩm lại thay đổi liên tục Nó thay đổi trong không gian và thay đổi trong thời gian Bởi vì người tiếp nhận, giải mã tác phẩm văn học thuộc nhiều thời đại và ở nhiều nơi khác nhau Chính sự thay đổi về ngữ cảnh giao tiếp là một yếu tố quan trọng dẫn đến việc hiểu thông điệp tác phẩm cũng thay đổi
Những sự khác biệt giữa tác giả và độc giả về thời gian và không gian văn hóa cũng chính là sự khác biệt về ngữ cảnh trong giao tiếp ở lĩnh vực văn chương Ngữ cảnh sáng tác của nhà văn có thể khác biệt, thậm chí khác biệt rất lớn với ngữ cảnh tiếp nhận của độc giả Trong giao tiếp ngôn ngữ thông thường hằng ngày, những sự khác biệt này không lớn Người nói và người nghe thường có chung những kiến thức nền hay những tiền giả định tương đương bởi vì cả hai thường sống trong cùng một thời gian và không gian văn hóa Chẳng hạn, khi giao tiếp mua bán ở các chợ Việt Nam giữa người mua và người bán trong những năm đầu của thế
kỷ XXI, cụm từ rau sạch đã được nói đến và lĩnh hội với một cùng một ý nghĩa, nghĩa này có thể khác với nghĩa của cụm từ đó ở thế kỷ XX về trước: rau sạch
không phải là rau không lấm bùn đất hay rác rưởi mà là loại rau không nhiễm hóa chất, cho nên lành, không độc hại cho cơ thể
1.2.2.3 Ngôn ngữ nghệ thuật
Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ chủ yếu dùng trong các tác phẩm văn chương Nó không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người Đó là thứ ngôn ngữ được tổ chức, sắp xếp, lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật, thẩm mĩ cao
Trang 35Mỗi văn bản văn chương bao giờ cũng là lời nhắn gởi trực tiếp hay gián tiếp, kín đáo hay công khai của người viết vế cuộc đời và cuộc sống Bằng sáng tạo nghệ thuật theo phong cách riêng của mình nhà văn tạo ra tác phẩm bao gồm yếu tố khách quan và chủ quan nhằm gây một tác động đặc biệt lên tâm hồn người đọc
Ngôn ngữ nghệ thuật khá đa dạng về thể loại, phong phú về màu sắc, biến hóa về tính sáng tạo và thống nhất ở ba đặc tính cơ bản là tính hình tượng, tính biểu cảm và tính hàm súc THTM trong tác phẩm văn chương là một hình thức tồn tại đặc sắc của ngôn ngữ nghệ thuật
1.3 GIỚI THIỆU VỀ CUNG OÁN NGÂM KHÚC VÀ CHINH PHỤ NGÂM
Trong văn học Việt Nam, thể loại ngâm khúc được ra đời từ giữa thế kỷ XVIII Đến nửa đầu thế kỷ XIX, thể loại này đạt được những thành tựu rực rỡ, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển nền văn học nước nhà
Văn học Việt Nam thời kỳ này đạt những thành tựu rực rỡ vì đã chứng kiến sự
ra đời nhiều tác phẩm Nôm xuất sắc ở cả hai mặt: nội dung phản ánh thời đại sâu sắc
và trình độ nghệ thuật điêu luyện Các tác phẩm tiêu biểu trong giai đoạn này có thể
kể đến là Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều và Chinh phụ ngâm khúc của
Đặng Trần Côn Sự ra đời của thể ngâm khúc cùng với những đổi thay quan niệm về con người thời trung đại đã đem đến cho thể loại này những dấu ấn riêng, nổi bật Con người cộng đồng phai nhạt nhường chỗ cho con người cá nhân, con người nhân văn, nhân bản với những khát vọng sống chính đáng Thành tựu của thể ngâm khúc
đã góp phần vào thành tựu chung của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX - một chặng đường văn học với nhiều đỉnh cao rực rỡ, đồng thời khẳng định một cách vững chắc thể ngâm trong văn học của giai đoạn nàỵ
1.3.1 Về tác phẩm Cung oán ngâm khúc
Cung oán ngâm khúc là tác phẩm kiệt xuất của Nguyễn Gia Thiều, được viết
bằng chữ Nôm, gồm 356 câu thơ làm theo thể song thất lục bát Đây là một bài ca ai oán cho thân phận của một người cung nữ tài sắc vẹn toàn, lúc đầu được vua ân sủng, yêu thương thắm thiết nhưng chẳng bao lâu lại bị bỏ rơi Ông đã dùng ngòi bút của mình với lối văn độc thoại để giải bày tâm trạng đau đớn của người cung nữ
Trang 36khi bị nhà vua ruồng bỏ Nàng ý thức rõ được phẩm chất và tài năng của mình nên lặng lẽ tố cáo cuộc sống xa hoa phe phởn của vua chúa đã biến người phụ nữ thành món đồ chơi để thỏa mãn dục vọng một cách vô đạo Sống trong cung cấm với nỗi
cô đơn, tù túng nàng muốn thoát ra ngoài để trở về với cuộc sống “cục mịch nhà
quê” của ngày xưa nhưng nàng vẫn bị giam cầm với bao nỗi niềm chất chứa Cuối
cùng, nàng vẫn khát khao được sự ân sủng nhỏ nhoi của vua như ngày nào nhưng
đó chỉ là một ước mơ đầy tuyệt vọng Và nàng nhận ra cõi đời này chỉ là những phù
du, hư vọng, không thật như vừa tỉnh một giấc mơ
Cung oán ngâm khúc được xem như một bản cáo trạng tố cáo chế độ phong
kiến đã chà đạp con người thông qua là tiếng thét ai oán của một trang tố nữ tài sắc vẹn toàn và tình cảm trong sáng, cao quý mà bị ruồng bỏ Hình ảnh cung nữ chính
là nạn nhân của chế độ phong kiến mang đầy bản chất ích kỷ hẹp hòi đến vô đạo của vua chúa đã biến họ thành món đồ chơi để thỏa mãn thú tính rồi ném bỏ không thương tiếc vào quên lãng Nguyễn Gia Thiều đã thấy được cảnh này khi lui tới trong phủ chúa nên cảm thương cho nỗi lòng của người cung nữ Với tấm lòng nhân đạo ông đã dồn hết tâm huyết và văn tài của mình để viết nên một tác phẩm bất hủ, đau đớn đến xé lòng về cuộc đời nàng Nhưng ý nghĩa của tác phẩm không chỉ dừng lại ở đó mà còn mang một ý nghĩa sâu xa hơn là Nguyễn Gia Thiều đã mượn lời cung nữ để nói lên tâm sự bế tắc của mình, cũng là sự bế tắc của lớp nhà Nho thời đại ông, đầy chán chường và mệt mỏi
Qua tác phẩm Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều bày tỏ tâm sự của
một kẻ sĩ đã nhìn thấy bao tang thương, thăng trầm, biến đổi của cuộc sống mà chính ông là người đã sống trong những biến cố ấy Sự bế tắc của một thời đại với những tấm bi kịch đến tê tái trên thân phận kiếp người thông qua lời của người cung
nữ đã vẻ nên một bức tranh ảm đảm cho xã hội phong kiến lúc bấy giờ Nhưng dường như ông chỉ mượn tâm sự của người cung nữ để nói lên nỗi niềm u uất của ông và cũng là của bao nhiêu người khác phải chịu nhiều bất công dưới chế độ phong kiến Đến khi nỗi u uất đến đỉnh điểm ông đã lãng quên tâm trạng của người cung nữ mà trực tiếp bộc lộ về suy nghĩ của mình về kiếp người, về cuộc đời với
Trang 37triết lý hư vô rải rác trong tác phẩm và vô cùng sắc xảo đến từng chi tiết cũng như câu chữ
1.3.2 Về tác phẩm Chinh phụ ngâm
Chinh phụ ngâm được viết bằng chữ Hán, do tác giả Đặng Trần Côn sáng tác
vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII Đây là thời kì vô cùng rối ren của xã hội phong kiến Chiến tranh xảy ra liên miên, hết Lê - Mạc đánh nhau đến Trịnh - Nguyễn phân tranh, đất nước chia làm hai nửa Ngai vàng của nhà Lê mục ruỗng Nông dân bất bình nổi dậy khởi nghĩa ở khắp nơi Nhân dân sống trong cảnh loạn li nồi da nấu thịt, cha mẹ xa con, vợ xa chồng Văn học thời kì này tập trung phản ánh bản chất tàn bạo, phản động của giai cấp thống trị và nỗi đau khổ của những nạn nhân trong
chế độ thối nát ấy Tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận
được sự đồng cảm rộng rãi của tầng lớp Nho sĩ Nhiều bản dịch xuất hiện, trong đó bản dịch sang chữ Nôm của bà Đoàn Thị Điểm được coi là hoàn hảo hơn cả, thể hiện thành công lẫn trị nội dung và nghệ thuật của nguyên tác
Nội dung Chinh phụ ngâm phản ánh thái độ oán ghét chiến tranh phong kiến
phi nghĩa, đặc biệt là đề cao quyền sống cùng khao khát tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của con người Đó là điều ít được nhắc đến trong thơ văn trước đây
Người chinh phụ vốn dòng dõi trâm anh Nàng tiễn chồng ra trận với mong muốn người chồng sẽ lập được công danh và trở về cùng với vinh hoa, phú quý Nhưng ngay sau buổi tiễn đưa, nàng sống trong tình cảnh lẻ loi, ngày đêm xót xa lo lắng cho chồng Thấm thía nỗi cô đơn, nàng nhận ra tuổi xuân của mình đang qua đi
và cảnh lứa đôi đoàn tụ hạnh phúc ngày càng xa vời Người chinh phụ rơi vào tâm trạng cô đơn đến cùng cực Khúc ngâm thể hiện rất rõ tâm trạng cô đơn ấy
Thông qua tâm trạng đau buồn của người chinh phụ đang sống trong tình cảnh lẻ loi vì chồng phải tham gia vào những cuộc tranh giành quyền lực của các vua chúa, tác giả đã đề cao hạnh phúc lứa đôi và thể hiện tinh thần phản kháng đối
với chiến tranh phi nghĩa Tác phẩm Chinh phụ ngâm đã toát lên tư tưởng chủ đạo
trong văn chương; một thời, đó là tư tưởng đòi quyền sống quyền được hưởng hạnh phúc rất chính đáng của con người
Trang 38Như vậy, có thể nói Chinh phụ ngâm là một trong những tác phẩm tiến bộ
của văn học cổ điển đã quan tâm đến vận mệnh của con người Những khát vọng hạnh phúc, khát vọng ái ân rất trần thế của con người đã được tác giả đề cao Người chinh phụ trong tác phẩm này vì quá yêu chồng mà oán ghét chiến tranh và thái độ oán ghét ấy càng tăng lên khi lòng khao khát hạnh phúc, cùng ý thức về quyền sống
cá nhân ở nàng trỗi dậy mạnh mẽ Thật ra, tiếng nói oán ghét chiến tranh đã có mặt trong văn học từ lâu Nhưng phải đến thế kỷ này thì tiếng nói đó mới trở nên sâu sắc, quyết liệt, vì đây là tiếng nói xuất phát từ sự thức tỉnh về quyền sống hạnh phúc của cá nhân Ghi nhận được điều này là một đóng góp độc đáo của thi sĩ Đặng Trần Côn vào kho tàng văn học Việt Nam trong quá khứ khi viết về đề tài chinh phu, chinh phụ Và đây cũng chính là điều làm cho nội dung tác phẩm mang đậm tính nhân văn
1.4 TIỂU KẾT
Qua việc tìm hiểu, nghiên cứu lý thuyết về kí hiệu học và các vấn đề liên quan, chúng tôi đã khái quát hóa được các vấn đề lý thuyết về ngôn ngữ và ngôn ngữ tín hiệu thẩm mĩ; mối quan hệ giữa tín hiệu ngôn ngữ, kí hiệu học trong ngôn ngữ với tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương Cũng trong chương 1, chúng
tôi điểm qua vài nét về tác phẩm Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm khúc
Những vấn đề này sẽ là cơ sở lý luận để chúng tôi tiếp tục phát triển ở các chương sau của luận văn
Trang 39CHƯƠNG 2
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ
TRONG CUNG OÁN NGÂM KHÚC VÀ CHINH PHỤ NGÂM
NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CÁI BIỂU ĐẠT
Nhân vật cung nữ trong Cung oán ngâm khúc và chinh phụ trong Chinh phụ
ngâm khúc đã khai mào cho trào lưu văn học viết về phụ nữ của nhà nho giai đoạn
thế kỷ XVIII – đầu XIX với cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa Lần đầu tiên người phụ
nữ bước vào văn học, trở thành nhân vật chính trong tác phẩm trữ tình có quy mô hàng trăm câu Đặc biệt, ở khía cạnh tư tưởng, cảm hứng sáng tác, hai tác giả nhà nho Nguyễn Gia Thiều và Đặng Trần Côn – những người đàn ông đã không đứng trên quan điểm nam quyền của Nho giáo để xét đoán, kỳ thị về người phụ nữ Thay vào đó, họ quan tâm đến quyền sống và những tâm sự sâu kín của phái nữ, mạnh dạn khai thác sâu vào đời sống tình cảm, nỗi niềm của những phận má hồng truân chuyên, những khao khát bản năng về ái ân, về đời sống thân xác Lần đầu tiên, nhân vật nữ xuất hiện trong văn học mang đậm yếu tố giới, qua cái nhìn trân trọng, cảm thông của tác giả
Để giải mã được những nội dung mang tính nghệ thuât nói trên, chúng ta
phải xuất phát từ việc tìm hiểu ngôn ngữ biểu đạt của hình tượng tượng người phụ
nữ trong hai tác phẩm ra làm sao Đó cũng là nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm được chúng tôi đề cập trong chương 2 này
2.1 SỰ BIỂU ĐẠT BẰNG NGÔN NGỮ HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ
TRONG CUNG OÁN NGÂM KHÚC
2.1.1 Hình tượng người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc, xét ở cấp độ
tín hiệu thẩm mĩ hằng thể
Qua việc khảo sát hình tượng người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc,
chúng tôi đã thống kê được các tín hiệu thẩm mĩ hằng thể chỉ người phụ nữ xuất hiện trong khúc ngâm là 7 lần Có thể xác định các tín hiệu hằng thể theo hai nhóm: nhóm hình tượng phụ nữ nói chung và hình tượng cung nữ Ở đây, chúng tôi chỉ
Trang 40xem xét hình tượng người phụ nữ trong tính hằng thể là người cung nữ Thông qua
hình tượng cung nữ, các tín hiệu hằng thể là những từ ngữ đồng nghĩa/biểu thức
đồng quy chiếu về hình tượng người cung nữ trong tác phẩm
Oán chi những khách tiêu phòng,
Mà xui phận bạc nằm trong má đào
[Câu 1 – 4]
Người cung nữ được xem như là “vưu vật” (người phụ nữ đẹp) và họ cảm
thấy tự mãn nguyện với hạnh phúc hiện tại của mình:
Vẻ vưu vật trăm chiều chải chuốt,
Lòng quân vương chi chút trên tay
Má hồng không thuốc mà say,
Nước kia muốn đổ thành này muốn long
[Câu 165 – 168]
Hình ảnh biểu trưng này được miêu tả qua các từ ngữ như ả sương khuê, vị