+ Nhằm tiếp tục gia tăng số lượng và chất lượng công trình công bố quốc tế trong thời gian tới, đa dạng hóa các loại hình tài liệu trong công bố còn thiếu như phát minh, sáng chế,… rất [r]
Trang 1XU HƯỚNG NGHIÊN CỨU VÀ HỢP TÁC 37
TRONG CÔNG BỐ QUỐC TẾ CỦA ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2014-2019: NHÌN TỪ SỐ LIỆU SCOPUS VÀ WOS
ThS Lê Bá Lâm
Tóm tắt: Bài viết thống kê số lượng, loại hình, số trích dẫn, tác giả, chủ đề, liên kết hợp tác,… các công bố quốc tế của ĐHQGHN
giai đoạn 2014-2019 từ cơ sở dữ liệu Scopus và Web of Science Qua các số liệu đó phân tích, đánh giá năng suất công bố, xu hướng nghiên cứu, hợp tác trong nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế, đồng thời đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao số lượng, chất lượng, loại hình và tránh thất thoát khi kiểm đếm công trình, ảnh hưởng đến các chỉ số xếp hạng đại học.
LỜI DẪN
Năm 2019 đã khép lại, ĐHQGHN nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, thách thức để hoàn thành xuất sắc
sứ mệnh, nhiệm vụ là đơn vị đầu tàu của ngành giáo dục và đào tạo Việt Nam Với nhiều sự kiện và thành tựu tiêu biểu đạt được trong năm 2019 về các lĩnh vực như đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, xếp hạng đại học (Bảng THE: TOP 801-1000; Bảng QS: TOP 1000; WEBOMETRICS: số 1 Việt Nam và
1013 thế giới; Ba nhóm ngành Khoa học tự nhiên xếp trong khoảng TOP 450-600 QS,…), có nhiều nhà khoa học được PLOS xếp trong nhóm 100.000 nhà khoa học có ảnh hưởng nhất thế giới, hai giảng viên ĐHQGHN được Viện Hàn lâm của Cộng hòa Pháp vinh danh tặng huân chương về Văn học nghệ thuật
và Cành cọ Hàn lâm,… và trong đó có một kết quả đặc biệt quan trọng đóng góp vào các thành tựu to lớn trên chính là các công bố quốc tế thuộc danh mục Scopus và WoS của cán bộ, giảng viên, nhà nghiên cứu thuộc ĐHQGHN
Giai đoạn 2014-2019, số liệu các công bố quốc tế của ĐHQGHN thuộc danh mục Scopus và WoS như sau [1], [2]:
Trang 238 CẨM NANG TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 2019
• Số lượng công bố
Bảng 1: Số lượng công bố
Scopus/WoS
*Số liệu thu thập đến 23/12/2019
Hình 1: Đồ thị số lượng công bố
Có thể nhận thấy rằng giai đoạn 2014-2019 là giai đoạn đạt nhiều thành tựu nhất trong lĩnh vực công
bố quốc tế của ĐHQGHN từ trước đến nay Trong 5 năm 2014-2018 ĐHQGHN công bố trong Scopus/ WoS 3.814 công trình và 2015 đến 23/12/2019 là 4.360 công trình Giai đoạn này số bài về khoa học xã hội và nhân văn tuy chưa nhiều nhưng đã có những kết quả khả quan Từ năm 2018 đã có sự tăng trưởng tích cực (trong Scopus có gần 100 bài chiếm 7% tổng số công bố của ĐHQGHN) Từ năm 2016, số lượng công bố quốc tế của ĐHQGHN đạt trên 1.000 bài/năm, tăng gần gấp đôi so với năm 2014 và mỗi năm đều
có xu hướng tăng thêm (100 bài)
Nếu so sánh ở phạm vi quốc gia và chỉ tính các công bố trong cơ sở dữ liệu Scopus thì các công trình công
bố của ĐHQGHN chiếm 1/10 của cả nước (Việt Nam có khoảng ~ 40.000 (39.869) công trình) [1]
Trang 3XU HƯỚNG NGHIÊN CỨU VÀ HỢP TÁC 39
• Loại hình công trình công bố
Trong tổng số gần 3.700 công trình trong Scopus và 3.300 công trình trong WoS thì loại hình bài tạp chí
chiếm đa số (khoảng 80%), tiếp đến là các bài kỷ yếu hội nghị, hội thảo (dưới 20%), còn lại là các loại hình tài
liệu khác như sách, chương sách, reviews, letters, notes, surveys,…
Bảng 2: Loại hình tài liệu công bố
• Lĩnh vực, xu hướng công bố
Hình 2: Lĩnh vực công bố
Nhìn vào hình vẽ cho thấy lĩnh vực khoa học công bố của ĐHQGHN trong 5 năm qua trong TOP 10 chủ yếu vẫn là các chủ đề về khoa học tự nhiên và công nghệ, đặc biệt là trong cơ sở dữ liệu WoS (theo truyền thống là các nghiên cứu về khoa học tự nhiên và công nghệ), các nghiên cứu về khoa học xã hội chỉ chiếm chưa được 5% Đây là vấn đề trăn trở không chỉ đối với các đơn vị đào tạo và nghiên cứu như Đại học KHXH&NV, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Kinh tế, Đại học Giáo dục, Khoa Luật,… của ĐHQGHN mà đối với tất cả các đơn
vị đào tạo và nghiên cứu về khoa học xã hội nói chung của Việt Nam
Trang 440 CẨM NANG TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 2019
Hình 3: Đồ thị tổng hợp công bố quốc tế theo lĩnh vực và liên kết các lĩnh vực
Tọa đàm với chủ đề “Công bố quốc tế trong lĩnh vực KHXH&NV - Những giải pháp tổng thể” tại trường Đại học KHXH & NV, ĐHQGHN đã nhận định: “Công bố quốc tế trước những năm 2000 của các nhà nghiên cứu KHXH&NV Việt Nam không chỉ đơn điệu, hạn chế về số lượng mà cũng yếu về chất lượng Những nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí quốc tế có uy tín phần lớn do các nghiên cứu sinh Việt Nam và người Việt ở nước ngoài thực hiện Trong nhiều thập kỷ, chúng ta không đòi hỏi các nhà khoa học phải công bố quốc tế, lại có
xu hướng xem nhẹ các xuất bản quốc tế về khoa học xã hội do một nhận thức phi lý rằng chỉ những người có chung ý thức hệ và nhãn quan chính trị với phương Tây mới có công bố quốc tế Tuy nhiên, có một thực tế là
số bài viết đã tăng lên nhưng vẫn chủ yếu tập trung ở một số tác giả nhất định là những người đã từng được đào tạo hoặc tu nghiệp ở nước ngoài, phần đông thuộc nhóm tuổi từ 30 đến 50 và thường xuyên có bài công
bố quốc tế Chẳng hạn, năm học 2017-2018 là năm Trường Đại học KHXH & NV có số bài công bố quốc tế nhiều nhất cũng mới chỉ có 54 cán bộ tham gia viết bài (là tác giả hoặc đồng tác giả) của 79 bài công bố quốc
tế, trung bình 1,5 bài/tác giả, tuy có người công bố từ 3 đến 4 bài viết quốc tế/năm So với tiềm lực của trường gồm 344 giảng viên, trong đó có 70 Phó Giáo sư, 5 Giáo sư, 133 người có học vị tiến sỹ và 147 người có học vị thạc sỹ thì số người có công bố quốc tế vẫn còn rất khiêm tốn.” [4]
Mặc dù số lượng nghiên cứu/công bố quốc tế không đồng đều cho các lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu nhưng qua kết quả thống kê, phân tích thì trong 27 chủ đề/lĩnh vực khoa học chính trong cơ sở dữ liệu Scopus đều có nghiên cứu, bài đóng góp của ĐHQGHN
Ở phạm vi quốc gia, các chủ đề về Sinh học, Hóa học, Gen của ĐHQGHN là những thế mạnh, tuy nhiên
số lượng công trình chưa phải là nổi bật Lĩnh vực Y-Dược tuy còn non trẻ nhưng một vài năm gần đây số
Trang 5XU HƯỚNG NGHIÊN CỨU VÀ HỢP TÁC 41
lượng công bố quốc tế có chiều hướng tăng lên rất đáng khích lệ Điều này khẳng định hướng đi đúng đắn, phát triển đa dạng các lĩnh vực khoa học tại ĐHQGHN
Phân tích, đánh giá vĩ mô thì từ năm 2014 đến năm 2019 trong cơ sở dữ liệu Scopus có trên 17 triệu công trình trong đó các nghiên cứu tập trung vào lĩnh vực khoa học sức khỏe, nghiên cứu ung thư, dinh dưỡng, sinh
hóa, sinh học phân tử, công nghệ hóa học,… thể hiện ở Hình 4
Hình 4: Top 50 từ khóa/chủ đề của trên 17 triệu công trình toàn thế giới Việt Nam: 39.075 công trình ĐHQGHN: 3.693 công trình
Hình 5: Đồ thị phần trăm các lĩnh vực nghiên cứu của Việt Nam và ĐHQGHN [1]
Trang 642 CẨM NANG TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 2019
Hình 6: Tỉ trọng (%) top 10 lĩnh vực công bố của Việt Nam và ĐHQGHN
So sánh tỉ trọng top 10 lĩnh vực công bố quốc tế của Việt Nam với ĐHQGHN nhận thấy cơ bản các chủ đề/lĩnh vực công bố là tuyến tính (Xu hướng nghiên cứu của Việt Nam và ĐHQGHN cùng tập trung vào chủ đề/nhóm chủ đề về kỹ thuật, khoa học công nghệ là chủ yếu) Một số thế mạnh của ĐHQGHN đều được bộc
lộ như Vật lý, khoa học môi trường và “điểm hạn chế” về khoa học sức khỏe, y học do lĩnh vực này mới được thành lập cũng đã được thể hiện Các nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn cũng có tỉ trọng cao hơn so với bức tranh chung của Việt Nam
• Hợp tác nghiên cứu và công bố
Hợp tác trong nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế, tạo dựng bầu không khí học thuật, sáng tạo trong giới chuyên môn là yếu tố vô cùng quan trọng, đặc biệt đối với các nhà nghiên cứu trẻ Các hội nghị - hội thảo, seminar khoa học có sự tham gia của các học giả quốc tế là những cơ hội quý báu để phát triển, nâng tầm các mối quan hệ hợp tác nhất là trong nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận một thực
tế là những hoạt động này dường như lâu nay còn nặng về hình thức mà không quan tâm đến hiệu quả thiết thực
đó là đầu ra của sản phẩm khoa học
Thống kê cho thấy sự hợp tác trong nghiên cứu với các đơn vị trong và ngoài nước ngày càng gia tăng, mối liên hệ giữa các nhà khoa học đơn ngành và liên ngành ngày càng được mở rộng và tăng cường Hiện ĐHQGHN đã mở rộng quan hệ và hợp tác với rất nhiều đối tác là các đại học lớn trên thế giới; Nhiều ngành mới cũng được thành lập như Công nghệ Nông nghiệp, Hàng không vũ trụ, Luật Thương mại quốc tế,… mang lại nhiều cơ hội hợp tác nghiên cứu khoa học đối với cán bộ, giảng viên và nhà nghiên cứu
Trang 7XU HƯỚNG NGHIÊN CỨU VÀ HỢP TÁC 43
Bảng 3: TOP 10 đại học, viện nghiên cứu hợp tác với ĐHQGHN [3]
Theo bảng số liệu trên, trong Top 10 Đại học và Viện nghiên cứu có quan hệ hợp tác nghiên cứu khoa học, công bố quốc tế với ĐHQGHN vẫn là những đơn vị “truyền thống” luôn đứng đầu trong nhóm có số lượng bài báo hàng đầu như Viện Hàn lâm KH&CN, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học
Y Hà Nội, ĐHQG TP Hồ Chí Minh,… Đáng chú ý đó là sự gia tăng hợp tác của ĐHQGHN nói chung và giảng viên, nhà nghiên cứu, nhóm nghiên cứu mạnh của ĐHQGHN nói riêng với hai trường đại học phía Nam là Trường Đại học Tôn Đức Thắng và Trường Đại học Duy Tân trong vài năm trở lại đây Điều này cho thấy sự thu hút, hấp dẫn các nhà nghiên cứu trong hợp tác công bố quốc tế của các đơn vị trên là rất đáng để ĐHQGHN quan tâm
Hình 7: 1.224 trường đại học, viện nghiên cứu hợp tác với ĐHQGHN 2014-2019 [3]
Trang 844 CẨM NANG TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 2019
Hình 8: 14.360 đại học, viện chưa có hợp tác nghiên cứu với ĐHQGHN [3]
Theo bản đồ “chưa có” quan hệ hợp tác nghiên cứu của ĐHQGHN với các đơn vị trên đây nhận thấy rằng còn
số lượng khá lớn để ĐHQGHN gia tăng hợp tác trong thời gian tới Để thấy rõ lợi ích có thể xem bảng số liệu sau:
(Nguồn: https://scival.com)
Hợp tác trong nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế không những gia tăng về số lượng, chất lượng các công trình, bài báo khoa học mà còn làm cho vai trò, vị thế, tầm ảnh hưởng của một đơn vị đào tạo/nghiên cứu tăng lên trong phạm vi quốc gia và quốc tế
Trang 9XU HƯỚNG NGHIÊN CỨU VÀ HỢP TÁC 45
Bảng 4: TOP 10 Hợp tác quốc gia và vùng lãnh thổ được thống kê trong bảng sau [1] [2]:
Theo bảng trên, các nhà nghiên cứu của ĐHQGHN tập trung hợp tác với các nhà nghiên cứu trong nước
là chính Số lượng trên 500 công trình là hợp tác với các nhà nghiên cứu Mỹ, Đức, Nhật, Pháp Số liệu trên thực
sự cho thấy những tín hiệu tích cực vì trong Top 10 là những quốc gia có nền khoa học tiên tiến, công nghệ cao
và phát triển của nhóm đầu thế giới
• Hiệu suất nghiên cứu
Bảng 5: Thống kê hiệu suất nghiên cứu 5 năm giai đoạn 2014-2018 [3]
Thống kê hiệu suất nghiên cứu từ cơ sở dữ liệu Scopus cho thấy từ năm 2014 đến 2018, số lượng công trình công
bố quốc tế của ĐHQGHN tăng 57,7% và số lượng các tác giả tăng 59,1% Qua đó cho thấy những đầu tư và quyết
sách đúng đắn trong tầm nhìn, chiến lược phát triển đưa ĐHQGHN trở thành đại học định hướng nghiên cứu
Trang 1046 CẨM NANG TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 2019
• Top 20 tác giả công bố quốc tế
Bảng 6: Top 20 cán bộ ĐHQGHN có nhiều công bố quốc tế 2014-2019
(Nguồn: https://scival.com)
Theo bảng số liệu trên ĐHQGHN có 2 tác giả đạt gần 100 công bố quốc tế giai đoạn 5 năm (2014-2019) là PGS.TS Lê Hoàng Sơn (99 công trình) và GS.TSKH Nguyễn Đình Đức (84 công trình) Đây cũng là hai nhà
khoa học vừa được Tạp chí PLoS Biology công bố danh sách 100.000 nhà khoa học hàng đầu trên thế giới có
trích dẫn nhiều nhất
• Số lượng trích dẫn
Hình 9: Tổng số trích dẫn và số trích dẫn trung bình trong Scopus
Trang 11XU HƯỚNG NGHIÊN CỨU VÀ HỢP TÁC 47
Có trên 17.000 trích dẫn cho khoảng 3.200 bài báo trong giai đoạn này và số trích dẫn trung bình cho một bài báo là 5,3 lần
Hình 10: Tổng số trích dẫn và số trích dẫn trung bình trong WoS
• Thất thoát công trình trong Scopus và WoS ảnh hưởng đến xếp hạng đại học
Có rất nhiều tiêu chí để đánh giá, xếp hạng trong các bảng xếp hạng đại học thế giới của QS, THE,…
và một trong những tiêu chí đó là năng lực nghiên cứu khoa học, công bố quốc tế, các trích dẫn khoa học
Họ đều căn cứ vào số liệu trong Scopus hoặc WoS (tùy vào từng cơ sở xếp hạng) Qua rà soát, ĐHQGHN đã không được kiểm đếm hàng ngàn công trình từ trước đến nay, từ năm 2014-2018 Scopus đã không tính cho ĐHQGHN khoảng 1.300 bài báo Có rất nhiều nguyên nhân nhưng một trong những nguyên nhân chính là không thống nhất cách ghi địa chỉ của tác giả nên hệ thống không “gom” chính xác về tổ chức ĐHQGHN Hệ quả là nhiều công bố không được tính trong kết quả xếp hạng
Theo khảo sát, ĐHQGHN có rất nhiều ID trong CSDL Scopus như:
- Vietnam National University Hanoi: 60071364
- Hanoi National University: 60104480
- VNU: 100576350
- VNU-HN: 115178463
- Hanoi University of Sciences: 60071398
- University of Engineering and Technology: 109592586
- Vietnam Japan University: 119026896
- VNU-School of Medicine and Pharmacy: 114189673
Vấn đề này đã “gây nhiễu” và số lượng công trình không đúng với thực tế khi các bảng xếp hạng đại học tính toán, kiểm đếm số lượng và chất lượng nghiên cứu của ĐHQGHN
Trang 1248 CẨM NANG TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 2019
MỘT SỐ ĐỀ XUẤT
+ Nhằm tiếp tục gia tăng số lượng và chất lượng công trình công bố quốc tế trong thời gian tới, đa dạng hóa
các loại hình tài liệu trong công bố còn thiếu như phát minh, sáng chế,… rất cần thiết đầu tư “tri thức đầu vào” như các cơ sở dữ liệu điện tử học thuật hàng đầu thế giới (Để đạt được số lượng trên 1000 bài/năm từ năm 2016 trùng với thời điểm ĐHQGHN được Bộ Khoa học và Công nghệ tài trợ truy cập CSDL ScienceDirect) và bao phủ các lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu của ĐHQGHN như: Natural, ACM, IEEE, BioMed, SpringerLink, Jstor, Wiley, Oxford, OECD, Sage, Education, ProQuest, PubMed, MEDLINE,… (Cần bổ sung nhiều CSDL về KHXH&NV, Giáo dục và Y-Dược học để thúc đẩy các lĩnh vực này)
+ Duy trì và phát triển công nghệ tìm kiếm, khám phá tri thức học thuật thế giới giúp các nhà nghiên cứu, các nhóm nghiên cứu mạnh có đầy đủ bức tranh khoa học hiện tại và hiện đại, nắm bắt kịp thời xu hướng nghiên cứu của thế giới để đầu tư phù hợp và đúng hướng
+ Trang bị công cụ quản trị người dùng tin nhằm thường xuyên phân tích, đánh giá nhu cầu và mức độ sử dụng thông tin khoa học để đưa ra đề xuất các gói dữ liệu thông tin hiệu quả
+ Để tránh thiếu sót trong cách ghi địa chỉ công trình công bố cần thống nhất ngay cách ghi địa chỉ đối với các tác giả trong toàn ĐHQGHN Cụ thể là các tác giả có thể ghi đơn vị cấp 2,3,… nhưng cuối địa chỉ bắt buộc
phải có địa chỉ của ĐHQGHN với tên giao dịch quốc tế là Vietnam National University, Hanoi Không để xảy
ra tình trạng công trình không được tính cho ĐHQGHN như trong thời gian vừa qua
+ Làm việc với Elsevier và Clarivate để hợp nhất hoặc tổ chức lại các ID riêng lẻ/thành viên về một ID
chung của ĐHQGHN hoặc cấu trúc theo hình cây các ID
+ Sớm thành lập một tổ chức/bộ phận chuyên nghiên cứu, đánh giá trắc lượng thư mục giúp các nhà lãnh đạo, quản lý có những quyết sách đúng đắn để đầu tư cho các nghiên cứu khoa học phù hợp, phát huy những lĩnh vực mạnh, tăng cường bổ sung cho những lĩnh vực còn yếu nhằm đáp ứng với kỳ vọng và định hướng đại học nghiên cứu hàng đầu Việt Nam
KẾT LUẬN
Công bố khoa học là công đoạn cuối cùng trong một chuỗi các hoạt động nghiên cứu, nhưng công bố quốc
tế là một hoạt động quan trọng và cần thiết để qua đó khẳng định chất lượng chuyên môn và sự minh bạch khoa học Công bố quốc tế có ý nghĩa quan trọng đối với cá nhân nhà khoa học cũng như các cơ sở đại học với
tư cách là nơi sáng tạo ra tri thức mới Được đăng tải trên các tạp chí khoa học hàng đầu cũng đồng nghĩa với việc khẳng định chất lượng các công trình nghiên cứu ấy đã đạt chuẩn quốc tế Do vậy, công bố quốc tế được coi như thước đo năng lực nghiên cứu và khả năng hội nhập của các nhà khoa học Những số liệu thống kê về công bố quốc tế là một chỉ số quan trọng và khách quan giúp mỗi nhà khoa học định vị bản thân trong giới học thuật của ngành và lĩnh vực