1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu chiết tách, xác định thành phần hóa học của tinh dầu, dịch chiết và xác định công thức cấu tạo một số hợp chất từ lá vối

91 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu chiết tách, xác định thành phần hóa học của tinh dầu, dịch chiết và xác định công thức cấu tạo một số hợp chất từ lá vối
Tác giả Võ Duy Thành
Người hướng dẫn GS.TS. Đào Hùng Cường
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Hóa hữu cơ
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đào Hùng Cường, tôi đã học hỏi được rất nhiều kiến thức về hóa hữu cơ nói chung và việc nghiên cứu chiết tách, xác định thành phần hóa học của tinh dầu, dịch chiết và xác định công thức

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÓA HỌC

ĐÀ NẴNG, NĂM 2017

Trang 2

-*** -

VÕ DUY THÀNH

NGHIÊN CỨU CHIẾT TÁCH, XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA TINH DẦU, DỊCH CHIẾT VÀ XÁC ĐỊNH CÔNG THỨC CẤU TẠO MỘT SỐ HỢP CHẤT TỪ LÁ VỐI

Chuyên ngành: Hóa hữu cơ

Mã số: 60 44 01 14

LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

GS.TS ĐÀO HÙNG CƯỜNG

ĐÀ NẴNG, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả mới mà tôi công bố trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Đà Nẵng, ngày tháng 8 năm 2017

Tác giả

Võ Duy Thành

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để được đi học cao học tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Đà Nẵng, trước hết cho tôi được chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ths Phạm Viết Tích - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Nam cùng tập thể Phòng quản lý Chuyên Ngành của Sở đã tạo điều kiện để tôi được tham gia khóa học này Trong quá trình học và làm việc tại Trường đại học Sư phạm Đà Nẵng, dưới

sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo GS.TS Đào Hùng Cường, tôi đã học hỏi được rất nhiều kiến thức về hóa hữu cơ nói chung và việc nghiên cứu chiết tách, xác định thành phần hóa học của tinh dầu, dịch chiết và xác định công thức cấu tạo các hợp chất từ lá cây vối của Việt Nam nói riêng Để hoàn thành được luận văn thạc sỹ này, tôi xin gửi đến người thầy hướng dẫn trực tiếp tôi lời cảm ơn sâu sắc nhất với tất cả tình cảm chân thành cũng như lòng kính trọng của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa hóa học, các thầy cô trong bộ môn Hóa hữu cơ, khoa hóa, trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ cho tôi tham gia hoàn thành các nội dung môn học; các thầy cô hướng dẫn, các bạn sinh viên hỗ trợ cho tôi làm thực nghiệm tại các Phòng thí nghiệm của trường và Phòng sau đại học đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành các thủ tục để bảo vệ luận văn này

Cuối cùng, tôi xin được dành tất cả những thành quả trong học tập của mình dân tặng những người thân yêu trong gia đình, những người luôn ở bên cạnh động viên và giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ của mình

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 3

6 Bố cục của luận văn 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÂY VỐI 5

1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ CÂY VỐI 5

1.1.1 Tên gọi 5

1.1.2 Phân loại thực vật 5

1.1.3 Mô tả thực vật 7

1.1.4 Sự phân bố của cây vối 8

1.2 GIÁ TRỊ SỬ DỤNG CỦA CÂY LÁ VỐI 8

1.3 THÀNH PHẦN HÓA HỌC 10

1.3.1 Thành phần hóa học của lá cây vối 10

1.3.2 Thành phần hóa học của tinh dầu lá cây vối 13

1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚCVỀ CÂY VỐI 15

Trang 6

1.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 15

1.4.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 17

CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 19

2.1 NGUYÊN LIỆU 19

2.1.1 Đối tượng thực hiện 19

2.1.2 Xử lý nguyên liệu 19

2.2 THIẾT BỊ, DỤNG CỤ VÀ HÓA CHẤT 20

2.2.1 Thiết bị, dụng cụ 20

2.2.2 Hóa chất 21

2.3 PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM 21

2.3.1 Phương pháp xác định các thông số hóa lý 21

2.3.2 Phương pháp chiết mẫu lá cây vối bằng các dung môi hữu cơ 24

2.3.3 Phương pháp chưng cất tinh dầu lá cây vối 24

2.3.4 Phương pháp phân tích định danh, thành phần hóa học của tinh dầu và các dịch chiết từ lá cây vối 25

2.3.5 Phương pháp rắn – lỏng (chiết soxhlet) 266

2.3.6 Phương pháp sắc ký bản mỏng và sắc ký cột 27

2.4 NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 30

2.4.1 Sơ đồ nghiên cứu 30

2.4.2 Xác định các thông số hóa lí của nguyên liệu 31

2.4.3 Khảo sát ảnh hưởng của thời gian đến hàm lượng tinh dầu lá cây vối bằng phương pháp chưng cất 35

2.4.4 Khảo sát ảnh hưởng của thời gian đến quá trình chiết tách 36

2.4.5 Xác định thành phần hóa học và các hằng số hóa học của tinh dầu lá cây vối 37

2.4.6 Xác định thành phần hóa học của các dịch chiết từ lá cây vối 39

2.4.7 Phân lập, xác định công thức cấu tạo của chất sạch trong tinh dầu lá vối 40

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 41

Trang 7

3.1 XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ HÓA LÝ 41

3.1.1 Độ ẩm 41

3.1.2 Xác định hàm lượng tro toàn phần 41

3.1.3 Xác định hàm lượng kim loại nặng 42

3.1.4 Đánh giá cảm quan và xác định tính chất vật lý của tinh dầu lá cây vối 44

3.2 ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN ĐẾN CÁC QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU 45 3.2.1 Ảnh hưởng của thời gian đến quá trình chưng cất tinh dầu lá cây vối 45

3.2.2 Ảnh hưởng của thời gian đến hàm lượng cao chiết thu được bằng các dung môi hữu cơ 46

3.3 THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA DỊCH CHIẾT BẰNG CÁC DUNG M I HỮU CƠ 54

3.3.1 Thành phần hóa học trong dịch chiết n-hexane từ lá cây vối 54

3.3.2 Thành phần hóa học trong dịch chiết dichloromethane từ lá cây vối 57

3.3.3 Thành phần hóa học trong dịch chiết ethylacetate từ lá cây vối 59

3.3.4 Thành phần hóa học trong dịch chiết methanol từ lá cây vối 62

3.4 THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ CÁC HẰNG SỐ HÓA HỌC CỦA TINH DẦU LÁ CÂY VỐI 65

3.4.1 Thành phần hóa học của tinh dầu lá vối 65

3.4.2 Xác định các hằng số hóa học của tinh dầu lá vối 68

3.5 XÁC ĐỊNH CÔNG THỨC CẤU TẠO CỦA HỢP CHẤT HỮU CƠ TRONG TINH DẦU LÁ CÂY VỐI 70

3.5.1 Xác định hệ dung môi chạy cột bằng sắc ký bản mỏng 70

3.5.2 Kết quả phân lập các hợp chất từ tinh dầu lá vối 71

3.5.3 Xác định cấu trúc của hợp chất F6 72

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AAS: Atomic Absorption Spectrophotometric

GC-MS: Gas Chromatography Mass Spectrometry

UV-Vis: Ultravilet-Visible Spectroscopy

IR: Infrared Spectroscopy

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Hàm lượng tinh dầu lá cây vối ở các địa phương của tỉnh Nghệ An 13 1.2 Thành phần hóa học của tinh dầu lá cây vối của Vinh – Nghệ An 13 1.3 Thành phần hóa học của các cấu tử chính trong các tinh dầu lá cây

vối ở các địa phương khác nhau

14

2.1 Danh mục các hóa chất chính được sử dụng 21

3.2 Kết quả xác định tro toàn phần trong lá cây vối 42 3.3 Kết quả xác định hàm lượng kim loại nặng trong lá cây vối 43 3.4 Kết quả khảo sát tỉ trọng tinh dầu lá cây vối 44 3.5 Kết quả khảo sát lượng tinh dầu lá cây vối cất được theo thời gian 46 3.6 Ảnh hưởng của thời gian chiết đến hàm lượng cao chiết thu được

khi chiết mẫu lá cây vối bằng dung môi n-hexane

48

3.7 Ảnh hưởng của thời gian chiết đến hàm lượng cao chiết thu được

khi chiết mẫu lá cây vối bằng dung môi dichloromethane

50

3.8 Ảnh hưởng của thời gian chiết đến hàm lượng cao chiết thu được

khi chiết mẫu lá cây vối bằng dung môi ethyl acetate

51

3.9 Ảnh hưởng thời gian chiết đến khối lượng cao thu được khi chiết

mẫu lá cây vối bằng dung môi methanol

53

3.10 Thành phần hóa học trong dịch chiết n-hexane từ lá cây vối 55 3.11 Thành phần hóa học trong dịch chiết dichloromethane từ lá cây vối 58 3.12 Thành phần hóa học trong dịch chiết ethyl axetate từ lá cây vối 60 3.13 Thành phần hóa học trong dịch chiết methanol từ lá cây vối 63 3.14 Thành phần hóa học trong tinh dầu lá cây vối 66 3.15 Xác định chỉ số axit của tinh dầu lá vối 69 3.16 Xác định chỉ số este của tinh dầu lá vối 69 3.17 Xác định chỉ số xà phòng hóa của tinh dầu lá vối 70 3.18 Số liệu phổ NMR của hợp chất F6 và hợp chất tham khảo 76

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

2.1 Lá cây vối lúc thu hái tại huyện Quế Sơn 19

2.4 Sơ đồ phân lập, xác định công thức cấu tạo hợp chất sạch trong

tinh dầu lá vối

40

3.3 Mẫu tinh dầu cất từ mẫu lá cây vối chưa tách nước 45 3.4 Mẫu tinh dầu được từ mẫu lá cây vối đã tách nước 46 3.5 Đồ thị của quá trình chưng cất tinh dầu lá cây vối phụ thuộc thời

gian (ml/phút)

46

3.6 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của thời gian chiết đến hàm lượng

cao chiết thu được khi chiết mẫu lá cây vối bằng dung môi

n-hexane

49

3.7 Đồ thị ảnh hưởng của thời gian chiết đến hàm lượng cao chiết thu

được khi chiết mẫu lá cây vối bằng dung môi dichloromethane

50

3.8 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của thời gian chiết đến hàm lượng

cao chiết thu được khi chiết mẫu lá cây vối bằng dung môi ethyl

acetate

52

3.9 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng thời gian chiết đến khối lượng cao

thu được khi chiết mẫu lá cây vối bằng dung môi methanol

53

3.10 GC-MS của dịch chiết n-hexane từ lá cây vối 55 3.11 GC-MS của dịch chiết dichloromethane từ lá cây vối 57 3.12 GC-MS của dịch chiết etylaxetat từ lá cây vối 60 3.13 GC-MS của dịch chiết methanol từ lá cây vối 62

Trang 11

3.14 GC-MS của tinh dầu lá cây vối 65 3.15 Sắc ký bản mỏng của tinh dầu lá vối với hệ dung môi n-hexane:

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới nên có hệ thực vật rất phong phú và đa dạng, với hơn 12000 loài cây chia làm 2500 chi và 300 họ Đây là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá, cần được nghiên cứu để cung cấp nguyên liệu cho ngành hương liệu,

mỹ phẩm và hóa dược trong nước phát triển

Trong số các loài cây cần được quan tâm nghiên cứu có cây vối, cây vối có tên

khoa học là Cleistocalyx operculatus, thuộc họ Sim, Myrtaceae Vối là một dạng

cây nhỡ, cao 5-7 m Lá hình trứng rộng, dài 8 - 20 cm, rộng 5 -10 cm, hai mặt có

những đốm màu nâu Hoa vối gần như không có cuống, nhỏ, màu lục Quả vối hình

cầu, hay tựa hình trứng, đường kính 7-12 mm, xù xì Lá và cành non có mùi thơm

dễ chịu Ở nước ta, vối mọc hoang hoặc được trồng rộng rãi ở nhiều tỉnh để lấy lá

và nụ nấu nước uống, kích thích tiêu hóa, sắc lấy nước chữa các bệnh ngoài da như

chốc đầu, ghẻ lở Dịch nước vối còn có tác dụng lên vi khuẩn đường ruột, E coli,

các vi khuẩn Gram (+) gây bệnh viêm da Theo các tài liệu đã công bố, dịch chiết nước của nụ vối có tác dụng trợ tim, bảo vệ sự lipid hóa của tế bào gan Gần đây, một số nhà nghiên cứu của Việt Nam đã chỉ ra rằng, dịch chiết của nụ vối cũng có khả năng điều trị tiểu đường thông qua con đường ức chế enzyme α-glucosidase, giảm lượng đường huyết trên chuột [1], [2]

Nguyễn Xuân Dũng và các cộng sự đã công bố rằng trong nụ vối có chứa hàm lượng tinh dầu rất lớn Các tinh dầu này có khả năng kháng viêm, kháng khuẩn và chống oxi hóa rất mạnh Ngoài các thành phần hóa học là tinh dầu, vối còn có chứa các cấu trúc hóa học khác có khung oleanane-triterpenoids và các flavonoids bao gồm khung chalcon và khung flavone, rất nhiều thành phần hóa học chính có khung chalcone và chalcone chứa đường glucose hoặc saccarose thuộc vào các hợp chất dạng flavonoids đã được chiết ra từ nụ vối Ngoài ra, chúng khả năng chống oxi hóa

và ức chế enzyme cholinesterase là một loại enzyme gây ra bệnh mất trí nhớ, Alzheimer Một nghiên cứu mới đây cho thấy, các hợp chất tự nhiên có cấu trúc

Trang 13

dạng C-methylated flavonoids có thể ức chế enzyme neuraminidase, một enzyme rất quan trọng trong việc chống cúm H5N1 [2], [3]

Theo tìm hiểu của tôi về cây vối ở Việt Nam, cho đến nay, chỉ có số ít các tác giả có các công trình nghiên cứu sơ bộ về thành phần hóa học từ nụ vối thu hái ở Nam Định và Nghệ An Để đa dạng hơn về nghiên cứu thành phần hóa học của loại

cây này trên các vùng miền khác nhau, tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu chiết tách, xác định thành phần hóa học của tinh dầu, dịch chiết và xác định công thức cấu tạo một số hợp chất từ lá vối”

2 Mục tiêu nghiên cứu

c ti u chung: Xác định thành phần hóa học của tinh dầu, công thức cấu tạo một số hợp chất trong lá cây vối (Cleistocalyx operculatus), từ đó tạo tiền đề cho

việc nghiên cứu các hoạt tính sinh học cũng như tiến tới phân lập các hợp chất trong

lá cây vối để làm nguồn nguyên liệu cho sản xuất hương liệu và dược liệu

c ti u c th

- Nghiên cứu chiết tách, lựa chọn dung môi chiết thích hợp

- Nghiên cứu chưng cất tinh dầu từ lá cây vối hiệu quả, xác định thành phần hóa học của tinh dầu và dịch chiết từ lá cây vối

- Xác định công thức cấu tạo của một số hợp chất hóa học từ lá cây vối

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Lá cây vối được thu mua tại các huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Xác định một số chỉ tiêu hóa lý của lá vối

- Định danh thành phần hóa học của các dịch chiết từ lá cây vối bằng các dung môi: n-hexan, diclomethyl, ethylactate, methanol

- Chưng cất tinh dầu lá cây vối, định danh thành phần hóa học của tinh dầu vối

và xác định các hằng số hóa học của tinh dầu lá vối

- Phân lập làm giàu một số phân đoạn, xác định công thức cấu tạo một số hợp chất hóa học trong tinh dầu lá cây vối

Trang 14

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp sau:

4.1 Nghiên cứu lý thuyết

Thu thập, tổng hợp các tài liệu, tư liệu, sách báo trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài

Mô tả đặc điểm sinh thái, các ứng dụng của cây vối

+ Chưng cất tinh dầu lá cây vối bằng lôi cuốn hơi nước;

+ Phương pháp chiết soxhlet với các dung môi: n-hexan, ethyl axetate,

Trang 15

6 Bố cục của luận văn

Luận văn gồm 03 chương, 80 trang với 18 bảng, 19 hình (05 đồ thị và 14 ảnh)

Mở đầu

Chương 1 Tổng quan về cây vối

Chương 2 Nghiên cứu thực nghiệm

Chương 3 Kết quả và thảo luận

Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Quyết định giao đề tài luận văn (Bản sao)

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÂY VỐI

1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ CÂY VỐI

1.1.1 Tên gọi

Tên khoa học: Cleistocalyx operculatus (Roxb) Mer.et Perry

Thuộc chi: Cleistocalyx

Tên thường gọi: Cây vối, vối nhà

Tên đồng nghĩa: Eugenia operculata Roxb

1.1.2 Phân loại thực vật

a Khái quát về họ Sim (Myrtaceae)

Họ Sim là một họ lớn gồm 90 chi và 3000 loài, phân bố ở các vùng rừng nhiệt đới và Á nhiệt đới, chủ yếu ở châu Úc và châu Mỹ Cây thuộc họ Sim có đặc điểm thực vật như sau:

Cây gỗ lớn, cây nhỡ hoặc cây bụi Lá đơn, hoặc mép có khía răng, lá thường mọc đối nhau và có tuyến mỡ Hoa mục thành cụm ở nách hay ở đầu cành, có hình xim hoặc hình chùm Hoa đều lưỡng tính Đài hình ống dính hoàn toàn vào bầu hay chỉ dính một ít Lá đài gồm 4 – 5 cánh xếp lợp vào nhau, ít có ống dài nguyên Nhị xếp thành một hay nhiều dãy rời nhau hoặc dính ở gốc thành ống ngăn: bao phấn đính ở lưng hay ở gốc Đĩa mật không có hay nếu có thì thành hình vành khăn, che kín ở phí gốc vòi Bầu hoàn toàn hạ hay hạ một phần, có khoảng 4 -5 ô hay nhiều hơn; vòi đơn kéo dài, đầu tròn, rất ít khi chia từ 3 – 4 thùy; trong bầu thì noãn xếp thành hai hay nhiều dãy Quả nang hoặc thịt, có sợi và thường được bọc kín bởi ống đài Trong quả thường có một hạt, hạt có nội nhũ, phôi thẳng hay cong, đôi khi nạc với hai lá mầm không xa nhau

b Tổng quan về Chi (Cleitocalyx)

Chi Cleitocalyx là một chi tương đối lớn của họ Sim Ngoài đặc điểm chung của họ sim, các loài cây thuộc chi Cleitocalyx còn có đặc điểm thực vật riêng: quả

Trang 17

nạc, khi chín không nở Vòi không có lông, ô quả không có vách ngang chi thành ô nhỏ, ống đài nguyên hay rách bất định, đài nguyên thành mũ, quả mập có một hạt Cụm hoa xim hay chùy

Sau đây, tôi xin giới thiệu một số cây đại diện thuộc chi Cleitocalyx thường thấy ở Việt Nam

 Cleitocalyx circumcissa

Tên ở Việt Nam là Trâm

Đặc điểm thực vật: Cây đại mộc cao 15m, nhánh mảnh, lá có phiến xoan thon, dài từ 4 -7 cm, chót có mũ, có đốm trong gân phụ, rất mảnh, nụ cao 13 mm, rộng 3

mm, phần của đài và cánh hoa làm thành một lớp rụng sớm với nhị, noãn gồm 3 buồng, quả mập Phân bố chủ yếu ở tỉnh Đồng Nai

 Cleitocalyx nervosum

Tên ở Việt Nam là Trâm nấp vối

Đặc điểm thực vật: Cây đại mộc trung, nhánh non dẹp, không lông Lá có phiến bầu dục thon, dài 12 -13 cm, có đốm nâu, gân phụ vào 10 cặp, gân cách bìa từ

3 -5 mm Phát hoa ở nách lá rụng, cao từ 5 - 8 cm, đài hình đĩa hơi đứng, nắp cao, hoa có 4 cánh, cao 3 mm, có nhiều tiểu nhụy Phì quả tròn hay dài, to từ 7 – 14 mm,

đỏ hoặc đỏ đen chói, một hạt và nạc ngọt Phân bố ở khắp cả nước

 Cleitocalyx consperipuactatus

Tên ở Việt Nam là vối nước

Đặc điểm thực vật: Cây gỗ thường xanh, cao từ 20 – 25 m Cành non màu nâu xám, hình vuông, lúc già hình cột tròn Vỏ dày từ 6 - 8 mm Lá đơn, mọc đối, hình bầu dục dạng trứng ngược dài từ 6 – 12 cm, rộng từ 2.5 – 5.5 cm, đầu tròn tù Hoa mọc cụm, sinh ra đầu cành Hoa lưỡng tính, đài đính thành một thể dạng mũ, lúc nở hoa rụng dạng vòng Nhiều nhị, rời nhau, lúc chồi hoa cong vào Quả mọng hình cầu hay hình trứng, lúc chín có màu nâu tím Hoa nở vào 2 mùa, tháng 3 và giữa tháng 7 hằng năm Chủ yếu phân bố ở các tỉnh: Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa thiên Huế, Nghệ An, Thanh Hóa, Gia Lai và Kon Tum

 Cleitocalyx nigrans

Trang 18

Tên Việt Nam là Trâm lá đen

Đặc điểm thực vật: Cây đại mộc nhỏ, nhánh vàng đỏ Lá có phiến bầu dục, màu nâu đen trên mặt lúc khô, gân phụ cách nhau 2 -3 mm, cuống dài 1 cm Chùm

tụ tán cao 6 cm ở ngọn nhánh, hoa trắng, nụ dài 5 mm, hoa 5 cánh rụng 1 lượt, tiểu nhị nhiều Quả mập tròn, to hơn 1 cm, một hạt, lúc khô có màu đen Phân bố chủ yếu ở các quận Thủ Đức - thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương

 Cleitocalyx rehnerinus

Tên Việt Nam là vối gân mạng

Đặc điểm thực vật: Cây đại mộc nhỏ, nhánh tròn xám, to từ 2 - 3 mm Lá có phiến bầu dục đến trái xoan, dài từ 9 - 14 cm, rộng từ 5 – 7 cm, chót lá rộng, đáy tròn, gân phụ mịn, cách nhau từ 4 – 8 mm, gân cách bìa từ 2 -3 mm Phát hoa ở lá

và ngọn Hoa như không cọng, cao khoảng 7 mm, đài rụng thành chóp, tiểu nhụy nhiều Trái tròn, to khoảng 1.5 mm Phân bố chủ yếu ở tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa

có tanin, một số chất khoáng, vitamin và khoảng 4% tinh dầu với mùi thơm dễ chịu

và có một chất kháng sinh diệt được nhiều loại vi khuẩn gây bệnh

Trang 19

Hình 1.1 Cây vối

Hình 1.2 Cành cây lá cây vối

1.1.4 Sự phân bố của cây vối

Cây vối phân bố ở khắp nơi trên thế giới Ở nước ta, cây vối mọc hoang hoặc được trồng ở hầu hết các tỉnh trên cả nước, chủ yếu để lấy lá để lấy nước uống Ngoài ra, cây vối sống ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Vân Nam của Trung Quốc, Bangladesh, Ấn Độ, Myanma, Campuchia, Lào, Thái Lan, Malaysia, Philippines, các vùng Bắc Úc của Úc và các đảo Java, Kalimantan, Sumatra của Indonesia [3], [4], [5], [9]

1.2 GIÁ TRỊ SỬ DỤNG CỦA CÂY LÁ VỐI

- Trước đây, các cụ trồng cây vối chủ yếu để lấy gỗ dùng trong xây dựng, làm công cụ, gỗ vối thuộc nhóm V quy chuẩn của Việt Nam nên bền và chắc, không

Trang 20

cong vênh, mối mọt, lõi giác màu nâu rất đẹp Ngoài ra, vỏ vối có chất màu đen, dùng để cho ngành dệt nhuộm và quả vối có thể ăn được

- Lá cây vối là thần dược trị bệnh tiêu hóa Nước lá cây vối có vị hơi chát và đắng, nhưng sau khi uống một lúc lại cảm thấy ngọt ngọt, thanh thanh nơi đầu lưỡi Nước vối cũng có tính hàn, có tác dụng lợi mật rất nhanh, giúp cơ thể mát mẻ, thoát

mồ hôi, giải độc cơ thể, vì vậy nhân dân ta thường uống nước sắc lá vối để chữa bệnh đầy bụng, khó tiêu

Chất đắng trong lá cây vối và nụ vối kích thích nhiều dịch vị tiêu hóa Ngoài

ra, lá cây vối còn chứa tannin, là một chất giúp bảo vệ niêm mạc ruột; chất tinh dầu trong lá cây vối có tính kháng khuẩn cao, có tác dụng rất tốt trên vi khuẩn E.coli, là loại vi khuẩn thường gây ra bệnh đường ruột, và hai vi khuẩn Gr(+) và Gr(-) thường gặp ở bệnh viên da, nhưng không gây hại cho những vi khuẩn có ích trong ống tiêu hóa Chẳng thế mà, lá cây vối rất có tác dụng trong việc giúp ăn ngon, hệ tiêu hóa luôn khỏe mạnh, đồng thời chữa bệnh viêm gan, bệnh đại tràng mãn tính, bệnh vàng

da và bỏng [1], [6], [9]

- Lá cây vối có tác dụng tốt với những bệnh nhân tiểu đường Các hợp chất flavonoid có trong nước lá và nụ vối rất hiệu quả trong việc hỗ trợ phòng và điều trị bệnh nhân tiểu đường Uống nước lá cây vối có khả năng giúp bạn hạn chế tăng đường huyết sau ăn, hỗ trợ ổn định đường huyết, giảm rối loạn mỡ máu Đồng thời, loại nước thần kỳ này cũng có thể hỗ trợ phòng và điều trị bệnh tiểu đường với các biến chứng của nó Ngoài ra, khả năng chống oxi hóa (antioxidants) của nụ vối đã làm giảm sự hình thành đục thủy tinh thể ở bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường Vì vậy, bệnh nhân tiểu đường nên thường xuyên uống nước vối Điều này sẽ giúp ổn định đường huyết, giảm mỡ máu, chống oxy hóa tế bào, bảo vệ tổn thương tế bào beta tuyến tụy May mắn là việc sử dụng nước vối thường xuyên không gây ảnh hưởng phụ đáng kể nên người bệnh tiểu đường có thể an tâm dùng loại lá này để chữa bệnh cho bản thân

- Tác dụng của lá cây vối với bệnh gout là rất lớn trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh gout, nó làm quên đi nỗi lo về căn bệnh “nhà giàu” Gout là loại bệnh

Trang 21

đang có tỷ lệ tăng khá nhanh trong dân số nước ta, đặc biệt với những người ở tuổi trung niên Tuy vậy, bệnh gout có nhiều nguyên nhân dẫn đến nên lá cây vối không thể điều trị dứt điểm căn bệnh này được

- Sử dụng nước lá cây vối vào mùa hè giúp cơ thể giảm hẳn triệu chứng háo nước, đào thải chất độc Bởi lẽ, nước lá cây vối có chứa nhiều vitamin và khoáng chất nên sẽ bổ sung lượng dinh dưỡng và nước cần thiết cho cơ thể Loại nước này

có công dụng giải nhiệt rất hiệu quả, tiêu hóa thức ăn nhiều dầu mỡ, tiêu độc và giảm các chất béo, giúp làm mát cơ thể và giải độc cho cơ thể thông qua đường tiết niệu

- Lá cây vối là bài thuốc sát khuẩn cho da Các loại vi khuẩn gây bệnh như: Streptococcus, Staphylococcus, vi khuẩn bạch hầu, phế cầu, Salmonella, Bacillus subtilis,… có khả năng bị tiêu diệt bởi nước lá cây vối Vì thế mà nước lá cây vối tươi thường được sắc để sử dụng làm thuốc sát khuẩn điều trị một số căn bệnh ngoài

da như ghẻ lở, mụn nhọt, cũng như việc dùng nước lá cây vối gội đầu chữa chốc lở rất hiệu nghiệm

- Kết quả thử tác dụng độc tế bào của mẫu chiết từ lá cây vối bước đầu cho thấy cả tinh dầu và cao thô toàn phần đều có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư (ung thư tử cung, ung thư màng tim, ung thư gan, ) [11], [17], [18], [19], [21]

1.3 THÀNH PHẦN HÓA HỌC

1.3.1 Thành phần hóa học của lá cây vối

Thành phần của lá cây vối chủ yếu là flavonoid, coumarin, acid hữu cơ, đường

tự do, sterol, ít tanin, những vết alcaloid (thuộc nhóm indolic) gần gũi với cafein, một lượng tinh dầu (4%) với mùi thơm dễ chịu, một số chất khoáng và có chứa một

số chất kháng sinh có khả năng diệt được vi khuẩn gây bệnh, kể cả vi khuẩn Gram (-), Gram(+), vi trùng bạch cầu, phế cầu, Salmonella, Bacillus subtilis,… mà không gây độc hại đối với cơ thể con người [3], [4], [9], [14], [16]

a Flavonoit

- Đặc điểm:

Trang 22

Flavonoit (1) là lớp chất có cấu trúc phenolic, tồn tại rất phổ biến trong hệ thực vật tự nhiên Theo tính toán của các nhà khoa học, mỗi năm có khoảng 2% lượng cacbon được thực vật quang hợp (khoảng 109

tấn) được chuyển hóa thành các flavonoit và các hợp chất liên quan Trừ rất ít trường hợp ngoại lệ, còn lại chỉ có thực vật mới có khả năng sinh tổng hợp flavonoit, trái ngược với động vật và nấm Thông thường, flavonoit tồn tại trong không bào của hoa, lá, thân và rễ cây Lớp chất này bao gồm các chất màu ở hoa, hoạt động như các chất ức chế enzyme đồng thời lại như hệ thống bảo vệ chống lại bức xạ tử ngoại và sâu bọ Bên cạnh đó, flavonoit còn tham gia vào nhiều quá trình chuyển hóa khác trong cây

Trang 23

năng tạo liên kết bền vững với các protein và các hợp chất hữu cơ cao phân tử khác như các amino axit và alkaloit

Các hợp chất tanin có rất nhiều trong nhiều loài thực vật, chúng có vai trò bảo

vệ khỏi bị các loài ăn chúng, và có lẽ cũng có tác dụng như thuốc trừ sâu, và điều hòa sinh trưởng của thực vật Chất chát từ tanin tạo ra cảm giác khô trong miệng sau khi ăn trái cây chưa chín hoặc rượu vang đỏ Cũng vì thế, sự phân hủy tanin theo thời gian đóng vai trò quan trọng trong việc làm cho trái cây chín và ủ rượu vang

Tanin có khối lượng phân từ từ 500 đến hơn 3.000 các este axit gallic và lên đến 20.000 proanthocyanidin [20]

- Cấu tạo:

(4)

Trang 24

1.3.2 Thành phần hóa học của tinh dầu lá cây vối

Theo các báo cáo nghiên cứu trước đây, tinh dầu lá cây vối gồm nhiều thành phần, tuy nhiên trong đó, thành phần chính là β-myrcen, (Z)-β-ocimen, (E)-β-ocimen, β-caryophyllen, α-pinen, caryophyllen và α-humulen Trong các bộ phận khác nhau của cây vối thì hàm lượng tinh dầu cao nhất tập trung ở nụ hoa (0,48%), trong đó hoa đã nở lượng tinh dầu giảm dần (0,28%) và ít nhất trong hoa già (0,18%) Tinh dầu từ lá rất giàu terpeneol, myrtenol, pinocarveol, eucarvone, muurolol, myrtenal, cineole, cadinol, pinocarvone và geranyl acetone [1], [10] Năm 1996, Hoàng Văn Lựu đã nghiên cứu thành phần hóa học của tinh dầu lá cây vối ở các địa phương khác nhau của tỉnh Nghệ An [5] Kết quả như sau:

Bảng 1.1 Hàm lượng tinh dầu lá cây vối ở các địa phương của tỉnh Nghệ An

Lá cây vối thu hái cùng

thời gian trước khi ra hoa

tại tỉnh Nghệ An

Huyện Hương Nguyên 0.19

Bảng 1.2 Thành phần hóa học của tinh dầu lá cây vối của Vinh – Nghệ An

Trang 25

Gennaryl acetat 0,7 Hợp chất chưa xác định 3,8

Bảng 1.3 Thành phần hóa học của các cấu tử chính trong các tinh dầu lá cây vối ở

các địa phương khác nhau

Thành phần

hóa học

Hàm lượng % trong tinh dầu

Trang 26

1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚCVỀ CÂY VỐI 1.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Năm 1939, cụ Nguyễn Công Tiễu là người đầu tiên nghiên cứu cây vối

(Eugenia operculata Roxb Cleistocalyx operculatatus Roxb Merr et Perry, họ Sim

Myrtaceae), đã báo cáo tại Hội nghị Thái Bình Dương thứ 6 năm 1940

Năm 1954, Andre Foucaud cũng đã nghiên cứu cây vối về mặt thực vật và hoá học trong luận án tiến sĩ dược học “Góp phần nghiên cứu cây thuốc miền Bắc Việt Nam”

Năm 1968, tác giả Nguyễn Đức Minh, phòng đông y thực nghiệm của Viện nghiên cứu đông y đã tiến hành nghiên cứu thăm dò tính chất kháng sinh của lá và

nụ cây vối đối với một số vi khuẩn Gram(+) và Gram(-) đã đi tới kết luận là ở tất cả các giai đoạn phát triển của cây, lá và nụ vối đều có tác dụng kháng sinh, vào mùa đông, tính kháng sinh cao nhất, tập trung nhiều nhất ở lá và hoàn toàn không độc với cơ thể con người

Năm 1994, Nguyễn Xuân Dũng, Lê Thị Anh Đào và Hoàng Văn Lựu đã nghiên cứu thành phần hóa học của tinh dầu vối ở các địa phương khác nhau của tỉnh Nghệ An đã công bố rằng trong nụ vối có chứa hàm lượng tinh dầu rất lớn Các tinh dầu này có khả năng kháng viêm, kháng khuẩn và chống oxi hóa rất mạnh Năm 2003, Đào Thị Thanh Hiền, trường đại học Dược Hà Nội và các thành viên khác đã tiến hành thử nghiệm nghiên cứu một số tác dụng của cây lá cây vối Kết quả nghiên cứu đã cho thấy:

- Nước sắc lá cây vối ủ có tác dụng lợi mật rất nhanh, kết quả này góp phần giải thích được vì sao nhân dân ta thường uống nước sắc lá cây vối để chữa đầy bụng và khó tiêu

- Tính kháng khuẩn của lá cây vối, đặc biệt là lá cây vối ủ có tác dụng rất tốt trên vi khuẩn E.coli, là loại vi khuẩn thường gây ra bệnh đường ruột, và hai vi khuẩn Gr(+) và Gr(-) thường gặp ở bệnh viên da Điều này làm sáng tỏ việc uống nước sắc lá cây vối để chữa bệnh tiêu chảy và tắm nước sắc lá cây vối để chữa bệnh viêm da

Trang 27

Kết quả thử tác dụng độc tế bào của mẫu chiết từ lá cây vối bước đầu cho thấy

cả tinh dầu và cao thô toàn phần đều có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư (ung thư tử cung, ung thư màng tim, ung thư gan, ) Điều này mở ra rất nhiều hướng nghiên cứu đối với cây dược liệu lá cây vối trong tương lai của các nhà khoa học

Trong giai đoạn gần đây, tiêu biểu có công trình nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng Việt Nam kết hợp với trường Đại học Phụ nữ Nhật Bản về các tác dụng của

nụ vối trong hỗ trợ phòng và điều trị bệnh đái tháo đường

Sau gần 6 năm nghiên cứu, các nghiên cứu được tiến hành trên phòng thí nghiệm đến các thử nghiệm trên chuột đái tháo đường đã cho thấy nụ vối có tác dụng bình ổn đường huyết lâu dài, hỗ trợ giảm mỡ máu, chống oxy hóa, bảo vệ tổn thương tế bào beta tuyến tụy, phòng ngừa đục thủy tinh thể ở bệnh đái tháo đường Hơn nữa, một thử nghiệm lâm sàng mới đây, với sự hợp tác nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng và Trường Đại học Phụ nữ Nhật Bản tiến hành trên 72 bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Hà Nội cho thấy, trà nụ vối (với liều 6g/lần uống) đã hạn chế tăng đường huyết sau ăn của bệnh nhân đái tháo đường Sau khi uống trà nụ vối liên tục trong 3 tháng (ít nhất 4 - 6g nụ vối khô/lần uống; 3 lần/ngày), nhóm bệnh nhân uống trà nụ vối đã giảm đường huyết xuống một cách đáng kể so với trước khi tham gia, và giảm hơn so với nhóm chứng (nhóm không dùng nụ vối) Nồng độ HbA1c – chỉ số đánh giá sự ổn định về đường huyết, nồng độ creatinin – chỉ số chức năng thận, nồng độ acid uric đã giảm xuống một cách có ý nghĩa thống kê ở nhóm bệnh nhân uống trà nụ vối Nhóm uống nụ vối cũng đã giảm rối loạn lipid máu sau 3 tháng uống nụ vối, nồng độ cholesterol, triglyceride giảm, nồng độ HDL-cholesterol (cholesterol tốt) tăng lên một cách đáng kể so với nhóm chứng không uống nụ vối Các thử nghiệm trên ống nghiệm và trên động vật, trên bệnh nhân đái tháo đường cho thấy, trà nụ vối có khả năng hạn chế tăng đường huyết sau ăn và hỗ trợ

ổn định đường huyết, phòng ngừa biến chứng đái tháo đường khi điều trị lâu dài Kết quả nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng về nụ vối đã được đăng ký quyên sở hữu tại Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam, nghiên cứu được công bố năm 2010 [4], [17], [18], [19], [21]

Trang 28

1.4.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

- Năm 1990, nhóm tác giả Zhang, Fengxian, Liumeifang, Lu Renrong (Trung Quốc) đã phân lập đƣợc một số chất trong lá, hoa và nụ vối sau:

Axit xinamic (C9H8O2) (5); axit galic (C7H6O5) (6); etylgalat(C9H10O5) (7); hidroxi-5-metoxi-6,8-dimetylflavon (C18H18O4) (8); 2,4-dihidroxyl-6-metoxi-3,5-dimetylchacon (C18H18O4) (9); 5,7-dihidroxi-6,8-đimetylflavanon (C17H16O4) (10); axit oleanolic (C30H48O3) (11); axit ursolic(C30H48O3) (12); β-sitosterol (C27H40O) (13)

(5) (6)

(7) (8)

(9) (10)

OHO

OH

OH

HO

Trang 29

(11)

(12) (13)

- Năm 2002, một nhóm nhà khoa học Trung Quốc đã công bố kết quả nghiên cứu về cây vối: nước chiết của nụ vối là thành phần của nước uống bổ dưỡng trợ tim, làm giảm khả năng nhiễm bệnh [11], [16]

Trang 30

CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

2.1 NGUYÊN LIỆU

2.1.1 Đối tượng thực hiện

Trong luận văn này, tác giả chọn nguyên liệu là lá của cây vối (Cleistocalyx operculatatus Roxb) được thu hái từ tháng 02/2017 đến tháng 03/2017 tại huyện Quế

Sơn của tỉnh Quảng Nam (Hình 2.1)

Hình 2.1 Lá cây vối lúc thu hái tại huyện Quế Sơn

2.1.2 Xử lý nguyên liệu

Lá của cây vối sau khi được loại bỏ những phần hư hại do sâu hoặc vàng úa, rửa sạch, phơi khô ở nhiệt độ từ 30 - 45oC cho đến khi hơi nước bay hết và cho vào bao chứa, bảo quản lá cây vối nơi khô ráo Chú ý tránh để hiện tượng lá cây vối bị úng hoặc phơi quá khô sẽ làm hao tổn hàm lượng tinh dầu có trong lá cây vối, còn đối với việc sử dụng các dung môi để chiết tách các hợp chất hữu cơ thì ta phải sấy cho lá cây vối khô

Trang 31

Hình 2.2 Lá cây vối sau khi được xử lý

2.2 THIẾT BỊ, DỤNG CỤ VÀ HÓA CHẤT

2.2.1 Thiết bị, dụng cụ

- Tủ sấy Controller B170 của Đức, sấy ở khoảng nhiệt độ từ 30-280oC

- Cân phân tích satorius CP224S

- Thiết bị chưng cất lôi cuốn hơi nước (phòng thí nghiệm B7 khoa Hóa, trường Đại học Sư Phạm)

- Khúc xạ kế Atago RX-5000 Alpha (phòng thí nghiệm thuộc khoa Hóa, trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng)

- Máy quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) 800 hãng Perkin Elmer của Trung tâm Kỹ thuật–Tiêu chuẩn-Đo Lường chất lượng 2, 02 Ngô Quyền, thành phố Đà Nẵng

- Bộ chiết Soxhlet (phòng thí nghiệm B4 khoa Hóa, trường Đại học Sư phạm)

- Thiết bị đo sắc ký khí ghép phổ khối (GS–MS) Agilent 7890A/5975C Cột sắc kí HP5MS (dài 30m; đường kính trong 0.25mm; lớp phim dày 0.25µm) tại Trung tâm kiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm Thừa Thiên Huế - 17 Trương Định, thành phố Huế

- Máy cất quay chân không Buchi- Vacuum Controller V-800

- Thiết bị sắc ký cột và sắc ký bản mỏng TLC Sillica gel 60 F254;

- Các dụng cụ thí nghiệm khác như: cốc thủy tinh, bình tam giác, bếp cách thuỷ, cốc sứ, pipet, bình định mức, bình hút ẩm, nhiệt kế, cối chày sứ, giấy lọc,

Trang 32

2.2.2 Hóa chất

Một số loại hóa chất được sử dụng chính để làm đề tài này nêu trong Bảng 2.1 Ngoài ra, tác giả còn sử dụng thêm các loại hóa chất khác như: Sillica gel, H2SO4đặc, HNO3, C2H5OH tuyệt đối, Na2SO4 khan, nước cất, phenolphtalein, …

M = 86.16 g/mol; chất lỏng không màu; không tan trong nước; d = 0.6548 g/ml; t0

M = 84.93 g/mol; chất lỏng không màu; độ hòa tan trong nước 1.3g/100ml ở 200

M = 88.11 g/mol; chất lỏng không màu; độ hòa tan trong nước 8.3g/100ml ở 200

M = 32.04 g/mol; chất lỏng không màu; độ hòa tan trong nước vô hạn ở 200C; d = 0,7918 g/ml; tonc = -

lệ xác định trong sản phẩm đem cân, ta dễ dàng suy ra khối lượng chất phân tích trong đối tượng phân tích

Quá trình phân tích một chất theo phương pháp trọng lượng:

- Chọn mẫu và gia công mẫu

Trang 33

- Tách trực tiếp chất cần xác định hoặc các thành phần của nó khỏi sản phẩm phân tích dưới trạng thái tinh khiết hóa học Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp việc làm này rất khó khăn, nhiều khi không thực hiện được, do đó, chất cần xác định thường được tách ra ở dạng hợp chất kết tủa sau phản ứng và có thành phần xác định Để làm được điều đó, ta thực hiện như sau:

+ Đưa mẫu vào dung dịch (phá mẫu) và tìm cách tách chất nghiên cứu khỏi dung dịch (làm phản ứng kết tủa hay điện phân)

+ Xử lý sản phẩm đã tách bằng các biện pháp thích hợp (rửa, nung, sấy…) rồi đem cân để tính kết quả

b Phương pháp vật lý

+ Xác định hàm lượng một số kim loại nặng có trong mẫu nguyên liệu nghiên cứu được xác định phương pháp quang phổ hấp th nguyên tử (AAS)

 Đặc điểm của phổ AAS

Nếu ta chiếu một chùm tia sáng có bước sóng xác định vào đám hơi nguyên tử thì các nguyên tử tự do sẽ hấp thụ các bức xạ có bước sóng tương ứng đúng với những tia bức xạ mà có thể phát ra được trong quá trình phát xạ Phổ sinh ra trong

quá trình này gọi là phổ hấp thụ nguyên tử

Nghiên cứu sự phụ thuộc cường độ một số vạch phổ hấp thụ của một nguyên

tố vào nồng độ (C) của nguyên tố đó trong mẫu phân tích, người ta nhận thấy trong vùng nồng độ nhỏ, mối quan hệ giữa cường độ vạch phổ hấp thụ và số nguyên tử của nguyên tố tuân theo định luật Lambert - Beer: D = lC Trong đó:

C- là nồng độ dung dịch, đo bằng mol/l

l - là bề dày của cuvét đựng dung dịch, đo bằng cm

ε - được gọi là hệ số tắt phân tử hay hệ số hấp thụ phân tử ε là đại lượng xác định, phụ thuộc vào bản chất của chất hấp thụ, vào bước sóng λ của bức xạ điện từ

 Nguyên tắc của phép đo AAS

Trên nguyên tắc để xuất hiện phổ hấp thụ nguyên tử, nó chỉ sinh ra khi nguyên

tử tồn tại ở trạng thái khí tự do và trong mức năng lượng cơ bản Do vậy, muốn thực

hiện được phép đo AAS cần phải thực hiện theo các bước sau:

Trang 34

1 Hóa hơi mẫu phân tích, đưa vật mẫu về trạng thái khí

2 Nguyên tử hóa đám hơi đó, tức là phân ly các phân tử để tạo ra các đám hơi các nguyên tử tự do của các nguyên tố cần phân tích có trong mẫu và có khả năng hấp thụ bức xạ đơn sắc Hai công việc này được gọi là quá trình nguyên tử hóa mẫu Đây là giai đoạn quan trọng nhất và ảnh hưởng đến quyết định kết quả của phép đo AAS, vì nó tạo ra môi trường hấp thụ nguyên tử của phép đo

3 Chọn nguồn phát tia sáng đơn sắc, có cường độ cao, có bước sóng phù hợp nhạy với nguyên tố phân tích (bức xạ cộng hưởng) và chiếu vào đám hơi đó, như vậy phổ hấp thụ sẽ xuất hiện

4 Thu toàn bộ chùm sáng sau khi đi qua môi trường hấp thụ, phân ly chúng thành phổ và chọn 1 vạch phổ cần đo của nguyên tố phân tích để hướng vào khe đo,

 Tỉ trọng tinh dầu lá cây vối là tỉ số của khối lượng tinh dầu ở 200

C với khối lượng của cùng một thể tích nước cất cũng ở 200C

Trang 35

2.3.2 Phương pháp chiết mẫu lá cây vối bằng các dung môi hữu cơ

Lá cây vối đã được sấy khô và nghiền nhỏ, sau đó ta tiến hành chiết lần lượt

với từng loại dung môi có độ phân cực khác nhau như sau: n–hexane,

dichloromethane, ethyl acetate và methanol

 Cách tiến hành

- Chuẩn bị bộ chiết Soxhlet 500ml, rửa sạch, tráng bằng nước cất, sấy khô

- Cân khoảng 20g bột nguyên liệu lá cây vối, ta có khối lượng (m1), cho vào túi vải, sau đó cho vào thiết bị chiết của bộ chiết soxlhlet Lấy chính xác 125ml dung môi chiết cho vào bình cầu Tiến hành chiết ở nhiệt độ sôi của các dung môi trong các khoảng thời gian như sau: 4 giờ, 6 giờ, 8 giờ, 10 giờ và 12 giờ

- Tiến hành đo khối lượng của dung môi chiết bằng cách, hút chính xác 50ml dung môi chiết cho vào bình tỉ trọng cân được khối lượng dung môi là mdm

- Đối với mỗi mẫu sau khi chiết xong, tiến hành đo chính xác thể tích (V) dịch chiết thu được Cô đuổi dung môi trong dịch chiết đến thể tích nhất định và cho vào bình định mức 50ml Cân thu được khối lượng dịch chiết là mdc Tính toán suy ra được khối lượng chất tan là mct của dịch chiết

110

- mdm là khối lượng của 50ml dung môi

- mdc là khối lượng 50ml dịch chiết thu được sau khi chiết với thời gian khảo sát đã làm bay hơi dung môi

- mct là khối lượng chất tan có trong 20g dịch chiết

2.3.3 Phương pháp chưng cất tinh dầu lá cây vối

Theo phương pháp của Dược điển Việt Nam I: Chưng cất hơi nước nguyên liệu tươi trong thiết bị chưng cất lôi cuốn hơi nước, ống sinh hàn hồi lưu và bình hứng hai ngành được cắm vào nút cao su của ống sinh hàn Nguyên tắc trích li này dựa vào sự hòa tan, khuếch tán và lôi cuốn theo hơi nước của những hợp chất hữu

cơ trong tinh dầu chứa trong các mô khi tiếp xúc với hơi nước ở nhiệt độ cao Sự

Trang 36

khuếch tán sẽ dễ dàng khi tế bào chứa tinh dầu trương phồng do nguyên liệu tiếp xúc với hơi nước bão hòa trong một thời gian nhất định

Trong đề tài này, do những đặc tính của tinh dầu lá cây vối đó là: dễ bay hơi, lôi cuốn theo hơi nước ở nhiệt độ khoảng 1000C, hòa tan dễ dàng trong dung môi hữu cơ và dễ bị hấp thụ ngay ở thể khí, nên phương pháp để sản xuất tinh dầu lá cây vối được sử dụng bằng phương pháp chưng cất hơi nước Tuy nhiên, quy trình sản xuất này phải được đảm bảo như sau:

- Tinh dầu thu được phải có mùi thơm tự nhiên như nguyên liệu

- Quy trình khai thác phải phù hợp nguyên liệu

- Tinh dầu phải được lấy triệt để khỏi nguyên liệu, với chi phí thấp nhất

2.3.4 Phương pháp phân tích định danh, thành phần hóa học của tinh dầu và các dịch chiết từ lá cây vối

Thành phần hóa học có trong tinh dầu và các dịch chiết n-hexane, diclomethane, ethylacetate và methanol từ lá của cây vối được xác định bằng phương pháp sắc ký khí ghép khối phổ (GC – MS)

Phương pháp GC - MS dựa trên cơ sở “nối ghép” máy sắc kí khí (GC) với máy khối phổ (MS) Các chất sau khi đi qua cột sắc ký có thể bị ion hóa và có khả năng để phân tích bởi máy khối phổ (MS) Kĩ thuật sắc kí cho phép tách các cấu tử của hỗn hợp, có được các chất “nguyên chất” để đưa vào máy khối phổ với khả năng nhận diện rất ưu việt, đặc biệt là những chất có đặc trưng về thời gian lưu giống nhau hoặc tương tự nhau nhưng có phổ khối khác nhau, giống như là dấu

“vân tay”, nhờ đó có thể nhận diện được chúng Phương pháp này chỉ được áp dụng đối với các hợp chất dễ bay hơi mà không bị phân huỷ bởi nhiệt hay là trong quá trình phân huỷ cho sản phẩm ở thể hơi mà ta xác định được

Ngoài ra, mẫu tinh dầu vối sau khi loại nước, ta phải tiến hành xác định các hằng số hóa học của tinh dầu như: chỉ số acid, chỉ số este Cách thức thực hiện để xác định các chỉ số trên dựa theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 189:1993 tại phòng thí nghiệm B2 của Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng

Trang 37

2.3.5 Phương pháp rắn – lỏng (chiết soxhlet)

Thiết bị có bán sẵn với nhiều cỡ lớn nhỏ khác, từ bình cầu 250ml đến 14 lít

a Dụng cụ

Gồm một bình cầu đặt trong một bếp đun có thể điều chỉnh nhiệt độ Một bộ phận chứa mẫu bột lá cây, gồm 3 ống: Ống có đường kính lớn ở giữa để chứa bột lá cây; ống có đường kính trung bình để dẫn dung môi từ bình cầu bay lên đi vào ống chứa bột lá cây; ống có đường kính nhỏ là ống thông nhau để dẫn dung môi từ ống

có đường kính lớn nhất trả lại bình cầu Trên cao nhất là ống ngưng hơi

b Cách tiến hành

Bột lá cây khô đựng trong một cái túi bằng giấy lọc được đặt trực tiếp trong ống có đường kính lớn Lưu ý đặt vài viêm bi thủy tinh dưới đáy ống này để tránh làm nghẹt lối ra vào của ống thông nhau Rót dung môi đã lựa chọn vào bình cầu bằng cách tháo hệ thống ở nút mài, như thế dung môi sẽ thấm ướt bột lá cây vối rồi mới chảy xuống bình cầu, ngang qua ngõ ống thông nhau

Kiểm tra hệ thống kín, mở cho nước chảy hoàn lưu trong ống ngưng hơi Cắm bếp điện và điều chỉnh nhiệt độ sao cho dung môi trong bình cầu sôi nhẹ đều Dung môi tinh khiết khi được đun nóng sẽ bốc hơi lên cao, theo ống có đường kính trung bình lên cao hơn, rồi theo ống ngưng hơi để lên cao hơn nữa, ngưng tại đây hơi dung môi bị ống ngưng hơi làm lạnh, ngưng tụ thành chất lỏng rớt xuống ống có đường kính lớn đang chứa bột lá cây Dung môi ngấm vào bột lá cây vối và chiết những chất hữu cơ nào có thể hòa tan vào dung môi Theo quá trình đun nóng, lượng dung môi rơi vào ống có đường kính lớn và đồng thời cũng dâng lên trong ống có đường kính nhỏ Đến một mức cao nhất trong ống này, dung môi sẽ bị hút vào bình cầu, lực hút này sẽ rút lượng dung môi đang chứa trong ống có đường kính lớn

Bếp vẫn tiếp tục đun và một quy trình mới vận chuyển dung môi theo như mô

tả lúc đầu Các hợp chất được rút xuống bình cầu và nằm lại tại đó, chỉ có dung môi tinh khiết là được bốc hơi bay lên để tiếp tục quá trình chiết

Sau khi hoàn tất, lấy dung môi chiết ra khỏi bình cầu, đuổi dung môi và thu

Trang 38

đã đặt hỗn hợp các chất cần tách Pha tĩnh là chất hấp phụ được chọn phù hợp theo từng yêu cầu phân tích, được trải thành lớp mỏng đồng nhất và được cố định trên các phiến kính hoặc phiến kim loại Pha động là một hệ dung môi đơn hoặc đa thành phần được trộn với nhau theo tỷ lệ quy định trong từng trường hợp Trong quá trình di chuyển qua lớp hấp phụ, các cấu tử trong hỗn hợp mẫu thử được di chuyển trên lớp mỏng, theo hướng pha động, với những tốc độ khác nhau Kết quả,

ta thu được một sắc ký đồ trên lớp mỏng Cơ chế của sự chia tách có thể là cơ chế hấp phụ, phân bố, trao đổi ion, sàng lọc phân tử hay sự phối hợp đồng thời của nhiều cơ chế tùy thuộc vào tính chất của chất làm pha tĩnh và dung môi làm pha động

Ðại lượng đặc trưng cho mức độ di chuyển của chất phân tích là hệ số di chuyển Rf được tính bằng tỷ lệ giữa khoảng dịch chuyển của chất thử và khoảng dịch chuyển của dung môi:

Trong đó:

a: Là khoảng cách từ điểm xuất phát đến tâm của vết mẫu

b: Là khoảng cách từ điểm xuất phát đến mức dung môi đo trên cùng đường đi của vết, tính bằng cm

Rf: Chỉ có giá trị từ 0 – 1

+ Ưu đi m của kỹ thuật: Hiệu quả tách cao, thời gian ngắn, lượng chất ít, tốn

ít dung môi, thường được dùng để định tính các hợp chất hữu cơ có trong mẫu, đặc

Trang 39

biệt là chọn được hệ dung môi phù hợp dùng để tách các hợp chất hữu cơ có trong mẫu nghiên cứu bằng sắc ký cột

+ Nhược đi m của kỹ thuật:Thành phần pha động dễ thay đổi trong quá trình

thực hiện, các vết sau khai triển thường bị kéo đuôi và chỉ dùng khi hỗn hợp cần tách có số lượng ít, vài trăm miligam, còn nếu mẫu nhiều, vài gam thì tách bằng sắc

ký cột sẽ kinh tế hơn [8]

b Phương pháp s c k c t

Sắc ký cột là kỹ thuật phổ thông nhất trong các phòng thí nghiệm Phương pháp này rất đơn giản và có thể phân lập các hợp chất khỏi hỗn hợp một cách nhanh chóng Tuy nhiên, giống như nhiều kỹ thuật hóa học thực hành khác, để có thể thiết lập và chạy một cột sắc ký nhanh và hiệu quả lại cần đến nhiều năm kinh nghiệm Các cột sắc ký thường được dùng trong các phòng thí nghiệm vô cơ và hữu cơ

để loại bỏ các nguyên liệu không phản ứng ban đầu hoặc phân lập một sản phẩm mong muốn khỏi các sản phẩm phụ sau khi phản ứng hoàn thành Để làm được điều này, hỗn hợp phản ứng được đi qua một ống thủy tinh thẳng đứng, bên trong có nhồi hạt silica gel, các chất đi ra được thu lại thành từng phần nhỏ hay phân đoạn nhỏ ở đầu dưới của cột Các thành phần khác nhau của mẫu được phân tách thành các loại hợp chất khác nhau do tương tác của hỗn hợp với silica gel

Các hợp chất phân cực sẽ tương tác với silica gel mạnh hơn so với các hợp chất không phân cực nên chúng sẽ đi ra khỏi cột (hoặc rửa giải) chậm hơn so các hợp chất không phân cực Khi một mẫu có chứa các hợp chất có độ phân cực tương

tự nhau, việc phân tách chúng ở các phần nhỏ và thu hồi mẫu sạch sẽ rất khó khăn Việc nhồi cột chính xác được cho là yếu tố thực nghiệm quan trọng nhất, bên cạnh đó, một số yếu tố khác có thể tối ưu để có thể đạt khả năng phân tách tốt nhất trong thời gian ngắn nhất

 Phương pháp nhồi cột

Nhồi cột kiểu ướt (huyền phù)

Cho hiệu quả rửa tốt nhất Mất nhiều thời gian khi thực hiện

Trang 40

- Cách làm:

1 Rót dung môi vào khoảng 1/2 dung tích cột sắc ký

2 Dùng cốc có mỏ, đong lƣợng silicagel vừa đủ

3 Trong bình phản ứng hoặc cốc có mỏ, đong lƣợng dung môi gấp khoảng 1,5 lần lƣợng silica gel

4 Thêm silica gel vào dung môi, từng ít một, vừa thêm vừa lắc nhẹ, sử dụng pipet Pasteur hoặc đũa thủy tinh để khuấy lên

5 Rót hoặc dùng pipet để thêm hỗn hợp silica gel và dung môi vào cột Để dung môi thoát ra khỏi cột tránh bị tràn

6 Gõ nhẹ vào cột để bọt khí thoát ra và silica lắng xuống

7 Tiếp tục đổ hỗn hợp vào cột đến khi tất cả lƣợng silica gel hết

8 Rửa thành cột bằng cách rót dung môi lên thành trong của cột

9 Mở van tháo dung môi đến khi mức dung môi trong cột chạm đến bề mặt của pha tĩnh

10 Rót mẫu cần phân lập vào thành cột sắc ký, đồng thời mở van xả cột và rót dung môi để rửa giải [8]

Ngày đăng: 14/05/2021, 15:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đái Duy Ban (2008),Các hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học phòng chống một số bệnh cho người và vật nuôi, NXB Khoa học tự nhiên& công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học phòng chống một số bệnh cho người và vật nuôi
Tác giả: Đái Duy Ban
Nhà XB: NXB Khoa học tự nhiên& công nghệ
Năm: 2008
[2]. Nguyễn Văn Đàn (2005), Chu n đề một số hợp chất thi n nhi n, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chu n đề một số hợp chất thi n nhi n
Tác giả: Nguyễn Văn Đàn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2005
[3]. Lê Thị Anh Đào, Nguyễn Xuân Dũng, Hoàng Văn Lựu (1997), “Nghiên cứu thành phần hóa học của cây vối Việt Nam”, Tạp chí khoa học, (số 3), Tr 47- 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thành phần hóa học của cây vối Việt Nam”," Tạp chí khoa học
Tác giả: Lê Thị Anh Đào, Nguyễn Xuân Dũng, Hoàng Văn Lựu
Năm: 1997
[5]. Hoàng Văn Lựu (1996), Nghiên cứu thành phần hóa học của một số cây thuộc họ Sim (Myrtaceae) và họ cỏ Roi ngựa (Verbebnaceae), Luận án Phó tiến sỹ khoa học, Trường Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thành phần hóa học của một số cây thuộc họ Sim (Myrtaceae) và họ cỏ Roi ngựa (Verbebnaceae)
Tác giả: Hoàng Văn Lựu
Năm: 1996
[6]. Nguyễn Đức Minh (1972), Tính kháng khuẩn của cây thuốc Việt Nam, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính kháng khuẩn của cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1972
[7]. Lê Thị Hồng Nhung (2014), Nghiên cứu hóa học và thăm dò hoạt tính sinh học của loài thông lá dẹt (Pinus krempf II lecomte) và ngũ gia bì hương (Acanthopanax tripoliatus L.merr.), Luận án Tiến sỹ hóa học, Viện Hóa học- Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hóa học và thăm dò hoạt tính sinh học của loài thông lá dẹt (Pinus krempf II lecomte) và ngũ gia bì hương (Acanthopanax tripoliatus L.merr.)
Tác giả: Lê Thị Hồng Nhung
Năm: 2014
[8]. Hồ Viết Quý (2007), Các phương pháp phân tích công c hiện đại, NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp phân tích công c hiện đại
Tác giả: Hồ Viết Quý
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2007
[9]. Đỗ Thị Thanh (2006), Nghiên cứu về cây vối (Cleistocalyx operculatus Roxb), Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về cây vối (Cleistocalyx operculatus Roxb)
Tác giả: Đỗ Thị Thanh
Năm: 2006
[10]. Nguyễn Quốc Tuấn (2012), Xây dựng phương pháp định tính, định lượng flavonoid trong lá và n vối, Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ khoa học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng phương pháp định tính, định lượng flavonoid trong lá và n vối
Tác giả: Nguyễn Quốc Tuấn
Năm: 2012
[15]. Rajamanikyam M, Vadlapudi V, Parvathaneni SP, Koude D, Sripadi P, Misra S, Amanchy R, Upadhyayula SM (2017), Isolation and characterization of phthalates from Brevibacterium mcbrellneri that cause cytotoxicity and cell cycle arrest, EXCLI journal, 16, 375-387 Sách, tạp chí
Tiêu đề: EXCLI journal
Tác giả: Rajamanikyam M, Vadlapudi V, Parvathaneni SP, Koude D, Sripadi P, Misra S, Amanchy R, Upadhyayula SM
Năm: 2017
[4]. Đào Thị Thanh Hiền (2000), Góp phần nghiên cứu cây vối Cleistocalyx operculatus (Roxb), Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ dược học, Trường Đại học Dƣợc Hà Nội Khác
[11]. Anthony Y.H. Wooa, Mary M.Y. Wayea,b, H.S. Kwanc, Melanie C.Y. Chanb, C.F. Chaua, Christopher H.K. Chengb (2002), Inhibition of ATPases by Cleistocalyx operculatus a possible mechanism for the cardiotonic actions of the herb Khác
[13]. M. Rowshanul Habib, M. Rezaul Karim (2009), Antimicrobial and Cytotoxic Activity of Di-(2-ethylhexyl) Phthalate and Anhydrosophoradiol-3-acetate Isolated from Calotropis gigantea (Linn.) Flower, Mycobiology, 37(1), 31-96 Khác
[14]. Nguyen Thi Dung, Jung Min Kim, Sun Chul Kang (2008), Chemical composition, antimicrobial and antioxidant activities of the essential oil and the ethanol extract of Cleistocaly xoperculatus (Roxb.) Merr and Perry buds Khác
[16]. Vijayanand, LJM Rao, P.components Narasimham volatile flavor of the fruit Jamun ( brooch mold ) Flavour Fragr.Websites Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm