Hiến pháp là loại văn bản pháp luật quan trọng nhất xét về hiệu lực và những vấn đề cơ bản mà Hiến pháp quy định như: chế độ chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước; quyền và nghĩa vụ củ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-** -
NGUYỄN HUY BÌNH
ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG VÀ NGỮ PHÁP CỦA HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM (SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2013)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
ĐÀ NẴNG, NĂM 2017
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-** -
NGUYỄN HUY BÌNH
ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG VÀ NGỮ PHÁP CỦA HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM (SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2013)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.02.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Trọng Ngoãn
ĐÀ NẴNG, NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Bùi Trọng Ngoãn Các số liệu, kết quả khảo sát nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Huy Bình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Có được bản luận văn tốt nghiệp Cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học khóa
31 (K31), tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Đại học Đà Nẵng, Trường Đại học Sư phạm, Phòng Đào tạo, Khoa Ngữ Văn, Ban Tổ chức Thành ủy
Đà Nẵng, Quận ủy Sơn Trà, Đảng ủy phường Nại Hiên Đông và đặc biệt là Tiến sĩ Bùi Trọng Ngoãn, người đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tác giả về mặt
khoa học trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu, hoàn thành đề tài “Đặc điểm
từ vựng và ngữ pháp của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2013)”
Xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học trong và ngoài Đại học Đà Nẵng đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt những kiến thức khoa học quý báu chuyên ngành Ngôn ngữ học cho bản thân tác giả trong những năm tháng học tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng Qua đây, cũng xin ghi nhận những ý kiến đóng góp và nhiệt tình giúp đỡ của các bạn học viên các lớp Cao học Ngôn ngữ học K29, K30, K31 đối với tác giả về mọi mặt
Sự thành công của luận văn này, ngoài việc nỗ lực của bản thân tác giả, còn có
sự đóng góp, giúp đỡ quý báu của quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp trong quá trình triển khai thực hiện Một lần nữa tác giả xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến các đơn
vị và cá nhân đã hết lòng quan tâm giúp đỡ tác giả hoàn thành công trình nghiên cứu này Dù đã nỗ lực, cố gắng, song dĩ nhiên luận văn vẫn khó có thể tránh khỏi những thiếu sót về mặt khoa học, về mặt chuyên môn… Vì vậy, tác giả rất mong nhận được sự góp ý, phê bình của quý thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học, độc giả
và các bạn đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Nguyễn Huy Bình
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của đề tài 6
7 Bố cục của luận văn 7
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8
1.1 Đặc điểm ngôn ngữ hành chính - công vụ 8
1.1.1 Khái niệm phong cách chức năng ngôn ngữ hành chính - công vụ 8
1.1.2 Các kiểu loại văn bản của phong cách chức năng ngôn ngữ hành chính - công vụ 10
1.1.3 Chức năng ngôn ngữ trong phong cách chức năng ngôn ngữ hành chính - công vụ 12
1.1.4 Các đặc trưng của phong cách chức năng ngôn ngữ hành chính - công vụ 12
1.1.5 Đặc điểm ngôn ngữ của phong cách hành chính - công vụ 14
1.2 Giới thiệu chung về các bản Hiến pháp ở Việt Nam 21
1.2.1 Định nghĩa Hiến pháp 21
1.2.2 Phân loại Hiến pháp 23
1.2.3 Hoàn cảnh ra đời và nội dung cơ bản của các bản Hiến pháp của Việt Nam 23
1.2.4 Đặc điểm chung về ngôn ngữ trong các bản Hiến pháp của Việt Nam 29
1.3 Tiểu kết 30
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA CỦA VĂN BẢN HIẾN PHÁP 2013 31
2.1 Các lớp từ vựng trong Hiến pháp 2013 xét theo tiêu chí từ vựng học 32
2.1.1 Các lớp từ vựng xét theo tiêu chí nguồn gốc 32
2.1.2 Các lớp từ vựng xét theo tiêu chí phạm vi sử dụng 36
Trang 62.1.3 Các lớp từ vựng xét theo tiêu chí mức độ sử dụng 46
2.2 Các lớp từ vựng trong Hiến pháp 2013 xét theo tiêu chí cấu tạo từ 48
2.2.1 Từ đơn 51
2.2.2 Từ ghép 52
2.2.3 Ngữ định danh 52
2.3 Các lớp từ vựng trong bản Hiến pháp 2013 xét theo tiêu chí phạm vi biểu vật 52
2.4 Các lớp từ vựng xét theo bình diện phong cách học 57
2.5 Tiểu kết 59
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA VĂN BẢN HIẾN PHÁP 2013 61
3.1 Đặc điểm từ loại của hệ thống từ vựng trong văn bản Hiến pháp 2013 61
3.1.1 Danh từ 62
3.1.2 Động từ 64
3.1.3 Tính từ 68
3.1.4 Đại từ 68
3.1.5 Liên từ 69
3.1.6 Từ chỉ lượng 69
3.1.7 Phó từ 70
3.2 Đặc điểm cú pháp của văn bản Hiến pháp 2013 70
3.2.1 Các kiểu câu phân chia theo tiêu chí mục đích phát ngôn 72
3.2.2 Các kiểu câu phân chia theo tiêu chí cấu trúc 76
3.2.3 Các kiểu câu phân chia theo tiêu chí lôgic 84
3.3 Liên kết văn bản và phân đoạn trong bản Hiến pháp 2013 86
3.3.1 Liên kết liên câu trong văn bản Hiến pháp 2013 86
3.3.2 Liên kết liên đoạn trong văn bản Hiến pháp 2013 89
3.3.3 Cách phân đoạn trong văn bản Hiến pháp 2013 91
3.4 Tiểu kết 91
KẾT LUẬN 92 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC BẢNG
2.1 Số lượng các lớp từ vựng trong Hiến pháp 2013 theo tiêu
chí nguồn gốc
32
theo tiêu chí cấu tạo từ
50
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung được nhà nước đặt ra và bảo đảm thực hiện Văn bản pháp luật là công cụ vô cùng quan trọng trong hoạt động quản lí nhà nước và có tác dụng to lớn đến đời sống xã hội Chính vì vậy, các văn bản pháp luật được xây dựng với những yêu cầu chặt chẽ cả về nội dung lẫn hình thức Trong các yêu cầu đó, yêu cầu về ngôn ngữ là yêu cầu cơ bản và có ý nghĩa thiết thực
Hiến pháp là loại văn bản pháp luật quan trọng nhất xét về hiệu lực và những vấn đề cơ bản mà Hiến pháp quy định như: chế độ chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước; quyền và nghĩa vụ của công dân, thể chế nhà nước và các nguyên tắc cơ bản của việc tổ chức và hoạt động của các thể chế đó… Bất cứ một văn bản pháp luật nào cũng không được trái với Hiến pháp Về mặt ngôn ngữ, Hiến pháp là loại văn bản tiêu biểu của ngôn ngữ pháp luật, ở Hiến pháp hội tụ những đặc điểm cơ bản của nhiều thể loại văn bản pháp luật khác
Văn bản pháp quyền là đối tượng nghiên cứu trực tiếp của luật học, vì vậy văn bản pháp quyền thường được quan tâm ở chỗ: tính minh bạch, tính chính xác và khả năng thực thi Trong khi đó, văn bản pháp quyền là một bộ phận của văn bản hành chính Đặc điểm ngôn ngữ của phong cách chức năng hành chính thường được miêu
tả một cách chung nhất mà chưa hướng đến đặc điểm ngôn ngữ của các tiểu loại trong văn bản hành chính Do đó, nghiên cứu về ngôn ngữ của văn bản pháp quyền
là một cách lấp đầy những chỗ khiếm khuyết về mặt ngôn ngữ của văn bản hành chính Trong thực tế, văn bản pháp quyền không chỉ được ngành luật mà còn được
cả bộ máy hành chính quan tâm Nhưng sự quan tâm đó thường thiên lệch về phương diện nội dung, hoặc nếu có, chỉ là một sự trao đổi nào đó về mặt ngôn ngữ trong văn bản pháp quyền (trao đổi về ngữ nghĩa của từ hay tính chính xác của từ) Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và cụ thể về mặt ngôn ngữ của thể loại văn bản pháp quyền, hơn nữa cũng chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm từ vựng và ngữ pháp của văn bản
Trang 9Hiến pháp năm 2013 Để bù đắp cho sự thiếu hụt này chúng tôi chọn đề tài: “Đặc
điểm từ vựng và ngữ pháp của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2013)” làm đề tài nghiên cứu của luận văn
2 Tổng quan nghiên cứu
2.1 Khi nghiên cứu các loại văn bản pháp luật, các nhà nghiên cứu ở Việt
Nam thường xếp chúng vào phạm vi ngôn ngữ hành chính, thuộc phong cách hành chính - công vụ Bởi từ thực tế hệ thống chính trị của Việt Nam, nền hành chính hiểu theo nghĩa rộng không chỉ giới hạn ở công việc của bộ máy hành pháp, mà bao gồm cả hoạt động các cơ quan Đảng, Nhà nước, các cơ quan tổ chức lập pháp và tư
pháp (Lương Thị Hiền (2014), Các phương tiện ngôn ngữ biểu thị quyền lực trong
giao tiếp hành chính, LATS, Học viện Khoa học Xã hội, H.) Trong các công trình
nghiên cứu về phong cách và văn bản có đề cập đến một số đặc điểm cơ bản và vị trí của ngôn ngữ trong thể loại văn bản pháp luật tiếng Việt; Võ Bình, Lê Anh Hiền,
Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa (1982) trong Phong cách học tiếng Việt; Đinh Trọng
Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2002), Phong cách học tiếng Việt; Cù Đình Tú (1983),
Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt; Hữu Đạt (1999), Phong cách học
tiếng Việt hiện đại… đều xếp văn bản pháp luật vào phong cách hành chính - công
vụ Cù Đình Tú (1991) trong Phong cách học tiếng Việt xếp văn bản pháp luật là
một tiểu loại thuộc phong cách hành chính; còn Vương Đình Quyền, Nguyễn Văn
Hàm (1997) trong Văn bản và lưu trữ đại cương thì gọi chúng là văn bản quản lý
nhà nước Các công trình này đều tập trung phân loại và nêu lên một số đặc điểm về
từ vựng, cú pháp và văn bản của văn bản pháp luật với tư cách là một tiểu loại của phong cách hành chính - công vụ
Bên cạnh đó, các công trình của Nguyễn Văn Khang (2012), Chính sách ngôn
ngữ của Đảng và nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ; Dương Thị Hiền (2008), Phân tích ngôn ngữ văn bản pháp luật qua văn bản Hiến pháp Hoa Kỳ và Hiến pháp Việt Nam; Nguyễn Thị Ly Na (2012), Đặc điểm ngôn ngữ trong luật Giáo dục của Việt Nam… đã quan tâm tìm hiểu đến cơ chế hình thức của hệ thống ngôn ngữ,
Trang 10về chức năng, vai trò của nó trong từng thể loại văn bản pháp luật cụ thể Năm
2014, Lương Thị Hiền đã nghiên cứu một khía cạnh khác về ngôn ngữ pháp luật là
sự biểu thị quyền lực của các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng trong giao tiếp
pháp đình - hoạt động xét xử của tòa án Trong phần Đặc điểm của tiếng Việt trong
các văn bản quy phạm pháp luật in trong “Những vấn đề lập pháp ngôn ngữ ở Việt Nam”, lần đầu tiên ngôn ngữ học pháp luật ở Việt Nam được xem là một phân
ngành khoa học độc lập có đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu riêng
Như vậy, đến nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu về ngôn ngữ pháp luật theo nhiều phương diện khác nhau Trong luận văn này, chúng tôi nhận thấy rằng, việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của văn bản Hiến pháp năm 2013 và khái quát hóa
về ngôn ngữ văn bản pháp quyền theo hướng nghiên cứu phong cách học, là có sự
kế thừa và tiếp thu các quan điểm nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam
2.2 Trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay, vai
trò của pháp luật ngày càng được nâng cao Điều 8 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2013) nêu rõ: “Nhà nước được tổ chức
và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” Trong những năm qua, Nhà nước ta
luôn chú trọng công tác đào tạo, giáo dục, nghiên cứu về khoa học pháp lý, khoa học về Nhà nước và pháp luật, mục đích nghiên cứu không chỉ đơn thuần mang tính nhận thức về các hiện tượng và các quá trình về Nhà nước và về pháp luật mà chủ yếu nhằm giải quyết những vấn đề của thực tiễn, của quá trình tổ chức và hoạt động của Nhà nước, sử dụng công cụ pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội
và bảo vệ nhân dân, trong việc duy trì trật tự và kỷ cương xã hội
Đến nay, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về Nhà nước và pháp
luật, hành chính học, tiêu biểu như: Những vấn đề lí luận cơ bản về nhà nước và
pháp luật của Đào Trí Úc (chủ biên); Nghiên cứu chức năng ngôn ngữ văn bản
quản lý nhà nước của Nguyễn Thị Hà; Soạn thảo văn bản của các tổ chức Đảng, mặt trận, công đoàn, thanh niên, phụ nữ cấp cơ sở và trên cơ sở của Lê Văn In;
Trang 11Giáo trình Luật hành chính Việt Nam của Nguyễn Duy Phương; Tìm hiểu kỹ thuật trình bày văn bản công tác văn thư luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của
Lê Văn Chấn
2.3 Từ khi ra đời bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta - Hiến pháp 1946 cho
đến nay là bản Hiến pháp 2013, đã có nhiều công trình nghiên cứu về Hiến pháp trên nhiều phương diện khác nhau, nhưng chủ yếu về mặt nội dung, kỹ thuật lập hiến và các vấn đề cụ thể trong các bản Hiến pháp, nhưng hầu như rất ít công trình nghiên cứu về mặt ngôn ngữ của các bản Hiến pháp, đặc biệt là bản Hiến pháp
2013 Mặt khác, Luật Hiến pháp là một ngành luật, một khoa học pháp lý và bộ môn học đặc biệt quan trọng, đóng vai trò trung tâm của hệ thống pháp luật và khoa học pháp lý của Việt Nam Các chế định, quy phạm của Luật Hiến pháp là cơ sở pháp lý cho việc xây dựng mới, sửa đổi hoặc hủy bỏ các chế định, quy phạm của các ngành luật khác Chính vì vậy, Luật Hiến pháp là ngành luật chủ đạo trong hệ thống pháp luật Việt Nam Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về Luật
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Nền tảng chính trị, pháp lý cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong thời kỳ mới của Nguyễn Như Phát, Bùi
Đức Hiển…
Văn bản Hiến pháp với tư cách là một phạm vi nghiên cứu của ngôn ngữ học ở
Việt Nam, đã có các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu ở các mặt sau: Thứ nhất, tìm
hiểu các chính sách, quy định cụ thể của nhà nước về ngôn ngữ được thể hiện trong
Hiến pháp (Nguyễn Thiện Giáp, 2004; Nguyễn Văn Khang, 2010) Thứ hai, phân
tích các phương diện ngôn ngữ của diễn ngôn Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (sửa đổi năm 2001), thể hiện qua các chức năng: các chức năng tư tưởng, chức năng liên
nhân và chức năng tạo lập văn bản (Dương Thị Hiền, 2008) Thứ ba, tìm hiểu đặc
trưng chung của ngôn ngữ trong 4 bản Hiến pháp Việt Nam (Nguyễn Văn Khang,
Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng luật ngôn ngữ ở Việt Nam, 2012)
Trang 122.4 Các luận án, luận văn, các bài báo khoa học nghiên cứu về ngôn ngữ của
các bản Hiến pháp của Việt Nam như: Lê Hùng Tiến (1999) với luận án “Một số
đặc điểm của ngôn ngữ pháp luật tiếng Việt” đã nghiên cứu về ngôn ngữ pháp luật
với tư cách là một thể loại diễn ngôn độc lập Tiếp theo đó là các công trình nghiên
cứu của Nguyễn Thị Ly Na: Biến đổi từ ngữ về quyền con người, quyền công dân
trong các bản Hiến pháp ở Việt Nam, Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, số 1, năm
2015; Biến đổi từ ngữ quy định chế độ kinh tế trong các bản Hiến pháp của Việt
Nam, Hội thảo khoa học quốc tế lần thứ 2, ngày 23/8/2015, Viện Ngôn ngữ học; Đặc điểm từ ngữ trong các bản Hiến pháp của Việt Nam dưới tác động của các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Viện Ngôn
ngữ học, năm 2015
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ của Hiến pháp Việt Nam chưa có nhiều, và chủ yếu tập trung nghiên cứu về đặc điểm từ ngữ của các bản Hiến pháp, chứ chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp, phong cách chức năng ngôn ngữ của các bản Hiến pháp Việt Nam nói chung và bản Hiến pháp 2013 nói riêng
3 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn tập trung hướng vào những mục tiêu cụ thể sau:
- Miêu tả đặc điểm từ vựng, ngữ pháp của bản Hiến pháp 2013
- Bản luận văn bước đầu đặt một điểm nhìn về đặc điểm ngôn ngữ của văn bản pháp quyền
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài trước hết là hệ thống từ vựng và ngữ pháp
được sử dụng trong văn bản Hiến pháp 2013 Đề tài cũng tập trung nghiên cứu về
phong cách chức năng ngôn ngữ hành chính - công vụ và những đặc trưng cơ bản, cốt yếu của văn bản pháp quyền
Trang 135 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp miêu tả ngôn ngữ được sử dụng để miêu tả, phân tích đặc điểm
từ vựng và ngữ pháp của văn bản Hiến pháp 2013, từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá về đặc điểm ngôn ngữ của văn bản Hiến pháp 2013, đồng thời bước đầu khái quát những đặc trưng cơ bản của văn bản pháp quyền
- Phương pháp điều tra, khảo sát văn bản: nhằm cung cấp chứng cứ cho luận văn, là cơ sở để rút ra những kết luận khoa học
- Thủ pháp thống kê, phân loại nhằm kiểm chứng những giả thuyết hay những
lý thuyết đã có sẵn liên quan đến đề tài luận văn
6 Đóng góp của đề tài
Cái mới của đề tài là lần đầu tiên nghiên cứu bản Hiến pháp 2013 dưới góc độ
lý thuyết ngôn ngữ Đề tài nghiên cứu này sẽ hệ thống hóa các quan điểm, các khuynh hướng nghiên cứu về phong cách học tiếng Việt; về hành chính học và luật học; miêu tả, phân tích đặc điểm từ vựng và ngữ pháp của văn bản Hiến pháp 2013
Từ đó, khái quát hóa một số đặc điểm của ngôn ngữ văn bản pháp quyền trên hai bình diện: từ vựng và ngữ pháp
Luận văn góp phần cung cấp cho ngôn ngữ học một số cứ liệu về đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa và ngữ pháp được sử dụng trong bản Hiến pháp 2013 Luận văn bước đầu vận dụng các lý thuyết về ngôn ngữ học để chỉ ra những đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ Hiến pháp Việt Nam và văn bản pháp quyền nói chung Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể ứng dụng vào việc xây dựng các loại văn bản pháp luật, văn bản hành chính - công vụ được đảm bảo đúng quy định về mặt phong cách chức năng ngôn ngữ, kỹ thuật lập hiến, lập pháp, thể loại văn bản; tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy ngôn ngữ pháp luật, luật học, hành chính học
Trang 147 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương
Chương 1 Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
Chương 2 Đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa của văn bản Hiến pháp 2013
Chương 3 Đặc điểm ngữ pháp của văn bản Hiến pháp 2013
Trang 15CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Đặc điểm ngôn ngữ hành chính - công vụ
1.1.1 Khái niệm phong cách chức năng ngôn ngữ hành chính - công vụ
Hành chính công là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước, là sự tác
động có tổ chức và là sự điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật của Nhà nước tới các quá trình xã hội và hành vi của con người thông qua việc các cơ quan hành chính Nhà nước từ trung ương đến địa phương tiến hành nhằm duy trì và phát triển các mối quan
hệ xã hội và trật tự pháp luật, thoả mãn nhu cầu hợp pháp của công dân
Công vụ là một hoạt động do công chức nhân danh Nhà nước thực hiện theo
quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân
và xã hội
Phong cách chức năng ngôn ngữ (PCCNNN) là dạng tồn tại của ngôn ngữ dân
tộc biểu thị quy luật lựa chọn, sử dụng các phương tiện biểu hiện tùy thuộc vào tổng hợp các nhân tố ngoài ngôn ngữ như hoàn cảnh giao tiếp, đề tài và mục đích giao tiếp, đối tượng tham dự giao tiếp” [32, tr 45]
Cho đến nay, các tác giả của các công trình nghiên cứu, sách về phong cách học tiếng Việt đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về PCCNNN hành chính - công vụ, tiêu biểu như:
1) “Ngôn ngữ hành chính - công vụ thực hiện chức năng thông báo Khác với
ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ hành chính - công vụ làm nhiệm vụ giao dịch giữa nhân dân với cơ quan nhà nước, giữa cơ quan nhà nước với nhân dân, giữa cơ quan này với cơ quan khác, giữa nước này và nước khác” [6, tr 85-86];
2) “Phong cách hành chính tồn tại chủ yếu dưới dạng văn bản viết Chức
năng của phong cách này là thông báo Nó thông báo bằng các giấy tờ, văn kiện nghiêm chỉnh” [32, tr 164];
Trang 163) “PCCNNN hành chính - công vụ là phong cách được sử dụng để trao đổi
những công việc hành chính sự vụ hàng ngày giữa các cơ quan hành chính, các đoàn thể, các cấp từ Trung ương xuống địa phương với các thành viên và bộ phận
xã hội có liên quan” [11, tr 114];
4) Theo Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2002) trong Phong cách học
tiếng Việt: Phong cách hành chính - công vụ là khuôn mẫu (hiểu là khuôn hoặc mẫu
để sản xuất ra một loạt sản phẩm như nhau) thích hợp để xây dựng lớp văn bản
trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực hành chính - công
vụ Nói một cách cụ thể hơn, đó là vai của nhà luật pháp, người quản lí, người làm
đơn, người xin thị thực, người làm biên bản, người kí hợp đồng… tất cả những ai tham gia vào guồng máy tổ chức, quản lí, điều hành các mặt của đời sống xã hội
Phong cách hành chính - công vụ đặc biệt dựa vào kiểu ngôn ngữ viết - phi nghệ thuật, được sử dụng trong những hoàn cảnh theo nghi thức, trong tình thế vai
bằng nhau hay không bằng nhau giữa những người giao tiếp Trong phong cách hành chính - công vụ yếu tố cá nhân của người nói bị loại trừ hoàn toàn
Ngôn ngữ được sử dụng trong PCCNNN hành chính - công vụ chủ yếu tồn tại
ở dạng viết, trong những tài liệu, văn kiện, giấy tờ được soạn thảo, được viết ra theo
những chuẩn mực của ngôn ngữ viết Tuy nhiên, nó cũng xuất hiện dưới dạng nói, chẳng hạn trong những sắc lệnh, thông báo, nghị quyết, chỉ thị… được phát đi trên
hệ thống đài phát thanh, truyền hình Trong trường hợp này, thật ra không phải dạng nói thực sự, mà đúng hơn phải nói là kênh truyền đạt thông tin bằng miệng Bởi vì những tài liệu này không phải là được trình bày hay kể lại mà là được đọc lại, nghĩa
là chúng không chịu một sự biến đổi nào bên trong, ngữ điệu đọc hoàn toàn bị phụ thuộc vào cấu trúc và nội dung của văn bản Các hình thức miệng trong truyền đạt
thông tin như vậy mặc dù không có khả năng làm dao động tính chất viết của tài
liệu, nhưng nó vẫn có một ý nghĩa to lớn trong sự giao tiếp bằng lời nói Nhờ có radiô, tivi mà phạm vi phổ biến của phong cách ngôn ngữ hành chính - công vụ trở nên được mở rộng không có giới hạn
Trang 17Đáng chú ý là, một số thể loại văn bản hành chính - công vụ được hướng vào
sự tri giác trong hình thức miệng (dù có được viết ra trước, được chuẩn bị ít nhiều
từ trước) như: báo cáo, huấn thị, hướng dẫn, lời tường trình có tính chất pháp lý, lời tuyên án của quan tòa, lời hỏi đáp, chẳng hạn về thể lệ đăng ký kinh doanh… người
ta sử dụng thêm những yếu tố của lời nói hội thoại để làm cho ngôn ngữ hành chính bớt khô khan, bớt nặng nề đối với sự tri giác bằng tai
Từ những định nghĩa và các vấn đề nêu trên, chúng tôi quan niệm: PCCNNN
hành chính - công vụ là khuôn mẫu ngôn ngữ được sử dụng trong các quan hệ hành chính - công vụ, liên quan tới các vấn đề thuộc về sự vận hành xã hội và có giá trị pháp lý Phong cách này được sử dụng trong những hoàn cảnh theo nghi thức, vai trò giao tiếp là tư cách xã hội của các nhân vật, ngôn bản chủ yếu thuộc dạng viết, phi nghệ thuật
1.1.2 Các kiểu loại văn bản của phong cách chức năng ngôn ngữ hành chính - công vụ
Để đảm bảo giá trị pháp lý ngôn bản hành chính phải ở dạng viết, có khi được truyền đạt bằng miệng nhưng đó chỉ là hình thức trình bày, chuyển tin
Văn bản thuộc phong cách hành chính - công vụ tồn tại dưới nhiều hình thức, người ta có thể đứng từ nhiều góc độ khác nhau để phân chia chúng thành các nhóm khác nhau
Theo Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2002), Phong cách học tiếng Việt thì: a) Dựa vào nội dung, ý nghĩa sự vật - logic, người ta chia văn vản hành chính -
công vụ ra các kiểu như: văn thư, pháp luật, quân sự, ngoại giao, thương mại, kinh tế
b) Dựa vào những đặc điểm về kết cấu, về tu từ người ta chia văn bản hành
chính - công vụ ra các thể loại, như:
- Mệnh lệnh, điều lệnh, báo cáo, hướng dẫn… trong kiểu văn bản quân sự;
- Công điện, giác thư (bị vong lục), công hàm, hiệp định, hiệp nghị, hiệp ước,
điều ước, nghị định thư, chứng thư nhà nước… trong kiểu văn bản ngoại giao;
Trang 18- Hiến pháp, sắc lệnh, mệnh lệnh, điều lệ, nghị định, thông tư, quy chế, thông
báo… trong kiểu văn bản pháp quyền;
- Thông báo, thông tư, chỉ thị, nghị quyết, quyết định; đơn từ, báo cáo, biên bản, phúc trình; giấy khen, văn bằng, giấy chứng nhận các loại; hợp đồng, hóa đơn,
giấy biên nhận, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép… trong kiểu văn bản văn thư
Theo Hữu Đạt, trong Phong cách học tiếng Việt hiện đại, phân chia thành 2
nhóm như sau:
a) Phân chia theo khu vực quản lý hành chính và ngành nghề, bao gồm: văn
bản hành chính; văn bản ngoại giao, văn bản pháp luật, chính trị; văn bản dùng trong quốc phòng; văn bản dùng trong thương mại - kinh tế
b) Phân chia dựa trên tính chất và cấu trúc của văn bản, bao gồm: 1) Nhóm
các văn bản có cấu trúc đơn giản (giấy gọi, giấy báo, công văn, giấy mời, văn bằng; đơn từ; điện báo, điện tín, công điện, điện mừng; quốc thư, giác thư, công hàm); 2) nhóm các văn bản có cấu trúc tương đối phức tạp (sắc lệnh, thông đạt, chỉ thị, chỉ định, quyết định, nghị định, thông tư, điều lệnh, quân lệnh); 3) nhóm các văn bản có cấu trúc phức tạp (pháp lệnh, điều luật, hiến pháp, điều lệ, quy chế; hiệp ước, hiệp định, thỏa ước, điều ước, tuyên bố chung)
Theo chúng tôi, cách phân chia hợp lý và tiện dụng hơn cả là dựa vào phạm vi biểu đạt và các đặc điểm về ngôn ngữ, thể loại của ngôn bản hành chính - công vụ chia thành các kiểu dạng:
a) Văn bản văn thư
- Nghị quyết, chỉ thị, thông tư, quyết định, thông báo…
- Báo cáo, đơn từ, biên bản, tường trình, phúc trình…
- Văn bằng, giấy chứng nhận, giấy phép, giấy biên nhận…
- Giấy mời, giấy gọi, giấy báo…
- Công văn, công điện, điện báo…
b) Văn bản pháp quyền
- Hiến pháp, các bộ luật, sắc lệnh, điều lệ, quy chế, quy định, nội quy…
Trang 19c) Văn bản ngoại giao
- Công điện, công hàm, quốc thư diễn từ, đáp từ, hiệp định, điều ước, nghị định thư, chứng thư nhà nước…
d) Văn bản quân sự
- Mệnh lệnh, báo cáo, điều lệnh, nhật lệnh…
e) Văn bản kinh tế, thương mại
- Hợp đồng, hóa đơn, chứng từ…
1.1.3 Chức năng ngôn ngữ trong phong cách chức năng ngôn ngữ hành chính - công vụ
Theo cách phân loại các chức năng của ngôn ngữ, thì PCCNNN hành chính -
công vụ có hai chức năng chủ yếu Đó là chức năng giao tiếp lí trí (thông báo, thực thi mệnh lệnh) và chức năng ý chí (yêu cầu, sai khiến) Hai chức năng này đồng thời tồn tại như trong biên bản (vừa có phần thông báo nội dung làm việc của hội nghị
vừa có phần nghị quyết phải thực hiện), nhưng có lúc ý nghĩa thông báo nổi lên như
trong chứng từ, chứng thư, giấy chứng nhận; có khi có ý nghĩa sai khiến là chính như trong mệnh lệnh
Để thực hiện các chức năng này, phong cách hành chính - công vụ cần phải đem lại cho các văn bản (dùng trong lĩnh vực các quan hệ pháp luật giữa con người
trong xã hội) một màu sắc phong cách đặc biệt, đó là yêu cầu phải thực hiện, bắt
buộc phải thi hành điều đã được thông báo
1.1.4 Các đặc trưng của phong cách chức năng ngôn ngữ hành chính - công vụ
Chức năng của ngôn ngữ được hiện thực hóa trong phong cách hành chính - công vụ quy định sự tồn tại của những đặc trưng chung của phong cách này, có
nghĩa là những thuộc tính khu biệt, những nét phong cách nổi bật Phong cách ngôn
ngữ hành chính - công vụ có những đặc trưng chung sau đây:
Trang 201.1.4.1 Tính chính xác - minh bạch (hay tính phi biểu cảm)
Tính chính xác trong cách dùng từ, đặt câu cần phải đi đôi với tính minh bạch trong kết cấu đoạn mạch của văn bản, để đảm bảo cho tính chính xác, tính đơn nghĩa của nội dung Văn bản hành chính - công vụ chỉ cho phép một cách hiểu, không gây hiểu lầm Đặc biệt tính chính xác trong cách diễn đạt các chuẩn mực pháp luật và sự cần thiết phải hiểu và giải thích chúng một cách tuyệt đối ăn khớp,
đó là mục tiêu cần đạt được của các văn bản lập pháp, để góp phần vào việc thực hiện điều chỉnh của pháp luật nhà nước Phong cách hành chính - công vụ còn đòi hỏi sự chính xác hơn phong cách khoa học, vì nhiều khi các nhà khoa học còn có những cách hiểu khác nhau về cùng một thuật ngữ, một khái niệm, một phạm trù Nhưng một văn bản hành chính - công vụ không chính xác, không minh bạch sẽ gây
ra những cách hiểu khác nhau làm cho người ta thắc mắc, không biết cần phải thực hiện như thế nào, đồng thời cũng sẽ tạo cơ hội cho những kẻ xấu tìm cách xuyên
tạc, bóp méo, lợi dụng, và như vậy sẽ gây ra những hậu quả không thể lường được
1.1.4.2 Tính công vụ hay tính nghiêm túc, khách quan
Tính nghiêm túc, khách quan trong cách trình bày có thể coi là dấu hiệu chung
của các tài liệu hành chính - công vụ dùng để diễn đạt tính xác nhận, khẳng định
của những tài liệu này Một tài liệu hành chính - công vụ nếu nó không có tính chất
cá thể (như đơn xin của cá nhân, lời giải thích của cá nhân…), thì về nguyên tắc nó không có danh nghĩa là của cá nhân tác giả, và chữ ký của người chịu trách nhiệm chỉ khẳng định tính chất xác thực của tài liệu, chứ không phải khẳng định tác giả Điều này không có nghĩa là tài liệu hành chính - công vụ không được do một người thảo ra, mà phải hiểu là những quy luật của phong cách hành chính - công vụ không
cho phép những sự thay đổi về hình thức của tài liệu theo cá tính của tác giả Trong
phong cách khoa học, tính khách quan đem đến cho hệ thống lập luận một giá trị
chân thực lớn hơn Còn trong phong cách hành chính - công vụ tính khách quan vốn
gắn với chuẩn mực pháp luật lại nhấn mạnh tính chất xác thực - khẳng định, tính chất chỉ thị - mệnh lệnh cần tuân theo của tài liệu, và đó không phải là dấu hiệu chỉ
Trang 21riêng có của các văn bản lập pháp, mà là dấu hiệu chung của tất cả các văn bản hành chính - công vụ, như: hành chính, quản trị, tòa án, viện kiểm sát…
1.1.4.3 Tính khuôn mẫu (tính khuôn mẫu đồng loạt)
Việc sử dụng rộng rãi theo mẫu những phương tiện quy định, quy phạm là dấu
hiệu phân biệt của phong cách hành chính - công vụ Trong phong cách khoa học, những phương tiện ngôn ngữ quy định, quy phạm cũng được sử dụng, nhưng chúng
bị hạn chế trong những từ ngữ riêng lẻ, những lược đồ kết cấu riêng lẻ Còn trong phong cách hành chính - công vụ, sự quy định, sự quy phạm theo những mẫu nhất định lại động đến không phải những yếu tố riêng lẻ của hình thức mà toàn bộ tài liệu chung Việc sử dụng một kiểu thủ tục giấy tờ trong phong cách hành chính - công vụ như: tuyển dụng việc làm, yêu cầu, đề nghị, lãnh đạo, thi hành kỷ luật, quyết định khen thưởng, nhận xét tư cách đạo đức cán bộ, cấp chứng minh thư, hoạt động kế toán… Sự có mặt của những hình thức tương ứng với các loại tài liệu khác nhau sẽ làm dễ dàng công việc trong lĩnh vực hành chính - công vụ, giúp ngăn ngừa những sai lầm có thể xảy ra; đặc biệt tạo điều kiện áp dụng những phương tiện máy móc tự động trong việc xử lý khối thư từ giao dịch và tài liệu nói chung Một tài liệu hành chính - công vụ bắt buộc phải được thảo ra và được chứng thực theo đúng hình thức quy phạm, theo đúng mẫu nhất định
Các đặc trưng chung nêu trên của phong cách hành chính - công vụ được biểu hiện rõ rệt trong những đặc điểm ngôn ngữ của phong cách này Và tất nhiên, sự biểu hiện này có những mức độ khác nhau trong những kiểu loại văn bản khác nhau của phong cách hành chính - công vụ
1.1.5 Đặc điểm ngôn ngữ của phong cách hành chính - công vụ
1.1.5.1 Đặc điểm ngữ âm
Ngôn ngữ được sử dụng trong PCCNNN hành chính - công vụ bắt buộc phải
sử dụng hệ thống ngữ âm chuẩn
Dù viết hay in đều phải sử dụng kiểu chữ chân phương, dễ đọc
Cách viết các chữ số, hạng mục, bảng biểu đều tuân theo những quy định chặt chẽ
Trang 221.1.5.2 Đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa
Đặc điểm nổi bật trong việc sử dụng từ vựng ở phong cách hành chính - công
vụ là khuynh hướng lựa chọn những từ ngữ thật chính xác đứng về mặt nội dung và những từ ngữ trang trọng hoặc từ ngữ trung hòa đứng về mặt sắc thái biểu cảm
Từ ngữ của phong cách hành chính - công vụ có hai dấu hiệu cơ bản: thứ nhất, màu sắc tu từ học sách vở vừa phải, và thứ hai, tỷ lệ phần trăm cao của các phương
tiện khuôn mẫu (những cái gọi là khuôn sáo hành chính) Hệ thống thuật ngữ của
phong cách hành chính - công vụ ít trừu tượng hơn so với phong cách khoa học
“Khuôn sáo hành chính” là một khái niệm được Đinh Trọng Lạc sử dụng trong
“Phong cách học tiếng Việt” (1993) Có thể nói, “khuôn sáo hành chính” là đơn vị
từ vựng hay đơn vị cú pháp luôn luôn được tái hiện, có tương quan với những hoàn cảnh thường được lặp đi lặp lại hoặc với những khái niệm phổ biến, và làm cho chúng được diễn đạt dễ dàng Đặc điểm của phong cách hành chính - công vụ là sự chiếm ưu thế của khuôn sáo hành chính của các phương tiện khuôn mẫu và sự giảm xuống tối thiểu của các phương tiện cá nhân tác giả, đặc biệt trong một số thể loại như: thông báo, chứng chỉ, chứng từ…
Các từ ngữ hành chính và các khuôn sáo hành chính xuất hiện với tần số cao
Từ ngữ thuộc hệ thống thuật ngữ và thuộc phạm vi hành chính của phong cách
hành chính - công vụ là những từ ngữ sau đây:
- Tên gọi tổ chức, cơ quan, đoàn thể: Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ Giáo dục
và Đào tạo, Ủy ban nhân dân, Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật, Công ty trách nhiệm hữu hạn…
- Tên người và chức trách trong quan hệ hành chính: Giám đốc, Trưởng phòng,
Chánh văn phòng, bên nguyên, bên bị, nguyên cáo, bị cáo, bị đơn, đương sự…
- Tên gọi các loại tài liệu: Công văn, luật, văn bản dưới luật, hợp đồng, biên
bản ghi nhớ…
- Từ ngữ thuộc về thể thức hành chính - công vụ: kính gửi, đồng kính gửi, kính
Trang 23chuyển, căn cứ vào, theo đề nghị, chịu trách nhiệm thi hành, có hiệu lực từ ngày, các đơn vị hữu quan…
- Từ ngữ văn hóa chung được dùng một cách đặc biệt: cá nhân (người), pháp
nhân (cơ quan, xí nghiệp hoặc tổ chức có quyền lợi và trách nhiệm), phía, bên
(người, nhóm người, cơ quan nhà nước xuất hiện trong quan hệ hành chính, chính thức với người, nhóm người, cơ quan khác hoặc nhà nước)…
Có thể để vào số những khuôn sáo, những từ ngữ sau đây: nay ban hành, theo
đề nghị, căn cứ vào, chiếu quyết định thi hành, trân trọng đề nghị, có hiệu lực từ ngày, có trách nhiệm thực hiện, chấp hành nghiêm chỉnh… Để đảm bảo độ chính
xác cao, một số văn bản hành chính - công vụ ghi rất cụ thể, chi tiết đích danh nhân
vật, đối tượng, việc làm, ngày giờ, do đó sử dụng nhiều quán ngữ như: nêu trên,
dưới đây, kèm theo, bên hữu quan, cơ quan chủ quản…
Tần số sử dụng danh từ trong phong cách hành chính - công vụ cao hơn trong các phong cách chức năng ngôn ngữ khác Tính chất danh từ của lời nói hành chính
- công vụ được biểu hiện trong những trường hợp sau đây:
- Những cụm từ đóng vai trò giới từ như: trên cơ sở, với mục đích, theo
phương châm, trong ý nghĩa, bằng biện pháp, qua khảo sát…
- Những danh từ đóng vai trò định ngữ như: biện pháp hành chính, hợp đồng
kinh tế, hợp tác kỹ thuật, liên lạc văn hóa, thủ tục pháp lý, bảo hiểm xã hội, tham tán thương vụ…
- Những từ được định danh hóa từ những động từ như: sự chấp hành, sự điều
động, việc truy tố, việc giao dịch, cuộc thẩm tra, cuộc trao đổi…
Những từ sau đây: cái, sự, cuộc, nỗi, niềm, việc…, kết hợp với mọi động từ, tính từ thì nó chuyển loại thành danh từ Ví dụ: cái + chết = cái chết, sự + học = sự
học, cuộc + vui = cuộc vui, nỗi + buồn = nỗi buồn, niềm + thương = niềm thương, việc + nghiên cứu = việc nghiên cứu…
Tập hợp từ các công trình nghiên cứu: Phong cách học tiếng Việt của các tác
Trang 24giả Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa (1982); Phong cách học
và đặc điểm tu từ tiếng Việt của Cù Đình Tú (1983); Phong cách học tiếng Việt của
Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Nguyễn Thái Hòa (2002), và Giáo trình Phong cách
học tiếng Việt của Bùi Trọng Ngoãn, Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng… để có
kết quả như dưới đây:
Phong cách hành chính - công vụ thích hợp với giọng văn nghiêm túc, khách
quan, từ Hán - Việt chiếm một tỉ lệ lớn Ví dụ: hữu quan, truy cứu, trách nhiệm
hình sự, phúc tra, khởi tố, đại sứ đặc mệnh toàn quyền… Trong số từ ngữ Hán -
Việt có những từ ngữ có sắc thái cổ và màu sắc lịch sử như: ngài tổng thống, quốc
vụ khanh, đại sứ đặc mệnh toàn quyền, đại biện lâm thời…
Trong phong cách hành chính - công vụ, từ ngữ được lựa chọn khắt khe, đòi hỏi phải chính xác, rõ ràng; không dùng những từ ngữ chung chung, mơ hồ, mang tính chất hình ảnh, có tính biểu tượng; không dùng từ địa phương, biệt ngữ, tiếng lóng; không dùng những từ mang màu sắc hội thoại, khẩu ngữ, thông tục , nhằm trách gây hiểu lầm, để có thể bị bắt bẻ, xuyên tạc Vì màu sắc biểu cảm - cảm xúc
có tính chất đánh giá chủ quan của những từ này không thích hợp với tính chất thể chế, pháp quy, tính chất nghiêm túc, trang trọng cần phải có của phong cách này
1.1.5.3 Đặc điểm ngữ pháp và cách thức diễn đạt
Phong cách hành chính - công vụ dùng câu tường thuật là chủ yếu, các kiểu câu cảm thán, nghi vấn không thích hợp với yêu cầu thông tin của phong cách này
Cú pháp của phong cách hành chính - công vụ là thứ cú pháp rập khuôn, mang
sắc thái khô khan, cứng nhắc; ở đây không có sự sáng tạo về ngôn ngữ cho cá nhân
và loại trừ những cấu trúc biểu cảm của ngôn ngữ cá nhân
Phong cách hành chính - công vụ thường sử dụng những câu đơn đầy đủ hai thành phần với trật tự thuận, không sử dụng trật tự ngược; không sử dụng lời nói trực tiếp (trừ một vài thể loại như văn bản tòa án), không sử dụng những từ tình thái
và những cấu trúc xen có nội dung đưa đẩy Tính chặt chẽ của cấu trúc câu rất được coi trọng
Trang 25Cú pháp của phong cách hành chính - công vụ phản ánh xu hướng phân loại, trình bày chi tiết, xu hướng xem xét các quan hệ nhân - quả, điều kiện - kết quả trong sự thống nhất của các mặt xác nhận và quy định Do đó, trong phong cách
hành chính - công vụ được dùng nhiều câu phức rất dài với những thành phần đồng
chức, kể cả những câu trường cú, tiêu biểu trong một số loại văn bản hành chính
như hiến pháp, luật Cú pháp của phong cách hành chính - công vụ cũng như phong
cách này nói chung có nhiệm vụ diễn đạt sự xác nhận, khẳng định và trách nhiệm
thực hiện Cũng vì vậy mà trong các văn bản hành chính - công vụ xuất hiện nhiều
kiến trúc cú pháp có ý nghĩa sai khiến, với các từ ngữ thể hiện sự đòi hỏi về hiệu lực của công việc, về sự bắt buộc phải thực hiện, chấp hành, hoặc nghiêm cấm như:
cần, cần phải, có trách nhiệm thực hiện, có nhiệm vụ thi hành, chấp hành nghiêm chỉnh yêu cầu; không được, nghiêm cấm, loại trừ, bãi bỏ, không được phép…
Một đặc điểm nổi bật của cú pháp hành chính - công vụ là việc sử dụng các chữ số La Mã, Ả Rập và các chữ cái để chia tách các bộ phận của một kiến trúc phức tạp, do đó độ dài của câu phức có khi rất lớn mà nội dung ý nghĩa vẫn rõ ràng, minh bạch
Ví dụ:
“Thủ tướng Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1- Lãnh đạo công tác của Chính phủ; lãnh đạo việc xây dựng chính sách và
tổ chức thi hành pháp luật;
2- Lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, bảo đảm tính thống nhất và thông suốt của nền hành chính quốc gia;
3- Trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thứ trưởng, chức vụ tương đương thuộc bộ, cơ quan ngang bộ; phê chuẩn việc bầu, miễn nhiệm và quyết định điều động, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Trang 264- Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ;
5- Quyết định và chỉ đạo việc đàm phán, chỉ đạo việc ký, gia nhập điều ước quốc tế thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; tổ chức thực hiện điều ước quốc
tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
6- Thực hiện chế độ báo cáo trước Nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng về những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền giải quyết của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.” (trích điều 98, Hiến pháp 2013)
Trong văn bản hành chính - công vụ tồn tại một dạng câu rất đặc trưng được gọi là câu văn hành chính Đó là kiểu câu có kết cấu phức hợp để trình bày trọn vẹn nội dung nhiều mặt gồm nhiều ý gắn bó với nhau của những chỉ thị, quyết định, điều lệnh; là kiểu câu ghép ra độ dài của văn bản với nhiều mệnh đề được phân tích theo cách xuống dòng (viết hoa đầu dòng) trong các văn bản quyết định hành chính Xét về mặt cú pháp thì bất cứ một điều khoản quyết định hành chính nào dù nội
dung phức tạp bao nhiêu thì cũng chỉ được trình bày trong giới hạn một câu Mô
hình chung của câu trong các quyết định hành chính là:
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Tỉnh, thành phố, ngày … tháng … năm … CHỨC VỤ RA QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào …;
Căn cứ vào …;
Xét đề nghị của …,
Trang 271.1.5.4 Đặc điểm trình bày, diễn đạt
Văn bản hành chính - công vụ thuộc loại giấy tờ có quan hệ trực tiếp đến sự thực hiện thống nhất trong xã hội, vì vậy trong cách trình bày, văn bản hành chính phải luôn luôn thể hiện được tính xác định của nội dung, tính đơn nghĩa để mọi người cùng hiểu và cùng thực hiện theo một cách Hình thức văn bản hành chính là biểu hiện trực tiếp của tính quy củ trong thể chế hành chính, vì vậy mỗi loại văn bản đều có quy định về cách trình bày riêng và đồng bộ
Văn bản hành chính - công vụ thuộc loại giấy tờ có quan hệ đến thể chế quốc gia, của xã hội, có tổ chức cho nên sự diễn đạt ở đây phải luôn thể hiện tính nghiêm túc; diễn đạt theo những mẫu đã quy định cho mỗi loại văn bản Các văn bản như Hiến pháp, luật, quyết định, thông tư… mang tính chất khuôn phép cao cho nên không chấp nhận phong cách diễn đạt riêng của cá nhân
Do yêu cầu cao về sự ngắn gọn và súc tích, văn bản hành chính - công vụ cho phép viết tắt, nói tắt tên gọi các tổ chức, công ty và chức danh ở một số chỗ trong văn bản như: phần kí hiệu văn bản, phần trích yếu (V/v…), thay mặt, thừa lệnh ký văn bản, Phó (P.Chủ tịch), nơi gửi…
Ví dụ những từ ngữ thường viết tắt:
Nghị định số 01/2005/NĐ-CP: nghị định của Chính phủ
V/v… Về việc…
Trang 28Bộ GD và ĐT (Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Nxb CTQG (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia); Nxb KHXH (Nhà xuất bản
Khoa học Xã hội)
Vinataba (Công ty Thuốc lá Việt Nam)
Bộ trưởng Ngoại giao hoặc Ngoại trưởng (Bộ trưởng Bộ Ngoại giao)
T/M (thay mặt)
T/L (thừa lệnh)
1.2 Giới thiệu chung về các bản Hiến pháp ở Việt Nam
1.2.1 Định nghĩa Hiến pháp
Thuật ngữ Hiến pháp có nguồn gốc La tinh là “Constitutio” có nghĩa là xác
định, quy định Nhà nước cổ La Mã dùng thuật ngữ này để gọi các văn bản quy định của nhà nước Nhưng, với ý nghĩa như ngày nay là một đạo luật cơ bản, có hiệu lực
pháp lý cao nhất so với các đạo luật khác thì Hiến pháp chỉ được dùng trong cách
mạng tư sản, trong cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp tư sản đang lên và nắm vị trí thống trị cả lĩnh vực chính trị, với giai cấp phong kiến đang suy tàn vẫn còn cố giữ
sự thống trị chính trị của mình trong xã hội, từ thế kỷ thứ 13 đến thế kỷ 19 Còn ở
phương Đông (Trung Quốc cổ đại) thuật ngữ Hiến pháp được dùng với nghĩa là pháp lệnh (kỷ cương, phép nước) Trong sách cổ Trung Quốc, chữ Hiến pháp dùng
để chỉ một loại chế độ nói chung, như “thưởng thiện, phạt gian, quốc chi Hiến pháp”, ý nghĩa của nó hoàn toàn khác với ý nghĩa như ngày nay Năm 1908, nhà Thanh đã ban hành một văn bản gọi là “Hiến pháp đại cương” nhằm duy trì chế độ chuyên chế phong kiến Sau cách mạng Tân Hợi, Chính phủ lâm thời Nam Kinh đã ban hành “Ước pháp Lâm thời Trung Hoa dân quốc”, đây là văn bản đầu tiên có tính chất Hiến pháp của Trung Hoa dân quốc [30]
Ngày nay, chúng ta có thể tìm thấy nhiều định nghĩa về Hiến pháp, tùy thuộc vào góc độ nhìn nhận của các nhà nghiên cứu Theo cách định nghĩa hiện đại và phổ biến được nêu trong cuốn Từ điển Luật “Black’s Law Dictionary” (tái bản lần thứ 9,
Trang 292009): Hiến pháp là luật tổ chức cơ bản của một quốc gia hay một nhà nước nhằm thiết lập các thể chế và bộ máy của chính quyền, xác định phạm vi của chính quyền,
và bảo đảm các quyền và tự do của công dân
Chúng tôi thống nhất theo quan điểm chung nhất, Hiến pháp là một đạo luật cơ
bản do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành quy định việc tổ chức nhà nước, cơ cấu, thẩm quyền các cơ quan nhà nước trung ương và quyền cơ bản của con người Mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân phải có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp
Hiến pháp có một số đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, Hiến pháp là luật tổ chức: Hiến pháp xác lập các quy tắc tổ chức và
vận hành các cơ quan cơ bản trong bộ máy nhà nước, như cơ quan lập pháp (quốc hội hay nghị viện), cơ quan hành pháp (chính phủ), và cơ quan tư pháp (tòa án)
Thứ hai, Hiến pháp là luật cơ bản, vì: (1) Hiến pháp là nền tảng pháp lý của sự
tồn tại và vận hành của toàn bộ hệ thống chính trị; (2) Hiến pháp là nền tảng của toàn bộ hệ thống pháp luật; (3) Hiến pháp bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của con người và của công dân
Thứ ba, Hiến pháp là luật tối cao: Hiến pháp có hiệu lực pháp lý cao nhất; tất
cả các văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp Cơ sở của tính tối cao của Hiến pháp so với các văn bản luật là ở chỗ Hiến pháp là văn bản phản ánh một cách toàn vẹn nhất chủ quyền nhân dân, do nhân dân lập ra; trong khi luật thì do nghị viện (là cơ quan đại diện của nhân dân, do nhân dân) lập ra [30, tr 17-18] Như vậy, có thể nói, Hiến pháp là văn bản pháp luật có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống pháp luật và đời sống chính trị của mỗi quốc gia; đồng thời có thể coi là tuyên ngôn chính trị của mỗi chính thể nhà nước Hiến pháp được gọi là đạo luật cơ bản, luật gốc của Nhà nước, các quy định của Hiến pháp là cơ sở pháp
lý để xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất; đồng thời là cơ
sở cho việc tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước
Trang 301.2.2 Phân loại Hiến pháp
Qua học tập, nghiên cứu về chương trình quản lý hành chính nhà nước, chúng tôi được biết, tính đến nay trên thế giới có hơn 190 nước có Hiến pháp Theo các nguyên tắc khác nhau, Hiến pháp có thể chia thành nhiều loại:
- Hiến pháp thành văn và Hiến pháp bất thành văn
- Hiến pháp cổ điển và Hiến pháp hiện đại
- Hiến pháp cương tính và Hiến pháp nhu tính
- Hiến pháp tư bản chủ nghĩa và Hiến pháp xã hội chủ nghĩa
Theo các cách phân chia trên, thì Hiến pháp của Việt Nam thuộc loại Hiến pháp thành văn, Hiến pháp hiện đại, Hiến pháp nhu tính, và là Hiến pháp xã hội chủ nghĩa
1.2.3 Hoàn cảnh ra đời và nội dung cơ bản của các bản Hiến pháp của Việt Nam
Ngày 28 tháng 11 năm 2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua bản Hiến pháp mới Như vậy, cho đến thời điểm hiện nay, Việt Nam đã có 5 bản Hiến pháp, đó là: Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp
1980, Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2011) và Hiến pháp 2013
Theo dòng lịch sử lập hiến của nước ta, chúng ta điểm lại hoàn cảnh ra đời của
5 bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992 và 2013):
1.2.3.1 Hiến pháp 1946
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta là một nước thuộc địa nửa phong kiến, có bộ máy thống trị trực tiếp của thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn theo chính thể quân chủ chuyên chế, nhưng thực chất triều đình nhà Nguyễn là bộ máy tay sai của thực dân Pháp Bởi vậy, nước ta là một nước thuộc địa không có Hiến pháp [49, tr 111] Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công,
ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ngày 03/9/1945, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề về sự cần thiết phải có
Trang 31một bản Hiến pháp dân chủ cho nước Việt Nam Mặc dù trong điều kiện hết sức khó khăn của những ngày đầu giành được độc lập, Chính phủ lâm thời lúc đó vẫn tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa đầu tiên vào ngày 06/01/1946 Sau 10 tháng chuẩn bị tích cực, dưới sự chỉ đạo sâu sát của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 09/11/1946, Quốc hội khóa I (kỳ họp thứ 2) chính thức thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta, đó là Hiến pháp 1946 Hiến pháp 1946 ra đời là
sự khẳng định mạnh mẽ về mặt pháp lý chủ quyền quốc gia của nhân dân Việt Nam,
sự độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tuy nhiên,
do điều kiện chiến tranh nên bản Hiến pháp 1946 không được chính thức công bố Mặc dù vậy, những tinh thần và nội dung của Hiến pháp 1946 luôn được Chính phủ lâm thời và Ban Thường vụ Quốc hội áp dụng, điều hành đất nước
Hiến pháp 1946 bao gồm Lời nói đầu và 7 chương, 70 điều Lời nói đầu xác định nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ Lời nói đầu xác định 3 nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp, đó là: Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái, trai, giai cấp, tôn giáo; đảm bảo các quyền tự do dân chủ; thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân
Tư tưởng lập hiến của Hiến pháp 1946 luôn được kế thừa và phát triển trong các bản Hiến pháp sau này
1.2.3.2 Hiến pháp 1959
Tính đến thời điểm năm 1959, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời và phát triển được 14 năm Trong khoảng thời gian đó, có nhiều sự kiện chính trị quan trọng xảy ra làm thay đổi tình hình chính trị, xã hội của đất nước Ngay sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp 1946, thực dân Pháp lại gây ra chiến tranh xâm lược nước ta một lần nữa Nhân dân ta đã đoàn kết chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ, kiên quyết đập tan âm mưu nô dịch của thực dân Pháp và bè lũ tay sai bán nước Ngày 07/5/1954, với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã tạo tiền đề cho Hiệp định Giơ-
Trang 32ne-vơ (các bên ký kết ngày 20/7/1954), văn kiện quốc tế đầu tiên, tuyên bố tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam Tuy nhiên, ngay sau đó được sự ủng hộ trực tiếp của Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền nam Việt Nam đã cự tuyệt thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam Sự thay đổi của tình hình chính trị - xã hội nói trên đã làm cho Hiến pháp 1946 không có điều kiện áp dụng trên phạm vi cả nước Mặt khác, nhiều quy định của Hiến pháp 1946 cũng không còn phù hợp với điều kiện cách mạng nước ta ở miền Bắc lúc bấy giờ Vì vậy, việc yêu cầu sửa đổi Hiến pháp 1946 đã được đặt ra Để thực hiện được nhiệm vụ này, Chính phủ đã thành lập một Ban sửa đổi Hiến pháp với 28 thành viên, do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban Ngày 01/4/1959, bản dự thảo Hiến pháp mới đã được công bố để toàn dân thảo luận và đóng góp ý kiến Đến ngày 31/12/1959, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiến pháp mới thay thế Hiến pháp 1946; và ngày 01/01/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Lệnh công bố bản Hiến pháp 1959
Hiến pháp 1959 gồm có Lời nói đầu, 10 chương và 112 điều Hiến pháp 1959
là sự kế thừa và phát triển của Hiến pháp 1946 trong giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam Nó là cơ sở, nền tảng để xây dựng toàn bộ hệ thống pháp luật ở miền Bắc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
1.2.3.3 Hiến pháp 1980
Ngày 30/4/1975 đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đất nước hoàn toàn thống nhất, non sông thu về một mối Nước nhà đã hoàn toàn độc lập, tự do là điều kiện thuận lợi để thống nhất hai miền Nam - Bắc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Ngày 25/4/1976, cuộc Tổng tuyển cử theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu đã bầu ra 492 vị đại biểu Quốc hội khóa VI Từ ngày 24/6 đến 03/7/1976, Quốc hội khóa VI tiến hành kỳ họp đầu tiên Tại kỳ họp này, ngày 02/7/1976, Quốc hội đã quyết định đổi tên nước ta thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng thời ra Nghị quyết về việc sửa đổi Hiến pháp năm 1959 và thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp gồm 36 người do đồng chí Trường Chinh -
Trang 33Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội làm Chủ tịch Ủy ban dự thảo Hiến pháp mới Đến tháng 8/1979, bản dự thảo Hiến pháp mới được đưa ra lấy ý kiến nhân dân cả nước Ngày 18/12/1980, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa VI đã nhất trí thông qua Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hiến pháp 1980 gồm 12 chương, 147 điều
Hiến pháp 1980 đã đánh cột mốc quan trọng trong lịch sử nước ta Đó là bản tổng kết những thành tựu của nhân dân Việt Nam đã giành được qua nửa thế kỷ đấu tranh giành dộc lập, tự do, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; lần đầu tiên vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được hiến định tại Điều 4, đây là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong thời
kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Đó là bản Hiến pháp thể hiện ý chí của nhân dân hai miền Nam - Bắc đoàn kết một lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội
1.2.3.4 Hiến pháp 1992
Trong những năm cuối của thập kỉ 80, thế kỉ XX, do ảnh hưởng của phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế lâm vào thoái trào, các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới với nhiều chủ trương, giải pháp quan trọng để giữ vững ổn định về chính trị và tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội; trong bối cảnh đó, nhiều quy định của Hiến pháp 1980 không còn phù hợp với yêu cầu xây dựng đất nước trong điều kiện mới Ngày 22/12/1988, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa VIII đã ra Nghị quyết thành lập Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp gồm 28 đồng chí do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công làm Chủ tịch Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp Đến ngày 15/4/1992, trên cơ sở tổng hợp ý kiến của nhân dân cả nước, bản dự thảo Hiến pháp mới lần này đã được Quốc hội khóa VIII thông qua tại kỳ họp thứ 11
Hiến pháp 1992 được gọi là Hiến pháp của Việt Nam trong thời kỳ đầu của tiến trình đổi mới, dân chủ xã hội chủ nghĩa được mở rộng, tư duy độc lập, sáng tạo
Trang 34của mọi tầng lớp nhân dân được khuyến khích Tất cả nhằm mục tiêu xây dựng một
xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Ngày 25/12/2001, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa X đã thông qua Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Hiến pháp 1992 gồm 12 chương,
147 điều
1.2.3.5 Hiến pháp 2013
Trên cơ sở Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam,
cùng với kết quả tổng kết thực tiễn qua 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã đặt ra yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992; nhằm thể chế hóa đầy đủ hơn, sâu sắc hơn quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đề cao chủ quyền nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và đảm bảo tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân Ngày 06/8/2011, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIII, đã thông qua Nghị quyết số 06/2011/QH13 thành lập Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 gồm 30 thành viên, do đồng chí Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội làm Chủ tịch Ủy ban Sau thời gian 09 tháng (từ tháng 01 đến tháng 9/2013) triển khai lấy ý kiến góp ý của nhân dân cả nước và người Việt Nam ở nước ngoài, ngày 28/11/2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII chính thức thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Hiến pháp 2013 Ngày 08/12/2013, Chủ tịch nước đã ký Lệnh công bố Hiến pháp Hiến pháp 2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014 Đây là bản Hiến pháp của thời kỳ tiếp tục đổi mới đất nước trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế
Bản Hiến pháp 2013 là văn kiện đặc biệt quan trọng, thể hiện tập trung ý chí của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, tạo cơ sở chính trị - pháp lý vững chắc cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong thời kỳ mới, giai đoạn cách mạng mới nhằm xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Trang 35Hiến pháp 2013 có 11 chương, 120 điều, so với Hiến pháp 1992 giảm 27 điều Hiến pháp sửa đổi lần này có sự sắp xếp lại các chương, như chương 11 về Quốc huy, Quốc kỳ, Quốc ca, Thủ đô nhập vào chương 1 Quyền và nghĩa vụ của công
dân được đưa lên chương 2 với tên gọi mới là “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân” Có một chương hoàn toàn mới là chương 10 quy định về các thiết chế hiến
định độc lập
Hiến pháp 2013 có nhiều điểm mới cả về nội dung và kỹ thuật lập hiến, thể hiện sâu sắc công cuộc đổi mới đồng bộ, toàn diện đất nước; thể hiện rõ và đầy đủ hơn bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước và chế độ ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân do Đảng lãnh đạo; quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; quy định rõ ràng, đúng đắn, đầy đủ và khái quát hơn về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường, bảo vệ Tổ quốc, tổ chức bộ máy Nhà nước, hiệu lực và quy trình sửa đổi Hiến pháp
Đặc biệt, ở Lời nói đầu của Hiến pháp 2013 có sự chắt lọc, lựa chọn từ ngữ và
thể hiện theo hướng nêu bật một cách ngắn gọn, súc tích tinh thần, nội dung của Hiến pháp, phản ánh được lịch sử hào hùng của dân tộc, những mốc lịch sử quan trọng, thành quả cách mạng to lớn mà Nhân dân ta đã đạt được Qua đó đã thể hiện
rõ mục tiêu dân chủ và khẳng định quyền làm chủ của Nhân dân Việt Nam trong việc xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Kết cấu của bản Hiến pháp 2013 như sau:
Lời nói đầu
Chương I: Chế độ chính trị (Điều 1 - 13)
Chương II: Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (Điều
14 - 49)
Trang 36Chương III: Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi
trường (Điều 50 - 63)
Chương IV: Bảo vệ Tổ quốc (Điều 64 - 68)
Chương V: Quốc hội (Điều 69 - 85)
Chương VI: Chủ tịch nước (Điều 86 - 93)
Chương VII: Chính phủ (Điều 94 - 101)
Chương VIII: Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân (Điều 102 - 109) Chương IX: Chính quyền địa phương (Điều 110 - 116)
Chương X: Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước (Điều 117 - 118) Chương XI: Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp (Điều 119 - 120)
1.2.4 Đặc điểm chung về ngôn ngữ trong các bản Hiến pháp của Việt Nam
Qua khảo sát các bản Hiến pháp của Việt Nam, chúng tôi nhận thấy rằng, ngôn ngữ trong các bản Hiến pháp có những đặc điểm chung sau đây:
Thứ nhất, ngôn ngữ sử dụng trong các bản Hiến pháp Việt Nam là tiếng Việt,
mặc dù trong 04 bản Hiến pháp trước Hiến pháp 2013 không có điều khoản nào quy định tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia, ngôn ngữ chính thức Tiếng Việt sử dụng trong Hiến pháp là tiếng Việt phổ thông, chuẩn mực, có tính chính xác với cách diễn đạt rõ ràng, khoa học nhưng vẫn thể hiện được tính đại chúng cao, gần gũi với mọi người dân
Thứ hai, về mặt nguyên tắc, mỗi từ ngữ sử dụng trong Hiến pháp đều được
hiểu theo một nghĩa nhất định Ngôn ngữ trong Hiến pháp đảm bảo tính nghiêm túc của văn bản pháp luật Trong Hiến pháp không sử dụng từ đa nghĩa, ẩn dụ để tránh cho người tiếp nhận có nhiều cách hiểu khác nhau về nội dung văn bản, dẫn đến khó khăn trong quá trình thực hiện
Thứ ba, tính chính xác của văn bản yêu cầu không chỉ ở chính tả, về nghĩa của
từ, mà còn yêu cầu sự chính xác trong cách viết câu và dùng dấu câu Trong mỗi
Trang 37câu của các bản Hiến pháp không chỉ đầy đủ các thành phần chính của câu như chủ ngữ và vị ngữ, đủ ý, mà còn thể hiện sự ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu và chính xác cao Hiến pháp sử dụng vốn từ sâu rộng và có khả năng kết hợp từ ngữ một cách chặt chẽ, logic và đúng ngữ pháp Các loại dấu câu đều được dùng trong Hiến pháp trừ dấu chấm than (!) và dấu hỏi chấm (?)
Thứ tư, trong Hiến pháp sử dụng một hệ thống thuật ngữ phong phú và đa
dạng Hệ thống thuật ngữ trong Hiến pháp là một hệ thống phức hợp của chuyên ngành luật học và thuật ngữ liên quan đến đối tượng mà văn bản luật đó hướng tới điều chỉnh
1.3 Tiểu kết
Trong chương này, chúng tôi trình bày hai vấn đề lí luận chính liên quan đến
đề tài (1) Một số vấn đề về phong cách chức năng ngôn ngữ hành chính - công vụ: Khái niệm phong cách chức năng ngôn ngữ hành chính - công vụ; các kiểu loại văn bản; chức năng; các đặc trưng và các đặc điểm ngôn ngữ của phong cách chức năng ngôn ngữ hành chính - công vụ (2) Luận văn giới thiệu về Hiến pháp và các bản Hiến pháp ở Việt Nam: Hoàn cảnh ra đời và nội dung cơ bản của các bản Hiến pháp Việt Nam; đặc điểm chung về ngôn ngữ trong các bản Hiến pháp này
Dựa vào những khái niệm, lý thuyết nền tảng về phong cách chức năng ngôn ngữ hành chính - công vụ, về từ vựng - ngữ nghĩa và ngữ pháp tiếng Việt để phân tích đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa và ngữ pháp trong văn bản Hiến pháp 2013, và bước đầu đặt một điểm nhìn về đặc điểm ngôn ngữ của văn bản pháp quyền trong phần chương 2 và chương 3 của luận văn này
Trang 38Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất sử dụng định nghĩa về từ tiếng Việt của Vũ Đức Nghiệu để làm cơ sở cho việc nghiên cứu, khảo các vấn đề có liên quan
đến từ vựng trong bản Hiến pháp 2013: Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu
võ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu [11, tr 142]
Trong các giáo trình từ vựng học, các nhà ngôn ngữ học thường phân tích, miêu tả về: (1) Cấu tạo từ; (2) các bình diện nghĩa của từ (nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái, nghĩa cấu trúc); (3) các quan hệ ngữ nghĩa trong hệ thống từ vựng (đa nghĩa, đồng âm, trái nghĩa, trường nghĩa); (4) hệ thống từ vựng (các lớp từ) Cụ thể là:
a) Nếu nghiên cứu bình diện từ vựng học, lúc này từ được nghiên cứu theo quan hệ hướng nội và quan hệ hướng ngoại hoặc từ trong hệ thống và từ trong hành động Cụ thể hơn là các bình diện: cấu tạo từ; các bình diện nghĩa của từ; các quan
hệ ngữ nghĩa trong hệ thống từ vựng; hệ thống từ vựng
b) Nếu nghiên cứu dước góc độ từ pháp học, thì từ được nghiên cứu ở hai bình diện: cấu tạo từ và từ loại
c) Nếu nghiên cứu góc độ phong cách học, người ta nghiên cứu về sắc thái tu
từ và màu sắc phong cách của đơn vị từ vựng
Trong chương này, chúng tôi tập trung nghiên cứu, khảo sát các yếu tố: các
Trang 39lớp từ vựng xét theo các tiêu chí từ vựng học: nguồn gốc, phạm vi sử dụng, mức độ
sử dụng; các lớp từ vựng xét theo tiêu chí cấu tạo từ; các lớp từ vựng xét theo tiêu chí phạm vi biểu vật; và các lớp từ vựng xét theo bình diện phong cách học trong bản Hiến pháp 2013 Bởi vì, đây là những yếu tố cơ bản của từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt được sử dụng trong phong cách chức năng ngôn ngữ hành chính - công
vụ nói chung và văn bản Hiến pháp 2013 nói riêng Điều đáng lưu ý ở đây, cấu tạo
từ vừa là đối tượng của từ vựng học, vừa là đối tượng của ngữ pháp học, nhưng để
tránh nặng nề cho chương 3, chúng tôi đưa vào phần nội dung của chương 2
2.1 Các lớp từ vựng trong Hiến pháp 2013 xét theo tiêu chí từ vựng học
Nếu phân chia theo nguồn gốc sẽ có 3 loại từ: từ thuần Việt, từ Hán Việt và từ
có nguồn gốc Ấn - Âu Tuy nhiên, về mặt lý luận vẫn phải có sự phân biệt rạch ròi thế nào là từ thuần Việt, từ Hán Việt và từ có nguồn gốc Ấn - Âu
2.1.1 Các lớp từ vựng xét theo tiêu chí nguồn gốc
Số lượng các lớp từ vựng trong bản Hiến pháp 2013 xét theo tiêu chí nguồn gốc được chúng tôi khảo sát có kết quả như sau:
Bảng 2.1 Số lượng các lớp từ vựng trong Hiến pháp 2013 theo tiêu chí nguồn gốc
2013 Nếu thống kê từ theo đơn vị từ điển thì có tổng cộng 688 từ, ngữ
Trang 40Ví dụ:
- Từ thuần Việt: trải qua, mấy, nghìn, năm, để, dựng nước, và, giữ nước, đã,
nên, yêu nước, dưới, của, do, ta, lâu dài, đầy, vì, tháng tám, ngày, tháng, năm, đọc, ra, nước, nay, là, được, giúp đỡ, bạn bè, trên, đã, giành, trong, các, cuộc, đất nước, nhà nước, làm, đạt, những, to lớn, có, đi lên, dân giàu, nước mạnh, bao gồm, đất liền…
- Từ Hán Việt: lịch sử, nhân dân, lao động, truyền thống, nhân nghĩa, văn
hiến, lãnh đạo, cộng sản, chủ tịch, sáng lập, dân tộc, cách mạng, thành công, tuyên ngôn, cộng hòa, nghĩa vụ, quốc tế, thành tựu, chủ nghĩa xã hội, cương lĩnh, thời kỳ, quá độ, quyền lực, toàn diện, giai cấp, công nhân, tăng cường, đồng thuận,
xã hội, giám sát, phản biện, đối ngoại, chính trị, xã hội, quốc khánh, dân sự, kinh
tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, Hiến pháp, pháp luật, quyền, nghĩa vụ, quy định…
- Từ có nguồn gốc Ấn - Âu: Mác - Lê nin
2.1.1.1 Từ thuần Việt
Từ thuần Việt là những từ vốn có của tiếng Việt, chứ không phải là những từ
tiếng Việt tiếp nhận của các ngôn ngữ khác Tiếng Việt được tách ra từ ngôn ngữ Việt Mường, hiển nhiên nó kế thừa kho từ ngữ của ngôn ngữ Việt Mường Những
từ ngữ ấy có thể có nguồn gốc Nam Á, Thái - Kađai, Mã Lai Đa đảo, gốc Hán, hay gốc khác thì vẫn có thể coi chúng là từ ngữ thuần Việt [20, tr 567]
Từ thuần Việt trong bản Hiến pháp 2013 chủ yếu là các hư từ trong tiếng Việt
như: với, của, là, các, trên, trong, vì, và, do… Ngoài ra, còn có một số thực từ thuần Việt như: nhà nước, dựng nước, giữ nước, vùng đất, vùng trời, vùng biển, đất liền,
kín, dân giàu, nước mạnh, công bằng, đấu tranh…