1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát các biểu thức chiếu vật về người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ hồ xuân hương và thơ xuân quỳnh

152 59 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu Về phương diện nghiên cứu: luận văn của chúng tôi tiến hành khảo sát và nghiên cứu đối tượng kể trên ở các phương diện: cấu tạo, quan hệ kết hợp với các yếu tố ngôn

Trang 1

LÊ THỊ MỸ HẠNH

KHẢO SÁT CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT

VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG NGÔN NGỮ THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ THƠ XUÂN QUỲNH

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60.22.02.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN VĂN SÁNG

ĐÀ NẴNG, NĂM 2017

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, trung thực và chưa được công

bố ở các công trình nghiên cứu khác Các nguồn trích dẫn có chú thích rõ ràng, minh bạch, đã công bố theo quy định

Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về

đề tài của mình

Tác giả luận văn

Lê Thị Mỹ Hạnh

Trang 3

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ vô cùng quý báu của các tập thể và cá nhân

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS.Trần Văn Sáng - người

đã nhiệt tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn này Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy cô Khoa Ngữ văn, Phòng Sau Đại học, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và cho đến khi thực hiện

đề tài luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, người thân, các anh chị em đồng nghiệp đã động viên, hỗ trợ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh./

Đà Nẵng, tháng 8 năm 2017

Học viên thực hiện

Lê Thị Mỹ Hạnh

Trang 4

BTCV : Biểu thức chiếu vật

HQC : Hệ quy chiếu C-V : Chủ ngữ-vị ngữ

TT : Thành tố trung tâm

PT : Thành tố phụ trước

PS : Thành tố phụ sau QHKHSĐ : Quan hệ kết hợp sóng đôi

Trang 5

bảng

2.1 Các nhóm BTCV về người phụ nữ từ HCV thế giới tự nhiên

2.2 Các nhóm BTCV về người phụ nữ thuộc HCV thế giới nhân

2.3 Các nhóm BTCV về người phụ nữ từ HCV thế giới con

người trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương 39 2.4 Cấu trúc của ngữ danh từ được thể hiện qua mô hình 41 2.5 Bảng tổng hợp thống kê BTCV là ngữ danh từ trong thơ Hồ

2.9 Cấu tạo của các BTCV về người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân

2.10 Các nhóm BTCV về người phụ nữ từ HCV thế giới tự nhiên

2.11 Các nhóm BTCV về người phụ nữ từ HCV thế giới nhân tạo

2.12 Các nhóm BTCV về người phụ nữ từ HCV thế giới con

2.13 Bảng thống kê các BTCV là ngữ danh từ, cụ thể các thành tố 65 2.14 Bảng thống kê các BTCV có cấu tạo là danh từ đơn và danh

từ ghép

67

2.15 Bảng thống kê quan hệ kết hợp của các BTCV về người phụ

nữ trong thơ Xuân Quỳnh

Trang 6

2.1 So sánh tỷ lệ của các nhóm trong thơ Hồ Xuân Hương và thơ

Xuân Quỳnh

77

2.2 So sánh tỷ lệ các kiểu cấu tạo của các BTCV trong thơ Hồ

Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh

78

2.3 So sánh kiểu cấu tạo các BTCV là danh từ trong thơ Hồ Xuân

Hương và thơ Xuân Quỳnh

79

Trang 7

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1

3 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6 Đóng góp của đề tài 5

7 Cấu trúc luận văn 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 7

1.1 LÝ THUYẾT CHIẾU VẬT 7

1.1.1 Sự chiếu vật (reference) 7

1.1.2 Biểu thức chiếu vật (referring expression) 8

1.2 LÝ THUYẾT HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP 18

1.2.1 Các nhân tố của hoạt động giao tiếp 18

1.2.2 Các nhân tố giao tiếp và chiếu vật 21

1.3 GIỚI THIỆU VỀ HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ XUÂN QUỲNH 25

1.3.1 Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương và tập Lưu Hương Kí 25

1.3.2 Xuân Quỳnh - người đàn bà làm thơ 27

1.4 TIỂU KẾT 29

CHƯƠNG 2 CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG NGÔN NGỮ THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ THƠ XUÂN QUỲNH NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CÁI BIỂU ĐẠT 31

2.1 CẤU TẠO CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG NGÔN NGỮ THƠ HỒ XUÂN HƯƠN 31

2.1.1 Các biểu thức chiếu vật về người phụ nữ phân theo nhóm chủ đề32 2.1.2 Cấu tạo của các BTCV về người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương 40

2.2 CẤU TẠO CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG NGÔN NGỮ THƠ XUÂN QUỲNH 56 2.2.1 Các biểu thức chiếu vật về người phụ nữ phân theo nhóm chủ đề57 2.2.2 Cấu tạo của các BTCV về người phụ nữ trong thơ Xuân Quỳnh 65

Trang 8

2.3.1 Điểm tương đồng 76

2.3.2 Điểm khác biệt 77

2.4 TIỂU KẾT 79

CHƯƠNG 3 CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG NGÔN NGỮ THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ THƠ XUÂN QUỲNH NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT 81

3.1 GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG 81

3.1.1 Chiếu vật về người phụ nữ trên hệ quy chiếu thế giới tự nhiên 81

3.1.2 Chiếu vật về người phụ nữ trên hệ quy chiếu thế giới nhân tạo 85

3.1.3 Chiếu vật về người phụ nữ trên hệ quy chiếu thế giới con người 90 3.2 GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ XUÂN QUỲNH 94

3.2.1 Chiếu vật về người phụ nữ trên hệ quy chiếu thế giới tự nhiên 94

3.2.2 Chiếu vật về người phụ nữ trên hệ quy chiếu thế giới nhân tạo 99

3.2.3 Chiếu vật về người phụ nữ trên hệ quy chiếu thế giới con người 100

3.3 SO SÁNH CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ THƠ XUÂN QUỲNH TRÊN BÌNH DIỆN CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT 105

3.3.1 Điểm tương đồng 105

3.3.2 Điểm khác biệt 107

3.4 TIỂU KẾT 127

KẾT LUẬN 129

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 132

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

PHỤ LỤC

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngôn ngữ là công cụ không thể thiếu trong quá trình giao tiếp của con người,

là phương tiện quan trọng trong đời sống xã hội Con người sử dụng ngôn ngữ để thể hiện nhận thức về thế giới xung quanh, trao đổi thông tin, tình cảm của mình Tuy nhiên, ở những lĩnh vực cụ thể, trong những môi trường nhất định, ngôn ngữ được sử dụng với mục đích phù hợp sẽ tạo ra những giá trị biểu đạt khác nhau

Khảo sát ngôn ngữ theo hướng quy chiếu ở Việt Nam là một vấn đề vẫn còn khá mới Trong diễn ngôn văn học, việc tìm hiểu hệ thống các phương tiện ngôn

ngữ chiếu vật và “vật được quy chiếu” của chúng sẽ là những thao tác đầu tiên mà

bất kỳ người đọc nào cũng phải tiến hành nếu muốn hiểu tác phẩm

Luận văn của chúng tôi tìm hiểu về các yếu tố ngôn ngữ, tức các biểu thức chiếu vật, dưới ánh sáng của lý thuyết chiếu vật của ngữ dụng học: đặt chúng trong các biểu thức chiếu vật được sử dụng trong diễn ngôn

Hồ Xuân Hương và Xuân Quỳnh là hai nhà thơ có nhiều tác phẩm viết về hình tượng người phụ nữ Tuy mỗi tác giả ở hai thời đại khác nhau, sáng tác và thành công ở những thể loại thơ khác nhau nhưng tác phẩm của họ có giá trị và sức sống lầu bền cùng thời gian Việc nghiên cứu về thi pháp - ngôn ngữ của hai nhà

thơ này cũng có rất nhiều cách tiếp cận Do đó, nghiên cứu, khảo sát các biểu thức chiếu vật về người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh

là hướng tiếp cận hoàn toàn mới và có tính khoa học, thực tiễn cao

Chúng tôi chọn và nghiên cứu so sánh hai tác giả, một mặt, phần nào giúp người đọc thấy được những đóng góp của thơ ca đối với nền văn học Việt Nam, qua

đó, làm phong phú thêm bản sắc văn hóa dân tộc, mặt khác, khẳng định thêm những điểm riêng biệt, độc đáo trong cách nhìn về người phụ nữ, tính hấp dẫn trong phong cách nghệ thuật, mang dấu ấn, tài năng của từng tác giả

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Chiếu vật là vấn đề dụng học được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm từ rất sớm Lịch sử nghiên cứu về chiếu vật có thể được phân thành 3 giai

Trang 10

đoạn nghiên cứu trên thế giới gồm: giai đoạn thứ nhất (từ 1882 – khoảng 1950) - chiếu vật ngữ nghĩa (semantic reference); giai đoạn thứ hai (từ khoảng 1950 – cuối thế kỷ XX) - chiếu vật của người nói (speaker’s reference); giai đoạn thứ ba (khoảng từ cuối thế kỷ XX -nay) - chiếu vật được nghiên cứu trong phối cảnh liên ngành (interdisciplinary perspectives)

Ở Việt Nam, từ năm 1983 trở đi, Ngữ dụng học đã có bước phát triển mạnh

cả về nghiên cứu cụ thể và lý thuyết Ngữ dụng học là một chuyên ngành ngôn ngữ học chuyên nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc sử dụng ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp để đạt tới một mục đích nhất định Nó quan tâm đến việc vì sao việc truyền đạt nghĩa không chỉ phụ thuộc vào các kiến thức ngôn ngữ học như ngữ pháp, từ vựng của người nói và người nghe mà còn phụ thuộc vào ngữ cảnh của phát ngôn Một vấn đề đầu tiên trong việc nghiên cứu ngôn ngữ trong thực tế sử dụng, xác lập mối quan hệ giữa ngôn ngữ và người sử dụng đó là vấn đề quy chiếu

và sự lựa chọn biểu thức quy chiếu để chỉ đối tượng được nói đến

Đỗ Hữu Châu là người đầu tiên có công giới thuyết lý thuyết ngữ dụng học

một cách hệ thống và đầy đủ nhất và tiêu biểu nhất ở Việt Nam Cuốn Đại cương ngôn ngữ học¸ tập 2: Ngữ dụng học-Đỗ Hữu Châu đã dành trọn một chương đề cập

đến chiếu vật và chỉ xuất Theo tác giả, chiếu vật là vấn đề đầu tiên mà các nhà nghiên cứu quan tâm do đó cũng là vấn đề thứ nhất của dụng học Bàn về chiếu vật,

Đỗ Hữu Châu chỉ ra tầm quan trọng của chiếu vật và việc xác định được nội dung của câu quy chiếu Quan trọng hơn cả là tác giả nêu ra các phương thức quy chiếu

Vì quy chiếu là một hành động có tính chủ động của người nói cho nên nó phần nào thể hiện tính mục đích của người nói khi lựa chọn biểu thức quy chiếu Về lí thuyết các giáo trình về ngữ dụng học đều dành ít nhất một chương để trình bày các nội dung liên quan đến vấn đề này

Tiếp theo công trình của Đỗ Hữu Châu là công trình Dụng học Việt ngữ

(NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000) của Nguyễn Thiện Giáp Tác giả cũng đã dành một phần nghiên cứu về lý thuyết chiếu vật, xem đó là một nhân tố, một phương châm trong hoạt động giao tiếp và quy chiếu được hiểu là hành động trong

Trang 11

đó người nói và người đọc nhận diện một cái gì đó Đây cũng là cách hiểu khác về hiện tượng quy chiếu trong diễn ngôn, phát ngôn Mặc dù tác giả sử dụng thuật ngữ quy chiếu nhưng thực chất nội hàm của khái niệm đó tương ứng với nội hàm khái niệm chiếu vật của Đỗ Hữu Châu

Tài liệu nước ngoài được tiếp nhận và giới thiệu sớm nhất ở Việt Nam có lẽ

là công trình Dụng học của G.Yule do Diệp Quang Ban biên dịch Đây là một trong

những giáo trình quan trọng về ngữ dụng học, đề cập ngắn gọn những đầy đủ về lý thuyết dụng học, trong đó có lý thuyết chiếu vật Giáo trình này có thể được xem như là bước khởi đầu đối với việc tìm hiểu có tính chuyên môn hơn và là “cuốn gối đầu giường” đối với những ai bước đầu tiếp cận, nghiên cứu ngôn ngữ học

Như vậy, tiếp cận các kết quả nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài, đồng thời vận dụng vào thực tiễn sử dụng tiếng Việt, các tác giả trong nước cũng đã có những công trình về ngữ dụng học, trong đó có lý thuyết chiếu vật Tiêu biểu là: Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Thị Kim Liên…

Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy những công trình nghiên cứu riêng biệt ứng dụng các lý thuyết của ngôn ngữ học để nghiên cứu ngôn ngữ văn chương không thật sự nhiều, chủ yếu là những bài nghiên cứu riêng lẻ

Đặc biệt, cho đến nay, chúng tôi có thể khẳng định chưa có một công trình nào nghiên cứu về các biểu thức chiếu vật về hình tượng người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh như đề tài của chúng tôi

3 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu của luận văn: Nghiên cứu đề tài trên, chúng tôi mong muốn

đạt được các mục tiêu sau:

3.1.1 Xác lập được vị trí, vai trò của các biểu thức chiếu vật về người phụ nữ như là một bộ phận làm nên bình diện “cái biểu đạt” của hình tượng người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và Xuân Quỳnh

3.1.2 Chỉ ra và cố gắng làm rõ mối quan hệ giữa các các biểu thức chiếu vật với ý nghĩa biểu trưng của chúng gắn với từng hệ quy chiếu khác nhau cũng như với

Trang 12

những đặc trưng văn hóa dân tộc và quan điểm xã hội, cách nhìn của hai tác giả về người phụ nữ trong hai thời đại khác nhau

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn xác định các nhiệm vụ chính cần hoàn thành:

3.2.1.Tìm hiểu cơ sở lý thuyết về chiếu vật, về hoạt động giao tiếp trong ngôn ngữ văn chương phục vụ cho việc triển khai đề tài luận văn;

3.2.2 Xác lập các tiêu chí để xác định và phân loại các biểu thức chiếu vật về người phụ nữ cũng như đối tượng được quy chiếu của chúng trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và Quân Quỳnh;

3.2.3 Phân tích, miêu tả đặc điểm của các biểu thức chiếu vật được khảo sát trên bình diện cái biểu đạt và cái được biểu đạt; tìm hiểu, so sánh các đặc điểm của

các biểu thức chiếu vật trong thơ Hồ Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh;

3.2.4 Phân tích, so sánh giá trị biểu đạt của các biểu thức chiếu vật theo hệ quy chiếu đối với việc thể hiện ý nghĩa biểu trưng của chúng trong ngôn ngữ thơ Hồ

Xuân Hương và Xuân Quỳnh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu được luận văn xác định là: các biểu thức chiếu vật về người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về phương diện nghiên cứu: luận văn của chúng tôi tiến hành khảo sát và

nghiên cứu đối tượng kể trên ở các phương diện: cấu tạo, quan hệ kết hợp với các yếu

tố ngôn ngữ khác trong ngôn cảnh, sự vật được quy chiếu trong ngữ cảnh sử dụng và

so sánh chúng với các biểu thức chiếu vật về phụ nữ tương ứng trong thơ Hồ Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh

Về tư liệu khảo sát: luận văn chỉ khảo sát trên thơ Nôm truyền tụng, thơ chữ Nôm

trong “Lưu Hương ký” của Hồ Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh các tuyển tập sau:

- Tuyển tập thơ Xuân Quỳnh: Không bao giờ là cuối, NXB Hội Nhà văn, Hà

Nội (2011)

Trang 13

- Thơ Hồ Xuân Hương, NXB Thời Đại, Minh Vy và Vương Tâm sưu tầm (2012)

5 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu

5.1 Thủ pháp thống kê, phân loại

Thủ pháp này được chúng tôi vận dụng để thống kê các biểu thức chiếu vật hình tượng người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh; phân loại các biểu thức chiếu vật thống kê được theo những tiêu chí cụ thể.Thủ pháp này nhằm nâng cao tính khách quan cho việc miêu tả cũng như đưa ra những kết luận dựa trên dữ liệu khảo sát của luận văn

5.2 Phương pháp miêu tả ngôn ngữ

Sau khi thống kê, phân loại cơ sở ngữ liệu là các biểu thức chiếu vật, chúng tôi vận dụng phương pháp này để phân tích, miêu tả đặc điểm cấu tạo các biểu thức chiếu vật về người phụ nữ và đưa ra những nhận xét, đánh giá với các thủ pháp nghiên cứu sau: thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp, thủ pháp phân tích vị từ-tham thể (vị tố - tham thể), thủ pháp phân tích ngôn cảnh/văn cảnh và thủ pháp phân tích vai nghĩa Từ những phân tích, lý giải các ngữ liệu, chúng tôi rút ra những vấn đề khoa học có ý nghĩa thực tiễn cao qua từng chương, mục tiêu của luận văn

6 Đóng góp của đề tài

Khảo sát các biểu thức chiếu vật về người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và Xuân Quỳnh, đề tài này sẽ mở ra hướng tiếp cận mới: lần đầu tiên ngôn ngữ thơ của hai tác giả Hồ Xuân Hương và Xuân Quỳnh được nghiên cứu dưới ánh sáng của ngữ dụng học Luận văn được hoàn thành sẽ có những đóng góp sau:

- Về lý luận: Luận văn sẽ củng cố và hệ thống hoá được các vấn đề cơ bản của lý thuyết chiếu vật của ngôn ngữ học, góp phần làm rõ thêm các khái niệm quan yếu đối với việc nghiên cứu chiếu vật trong tác phẩm văn chương; xác lập được một

số cơ sở và thao tác để xác định các biểu thức chiếu vật được sử dụng trong hoạt động giao tiếp; gợi mở và bước đầu vận dụng hướng nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ - văn hóa - văn học vào nghiên cứu chiếu vật của Việt ngữ, đặc biệt là chiếu vật trong tác phẩm văn chương

Trang 14

- Về thực tiễn: Thông qua việc khảo sát các biểu thức chiếu vật về người phụ

nữ trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và Xuân Quỳnh, luận văn sẽ cung cấp thêm

tư liệu và kết quả phân tích mới cho việc nghiên cứu và giảng dạy lý thuyết chiếu vật trong ngôn ngữ thơ nói riêng và trong giao tiếp tiếng Việt nói chung; cung cấp thêm

cơ sở và phương tiện ngôn ngữ cho việc khám phá các giá trị và nét độc đáo của ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh, từ đó giúp ích cho việc nghiên cứu và

giảng dạy tác phẩm văn chương từ góc nhìn ngôn ngữ học

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và những vấn đề liên quan

Chương này trình bày khái quát những vấn đề lý thuyết quan trọng nhất đến việc triển khai đề tài luận văn, đó là lý thuyết chiếu vật và lý thuyết hoạt động giao tiếp Từ đó, chúng tôi cũng trình bày những định hướng của việc vận dụng các lý thuyết đó trong việc nghiên cứu đề tài

Chương 2: Các biểu thức chiếu vật về người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh nhìn từ bình diện cái biểu đạt

Chương này triển khai việc khảo sát, phân loại các biểu thức chiếu vật về người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh trên các phương diện: cấu tạo và quan hệ kết hợp với các yếu tố ngôn ngữ khác trong ngôn cảnh Từ đó, chúng tôi so sánh các biểu thức chiếu vật về người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh trên bình diện cái biểu đạt để tìm điểm tương đồng và sự khác biệt trong ngôn ngữ thơ giữa hai tác giả

Chương 3: Các biểu thức chiếu vật về người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh nhìn từ bình diện cái được biểu đạt

Trong chương này, chúng tôi phân loại và miêu tả đặc điểm về chiếu vật trên

hệ quy chiếu mà chúng được sử dụng để quy chiếu tới các thực thể cụ thể Từ đó, chúng tôi phân tích và nêu ra một số giá trị chủ yếu của các biểu thức chiếu vật này trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và Xuân Quỳnh

Trang 15

“sự chiếu vật”, “biểu thức chiếu vật” và “chiếu vật” trong luận văn về cơ bản lĩnh hội,

trích dẫn từ các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả để đảm bảo tính khách quan của vấn đề lý thuyết được trình bày trong luận văn

1.1.1 Sự chiếu vật (reference)

Về thuật ngữ chiếu vật, từ trước đến ngay, theo nhiều nhà nghiên cứu thì có nhiều cách định nghĩa khác nhau Thuật ngữ này được dịch từ tiếng Anh

“reference”, tiếng Pháp là “référence”, ngoài ra còn được gọi là sự sở chỉ, tạo

nên ngữ cảnh của nó được gọi là chiếu vật

Theo G.Yule, “Sự quy chiếu là một hành động trong đó một người nói, hay người viết sử dụng các hình thái ngôn ngữ làm cho một người nghe hay người đọc

có thể nhận diện được cái gì đó” [57, tr.43].

Theo Đỗ Hữu Châu: “Chiếu vật chính là quan hệ giữa phát ngôn (diễn ngôn) với các bộ phận tạo nên ngữ cảnh được gọi là sự chiếu vật Nếu như ngữ dụng học quan tâm đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ với ngữ cảnh thì chiếu vật là hiện tượng ngữ dụng học đầu tiên bởi vì nhờ chiếu vật mà ngôn ngữ gắn với ngữ cảnh, từ đó

mà có căn cứ đầu tiên để xác định nghĩa của đơn vị ngôn ngữ đang thực hiện chức năng giao tiếp” [8, tr.186-187]

Tác giả Nguyễn Thiện Giáp có cách nhìn nhận khác: “Quy chiếu là một hành động trong đó người nói hoặc người viết dùng các hình thức ngôn ngữ cho phép người nghe, người đọc nhận diện cái gì đó Những hình thức ngôn ngữ ấy là những biểu thức quy chiếu” (refering expression) [24, tr.28]

Trang 16

Qua cách nhìn nhận của các nhà nghiên cứu nêu trên, chúng tôi rút ra nhận xét chung: các công trình khoa học của các tác giả Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Thị Kim Liên đều có sự thống nhất trong việc nhìn nhận khái niệm ‘reference’ với tư cách là vấn đề của ngữ dụng học và được coi là hiện tượng ngữ dụng học đầu tiên vì để có căn cứ cho việc xác định nghĩa của đơn vị ngôn ngữ đang thực hiện chức năng giao tiếp người ta nhờ vào chiếu vật bởi vì nhờ

có chiếu vật mà ngôn ngữ gắn với ngữ cảnh Chiếu vật không phải lúc nào cũng duy nhất, nó có mối quan hệ mật thiết với ngữ cảnh, có nghĩa là dựa vào ngữ cảnh thì sự vật quy chiếu sẽ khác nhau, sẽ thay đổi

Bàn về thuật ngữ chiếu vật, tác giả Đỗ Thị Kim Liên có nêu ví dụ để giải thích chứng minh:

Ví dụ: Mèo là một khái niệm để chỉ loài nói chung, được định nghĩa trong từ điển giải thích nhưng khi ta nói “Con mèo này rất đẹp” là phải ứng với một con

mèo cụ thể, qua lời một nhân vật cụ thể mà theo nhận thức của người Việt thì nó phải đẹp thật [36, tr.52]

Như vậy, trên cơ sở tiếp thu những quan niệm khác nhau về sự chiếu vật,

chúng tôi đưa ra khái niệm về sự quy chiếu (hay chiếu vật): đó là sự tương ứng giữa

từ (hoặc giữa các đơn vị ngôn ngữ) với các sự vật, con người, hoạt động, tính chất trong hiện thực được nói tới

1.1.2 Biểu thức chiếu vật (referring expression)

a Khái niệm biểu thức chiếu vật

Khi biểu thức ngôn ngữ được phát ngôn sử dụng để chỉ ra một thực thể nào

đó trong ngữ cảnh cụ thể của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ thì biểu thức đó là

biểu thức ngôn ngữ chiếu vật, hay gọi cách ngắn gọn nhất là các biểu thức chiếu vật

(BTCV) (referring expression) Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ

“biểu thức chiếu vật” để chỉ tất cả các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để thực

hiện quy chiếu trong ngữ cảnh cụ thể của ngữ liệu khảo sát, bao gồm cả những BTCV

có cấu tạo là từ (chẳng hạn: trăng, gió, mưa…) và tổ hợp từ (chẳng hạn: phận liễu, bánh trôi nước, phong ba luống bập bềnh…)

Trang 17

Theo cuốn Từ vựng-ngữ nghĩa tiếng Việt và cuốn Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng của tác giả Đỗ Hữu Châu thì kết cấu ngôn ngữ (từ, cụm từ, câu) được dùng để

chiếu vật được gọi là biểu thức chiếu vật Tác giả cũng cho rằng sự vật tương ứng với

với một biểu thức chiếu vật là nghĩa chiếu vật

Chúng tôi đồng tình với quan niệm cho rằng “Cũng như các tín hiệu ngôn ngữ, BTCV có cái biểu đạt và cái được biểu đạt Cái biểu đạt của BTCV là các đơn vị ngôn ngữ tạo nên nó Cái được biểu đạt là sự vật được quy chiếu hay CV tương ứng.” [8, tr.187] Theo như các nhà nghiên cứu đều có chung quan điểm nếu

như một đơn vị ngôn ngữ có cả hai mặt là cái biểu đạt (vỏ âm thanh của tín hiệu ngôn ngữ) và cái được biểu đạt (là ý nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ); thì ngược lại cái biểu đạt của BTCV là toàn bộ sự kết hợp của các đơn vị cấu thành nên nó cả trên phương diện vỏ âm thanh và ý nghĩa, còn cái được biểu đạt của BTCV chính

là sự vật được quy chiếu hay chiếu vật của nó Trong cuốn Nghĩa học Việt ngữ, Nguyễn Thiện Giáp có nêu: “Xét về mặt tín hiệu học, trước hết, từ hình thức là cái biểu đạt của ý nghĩa của từ (cái được biểu đạt); thứ hai, từ hình thức cùng với ý nghĩa của nó lại là cái biểu đạt của cái sở chỉ; thứ ba, trong những phát ngôn cụ thể, toàn bộ “từ hình thức-ý nghĩa-sở chỉ” còn có thể đóng vai trò là một tín hiệu của một sự vật khác Như vậy, ý nghĩa (sense) và sở chỉ (referent) chỉ là cái được biểu đạt (signified)” [26, tr.48]

Như vậy, các BTCV có trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và Xuân Quỳnh

sẽ được luận văn này miêu tả trên hai bình diện: bình diện cái biểu đạt (hình thức cấu tạo và quan hệ kết hợp cả về ý nghĩa và cú pháp); bình diện cái được biểu đạt (sự vật được quy chiếu hay CV) Do các BTCV được sử dụng trong các văn bản nghệ thuật nên luận văn chúng tôi còn tìm hiểu và phân tích một số giá trị của chúng với việc thể hiện hệ thống hình tượng, biểu tượng nghệ thuật và trong chừng mực có thể, chúng tôi cũng lưu ý đến việc thể hiện các đặc điểm về tri nhận, văn hóa của dân tộc trong ngôn ngữ thơ của hai tác giả khảo sát

Theo lý thuyết ngữ dụng học, không chỉ các sự vật, hiện tượng mới được quy chiếu bằng ngôn ngữ và trở thành CV của BTCV Ngoài sự vật còn có hành động,

Trang 18

tính chất, trạng thái, quá trình, sự kiện… cũng có thể được sử dụng để quy chiếu đến trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể BTCV không chỉ cấu tạo dưới dạng danh từ, đại từ hay ngữ danh từ mà còn có các động từ/ngữ động từ, tính từ/ngữ tính từ, các cấu trúc mệnh đề (cụm C-V) Trong phạm vi của luận văn này, khi tiến hành khảo sát và miêu tả các BTCV về hình tượng người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc khảo sát các BTCV có cấu tạo là một trong 3 kiểu: danh từ, ngữ danh từ và quan hệ kết hợp

Với cách hiểu về BTCV như đã trình bày trên, chúng tôi đã vận dụng khái niệm này vào việc xác định đối tượng khảo sát của luận văn là các biểu thức chiếu vật về người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh

b Tiêu chí xác định biểu thức chiếu vật

- Tiêu chí thứ nhất-tiêu chí cấu trúc: Xét đến tính hoàn chỉnh, độc lập tương đối của nó về mặt cấu tạo: hoặc là một từ, hoặc là một cụm từ Nếu là một cụm từ, việc xác lập đường biên của BTCV sẽ kết thúc ở chỗ có thể làm cho phần biểu thức ngôn ngữ được xét đủ tư cách là một ngữ danh từ hoặc một tổ hợp từ có kết cấu sóng đôi

- Tiêu chí thứ hai-tiêu chí chức năng: Một biểu thức ngôn ngữ có kết cấu hoàn chỉnh sẽ được luận văn coi là BTCV khi biểu thức ngôn ngữ đó chỉ ra được một đối tượng, một thực thể cụ thể nào đó, trong thế giới khả hữu-hệ quy chiếu của BTCV đang được tác giả hoặc nhân vật nói tới

Hai tiêu chí về cấu trúc và chức năng là không thể tách rời nhau khi xác định BTCV trong các câu thơ được khảo sát Một BTCV cần thiết phải đáp ứng được cả hai tiêu chí thì mới nằm trong phạm vi đối tượng khảo sát của luận văn

Như chúng ta đã biết, các BTCV trong một diễn ngôn có quan hệ với ngữ cảnh, đặc biệt là với các đối ngôn (người nói, người nghe) trong một cuộc giao tiếp; Các sự vật thuộc hoàn cảnh giao tiếp hoặc thuộc thoại trường; Không gian, thời gian của cuộc giao tiếp và của các sự vật được chiếu vật trong diễn ngôn Vì thế, khi khảo sát một BTCV, ngoài căn cứ vào hai tiêu chí cụ thể như trên, chúng ta cũng cần xem xét mối quan hệ với ngữ cảnh để hiểu đúng và sát về BTCV

Trang 19

1.1.3 Chiếu vật và hệ quy chiếu

a Khái niệm chiếu vật (referent)

Như trên đã phân tích, diễn giải, thuật ngữ “chiếu vật” được chúng tôi sử dụng

trong luận văn này là được dịch từ thuật ngữ “referent” trong tiếng Anh, tương ứng với “sở chỉ” của tác giả Nguyễn Thiện Giáp hoặc “cái sở chỉ” của tác giả Cao Xuân Hạo

Georgia M.Green viết: “Thuật ngữ chiếu vật được dùng để chỉ ra cái cách nhờ chúng mà người nói phát âm ra một biểu thức ngôn ngữ với hy vọng rằng biểu thức đó sẽ giúp cho người nghe của anh ta suy ra được một cách đúng đắn cái thực thể nào, đặc tính nào, quan hệ nào, sự kiện nào anh ta đang nói đến” (Dẫn theo Đỗ

Hữu Châu, [8, tr.193])

Theo Đỗ Hữu Châu: “Thuật ngữ chiếu vật được dùng để chỉ phương tiện, nhờ đó người nói phát ra một biểu thức ngữ vi với biểu thức này nghĩ rằng nó sẽ giúp cho người nghe suy ra được một cách đúng đắn thực thể nào, quan hệ nào, sự kiện nào anh ta định nói đến” [7, tr.61]

Từ đó, chúng ta có thể hiểu rằng, CV là một đối tượng thực thể cụ thể được phương tiện ngôn ngữ biểu thị thông qua việc thực hiện chiếu vật của người sử

dụng và phải đặt trong ngữ cảnh cụ thể và do đó Đỗ Hữu Châu cho là “vật được chiếu” [8] Đỗ Hữu Châu cũng giải thích: trong một phát ngôn thường có một hoặc

một số biểu thức chiếu vật Mỗi biểu thức chiếu vật được dùng để chỉ một yếu tố nào đó nằm trong: Đối ngôn, hoàn cảnh giao tiếp và thoại trường hợp thành ngữ cảnh của phát ngôn được nói tới trong phát ngôn đó Chính vì điều này mà tầm quan trọng của chiếu vật được nâng cao xứng đáng với vị trí được xem là đầu tiên của một ngành khoa học mới Các biểu thức chiếu vật được xem như là những “cái cần câu” mà diễn ngôn thả vào hiện thực đề tài, kết nối diễn ngôn với ngữ cảnh Nếu không có các biểu thức chiếu vật thì diễn ngôn sẽ trở thành mông lung, không biết dựa vào đâu để miêu tả hay để bày tỏ thái độ về nó [8, tr.187]

Trong cuốn Giáo trình Ngữ dụng học của Đỗ Thị Kim Liên, tác giả có phân tích một ví dụ trong bài thơ Nước non ngàn dặm của Tố Hữu:

Trang 20

Con thuyền rời bến sang Hiên

Xuôi dòng sông Cái, ngược triền sông Bung

Chập chùng Thác Lửa, Thác Chông,

Thác Dài, Thác Khó, Thác Ông, Thác Bà

Thác, bao nhiêu thác cũng qua

Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời

Tác giả đã chỉ ra rằng, khi nói đến “con thuyền” người ta nghĩ đến con thuyền gỗ, thuyền nan, thuyền sắt… với màu sắc khác nhau nhưng khi nói “con thuyền” trong đoạn thơ trên, người nghe liên tưởng đây không phải là con thuyền

bình thường như bao con thuyền khác, nhờ vào ngữ cảnh, vào đặc trưng văn bản và mục đích của người nói thì con thuyền được nhắc đến đó là con thuyền của Cách mạng, của Đảng đang “chèo chống” đưa dân tộc ta vượt qua bao thác ghềnh, giành thắng lợi vẻ vang

Có thể thấy, từ ngữ không tự thân mình chiếu vật mà chỉ có con người mới thực hiện hành vi chiếu vật Bằng hành vi chiếu vật đưa sự vật hiện tượng mình định nói tới vào diễn ngôn bằng các từ ngữ, bằng câu Quan hệ chiếu vật là kết quả của các hành vi chiếu vật Như vậy, chiếu vật là một hành vi ngôn ngữ Trong giao tiếp, nhờ có chiếu vật mà người nói vận dụng sự chiếu vật để truyền đạt đến cho người nghe định chiếu vật và đồng thời người nghe phải có thao tác suy ý để nhận

ra được sự vật - nghĩa chiếu vật mà người nói muốn nói để từ đó hiểu và tìm ra được nghĩa chiếu vật đúng nhất giúp cuộc hội thoại đi đến thành công

Ta có thể nhận thấy được tầm quan trọng của chiếu vật trong phát ngôn cũng như trong tác phẩm văn chương Không xác định được nghĩa chiếu vật của biểu thức chiếu vật trong phát ngôn thì không hiểu được nghĩa, được đích của phát ngôn, tức lời đáp của mình không thoả mãn được đích chủ ngôn trong phát ngôn nghe được Ngoài ra, có thể nói nếu tính nhiều nghĩa là đặc trưng của tác phẩm văn học thì nhiều nghĩa chiếu vật là phương tiện đầu tiên của đặc trưng đó

b Nghĩa, ý nghĩa, chiếu vật

Nghĩa hay ngữ nghĩa (theo nghĩa rộng: nghĩa của ngôn ngữ nói chung– meaning) và ý nghĩa của từ (sense) đều có liên quan tới CV bằng ngôn ngữ

Trang 21

Xét về mặt tín hiệu học thì, thứ nhất từ ngữ âm là cái biểu hiện của nghĩa của

từ (cái được biểu hiện); thứ hai, từ ngữ âm cùng với nghĩa của mình lại là cái biểu hiện của cái sở chỉ; thứ ba, trong những phát ngôn cụ thể, toàn bộ tam giác ngữ nghĩa

còn có thể đóng vai trò là một tín hiệu của một sự vật khác Như vậy, nghĩa (sense)

và sở chỉ là cái được biểu hiện Nhưng ý nghĩa (meaning) không phải là cái được biểu

hiện mà là mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện [25, tr 310-311]

Ý (meaning) của từ (cũng như của các đơn vị ngôn ngữ khác) là quan hệ của

từ với cái gì đó nằm ngoài bản thân nó Hiểu ý nghĩa của một đơn vị nào đó là hiểu đơn vị ấy có quan hệ với cái gì đó, tức là nó biểu thị cái gì Có thể thấy rõ điều này khi chúng ta quan sát cách người ta nắm ý nghĩa của từ như thế nào Đối với người lớn, khi không hiểu ý nghĩa của một từ nào đó, người ta tra từ điển Ý nghĩa của từ chưa biết được phát hiện thông qua lời giải thích trong từ điển

Thực chất của việc giải nghĩa trong các từ điển (từ điển giải thích cũng như từ điển đối chiếu) là tìm đơn vị ngôn ngữ tương đương về nghĩa với từ cần giải thích Khi trẻ con nắm ngôn ngữ lần đầu tiên thì phải liên hệ âm thanh của từ với sự vật Trẻ con nắm nghĩa của từ mèo nhờ nghe được phức thể ngữ âm [mèo] trong những tình huống phát ngôn cụ thể có sự hiện diện của con mèo Dần dần, trong nhận thức của trẻ, âm [mèo] có quan hệ với con mèo – từ con mèo cụ thể của nhà mình đến cả loài mèo nói chung Nắm được mối liên hệ ấy tức là nắm được ý nghĩa của từ mèo Nghĩa (sense) của từ là một hiện tượng tâm lí, có thể diễn đạt bằng siêu ngôn ngữ, ngay từ đầu trẻ con chưa có được

Cần phân biệt ý nghĩa của từ với sự hiểu biết về ý nghĩa đó Trong nhận thức của con người không xuất hiện và tồn tại bản thân ý nghĩa của các từ và các đơn vị ngôn ngữ khác, mà trong nhận thức chỉ có sự hiểu biết về các ý nghĩa của chúng mà thôi Khi nghe một câu nói bằng thứ tiếng mà ta chưa biết, ta trực tiếp lĩnh hội mặt

âm thanh của nó, rồi cố tìm trong nhận thức xem âm thanh đó có ý nghĩa gì (nhưng không thành công) Hiện tượng này dễ gây ấn tượng là ý nghĩa của đơn vị ngôn ngữ tồn tại trong nhận thức của chúng ta Sự thật không phải như vậy Ý nghĩa của từ cũng như của các đơn vị ngôn ngữ khác tồn tại thực sự khách quan trong lời nói, còn

Trang 22

trong nhận thức chỉ có sự phản ánh những ý nghĩa đó mà thôi Không nên lẫn lộn ý nghĩa của từ với nhận thức (sự hiểu biết) của chúng ta về cái ý nghĩa đó Nếu chúng

ta không hiểu một câu nói bằng tiếng nước ngoài có quan hệ với cái gì thì những người biết thứ tiếng ấy vẫn hiểu câu nói đó có quan hệ với cái gì trong thực tế

Cũng theo Nghĩa học Việt ngữ, Nguyễn Thiện Giáp có dẫn chứng về cách

định nghĩa về ý nghĩa của nhà ngôn ngữ Nga A.I.Smimitsky là định nghĩa được

nhiều người chấp nhận, theo đó, “Ý nghĩa của từ là sự phản ánh hiển nhiên của sự vật, hiện tượng hay quan hệ trong ý thức nằm trong cấu trúc của từ với tư cách là mặt bên trong của từ và so với ý nghĩa thì ngữ âm của từ hiện ra như vỏ vật chất cần thiết không phải chỉ để biểu thị và trao đổi nghĩa đó với những người khác mà còn cần thiết cho sự nảy sinh, hình thành, tồn tại và phát triển của ý nghĩa” [tr.47]

Định nghĩa trên vừa phản ánh được khái niệm và sở thị là cơ sở của nghĩa của từ, vừa khẳng định nghĩa của từ là một hiện tượng ngôn ngữ, bị quy định bởi hệ thống ngôn ngữ

Như vậy, ý nghĩa (meaning) không phải là cái được biểu đạt (signified) mà là mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt Cần phân biệt rõ ràng ý nghĩa của

từ với sở chỉ (referent) của nó Ý nghĩa của từ là một hiện tượng tâm lý, có tính chất trừu tượng, chủ quan, trong khi sở chỉ là sự vật khách quan và cụ thể của thế giới bên ngoài ngôn ngữ Trong giao tiếp, sở chỉ là mục tiêu cuối cùng của việc sử dụng từ ngữ, bởi vì trong giao tiếp, người ta sử dụng từ ngữ để thông báo những sự tình của thế giới bên ngoài chứ không phải là bàn về ngôn ngữ Ý nghĩa và sở chỉ thuộc hai bình diện khác nhau: ý nghĩa thuộc nghĩa học, còn sở chỉ thuộc dụng học

Với cách hiểu về chiếu vật như trên, luận văn chúng tôi đã vận dụng khái nhiệm CV vào việc xác định và thống kê các CV cụ thể của các BTCV về người phụ

nữ trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh Chúng tôi cũng đặt các

CV của các BTCV này trong mối tương quan với ý nghĩa từ vựng của các từ, ngữ đóng vai trò làm các thành tố cấu tạo nên các BTCV Cái sở biểu và cái sở chỉ của một từ có quan hệ chặt chẽ với nhau Cái sở biểu chính là sự phản ảnh của cái sở chỉ trong nhận thức của con người Mỗi cái sở biểu có thể ứng với nhiều cái sở chỉ khác

Trang 23

nhau vì nó có quan hệ với một lớp đối tượng trong thực tế Ngược lại một cái sở chỉ

có thể thuộc vào những cái sở biểu khác nhau, bởi vì cùng một sự vật, tùy theo đặc trưng của mình có thể tham gia vào một số lớp hạng khác nhau, bắt chéo lẫn nhau [26, tr.48]

Trong phạm vi luận văn, chúng tôi tiến hành khảo sát và miêu tả tất cả các sự vật được quy chiếu cụ thể trong những ngữ cảnh cụ thể của các biểu thức ngôn ngữ

có chung “cái sở biểu” ấy

c Hệ quy chiếu

Để chiếu vật có hiệu quả, người nhận phải hiểu được thế giới bên ngoài được đưa vào diễn ngôn Người nhận cần phải xác định rõ diễn ngôn nói về thế giới thực hay thế giới ảo, thế giới tự nhiên hay thế giới nhân tạo và các mảng thế giới nhỏ hơn nữa: thế giới nghệ thuật, thế giới nhận thức…[13, tr 501]

Từ nhận định trên, tác giả cũng đưa ra ví dụ: Mẹ bạn Nam vừa mua cho bạn

ấy con mèo xanh rất đẹp.Theo tác giả, chỉ có thể xác định nghĩa chiếu vật của cụm

từ con mèo màu xanh, khi người nhận xuất phát từ hiểu thế giới đồ vật nhân tạo mà không phải từ thế giới tự nhiên

Từ cách hiểu như trên, chúng ta thấy rằng mảng thế giới bên ngoài được sử dụng làm cơ sở cho việc xác định nghĩa chiếu vật của từ ngữ được gọi là hệ quy chiếu Như vậy, các từ ngữ thực hiện chức năng chiếu vật của mình thông qua một

hệ quy chiếu nhất định

Có thể nói, hệ quy chiếu là một khái niệm công cụ quan trọng mà chúng tôi lấy làm cơ sở lý thuyết cho việc triển khai đề tài Nói đến hệ quy chiếu là nói đến sự tồn tại của sự vật, hiện tượng trong thế giới Sự tồn tại (existance) trong một thế giới chính là điều kiện để một sự vật có thể được quy chiếu bởi một BTCV cụ thể trong

một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể và trở thành CV của BTCV đó “Sự quy chiếu nhất thiết mang theo nó các tiền đề về sự tồn tại phát sinh từ những kinh nghiệm trực tiếp của ta về các đối tượng trong thế giới vật chất Có thể nói khái niệm “tồn tại vật chất” là cơ sở để định nghĩa mối quan hệ ngữ nghĩa của quy chiếu Sự tồn tại là tiền đề của quy chiếu” [24, tr.26-27]

Trang 24

Còn theo John Lyons “Sự khác biệt cốt yếu giữa quy chiếu và sở thị là: sở thị của một biểu thức thì bất biến và độc lập với phát ngôn, nó là một phần nghĩa mà biếu thức có được trong hệ thống ngôn ngữ, độc lập với cách sử dụng nó trong những tình huống phát ngôn cụ thể Trái lại, quy chiếu thì biến đổi và phụ thuộc vào phát ngôn” (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp [26, tr 49])

Sự vật có thể tồn tại trong những thế giới rất khác nhau, có những thế giới hiện hữu, có thật và cũng có những “thế giới có thể có” (thường được gọi là “thế giới khả hữu”) mà trong đó sự vật có thể tồn tại theo một cách khác Cùng một lúc,

có nhiều thế giới khả hữu khác nhau đồng thời tồn tại: thế giới thực hữu, thế giới tưởng tượng, hư cấu trong thần thoại, cổ tích hay truyền thuyết và các tác phẩm văn học; thế giới tâm linh, siêu nhiên với sự tồn tại của các hồn ma, bóng quỷ… Tuy nhiên, khi thực hiện quy chiếu bằng các BTCV trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể, chỉ một thế giới khả hữu mà ở đó sự vật – CV tồn tại mới được người nói lựa chọn làm “HQC” cho BTCV của mình và đưa vào trong ngữ cảnh thông qua phát ngôn

Việc phân loại và miêu tả CV của các BTCV trong luận văn này cũng dựa vào việc xác định đúng thế giới khả hữu – HQC mà ở đó các sự vật được quy chiếu tồn tại Theo đó, thế giới hư cấu trong thơ Hồ Xuân Hương và Xuân Quỳnh có thể được

phân chia thành các bộ phận – HQC khác nhau như sau: thiên nhiên, con người, thực vật, động vật, ẩm thực, đồ dùng gia đình… Trong hoạt động giao tiếp, có khi một

biểu thức ngôn ngữ có thể được sử dụng để quy chiếu tới nhiều sự vật, đối tượng khác nhau trong những thế giới khả hữu khác nhau và các ngữ cảnh giao tiếp khác nhau Có khi tại một phát ngôn cụ thể, với một ngữ cảnh cụ thể thì chỉ có một sự vật tồn tại trong một HQC của biểu thức đó được quy chiếu đến Chính vì vậy, sau khi nhận diện CV cụ thể của BTCV, để phân loại và miêu tả các biểu thức chiếu vật về

người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh, chúng tôi

xác định HQC mà vật được quy chiếu tồn tại và được người sử dụng biểu thức đó hướng đến Xét ví dụ sau đây:

(a) Hồng hồng má phấn duyên vì cậy [Hồ Xuân Hương, Bài cái quạt-Bài 1,

trang 12]

Trang 25

(b) Son phấn dám đâu so ngọn bút [Hồ Xuân Hương, Bài Xuân Hương tặng

hiệp quận, trang 99]

Cả 2 BTCV trong ví dụ (a) và (b) đều là chiếu vật có từ ngữ biểu thị “phấn” trong 2 bài thơ khác nhau của Hồ Xuân Hương, nhưng sự vật mà chúng quy chiếu đến lại không giống nhau: Chiếu vật ở câu (a) quy chiếu đến đôi má hồng của người phụ nữ, còn chiếu vật ở câu (b) lại quy chiếu đến đồ trang sức mà người phụ nữ thường hay dùng Các sự vật được quy chiếu đó thuộc những HQC khác nhau: Nhóm CV con người (CV qua bộ phận cơ thể) câu (a), nhóm CV thế giới nhân tạo (CV về trang y phục) câu (b)

d Chiếu vật trong tác phẩm văn chương

Từ lí thuyết, các nhà ngôn ngữ học dần dần vận dụng các khái niệm sự chiếu vật, biểu thức chiếu vật, quy chiếu vào thực tiễn ngôn ngữ thơ ca Việc ứng dụng lí

thuyết chiếu vật vào thi ca để giải mã những điều mà lí luận văn học chưa làm được là một sự lựa chọn tất yếu Tuy nhiên, chiếu vật trong các tác phẩm văn chương đa dạng

và phức tạp hơn rất nhiều so với chiếu vật những diễn ngôn giao tiếp thông thường

Nếu như chiếu vật trong những diễn ngôn giao tiếp chỉ dừng lại ở các tiêu chí cấu trúc, chức năng và liên hệ thì chiếu vật trong các tác phẩm văn chương đòi hỏi hệ quy chiếu rộng và sâu hơn rất nhiều Để giải mã được toàn bộ hệ quy chiếu xuất hiện trong các tác phẩm văn chương, nhà nghiên cứu ngôn ngữ học không chỉ thấy được sự tương ứng giữa từ (hoặc giữa các đơn vị ngôn ngữ) với các sự vật, con người, hoạt động, tính chất trong hiện thực được nói tới mà còn đòi hỏi phải có một vốn hiểu biết sâu về lịch sử, văn hóa thời đại ra đời tác phẩm (ngữ cảnh rộng); cuộc đời, sự nghiệp của tác giả (ngữ cảnh hẹp), ngữ cảnh trực tiếp,… để có được những tiền giả định chính xác, lập thành một hệ quy chiếu phù hợp và đưa ra những ý nghĩa xác đáng nhất

Gớt đã từng nói: “Mọi lí thuyết chỉ là màu xám, còn cây đời mãi mãi xanh tươi” Quả vậy, lí thuyết sẽ mãi đóng khung trong tủ kính nếu không áp dụng vào

thực tiễn cuộc sống, giải quyết được những yêu cầu bức thiết của xã hội Cũng như thế, đưa chiếu vật đến gần các tác phẩm văn chương là một cách làm cần thiết,

Trang 26

không chỉ làm sáng lên những khái niệm khô cứng mà còn góp phần bổ sung thêm nhiều nội dung mới

Có thể nói, chiếu vật trong tác phẩm văn chương không còn là việc làm mới,

đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu như: chiếu vật trong các tác phẩm của Nguyễn Tuân, chiếu vật trong các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng hay chiếu vật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du,… nhưng ở mỗi đề tài, lí thuyết lại được soi rọi và thẩm thấu

ở nhiều phương diện khác nhau Ở luận văn này, chúng tôi chọn đối tượng và phạm

vi để khảo sát là biểu thức chiếu vật trong thơ của Hồ Xuân Hương và Xuân Quỳnh

để làm sáng tỏ hơn chiếu vật trong các tác phẩm văn chương

1.2 LÝ THUYẾT HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP

Sự chiếu vật thể hiện quan hệ giữa người sử dụng ngôn ngữ, người tiếp nhận ngôn ngữ và đối tượng trong thực tại khách quan mà ngôn ngữ biểu thị, chỉ nảy sinh trong hoạt động tương tác bằng ngôn ngữ của con người Do vậy, hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ cùng toàn bộ các nhân tố tham gia vào hoạt động đó chính là

“không gian sống”, “là cái nôi” mà ở đó chiếu vật tồn tại Trong luận văn này, việc

tìm hiểu những nhân tố cụ thể của hoạt động giao tiếp (người tạo lập, người tiếp nhận, ngữ cảnh cụ thể, diễn ngôn…) cũng chính là tìm hiểu những yếu tố ngôn ngữ

và phi ngôn ngữ liên quan đến việc sử dụng và tiếp nhận các BTCV về người phụ

nữ trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh

1.2.1 Các nhân tố của hoạt động giao tiếp

a Ngữ cảnh (situational context; context of situation)

G.Yule dùng thuật ngữ ngữ cảnh (context) là một loại môi trường phi ngôn ngữ trong đó ngôn ngữ được sử dụng

Nguyễn Thiện Giáp đưa ra nhận xét: “Muốn biết một câu nói ra phản ảnh sự tình như thế nào, có đúng hay không, phải biết sở chỉ của các thành tố của nó Muốn xác định sở chỉ của các thành tố cũng như sở chỉ của câu phải đặt câu vào tình huống khi phát ra nó Vì thế, khái niệm ngữ cảnh đặc biệt quan trọng trong ngữ dụng học Ngữ dụng học nghiên cứu những đặc trưng ngữ cảnh đã quyết định hoặc ảnh hưởng đến việc giải thích phát ngôn như thế nào” [25, tr 368- 369]

Trang 27

Tác giả cũng đưa ra một vài ví dụ để phân tích, chứng minh:

a Các hành tinh quay xung quanh các ngôi sao

b Nước sôi ở nhiệt độ 100 độ C

c Trời mưa

d Tôi khát nước

Câu a hầu như không lệ thuộc vào tình huống phát ngôn Nó có giá trị và được xem như một chân lý vĩnh cửu, đương nhiên Câu b có giá trị chân lý ở hầu như mọi nơi trong phạm vi trái đất của chúng ta Câu c phụ thuộc vào thời gian và

nơi phát ngôn Câu d phụ thuộc vào sở chỉ của tôi và thời gian phát ngôn

Theo Đỗ Hữu Châu:“Bối cảnh ngoài ngôn ngữ của một phát ngôn hay là những thông tin ngoài ngôn ngữ góp phần tạo nên nghĩa (của phát ngôn)” [8, tr.97]

Các nhà ngôn ngữ học phân biệt hai loại ngữ cảnh: ngữ cảnh tình huống (context of situation) và ngữ cảnh văn hóa (context of culture) Ngữ cảnh tình huống là ngữ cảnh của một hiện tượng ngôn ngữ, của một văn bản, của một trường hợp cụ thể của ngôn ngữ Ngữ cảnh tình huống là thế giới xã hội và tâm lý trong đó,

ở một thời điểm nhất định người ta sử dụng ngôn ngữ Nó có thể bao gồm sự hiểu biết về vị thế của người nói và người nghe, sự hiểu biết về vị trí, thời gian, sự hiểu biết về phép xã giao trong xã hội và sự hiểu biết về mã ngôn ngữ dùng (nói hoặc viết), sự hiểu biết về nội dung giao tiếp và bối cảnh giao tiếp Ngữ cảnh tình huống bao gồm cả sự chấp nhận ngầm của người nói và người nghe về tất cả các quy ước, niềm tin và các tiền đề được coi là đương nhiên của các thành viên trong cộng đồng của người nói và người nghe

Ngữ cảnh văn hóa là ngữ cảnh của ngôn ngữ với tư cách là một hệ thống Nó bao gồm hàng loạt nhân tố văn hóa như phong tục, tập quán, các chuẩn mực, quan niệm, sự kiện lịch sử, những tri thức về tự nhiên và xã hội, về chính trị và kinh tế [24, tr.24-25]

Để chứng minh những luận điểm của mình, tác giả đưa ra ví dụ:

“Trông xa cứ tưởng Thúy Kiều

Lại gần mới biết người yêu Chí Phèo”

Trang 28

Nếu người đọc không biết truyện Kiều của Nguyễn Du hay người yêu Chí Phèo

là ai trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao, thì khó đoán và hiểu được câu thơ trên

Theo Bùi Minh Toán, trong cuốn “Ngôn ngữ với văn chương”, tác giả cho rằng:“Ngữ cảnh giao tiếp đó là bối cảnh diễn ra hoạt động giao tiếp và luôn luôn chi phối hoạt động giao tiếp, chi phối nội dung, hình thức của văn bản, chi phối cách thức giao tiếp”[48, tr 68]

b Ngôn ngữ (language)

Thông thường, ngôn ngữ được hiểu là tiếng nói của con người, dùng để biểu hiện nội dung ý nghĩ, těnh cảm, tâm tư, và trao đổi nội dung đó với người khác Mỗi cuộc giao tiếp đều sử dụng một ngôn ngữ cụ thể nào đó làm phương tiện, nên nói tới ngôn ngữ trong vai trò là nhân tố giao tiếp cũng chính là nói tới ngôn ngữ cụ thể

mà các đối ngôn sử dụng trong cuộc giao tiếp của họ “Mỗi cuộc giao tiếp đều sử dụng một ngôn ngữ cụ thể nào đó làm phương tiện, nên nói tới ngôn ngữ trong vai trò là nhân tố giao tiếp cũng chính là nói tới ngôn ngữ cụ thể mà các đối ngôn) Những nhân tố biến thể và nhân tố loại thể nhất định để lại những dấu vết đối với diễn ngôn về hình thức, về nội dung, chi phối diễn ngôn cả về phía sản sinh và phía tiếp nhận” [8, tr.122]

Các nhân tố về ngữ cảnh và ngôn ngữ kể trên cần thiết được các đối ngôn lĩnh hội, hiểu biết về chúng và có ý thức đưa chúng vào hoạt động giao tiếp Như vậy, xét cho cùng, nhân tố con người (mà ở đây cụ thể là các đối ngôn) vẫn giữ vai trò trung tâm, quyết định đối với các nhân tố còn lại

c Diễn ngôn (discourse)

“Diễn ngôn là bộ phận hợp thành sự kiện lời nói và tổ hợp các sự kiện lời nói hình thành một cuộc giao tiếp Các chức năng giao tiếp được thực hiện bằng các diễn ngôn và cụ thể hóa thành phần của diễn ngôn” [8, tr 198]

Theo Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn Giáo trình Ngôn ngữ học, tác giả định nghĩa khái niệm diễn ngôn như sau: “Diễn ngôn là bất cứ một ngôn phẩm nào nói hoặc viết nào Mỗi diễn ngôn có thể được một người nói hoặc người viết riêng biệt tạo ra, cũng có thể được hai hoặc hơn hai người tham gia hội thoại hoặc trao đổi viết với nhau tạo ra” [tr 433]

Trang 29

Mỗi nhà nghiên cứu đều có cách nhìn nhận khác nhau nhưng tựu chung các quan điểm đều thống nhất cho rằng Diễn ngôn đều chỉ các ngôn phẩm, viết hoặc nói, dài hay ngắn, tạo nên tổng thể nhất, có chức năng giao tiếp xác định Và xu hướng hiện nay có quan điểm cho rằng diễn ngôn dùng để chỉ những ngôn phẩm nói diễn ra tự nhiên như diễn ngôn hội thoại, phỏng vấn, tọa đàm, nói chuyện…

Hay nói cách khác, có thể hiểu diễn ngôn vừa là sản phẩm được tạo ra trong giao tiếp, vừa là phương tiện giao tiếp, qua đó người phát thể hiện nội dung giao tiếp, còn người nhận lĩnh hội nội dung giao tiếp

Diễn ngôn có hai phương diện: hình thức và nội dung Hình thức của diễn ngôn bao gồm tất cả các yếu tố ngôn ngữ (thuộc ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ dụng…) và các yếu tố phi ngôn ngữ (yếu tố kèm lời và phi lời) được dùng khi các đối ngôn tạo ra diễn ngôn Nội dung của diễn ngôn gồm hai thành phần: thành phần nội dung thông tin

(hay nội dung miêu tả) “Thực hiện chức năng thông tin của giao tiếp, thuộc lĩnh vực nghĩa học của tín hiệu học và bị quy định bới tính đúng-sai logic” [8, tr.148] và thành

phần nội dung liên cá nhân ứng với các chức năng còn lại của giao tiếp (các chức năng: tạo lập quan hệ, biểu hiện, giải trí, hành động) thuộc về lĩnh vực dụng học của tín hiệu học và không bị quy định bởi tính đúng-sai logic Tuy nhiên, hai thành phần nội dung này không tách rời nhau trong diễn ngôn

Tóm lại, các nhân tố giao tiếp kể trên (ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn) không tách rời nhau trong hoạt động giao tiếp mà ngược lại chúng tác động qua lại, tạo thành

sự vận động chung của cuộc giao tiếp mà ở đó con người-người tham gia giao tiếp-nắm giữ vai trò điều phối và tác động lẫn nhau

1.2.2 Các nhân tố giao tiếp và chiếu vật

Ngữ dụng học là một ngành khoa học mới mẻ nghiên cứu quan hệ giữa ngôn ngữ và các sản phẩm của ngôn ngữ với ngữ cảnh Trong đó nhân tố giao tiếp là một trong những khái niệm nền tảng Nó không chỉ được những chuyên gia về ngữ dụng học quan tâm mà còn thu hút các nhà ngôn ngữ học tìm hiểu nghiên cứu

Đỗ Hữu Châu có công trình nghiên cứu chuyên sâu về nhân tố giao tiếp

trong “Đại cương ngôn ngữ học” Đây là một công trình nghiên cứu khá đầy đủ, sâu

Trang 30

sắc và toàn diện về nhân tố giao tiếp Theo ông nhân tố giao tiếp gồm ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn Các nhân tố này luôn có mặt trong cuộc giao tiếp, chi phối cuộc giao tiếp đó và chi phối diễn ngôn về hình thức cũng như nội dung

a Đối ngôn (tác giả và bạn đọc)

Hoạt động văn chương là hoạt động giao tiếp vì nó có tất cả các yêu cầu và nhân tố của một hoạt động giao tiếp ngôn ngữ thông thường, như: tác giả (người phát), tác phẩm (văn bản, diễn ngôn, thông điệp), độc giả (người nhận) và bao gồm hai quá trình: sáng tác (phát tin) và tiếp nhận (nhận tin)

Trong giao tiếp ngôn ngữ thông thường, tác giả (người phát) thường là một

cá nhân Trong giao tiếp văn chương, quá trình tiếp nhận và độc giả đóng vai trò quan trọng Độc giả không phải đóng vai trò thụ động mà đóng vai trò tích cực, không chỉ tham gia trong việc lĩnh hội tác phẩm sau khi nhà văn hoàn thành nó mà chi phối ngay từ khi tác phẩm được thai nghén và ở trong quá trình sáng tác Giống như trong giao tiếp ngôn ngữ thông thường, các nhân vật giao tiếp luôn luôn chi phối và tương tác, người nói không phải muốn nói gì thì nói, người nói muốn cho lời nó của mình đạt được mục đích và hiệu quả giao tiếp thì luôn luôn cần quan tâm đến người nghe, luôn luôn cần có những hiểu biết về người nghe, luôn luôn tìm tòi

và thấu hiểu người nghe Khi sáng tác văn chương, tác giả cũng không phải muốn viết gì thì viết, muốn viết như thế nào cũng được, mà còn phải viết theo nhu cầu, mong muốn cũng như cách nhìn của độc giả

Xét về mối quan hệ giữa tác giả và độc giả, giữa quá trình sáng tác và quá trình tiếp nhận và độc giả góp phần sự sống của tác phẩm Khi nào có sự tiếp nhận của độc giả thì khi đó có tác phẩm mới thực sự có cuộc sống của nó và chừng nào còn người đọc thì chừng đó tác phẩm còn tiếp tục sự sống

b Ngữ cảnh, tình huống giao tiếp

Như vậy có thể thấy, vấn đề trung tâm mà ngữ dụng học quan tâm là hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ của con người xét trong tương quan với ngữ cảnh Hoạt động giao tiếp đó chịu sự chi phối, tác động của những nhân tố nhất định mà

Đỗ Hữu Châu gọi là nhân tố giao tiếp Chính vì vậy mà khi xem xét một phát ngôn

Trang 31

ta cần trả lời những câu hỏi như: ai nói, nói với ai, nói trong hoàn cảnh nào, nói về cái gì và nói nhằm mục đích gì Giải quyết được những câu hỏi đó là ta đã hiểu

được ý nghĩa của phát ngôn Hay khi giao tiếp với một người nào đó thì những câu hỏi tương tự như vậy cũng luôn chi phối chúng ta buộc chúng ta phải lựa chọn cách ứng xử và có hành vi ngôn ngữ cho phù hợp với ngữ cảnh Đây cũng là một trong những vấn đề chủ yếu mà các nhà ngữ dụng học quan tâm Có thể thấy điều này trong các công trình nghiên cứu về ngữ dụng học của Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Đức Dân Các tác giả đều xem ngữ cảnh là một trong những khái niệm nền tảng không thể thiếu trong một công trình nghiên cứu về ngữ dụng học

Giao tiếp là một dạng hoạt động quan trọng của con người, là nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống con người Nó diễn ra thường xuyên ở mọi nơi, mọi lúc bởi vì không ai có thể sống cô độc, lẻ loi mà không cần giao tiếp, tiếp xúc với người khác

Có thể nói một hoạt động giao tiếp được diễn ra khi có ít nhất hai người gặp nhau và bày tỏ với nhau về một điều gì đấy như niềm vui, nỗi buồn, ý muốn hành động hay một nhận xét nào đấy về sự vật xung quanh

Hoạt động giao tiếp có thể được tiến hành bằng nhiều phương tiện khác nhau như: ngôn ngữ, nét mặt, dáng điệu, cử chỉ… trong đó, giao tiếp bằng ngôn ngữ

là phổ biến và tiện lợi hơn cả Không chỉ thế, ngôn ngữ còn là phương tiện giao tiếp

có hiệu quả nó giúp cho con người bộc lộ và truyền đạt được mọi điều trong khi các phương tiện giao tiếp khác có sự hạn chế hơn Vậy giao tiếp là gì? Vấn đề này đã được các nhà ngôn ngữ học định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Ở đây chúng tôi xin chọn định nghĩa sau: Giao tiếp là một dạng hoạt động của con người, là quá trình truyền-nhận thông điệp từ một người gửi đến một hay nhiều người nhận trong một môi trường nhất định

Do đó, giao tiếp nói chung, giao tiếp bằng ngôn ngữ nói riêng không những

là một nhu cầu tất yếu của con người mà còn là một điều kiện không thể thiếu cho

sự hình thành, tồn tại và phát triển của con người và của xã hội loài người, của cộng đồng ngôn ngữ

Trước hết, ngôn ngữ và giao tiếp bằng ngôn ngữ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự trưởng thành và phát triển của con người Khi mới sinh ra một đứa bé

Trang 32

chỉ cất tiếng khóc chào đời, không có sự di truyền ngôn ngữ, chỉ có qua sự tiếp xúc với những người xung quanh, với cộng đồng xã hội mà học hỏi, tích lũy dần dần vốn ngôn ngữ cho bản thân cũng như qua giao tiếp mà mỗi cá nhân tiếp thu và tích lũy dần những kinh nghiệm sống, những kiến thức về tự nhiên và về xã hội loài người Có thể nói, ngôn ngữ và qua giao tiếp bằng ngôn ngữ chúng ta đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội, làm cho xã hội càng mang tính người nhiều hơn Bởi, đó là một dạng hoạt động của ý thức nhằm góp phần trao đổi,

kế thừa, bảo tồn hoặc phát triển các giá trị văn hóa đã được sáng tạo và tích lũy trong lịch sử để qua đó con người có thể thỏa mãn các nhu cầu văn hóa tinh thần của mình Đó là điều kiện thiết yếu cho sự phát triển của con người và xã hội trong bất cứ môi trường, hoàn cảnh nào Giao tiếp bằng ngôn ngữ giúp con người trao đổi những nhận thức, tâm tư và tình cảm được tiện lợi và dễ dàng hơn Nhờ đó mà con người hiểu nhau hơn, xích lại gần nhau hơn Ngoài ra ngôn ngữ và giao tiếp bằng ngôn ngữ còn đóng vai trò không thể thiếu trong sự hình thành, tồn tại và phát triển của cộng đồng ngôn ngữ và toàn thể xã hội loài người

Tình huống giao tiếp là trạng thái trực tiếp do tác động của các nhân tố giao tiếp trong một cuộc giao tiếp cụ thể mà có

Sự chiếu vật không phải là kết quả hoàn thành của hoạt động giao tiếp mà là

sự phối hợp của các quá trình đan xen đồng thời trong giao tiếp: quá trình tạo lập và quá trình tiếp nhận sự chiếu vật Sự phối kết hợp của hai quá trình này sẽ tạo nên diễn tiến và quyết định thành công của cuộc giao tiếp giữa các nhân vật giao tiếp Như vậy, nếu xét về chức năng giao tiếp của ngôn ngữ thì sự chiếu vật là một trong những cơ sở đầu tiên và quan trọng nhất để con người có thể tiến hành giao tiếp bằng ngôn ngữ Nói cách khác, hoạt động giao tiếp được tiến hành trước tiên là dựa trên việc thực hiện liên tiếp, luân phiên các hành động quy chiếu và giải quy chiếu của các nhân vật giao tiếp Nó cho thấy vai trò của sự chiếu vật trong sự tương tác

xã hội giữ người với người Trong quá trình tương tác ấy, con người sẽ tự bộc lộ mình qua cách mà anh ta thực hiện sự chiếu vật

Mối quan hệ giữa các nhân tố giao tiếp và sự chiếu vật như trên chính là một trong những cơ sở lý luận cho việc triển khai đề tài của luận văn này Mỗi tác phẩm

Trang 33

trong tập thơ Không bao giờ là cuối của Xuân Quỳnh hay trong tập Thơ Hồ Xuân Hương đều có tư cách như là sản phẩm của các hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

(giao tiếp nghệ thuật) và trong hoạt động đó luôn tồn tại sự tương tác giữa các nhân tố giáo tiếp như các đối ngôn (tác giả và bạn đọc), ngữ cảnh, tình huống giao tiếp và ngôn ngữ (ngôn ngữ nghệ thuật) Tất cả các nhân tố này đều được vận dụng trong việc nhận diện các BTCV và CV của chúng trong luận văn

c Ngôn ngữ nghệ thuật

Văn chương là loại hình nghệ thuật dùng ngôn ngữ làm chất liệu Là nghệ thuật ngôn từ hay ta có thể nói cách khác ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của nghệ thuật văn chương: không có ngôn ngữ không có nghệ thuật văn chương Từ xa xưa, ông cha ta đã dùng ngôn ngữ làm chất liệu cho nghệ thuật văn chương, kể cả khi chưa

có chữ viết; tạo nên một nền văn chương dân gian phong phú với nhiều thể loại: thơ

ca, truyện kể, thần thoại, sử thi, tục ngữ, ca dao…

Sử dụng ngôn ngữ để sáng tạo nghệ thuật văn chương, tác giả (và cả độc giả) thực hiện hoạt động nhận thức, tư duy Có điều hoạt động nhận thức tư duy trong nghệ thuật có đặc tính riêng, mang tính nghệ thuật nên thường được gọi là tư duy hình tượng để phân biệt với tư duy bằng ngôn ngữ trong sinh hoạt hàng ngày hay

trong lĩnh vực khoa học

1.3 GIỚI THIỆU VỀ HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ XUÂN QUỲNH

1.3.1 Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương và tập Lưu Hương Kí

Trong văn học Việt Nam, cho đến nay, dù đã được nghiên cứu từ lâu nhưng thế giới nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hương vẫn còn nhiều vấn đề bỏ ngõ, còn phải được nghiên cứu sâu và hệ thống từ các lí thuyết tiếp cận mới Tuy vậy, bà vẫn được mệnh danh và được người đời ca tụng là bà Chúa Thơ Nôm, một nữ thi sĩ tài

ba, một con người độc đáo và một người phụ nữ “xưa nay hiếm” trong thời đại bấy

giờ Nhận xét về bà, nhà thơ Xuân Diệu viết: “Xuân Hương không những than cho người đàn bà dưới chế độ phong kiến mà bản thân mình là một người bị cái guồng phong kiến xã hội ấy nó nghiền cuộc đời Xuân Hương đã nói một cách trần trụi nhất với cái mạnh mẽ của sự phản kháng, Hồ Xuân Hương đã gắn chặt mình cùng

Trang 34

với số phận của người đàn bà nói chung trong xã hội cũ” [44, tr 27- 28]

Theo sử sách ghi chép lại, bà vốn xuất thân từ dòng dõi họ Hồ, tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Hồ Xuân Hương được biết đến là một người thông minh, có tài, rất mong mỏi được một người chồng xứng đáng nhưng đường tình duyên trắc trở, đầy đau khổ Theo lưu truyền, bà phải hai lần lấy chồng là hai lần làm lẽ Một lần làm vợ kế Tổng Cóc - một cường hào dốt nát, bà đã “bé cái nhầm” nên khi Tổng Cóc chết bà đã khóc với một giọng rất dửng dưng, lạnh nhạt:

“Hăm bảy tháng trời đà mấy chốc

Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ơi!”

[Khóc ông Phủ Vĩnh Tường]

Về thơ văn của Hồ Xuân Hương còn lại cho đến nay là do lưu truyền và người đời sau ghi chép lại Theo các nhà nghiên cứu cho rắng sáng tác của Hồ Xuân Hương có hải mảng: thơ Nôm truyền tụng và Lưu Hương ký Về Thơ Nôm truyền

tụng có rất nhiều ý kiến khác nhau về số lượng bài Theo GS Lê Trí Viễn: “Thơ Nôm truyền tụng được ghi lại và xuất bản lần đầu tiên với nhan đề “Xuân Hương thi tập” năm 1913 Từ đó về sau các sách Nôm có, quốc ngữ có, in có, chép tay có, đều có chép thơ Xuân Hương nhưng rất xô bồ, linh tinh Tính các bài được tất cả các sách ấy nhất trí cho là của Xuân Hương hoặc nhiều người công nhận là của Hồ Xuân Hương thì có khoảng 40 bài Chưa kể cùng một bài mà chép rất khác nhau, không phải khác nhau hàng đôi chữ mà khác nhau hàng mấy câu, cả khác nhau về tinh thần bài thơ Bốn mươi bài ấy, không hẳn bài nào cũng của Hồ Xuân Hương

Trang 35

mà bài của Xuân Hương cũng chắc gì giữ được nguyên văn của tác giả” [55, tr.8]

Về Lưu Hương Ký: Hàng trăm năm đã trôi qua, bà được biết đến là bà chúa Thơ Nôm Lưu Hương Ký là một tập thơ chủ yếu về tình yêu với một giọng trữ tình, tất cả toát lên một tình cảm rất chân thành, thiết tha, cởi mở của một người muốn yêu và được yêu, nhiều bài thơ là một tiếng thở dài ngậm ngùi, như khắc khoải cho những mối tình không trọn vẹn

Tóm lại, cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Hồ Xuân Hương vẫn còn là một bí ẩn Hồ Xuân Hương là một hiện tượng độc đáo của Việt Nam, có lẽ và cả thế giới Qua những tác phẩm của bà, người đọc có thể thấy được chế độ phong kiến thời Hồ Xuân Hương sống đi vào suy đồi, thoái trào Nhân dân lao động trong đó có phụ nữ đã đứng lên đòi quyền sống của họ, đòi quyền được hạnh phúc, được yêu và

kể cả là tình yêu thể xác; người đọc cũng thấy được sức sống mãnh liệt, nỗi khát vọng của người phụ nữ tài hoa nhưng bất hạnh, một người phụ nữ không bao giờ bị khuất phục, đầy bản lĩnh

1.3.2 Xuân Quỳnh - người đàn bà làm thơ

Xuân Quỳnh (1942-29/8/1988) tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh Xuất thân trong một gia đình công chức, mẹ mất sớm, bố thường xuyên công tác xa gia đình, chị được bà nội nuôi dạy từ nhỏ đến khi trưởng thành

Xuân Quỳnh là diễn viên múa từ năm 13 tuổi, có thơ đăng báo năm 19 tuổi, kết hôn với nhà viết kịch, nhà thơ Lưu Quang Vũ Từ năm 1978 đến lúc mất Xuân Quỳnh làm biên tập viên Nhà xuất bản Tác phẩm mới

Chủ đề thơ Xuân Quỳnh thường là những vấn đề nội tâm: kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu gia đình Chính bối cảnh và không gian sống thời bấy giờ chi phối hầu hết các tác phẩm thơ của chị Chính vì lẽ đó, thơ Xuân Quỳnh hướng nội, rất tâm trạng

cá nhân Thơ chị là đời sống đích thực, đời sống của chị trong những năm đất nước còn chia cắt, còn chiến tranh, còn nghèo, còn gian khổ, là những lo toan con cái, cơm nước, cửa nhà của một người phụ nữ, người phụ nữ làm thơ thường ngược xuôi trên mọi ngả đường bom đạn Thơ chị viết như kể lại những gì chị đã sống, đã từng trải Nét riêng của Xuân Quỳnh so với thế hệ nhà thơ hiện đại cùng thời chính

là ở khía cạnh nội tâm đó

Trang 36

Nếu như Hồ Xuân Hương được mệnh danh là nữ thi sĩ độc đáo vô song với cách chơi chữ vô cùng đặc biệt, khiến các nhà nghiên cứu phải “mòn lưng gảy bút” thì Xuân Quỳnh là một tác giả nữ có phong cách và bản sắc riêng khá rõ nét trong nền văn học Việt Nam hiện đại Xuân Quỳnh đã để lại cho đời một di sản văn học thật đáng quý và trân trọng Dù ở thể loại nào, từ những bài thơ “tự sự” những vấn

đề của đất nước hay trở về “đúng nghĩa” trái tim với những tình cảm riêng tư, thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng là tiếng nói rất riêng của một tâm hồn phụ nữ thông minh, sắc sảo đầy nữ tính Đó là cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Quỳnh: cái tôi nồng nàn, đắm say, yêu thương, khát khao hạnh phúc mà vị tha sẵn sàng hy sinh dâng hiến; cái tôi táo bạo, chủ động, quyết liệt, hiện đại; cái tôi tràn đầy tình yêu cuộc sống mà nặng trĩu mặc cảm, lo âu

Có lẽ, từ quan niệm và thái độ quyết liệt ấy, ngay từ chặng đầu cuộc đời cầm bút của mình, Xuân Quỳnh đã đạt tới cái tôi trữ tình đẹp đẽ và sâu sắc hơn người:

“Tôi đã đi đến tận cùng xứ sở

Đến tận cùng đau đớn, đến tình yêu!”

[Thơ tình cho bạn trẻ]

Với khát khao thể hiện cái tôi của mình trước cuộc đời, Xuân Quỳnh đã tìm

ra bản lĩnh thơ của mình một cách thật tự nhiên Tình cảm chị thế nào, lòng thương yêu cuộc sống của chị thế nào, muốn yêu thì phải gắng sức, phải hy sinh cách nào…chị bày tỏ bằng một ngôn ngữ giản dị, đầy tình thương mến, và nó thành cốt cách thơ của chị Đó là một bản lĩnh thơ mạnh và sâu đặc biệt trong thơ thời kháng chiến chống Mỹ

“Mẹ ru tôi hạt cát sạn hàm rang

Vừa lớn khôn tôi đã biết đào hầm

Dưới bom đạn gió Lào vẫn thổi

Và trên cát có thêm cồn cát mới

Cỏ mặt trời lăn như bánh xe

Máu đồng đội và máu tôi đã đổ

Trên cát này mà gió quạt vừa se

Trang 37

Tôi sẵn lòng đem hiến cả đời tôi

Cho cát trắng và gió Lào quạt lửa”

[Gió Lào cát trắng]

Sau này, chị có thêm các tập Gió Lào cát trắng (1974), Sân ga chiều em đi (1984), Tự hát (1984), Lời ru trên mặt đất (1987), Hoa cỏ may (1989) Chị còn viết một số tập thơ và truyện cho thiếu nhi

Tập thơ “Không bao giờ là cuối” là tuyển tập thơ giới thiệu một cách đầy đủ

về cuộc đời và sự nghiệp thi ca của nữ thi sĩ tài hoa bạc mệnh Xuân Quỳnh

Phần đầu của cuốn sách có tên gọi “Dẫu biết chắc rằng anh trở lại” - là những bài

thơ tình đã từng khiến bao thế hệ bạn đọc say đắm, đặc biệt là mảng thơ viết tặng Lưu Quang Vũ, người mà chị yêu sâu sắc đến tận những phút giây cuối cùng của

cuộc đời Phần 2 của cuốn sách là những trăn trở, suy ngẫm của tác giả về “Những năm tháng không yên của đất nước và lòng người” Phần cuối cùng của tuyển tập -

“Bầu trời trong quả trứng” là một Xuân Quỳnh dí dỏm, thơ trẻ với những sáng tác

cho thiếu thi Cùng với những trang viết, trang thơ, cuốn sách còn giới thiệu đến người xem những bức họa của họa sĩ Lương Xuân Đoàn, đặc biệt, phần thơ thiếu nhi còn có những bức minh họa của Lưu Quỳnh Thơ - con út của Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh

Bao năm qua, những bài thơ mang đậm hình ảnh, cảm xúc về cuộc sống và tình yêu ấy đã tạo nên 1 dấu ấn riêng về phong cách, chiếm tình cảm lớn trong lòng độc giả cũng như tạo sự chú ý đối với các nhà phê bình văn học Một nhà nhiên cứu

đã từng viết: “Tiếng thơ Xuân Quỳnh là một tiếng nói mới của thơ dân tộc, tiếng nói phản ảnh chiều sâu của văn hóa dân tộc” Và đến Xuân Quỳnh, người đọc mới cảm

nhận thế giới cuộc sống phong phú, đa dạng đã được chị đưa vào thơ một cách tự nhiên và rất đỗi chân thành

Trang 38

thuyết chiếu vật và lý thuyết hoạt động giao tiếp Các khái niệm cơ bản của lý thuyết chiếu vật và khung lý thuyết để giải quyết tất cả nhiệm vụ của đề tài, chỉ ra cách tiếp cận của một số tác giả khác về các khái niệm: sự chiếu vật, CV, HQC, BTCV

Lý thuyết hoạt động giao tiếp cung cấp cho chúng tôi những khái niệm nền tảng

để có cái nhìn bao quát nhất về việc sử dụng ngôn ngữ và các nhân tố liên quan để giao tiếp diễn ra hiệu quả nhất Chúng tôi đã lấy việc xác định các nhân tố của hoạt động giao tiếp cụ thể giữa hai tác giả Hồ Xuân Hương và Xuân Quỳnh và người tiếp nhận làm một trong các căn cứ quan trọng để tiến hành nhận diện các BTCV về hình tượng người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và Xuân Quỳnh

Trang 39

CHƯƠNG 2 CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG NGÔN NGỮ THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ

THƠ XUÂN QUỲNH NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CÁI BIỂU ĐẠT

Như đã trình bày cách hiểu về BTCV với tư cách là các tín hiệu ngôn ngữ có hai mặt cái biểu đạt và cái được biểu đạt, chương 2 của luận văn sẽ miêu tả các BTCV về người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh trên bình diện thứ nhất - bình diện cái biểu đạt Trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ trình bày kết quả khảo sát và miêu tả các BTCV về người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương cũng như trong thơ Xuân Quỳnh ở hai phương diện cơ bản: cấu tạo và quan hệ kết hợp trên trục ngữ đoạn của chúng Trong chương này, chúng tôi còn trình này số liệu thống kê, phân loại cùng những miêu tả cụ thể trong từng ngôn ngữ thơ của hai tác giả và so sánh tìm điểm tương đồng, điểm khác biệt của các BTCV

về người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương và Xuân Quỳnh Ngoài ra, chúng tôi còn vận dụng một số vấn đề về lý thuyết ngữ pháp học (như vấn đề cấu tạo từ, cấu tạo cụm từ, cấu tạo câu, quan hệ ngữ pháp và ngữ nghĩa giữa các đơn vị ngôn ngữ ) để phân tích và làm sáng tỏ hơn nội dung cần giải quyết trong chương 2 2.1 CẤU TẠO CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG NGÔN NGỮ THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG

Hồ Xuân Hương được mệnh danh là Bà Chúa thơ Nôm với những bài thơ hay, độc đáo, vô cùng ý nghĩa viết về số phận, cuộc đời của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến Chính vì cách xây dựng cấu tứ lạ cùng những hình tượng độc đáo khiến thơ bà giữ một vị trí quan trọng trong lòng độc giả Lựa chọn nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương từ góc nhìn ngôn ngữ học, mà cụ thể là ngữ dụng học sẽ đem đến một góc nhìn mới, cách đánh giá mới về thơ Hồ Xuân Hương Trong phần đầu tiên của chương 2 này, chúng tôi đi sâu tìm hiểu, thống kê các biểu thức chiếu vật về người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương

Trang 40

2.1.1 Các biểu thức chiếu vật về người phụ nữ phân theo nhóm chủ đề

a Các biểu thức chiếu vật về người phụ nữ thuộc hệ chiếu vật thế giới tự nhiên

Bảng 2.1 Các nhóm BTCV về người phụ nữ từ HCV thế giới tự nhiên trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương

Ngày đăng: 14/05/2021, 15:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Diệp Quang Ban (2009), Ngữ pháp Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Việt Nam
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
[2] Hoàng Trọng Canh, Quế Mai Hương (2016), Văn hóa giao tiếp, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa giao tiếp
Tác giả: Hoàng Trọng Canh, Quế Mai Hương
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2016
[3] Nguyễn Tài Cẩn (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 1999
[4] Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng-ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng-ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1981
[5] Đỗ Hữu Châu (1986), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1986
[6] Đỗ Hữu Châu (1986), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Đại học và THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học và THCN
Năm: 1986
[7] Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương Ngôn ngữ học, tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
[8] Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở Ngữ dụng học, tập 1, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2003
[9] Đỗ Hữu Châu (2006), Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006
[10] Đỗ Hữu Châu (2005), Đỗ Hữu Châu tuyển tập, tập 1: Từ vựng-ngữ nghĩa, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Hữu Châu tuyển tập
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
[11] Đỗ Hữu Châu (2005), Đỗ Hữu Châu tuyển tập, tập 2: Đại cương- Ngữ dụng học- Ngữ pháp văn bản, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Hữu Châu tuyển tập
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
[12] Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2000), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
[13] Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán (2015), Nhập môn Ngôn ngữ học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2015
[14] Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học tập 1
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
[15] Hà Thị Dung (2014), Đặc điểm thơ nữ thế hệ chống Mỹ cứu nước, Luận án Tiến sĩ, Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn, Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm thơ nữ thế hệ chống Mỹ cứu nước
Tác giả: Hà Thị Dung
Năm: 2014
[16] Nguyễn Đức Dương (2003), Tìm về linh hồn tiếng Việt, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về linh hồn tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dương
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2003
[17] Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt: từ loại, NXB Đại học và THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt: từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: NXB Đại học và THCN
Năm: 1986
[18] Đinh Văn Đức (2010), Các bài giảng về từ pháp học tiếng Việt: từ loại nhìn từ bình diện chức năng, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bài giảng về từ pháp học tiếng Việt: từ loại nhìn từ bình diện chức năng
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2010
[19] Phạm Văn Đồng (1980), Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, Ngôn ngữ, số1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Năm: 1980
[20] F. de Saussure (2005), Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương (Cao Xuân Hạo dịch), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương
Tác giả: F. de Saussure
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w